- ATOANMT
Thứ Hai
05 Dec 2016
10:32 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn Bài xong bấm vào "CHỌN XEM":







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 212»
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » CHUYỆN PHẬT GIÁO » Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Oct 2015, 8:41 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng



Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
觀世音菩薩 本迹感應誦

Quyển 1


Phần 1

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang, Vạn Từ và Đức Phong


Tán dương hình tượng ở đầu sách Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Tuyệt thay Đại Sĩ, thệ nguyện khó tuyên, Bi vận Đồng Thể[1], Từ khởi Vô Duyên[2], tầm thanh cứu khổ, tùy loại hiện hình, hiện khắp sắc thân, tình lẫn vô tình. Nếu có chúng sanh gặp các khổ nạn, vừa xưng danh Ngài, lập tức cứu vớt. Giàu, thọ, con cái, hễ có mong cầu, lễ bái cúng dường, đều được thỏa nguyện.

Vì sao xưng danh, liền được cảm thông? Do tâm Bồ Tát đã chứng Chân Không từ thuở lâu xa. Do tâm “vô tâm” hợp tâm chúng sanh và hợp tâm Phật, chúng sanh mê trái, chẳng thể thọ ân. Do gặp tai nạn, hoặc chuyện khẩn cấp, vừa phát lòng Thành, cảm ứng đạo giao, như trăng trong mát, vằng vặc giữa trời, in bóng trong nước, không đâu chẳng trọn. Nếu như chẳng tin, không sao cảm được, như nước xao, đục, bóng trăng chẳng tỏ, lỗi tại nơi nước, há trăng chẳng chiếu? Nếu nước lặng trong, liền hiện rạng ngời. Cũng như nắng Xuân, tăng trưởng mầm mộng, gặp phải cây khô, càng thêm mục nát; cam lộ tưới khắp, cây cỏ cùng tươi, nếu cây không rễ, làm sao sanh sôi?

Yếu quyết nhập đạo:

Tín là bậc nhất; muốn gội từ ân, không tin chẳng được! Tưởng nghĩ Bồ Tát, vì sao được vậy?
Là vì gốc xưa, nên thành như thế. Gốc xưa ra sao? Chứng trọn Tam Giác[3], hiệu Chánh Pháp Minh[4], phước huệ cùng trọn, tuy trụ Tịch Quang[5], bi nguyện chưa nguôi, lại hiện Bồ Tát, phù tá Pháp Vương. Hiện thân mười giới[6], thân nào cũng hiện, xét theo chiều dọc, suốt khắp ba đời, xét theo chiều ngang, trọn khắp mười phương, Công đức Bồ Tát, khó tán dương trọn, nêu bày đại lược, làm đèn soi sáng trong chốn đêm dài. Riêng cầu cư sĩ, ở đất Giang Tây, là Hứa Chỉ Tịnh, đọc khắp kinh điển, soạn lời tán tụng, kính vẽ thánh tượng, truyền khắp pháp giới, khiến mọi hàm thức đều được chở che.

Thường Tàm Quý Tăng Ấn Quang hòa-nam[7] kính cẩn soạn.

Lời đề từ thứ nhất mở đầu sách

Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, từ bi rộng lớn, ứng theo từng loại chúng sanh mà hiện thân, tầm thanh cứu khổ. Người đời hễ bị bệnh tật, hoạn nạn, nếu tâm có thể sửa lỗi, hướng lành, cung kính chí thành, thường niệm danh hiệu của Bồ Tát thì tùy theo lòng Thành lớn hay nhỏ, không ai chẳng được Ngài rủ lòng gia bị. [Lòng Thành] nhỏ thì gặp dữ hóa lành, gặp nạn thành hên, [nếu lòng Thành] lớn thì nghiệp tiêu, trí rạng, chướng hết, phước tăng, thậm chí siêu phàm nhập thánh, liễu thoát sanh tử.

Đáng tiếc là cõi đời phần nhiều không biết; vì thế, đặc biệt duyệt khắp kinh điển và các sách vở, soạn thành tụng văn, ghi thêm chú thích cặn kẽ, ngõ hầu khắp cõi đời đều biết Bồ Tát quả thật là thuốc men cho bệnh ngặt, là gạo thóc trong năm đói kém, là người dẫn đường nơi nẻo hiểm, là bè báu nơi bến mê. Kính mong những ai đọc sách này sẽ đều tùy theo sức mình, lần lượt khuyên dạy lẫn nhau, in, biếu, lưu truyền khiến cho hết thảy những người cùng hàng đều được gội từ ân, cùng được hưởng pháp hóa, ngõ hầu an ủi lòng Bi độ sanh của Bồ Tát, thỏa chí khăng khăng cảm thánh của đương nhân.

Lời đề từ thứ hai ở đầu sách

Kính cẩn trình bày phương pháp xem đọc dành cho những vị chưa từng nghiên cứu Phật học.

Ba quyển đầu trong bộ tụng văn này được chia làm hai phần lớn:

1) Từ trang thứ nhất của quyển Một cho đến dòng thứ sáu của trang hai mươi lăm [trong quyển Một] đều là những bài ca tụng các chuyện thuộc Bổn hay Tích của Bồ Tát trong kiếp xưa trích theo kinh điển.

2) Tiếp theo đó đều là những bài kệ tụng về sự tùy cơ cảm ứng của Bồ Tát ở phương này (tức cõi Sa Bà nói chung và Trung Hoa nói riêng – chú thích của người dịch).

Nếu những vị nào chưa từng nghiên cứu Phật Học thì khi xem, hãy nên đọc trước từ dòng thứ bảy trang hai mươi lăm của quyển thứ nhất trở đi cho đến hết quyển thứ ba, rồi đọc những phần dẫn kinh văn để chứng minh trong quyển thứ tư.

Đọc phần kinh văn dẫn chứng xong, lại xem từ trang thứ nhất của quyển Một thì sẽ chẳng cảm thấy khó hiểu, chẳng nẩy sanh ý tưởng không muốn đọc cho hết, chắc chắn sẽ hớn hở, hoan hỷ, sanh lòng cảm kích lớn lao. Đối với những điều người đời trước đã may mắn tránh được thì chính mình cũng muốn tránh. Phàm những gì người xưa đã may mắn đạt được thì chính mình cũng muốn đạt được.

Bỏ cái tâm chấp trước của phàm phu, thuận theo hoằng nguyện của Bồ Tát, tự xót, xót người, tự thương, thương người. Từ đấy, thường niệm thánh hiệu của Bồ Tát, lại còn khuyên khắp hết thảy những người cùng hàng [đều niệm danh hiệu Bồ Tát] để ai nấy ắt đều tiêu trừ ác nghiệp từ vô thủy, tăng trưởng thiện căn tối thắng, gần là hưởng cái nhân “các duyên thuận thảo, không điều gì chẳng tốt lành”, xa là đạt cái quả “siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử”.

Ấn Quang bạch.

Lời tựa của bộ Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Một niệm tâm tánh của chúng ta bất biến nhưng tùy duyên, tùy duyên mà bất biến. Gặp phải duyên mê nhiễm sẽ trái giác, hợp trần, luân hồi trong lục đạo, đến mức cùng cực là đọa mãi trong địa ngục A Tỳ, nhưng tâm tánh chẳng giảm. Gặp duyên ngộ tịnh sẽ bỏ vọng về với Chân, tiến nhập, chứng đắc tam thừa, tột bậc là viên thành vô thượng giác đạo, nhưng tâm tánh chẳng tăng. Trong địa vị phàm phu, nếu được nghe danh hiệu của Phật và những ý nghĩa rất sâu trong kinh thì ngay lúc ấy pháp Bồ Đề thấm nhuần đã được gieo xuống ruộng tám thức.

Tuy thoạt đầu mịt mờ chẳng tự hay biết, nhưng nếu có thể chẳng tự ruồng rẫy, phụ bạc chính mình, cực lực tăng trưởng [chủng tử ấy] thì sẽ tiếp tục từ mảy giọt trở thành ngòi rãnh, dần dần trở thành kinh rạch[8] cho đến thành sông to sóng cuộn ngập trời, cuối cùng ắt sẽ vào được biển Tát Bà Nhã (Nhất Thiết Trí)[9], viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ “không thể được”, triệt chứng tánh Chân Như nhiệm mầu thường trụ bất biến vốn sẵn có trong tâm, từ đấy, lại do Bổn mà thị hiện Tích, dùng Quả để hành Nhân, truyền đăng cho nhau, sáng ngời vô tận. Há chẳng phải là bậc đại trượng phu vĩ đại ư?

Kinh Pháp Hoa dạy:
“Chư Phật lưỡng túc tôn, tri pháp thường vô tánh, Phật chủng tùng duyên khởi, thị cố thuyết Nhất Thừa”
(Chư Phật lưỡng túc tôn[10], biết pháp thường vô tánh, Phật chủng do duyên khởi, vì thế nói Nhất Thừa), thời và nghĩa của chữ Duyên lớn lao thay!

Tôi từ thuở đội mũ[11] liền đọc kinh Phật; khi ấy, chỉ muốn cắt xén lấy những ý nghĩa của kinh văn để làm tài liệu viết lách. Năm Dân Quốc thứ hai (1913) mới hướng lòng về Tịnh Độ để mong thoát khỏi nhà lửa này, vào ao báu kia. Do biết Quán Âm Đại Sĩ chính là bậc hướng dẫn hàng đầu nơi cõi sen, lại hiện thân trong khắp các cõi nước nhiều như vi trần, tùy theo căn cơ lợi ích chúng sanh, lại có nhân duyên sâu đậm nhất với cõi Sa Bà.

Do Bồ Tát thị hiện ứng hóa tại Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, nên bèn dấy lên ý niệm muốn đến triều bái, nhưng còn chưa có dịp khởi hành. Về sau, đọc mấy bài văn của lão pháp sư Ấn Quang đăng trên báo đề xướng niệm Phật, khuyến khích, cổ vũ [hành nhân tịnh nghiệp] hãy dốc lòng thành kính, không ngờ rất hợp với nỗi niềm canh cánh trong lòng tôi, chỉ đúng căn bệnh tôi đang mắc phải (căn bệnh ở chỗ hoàn toàn không biết thành kính, nay tự phơi bày ngõ hầu sám hối), bèn một lòng mong được gặp Ngài.

Năm Dân Quốc 11 (1922), gói ghém hành trang lên đường, lên núi triều bái, yết kiến, dâng lên thầy bài Lễ Quán Âm Sớ, rất mong được thầy hứa khả. Ngài chẳng đợi tôi thỉnh cầu, đem tặng bộ Văn Sao mà tôi vốn sẵn lòng ngưỡng mộ; nếu chẳng phải do túc duyên xui khiến, há lại có chuyện khế hợp như thế ư? Ngày hôm sau xuống núi, Sư lại ủy thác chuyện soạn Đại Sĩ Tụng, tôi cũng tự quên mình kém hèn, ngây ngô nhận lời. Tu chỉnh, thêm một thiên Đại Sĩ Tụng vào bộ [Phổ Đà] Sơn Chí là chuyện thầy đã canh cánh bên lòng mấy năm; hiềm vì tâm độ sanh tha thiết, người hỏi đạo quá đông, Ngài chưa rảnh rang để cất bút. Những người cùng học Phật nơi xứ tôi mấy năm trước đã từng yêu cầu soạn văn ca tụng sự cảm ứng của phẩm Phổ Môn, nhưng tôi sợ phải nhọc lòng nên đã viện cớ bệnh tật để thoái thác.

Đến nay, vâng lời thầy dặn dò, giao phó, rốt cuộc dùng văn chương để báo đáp [ân đức] Đại Sĩ, thỏa lòng mong mỏi của những người cùng hàng, nhân duyên ấy há có thể nghĩ bàn được ư? Trước hết là biên tập kinh văn, đến phần sự tích cảm ứng, tôi phải than thở [những sự tích cảm ứng của Quán Thế Âm Bồ Tát] mênh mang như khói tỏa trên mặt biển, chẳng biết phải viết từ đâu.

Từ những lời thầy răn như “mong được lưu thông trọn pháp giới, khiến cho chúng sanh đều cùng được thấm đượm sự giáo hóa từ ái”, như “khiến cho chúng sanh trong pháp giới cùng gieo thiện căn, cùng được sanh về Tây Phương mới thôi”, như “người đọc sẽ do sách này mà hoan hỷ, sẽ hưởng lợi ích sanh thiện, phá ác, thấu hiểu lý”, bất giác đột nhiên ngộ hiểu lời thầy khuyên chính là [nói về] tấm lòng Đại Sĩ. Công đức của Đại Sĩ, [ngay cả] Phổ Hiền Bồ Tát vẫn chẳng thể suy lường được một phần bằng sợi lông thì làm sao [hạng phàm phu như tôi có thể] ca tụng được? Xó chợ cùng quê, ngu phu, ngu phụ không ai chẳng nghe danh Đại Sĩ, sùng phụng Ngài là bậc từ mẫu, há có thể ca tụng được ư? Lời ca tụng này, bất quá là nương theo Bổn Tích của Đại Sĩ để răn đời, giáo hóa cõi tục mà thôi!

Trong tác phẩm ca tụng này, trước hết là Khế Kinh, kế đến là sự cảm ứng, [tức là] Bổn trước, Tích sau[12]. Sự tu chứng được nói đến trong kinh chính là Bổn của Bổn, còn sự ứng hóa chính là phần Tích của Bổn. Những sự thị hiện theo từng loại trong phần cảm ứng chính là từ Bổn hiện Tích; cứu khổ, ban vui, chính là phần Quyền của Tích. Hoằng pháp, nhiếp hóa chúng sanh chính là Thật trong Tích. Đoạn nói về mười tâm trong phần kết luận sau đấy nhằm khuyến khích hành giả hãy từ Tích trở về Bổn.

Hơn nữa, sự thị hiện trong loại cảm ứng đầu tiên chính là vì chúng ta trái giác hợp trần, làm nô lệ cho tai mắt đã lâu, phàm những gì chúng ta không thể thấy biết thường coi là hư giả[13], chẳng tin Pháp Thân thường trụ và [thật sự] có Phật, Bồ Tát, cũng chẳng tin Pháp Thân lưu chuyển, có nhân quả báo ứng. Nỗi họa của kiến giải cho rằng “chết rồi là hết sạch” chẳng thể kể xiết được! Vì thế, Đại Sĩ thị hiện để răn nhắc, muốn cho con người đừng cô phụ ơn Phật, đừng cô phụ tánh linh của chính mình.

Kế đó, cứu khổ, ban vui là vì chúng ta bao kiếp mê vọng, dẫu biết tâm là chủ nhân, [xả] thân như đổi nhà, nhưng Ngã Kiến vẫn chẳng thể rỗng không được, vẫn cứ hướng ra ngoài rong ruổi tìm cầu, vẫn cứ tạo nghiệp như ôm củi chữa lửa, chỉ càng thêm tự thiêu thân. Nhất niệm hồi quang, dùng tâm chuyển nghiệp, hình ngay, bóng sẽ thẳng, đấy gọi là “tự cầu lắm phước” vậy! Kế đến là kẻ hoằng pháp, ba cõi không yên ví như nhà lửa, hy sinh những thứ quý đẹp, cam phận tầm thường mà còn tự hào, dùng Phật pháp để cầu phước báo, dùng minh châu để ném chim sẻ, người trí tiếc nuối lắm thay!

Vì thế, đẩy lùi pháp thế gian, đề cao pháp xuất thế; nhưng tu hành không gì đơn giản bằng trì danh, thành Phật không chi dễ bằng sanh về Tịnh Độ. Bởi thế, nhiếp hóa chúng sanh, để đến rốt cuộc họ sẽ quy hướng pháp này. Đấy chính là ý nhỏ nhiệm khuyên dụ dần dần, mà điều ấy cũng nhằm đề cao ý chỉ của chương [Quán Âm] Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm: “Trước hết là thị hiện, kế đến là cứu khổ, thỏa mãn sở cầu, nhằm [khiến cho chúng sanh đều] quy hướng đại Niết Bàn”. Chánh văn và phần chú giải [của bộ Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng này] tổng cộng ba quyển, tôi ghép thêm vào sau sách những đoạn trích dẫn kinh văn để làm chứng, tạo thành một quyển nữa.

Soạn xong bản thảo tôi liền trình lên đại sư Ấn Quang giám định, được Ngài hứa khả rồi mới dám soạn thành bản hoàn chỉnh. Văn chương tuy kém cỏi, vụng về, nhưng đối với ý nguyện muốn nêu bày sự cảm ứng nơi Bổn và Tích của Đại Sĩ cũng không phải là chẳng giúp được tí nào! Nguyện Tam Bảo gia bị, ngõ hầu độc giả đều tin tưởng, hành theo, sẽ về thẳng Lạc Bang, chẳng lẩn quẩn trong tam giới, triệt chứng tự tánh, thường trụ Tịch Quang.

Kinh giáo trong Đại Tạng như ngón tay chỉ mặt trăng, tấm cám thế tục nào đáng cho người sáng mắt đoái hoài, nhưng thanh luận[14] đã tuyên rõ, Như Lai huyền ký[15], do lòng ngưỡng mộ Đại Sĩ, nên bất đắc dĩ vẫn chẳng tự xét mà cứ phô trương văn chương phàm tục, tầm thường. Tôi trước đã có duyên với Đại Sĩ, sau lại được kết duyên với đại sư Ấn Quang, rốt cuộc tác phẩm này có lẽ sẽ được Đại Sĩ tạo duyên mà lưu thông phổ biến trong thiên hạ mai sau, đèn nối tiếp đèn, sáng ngời vô tận, ngõ hầu thỏa nguyện độ sanh của Đại Sĩ, công khăng khăng soạn thuật cũng chẳng uổng phí. Đấy chính là điều tôi vẫn sớm tối thơm thảo cầu chúc vậy.

Đầu Hạ năm Giáp Tý, tức năm Dân Quốc 13 (1924), Hứa Chỉ Tịnh soạn ở Bành Trạch.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Oct 2015, 8:57 PM | Message # 2
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Lời tựa thứ hai

Sự khổ trong thế giới Sa Bà nhiều nhất, chúng sanh trong cõi Sa Bà nhĩ căn nhạy bén nhất. Do Quán Âm Đại Sĩ tâm từ bi tha thiết nên có nhân duyên sâu đậm nhất đối với thế giới này. Do Ngài tùy loại hiện thân, tầm thanh cứu khổ, khiến cho chúng sanh nghe danh, thấy hình, luyến mộ, tán thán. Do nhân duyên ấy khiến cho chúng sanh gần là gieo phước trong cõi trời người, xa là chứng quả Bồ Đề. Trong hội Lăng Nghiêm thuở trước, Ngài hiển thị sự tu nhân nơi bổn địa, từ Văn - Tư - Tu, nhập Tam Ma Địa, xoay [cái Nghe] trở lại nghe nơi tự tánh, chứng viên thông chân thường. Tâm diệu giác do ngài chứng được nơi bổn địa, trên hợp với sở chứng rốt ráo của mười phương chư Phật, dưới hợp với cái tự tâm sẵn có của chúng sanh mười phương. Do vậy, Ngài và chư Phật có chung một từ lực, cùng một niềm bi ngưỡng với chúng sanh. Từ đấy, hiện thân trong mười pháp giới, dùng ba mươi hai ứng thân, mười bốn thứ vô úy, bốn thứ vô tác diệu lực chẳng thể nghĩ bàn độ thoát chúng sanh, khiến cho họ đều đích thân chứng được diệu giác chân tâm sẵn có trong tự tâm mới thôi.

Đức Phật sai ngài Văn Thù chọn lựa pháp môn khế cơ nhằm lợi lạc chúng sanh trong đời hiện tại, vị lai; nhân đấy, đức Văn Thù loại trừ [pháp Viên Thông của] hai mươi bốn vị thánh, riêng đề cao [pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông của] Quán Âm. Những kẻ mò mẫm mù quáng chẳng hiểu rõ duyên do, liền bảo: “Quán Âm trúng tuyển, Thế Chí hỏng thi!” Do một lời này khiến cho những kẻ không hiểu biết miệt thị pháp môn Niệm Phật, chẳng chịu tu trì, chẳng biết Nhĩ Căn Viên Thông nhằm dành cho bậc đương cơ là A Nan vốn phạm lỗi đa văn[16] cũng như những kẻ lợi căn chuyên tham cứu hướng thượng trong đời sau, còn Niệm Phật Viên Thông thích hợp với khắp mọi căn cơ của hết thảy chúng sanh trong mười phương ba đời. Vì vậy, bậc chứng ngang chư Phật vẫn phải hồi hướng vãng sanh, kẻ sắp đọa A Tỳ mười niệm liền dự vào phẩm cuối.

Quán Âm và Thế Chí cùng là bậc thượng thủ trong cõi Di Đà, cùng nhiếp thọ người niệm Phật trong mười phương sanh về Tịnh Độ; nhưng mỗi Ngài dạy pháp tu khác biệt đôi chút. Bởi lẽ, một vị chuyên trọng niệm Tha Phật, nhưng không có Tự Phật thì làm sao hiển được Tha Phật? Một vị chú trọng niệm Tự Phật, nhưng không có Tha Phật làm sao liễu được Tự Phật? Niệm Tha Phật dường như thuộc về sự tướng, nhưng Lý do Sự hiển. Niệm Tự Phật dường như thuộc về lý tánh, nhưng Sự do Lý thành. Hiểu rõ điều này thì Tự và Tha chẳng hai, Sự và Lý như một, cùng trở về biển Tát Bà Nhã, cùng tiến nhập Bồ Đề giác đạo, đâu còn gì để luận định là giống hay khác!

Hơn nữa, trong kinh Đại Bi, Đại Sĩ dạy người tụng chú hãy “chí tâm xưng niệm danh hiệu ta” mà cũng “hãy chuyên niệm danh hiệu đức Bổn Sư của ta là A Di Đà Như Lai, rồi mới tụng chú”. Ngài còn đối trước đức Phật, tự thề rằng: “Tụng trì thần chú Đại Bi mà nếu chẳng sanh về các cõi Phật thì con thề chẳng thành Chánh Giác”. Đấy chính là “ức Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật” như Đại Thế Chí Bồ Tát đã nói. Cần biết rằng: Đại Sĩ ứng hóa từ đầu đến cuối đều lấy Niệm Phật làm pháp chủ yếu. Trong phẩm Phổ Môn, Phật dạy hết thảy phàm thánh hãy niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, xét ra có khác gì niệm Phật đâu?

Phổ Đà Sơn ở phía Đông đất Chiết Giang chính là đạo tràng ứng hóa của Đại Sĩ, mà cũng là chỗ Đại Sĩ thuyết pháp cho Thiện Tài thuở ấy. Pháp sư Ấn Quang đã trụ tích[17] tại núi ấy hơn ba mươi năm, do thấy Phổ Đà Sơn Chí bản cũ chưa từng nêu tỏ sự cảm ứng của Đại Sĩ nơi Bổn và Tích, thật đúng là bỏ gốc lấy ngọn, mua rương trả châu[18], thật đáng đau tiếc, tính đem những điều thuộc về Bổn và Tích của Đại Sĩ trong Đại Tạng và sự cảm ứng tại phương này soạn thành lời ca tụng và chú thích ý nghĩa của từng điều một, lại tập hợp những sự thuộc về Bổn Tích trong các kinh để làm chứng cứ, ngõ hầu hết thảy hữu tình đều cùng biết đến ân sâu bao kiếp của Đại Sĩ, sẽ đều thường niệm, cung kính, đều được mãn nguyện. Do sức không lo xuể, bèn cậy người bạn thân thiết là cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh biên soạn. May sao bản thảo đã hoàn thành, muốn sắp chữ in ra mấy vạn bản hòng lưu truyền khắp trong ngoài nước. Do vậy, tôi ghi lại nguyên do để thưa trình cùng các vị độc giả.

Giữa Hạ năm Giáp Tý, tức năm Dân Quốc 13 (1924), Hoàng Khánh Lan (nguyên quán Thượng Hải) viết tại dinh Đạo Doãn[19] đất Cối Kê

Lời tựa thứ ba

Hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian đều do thời tiết, nhân duyên mà phát khởi. Vì thế, cổ đức nói: “Nếu thời tiết đến, lý tự tỏ bày”. Thật đúng là như thế! Quang tầm thường, kém cỏi, trăm chuyện chẳng làm được một điều nào, ăn bám chùa Pháp Vũ ở núi Phổ Đà ba mươi hai năm. Trước kia đọc Phổ Đà Chí, thấy những điều ghi chép trong ấy đều thuộc chuyện hưng - phế của đạo tràng và những chuyện tầm thường như vậy. Còn như sự - lý, bổn - tích trong những kiếp xưa của Quán Âm Đại Sĩ cũng như những nhân duyên Ngài cảm ứng trong cõi này đều thiếu sót, sơ sài, khôn ngăn khiến người ta phải thở dài!

Năm Dân Quốc thứ sáu (1917), ba vị cư sĩ Vương Thái Thần, Châu Hiếu Hoài, Trần Tích Châu lên núi tìm gặp. Ông Vương, ông Châu nói:

- Phổ Đà là đạo tràng thánh địa của Quán Âm Đại Sĩ, trong ngoài nước đều kính ngưỡng, sao lại bãi bỏ giảng tòa đã lâu, nỡ để pháp đạo tịch mịch? Xin thầy hãy phát tâm giảng kinh, chúng con sẽ vì thầy trù liệu, lo toan chi phí.

Quang viện cớ mình bệnh tật, kém cỏi, hết sức từ chối. Ông Tích Châu bèn nói:

- Sơn Chí đã lâu không tu chỉnh, bản gỗ khắc đã mờ câm. Nếu thầy chịu sửa chữa, con sẽ khắc in.

Quang nói:

- Chuyện ấy nào phải dễ dàng! Nếu chiếu theo lệ cũ thì phải là văn nhân mới làm nổi. Nếu đem những chuyện tu - chứng, bổn - tích trong những kiếp xưa kia của Đại Sĩ và những sự tích cảm ứng trong phương này, mỗi chuyện đều lược thuật những nét chánh khiến cho người đọc đều biết ân Đại Sĩ trọn khắp các cõi số lượng nhiều như cát, lòng Từ tế độ không ngằn mé; từ đấy, phát khởi chánh tín, thân tâm quy y, gần là hưởng phước trời - người, xa là chứng quả Bồ Đề, mà không xem khắp Đại Tạng, tra cứu đủ mọi sách vở sẽ không thể làm được. Nếu chẳng vạch rõ các sự - lý, bổn - tích, cảm ứng của Đại Sĩ thì chính là bỏ chủ trọng khách, bỏ gốc theo ngọn, có khác gì những sơn kinh thủy chí[20] tầm thường? Làm sao tỏ rõ Phổ Đà là đạo tràng ứng hóa của Đại Sĩ, lại sao có thể tỏ rõ Đại Sĩ là bậc cha mẹ đại từ bi của pháp giới chúng sanh, có nhân duyên rất sâu đối với chúng sanh trong cõi Sa Bà cho được? Nhưng Quang do túc nghiệp đến nỗi tâm không hiểu biết, mắt gần như mù lòa, còn phải sám hối một hai năm đợi đến lúc nghiệp tiêu trí rạng, chướng hết mắt sáng thì sẽ chẳng tiếc thân mạng gắng làm cho thành tựu. Nếu như nghiệp nặng chẳng thể cảm ứng để trừ khử cho hết [nghiệp chướng] được thì sẽ qua Giang Tây, cầu cư sĩ Lê Đoan Phủ thay Quang lo liệu việc này. Ông ấy học vấn quán thông Nho - Thích, văn tài xuất chúng, ắt sẽ nêu tỏ tâm hạnh, sự tích từ bi của Đại Sĩ.

Năm sau, cư sĩ Từ Úy Như đem Văn Sao ấn hành, khiến cho những ai không xem xét kỹ, lầm tưởng Quang là bậc tri thức; từ đấy, thư từ qua lại, ngày càng không rảnh rỗi để làm. Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ tám (1919), ông Đoan Phủ quy Tây, cái tâm đã phát trước kia trở thành chuyện nói xuông! Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ 11 (1922), Tri Sự[21] vùng Định Hải là ông Đào Tại Đông lên núi, bảo: “Sơn Chí được lưu thông sẽ khiến cho ai nấy do tin tưởng đều cải ác làm lành, phản vọng quy chân, quả thật là nhiệm vụ quan trọng để vãn hồi thế đạo nhân tâm, hãy nên gấp rút tu chỉnh”. Quang thấy tâm ông Đào hộ pháp khẩn thiết, lòng cứu thế ân cần, liền thưa với chủ nhân hai chùa Phổ Tế và Pháp Vũ khẩn khoản xin ông Đào hãy đích thân đảm nhiệm chuyện này. Ông Đào do bận bịu việc công, bèn ủy thác vị nhân sĩ trong vùng là ông Vương Nhã Tam đảm nhiệm. Hết thảy sự việc thì ngoài có ông Đào, trong núi có hòa thượng Khai Như đã thoái ẩn[22] cùng thương lượng, châm chước lo liệu, Quang không rảnh rỗi nên tuyệt chẳng hề hỏi đến.

Năm sau, ông Đào được thăng chức, chuyển lên huyện Hàng, nhưng vẫn gởi thư từ qua lại để bàn bạc, châm chước chuyện này. Nếu chẳng phải từ xưa đã từng được Đại Sĩ phó chúc, há có được như thế hay chăng? Lúc mới vừa bàn bạc chuyện tu chỉnh Sơn Chí xong xuôi, chưa đầy một tháng thì cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh từ huyện Bành Trạch, tỉnh Giang Tây, đến viếng thăm, vừa gặp gỡ liền thành [bạn bè] thuận thảo. Quang giãi bày nỗi niềm ấp ủ khi xưa, đem chuyện soạn Đại Sĩ Tụng nhờ vả, ông bèn chấp thuận ngay. Nếu chẳng phải do Đại Sĩ ngầm gia bị, làm sao có dịp gặp gỡ như vậy cho được?

Ông Hứa bèn tra cứu khắp Kinh Tạng và các sách vở, phải mất hai năm mới hoàn thành bản thảo, soạn thành tụng văn gần hai vạn chữ. Lại còn chú thích những ý nghĩa liên quan để người đọc biết hết căn cội; lại còn trích lục các kinh để làm chứng cớ. Tụng Văn gồm ba quyển, dẫn chứng từ kinh văn gồm một quyển, tổng cộng hơn ba trăm bảy mươi trang, được gởi đến [Phổ Đà] vào đầu mùa Hạ. Những ý nghĩa của Tụng Văn đã được trình bày trong lời tựa của ông Hứa; ở đây không nhắc lại nữa. Trước kia, Quang vốn muốn đặt phần này vào đầu bộ Sơn Chí, nay vì số quyển quá nhiều, nên đặc biệt cho khắc in riêng để lưu truyền khắp hậu thế. Nếu in chung với bộ Sơn Chí ắt khó thể lưu truyền rộng khắp được.

Đại Sĩ từ vô lượng kiếp đến nay phân thân trong các cõi nhiều như bụi trần, bổn - tích cảm ứng của Ngài chỉ mình Phật có thể biết được nổi. Mấy quyển tụng văn này chẳng qua chỉ là một hạt bụi nơi đại địa, một giọt nước trong biển cả, khiến cho những ai chẳng biết lòng Từ sâu xa, lòng Bi lớn ao của Đại Sĩ sẽ biết được đại khái. Từ đấy, hổ thẹn, đột nhiên dũng mãnh nói: “Tâm của chúng ta và tâm của Đại Sĩ không hai, không khác, Đại Sĩ đã viên thành Phật đạo bao kiếp lâu xa, lại dùng bi tâm vô tận chẳng lìa cõi Tịch Quang, thùy tích[23] trong chín giới hiện đủ mọi sắc thân độ thoát chúng sanh. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay luân hồi trong sáu nẻo, được hưởng ân dẹp khổ ban vui của Ngài không biết là bao nhiêu! Mãi cho đến ngày nay, vẫn còn là phàm phu. Trên đã phụ thâm ân Đại Sĩ cứu vớt, dưới phụ bạc Phật tánh sẵn có của chính mình. Lặng im suy nghĩ, há không thẹn đến chết ư? Ngài đã là trượng phu thì ta cũng thế. Chẳng nên tự khinh để rồi lui sụt!”

Do vậy, chuyển biến phàm tình, noi theo dấu Thánh, đánh đổ ham muốn xằng bậy để khôi phục lễ nghĩa, dứt lòng tà, giữ lòng thành, tận lực hành điều thiện thế gian, kiêm tu Tịnh nghiệp, lâu dần đều được biến đổi. Bậc thượng thì ngay trong đời này đoạn Hoặc, chứng Chân, liễu sanh thoát tử, bậc hạ thì đến lúc lâm chung cậy vào Từ lực của Phật vãng sanh Tây Phương. Được như thế thì ai nấy đều giữ vẹn lễ nghĩa, ai nấy biết nhân quả, tự nhiên can qua dứt, tai họa do con người gây ra vĩnh viễn dứt mất, mưa thuận gió hòa, quyến thuộc cõi trời thường đến. Nhiệm vụ trọng yếu căn bản để vãn hồi thế đạo nhân tâm như ông Đào đã nói chính là chuyện này đó chăng? Mong sao những ai thấy nghe đều cùng phát tâm kính ngưỡng Đại Sĩ, gắng sức tu tập thì may mắn lắm thay!

Giữa Thu năm Giáp Tý, tức năm Dân Quốc 13 (1924), Cổ Tân[24] Thường Tàm Quý Tăng Ấn Quang Thích Thánh Lượng kính soạn

Phụ Lục - Lời tựa cho bản Phổ Đà Sơn Chí in theo lối thạch bản[25]

Quán Thế Âm Bồ Tát từ vô lượng kiếp trước thành Phật đạo đã lâu, hiệu là Chánh Pháp Minh, nhưng do ý niệm độ sanh khẩn thiết, tâm cứu khổ ân cần, chẳng lìa Tịch Quang, hiện hình trong sáu nẻo. Trong các cõi Phật nhiều như vi trần ở khắp mười phương, hiện đủ mọi sắc thân độ thoát chúng sanh, chứ nào phải chỉ hiện thân Bồ Tát; còn trong Nhị Thừa, lục đạo, không thân nào chẳng hiện. Kinh Pháp Hoa nói: “Nên dùng thân nào để độ được bèn hiện thân ấy thuyết pháp”. Tuy vào khắp các cõi Phật mười phương, nhưng Ngài có nhân duyên rất sâu với cõi Sa Bà. Tuy hiện thân khắp mười pháp giới, nhưng căn cứ trên sự ứng tích, người đời chỉ nói Ngài là Bồ Tát mà thôi. Do Ngài chứng triệt để duy tâm, phô bày trọn vẹn tự tánh, nên vận dụng lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên. Do Bổn cao, Thể đại, nên Tích quảng, Dụng rộng[26]. Tùy loại hiện hình, theo tiếng cứu khổ. Thị hiện hễ có cảm liền ứng, không nguyện nào chẳng thuận theo, như mặt trăng vằng vặc giữa trời, hiện bóng trong mọi nơi có nước. Không chỉ sông, hồ, rạch, biển đều hiện bóng vẹn toàn, dù chỉ một chước[27], một giọt, không đâu chẳng đều hiện bóng toàn vẹn.

Lại nữa, bóng trăng hiện trong sông, hồ, rạch, biển, một người nhìn vào thì thấy mặt trăng ấy đối trước người đó; trăm ngàn vạn người ở trăm ngàn vạn nơi nhìn vào thì mỗi một người đều thấy trăng đối trước chính mình. Nếu người ấy đi sang Đông, trăng cũng theo sang Đông; nếu đi sang Tây, trăng cũng theo sang Tây. Nếu người ấy đứng yên chẳng động, trăng cũng chẳng lìa nơi ấy. Từ một người cho đến trăm ngàn vạn người đều như vậy. Trong một niệm, nếu khắp pháp giới cảm, Bồ Tát bèn ứng khắp pháp giới. Cảm ứng đạo giao, không sai khác chút nào! Giống như mặt trăng hiện bóng trong mọi chỗ có nước, người nào, nơi nào cũng đều thấy trọn vẹn bóng trăng, trọn chẳng sai khác gì! Ấy là do Bồ Tát tâm gồm trọn thái hư, lượng gồm thâu các cõi nhiều như cát. Do lấy tâm chúng sanh làm tâm, do lấy cảnh của chúng sanh làm cảnh [của chính mình], nên chẳng nghĩ tưởng mà hợp, vô duyên bèn ứng. Há thế trí phàm tình hòng có thể tính lường được ư?

Còn nếu như nước đục, mắt lòa, thì trăng chẳng thể hiện, phải đâu trăng không hiện, mà là do lỗi của nước đục, mắt lòa đấy chứ! Xét cảm ứng trên mặt Tích, thì có hiển cảm hiển ứng, minh cảm minh ứng (cảm ngầm, ứng ngầm), minh cảm hiển ứng, hiển cảm minh ứng, diệc minh diệc hiển cảm nhi hiển ứng (vừa hiển vừa ngầm cảm mà lại hiển ứng), diệc minh diệc hiển cảm nhi minh ứng (vừa ngầm vừa hiển cảm mà lại ngầm ứng) sai khác (“Hiển cảm hiển ứng” là ngay trong đời này dốc lòng thành, cạn lòng kính lễ niệm cúng dường thì sẽ được gia bị, gặp điều hung trở thành điều lành, gặp nạn thành may, và nghiệp tiêu chướng tận, phước tăng, huệ rạng v.v… “Minh cảm minh ứng” là trong đời quá khứ từng tu những hạnh cạn lòng thành, tận lòng kính lễ niệm, đời này tuy chưa tu tập, nhưng do thiện căn trong đời trước, được Ngài gia bị mà không hay không biết, họa diệt, phước đến, nghiệp tiêu chướng tận v.v… “Minh cảm hiển ứng” là đời trước từng gieo thiện căn, đời này được gia bị. “Hiển cảm minh ứng” là đời này dốc lòng thành, kiệt lòng kính lễ niệm, chẳng thấy được gia bị, âm thầm được Từ lực gia bị khiến hung lui, cát (tốt lành) đến, nghiệp tiêu, chướng tận v.v… “Diệc hiển diệc minh cảm hiển ứng” là đời trước đã từng gieo thiện căn, đời này dốc cạn lòng thành lễ niệm, được gia bị rõ ràng, chuyển họa thành phước v.v… “Diệc hiển diệc minh cảm minh ứng” là đời trước từng gieo thiện căn, đời này dốc lòng thành lễ niệm, âm thầm được Từ lực gia hộ, đạt được các thứ lợi ích. Hiểu rõ điều này sẽ biết công chẳng hư uổng, quả chẳng tự nhiên mà có. Dẫu cho trọn đời chẳng thấy dấu hiệu gì được gia bị, cũng chẳng đến nỗi sanh tâm oán vọng, bỏ cuộc giữa đường. Đạo cảm ứng vi diệu khó thể nghĩ suy, tạm ghi đại lược để khơi gợi cho người sáng suốt trong mai sau).

Sự ứng hiện ấy lớn - nhỏ, hơn - kém là do lòng Thành đã đến mức cùng cực hay chưa mà thôi! Dẫu cho tâm không thể tin chắc, chưa chí thành đến cùng cực, nhưng nếu có thể nhất niệm dốc lòng Thành ắt cũng đạt được lợi ích. Nhưng tùy theo một niệm chí thành của mình mà chia ra hơn - kém, lợi ích đạt được sẽ chẳng thể siêu tuyệt như người dốc cạn lòng Thành, tận hết lòng kính. Giống như trăng vẫn hiện bóng trong nước đục, nhưng lờ mờ không rõ. Người mù tuy chẳng thể đích thân thấy được ánh trăng, nhưng có khi nào chẳng được ánh trăng chiếu soi? Bồ Tát đại từ đại bi, làm chỗ nương tựa cho các chúng sanh trong khắp pháp giới. Do vậy, nhân dân cả nước ai nấy đều tín phụng, vì thế mới thường nói “nhà nhà Quán Thế Âm”.

Đạo tràng ứng hóa của Ngài cố nhiên không phải chỉ có một chỗ. Như Nam Ngũ Đài Sơn, Đại Hương Sơn ở Thiểm Tây, Thiên Trúc Sơn ở Chiết Giang v.v… là những nơi cảm ứng rõ ràng, hương đèn nhộn nhịp, nhưng chỉ có Nam Hải Phổ Đà Sơn thật là bậc nhất do tên chỗ này được ghi trong kinh Hoa Nghiêm, năm xưa Thiện Tài đích thân tham học [tại đây]. Ân trọn khắp mọi loài, hoàng đế các đời sắc kiến[28], nên được cả cõi đời sùng kính, các nước ngưỡng mộ.

Tưởng nghĩ Bồ Tát ứng hóa cho hàng căn cơ Đại Thừa trong tam thừa thiên tiên, nên trải bao kiếp thường trụ nơi núi này, chứ nào phải chỉ dài lâu như trời như đất. Nhưng về phía thị hiện ứng tích cho phàm phu thì trong năm Trinh Minh thứ hai (916) nhà Châu Lương[29] thời Ngũ Đại, Huệ Ngạc[30] đại sư thỉnh tượng Quán Âm bằng đồng từ núi Ngũ Đài muốn đưa về Nhật Bản. Đi đến đây, thuyền bị ách lại không đi được nữa, mới bèn khai sơn. Đến nay đã hơn một ngàn năm, sự tích, thi văn được biên soạn thành tập với tựa đề là Phổ Đà Sơn Chí.

Tôi thường hay bệnh nên đối với những sự - lý cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát thật khó phát huy. Tính đọc khắp Đại Tạng, xem trọn các sách, phàm những sự tích Bồ Tát tùy cơ ứng theo lòng cảm đều ghi chép đầy đủ, khắc bản lưu thông, một là để xiển dương đạo mầu độ sanh của Bồ Tát, hai là khải phát duyên lành thoát khổ cho chúng sanh; nhưng do bệnh mắt chưa lành, chưa thể như nguyện.

Cư sĩ Hà Liêm Thần ở Cối Kê, thấu hiểu tâm tủy đạo Nho, y thuật được xưng là quốc thủ[31], chí hạnh cao khiết, tín tâm thuần chân, từng kêu gọi đồng nhân[32] lập Tang Du Xã[33], với ý nghĩa cảnh chiều tà không còn nhiều, nghĩ cách quay về, đồng tu Tịnh nghiệp, cầu sanh An Dưỡng. Lại do hết thảy chúng sanh đắm chìm trong biển khổ đã lâu, chẳng nương vào pháp lực thì không cách nào vượt ra được, tính đem những sự tích ứng hóa của Bồ Tát làm thuyền cứu mạng, thả trong biển khổ, vung tay kêu gấp để dẫn dắt những kẻ chìm đắm lên thuyền, ngõ hầu cùng lên được bờ kia, về thẳng quê nhà, vĩnh viễn lìa khỏi các nỗi khổ, chỉ hưởng những sự vui. Do vậy, bèn cho in thạch bản cuốn Phổ Đà Sơn Chí để lưu truyền rộng rãi hòng đền ân Đại Sĩ độ sanh, tạo đường nẻo cho chúng sanh gieo lòng Thành. Ông ta bảo tôi viết lời tựa, tôi khôn ngăn hoan hỷ, quên phứt mình kém hèn, liền đem những chuyện cảm ứng mầu nhiệm của Bồ Tát nêu tỏ đại lược. Những sự tích khác, cố nhiên đã chép trọn vẹn trong sách, cần gì phải dài dòng nữa!

Mùa Xuân năm Kỷ Mùi, tức năm Dân Quốc thứ 8 (1919), Cổ Tân Thường Tàm Quý Tăng Ấn Quang Thích Thánh Lượng kính soạn

Phụ lục - Bài ký về chuyện Quán Âm Bồ Tát ứng tích tại Nam Ngũ Đài Sơn & lời tán tụng

(Núi này cách tỉnh thành Thiểm Tây bảy mươi dặm)

Bài ký về sự thị hiện ứng tích văn từ điển nhã, tường thuật sự việc tinh tường. Tiếc rằng diệu lực vô tác chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát còn chưa được nêu tỏ. Quang tôi chẳng nề hà kém tệ, gượng soạn một bài tán để đặt ở trước, mong sao sự lý viên dung, Thể lẫn Dụng cùng được nêu tỏ. Nguyên do chúng sanh có thể cảm, nguyên do thánh có thể ứng đều được nêu bày, ngõ hầu người sau đọc đến liền phát Bồ Đề tâm, thấy người hiền mong được bằng, lấy tâm của đức Quán Âm làm tâm mình, lấy việc của ngài Quán Âm làm việc của mình, để rồi cũng là đức Quán Âm trong đời vị lai. Tuy văn từ chẳng bóng bảy, trang nhã, nhưng ý nghĩa cũng đáng chấp nhận được. Tán rằng:

Quán Âm đại sĩ trong vô lượng kiếp, thành Phật đã lâu. Vì độ chúng sanh chẳng lìa Tịch Quang, hiện thân Bồ Tát. Lại còn ứng khắp quần cơ, hiện hình trong lục đạo. Dùng ba mươi hai ứng thân, mười bốn vô úy, bốn vô tác diệu lực chẳng thể nghĩ bàn, tầm thanh cứu khổ, độ thoát quần manh. Nên dùng thân nào để độ được bèn hiện thân ấy để thuyết pháp. Khác nào trăng in bóng trên ngàn con sông, mùa Xuân tăng trưởng muôn cây cỏ. Tuy trọn chẳng tính nghĩ, nhưng chẳng sai sót mảy may. Ấy là vì triệt chứng duy tâm, tỏ trọn tự tánh. Vận lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên, lấy niệm của chúng sanh làm tâm, lấy hết cảnh trong pháp giới làm lượng. Do vậy biết vô tận pháp giới vô lượng chúng sanh đều ở trong tâm tịch chiếu của Bồ Tát. Cho nên được mây bủa cửa Từ, sóng trào biển Bi, hễ cảm liền ứng, không nguyện nào chẳng thỏa!

(Năm Giáp Dần tức năm Dân Quốc thứ 3 (1914), Ấn Quang Thích Thánh Lượng đảnh lễ kính cẩn viết. Từ đây trở đi là phần ký về sự thị hiện ứng tích)

Hang Đại Sơn Nham là chỗ rồng rắn ở, lâu năm biến thành yêu tinh, mặc tình gieo hung tác nghiệt, ăn nuốt không ngừng, gây họa lây cho dân chúng, biến ra hình thù quái dị bay lên, không ai chế ngự nổi. Nếu không phải bậc ứng thân đại sĩ, ai có thể cứu tế cho được! Vòi vọi thay diệu trí thần lực chẳng thể nghĩ bàn! Nhưng trong cảnh chẳng nghĩ bàn, gượng dùng văn từ để ghi chép, thuật lại sự tích, ngõ hầu gợi lòng tin sâu xa cho những bậc quân tử cả ngàn năm sau.

Xưa kia, vào thời Tùy, trong niên hiệu Nhân Thọ (601-604), núi này có độc long. Do nó có sức thần thông tạo bởi nghiệp lực, nên biến hình thành người mặc áo lông (đạo sĩ)[34], cầm đan dược đi bán ở Trường An, trá xưng tiên thuật để lừa kẻ ngu tục, bảo thuốc ấy linh lắm, uống vào lập tức bay lên trời. Ô hô! Người dân vô tri nhẹ dạ tin lời ấy, phàm kẻ uống thuốc ấy bay lên trời không biết là bao nhiêu! Nào có biết sẽ bị rớt xuống sào huyệt của đạo sĩ ấy để thỏa bụng miệng hắn?

Dân cư một phương vẫn mê chẳng ngộ, chỉ có đức Đại Sĩ ta do sức bi nguyện, hiện thân tỳ-kheo, kết cỏ làm am, sống trên đảnh núi ấy, dùng sức diệu trí hàng phục thần thông yêu quái ấy, dùng gió thanh tịnh trừ khử nhiệt não cho nó. Ý niệm từ bi thấm đến, độc khí ngầm tiêu, rồng được thanh lương ở yên trong hang núi. Dân chúng nhờ đức ấy đều giữ được mạng sống. Chuyện quái dị xưa kia chẳng còn thấy nữa. Do vậy, sự thi ân linh ứng ấy thấu đến triều đình. Vì Sư có công đối với đất nước, có ân đối với dân, nên lập chùa trên đảnh núi để đáp tạ. Đại Sĩ dùng gió Từ, mưa pháp cứu khắp hàm linh, huệ nhật sáng ngời thanh tịnh, phá các tối tăm. Do vậy, người quyền quý[35] ngưỡng mộ, kẻ bình dân khâm phục phong cách, cắt lưới ái để quy chân, bỏ trâm anh để nhập đạo. Đại Sĩ thường ngồi trên tảng đá, vượn núi, thú hoang quây quần bên tòa, trăm loài chim tụ họp đông nghịt, đậu lặng lẽ như đang nghe pháp âm, một lúc lâu sau mới bay đi.

Ô hô! Dựng chùa vừa được một năm thì vào ngày Mười Chín tháng Sáu, Đại Sĩ đột nhiên thị hiện vô thường, điềm nhiên nhập diệt. Mùi hương lạ ngập thất, sương sầu phủ kín trời, chim thú kêu ai oán, núi rừng đổi sắc. Lúc đó, mọi người trong chùa nghe triều đình sai sứ đem hương ban xuống, phụng chỉ phúng điếu, phong tặng để đề cao phước ngầm. Lúc làm lễ trà-tỳ[36], trời đất tối tăm, trong khoảnh khắc ấy, [nơi ấy] hóa thành cõi bạc, chợt nghe trên không trung vang lên tiếng tiêu, tiếng trống, núi non lay động, mây lành phủ trùm, hương lạ ngào ngạt. Từ trên ngọn núi phía Đông chợt hiện ra cái cầu vàng, trên cầu thiên chúng đứng thành hàng, ai nấy cầm tràng phan và rải hoa vàng phơi phới chẳng rơi xuống đất. Cuối cùng trên ngọn Nam Đài, trăm thứ báu chói ngời, nhiều không biết xuể, xông lên tận trời không ngằn mé! Trong đó, [Bồ Tát] hiện tướng tự tại đoan nghiêm, từ dung vĩ đại, rực rỡ, anh lạc, thù y[37], gió trời hiu hiu, sáng ngời trước mắt. Khi ấy, hai chúng Tăng - tục một ngàn một trăm mấy mươi người đều thấy dung nghi thật sự, buồn vui lẫn lộn, không ai chẳng khóc lóc chiêm lễ, quy y, xưng danh hết sức cung kính. Lúc ấy mới biết là Quán Âm Đại Sĩ thị hiện ứng tích vậy! Thanh khí, dị hương đọng lại cả tháng.

Quan Tả Bộc Xạ[38] là ông Cao tấu trình đầy đủ sự việc. Hoàng thượng xem tờ biểu, than thở hồi lâu, thâu thập di cốt lập tháp, đích thân viết biển đề, ban hiệu là Quán Âm Đài Tự, ban tặng ruộng đất rừng núi mỗi chiều rộng trăm dặm. Mỗi năm ban ngự hương để chư Tăng làm lễ cúng tôn sùng pháp hóa rộng lớn. Đến năm Đại Lịch thứ sáu (771) đời Đường, đổi tên chùa thành Nam Ngũ Đài Sơn Thánh Thọ Tự. Thời Ngũ Đại, chiến tranh liên miên, điện vũ thuộc các đài đều bị thiêu hủy, chỉ còn tàn tăng, nhà nát ở lẫn cùng gỗ đá.

Đến mùa Hạ năm Thái Bình Hưng Quốc thứ ba (978) đời Tống, trước sau sáu lần hiện những điềm lành như mây lành có hình tròn năm màu. Vị Tăng chủ trì là Hoài Vĩ tâu trình đầy đủ lên quan Phủ Doãn, được quan tâu lên triều đình. Triều đình bèn sắc tứ bảng vàng, đề là Ngũ Đài Sơn Viên Quang Tự. Do vậy, tu sửa, xây thêm điện báu, đắp vẽ tượng Bồ Tát. Ráng khói hương cùng vàng, ngọc đua sáng; nhịp mõ cùng tiếng gió thổi qua rặng tùng cùng diễn nhiệm mầu. Nhà cửa trong các đài trên dưới đều xây dựng mới, trụ trì tiếp nối hương đèn chẳng dứt. Từ quang chiếu sáng, đá ươm mây lành, mưa pháp thấm đẫm, nước thành cam lộ.

Cách mấy trăm bước về phía Nam Đài, có một thạch tuyền, chảy vào một cái ao hình vuông, sắc vị ngọt sạch, trừ được nhiệt não, làm tươi nhuận sự khô kháo. Mở rộng ra thời tràn ngập sa giới (các cõi nước nhiều như cát), thâu hẹp lại thì ao đá lặng trong. Có lúc hạn hán gắt gao, người nghênh thỉnh đứng nối tiếp nhau bên đường, đều được cảm ứng như lòng mong, châu quận đều ghi rõ [chuyện này] trong sách vở. Hữu tình được hưởng phước, cây cỏ đượm ân. Từ xưa đến nay, tiếng tăm chẳng mất.

Ôi! Đại Thánh dùng sức bi nguyện, phước phủ một phương, mà dân một phương ấy cũng chẳng quên ân phước từ bi. Mỗi dịp Thanh Minh và nhằm ngày kỵ cuối Hạ, chẳng ngại xa xôi trăm dặm, trèo leo khó khăn, hiểm trở, đều mang tấm lòng thanh tịnh noi dấu chân lên đến nơi, nào phải chỉ trăm ngàn vạn? Dìu già, dắt trẻ, đông nghịt đường nẻo, kéo dài hơn cả tháng. Ai nấy đều dùng hương hoa, âm nhạc, lọng lụa, tràng phan, vật dụng cần dùng để cúng dường. Rồi đầu mặt đảnh lễ, hết sức cung kính chiêm ngưỡng hình tượng, đi nhiễu, tán thán, không ai chẳng gột tội, được phước, trừ chướng, đượm ân, nào uổng công bôn ba leo trèo. Vị Tăng trong chùa là Pháp Nhẫn lo rằng năm tháng đã lâu, dấu thiêng bị chìm mất, nên đem các tấm bia hư vỡ nhờ ghi chép lại, Phổ Minh cố từ tạ nhưng chẳng được, thật xấu hổ chẳng phải là tay văn tài. Nếu gặp được bậc hiền sĩ sửa đổi cho đúng, chẳng hợp lẽ hơn ư?

Thái Bạch Sơn Thích Phổ Minh kính cẩn soạn (Đời nhà Nguyên, tháng Giêng năm Chí Nguyên thứ bảy (1270) lập bia).

Bài tựa cho bản Phổ Đà Sơn Chí in theo lối thạch bản đã nêu rõ lý cảm ứng rất tường tận. Bài ký về sự thị hiện ứng tích tại Nam Ngũ Đài chính là dấu tích thật sự của chuyện Đại Sĩ hiện thân tỳ-kheo cứu khổ, đấy cũng chính là căn nguyên của lễ hội dâng hương vào ngày Mười Chín tháng Sáu, cho nên tôi sao lục ngõ hầu độc giả sẽ sanh lòng chánh tín. Thích Ấn Quang kính đề.

Phụ Lục - Lễ Quán Thế Âm Bồ Tát Sớ

(đây chính là nguyên nhân soạn cuốn tụng văn này cho nên sao lục thêm vào đây)



Từng nghe chư Phật Như Lai lấy đại bi làm Thể, Bồ Đề Tát Đỏa[39] nương theo Bát Nhã quán tâm. Tịch diệt hiện tiền, nên đắc thượng đồng hạ hợp; chân không vô tướng, bèn có thể cứu khổ tầm thanh. Bậc Thất Hạnh mới bắt đầu vào cõi tục độ sanh, ngôi Lục Địa mới dần dần tu tập đồng sự, ái ngữ. Nếu chẳng thành Chánh Giác đã lâu, hiện thân Liệt Ứng[40] để hành hạnh Từ, độ hết chúng sanh rồi mới hiện rõ tướng thành Phật; ai có được sức oai thần vòi vọi như thế hay chăng?

Cung kính tán dương bậc đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, trụ trong núi Bổ Đát Lạc Ca (Potalaka), đắc pháp đại bi giải thoát, sư thừa Tĩnh Trụ[41], thị hiện thánh hiệu Chánh Pháp Minh. Bổ xứ Di Đà, được thọ ký non cao công đức. Bảo Tạng trụ thế, hồi hướng Bồ Đề[42]. Vườn rừng oai đức, thệ nguyện rộng sâu. Từ Văn - Tư - Tu, đốn nhập Chánh Định, đắc viên thông chân thường, mọi chuyện đều chân thật. Huân tu Kim Cang tam-muội, thanh tịnh bảo giác viên dung. Mười bốn vô úy, phước trọn chúng sanh. Ba mươi hai ứng thân, độ khắp muôn loài đều thành Đẳng Giác. Trọn đủ công đức đại tự tại, diệu dung liền hiện. Có đức chẳng thể nghĩ bàn, ban thí cực quả. Vì thế, niệm danh Ngài một niệm, công đức bằng với trì niệm sáu mươi hai ức danh hiệu các vị Bồ Tát khác. Hai mươi bốn pháp Viên Thông của các thánh giả đều phải lui nhường. Một nẻo Niết Bàn, ba đời học Phật vẫn phải kính nghe; thị hiện Phổ Môn, tám vạn người phát Vô Đẳng Đẳng. Đã thế, phù tá Di Đà, tuy ngự An Dưỡng, nhưng vì nhiếp hóa chúng sanh, hiện trụ Sa Bà.

Kim Thành, Hùng Nhĩ, đua nhau thuật chuyện hóa thân. Ngũ Đài, Tứ Châu, cùng phô thánh tích. Thậm chí, nơi vỏ sò, nghêu, hiện hình tượng mầu nhiệm trang nghiêm; trứng gà, ba ba, thấy dấu tích kim dung chói rạng. Vì thế biết thâm ân của từ phụ dẫu đốt thân vẫn khó đáp đền. Lòng đau đáu thiết tha, quả thật phải gào than, ứa lệ! Đệ tử Chỉ Tịnh bỏ cha trốn đi, đói rách chốn quê người đã lâu ngày[43], trôi giạt theo nghiệp, càng dùng dằng hết nửa đời người. Tám năm phụng sự, gánh phân, bỏ vàng. Ma bệnh trói buộc[44], nhận bọt sóng quên mất biển cả, tự thẹn mê cuồng[45], phát tâm kính lễ dưới chân Đại Sĩ (lễ tượng Tam Thánh tại nhà); tay lần chuỗi niệm Phật, mỗi ngày ba trăm lượt. Đảnh lễ, tụng kinh (chỉ kinh Di Đà), mỗi tháng một trăm lẻ tám quyển, đọc văn Kim Cang, chỉ cầu làm Phật. Lễ kệ Phổ Hiền, phát nguyện độ sanh; niệm chú Vãng Sanh, đức Phật thường trụ trên đảnh. Trì thần chú Đại Bi, nước tắm cũng độ được người[46]; đều cậy vào những nhân duyên đại thiện như thế, để làm công cứ vãng sanh. Vả nữa, đời này độn căn, ma chướng khó tiêu, túc thế oan nghiệt sâu nặng, chánh tín dễ lui sụt, bèn toan gõ cửa Bạch Hoa[47], kiền thành tham lễ tượng báu. Như Từ Mẫn[48] sang Tây, mong được thấy thánh dung thật sự; học Thiện Tài đi về phương Nam, nguyện gặp bạn thánh. Vẫn xin Ngài từ bi thương xót, hãy gấp gia bị cho con, giữa mây thị hiện cho Trương Sứ thấy, anh lạc đoan nghiêm[49]; vách đá hiện thân cho Sử tướng, kim quang chói ngời[50]. Cam lộ quán đảnh, tăng biện tài cho Trí Giác[51]. Tay báu phanh ruột, chữa chứng khí tật cho Pháp Nghĩa[52].

Nay con vẫn còn gởi thân nơi đất khách, chưa được ở yên, xin Ngài ban cho nhà đẹp, mong được thấu hiểu pháp môn. Lần chuỗi Lý mẫu, biết trước lúc mất. Ăn khoai Đình Chương[53], định ngày về Tây. Ấn sáp ép xuống kim nê, ấn nát mà nét ấn đã hiện, niệm Phật, Phật bèn tùy tâm hiện, duỗi cánh tay sen hồng, đón lên đài vàng, phóng bạch hào quang, đẫn về gác báu, cùng chứng An Lạc. Chúng sanh và Phật vốn chẳng sai biệt, cách ngăn. Trở lại Sa Bà, mẹ con chẳng hề xa cách. Trình tâm nguyện ấy, cúi xin chứng minh. Ngày hôm nay trên đá kim cang, quy y bậc đạo sư nơi biển trí, đến năm nào trong tương lai, nơi đóa hoa Ma Ni, con sẽ được theo hầu vị thiện hữu thù thắng đội mão trời.

Tiết Xuân năm Nhâm Tuất, tức năm Dân Quốc 11 (1922), Bành Trạch Hứa Chỉ Tịnh kính soạn (chữ Táp (卅) đọc âm giống chữ Tát (薩), nghĩa là ba mươi)



Phàm Lệ[54]



1. Sách gồm bốn quyển, ba quyển đầu là tụng văn, ca tụng nhân duyên nơi Bổn và Tích của Quán Âm Bồ Tát trong những kiếp xưa và sự tích cảm ứng trong phương này. Quyển cuối gồm những trích dẫn kinh văn nhằm làm chứng, trích dẫn đại lược mười mấy bộ kinh ngõ hầu độc giả biết duyên do đại sự của đức Quán Âm, cũng như chú thích cặn kẽ những điều thuộc về Bổn và Tích của Ngài trong tụng văn ở phần trước (trong phần văn ca tụng Bổn và Tích trong các quyển trước, dưới mỗi đoạn văn có lời chú thích đại lược nhưng từ ngữ và ý nghĩa chưa thể trọn đủ, nên cần phải tham khảo phần kinh văn dẫn chứng này thì mới có thể thông suốt nguyên ủy). Lại kèm thêm một quyển ca tụng kinh Kim Cang vì người trì tụng kinh này rất đông nên tôi cũng soạn văn ca tụng để mong người đọc sẽ được hưởng lợi ích thật sự. Tuy không phải là cùng một bộ sách với phần trước, nhưng do muốn được lưu truyền rộng rãi nên tôi kính cẩn ghép vào cuối bộ sách này.

2. Sách Quán Âm Bổn Tích Tụng gồm bốn quyển này chính là quyển đầu của bộ Phổ Đà Sơn Chí. Do số quyển [của Phổ Đà Sơn Chí] khá nhiều, nên đem [sách Quán Âm Bổn Tích Tụng này] ấn hành riêng nhằm mong được lưu truyền rộng rãi.

3. Cách phân chia chương mục trong sách này hết sức giản lược, chẳng câu nệ theo lệ thường, chỉ nhằm trình bày đại cương. Hơn nữa, trong phần tụng văn, gặp chỗ nào cần thiết cũng sẽ tùy nghi diễn giải, hơi khác với sườn bài. Các chương như các tướng thị hiện tại Phổ Đà, sẽ đặc biệt đánh số một, hai v.v... cho tiện tra cứu.

4. Phàm trích dẫn kinh, luận và các sách không thuộc nhà Phật đều trích dẫn đại lược nguyên văn. Danh xưng của nguyên tác [được trích dẫn] cũng tuân theo cách gọi tắt (như những sách được nêu trong phần chú thích, có những danh xưng như Khoáng Viên, Quái Viên, Hữu Đài Tiên Quán[55] v.v... đều là tên của những bộ bút ký)

5. Nếu phần chú thích của tụng văn khá chi ly, chẳng dễ đối chiếu, thì đối với mỗi câu tụng văn liên quan đều ghi những con số 1, 2, 3 v.v... trước mỗi câu để độc giả có thể dựa theo con số trước mỗi câu để kiếm phần chú thích tương ứng sẽ có thể thấy được ngay. Nếu phần chú thích của tụng văn không quá rắc rối, dễ đối chiếu, hoặc là lời chú thích cho cả một đoạn kinh văn, hoặc chú thích vài ý nghĩa liên quan đến tụng văn, không thể cắt rời từng phần được thì không đánh số.

6. Cách chấm câu: Đối với mỗi đoạn tụng văn sẽ chia thành hai câu để người mới học đọc tụng thuận tiện. Còn những phần chú thích cho lời tựa chẳng hạn thì không tuân theo lệ ấy, cứ mỗi một đoạn lớn là một câu để lời văn khỏi bị cắt vụn, tản mạn.

7. Sau khi bản thảo hoàn thành, giao cho thợ in, ấn loát lưu truyền, có những chỗ nào chưa thỏa đáng thì mai sau rảnh rang sẽ sửa đổi lần nữa cho được hoàn thiện.


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Năm, 29 Oct 2015, 9:05 PM
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Oct 2015, 9:09 PM | Message # 3
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích

Cảm Ứng Tụng

Quyển 1, phần 1

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn


Tụng văn chia thành ba phần:

1. Trình bày ý nghĩa.

2. Chánh thức ca tụng.

3. Kết luận, khuyên lơn, hồi hướng.

I. Trình bày ý nghĩa:

Bị chú của người dịch: Để độc giả dễ phân biệt phần tụng văn và phần lược chú của cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh, chúng tôi áp dụng cách thức như sau:

- Phần tụng văn in chữ đậm và nghiêng, những con số đánh dấu mỗi đoạn được trình bày dưới dạng “1.”, “2.” v.v...

- Phần chú thích của ông Hứa Chỉ Tịnh sẽ được in bình thường, con số tương ứng với mỗi câu trong phần tụng văn sẽ được bỏ trong ngoặc.

Nêu rõ duyên khởi soạn tụng văn. Đây chính là phần mở đầu của toàn bộ thiên sách, được chia thành bốn đoạn:

* Ca tụng Đại Sĩ bi trí song tu.

* Ca tụng Đại Sĩ là bậc cổ Phật ứng thế nên tiếng tăm chấn động mười phương.

* Ca tụng Ngài sốt sắng đại bi cứu khổ nên có duyên sâu nặng với cõi Sa Bà.

* Dựa theo kinh văn để đính chánh những thuyết sai ngoa nhằm phát khởi chánh tín, nêu duyên khởi soạn tụng văn.

1. Thường nghe chư Phật không thân, nhưng Bát Nhã quả thật là mẹ chư Phật; Bồ Đề chẳng phải là cây, nhưng đại bi vốn tự nẩy mầm.

2. Vì thế, Pháp Thân, giải thoát, thiếu trí huệ chẳng thể viên dung. Bổn trí, vạn hạnh, chỉ từ bi mới hòng hòa hợp.

3. Vì vậy, Tự Tha bất nhị, sáng suốt đến cùng cực thì chính là Như Lai. Nhân quả đan xen, hạnh sâu xa quả thật chỉ có Bồ Tát. (Lý Trưởng Giả chú giải kinh Hoa Nghiêm, cho rằng Quán Âm biểu thị Bi, Tự Tại biểu thị Trí, mà hai chữ Bi và Trí đã bao gồm hết thảy các môn Sự và Lý trong Phật pháp. Vì thế, xếp [hai điều này] vào đầu[ bài ca tụng])


(1) Trong phẩm Quang Minh Giác của kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Ngã tánh vị tằng hữu, Ngã Sở diệc không tịch, vân hà chư Như Lai, nhi đắc hữu kỳ thân?” (Ngã tánh chưa hề có, Ngã Sở cũng rỗng lặng, cớ sao các Như Lai, lại có được thân ấy?). Ngài Di Lặc lại bảo Thiện Tài: “Bồ Tát dĩ Bát Nhã Ba La Mật vi mẫu” (Bồ Tát lấy Bát Nhã Ba La Mật làm mẹ). Lục Tổ có bài kệ như sau: “Bồ Đề bổn vô thọ” (Bồ Đề vốn chẳng phải là cây). Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm có câu: “Nhân ư đại bi, sanh Bồ Đề tâm” (Do đại bi mà sanh tâm Bồ Đề).

(2) Pháp Thân, Giải Thoát, Bát Nhã như ba điểm của chữ Siddham i.svg, có nghĩa là ba đức viên dung. (Siddham i.svglà chữ Phạn, đọc là Y, biểu thị tam đức viên dung). Kinh Hoa Nghiêm lấy Văn Thù tượng trưng cho Căn Bản Trí, lấy Phổ Hiền tượng trưng cho Sai Biệt Hạnh, Quán Âm biểu thị tâm từ bi, Ngài ở vào địa vị Thất Hồi Hướng. Địa vị Thập Hướng là do từ Thập Trụ và Thập Hạnh [mà có], nhưng đã dung hội nguyện lực từ bi, hưng khởi trọn khắp những sự lợi ích to lớn.

(3) Tự giác, giác tha, giác mãn thì gọi là Phật. Phẩm Nhập Pháp Giới [của kinh Hoa Nghiêm] có câu: “Ly tự tha kiến, tri tùng duyên khởi cố” (Lìa cái thấy Tự và Tha, biết là do duyên khởi mà có). Sách Hợp Luận viết: “Vô biên cõi nước, tự tha chẳng ngăn cách chừng bằng đầu lông”. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Minh cực tức Như Lai” (Sáng suốt đến cùng cực chính là Như Lai). Lại nữa, [kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni chép]: “Trong đại hội, Quán Thế Âm Như Lai thọ ký cho ta thánh hiệu Quán Thế Âm”, chỉ rõ nhân quả thành tựu lẫn nhau, Thể và Dụng soi tỏ tột cùng lẫn nhau. Tâm Kinh có câu: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa”.

1. Dẫu là bậc đã đạt địa vị Hiện Tiền, còn phải tu hạnh Tứ Nhiếp dần dần. Chứng địa vị Bất Động, vẫn phải đợi ba lần gia hộ.

2. Há chẳng phải là xuất Triền thì trí chướng dễ sanh, nguyện vào cõi tục bèn gặp phải nạn vua đó ư?

3. Chỉ có bậc Đại Sĩ tầm thanh cứu khổ, mang hiệu Quán Âm, đoạn Hoặc, chứng Chân, được danh Tự Tại.

4. Danh là Niêm Sách, thật là lời “hễ được gặp sẽ chẳng luống uổng”. Hiệu nhằm ứng tiếng, mang ý nghĩa “có cảm bèn thông”.

5. Vốn thành Phật, hiệu Chánh Pháp Minh, nguyên là thầy của đức Thích Ca. Trọn thành Thiên Quang Nhãn độ sanh, lại phù tá A Di Đà Phật (do đây, nêu ra hai danh hiệu Bi và Trí, thừa dịp, nêu ra các danh hiệu khác ngõ hầu thế tục biết được Bổn địa xa xưa của Ngài).

6. Nguyện sâu vô lượng, cùng Tỳ Lô đáng gọi trượng phu. Đức nêu mảy lông, dẫu Phổ Hiền chẳng rành ngằn mé!

7. Vì thế, sát-na xưng niệm, giống xưng danh trăm ngàn ức triệu Như Lai. Ngẫu nhiên thọ trì, hơn niệm hiệu sáu mươi hai hằng sa Bồ Tát.

8. Tin tưởng danh hiệu tôn quý, khó thể được nghe. Phạm, Thích, trời, người đều nên sanh lòng kính ngưỡng (Đây là theo kinh Đại Bi, từ hàng Bồ Tát cho đến trời người đều phải nên sanh lòng cung kính [Quán Thế Âm Bồ Tát], dẫn khởi duyên sâu nặng với cõi Sa Bà).


(1) Theo Hoa Nghiêm, Lục Địa có tên là Hiện Tiền Địa. Theo Hợp Luận: “Trước khi chứng Lục Địa, đối với Tứ Nhiếp chưa được tự tại”. Bát Địa có tên là Bất Động Địa, kinh văn có nói đến ba lần gia hộ, bảy lần khuyên lơn. Ba lần gia hộ là:

- Chư Phật hiện thân.

- Ban cho trí huệ.

- Tán thán, xoa đầu.

Kinh còn chép: “Nhược chư Phật bất dữ thử chư Bồ Tát khởi trí môn giả, bỉ tức nhập cứu cánh Niết Bàn, khí xả nhất thiết lợi chúng sanh nghiệp” (Nếu chư Phật chẳng dấy khởi trí môn cho các vị Bồ Tát ấy, họ liền nhập rốt ráo Niết Bàn, buông bỏ hết thảy sự nghiệp lợi lạc chúng sanh).

(2) Trí Chướng là nói về Tịnh Chướng. Lục Địa Bồ Tát có hai thứ nhiễm nghiệp và tịnh nghiệp chưa mất, vì thế còn bị phiền não trói buộc chưa được tự tại. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói tới mười nguyện vương. Phẩm Thập Định có chép: “Chư Bồ Tát ư Phổ Hiền sở, tâm sanh tôn trọng, khát ngưỡng dục kiến, tất ư chúng hội, châu biến quán sát, nhi cánh bất đổ, diệc bất kiến kỳ sở tọa chi tòa” (Chư Bồ Tát sanh tâm tôn trọng Phổ Hiền Bồ Tát, khát ngưỡng muốn được thấy, nên đều quán sát trọn khắp chúng hội nhưng trọn chẳng thấy Ngài, cũng chẳng thấy tòa của Ngài đang ngồi).

(3) Sách Hoa Nghiêm Hợp Luận viết: “Quan Thế Âm, tiếng Phạn là Quang Thế Âm, dùng ánh sáng từ bi chiếu thế gian, nghe khổ liền cứu. Quán Tự Tại có nghĩa là quán chiếu rõ ràng, thành tựu xuất thế Bát Nhã”.

(4) Đại Bi Chú Kinh: “Quán Thế Âm còn có tên là Niêm Sách”. Niêm Sách (拈索) chính là sợi dây quyến sách (羂索: dây trói), thợ săn dùng dây này để bắt thú, thú không thoát được. [Danh hiệu Niêm Sách] nhằm tỷ dụ nghe danh hiệu và thấy thân tướng của Đại Sĩ thì tâm niệm chẳng luống uổng. Vãng Sanh Luận có câu: “Quán Phật bổn nguyện lực, ngộ vô không quá giả” (Quán sức bổn nguyện của Phật thì sẽ là gặp gỡ không luống uổng). Thiên Địa Bổn Khởi Kinh: “Ứng Thanh Bồ Tát chính là Quán Thế Âm”. Phần Hệ Từ Truyện trong Châu Dịch có câu: “Cảm chi toại thông thiên hạ chi cố” (Hễ cảm liền thông khắp nhân gian).

(5) Đại Bi Chú Kinh: “Thử Bồ Tát bất khả tư nghị oai thần chi lực, quá khứ vô lượng kiếp trung, dĩ tác Phật cánh, hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai” (Sức oai thần của vị Bồ Tát này chẳng thể nghĩ bàn, trong vô lượng kiếp đời quá khứ, Ngài đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai). Lại nữa, Quán Âm Tam Muội Kinh chép: “Thị Quán Thế Âm, tại ngã tiền thành Phật, danh Chánh Pháp Minh Như Lai, ngô vi đệ tử dã” (Vị Quán Thế Âm Bồ Tát này đã thành Phật trước ta, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, ta là đệ tử). Đại Bi Chú Kinh: “Quán Thế Âm, diệc danh Thiên Quang Nhãn” (Quán Thế Âm cũng có tên là Thiên Quang Nhãn).

(6) Đại Giáo Vương Kinh: “Ngũ trượng phu đồng Mạn Thù nguyện, tức kim ngũ Phật, nhất Tỳ Lô Giá Na Phật, nhị A Súc Phật, tam Bảo Sanh Phật, tứ Quán Tự Tại Vương Phật, ngũ Bất Không Thành Tựu Phật” (Năm vị trượng phu có cùng nguyện với ngài Văn Thù, nay chính là năm vị Phật, một là Tỳ Lô Giá Na Phật, hai là A Súc Phật, ba là Bảo Sanh Phật, bốn là Quán Tự Tại Vương Phật, năm là Bất Không Thành Tựu Phật). Trong kinh Trang Nghiêm Bảo Vương, đức Phật nói: “ Quán Tự Tại Bồ Tát, lịch kiếp cứu khổ, cập trụ chủng chủng tam-muội, thân chư mao khổng hy hữu công đức, Phổ Hiền Bồ Tát hành thập nhị niên, bất đắc biên tế” (Quán Tự Tại Bồ Tát trải nhiều kiếp cứu khổ và trụ trong các thứ tam-muội, các lỗ chân lông trên thân đều có công đức hy hữu, Phổ Hiền Bồ Tát đi [trong một lỗ chân lông] suốt mười hai năm chẳng biết được ngằn mé).

(7) Thập Nhất Diện Chú Kinh: “Nhược hữu xưng niệm bách thiên câu-chi na-dữu-đa chư Phật danh hiệu, phục hữu tạm thời ư ngã danh hiệu, chí tâm xưng niệm. Bỉ nhị công đức, bình đẳng bình đẳng” (Nếu có kẻ nào xưng niệm danh hiệu của trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa chư Phật, lại có kẻ tạm thời chí tâm xưng niệm danh hiệu ta thì hai công đức ấy đều bình đẳng). Pháp Hoa Kinh: “Nhược hữu nhân thọ trì lục thập nhị ức hằng hà sa Bồ Tát danh tự, phục tận hình cúng dường; nhược phục hữu nhân, thọ trì Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, nãi chí nhất thời lễ bái cúng dường, thị nhị nhân phước, chánh đẳng vô dị” (Nếu có người thọ trì danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát và lại suốt đời cúng dường; rồi lại có người thọ trì danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát, cho đến lễ bái, cúng dường trong một lúc thì phước của hai người ấy giống hệt như nhau không sai khác).

(8) Thập Nhất Diện Chú Kinh: “Ngã do thử chú, danh hiệu tôn quý, nan khả đắc văn” (Do chú này mà danh hiệu của ta tôn quý, khó thể được nghe). Đại Bi Chú Kinh: “Chánh Pháp Minh Như Lai đại bi nguyện lực hiện tác Bồ Tát. Nhữ đẳng chư Bồ Tát, Phạm, Thích, long thần, giai ưng cung kính, nhất thiết nhân thiên, thường tu cúng dường” (Chánh Pháp Minh Như Lai do đại bi nguyện lực thị hiện làm bậc Bồ Tát. Hàng Bồ Tát các ông, Phạm Vương, Đế Thích, long thần đều nên cung kính. Hết thảy người trời hãy thường nên cúng dường).

1. Chỉ vì: Hoa Tạng vô tận, riêng Sa Bà khổ nhóm cực nhiều. Cực Lạc dễ sanh, lòng Bồ Tát từ bi xót thương sâu nhất.

2. Vì thế, hiện thân trong các cõi nhiều tợ vi trần, nhưng cõi này tôn Ngài là Thí Vô Úy. [Tuy ở địa vị] Bổ xứ chốn Liên Bang, vẫn tới cõi này nhiếp người niệm Phật.

3. Làm tròng mắt cho thế gian, thái dương thêm rạng rỡ. Trên biển lắm thánh hiền, ngự trên đóa bạch hoa.

4. Bởi lẽ, chúng sanh nghiệp nặng, tình ân cần như thương con một.


(1) Kinh Hoa Nghiêm giảng rõ Hoa Tạng thế giới chủng, trên dưới gồm tất cả hai mươi tầng. Trong tầng thấp nhất có một cõi Phật sát vi trần số thế giới vây quanh. Cứ lên mỗi một tầng trên, lại tăng thêm một sát trần[56] thế giới. Đến tầng cao nhất có hai mươi Phật sát vi trần số thế giới vây quanh. Thế giới Sa Bà nằm ở trung tâm tầng mười ba. Sa Bà (Sahā), cõi này dịch là Kham Nhẫn, có nghĩa là chúng sanh có những phiền não như tham, sân, si v.v... có thể chịu đựng khổ quả sanh tử. Lại còn dịch là Tạp Hội, có nghĩa là tam ác, năm đường, các nẻo xen tạp tụ hội.

(2) Pháp Hoa Kinh: “Thập phương chư quốc độ, vô sát bất hiện thân” (Các cõi nước mười phương, không cõi nào chẳng hiện thân) và: “Quán Thế Âm Bồ Tát ư bố úy cấp nạn chi trung, năng thí vô úy. Thị cố, thử Sa Bà thế giới giai hiệu chi vi Thí Vô Úy giả” (Trong khi sợ hãi, tai nạn cấp bách, Quán Thế Âm Bồ Tát có thể ban cho sự không sợ hãi. Vì thế, thế giới Sa Bà đều gọi Ngài là bậc Thí Vô Úy).

Vô Lượng Thọ Kinh: “Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, hiện cư thử giới, tác đại nhiêu ích, nhiếp niệm Phật nhân, sanh bỉ Phật quốc” (Quán Thế Âm, Đại Thế Chí hiện đang trụ trong thế giới này tạo sự lợi ích lớn, nhiếp thọ người niệm Phật sanh về cõi Phật kia).

(3) Thiên Địa Bổn Khởi Kinh: “Kiếp sơ thời, thiên hạ vô quang, Di Đà Phật kích kiền chùy tập chúng, vị: ‘Quá thử bát thập hằng hà sa độ, hữu Nhẫn độ, thất vu quang minh, thùy kiến công đức?’ Ứng Thanh Bồ Tát, dữ Cát Tường Bồ Tát, cộng nghị vi thế tác nhãn mục. Ứng Thanh tác nhật, Cát Tường tác nguyệt” (Thuở kiếp sơ, thế gian không có ánh sáng. Phật Di Đà gõ kiền chùy[57] nhóm chúng, bảo: ‘Qua khỏi đây tám mươi hằng hà sa cõi, có cõi Kham Nhẫn, bị mất ánh sáng, ai sẽ lập công đức?’ Ứng Thanh Bồ Tát và Cát Tường Bồ Tát cùng nhau bàn bạc làm con mắt cho cõi đời. Ứng Thanh làm mặt trời, Cát Tường làm mặt trăng).

Bài kệ tụng của cư sĩ Bệ Sắt Chi La [giới thiệu trụ xứ của Quán Âm Bồ Tát] trong [phẩm Nhập Pháp Giới của] kinh Hoa Nghiêm có câu: “Hải thượng hữu sơn đa thánh hiền” (Trên biển có núi, trong ấy có nhiều thánh hiền). Bổ Đát Lạc Ca (Potalaka), cõi này dịch là Tiểu Bạch Hoa vì trong núi có nhiều loại ấy. Còn dịch là Hải Đảo vì nó ở giữa biển cả, chính là chỗ ứng hóa của Quán Thế Âm Bồ Tát, tức là Phổ Đà Sơn hiện nay.

(4) Chiêm Sát Nghiệp Báo Kinh: “Tuy phục phổ du nhất thiết sát độ, thường khởi công nghiệp, nhi ư ngũ trược ác thế, hóa ích thiên đa” (Tuy vẫn dạo khắp hết thảy cõi nước, thường tạo sự nghiệp công đức, nhưng đối với đời ác ngũ trược lại riêng chú trọng giáo hóa, tạo nhiều lợi ích). Phẩm Thập Hồi Hướng kinh Hoa Nghiêm có câu: “Bồ Tát đẳng quán nhất thiết chúng sanh, do như nhất tử” (Hàng Bồ Tát bình đẳng xem hết thảy chúng sanh ví như con một).

1. Thường xả thân và vật quý báu, vua, quan cung kính, phụng sự, hương hoa cúi lạy, phụ nữ, trẻ thơ quy y.

2. Được tôn thờ tột bậc, năm trăm thân có dư, ghi chép sự cảm ứng, ngàn vạn lời chẳng trọn.

3. Nhưng văn nhân biên chép, thiện thư đã nhiều, dã sử lưu truyền, ngoa ngôn cũng lắm.

4. Hoặc nói là công chúa xả thân, hoặc bảo là thần tiên nuốt gió.

5. Hoặc nghi là bầy tôi Đế Thích, hoặc lầm tưởng hình tượng Diện Nhiên. Tuy truyền thuật chẳng thiếu ý tôn sùng, nhưng danh vị quả thật đã bị vu báng. Bèn dựa theo Khế Kinh, trình bày Bổn Tích đại lược, ngõ hầu hàng thiện tín cùng được kết pháp duyên (Đây là vì Ngài có duyên sâu nặng nên đến nỗi có lắm điều ngoa truyền, nên tôi đặc biệt dựa vào Khế Kinh để soạn tụng văn, ngõ hầu người đọc sanh lòng chánh tín).


(1) Lăng Nghiêm Kinh: “Sở du thế giới, giai linh chúng sanh xả thân trân bảo, cầu ngã ai mẫn” (Trong những thế giới ta đi đến đều khiến cho chúng sanh xả thân và vật quý báu, cầu ta xót thương).

(2) Văn bia Phó Đại Sĩ có câu: “Quán Âm có năm trăm thân trong cõi Diêm Phù Đề, thị hiện giống như phàm phu để giáo hóa chúng sanh”, xem trong kinh Đình Thủy.

(3) Tục truyền Đại Sĩ là con gái thứ ba của Diệu Trang Vương, tên là Diệu Thiện, xả tay và mắt để chữa bệnh ngặt cho cha, bèn hiện hình tượng ngàn mắt ngàn tay. Sách Biên Niên Thông Luận bảo đó lời của thiên thần nói với Nam Sơn Đạo Tuyên luật sư. Lại nữa, sách Nhữ Châu Chí chép con gái thứ ba của Sở Trang Vương tên là Diệu Thiện. Vua bị bệnh ngặt, thầy lang nói: “Ắt phải có được tay và mắt của người thân thì mới lành bệnh được!” Công chúa bèn cắt tay và mắt cứu cha lành bệnh. Công chúa cũng tọa hóa (ngồi qua đời). Thầy lang nói: “Đấy là bậc Bồ Tát đại bi”, nói xong, không thấy đâu nữa. Trang Vương liền phong tặng công chúa là Đại Bi Bồ Tát, dựng chùa ở Hương Sơn, đắp tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn. Hoặc nói: Trang Vương hạ lệnh đắp tượng “toàn thủ toàn nhãn” (có đủ mắt và tay), bầy tôi tưởng lầm là “thiên thủ thiên nhãn”. Xét ra, lời thiên thần chắc là nói về chuyện kiếp trước, nhưng Cảm Thông Lục không chép. Còn như thuyết của Nhữ Châu Chí là ngoa truyền, sai lầm, không còn nghi ngờ chi nữa!

Sách Kỷ Sử Thông Giám chép thời Châu Tuyên Vương, Trường Tang Công nói: “Lão Quân bảo: - Ta đến Nam Hải, nghe nói đến động Triều Âm ở Lạc Ca Nham có một vị nữ chân[58] tên là Từ Hàng Đại Sĩ, Ngài dạy ta cách uống nước cam lộ”. Sách còn chép Tiện Môn Tử nói: “Tần Thủy Hoàng đi lên phương Bắc, tôi vào Nam Hải, đến thăm Từ Hàng Đại Sĩ, Ngài lấy ra cây xương bồ[59] chín đốt, dạy tôi gieo trồng”. Sách Thần Tiên Giám lại chép: “An Kỳ Sinh[60] gặp Đại Sĩ, xin bài thuốc cam lộ, Đại Sĩ tặng cho”. Đây chính là đạo luyện Kim Đan mượn danh Phật pháp để tăng thanh thế, giá trị, nhằm lừa bịp người đời, quyết chẳng đáng tin. Lại còn có cuốn Tâm Kinh Chân Giải của Tỉnh Mộng đạo nhân biến lời Phật thành lời ma, càng biến thành đại vọng ngữ, đọa trong ngục Vô Gián. Hãy gấp nên đốt sạch để tiêu trừ tội khiên ấy.

(4) Sách Nam Hải Nhất Chước chép trong đàn cầu mưa ở phủ Bảo Ninh, tỉnh Tứ Xuyên, thần tiên hiển hóa giáng cơ bút có những câu như “Nam Hải Quán Âm quỳ mọp ở kim khuyết[61] van nài Ngọc Đế”. Đúng là coi Bồ Tát như bầy tôi của Ngọc Đế, chẳng biết Ngọc Đế như thế tục tôn xưng chính là Đế Thích trong kinh Phật, tức Đao Lợi thiên vương. Trong Dục Giới, ở trên [tầng trời Đao Lợi] còn bốn tầng trời nữa, Sắc Giới có mười tám tầng trời, Vô Sắc Giới có bốn tầng trời, đều thuộc về [những cõi còn] luân hồi trong tam giới. Xét đến địa vị của Bồ Tát thì toán, số, thí dụ đều chẳng thể tính xuể, làm sao Ngọc Đế dám nhận sự lễ kính của Quán Âm là bậc thành Phật đạo đã lâu, thị hiện ở địa vị Bồ Tát? Cần biết rằng: Bài văn ấy chính là do linh quỷ giả mạo.

Thế tục làm đàn chay, thường tạo hình tượng Diện Nhiên Đại Sĩ, điều này vốn phát xuất từ Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh, nên chẳng phải là sai ngoa! Chỉ có điều hễ tạo tượng Ngài thì ắt là tai bên phải đeo vòng, chân phải còn mặc quần của nữ nhân, họ bảo là Đại Sĩ biến hóa mấy chục lần, nhưng không thể biến đổi được điều ấy[62], quê kệch đáng nực cười!


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Sáu, 30 Oct 2015, 10:16 PM
 
atoanmt Date: Thứ Sáu, 30 Oct 2015, 8:44 AM | Message # 4
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5338
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 31 Oct 2015, 7:44 PM | Message # 5
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
II. Phần tụng văn chánh thức

Chia làm hai đoạn:

1. Ca tụng Bổn Tích trong kiếp xưa nhằm nêu rõ đạo lớn, đức rộng.

2. Ca tụng sự cảm ứng trong phương này, nhằm chỉ rõ bi sâu, nguyện nặng.

2.1. Ca tụng Bổn Tích trong những kiếp xưa nhằm nêu rõ đạo lớn, đức rộng

Trong phần này lại chia làm hai đoạn lớn:

1. Tu chứng

2. Ứng hóa.

2.1.1 Tu Chứng

Trong phần Tu Chứng lại chia thành hai đoạn:

1. Phát tâm: Ca tụng nhân duyên xưa kia được thuật trong kinh [Quán Thế Âm Bồ Tát] Thọ Ký.

2. Chứng thánh: Ca tụng chương [Nhĩ Căn] Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm.

Trong phần Ứng Hóa lại chia thành hai đoạn:

1. Sự ứng hóa trước thời Phật Thích Ca: Ca tụng sự phát tâm, thọ ký được nói trong kinh Bi Hoa.

2. Sự ứng hóa phù tá Phật Thích Ca. Trong phần này chia làm sáu tiểu đoạn:

a. Dạy về Bi: Ca tụng chương trần thuật lần tham học thứ hai mươi bảy của Thiện Tài trong kinh Hoa Nghiêm.

b. Dạy về Trí: Ca tụng Tâm Kinh.

c. Thần chú: Ca tụng Thập Nhất Diện Chú Kinh, Tiêu Phục Độc Hại Chú Kinh, Bất Không Quyến Sách Kinh, Đại Bi Chú Kinh và các bộ kinh nói về thần chú khác.

d. Thọ ký: Ca tụng Thọ Ký Kinh.

e. Quán tưởng: Ca tụng phép quán về hoa tòa và quán thân tướng của Đại Sĩ trong Quán Kinh.

f. Lễ kính, trì danh: Ca tụng phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa, mười bốn món Vô Úy được nói trong chương [Nhĩ Căn] Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm và đoạn văn nói về sự tiếp dẫn trong Quán Kinh.

1. Phàm người học đạo, muốn cầu thành Phật, trước hết phải chú trọng phát tâm.

2. Chẳng tu nhân rộng lớn, há đắc quả chân thường?

3. Bồ Đề vừa phát, chẳng có ngằn mé, phước đức vô lượng.

4. Vì thế, Hoa Tạng đại chúng nhiều phen than khó thể phát tâm, lại nói vãng sanh Tịnh Độ dễ dàng.

5. Muốn tìm biết sự phát tâm của Đại Sĩ, phải xét trong kiếp xưa từ thời Không Vương Phật (Từ đây trở đi là phần nhân duyên xưa kia được nói trong kinh Thọ Ký, nói về chuyện Đại Sĩ mới phát Bồ Đề tâm, gồm có hai đoạn).


(1) Lục Tổ Đàn Kinh: “Ngũ Tổ hỏi: Ngươi cầu vật gì? Thưa: Chỉ cầu làm Phật”. Phẩm Phát Tâm Công Đức của kinh Hoa Nghiêm chép: “Dục tri nhất thiết chư Phật pháp, nghi ưng tốc phát Bồ Đề tâm. Thử tâm công đức trung tối thắng, tất đắc Như Lai vô ngại trí” (Muốn biết pháp của hết thảy chư Phật, hãy nên mau phát Bồ Đề tâm. Tâm này có công đức thù thắng nhất trong các công đức, ắt sẽ đắc Vô Ngại Trí của Như Lai).

(2) Phẩm Phát Tâm Công Đức [của kinh Hoa Nghiêm] chép: “Phát tâm vô ngại, vô tế hạn, dục cầu kỳ lượng bất khả đắc” (Phát tâm vô ngại, không ngằn mé; muốn biết đến hạn lượng của nó sẽ không thể được). Lại chép: “Dĩ chư tam thế nhân trung tôn, giai tùng phát tâm nhi đắc sanh” (Những bậc Nhân Trung Tôn[63] trong ba đời, đều do phát tâm mà thành).

(3) Trong phẩm Phát Tâm Công Đức, Đế Thích hỏi công đức của sự phát tâm là như thế nào, Pháp Huệ Bồ Tát nói: “Nan thuyết, nan tri, nan tư nghị, nan độ lượng” (Khó nói, khó biết, khó nghĩ bàn, khó suy lường).

(4) Theo phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Văn Thù bảo Thiện Tài: “Nhược hữu chúng sanh, năng phát Bồ Đề tâm, thị sự thậm nan” (Nếu có chúng sanh có thể phát tâm Bồ Đề, chuyện ấy rất khó); ngài Đức Vân lại nói: “Nhữ dĩ năng phát Bồ Đề tâm, phục năng thỉnh vấn chư Bồ Tát hạnh, như thị chi sự, nan trung chi nan” (Ngươi đã có thể phát tâm Bồ Đề, lại có thể thưa hỏi các hạnh Bồ Tát, chuyện như vậy là chuyện khó nhất trong những chuyện khó). Trong kinh Vô Lượng Thọ, ba bậc vãng sanh đều lấy phát Bồ Đề tâm làm chánh nhân nên nói: “Dị vãng nhi vô nhân” (Dễ đi nhưng không có ai theo).

(5) Tố (溯) là đi ngược dòng. “Không Vương kiếp” là lời nói tột bậc về sự lâu xa, bởi lẽ, sự phát tâm của Đại Sĩ, nếu chẳng phải là Phật sẽ chẳng thể biết được!

Có một cõi tên là Đức Tụ, Phật hiệu là Kim Quang, có vị vua sáng suốt tên là Oai Đức, nghe pháp ấn của Như Lai, đang ở trong vườn hoa, nhập tam-muội, thấy trong hoa sen hóa sanh hai đứa bé trai, chứng “hết thảy pháp là không”, cắt đứt ba đời, danh không chân thật, nói năng là giả bày, ngẫu nhiên xưng danh là Bảo Ý, cùng nhau lễ Kim Sư Phật làm thầy, hỏi hương hoa cúng dường thì phước đức của ai là nhiều, biết sự trang nghiêm trong trần sát, Bồ Đề tối thắng, hiện sư tử hống trong chúng trời rồng, phát Tứ Hoằng Thệ, than thở Bổn Tế khó biết. Vì mỗi một chúng sanh, trải bao kiếp tu hành, đoạn trừ Ngũ Kết, đoạn trừ cái thân sanh trong nhà lửa, vượt trỗi Nhị Thừa. Chẳng trụ trong thảo am, nguyện trong vạn ức kiếp tế độ chúng sanh, nhiếp thủ hạnh thanh tịnh, trang nghiêm cõi Phật. Đấy chính là lúc Đại Sĩ sơ phát Bồ Đề tâm, dũng mãnh nhất trong các chúng sanh.


Trong Quán Âm Thế Chí Thọ Ký Kinh, đức Phật nói: - Trong chẳng thể nghĩ bàn A-tăng-kỳ kiếp xa xưa, có thế giới tên là Vô Lượng Đức Tụ An Lạc Thị Hiện, Phật hiệu là Kim Quang Sư Tử Du Hý. Có vua tên Oai Đức, nghe Phật nói vô lượng pháp ấn, ở trong vườn hoa, nhập tam-muội. Hai bên có hai đóa sen từ dưới đất trồi lên, có hai đồng tử hóa sanh trong ấy. Vua hỏi tên họ, bé trai bên phải nói kệ rằng:

Hết thảy các pháp không,

Cớ sao hỏi danh tự?

Pháp quá khứ đã diệt,

Pháp tương lai chưa sanh,

Pháp hiện tại chẳng trụ,

Nhân giả hỏi tên ai?

Bé trai bên trái nói kệ rằng:

Tên nào cũng trống rỗng,

Tên nào cũng chẳng được!

Muốn cầu tên chân thật,

Chưa bao giờ thấy nghe!

Nói danh tự, ngôn ngữ,

Đều là giả đặt bày.

Tôi tên là Bảo Ý,

Nó tên là Bảo Thượng.

Nói kệ xong, cùng vua đến chỗ Phật, đầu mặt lễ dưới chân Phật, đồng thanh hỏi Phật:

- Cúng dường đấng Vô Thượng Lưỡng Túc Tôn như thế nào? Hoa, hương, các thứ âm nhạc, y phục, thuốc men, ngọa cụ[64], cúng dường những thứ như thế thì làm sao sẽ là tối thắng?

Phật dùng kệ đáp lời:

Ví đầy hằng sa cõi,

Trân bảo, vật trang nghiêm,

Dâng hiến lên Như Lai,

Chẳng bằng đem lòng Từ,

Hồi hướng về Bồ Đề,

Phước ấy là tối thắng.

Bé trai lại nói kệ:

Chư thiên, long, quỷ thần,

Nghe ta sư tử hống,

Nay đối trước Như Lai,

Phát hoằng thệ Bồ Đề,

Sanh tử vô lượng kiếp,

Bổn Tế[65] khó thể biết,

Vì mỗi một chúng sanh,

Trải kiếp số hành đạo,

Ta từ nay trở đi,

Nếu khởi tâm tham dục,

Sân, si, keo, ganh... thảy

Là lừa dối Thế Tôn,

Chẳng khởi tâm Thanh Văn,

Cũng chẳng cầu Duyên Giác,

Sẽ trong vạn ức kiếp,

Đại bi độ chúng sanh,

Như cõi Phật ngày nay,

Thanh tịnh diệu trang nghiêm,

Khiến khi ta đắc đạo,

Vượt trỗi ức trăm ngàn.

Hai đứa bé trai ấy chính là Quán Âm và Thế Chí, đối trước đức Phật ấy phát tâm Bồ Đề lần đầu.

Lại nói:

- Vị Đại Sĩ này trước đó đã cúng dường Phật, gieo các thiện căn chẳng thể tính kể. Tuy chưa phát tâm, nhưng đã trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, dũng mãnh nhất trong các chúng sanh.

Ngài Thi Hộ đời Tống lại dịch như sau: “Hai đồng tử, một tên là Bảo Nghiêm, chính là Quán Tự Tại hiện thời. Một tên là Bảo Thượng, là Đại Thế Chí hiện thời”.

Tứ Hoằng Thệ chính là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.

Ngũ Kết tức là tham, sân, mạn, keo, ganh ghét. “Hỏa trạch” (nhà lửa) tỷ dụ nỗi khổ luân hồi trong tam giới. Theo Hoa Nghiêm Kinh: “Thất Địa Bồ Tát, đại bi lực cố, siêu quá Nhị Thừa địa” (Thất Địa Bồ Tát do sức đại bi nên vượt trỗi địa vị Nhị Thừa). Hàng Nhị Thừa được gọi là “ở trong thảo am”. Vô Lượng Thọ Kinh có nói tới hạnh tư duy nhiếp thủ trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh.

1. Nhưng chúng sanh vốn sẵn thành Phật, không gì chẳng phải là ước theo Lý để nói. Bồ Tát phát tâm độ người, há có phải trọn chẳng mệt nhọc mà đạt được ư?

2. Tuy sẵn đủ tánh đức, không có tu đức sẽ chẳng hiện bày trọn vẹn. Tự giác đã viên, nhưng phải giác tha thì hai thứ giác ấy mới viên mãn.

3. Chỉ là: Trở về nguồn thì chẳng hai, môn phương tiện là như thế nào? Thánh tánh đều thông, đâu là nẻo Niết Bàn ? (Từ đây trở xuống là phần ca tụng chương Quán Thế Âm Bồ Tát Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm, gồm có tám đoạn)


(1) Viên Giác Kinh: “Thủy tri chúng sanh bổn lai thành Phật” (Mới biết chúng sanh vốn đã thành Phật). Lời Sớ giảng rằng: “Bổn chính là bổn giác, tức là Lý Tức Phật của tông Thiên Thai”. Lăng Nghiêm Kinh: “Tự vị đắc độ, tiên độ nhân giả, Bồ Tát phát tâm” (Chưa độ được mình mà đã độ người khác trước, đấy chính là sự phát tâm của hàng Bồ Tát).

(2) Khởi Tín Luận: “Bản thể của pháp Chân Như tuy sáng sạch, đầy đủ công đức, nhưng bị vô biên khách trần làm nhơ. Giả sử có người, siêng năng ức niệm, nhưng chẳng làm các phương tiện, chẳng tu các hạnh, mà muốn được thanh tịnh thì trọn chẳng thể nào có lẽ ấy!” Lăng Nghiêm Kinh: “Tự giác dĩ viên, năng giác tha giả, Như Lai ứng thế” (Tự giác đã viên mãn, lại còn có thể giác ngộ người khác thì là bậc Như Lai xuất hiện trong cõi đời).

(3) Lăng Nghiêm Kinh: “Quy nguyên tánh vô nhị, phương tiện hữu đa môn. Thánh tánh vô bất thông, thuận nghịch giai phương tiện” (Trở về nguồn thì tánh chẳng hai, nhưng phương tiện có nhiều cửa. Thánh tánh không gì chẳng thông, nhưng thuận tánh hay nghịch tánh đều là phương tiện). Lại chép: “Thử thị vi trần Phật, nhất lộ Niết Bàn môn” (Đây là đường lối Niết Bàn duy nhất của vi trần chư Phật).

1. Do vậy, Đại Sĩ biết: Tâm sanh diệt chẳng xứng dùng làm tâm tu nhân, cho nên luyện tập trừ khử ý thức. Trí vô phân biệt mới hợp với bổn địa giác, cho nên viên chiếu môn Nhĩ Căn viên thông.

2. Ấy là vì: Mười phương gióng trống, phô rõ tánh Nghe viên dung. Ba lượt gõ chuông, chứng minh pháp vị thường trụ.

3. Dẫu trong mộng điên đảo, ngẫu nhiên lầm mê tiếng chày giã, quyết định biết giác quán vượt ngoài suy nghĩ, cố nhiên thân tâm chẳng thể sánh kịp được (Ca tụng Đại Sĩ thoạt đầu chọn Nhĩ Căn [để tu Viên Thông], chứng ba thứ chân thật là “viên, thông, thường”)


(1) Lăng Nghiêm Kinh: “Nhữ đẳng nhược dục tu Bồ Tát thừa, nhập Phật tri kiến, ưng đương thẩm quán Nhân Địa phát tâm, dữ Quả Địa giác, vi đồng, vi dị. Nhược ư nhân địa, dĩ sanh diệt tâm vi bổn tu nhân, nhi cầu Phật thừa bất sanh, bất diệt, vô hữu thị xứ!” (Các ông nếu muốn tu Bồ Tát thừa để nhập tri kiến Phật, hãy nên xét kỹ sự phát tâm trong lúc tu nhân là giống hay khác với sự giác ngộ khi chứng quả. Nếu trong lúc tu nhân mà dùng cái tâm sanh diệt làm gốc để tu nhân hòng cầu Phật thừa chẳng sanh chẳng diệt thì chẳng thể nào có lẽ ấy được!). Sách Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ giảng: “Ý nghĩa trọng yếu của kinh này là quyết định chẳng dùng cái tâm ý thức, bởi nó là oán gia của Đại Định, quyết định dùng tánh của Căn để tu, bởi tánh của Căn chính là chân tâm, nó chính là Định sẵn có trong tự tánh vậy”. Tâm sanh diệt là ý thức. Vô phân biệt trí là tánh của Căn. Kinh còn chép: “Ngã tùng nhĩ môn viên chiếu tam muội” (Ta từ môn Nhĩ Căn Viên Thông mà chiếu trọn vẹn tam-muội).

(2) Kinh chép: “Thí như nhân tịnh cư, thập phương câu kích cổ, thập xứ nhất thời văn, thử tắc Viên chân thật. Cách viên thính âm hưởng, hà nhĩ câu khả văn, ngũ căn sở bất tề, thị tắc Thông chân thật” (Ví như người đang ở nơi yên lặng, mười phương đều đánh trống, đều cùng một lúc nghe được tiếng trống cả mười nơi. Đấy là Viên chân thật. Cách vách vẫn nghe được tiếng vọng, xa hay gần đều nghe được. Năm căn kia so với [nhĩ căn] đều không bằng được! Như vậy, [Nhĩ Căn viên thông] mới là Thông chân thật).

Phật lại sai La Hầu La gõ chuông, hỏi: “Có nghe hay không?” Đại chúng thưa: “Dạ nghe!” Khi tiếng chuông dứt, Phật hỏi: “Có nghe hay chăng?” Đại chúng thưa: “Không nghe”. Gõ chuông lần thứ ba, hỏi: “Có tiếng chuông hay không?” Đại chúng thưa: “Có tiếng”. Đến khi tiếng chuông dứt, hỏi: “Bây giờ có tiếng chuông ngân hay không?” Đại chúng thưa: “Không có tiếng”. Phật bảo A Nan: “Tiếng chuông dứt, không còn vang, ông bèn nói là không nghe. Nếu quả thật là không nghe thì tánh Nghe đã diệt, giống như cây khô, dẫu có tiếng chuông gõ đi nữa thì ông làm sao nhận biết? Biết có, biết không, chính là Thanh Trần hoặc có, hoặc không, chứ đâu phải là tánh Nghe của ông là có hay là không!”

Kinh còn chép: “Thanh âm tánh động tĩnh, văn trung vi hữu vô, vô thanh hiệu vô văn, phi thật văn vô tánh, thanh vô, ký vô diệt, thanh hữu, diệc phi sanh. Sanh diệt nhị viên ly, thị tắc thường chân thật” (Do tánh của âm thanh là động hay tĩnh, mà nghe thành có hay là không. Không có tiếng thì gọi là không nghe, chứ không phải là cái Nghe không có tánh. Không có tiếng thì tánh Nghe ấy chẳng diệt, có tiếng thì tánh Nghe ấy chẳng sanh. Lìa trọn vẹn cả hai thứ sanh diệt thì chính là thường chân thật). Pháp Hoa Kinh: “Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ” (Pháp này trụ trong pháp vị, tướng thế gian thường trụ).

(3) Kinh chép: “Như trọng thụy nhân, miên thục sàng chẩm. Kỳ gia hữu nhân đảo luyện thung mễ, kỳ nhân mộng trung, văn thung đảo thanh, biệt tác tha vật. Hoặc vi kích cổ, hoặc vi tràng chung, tự quái kỳ chung vi mộc thạch hưởng” (Như người ngủ say, nằm ngủ mê mệt trên giường. Trong nhà ấy có người giã gạo, người ấy trong mộng nghe tiếng chày giã lại ngỡ là vật khác, hoặc ngỡ là đánh trống, hoặc là gõ chuông, tự lấy làm lạ ‘sao tiếng chuông nghe như tiếng gỗ giộng vào đá?’). Lại chép: “Túng linh tại mộng tưởng, bất vị bất tư vô, giác quán xuất tư duy, thân tâm bất năng cập” (Dẫu đang ở trong mộng, chẳng vì không suy nghĩ mà chẳng nghe, sự nhận biết ấy vượt ngoài suy nghĩ, thân tâm chẳng thể sánh bằng được).

Cho nên mới có Như Lai trùng tên với Bồ Tát, dạy Ngài dùng Văn Huân để nhập Thiền Định.

Kinh Lăng Nghiêm chép: “Ức niệm ngã tích vô số hằng hà sa kiếp, ư thời hữu Phật, xuất hiện ư thế, danh Quán Thế Âm. Ngã ư bỉ Phật phát Bồ Đề tâm, bỉ Phật giáo ngã tùng Văn Tư Tu, nhập tam-ma-địa” (Nhớ nghĩ: Ta trong vô số hằng sa kiếp xưa, lúc ấy có Phật xuất hiện trong cõi đời, hiệu là Quán Thế Âm. Ta phát Bồ Đề tâm ở nơi đức Phật ấy. Đức Phật ấy dạy ta từ Văn - Tư - Tu nhập tam-ma-địa). Thiền Định, tức là Tam-ma-địa (Samādhi), còn gọi là tam-muội. Cõi này dịch là Chánh Thọ, hoặc còn dịch là Chánh Định.

1. Xoay ngược cái Nghe điên đảo, thâm nhập tánh Nghe, quay về tự tánh, còn vọng nào sanh?

2. Nhất niệm hồi quang, chẳng do Minh mà lập Sở. Hai trần đều trừ, cũng là vọng tình chấp tịnh.


Kinh này (tức kinh Lăng Nghiêm) dạy: “Sơ ư văn trung, nhập lưu, vong Sở. Sở nhập ký tịch, động tĩnh nhị tướng liễu nhiên bất sanh” (Thoạt đầu từ nơi cái Nghe, thâm nhập quán sát khả năng nghe được âm thanh là do đâu mà có, quên mất đối tượng của cái Nghe. Khi đối tượng của cái Nghe đã vắng lặng thì hai tướng động tĩnh trọn chẳng còn sanh)[66].

(1) Kinh chép: “Toàn nhữ đảo văn cơ, phản văn văn tự tánh” (Hãy xoay ngược lại cái Nghe điên đảo của ngươi để nghe ngược lại nơi tự tánh). Lại nói: “Toàn lưu hoạch vô vọng” (Xoay ngược dòng (tức là quán sát ngược lại xem khả năng nghe được âm thanh là do đâu mà có) sẽ không còn vọng). Lại nói: “Nhữ đản ư nhất môn thâm nhập, nhập nhất vô vọng, bỉ lục tri căn, nhất thời thanh tịnh” (Ngươi chỉ thâm nhập một môn, hễ nhập được một môn, không còn vọng thì sáu căn hay biết kia sẽ đồng thời thanh tịnh).

(2) Trong bài Định Huệ Ca của ngài Vĩnh Minh có đoạn: “Nhất niệm hồi quang chánh trí khai”. Lăng Nghiêm Kinh: “Giác phi sở minh, nhân minh lập Sở” (Giác chẳng phải là cái được hiểu rõ, do sự hiểu rõ ấy mà thấy có đối tượng được hiểu rõ)[67]. Kinh còn nói: “Nguyên minh chiếu sanh Sở, Sở lập chiếu tánh vong” (Nguyên minh là bổn minh (tánh sáng suốt vốn sẵn có, tức chân tâm, chân tánh). Nếu từ diệu dụng chiếu soi mọi cảnh, mọi sự của tánh bổn minh, mà thấy có cảnh được chiếu bởi tánh bổn minh ấy, thì do đã thấy có đối tượng được chiếu soi bởi tánh bổn minh (Sở Chiếu, hay còn gọi là vọng cảnh) nên tác dụng chiếu chân thật của tánh bổn minh ấy không còn nữa nên nói là Sở đã được thành lập thì tánh của Chiếu không còn nữa)[68]. Nhị Trần chính là Động Trần và Tịnh Trần. Trong Bác Sơn Cảnh Ngữ có câu: “Tu tập công phu, sợ nhất là đắm chấp tịnh cảnh, khiến cho con người bị vây hãm trong khô tịch[69], đọa trong vô tri. Phải đừng chấp vào tịnh cảnh thì mới được”.

Nhưng hai thứ Căn và Trần đều là tỳ vết nơi gương. Tướng và cái Thấy cùng mất thì mới chứng nhập địa vị Nhân Không. Đấy chính là lúc Đại Sĩ chứng Ngã Không Chân Như, đoạn hết Kiến Tư Hoặc.

Lăng Nghiêm Kinh: “Ư thị tiệm tăng, văn sở văn tận” (Do vậy, dần dần tăng tấn, cái Nghe và cái được Nghe đều chẳng còn). Trong bài Chứng Đạo Ca của ngài Vĩnh Gia có câu: “Tâm là Căn, pháp là Trần, hai thứ ấy cùng là tỳ vết hiện nơi gương”, nhưng chữ Căn mà ngài Vĩnh Gia nói đó chính là Giác được nói tới trong đoạn văn kế tiếp, còn chữ Trần mà Ngài nói đó chính là Không trong đoạn văn kế tiếp, khác với kinh Lăng Nghiêm này: Căn chỉ Văn (cái Nghe), Trần chỉ Sở Văn (đối tượng của cái Nghe, cái được nghe), tôi chỉ mượn lời Ngài mà thôi! Căn là Kiến Phần, Trần là Tướng Phần[70]. Kinh dạy: “Căn kết nhược trừ, trần tướng tự diệt” (Nếu trừ được Kết (chấp trước, phân biệt) nơi Căn thì trần tướng[71] tự diệt), cho nên nói là “song vong” (cả hai cùng mất). Kinh còn chép: “Thử căn sơ giải, tiên đắc Nhân Không” (Khi vừa hiểu được căn này thì trước hết đắc Nhân Không). [Chánh Mạch] Sớ giảng: “Đây chính là lúc hết sạch Kiến Tư Hoặc, chứng Ngã Không Chân Như”.

1. Nhưng lông rùa, sừng thỏ, Sự chướng dễ trừ. Trăng trong nước, hoa trong gương, Lý ma khó dứt.

2. Chẳng đổ công giồi mài, khó khỏi công huân mắc đọa, chẳng phải là huyễn trở thành huyễn, Phật cũng là Trần, xa lại càng xa, Không càng thêm mất. Đấy là lúc Đại Sĩ thành tựu pháp giải thoát, bắt đầu dứt hết Trần Sa Hoặc.


Lăng Nghiêm Kinh: “Tận văn bất trụ, giác sở giác không, không giác cực viên, không sở không diệt”(Chẳng trụ nơi đã dứt hết cái Nghe và cái được Nghe, Giác và cái được giác đều không, Không và Giác cực viên thì Không và Sở Không cũng diệt).

(1) Trong bộ Thiền Tông Tập của ngài Vĩnh Gia có đoạn: “Một là Nhân Không Huệ, nghĩa là hiểu rõ Ấm phi Ngã, tức là trong Ấm không có Ngã, giống như lông rùa, sừng thỏ. Hai là Pháp Không Huệ, nghĩa là hiểu rõ các pháp như Ấm v.v... đều là giả duyên, chẳng thật, như hình ảnh trong gương, như bóng trăng in trong nước”. Lý Ma chính là Lý chướng, còn gọi là Sở Tri Chướng. Nhà Thiền gọi nó là “quang ảnh môn biên sự” (chuyện thuộc về ánh sáng rọi bên cổng), khó thoát lìa nhất. Vì thế, ngài Hoàng Bá nói: “Quên cảnh rất dễ, quên tâm khó nhất”.

(2) Trong bài Cảnh Sách của ngài Bác Sơn có đoạn: “Thực hiện công phu tuy đã đạt đến mức tương ứng với Pháp Thân, nhưng chưa đoạn mạng căn thì vẫn phải dốc toàn thân giồi mài, chẳng để nguy vong thì mới được”. Nhà Thiền lập ra năm địa vị công huân tùy theo mức công phu sâu hay cạn. Ngài Mật Vân Ngộ nói: “Nơi đất ruộng ẩn mật, kỵ nhất là công huân bị đọa”.

(3) Lăng Nghiêm Kinh: “Tự tâm thủ tự tâm, phi huyễn thành huyễn pháp” (Tự tâm chấp lấy tự tâm thì cái chẳng phải huyễn trở thành huyễn pháp)[72]. Kinh Viên Giác giảng: “Bỉ quán huyễn giả, phi đồng huyễn cố, phi đồng huyễn quán, giai thị huyễn cố” (Kẻ quán huyễn ấy chẳng giống như huyễn, chẳng giống với huyễn quán, vì đều là huyễn vậy).

Có một vị Tăng hỏi ngài Vân Môn: “Khi dứt được Trần thấy Phật thì như thế nào?” Ngài Vân Môn đáp: “Phật cũng là Trần”. Kinh Viên Giác lại dạy: “Nhược tâm chiếu kiến nhất thiết giác giả, giai vi trần cấu. Giác sở giác giả, bất ly trần cố”. (Nếu giác ngộ cái tâm soi thấu suốt hết thảy thì đều là trần cấu. Giác và Sở Giác đều chẳng lìa nơi trần). Kinh còn chép: “Viễn ly vi huyễn, diệc phục viễn ly, ly viễn ly huyễn, diệc phục viễn ly” (Viễn ly là huyễn, cũng phải xa lìa [sự viễn ly ấy], nhưng lìa viễn ly cũng lại là huyễn, cũng phải xa lìa nó).

Lăng Nghiêm Kinh: “Nhữ đẳng nhất nhân phát chân quy nguyên, thử thập phương không, giai tất tiêu vẫn” (Nếu một người trong các ông mà thật sự phát tâm trở về với nguồn cội thì tánh Không của mười phương này đều mất sạch hết). Ở đây mượn ý ấy để ví dụ cái Không bị diệt. Kinh Lăng Nghiêm chép: “Không tánh viên minh, thành pháp giải thoát” (Tánh Không tròn sáng, thành pháp giải thoát). [Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch] Sớ giảng: “Đắc pháp giải thoát, hết Trần Sa Hoặc”.

1. Vốn đã là không không, cần gì phải diệt diệt?

2. Đến lúc đầu sào tiến thêm bước nữa, chuyển cơ ở ngoài kiếp.

3. Công thành bèn lui, thái bình chẳng thấy tướng quân. Chết đi sống lại, đất nước táng vong, ông lão chốn quê làm sao yên được?

4. Đốt củi, khói hết, tro bay. Mài gương, hết nhơ, sáng hiện.

5. Vô minh đoạn ngay, tịch diệt hiện tiền. Đấy chính là lúc Đại Sĩ do tam-ma-địa đắc Vô Sanh Nhẫn.


Lăng Nghiêm Kinh: “Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền” (Sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền).

(1) Kinh dạy: “Giải thoát pháp dĩ, câu không bất sanh, tức nhân pháp nhị không chi cảnh diệc không dã” (Đã giải thoát nơi pháp rồi thì hai thứ Không vốn sẵn có[73] cũng chẳng sanh, tức là hai cảnh Nhân Không và Pháp Không cũng là không). Phạm Võng Kinh: “Nhất thiết không không không” (Cái không trong hết thảy không là không). Kinh Viên Giác dạy: “Huyễn trần diệt cố, huyễn diệt diệc diệt” (Do huyễn trần đã diệt, nên sự diệt hư huyễn cũng diệt).

(2) Ngài Trường Sa Sầm nói: “Người ngồi nơi đầu sào trăm thước, tuy thế vẫn chưa thật sự nhập; đầu sào trăm thước tiến thêm bước nữa, mười phương thế giới hiện toàn thân”. Ngài Thiên Đồng Ngộ nói: “Chuyển cơ ngoài kiếp, bắn tên trước gió”.

(3) Trong bài tụng của ngài Thiên Đồng có đoạn: “Thái bình vốn là do tướng quân đưa tới, chứ tướng quân đâu chờ thái bình”. Lại nói: “Chết đi sống lại, dối vua chẳng được. Gió lùa hang trống, mây phủ trên ao, chẳng lập mảy trần, nước nhà tan nát thì ông già quê mùa làm sao yên ổn?”

(4) Viên Giác Kinh: “Thí như toản hỏa, lưỡng mộc tương nhân, hỏa xuất, mộc tận, yên phi, hôi diệt” (Thí như dùi gỗ lấy lửa, lấy hai miếng gỗ làm nhân, lửa sanh, gỗ diệt, khói bay, tro hết). Còn nói: “Thí như ma kính, cấu tận, minh hiện” (Ví như mài gương, nhơ hết, sáng hiện).

(5) Lăng Nghiêm Kinh: “Thị danh Bồ Tát tùng tam-ma-địa, đắc Vô Sanh Nhẫn” (Đấy gọi là Bồ Tát do tam-ma-địa đắc Vô Sanh Nhẫn).

1. Xa-ma mật chiếu, chẳng giống với âm thầm, tăm tối. Thiền Định sáng thêm, tăng trưởng sáng suốt, tịch tịch.

2. Hai bánh xe cùng xoay, tu trọn ba thứ. Vì thế, mười phương viên minh, hai thứ thù thắng.

3. Do vậy, Ngũ Uẩn đều không, các căn dùng lẫn cho nhau.

4. Sát-na liền vượt khỏi Trụ, Hạnh, Hướng, Địa; giác tâm trọn đủ Thân, Giới, Căn, Trần.

5. Trên giống như chư Phật, hiện ba mươi hai ứng thân; dưới hợp cùng chúng sanh, thí mười bốn món Vô Úy.

6. Trong hội Pháp Hoa, long nữ chẳng nghe công năng phổ độ; nơi hội Hoa Nghiêm, Thiện Tài chưa đạt diệu đức vô tác.

7. Đây là vì đã chứng rốt ráo, nên danh hiệu cổ Phật lưu truyền. Khéo đắc viên thông, nên mới được thọ ký danh hiệu Quán Âm.


Lăng Nghiêm Kinh: “Hốt nhiên siêu việt thế xuất thế gian, thập phương viên minh, hoạch nhị thù thắng. Nhất giả, thượng hợp thập phương chư Phật bổn diệu giác tâm, dữ Phật Như Lai đồng nhất từ lực. Nhị giả, hạ hợp thập phương nhất thiết lục đạo chúng sanh, dữ chư chúng sanh đồng nhất bi ngưỡng” (Đột nhiên vượt thoát thế gian lẫn xuất thế gian, mười phương viên minh, đắc hai thứ thù thắng. Một là trên hợp với bổn giác diệu tâm của mười phương chư Phật, có cùng một từ lực với chư Phật Như Lai. Hai là dưới hợp với mười phương hết thảy chúng sanh trong lục đạo, cùng với các chúng sanh một lòng bi ngưỡng [quả vô thượng Bồ Đề]).

(1) Lăng Nghiêm Kinh: “Ư Xa-ma-tha, vi mật quán chiếu” (Đối với Xa-ma-tha, quán chiếu nhỏ nhiệm). Đạo gia nói: “Chí đạo chi cực, hôn hôn, mặc mặc” (Chỗ tột bậc của đạo cao tột thì tối tăm, lặng lẽ). Kinh Lăng Nghiêm gọi điều ấy là “pháp trần phân biệt ảnh sự” (chuyện thuộc về bóng dáng của Pháp Trần phân biệt)[74]. Trong bài tụng của ngài Vĩnh Gia có câu: “Tinh tinh tịch tịch thị, vô ký tịch tịch phi, tịch tịch tinh tinh thị, loạn tưởng tinh tinh phi” (Tạm dịch: Thấu hiểu lặng lẽ đúng, vô tri lặng lẽ sai, lặng lẽ hiểu rõ đúng, loạn tưởng hiểu rõ sai).[75]

(2) Trong bài Định Huệ Ca của ngài Vĩnh Minh có đoạn: “Như trâu trắng kéo xe hai bánh”. “Ba thứ” [trong câu “tu trọn ba thứ”] là Xa-ma-tha, Tam-ma, và Thiền-na, ba thứ ấy. Viên Giác Kinh: “Nhược Bồ Tát dĩ viên giác huệ, viên hợp nhất thiết, danh vi viên tu tam chủng tự tánh thanh tịnh tùy thuận” (Nếu Bồ Tát dùng viên giác huệ để phù hợp trọn vẹn với hết thảy, thì gọi là tu trọn ba thứ tùy thuận tự tánh thanh tịnh).

(3) Tâm Kinh: “Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không”. Lăng Nghiêm Kinh: “Thức ấm nhược tận, tắc nhữ hiện tiền chư căn hỗ dụng” (Nếu thức ấm đã hết thì các căn hiện tiền của ông sẽ có thể dùng lẫn cho nhau).

(4) Lăng Nghiêm Kinh: “Như thị nãi siêu Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh tâm, Bồ Tát sở hành Kim Cang Thập Địa, Đẳng Giác viên minh, nhập ư Như Lai diệu trang nghiêm hải” (Như thế bèn vượt qua các địa vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh tâm, Kim Cang Thập Địa do Bồ Tát hành, Đẳng Giác viên minh, vào trong biển diệu trang nghiêm của Như Lai).

Viên Giác Kinh: “Giác tánh biến mãn, thanh tịnh bất động. Viên vô tế cố, đương tri lục căn biến mãn pháp giới. Căn biến mãn cố, đương tri lục trần biến mãn pháp giới. Trần biến mãn cố, đương tri tứ đại biến mãn pháp giới” (Giác tánh tròn đầy trọn khắp, thanh tịnh bất động. Do viên mãn không ngằn mé, nên biết sáu căn trọn khắp pháp giới. Do căn tròn đầy trọn khắp, nên biết sáu trần trọn khắp pháp giới. Do các trần tròn đầy, trọn khắp, nên biết bốn đại trọn khắp pháp giới).

(5) Lăng Nghiêm Kinh: “Ngã đắc Phật tâm, chứng ư cứu cánh” (Ta đắc Phật tâm, chứng rốt ráo). Kinh còn chép: “Bỉ Phật Như Lai thán ngã thiện đắc viên thông pháp môn, ư đại hội trung, thọ ký ngã vi Quán Thế Âm hiệu” (Đức Phật Như Lai ấy khen tôi khéo đắc pháp môn viên thông, ở trong đại hội, thọ ký cho tôi hiệu là Quán Thế Âm).

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng, quyển 1, phần 1 hết


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Bảy, 31 Oct 2015, 7:48 PM
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 31 Oct 2015, 7:51 PM | Message # 6
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
[1] Đồng Thể Bi: Coi hết thảy chúng sanh giống hệt như chính mình, phát lòng thương xót khởi tâm cứu độ trừ khổ não cho chúng sanh giống như tự cứu độ chính mình. Nói rộng hơn, do nhận biết hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tánh của mỗi một chúng sanh không khác gì chính mình, không còn phân biệt ta và người. Do vậy, trừ khổ não cho chúng sanh chính là trừ khổ não của chính mình.

[2] Vô Duyên Từ: Vô Duyên Từ là mức cao nhất trong ba loại Từ (Chúng Sanh Duyên Từ, Pháp Duyên Từ và Vô Duyên Từ), tức là lòng từ bi bình đẳng, không có đối tượng đặc biệt nào để nương tựa vào, hoàn toàn không còn thấy có sự đối lập giữa mình và người. Đây là thứ từ bi chân thật tuyệt đối. Trong Trí Độ Luận, Long Thọ Bồ Tát đã giảng lòng Từ này như sau: “Chư Phật khéo tu hành Tất Cánh Không nên gọi là Vô Duyên”. Trong Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh Giảng Ký, pháp sư Hiển Minh giảng: “Hiểu rõ phiền não chính là Bồ Đề, sanh tử chính là Niết Bàn, pháp giới nhất tướng. Lại tiến thêm một tầng nữa, thiện ác xét đến cội nguồn đều là do cùng một tâm tạo. Chúng Sanh Duyên Từ là pháp tu chung của cả ba thừa, Pháp Duyên Từ là pháp tu của Bồ Tát, Nhị Thừa cũng tu được chút phần. Còn Vô Duyên Từ là Trung Đạo Phật pháp, Nhị Thừa không thể tu tập, chỉ riêng hàng Bồ Tát có thể tu tập lòng Từ này, nên nó là pháp môn bất cộng”.

[3] Tam Giác: Tự Giác, Giác Tha, Giác Hạnh viên mãn.

[4] Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni (trong tụng văn thường gọi tắt là kinh Đại Bi hay Đại Bi Chú Kinh), Quán Thế Âm Bồ Tát đã thành Phật từ lâu xa trong quá khứ, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai.

[5] Tịch Quang: Thường Tịch Quang Tịnh Độ.

[6] Mười giới: Tức là mười pháp giới, gồm Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, thiên, nhân, A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục.

[7] Hòa nam (vandanam): kính lễ

[8] Nguyên văn “phiếm châu” (có thể bơi thuyền được).

[9] Tát Bà Nhã Trí (Sarvajña): Hiểu theo nghĩa chung thì Nhất Thiết Trí đồng nhất với Nhất Thiết Chủng Trí, là trí huệ rốt ráo nơi Phật Quả, thông hiểu Thật Tướng của các pháp. Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, quyển Hạ, giảng: “Trọn đủ vô lậu giới, thường tịch giải thoát thân, tịch diệt chẳng nghĩ bàn, gọi là Nhất Thiết Trí”. Du Già Sư Địa Luận, quyển 38, giảng: “Đối với hết thảy các pháp giới, hết thảy sự, hết thảy phẩm, hết thảy thời, trí vô ngại chuyển”. Có nghĩa là: Hiểu rõ đúng theo chân đế hết thảy pháp giới, sự tướng, hữu vi, chúng sanh giới, vô vi, nhân quả sai biệt v.v... Đây là quan điểm của Hoa Nghiêm Kinh Đại Sớ. Nếu hiểu theo nghĩa riêng, Nhất Thiết Trí chỉ là trí huệ viên mãn của Thanh Văn, Duyên Giác, như Đại Trí Độ Luận, quyển 27, đã giảng: “Tổng tướng là Nhất Thiết Trí, biệt tướng là Nhất Thiết Chủng Trí, nhân là Nhất Thiết Trí, quả là Nhất Thiết Chủng Trí. Nói đại lược thì là Nhất Thiết Trí, nói rộng thì là Nhất Thiết Chủng Trí. Nhất Thiết Trí là phá hết thảy tối tăm vô minh nơi hết thảy pháp, còn Nhất Thiết Chủng Trí phá hết thảy vô minh trong các pháp môn”.

[10] Lưỡng Túc Tôn: Bậc trọn đủ hai thứ công đức cao quý nhất. Thông thường, Lưỡng Túc Tôn được hiểu là Phước và Huệ trọn đủ, lượng bằng pháp giới; nhưng Lưỡng Túc Tôn có ý nghĩa rộng hơn rất nhiều như trong Pháp Hoa Sớ, quyển 4, ngài Gia Tường giảng: “Lưỡng Túc Tôn: Hoặc lấy Giới Định làm Nhị Túc, hoặc lấy Quyền Thật làm Nhị Túc, hoặc lấy Phước Huệ làm Nhị Túc, hoặc lấy Giải Hạnh làm Nhị Túc, đấy đều là lấy Nội Đức làm Nhị Túc. Đối với ngoại hình thì lấy Thiên Nhân làm Nhị Túc, nghĩa là Phật tôn quý nhất trong cả người lẫn trời”.

[11] Đội mũ (nhược quan): Theo lệ xưa, ở Trung Hoa khi con trai đến hai mươi tuổi liền làm lễ Gia Quan (hay Nhược Quan), búi tóc, đội mũ, không để tóc xõa nữa, ngụ ý đã đến tuổi trưởng thành. Khi ấy, cha mẹ hay thầy dạy thường đặt cho thêm một tên nữa, gọi là Quan Danh (tên đặt khi bắt đầu đội mũ) với ngụ ý nhắc nhở người thanh niên ấy hãy thực hiện hoài bão hay ước vọng của người thân.

[12] Bổn: Sự chứng đắc thật sự trong Nhất Chân pháp giới. Tích: Sự thị hiện.

Có thể hiểu Bổn như mặt trăng, còn Tích là bóng trăng hiện trong nước. Chẳng hạn, bổn địa (Bổn) của Quán Thế Âm Bồ Tát là cổ Phật, đã thành Như Lai cực quả từ lâu, nhưng để độ sanh, Ngài hiện làm thân Bồ Tát và ba mươi hai ứng thân khác để phù tá Di Đà, Thích Ca và mười phương chư Phật hóa độ chúng sanh. Sự thị hiện ấy chính là Tích.

[13] Nguyên văn “tử hư ô hữu”. Tử Hư và Ô Hữu là hai nhân vật hư cấu trong bài Tử Hư Phú của Tư Mã Tương Như. Trong bài phú ấy, Tử Hư nước Sở đi sứ nước Tề đã cùng Ô Hữu tiên sinh đối đáp. Cả hai tên này cùng mang ý nghĩa phúng thích, Tử Hư (không thật), Ô Hữu (chẳng có). Do vậy, thành ngữ “tử hư ô hữu” chỉ những gì hoang đường, giả dụ, không thật sự có.

[14] Thanh luận: Những lời luận nghị bàn bạc trong Phật giáo. Do cõi này dùng âm thanh để làm Thể, nhĩ căn của chúng sanh nhạy bén nhất, nên giáo pháp của Phật thường gọi là “thanh giáo”.

[15] Huyền ký: Những lời dự đoán về sự việc trong tương lai lâu xa, chẳng hạn, đức Phật huyền ký sau khi Phật nhập diệt, sẽ có Bồ Tát Long Thọ ra đời trung hưng Phật pháp Đại Thừa.

[16] Vì ngài A Nan chỉ chú trọng học rộng nghe nhiều, nhưng không tu chứng, nên ngài Văn Thù dạy đương cơ (đối tượng giáo hóa chánh yếu) trong pháp hội Lăng Nghiêm là ngài A Nan phải biết “xoay trở lại nghe nơi tự tánh” để chứng nhập Chân Như, không bị Thanh Trần xoay chuyển.

[17] Trụ Tích, hay còn gọi là Trác Tích, Quải Tích, đều có nghĩa là một vị pháp sư trụ tại một nơi nào đó tu tập. Tích ở đây là tích trượng.

[18] Nguyên văn “mãi độc hoàn châu” là một thành ngữ chê trách kẻ ngu dại, chỉ biết chuộng hình thức bề ngoài, không biết quý thực chất.

[19] Ông Hoàng Khánh Lan (hiệu là Hàm Chi), pháp danh Trí Hải là người xứ Thượng Hải, làm Đạo Doãn xứ Ninh Thiệu (tức hai phủ Ninh Ba và Thiệu Hưng), dinh Đạo Doãn đặt tại Cối Kê (Giang Tô). Một Đạo gồm nhiều phủ. Theo quy chế nhà Thanh, toàn quốc chia thành nhiều tỉnh, mỗi tỉnh gồm nhiều phủ, mỗi phủ gồm nhiều châu hay huyện. Đạo là cấp quản lý coi từ hai phủ trở lên. Viên quan cai trị một Đạo gọi là Đạo Doãn hay Đạo Đài.

[20] Sơn kinh thủy chí là những cuốn sách trình bày đặc điểm lịch sử của một vùng núi non, sông ngòi nào đó.

[21] Tri Sự vào cuối đời Thanh, nhỏ hơn chức Tri Huyện. Nhưng tại Đài Loan dưới thời lệ thuộc Nhật Bản thì Tri Sự lại lớn hơn Tri Huyện. Tri Sự ở Trung Hoa lục địa là người đứng đầu một trấn hay một hạt.

[22] Hòa thượng Khai Như trước kia làm Trụ Trì chùa Pháp Vũ, sau xin thôi làm Trụ Trì nên gọi là “thoái cư” (tạm dịch là “thoái ẩn”).

[23] Từ bổn địa, thị hiện các thân hay sự tướng để hóa độ gọi là “thùy tích” (lưu dấu). Chẳng hạn như Bồ Tát Quán Âm đã thùy tích tại Phổ Đà.

[24] Tổ Ấn Quang quê ở huyện Cáp Dương, tỉnh Thiểm Tây. Do Cáp Dương có cánh đồng Tân (Sân) Dã (莘野,thường đọc trại thành Sằn Dã) là nơi ông Y Doãn cày ruộng trước khi ra giúp vua Thành Thang dựng nghiệp, nên Cáp Dương thường được gọi là Cổ Tân.

[25] Thạch ấn (lithography) là một phương pháp dùng bản in bằng đá hay kim loại, dùng chất dầu để làm dung môi cho mực in. Bản in được chia thành hai phần: Phần hút nước (hydrophilic) thường không thấm mực in và phần kỵ nước (hydrophobic) có phủ một lớp chất nhờn sẽ hút mực in. Phương pháp này do Alois Senfelder sáng chế vào năm 1796 và được sử dụng chủ yếu để in những tác phẩm nghệ thuật. Khi in một bức vẽ hay sách theo lối này, người ta chế bản in sao cho những nét vẽ sẽ là phần kỵ nước và phần để trắng sẽ là phần hút nước. Nhúng bản vẽ vào hỗn hợp nước và mực in, phần kỵ nước sẽ dính mực in, tạo ra nét chữ và hình vẽ khi áp lên giấy. Hiện thời, người ta không còn dùng đá để chế bản mẫu nữa. Hình vẽ được tạo bằng chất polymer phủ lên những tấm nhôm đã được điện cực hóa để chúng không dính mực in, còn phần polymer sẽ hút mực.

[26] Thể là bản chất, còn Dụng là tác dụng, hoặc Thể là bản tánh, là thật quả, còn Dụng là tác dụng hóa độ, tùy cơ hiện tướng ứng hóa.

[27] Chước (勺) là đơn vị đo lường dung tích rất nhỏ, gần bằng 1 ml.

[28] Vua hạ chiếu, cử quan trông coi xây dựng, hoặc ban tiền bạc để trùng tu, thì gọi là “sắc kiến”.

[29] Châu Lương: Châu Lương sáng lập nhà Lương vào thời Ngũ Đại nên sử gọi là Châu Lương hoặc Hậu Lương để phân biệt với nhà Tiền Lương của Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn) thuộc thời Nam Bắc Triều.

[30] Huệ Ngạc: Không rõ quê quán, năm sanh và năm mất. Sư là người Nhật, vâng lệnh Quất Thái Hậu sang Trung Hoa cầu pháp trong thời đầu niên hiệu Thừa Hòa (834-847). Sư theo ngả Nhạn Môn lên núi Ngũ Đài triều bái thánh tích, rồi sang chùa Linh Trì ở Hàng Châu tham yết quốc sư Tế An, cung thỉnh thiền sư Nghĩa Không sang Nhật hoằng dương pháp Thiền. Tục truyền, năm Tế Xung nguyên niên (854), ngài Huệ Ngạc lại sang Trung Hoa, lên Ngũ Đài Sơn, chiêm lễ, thấy thánh tượng Quán Âm quá xinh đẹp, không cầm lòng được, bèn lén lấy đem về Nhật (Có lẽ đây là ngoa truyền. Đa số các sách như Phật Tổ Thống Kỷ, Phổ Đà Sơn Chí v.v... đều ghi là ngài Huệ Ngạc lễ Phật, xin được tượng Quán Âm đem về Nhật. Xét ra, Ngài đến Trung Hoa nhiều lần, lẽ nào không thỉnh được tượng vừa ý mà phải ăn trộm!). Thuyền đi đến núi Bổ Đà (ngoài khơi Ninh Ba), thuyền không đi được nữa, bèn thỉnh thánh tượng lên bờ thì thuyền lại đi được. Do vậy, bèn ở lại đảo, dựng chùa, đặt tên nơi ấy là Quán Âm Bất Khẳng Khứ (Quán Âm không chịu đi), gọi đảo là Bổ Đà Lạc Già Sơn (thánh địa đạo tràng ứng tích của ngài Quán Thế Âm). Do Bổ Đà Lạc Già còn phiên âm là Phổ Đà, nên hầu như không ai gọi nơi ấy là Bổ Đà Lạc Già nữa. Núi Phổ Đà, vốn có tên là Mai Sầm Sơn (vì theo truyền thuyết, tiên nhân Mai Phước ẩn cư tu tiên ở núi này), đến đời Tống, đảo được đổi tên thành Bảo Đà, nhưng dân cư vẫn quen gọi là Phổ Đà.

[31] Ý nói tài chữa bệnh rất giỏi. Khi xưa, những người giỏi về một tài nghệ nào thường được gọi là “quốc thủ”, chẳng hạn người đánh cờ vây giỏi cũng được xưng là “vi kỳ quốc thủ”.

[32] Đồng nhân: Những người cùng chí hướng, cùng căn tánh.

[33] Dựa theo ý câu thơ cổ: “Nhật lạc tang du” (Mặt trời lặn bên nương dâu) diễn tả cảnh chiều tà. Sau này thơ văn thường dùng chữ “nương dâu” để chỉ tuổi già.

[34] Vũ nhân (người khoác áo lông vũ, hay người có lông vũ) vốn là thuật ngữ chỉ thần tiên, về sau thường được dùng để chỉ Đạo Sĩ vì họ tự xưng là người tu tiên. Theo sách Bão Phác Tử, trên thân thần tiên có lông mịn như nhung màu đen, hai bên mình có cánh gắn lông vũ, có lúc hiện hình người, đi trên đỉnh núi, hay bay lượn trên không. Vì thế, gọi thần tiên là “vũ nhân”.

[35] Nguyên văn là “tấn thân” (縉紳), cắm cái hốt vào đai, mô tả cách phục sức của quan lại. Do đó, chữ “tấn thân” được hiểu theo nghĩa rộng là giới quan lại cũng như con cháu nhà quan.

[36] Trà-tỳ (Jhāpeti): Đôi khi còn phiên âm là Đồ Tỳ, Xà Tỳ, Xa Tỵ, Tà Duy, có nghĩa là hỏa thiêu, tức là dùng lửa thiêu hủy thi hài, rồi thâu nhặt di cốt.

[37] Thù y: Thù (殊) là một đơn vị đo lường thời cổ, bằng 1/24 lạng. Thù y là thứ áo cực nhẹ, trong kinh Phật thường dùng chữ “thù y” để chỉ áo của chư thiên vì nó rất nhẹ.

[38] Tả Bộc Xạ là một chức quan văn. Thời Hán, chức quan này là tùy viên của Thượng Thư Lệnh (chuyên coi sóc về xét duyệt tấu chương, chiếu biểu, có thể hiểu giống như chức Chánh Thư Ký Văn Phòng Nội Các bây giờ). Từ thời Tùy - Đường trở đi, Bộc Xạ tương đương chức Tể Tướng, và chia làm Tả Bộc Xạ và Hữu Bộc Xạ (Hữu Bộc Xạ thấp hơn Tả Bộc Xạ).

[39] Bồ Đề Tát Đỏa (Boddhisattva) là danh xưng đầy đủ địa vị Bồ Tát.

[40] Liệt Ứng: Thân ứng hiện kém hèn, tức là những thân ứng hiện chỉ tốt đẹp hơn người thế gian đôi chút. Chẳng hạn như Phật Thích Ca hiện thân trượng sáu, ba mươi hai tướng đẹp, tám mươi tùy hình, chứ Thắng Ứng Thân của Ngài có vô lượng tướng, thường được nói đại lược là ‘sát hải vi trần tướng’, trong mỗi tướng lại có vô lượng vi trần sát tùy hình hảo.

[41] Theo Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quán Thế Âm Bồ Tát đắc pháp nơi đức Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai.

[42] Theo kinh Bi Hoa, khi vua cha Vô Tránh Niệm (tiền thân của A Di Đà Phật) nghe theo lời khuyên của đại thần Bảo Hải (tiền thân của Thích Ca Mâu Ni Phật) đã đến quy y, nghe pháp với Bảo Tạng Phật, phát tâm Bồ Đề và các đại nguyện, trưởng tử là vương tử Bất Thuấn (tiền thân của Quán Thế Âm), vương tử Ni Ma (tiền thân của Đại Thế Chí Bồ Tát) và 888 vương tử đã cùng phát Bồ Đề tâm.

[43] Đây là một thí dụ trong kinh Pháp Hoa: Con ông trưởng giả tự bỏ cha lưu lạc quê người, làm thuê làm mướn, ăn xin nuôi thân, chẳng biết mình là con ruột một vị trưởng giả giàu có nhất nước.

[44] Nguyên văn “nhị thụ ma triền” (ma bệnh tật trói buộc). “Nhị thụ” (二豎) là một từ ngữ chỉ bệnh tật phát xuất từ một câu chuyện thời Xuân Thu: Theo Tả Truyện, Tấn Cảnh Công bị bệnh, sai người sang nước Tần mời danh y Y Hoãn qua trị bệnh. Khi danh y chưa tới, Cảnh Công mộng thấy hai “thụ tử” (tiếng cổ chỉ hai đứa bé) nói chuyện: “Thầy thuốc giỏi sẽ được mời đến, chúng ta phải làm sao?” Đứa kia nói: “Hãy trốn vào phần trên Hoang, phía dưới Cao thì ông ta không thể nào làm gì chúng ta được”. Y Hoãn đến thăm bệnh, nói: “Bệnh không chữa được, đã nhập Cao Hoang”. Cao Hoang là từ ngữ chỉ chung phần nằm dưới tim, phía trên hoành cách mô. Do truyện này mà có hai từ ngữ: “Nhị thụ” chỉ bệnh tật rề rề và “bệnh nhập Cao Hoang” (bệnh đã nguy ngập, không còn chữa được nữa).

[45] Nguyên văn “tự quý bố đầu” (tự thẹn đã sợ hãi cái đầu của mình). Ông Hứa tự ví mình như anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa trong kinh Lăng Nghiêm, soi gương thấy đầu mình bèn sợ hãi hóa cuồng. Do vậy, “bố đầu” hàm nghĩa mê cuồng, loạn mất tâm tánh.

[46] Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, người trì chú Đại Bi, nước của người ấy tắm văng dính vào thân chúng sanh nào, chúng sanh ấy cũng được giải thoát.

[47] Bạch Hoa là dịch nghĩa của chữ Phổ Đà (Bổ Đát Lạc Ca).

[48] Từ Mẫn chính là ngài Huệ Nhật sống vào thời Đường, sau khi thọ Cụ Túc Giới đã tham yết ngài Nghĩa Tịnh, nghe ngài Nghĩa Tịnh kể lại chuyến đi sang Ấn Độ cầu pháp, liền phát tâm hâm mộ, nguyện noi theo chí thầy. Trong niên hiệu Võ Tắc Thiên, Sư vượt biển, ba năm sau mới đến được Ấn Độ, tham bái các thánh địa di tích của Thích Ca Mâu Ni Phật, vừa thu thập các bản kinh Phật bằng tiếng Phạn. Trong quá trình cầu pháp, Sư gặp nhiều nỗi nhọc nhằn nên tâm nhàm chán Sa Bà càng mạnh, tâm hâm mộ Cực Lạc càng cao. Nghe nói trên quả núi to ở phía Đông Bắc thành Kiện Đà La (Gandhara), Quán Thế Âm Bồ Tát thường hiện thân, nên Sư lên đỉnh núi ấy, lễ bái suốt bảy ngày, nhịn ăn, thệ nguyện đến chết mới thôi. Đến tối ngày thứ bảy, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân tử kim trên không trung, ngồi trên sen bảy báu, duỗi tay phải xoa đầu ngài Huệ Nhật, khuyên hãy hoằng dương pháp môn Tịnh Độ. Pháp sư Huệ Nhật ở lại Ấn Độ học pháp suốt mười ba năm, trở về Trung Hoa nhằm thời Đường Huyền Tông, được vua ban hiệu Từ Mẫn Tam Tạng. Sư hoằng dương Tịnh Độ, chủ trương “Giới Tịnh song tu, Giáo Thiền nhất trí, đem hết thảy công đức hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ”. Tư tưởng này được ngài Vĩnh Minh Diên Thọ kế thừa và bổ sung hoàn chỉnh.

[49] Theo Quán Âm Linh Cảm Tập, Trương Sứ ở đây chính là Trương Bồng Sơn, giữ chức Tập Hiền Học Sĩ thời Nguyên Thành Tông. Ông Trương đến Phổ Đà tham bái, trông thấy thấy Đại Sĩ hiện bóng lờ mờ trên vách Triều Âm Động. Đến động Thiện Tài, chợt Thiện Tài đồng tử hiện thân trong đám mây lành, lại thấy Đại Sĩ đeo mão hoa, anh lạc, tay cầm cành dương liễu, các vị thần hộ pháp chắp tay cung kính đứng hầu chung quanh. Ông Trương vui sướng, kêu những người cùng đi kiền thành lễ bái, mây lành ngập tràn động một hồi lâu sau mới tan.

[50] Theo lời chú của chính cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh trong phần Hiện Tướng Ở Phổ Đà của sách này: Vào năm Mậu Thìn (1158) trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống Cao Tông, Sử Hạo và Trình Hưu Phủ đến động Triều Âm [triều bái] không thấy gì. Một vị Tăng dạy: “Trên đỉnh vách núi có hang báu có thể thấy được”. Họ nghe theo lời, chợt [Đại Sĩ] hóa hiện tướng tốt lành, sắc vàng chói ngời, mày mắt rành rành.

[51] Trí Giác là danh hiệu do Trung Ý Vương (Tiền Thục) phong tặng cho ngài Vĩnh Minh Diên Thọ. Trong thời gian tu học tại Thiên Thai Sơn, trong khi Thiền Quán, đại sư thấy Quán Thế Âm Bồ Tát dùng cam lộ rưới vào miệng, từ đó, Ngài đắc biện tài vô ngại.

[52] Theo Quán Âm Từ Lâm Tập, tại núi Thỉ Ninh có một vị tăng tên là Trúc Pháp Nghĩa nhằm niên hiệu Hưng Ninh đời Tấn. Sư thông thạo các kinh điển, đặc biệt là kinh Pháp Hoa. Đến năm Hàm An thứ hai (372), Sư chợt mắc bệnh hô hấp, tim cứ đau nhói mỗi khi hít thở, đau đớn khôn cùng. Sư bền lòng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm, chợt mộng thấy một người mổ bụng mình moi ruột ra rửa ráy, khi tỉnh giấc bệnh đã lành hẳn.

[53] Theo Cư Sĩ Truyện, cư sĩ Châu Đình Chương, hiệu là Sở Phong, người tỉnh Vân Nam, sống vào khoảng niên hiệu Chánh Đức - Gia Tĩnh đời Minh, tánh tình thuần phác, gia cảnh nghèo hèn. Ai mắng nhiếc, chửi bới gì cũng cười mà thôi. Một lòng tin tưởng Phật pháp, mỗi sáng đều tụng kinh Kim Cang, Di Đà, Quán Âm mỗi thứ một biến. Một hôm vào tiết Thanh Minh, từ biệt cha và vợ nói: “Tôi sắp đi đây, Di Đà đến đón tôi, Quán Âm cũng đã đến”, rồi lại nói: “Ngài Quán Âm bảo tôi phải thôi ăn mặn trong năm ngày thì mới về Tây được”, bèn mỗi ngày ăn một bữa cháo, một bữa rau. Đến thời hạn, liền tắm gội, đội mũ, bảo con em tụng danh hiệu của bảy đức Như Lai, tụng kinh xong bèn ngồi ngay ngắn qua đời, đến hôm sau thân vẫn còn tỏa mùi thơm, vẻ mặt như lúc sống. Theo như pháp sư Đức Sâm đã viết trong bài ký về sự sanh Tây của cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh (Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên, quyển 2) thì khi ông Hứa Chỉ Tịnh dâng bài sớ này lên tổ Ấn Quang, Tổ Ấn Quang đọc tới câu này, hiểu ngay là ông Hứa Chỉ hãy còn ăn mặn, liền nghiêm mặt, quở trách: “Thật là tệ! Bậc đại thông gia như vậy mà vẫn chưa lấy thân làm gương ăn chay thì làm sao cảm hóa được người khác?” Cư sĩ không giận mà còn tâm phục, khẩu phục, hôm sau dâng thư xin biên tập tiếp bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục.

[54] Phàm lệ : Những quy định, cách trình bày được áp dụng cho một tác phẩm.

[55] Khoáng Viên gọi đủ là Khoáng Viên Tạp Chí do Ngô Trần Diễm soạn vào thời Đồng Trị nhà Thanh. Quái Viên là tác phẩm của Tiền Hy Ngôn soạn vào đời Minh. Hữu Đài Tiên Quán Bút Ký là tác phẩm của Du Việt được soạn dưới thời Đạo Quang nhà Thanh.

[56] Sát trần: Số lượng vi trần trong một sát-độ (ksetra: Một cõi Phật).

[57] Kiền chùy (Ghanta): Chỉ chung những pháp khí dùng trong nhà Phật làm hiệu lệnh như chuông, trống, khánh, mõ v.v... Ý nghĩa nguyên thủy của chữ này chỉ có nghĩa là chuông.

[58] Nữ chân là nói gọn của Nữ Chân Nhân, chỉ tiên nữ, thánh nữ hay thánh mẫu trong Đạo Giáo.

[59] Xương bồ (Sweet Flag, có tên khoa học là Acorus Calamus) là một loài cỏ mọc trong nước, lá hẹp và dài, có mùi thơm, thường nở hoa màu vàng vào giữa Hạ. Do có mùi thơm dễ chịu, nó thường được dùng làm hương liệu và chữa nhiều bệnh tật. Đạo giáo gán cho Xương Bồ rất nhiều công năng nên trong tết Đoan Ngọ người ta vẫn hái Xương Bồ và lá Ngải đem ngâm rượu uống nhằm trừ độc khí. Xương Bồ có chứa chất gây nghiện và tạo ảo giác nếu dùng với liều cao; có lẽ vì thế Đạo Giáo mới gán cho nó nhiều tác dụng thần kỳ.

[60] Theo truyền thuyết của Đạo Giáo, An Kỳ Sinh tên thật là An Kỳ, người xứ Lang Nha, sống vào thời Tần - Hán tại Đông Hải. Họ cho rằng Đạo giáo được sáng lập bởi Lão Tử và Hoàng Đế, truyền cho Hà Thượng Trượng Nhân, An Kỳ Sinh là học trò của Hà Thượng. An Kỳ Sinh dạy cho Mao Hấp, Mao Hấp dạy cho Nhạc Hà v.v... Người ta tin An Kỳ Sinh tu tiên ở nhiều nơi. Thậm chí núi Yên Tử ở Đông Triều, Việt Nam, cũng được coi là nơi An Kỳ Sinh từng tu tiên.

[61] Thông thường, Kim Khuyết có nghĩa là cung điện nơi vua ở, nhưng theo Đạo Giáo, Kim Khuyết là một trong hai cung điện của Ngọc Hoàng Thượng Đế trên tầng trời Đại La.

[62] Đây là sự đồn đại sai lầm trong dân gian Trung Hoa. Do họ thấy Bồ Tát thường có hình tượng người nữ, nên cứ nghĩ Bồ Tát là nữ nhân. Khi Bồ Tát hiện thân Diện Nhiên thì dù có biến hiện tướng hung dữ, vẫn không giấu được thân phận nữ nhân nên tai phải mới đeo vòng, chân phải còn mặc quần của phụ nữ.

[63] Nhân Trung Tôn: Đấng tôn quý nhất trong loài người, một mỹ hiệu của Phật.

[64] Ngọa cụ: Nói chung, ngọa cụ (tọa cụ) là những thứ để trải ra nằm; còn nói riêng thì là tấm Ni-sư-đàn (Nisīdana, tọa cụ) của chư Tăng, là một tấm trải để ngồi hay nằm với mục đích tránh các loại côn trùng bò lên cắn chích thân thể và giữ cho ba y khỏi bị lấm dơ. Giống như ba y, tọa cụ chỉ dùng hoại sắc, tức những màu úa. Tọa cụ thường may như một tấm chăn to, dùng vải cũ viền quanh mép, may thành hai ba lớp, hay được chế từ y cũ. Theo luật định, kích thước của tọa cụ dài chừng 4 thước tám tấc, rộng ba thước sáu tấc (thước Tàu). Tuy thế, khi đạo Phật truyền xuống Nam Ấn, chư Tăng thường dùng tọa cụ vắt vai, như khi đi khất thực hoặc bố-tát (tụng giới), chư Tăng sĩ Tích Lan, Thái Lan hiện nay vẫn khoác chéo tọa cụ lên vai, rồi dùng đai lưng buộc lại.

[65] Bổn Tế có thể hiểu theo nhiều nghĩa:

1. Lý Thể tuyệt đối bình đẳng, tức là tên gọi khác của Niết Bàn. Hiểu theo nghĩa này thì Bổn Tế còn gọi là Chân Tế, Chân Thật Tế, Chân Như hay Thật Tế. Viên Giác Kinh giảng: “Bình đẳng bổn tế, viên mãn mười phương”.

2. Đồng nghĩa với Tiền Tế, tức trạng thái sẵn có trong quá khứ. Nghĩa này không thể áp dụng cho ngữ cảnh trong đoạn văn này được.

3. Bổn Tế: Căn nguyên, căn bản của chân lý, vạn vật. Trung Quán Luận Sớ, quyển sáu: “Bổn Tế là chỗ khởi nguồn của Nhân và Pháp”.

[66] Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ trong bài Sơ Ư Văn Trung Lưu Nhập Vong Sở. Chữ “nhập lưu” được pháp sư Viên Anh giảng như sau: “Nhập lưu là tương phản với “xuất lưu”. Xuất lưu là tánh nghe thay vì quán chiếu thanh trần hư huyễn, lại rong ruổi theo thanh trần, đánh mất bản thể thanh tịnh của tánh nghe. Nay ‘nhập lưu’ là dùng Quán Trí để nhập, lấy tai làm Sở Nhập, xoay chuyển căn tai để quán chiếu chân tánh”.

[67] Câu này khá phức tạp, khó thể dịch cho xuông nên chúng tôi xin dẫn lời giảng của pháp sư Viên Anh trong bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa như sau: “Giác chính là hai thứ giác (Bổn Giác và Thỉ Giác) sẵn có trong tánh, là chỗ nương tựa của Chân. Chân Giác chẳng phải là cảnh được nhận biết, hiểu rõ, bởi nó sẵn có diệu minh, chẳng thể coi là Năng hay Sở được. Nếu cứ muốn thêm sự hiểu rõ vào Giác thì diệu minh sẽ dần dần biến thành vô minh của năng minh, biến chân giác thành vọng giác là đối tượng nhận biết của minh. Chữ Minh trong ‘nhân minh’ là vô minh, chữ Sở trong ‘lập sở’ là nghiệp tướng’, chẳng thể hiểu là cảnh giới được”. Do lời giải thích này quá cô đọng, chúng tôi xin phép được diễn giải lần nữa theo ngu kiến như sau: “Giác trong câu ‘giác phi sở minh’ là diệu giác, tức sự giác ngộ nơi chân tánh của ta, còn ‘sở minh’ là đối tượng được nhận biết, được hiểu rõ bởi cái tâm. Hễ nói đến Sở thì phải có Năng, tức là có chủ thể nhận biết (Năng) và đối tượng được nhận biết (Sở), đấy chính là trở thành đối đãi, không còn phải là sự giác ngộ tuyệt đối ‘tuy tịch mà chiếu, chiếu nhưng thường tịch’ nữa, nên Giác chẳng phải là Sở Minh (tức là cái Giác ấy không có phân biệt, đối đãi, không thấy có đối tượng được nhận biết bởi tánh Giác, cho nên không có Sở Minh). Do Giác ở đây là Diệu Giác, tức là Chân Tánh, Chân Tánh có khả năng nhận biết rõ ràng sự vật đúng như thật nhưng không chấp trước vào cảnh (nên cưỡng gọi là Diệu Minh). Nếu ta chấp có cảnh để nhận biết, tức là chấp ngoài tâm có cảnh, ngoài cảnh có tâm, có phân biệt, đối đãi, tức là có “sở minh”, hay nói cách khác, có đối tượng được nhận biết bởi Diệu Minh, thì Diệu Minh không còn là Diệu Minh nữa, mà đã trở thành Vô Minh, vì rớt trong phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Vì thế, Phật nhấn mạnh “Giác chẳng phải là Sở Minh” tức là diệu giác không hề rớt trong đối đãi, phân biệt. Câu thứ hai: “Nhân minh lập Sở” thì Minh này chính là vô minh, không còn là diệu minh nữa, do có thấy đối tượng được nhận biết. Do vô minh nên khởi lên đủ thứ phân biệt, chấp trước, do vậy mới có đối tượng chủ quan (Năng) và khách quan (Sở).

[68] Chúng tôi dịch và diễn giải câu này theo sách Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh.

[69] Khô tịch: Tịch là nói về bản thể của chân tâm: Trong lặng, bất biến, giống như gương sáng rỗng ranh, chẳng dính mắc vật gì. Do chấp vào sự tịch tĩnh ấy, không thể hiện khả năng bất biến tùy duyên nên gọi là Khô Tịch.

[70] Kiến Phần: Khả năng thấy, chỉ chung cho sự nhận biết của tâm. Tướng Phần: Đối tượng được nhận biết của Căn.

[71] Trần tướng : Tướng trạng của Lục Trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Bản thể của những thứ này là Không, nhưng qua lăng kính ý thức nơi vọng tâm, chúng trở thành phiền não dụ hoặc, che lấp chân tâm nên gọi là Trần (bụi bặm). Đến khi những phiền não nơi các Căn (kinh gọi là Căn Kết) bị trừ, tức là dùng chân tâm để nhận biết bản thể của sáu trần, không còn dùng Thức nữa, thì chúng nó không còn làm duyên để phiền não nẩy sanh, nên mới nói là “trần tướng tự diệt”. Lúc đó, Lục Trần sẽ được gọi là Lục Cảnh.

[72] Trong bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, pháp sư Viên Anh giảng: “Chữ Tự Tâm trong câu này chỉ vọng tâm trong cái thân Ngũ Uẩn, tức là cái tâm mang ý thức phân biệt. Nếu như do cái năng kiến của vọng tâm mà chấp trước vào cảnh sở kiến, cho nó chẳng phải là huyễn thì cái chẳng phải là huyễn ấy cũng trở thành huyễn”.

[73] Do Nhân Không và Pháp Không vốn là điều sẵn có trong chân tâm, nên gọi là Câu Không (cái Không vốn sẵn có), nhưng do vô minh chấp trước nên mới có Ngã Chấp và Pháp Chấp. Khi Ngã Chấp và Pháp Chấp đã diệt thì hai thứ Không này tự nhiên hiện tiền nên bảo là ‘chẳng sanh’.

[74] Do Đạo Gia không hiểu được chân tướng của sự vật, coi Đạo là một cái gì u huyền, xa vời, không thể hình dung nhận biết được nên mới diễn tả Đạo là ‘hôn hôn, mặc mặc’. Sự diễn giải, cảm nhận ấy vẫn là do ý tưởng suy lường, gần như cảnh giới Phi Tưởng Phi Vô Tưởng, tức là vẫn thuộc về Pháp Trần (đối tượng nhận biết của ý thức) nên kinh Lăng Nghiêm gọi cảnh giới đó là “pháp trần phân biệt ảnh sự”.

[75] Pháp sư Huệ Không giảng : Trong đoạn này, ngài Vĩnh Gia nói về cách tu Chỉ Quán. “Tịch tịnh” là trạng thái tâm không còn hết thảy vọng tưởng, do vọng tưởng đã bị sức quán chiếu phá trừ sạch. Tuy thế, ta vẫn còn có tri giác, có thần thức, có giác tánh, nhận biết sự vật đúng như bản chất của chúng, khả năng đó gọi là “tinh tinh”. Như vậy, nhận biết sự vật rõ ràng không phân biệt, không chấp trước, trong tâm không lưu lại bóng dáng trần cảnh thì đó là đúng, tu tập không sai nên mới nói “tinh tinh tịch tịch thị” (hay nói cách khác là “chiếu mà tịch”). Nếu không thể nhận biết sự vật, chỉ đắm chấp nơi tịch tịch thì đã tu tập sai (ta thường gọi là “trầm không trệ tịch”) thì là sai, nên mới nói “vô ký tịch tịch phi”. Tâm vắng lặng, không vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, nhưng vẫn có công năng thấu hiểu sự vật rõ ràng (nói cách khác là “tịch nhưng chiếu”) thì là đúng nên mới nói “tịch tịch tinh tinh thị”. Nếu hiểu biết phát sanh từ cái tâm loạn tưởng thì là sai, nên mới nói “loạn tưởng tinh tinh phi”.


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Bảy, 31 Oct 2015, 7:51 PM
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 31 Oct 2015, 8:34 PM | Message # 7
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Phần 2

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang


Từ đây trở đi, tuy biết các pháp lìa danh tự, nhưng nói các pháp như huyễn, như nắng gợn[1], chúng sanh vô tướng, nhưng độ chúng sanh như mộng, như bóng (Từ đây trở đi là phần ca tụng sự phát tâm thọ ký của Quán Âm Đại Sĩ được nói trong kinh Bi Hoa, gồm hai đoạn).

Phẩm Hiền Thủ kinh Hoa Nghiêm chép: “Linh tri chúng sanh tánh không tịch, nhất thiết chư pháp vô sở hữu, diễn thuyết chư pháp không, vô chủ, như huyễn, như diệm, thủy trung nguyệt, nãi chí do như mộng, ảnh, tượng. Thị cố, đắc thành thử quang minh” (Khiến cho biết tánh của chúng sanh là rỗng lặng, hết thảy các pháp không có sở hữu, diễn nói các pháp không, vô chủ, như huyễn, như bóng nắng dợn, như trăng in hình trong nước, cho đến giống như mộng, bóng, hình. Vì thế, được thành quang minh này). Kinh Duy Ma chép: “Pháp vô danh tự, ngôn ngữ đoạn cố” (Pháp không có danh tự vì ngôn ngữ dứt bặt). Phẩm Phát Tâm Công Đức kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Tuy quán chư pháp nhi bất thủ, hằng cứu chúng sanh vô sở độ. Tri không, vô tướng, vô chân thật, nhi hành kỳ tâm bất giải thoái” (Tuy quán các pháp nhưng chẳng giữ lấy, luôn cứu chúng sanh nhưng không thấy có kẻ được độ. Biết là không, vô tướng, không chân thật, nhưng hành cái tâm ấy chẳng lười nhác, lui sụt).

Bởi vậy, trong kiếp Thiện Trì, Phật hiệu là Bảo Tạng. Trong thuở ấy, Di Đà có hiệu là Ly Tịnh, Bồ Tát làm Thái Tử, mang cái tên hư giả là Bất Thuấn. Đại thần Phạm Chí phổ độ trọn khắp các hàng trời rồng. Các tiểu vương tử phát nguyện cầu thoát khỏi tay ma. Khi ấy, do Đồng Sự, Ái Ngữ, Đại Sĩ thị hiện thuộc địa vị phàm phu, cầu giàu có, cầu sanh lên cõi trời, chẳng biết đến Duyên Giác. Sống chết rình ngó cái thân, nghiễm nhiên như sói, hổ, đền thân nợ mạng, truyền mãi cái vỏ là người, là dê.

Khi ấy, ngài Hải Tế đại bi lại khuyên họ hãy phát tâm. Đức Di Đà được thọ ký thành Chánh Giác trước tiên. Đại Sĩ cúng dường [Bảo Tạng Phật] trong chín mươi ngày, hồi hướng Bồ Đề. Tư duy suốt bảy năm để chọn lấy cõi tịnh. Cảm khái lục đạo xoay vần, tam đồ dễ đọa, thoái thất chánh pháp, hết sạch thiện căn, thâu giữ hạnh tà, phần nhiều vì bạn ác [xúi giục], Ngài bèn nguyện khi hành Bồ Tát đạo, sẽ xa lìa những sự sợ hãi. Không nơi nương tựa, không nơi an trụ, chúng sanh phiền não lắm đường; dù thấy, hay nghe, nguyện của ta rộng sâu như biển. Sanh tâm đại bi cứu khổ, bèn hiệu là Quán Âm. Kế thừa Vô Lượng Thọ thành Phật, lại có hiệu là Thức Đức. Đấy là Đại Sĩ suất lãnh một trăm ức người cùng phát đại tâm. Vì thế, trong các cõi mười phương, lại được chư Phật thọ ký.


Theo kinh Bi Hoa, xưa kia, trong số A-tăng-kỳ kiếp nhiều như cát sông Hằng, có một kiếp tên là Thiện Trì. Chuyển Luân Thánh Vương tên là Vô Tránh Niệm, vua có một ngàn người con. Thái Tử thứ nhất tên là Bất Thuấn, suốt trong ba tháng cúng dường Bảo Tạng Như Lai, ai nấy đều phát tâm, nguyện làm Đao Lợi thiên vương, hoặc Phạm Vương, Ma Vương, Chuyển Luân Vương, hoặc nguyện giàu to, hoặc cầu làm Thanh Văn, không một ai cầu thành Duyên Giác, huống hồ cầu Đại Thừa! Khi ấy, đại thần là Bảo Hải phạm-chí[2], khuyên khắp nam nữ trong thế giới và trời, rồng, quỷ thần v.v... hãy phát Bồ Đề tâm. Ông mộng thấy mặt vua và các vương tử hoặc là như mặt lợn, hoặc như mặt sư tử, cáo, sói, báo v.v... ăn các loại trùng. Lại có vô lượng chúng sanh đến ăn thịt chúng, nhiều lượt thọ thân cũng giống như vậy. Do vậy, khuyên họ hãy cùng phát Bồ Đề tâm.

Thái Tử tư duy tu tập đủ mọi thứ trang nghiêm hợp thành thế giới Phật của chính mình. Trong bảy năm, tâm không ham muốn, cho đến không có ý tưởng nghĩ nhớ hương, vị, xúc. Vì thế, bèn nói: “Ta xem thấy địa ngục nhiều sự khổ não, trong cõi trời người, lắm phen đọa tam ác đạo. Các chúng sanh này do thân cận ác tri thức nên thoái thất chánh pháp, dứt hết các thiện căn, thâu giữ đủ mọi tà kiến che lấp cái tâm, hành theo tà đạo. Nguyện khi ta hành Bồ Tát đạo, chúng sanh nào hứng chịu các thứ khổ não, sợ hãi, không ai cứu vớt, che chở, không nơi nương tựa, không chốn nương náu, nhưng nếu kẻ ấy có thể nghĩ tới ta, xưng danh hiệu ta thì ta do thiên nhĩ nghe tiếng, do thiên nhãn trông thấy những chúng sanh ấy mà nếu chẳng cứu họ thoát khỏi những khổ não ấy, ta trọn chẳng thành A Nậu Bồ Đề” (Vô Thượng Chánh Giác).

Bảo Tạng Phật thọ ký rằng:

- Ông quán sát trời, người, và hết thảy chúng sanh trong tam ác đạo, sanh tâm đại bi, muốn dứt các sự khổ não của chúng sanh, muốn chúng sanh an trụ trong an lạc, nên nay ta sẽ đặt tên cho ông là Quán Thế Âm. Khi Vô Lượng Thọ Phật nhập Niết Bàn thì cõi ấy sẽ đổi tên là thế giới Nhất Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu, thế giới An Lạc chẳng sánh bằng được tất cả các thứ trang nghiêm vô lượng vô biên [trong cõi Nhất Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu]! Trong khoảng một niệm, ông thành Đẳng Chánh Giác, hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai,

Đức Phật nói kệ rằng: - Bậc đại bi công đức, nay hãy dấy khởi lên, chư Phật trong mười phương, đã thọ ký cho ông, ông sẽ được thành Phật, cho nên hãy hoan hỷ”.

Kinh Phân Đà Lợi lại dịch chữ Vô Tránh Niệm thành Ly Tịnh, dịch Bảo Hải thành Hải Tế. [Theo kinh Bi Hoa, ngài Quán Âm thành Phật có hiệu là] Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn, [kinh Phân Đà Lợi] dịch là Quang Minh Phổ Chí Tôn Thức Đức Vương.

Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự được gọi là Tứ Nhiếp Pháp. Lăng Nghiêm Kinh: “Dĩ nhân thực dương, dương tử vi nhân, nhân tử vi dương. Như thị nãi chí thập sanh chi loại, tử tử, sanh sanh, hỗ tương lai đạm” (Do người ăn dê, dê chết thành người, người chết thành dê. Như thế cho đến mười loại chúng sanh, chết chết, sống sống, ăn nuốt lẫn nhau). Kinh còn dạy: “Nhữ phụ ngã mạng, ngã hoàn nhữ trái, dĩ thị nhân duyên, kinh bách thiên kiếp, thường tại sanh tử” (Ngươi nợ mạng ta, ta đòi nợ ngươi, do nhân duyên ấy, trải trăm ngàn kiếp, thường ở trong sanh tử). Kinh Pháp Hoa chép: “Hoằng thệ thâm như hải, lịch kiếp bất tư nghị” (Thệ rộng sâu như biển, trải kiếp chẳng nghĩ bàn). Bi Hoa Kinh: “Nhĩ thời hữu cửu thập nhị ức chúng sanh, diệc các phát nguyện, thủ chủng chủng trang nghiêm thắng diệu Phật độ” (Khi ấy, có chín mươi hai ức chúng sanh cũng đều phát nguyện, giữ lấy các thứ cõi Phật trang nghiêm thù thắng nhiệm mầu).

Đến khi đức Phật Năng Nhân ta, giáng thần cõi Kham Nhẫn, là minh quân Oai Đức, nay thành đấng Chánh Giác, Ngài chính là Phạm Chí đại bi. Đã sớm có nhân duyên, nên Đại Sĩ hóa làm Bồ Tát, người theo học đông như cát sông Hằng, giúp Phật độ chúng sanh, hiện thân càng trọn khắp (Từ đây trở đi là phần ca tụng chương hai mươi bảy trong phần Thiện Tài tham học của kinh Hoa Nghiêm, gồm năm đoạn).

Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni) dịch nghĩa là Năng Nhân Tịch Mặc. Chữ Kham Nhẫn xin coi trong phần trước. Thọ Ký Kinh: “Phật ngôn: - Oai Đức Vương, ngã thân thị dã” (Phật nói: - Oai Đức Vương là thân ta đấy). Bi Hoa Kinh: “Phật ngôn: - Nhĩ thời, đại bi Phạm Chí tắc ngã thân thị” (Đức Phật nói: - Vị Phạm Chí đại bi khi ấy chính là thân ta). Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có chép: “Bát giả, thường tùy Phật học” (Điều thứ tám là thường học theo Phật).

1. Trước hết, diễn nói Hoa Nghiêm, đồng quy pháp giới.

2. Thiện Tài hỏi đạo, đã đến thành Thiện Độ. Hàm Nhiếp thôi thăng[3], riêng chỉ bày biển Phạm Âm.

3. Bèn có núi hiệu Bạch Hoa, đất do các báu hợp thành.

4. Suối chảy, ao chuôm, nước công đức thường đầy ắp. Hoa quả, rừng cây, hương giáo hóa tỏa trọn (Ca tụng sự khen ngợi phẩm đức, đề cao [Quán Âm Đại Sĩ] của [cư sĩ] Bệ Sắt Chi La [trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm]. Do Bồ Tát đại bi nên tôi đặc biệt thêm vào một đoạn tán tụng).


(1) Đức Như Lai lúc mới thành đạo, hiện Báo Thân viên mãn Lô Xá Na, trong hai mươi mốt ngày, diễn nói kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm lấy pháp giới chẳng thể nghĩ bàn làm tông[4], gồm mười hội thuyết pháp. Cuối cùng là phẩm Nhập Pháp Giới. Đó gọi là “không gì chẳng từ pháp giới này lưu xuất, không gì chẳng trở về pháp giới này”.

(2) Thiện Tài đi về phương Nam, vị thiện tri thức thứ hai mươi sáu là cư sĩ Bệ Sắt Chi La ở thành Thiện Độ (Subapārangama). Bệ Sắt Chi La (Vesthila) dịch nghĩa là Hàm Nhiếp.

(3 & 4) Theo kinh Hoa Nghiêm, cư sĩ dạy Thiện Tài như sau: “Ư thử Nam phương hữu sơn, danh Bổ Đát Lạc Ca, bỉ hữu Bồ Tát, danh Quán Tự Tại. Tức tụng viết: - Hải thượng hữu sơn đa thánh hiền, chúng bảo sở thành cực thanh tịnh, hoa quả thụ mộc giai biến mãn, tuyền lưu trì chiểu tất cụ túc. Dũng mãnh trượng phu Quán Tự Tại, vị lợi chúng sanh trụ thử sơn. Nhữ ưng vãng vấn chư công đức, bỉ đương thị nhữ đại phương tiện” (Ở phương Nam nơi đây có quả núi tên là Bổ Đát Lạc Ca, nơi ấy có Bồ Tát tên là Quán Tự Tại. Liền nói kệ tụng như sau: - Trên biển có núi, đông thánh hiền, các báu hợp thành cực thanh tịnh. Hoa quả, cây cối đều trọn khắp, suối chảy, ao chuôm thảy đầy đủ. Dũng mãnh trượng phu Quán Tự Tại, vì lợi chúng sanh trụ núi này. Ngươi nên tới hỏi các công đức, Ngài sẽ dạy ngươi phương tiện lớn). Sách Tây Phương Hiệp Luận viết: “Bổ Đát Lạc Ca, Hán dịch là Tiểu Bạch Hoa Thụ (cây có hoa trắng nhỏ). Hoa ấy rất thơm, biểu thị hạnh hoa của Đại Sĩ là từ bi khiêm hạ, nở xòe hạnh hương giáo hóa, khiến cho kẻ nghe danh phát tâm Bồ Đề”.

1. Thấy hang đá trong rừng, trên tảng đá Kim Cang.

2. Có trượng phu dũng mãnh, tức bậc thánh từ bi.

3. Đuốc trí vô tận, làm quang minh trong đêm tối. Hết thảy mây pháp, che chở, tăng trưởng mầm phước (Ca tụng Thiện Tài vừa thấy Đại Sĩ, trong tâm bèn tán thán)


(1) Hoa Nghiêm Kinh: “Thiện Tài chí ư bỉ sơn, cầu mịch thử Đại Bồ Tát, kiến Tây diện nham cốc chi trung, thụ lâm ông úc, hương thảo nhu nhuyễn, hữu toàn bố địa. Quán Tự Tại Bồ Tát, ư Kim Cang thạch thượng, kết già phu tọa” (Thiện Tài đến núi ấy tìm kiếm vị Đại Bồ Tát ấy, thấy trong vùng hang đá ở phía Tây, rừng cây xanh tươi, cỏ thơm mềm mại phủ khắp đất, mọc xoay về bên phải, Quán Tự Tại Bồ Tát ngồi xếp bằng trên tảng đá Kim Cang).

(2) Xem chữ “dũng mãnh trượng phu” trong phần trước.

(3) [Cũng theo kinh Hoa Nghiêm], Thiện Tài trông thấy, hoan hỷ, hớn hở, nghĩ như thế này: Thiện tri thức là mây pháp của hết thảy. Thiện tri thức là đuốc trí vô tận. Thiện tri thức là rễ mầm phước đức.

Đại Sĩ thuộc địa vị Tùy Thuận Chúng Sanh Hồi Hướng, nói hạnh môn Đại Bi Giải Thoát, hiện đang hành Tứ Nhiếp, chẳng giống ba mươi lăm thân. Phát nguyện ở trong cõi Đồng Cư, nhằm dứt trừ vĩnh viễn mười tám thứ sợ hãi, khiến cho những ai xưng danh, nhìn mặt Ngài đều quay về môn phương tiện, sám quả, tu nhân, rốt cuộc vào nẻo Bồ Đề (Ca tụng Đại Sĩ giảng cho Thiện Tài pháp môn Đại Bi Giải Thoát)

Đại Sĩ là vị thiện tri thức thứ hai mươi bảy trong chuyến đi về phương Nam của Thiện Tài. Ngài thuộc vào địa vị Tùy Thuận Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng[5].

Kinh chép: “Ngã dĩ thử Bồ Tát Đại Bi hạnh môn, bình đẳng giáo hóa nhất thiết chúng sanh, tương tục bất đoạn. Thiện nam tử! Ngã trụ thử Đại Bi hạnh môn, thường tại nhất thiết chư Như Lai sở, phổ hiện nhất thiết chúng sanh chi tiền. Hoặc dĩ bố thí, nhiếp thủ chúng sanh; hoặc dĩ ái ngữ, hoặc dĩ lợi hành, hoặc dĩ đồng sự nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện sắc thân nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện chủng chủng bất tư nghị sắc, tịnh quang minh võng nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc dĩ âm thanh, hoặc dĩ oai nghi, hoặc vị thuyết pháp, hoặc hiện thần biến, linh kỳ tâm ngộ nhi đắc thành thục. Hoặc vị hóa hiện đồng loại chi hình, dữ kỳ cộng cư, nhi thành thục chi.

Thiện nam tử! Ngã tu hành thử Đại Bi hạnh môn, nguyện thường cứu hộ nhất thiết chúng sanh. Nguyện nhất thiết chúng sanh ly hiểm đạo bố, ly nhiệt não bố, ly mê hoặc bố, ly hệ phược bố, ly sát hại bố, ly bần cùng bố, ly bất hoạt bố, ly ác danh bố, ly ư tử bố, ly đại chúng bố, ly ác thú bố , ly hắc ám bố, ly thiên di bố, ly ái biệt bố, ly oán hội bố, ly bức bách thân bố, ly bức bách tâm bố, ly ưu bi bố. Phục nguyện chư chúng sanh, nhược niệm ư ngã, nhược xưng ngã danh, nhược kiến ngã thân, giai đắc miễn ly nhất thiết bố úy.

Thiện nam tử! Ngã dĩ thử phương tiện linh chư chúng sanh, ly bố úy dĩ, phục giáo linh phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, vĩnh bất thoái chuyển”

(Ta dùng hạnh môn Đại Bi này của bậc Bồ Tát để bình đẳng giáo hóa hết thảy chúng sanh liên tục chẳng dứt.

Này thiện nam tử! Ta trụ trong hạnh môn Đại Bi này, thường ở nơi hết thảy Như Lai, hiện trước khắp hết thảy chúng sanh, hoặc dùng bố thí để nhiếp thủ chúng sanh, hoặc dùng ái ngữ, hoặc dùng lợi hành, hoặc dùng đồng sự để nhiếp thủ chúng sanh, hoặc hiện sắc thân để nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện lưới quang minh trong sạch có các thứ sắc chẳng thể nghĩ bàn để nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc dùng âm thanh, hoặc dùng oai nghi, hoặc vì họ thuyết pháp, hoặc hiện thần thông biến hóa, khiến cho tâm họ ngộ, được thành thục. Hoặc vì họ hiện thân hình giống như họ, cùng ở chung với họ để thành thục họ.

Này thiện nam tử! Ta tu hành hạnh môn Đại Bi này, nguyện thường cứu vớt, che chở hết thảy chúng sanh. Nguyện hết thảy chúng sanh lìa nỗi sợ nơi đường hiểm, lìa nỗi sợ nhiệt não, lìa nỗi sợ mê hoặc, lìa nỗi sợ trói buộc, lìa nỗi sợ sát hại, lìa nỗi sợ nghèo túng, lìa nỗi sợ chẳng sống sót, lìa nỗi sợ tiếng ác, lìa nỗi sợ chết chóc, lìa nỗi sợ đại chúng, lìa nỗi sợ [bị đọa] đường ác, lìa nỗi sợ tối tăm, lìa nỗi sợ dời chuyển, lìa nỗi sợ yêu thương mà phải chia lìa, lìa nỗi sợ oán ghét phải gặp gỡ, lìa nỗi sợ thân bị bức bách, lìa nỗi sợ tâm bị bức bách, lìa nỗi sợ lo buồn. Lại nguyện các chúng sanh hoặc nghĩ tới ta, hoặc xưng danh ta, hoặc thấy thân ta, đều được tránh lìa hết thảy sợ hãi.

Này thiện nam tử! Ta dùng phương tiện này khiến cho các chúng sanh lìa sợ hãi xong, lại dạy họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vĩnh viễn không lui sụt)

Ngài Thanh Lương giảng: “Từ chữ bố thí trở đi nói về ý nghĩa ‘phổ hiện’ (hiện trọn khắp). So với ba mươi lăm ứng thân được nói trong kinh Pháp Hoa thì mới thoạt nhìn [những sự ứng hóa nói trong đoạn kinh văn này] dường như ít ỏi, nhưng về ý nghĩa lại nhiều. Ba mươi lăm ứng thân ấy chỉ là các thứ sắc thân thị hiện và sự thuyết pháp [đã được nói] trong đoạn này”.

1. Thật đúng là: Chúng sanh ví như cội rễ, chư Phật chính là hoa quả.

2. Phụng sự mười hai loại chúng sanh giống như cha mẹ, tam thế chư Phật mới đắc Bồ Đề.

3. Ấy là vì: Tự và Tha chẳng ngăn cách mảy lông, chúng sanh và Phật vốn không sai biệt.

4. Vì thế, trưởng tử Phổ Hiền khởi đủ vạn hạnh, con thứ Văn Thù viên thành Chủng Trí. Chẳng lên cửa Đại Sĩ, khó nhập biển Tỳ Lô!
(Ca tụng địa vị Tùy Thuận Chúng Sanh Hồi Hướng của Đại Sĩ)

(1) Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện chép: “Thí như khoáng dã, hữu đại thụ vương, nhược căn đắc thủy, chi, diệp, hoa, quả tất giai phồn mậu. Sanh tử khoáng dã Bồ Đề thụ vương, diệc phục như thị. Nhất thiết chúng sanh nhi vi thụ căn, chư Phật, Bồ Tát nhi vi hoa quả. Dĩ đại bi thủy, nhiêu ích chúng sanh, tắc năng thành tựu chư Phật, Bồ Tát trí huệ hoa quả” (Ví như nơi đồng hoang có một cây chúa[6], nếu rễ của nó được nước thấm nhuần thì cành, lá, hoa, quả thảy đều xum xuê. Cây chúa Bồ Đề trong đồng hoang sanh tử cũng giống như vậy. Hết thảy chúng sanh là rễ cây, chư Phật, Bồ Tát là hoa quả. Dùng nước Đại Bi làm lợi ích chúng sanh thì sẽ có thể thành tựu hoa quả trí huệ Phật, Bồ Tát).

(2) Kinh còn chép: “Sở vị, noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, vô túc, nhị túc, tứ túc, đa túc, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, như thị đẳng loại, ngã giai ư bỉ tùy thuận nhi chuyển. Chủng chủng thừa sự, chủng chủng cúng dường, như kính phụ mẫu, như phụng sư trưởng, cập A La Hán, nãi chí Như Lai, đẳng vô hữu dị” (Đó là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, đối với những loài như vậy, ta đều tùy thuận chuyển hóa họ. Các thứ hầu hạ, các thứ cúng dường, như kính cha mẹ, như thờ sư trưởng, và A La Hán cho đến Như Lai, giống hệt không khác).

Kinh còn chép: “Nhược chư Bồ Tát dĩ đại bi thủy, nhiêu ích chúng sanh, tắc năng thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thị cố Bồ Đề thuộc ư chúng sanh” (Nếu các Bồ Tát dùng nước Đại Bi tạo lợi ích cho chúng sanh thì sẽ có thể thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì vậy, Bồ Đề thuộc về chúng sanh).

(3) Phẩm Dạ Ma Kệ Tán của kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Như tâm, Phật diệc nhĩ. Như Phật, chúng sanh nhiên. Tâm, Phật, dữ chúng sanh. Thị tam vô sai biệt” (Như tâm, Phật cũng thế. Như Phật, chúng sanh đồng. Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba không sai biệt).

(4) Sách [Hoa Nghiêm] Hợp Luận viết: “Trưởng tử [của chư Như Lai] là Phổ Hiền nêu quả đức nơi Tạng thân, con thứ là Văn Thù, khơi mở cho kẻ tối tăm về thế giới Kim Sắc”. Sách còn viết: “Phổ Hiền biểu thị Hạnh, Văn Thù biểu thị Trí, Quán Âm biểu thị Bi. Ba pháp thuộc vào một người, đầy đủ, trọn khắp, nên gọi là Tỳ Lô Giá Na. Không có Thập Hồi Hướng, sẽ không có Bồ Tát thành Phật đạo”.

1. Nhưng Viên Giáo, Đốn Giáo, chỉ độ bậc đại căn, còn với hạng điếc câm thì vẫn hành đạo nhỏ.

2. Ấy là vì: Nhìn thấy bóng trong gương, vô cớ phát cuồng. Chẳng biết: Trong chéo áo giấu châu, vốn chưa từng mất
(Từ đây trở đi ca tụng Tâm Kinh, gồm hai đoạn).

(1) Ngài Hiền Thủ phán định giáo pháp:

- Một là Tiểu Thừa Giáo.

- Hai là Đại Thừa Thỉ Giáo.

- Ba là Đại Thừa Chung Giáo.

- Bốn là Đốn Giáo.

- Năm là Viên Giáo.

Kinh Hoa Nghiêm thuộc Đốn Viên. Hoa Nghiêm lấy hàng phàm phu đại căn làm đương cơ. Phẩm Nhập Pháp Giới có đoạn: “Ư thị thượng thủ chư đại Thanh Văn, Xá Lợi Phất đẳng tại Thệ Đa lâm, giai tất bất kiến Như Lai thần lực dĩ chí bất khả tư nghị Bồ Tát cảnh giới. Hà dĩ cố? Chư đệ tử y Thanh Văn thừa nhi cầu xuất ly cố” (Khi ấy, các bậc thượng thủ trong hàng đại Thanh Văn như Xá Lợi Phất v.v... ở trong rừng Thệ Đa[7] đều chẳng thấy được thần lực của Như Lai cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát. Vì sao vậy? Vì các đệ tử nương theo Thanh Văn thừa để cầu xuất ly). [Hoa Nghiêm Kinh] Sớ Sao giảng: “Hoa Nghiêm hiển thị trực tiếp Nhất Thật sâu huyền, mà họ lại dùng Quyền Trí để nhận biết nên như câm điếc”.

(2) Lăng Nghiêm Kinh: “Thất La thành trung, Diễn Nhã Đạt Đa, hốt ư thần triêu, dĩ kính chiếu diện, ái kính trung đầu, my mục khả kiến, sân trách kỷ đầu, bất kiến diện mục, dĩ vi si mị, vô trạng cuồng tẩu” (Trong thành Thất La (Śrāvastī, tức thành Xá Vệ), chàng Diễn Nhã Đạt Đa (Yajñadatta) buổi sáng chợt soi gương, yêu mến cái đầu [hiện bóng] trong gương vì nó có lông mày và mắt có thể nhìn thấy được, giận trách cái đầu của chính mình sao chẳng thấy được vẻ mặt, cho nó là yêu quái, vô duyên cớ điên cuồng chạy quàng).

Kinh còn chép: “Thí như hữu nhân, ư tự y trung, hệ Như Ý châu, bất tự giác tri, cùng lộ tha phương, khất thực trì tẩu. Tuy thật bần cùng, châu bất tằng thất” (Ví như có kẻ ở trong áo mình buộc châu Như Ý mà không hay biết, túng quẫn nơi quê người, lê la ăn xin. Tuy thật bần cùng, nhưng châu chưa từng mất).

1. Đại Sĩ động lòng thương xót sâu xa, chỉ bày Bát Nhã.

2. Voi chúa xoay mình đoái trông, kêu tên Thu Tử.

3. Sắc chính là Không, Không chính là Sắc, chẳng cần phải chia chẻ đến lân hư trần. Bất sanh, bất diệt, chớ nhìn lầm nước sông Hằng.

4. Phá được Ngũ Ấm, tướng mười tám giới[8] đều tiêu. Tứ Đế chẳng làm, mười hai duyên liền dứt.

5. Đến lúc ấy, thân chứa mười phương, miệng nuốt ba đời.

6. Chẳng thấy Phật nơi Niết Bàn, tâm còn do đâu vướng mắc?

7. Như xướng Kim Cang tự mẫu đã qua khỏi môn chữ Trà; đấy là Bát Nhã tổng trì, bèn nói chú Ba La, hòng độ khắp lợi độn, mà cũng là nhằm khiến Bi lẫn Trí viên dung.

Bị chú của người dịch
: Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh không chú thích cho câu thứ nhất trong đoạn này.

(2) Phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm có chép: “Văn Thù Sư Lợi như tượng vương hồi, quán chư tỳ-kheo” (Ngài Văn Thù Sư Lợi như voi chúa quay mình, nhìn các tỳ-kheo). Xá Lợi Tử (Śāriputra), cõi này dịch là Thu Tử, do gọi theo tên mẹ[9].

(3) Tâm Kinh: “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”. Lăng Nghiêm Kinh: “Thô vi đại địa, tế vi vi trần. Chí lân hư trần, tích bỉ cực vi sắc biên tế tương thất phần sở thành. Cánh tích lân hư, tức thật không tánh” (Thô là đại địa, nhỏ nhặt là vi trần. Còn như lân hư trần là do chia cực vi sắc biên tế ra bảy phần mà thành. Lại chia chẻ lân hư trần thì nó thật sự là tánh Không). Tâm Kinh: “Thị chư pháp Không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng, bất giảm” (Tướng Không của các pháp chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng tăng, chẳng giảm).

Lăng Nghiêm Kinh: “Phật cáo Nặc vương: - Ngã kim thị nhữ bất sanh diệt tánh. Nhữ niên kỷ thời kiến Hằng hà thủy? Vương ngôn: - Ngã sanh tam tuế, kinh quá thử lưu, tức tri thị Hằng hà thủy. Phật ngôn: - Nhữ thuyết nhị thập chi thời, suy ư thập tuế, nãi chí lục thập, nhật nguyệt tuế thời, niệm niệm thiên biến. Tắc nhữ tam tuế, kiến thử hà thời, chí niên thập tam, kỳ thủy vân hà? Vương ngôn: - Như tam tuế thời, uyển nhiên vô dị, nãi chí ư kim niên lục thập nhị, diệc vô hữu dị! Phật ngôn: - Nhữ kim tự thương phát bạch diện trứu. Nhữ diện tuy trứu, nhi thử kiến tinh tánh vị tằng trứu. Trứu giả vi biến, bất trứu phi biến. Biến giả thọ diệt, bỉ bất biến giả nguyên vô sanh diệt, vân hà ư trung thọ nhữ sanh tử?” (Phật bảo vua Ba Tư Nặc[10]: - Nay ta chỉ cho ông tánh không sanh diệt. Ông thấy nước sông Hằng lúc mấy tuổi? Vua thưa: - Khi con ba tuổi đi qua dòng sông ấy, liền biết nước sông Hằng. Phật nói: - Ngươi nói xem: Từ lúc hai mươi tuổi, già suy hơn lúc mười tuổi, cho đến sáu mươi, ngày giờ năm tháng, niệm niệm đổi đời, như vậy thì từ lúc ngươi ba tuổi trông thấy sông ấy cho đến năm mười ba tuổi, nước sông ra sao? Vua đáp: - Giống như thuở ba tuổi, y hệt không khác gì, thậm chí đến nay con được sáu mươi hai tuổi, cũng chẳng khác gì! Phật dạy: - Ông nay tự xót xa đầu bạc, mặt nhăn. Mặt ông tuy nhăn, nhưng cái tánh thấy trong trẻo ấy chưa từng bị nhăn. Nhăn là biến đổi, không nhăn là chẳng biến đổi. Hễ biến đổi sẽ bị diệt, còn cái không biến đổi vốn chẳng sanh diệt, cớ sao ông lại phải chịu sanh tử?)

(4) Tâm Kinh: “Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không” (Soi thấy năm Uẩn đều không). Còn nói: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới” (Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không sắc, thanh, hương, vị xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới). Tứ Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ngài Thanh Nguyên Hành Tư nói: “Thánh Đế cũng chẳng làm”.

Tâm Kinh: “Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận” (Không có vô minh, cũng chẳng có hết vô minh, cho đến không có già chết mà cũng không có hết già chết), đấy chính là mười hai pháp duyên sanh.

(5) Lăng Nghiêm Kinh: “Tâm tinh biến viên, hàm lý thập phương” (Cái tâm trong trẻo trọn khắp, chứa đựng mười phương). Lại chép: “Thân hàm thập phương vô tận hư không” (Thân chứa mười phương vô tận hư không). Ngài Nam Nhạc Huệ Tư nói: “Tam thế chư Phật bị ta một miệng nuốt sạch”.

(6) Tâm Kinh: “Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn” (Do Bồ Tát nương vào Bát Nhã Ba La Mật Đa nên tâm không vướng mắc. Do không vướng mắc nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, chứng rốt ráo Niết Bàn).

Lăng Già Kinh: “Nhất thiết vô Niết Bàn, vô hữu Niết Bàn Phật, vô hữu Phật Niết Bàn, viễn ly giác, sở giác” (Hết thảy không có Niết Bàn. Không có Phật nơi Niết Bàn, mà cũng chẳng có Niết Bàn của Phật, xa lìa giác lẫn sở giác).

Kinh Viên Giác lại nói: “Nhất thiết Như Lai diệu viên giác tâm, bổn vô Bồ Đề cập dữ Niết Bàn, diệc vô thành Phật cập bất thành Phật” (Tâm diệu viên giác của hết thảy Như Lai vốn không có Bồ Đề và Niết Bàn, cũng chẳng có thành Phật lẫn không thành Phật).

(7) Trong bốn mươi hai tự mẫu[11] của kinh Bát Nhã, chữ cuối cùng là chữ Trà (ksa); vì thế, sách Ma Ha Chỉ Quán viết: “Qua khỏi chữ Trà không thể nói nữa”. Gọi là Kim Cang [tự mẫu] vì đây chính là thân Kim Cang được chứng bởi Như Lai, nghĩa ấy có thể thấy từ kinh Niết Bàn. Tâm Kinh: “Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú” (Vì vậy, biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú không chi hơn, là chú không gì sánh bằng, trừ hết thảy khổ, chân thật chẳng dối. Do vậy, nói Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú). Chú, tiếng Phạn là Đà La Ni (Dhāranī), dịch nghĩa là Tổng Trì.

1. Người học ngầm tu Huệ sâu, vì vào cửa tòa nhà lộng lẫy. Kẻ chỉ mới đắc Văn Huân, cũng gieo thành hạt giống Kim Cang.

2. Quý ở chỗ chí thành, cung kính, như thân cận oai trời! Đừng vọng tưởng tư duy, uổng công đốt lửa đom đóm mà thôi!
(Từ đây trở đi ca tụng pháp thức trì tụng thần chú, gồm hai đoạn. Trước hết, riêng nêu công đức trì kinh).

(1) Trong Lăng Nghiêm Kinh, ngài A Nan nói: “Ngã kim do như lữ bạc chi nhân, hốt mông thiên vương tứ dữ hoa ốc, tuy hoạch đại trạch, yếu nhân môn nhập” (Tôi nay giống như lữ khách lênh đênh, chợt được thiên vương ban cho căn nhà lộng lẫy. Tuy đã được căn nhà to lớn, vẫn phải theo cửa để vào). Phẩm Xuất Hiện kinh Hoa Nghiêm có câu: “Thực thiểu kim cang, chung cánh bất tiêu” (Ăn chút kim cang, trọn chẳng tiêu được).

(2) Tổ Ấn Quang nói: “Phàm tụng kinh ắt phải chí thành, khẩn thiết như đối trước thánh dung, đích thân nghe viên âm, từ đầu đến cuối, một mực đọc qua, dù văn hay nghĩa nhất loạt chẳng gắng tâm thấu hiểu. Xem kinh như thế, kẻ lợi căn sẽ có thể ngộ được hai pháp Không (Ngã Không và Pháp Không), chứng lý Thật Tướng. Ngay như kẻ độn căn cũng có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ. Nếu một đằng xem, một đằng phân biệt, sẽ hoàn toàn thuộc về phàm tình vọng tưởng, phỏng đoán, suy lường, làm sao có thể ngầm hợp ý Phật, tăng phước huệ, tiêu nghiệp chướng cho được?”

Ngài còn nói: “Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, cần phải cầu từ nơi cung kính. Có một phần cung kính, sẽ tiêu được một phần nghiệp chướng, tăng một phần phước huệ. Có mười phần cung kính, sẽ tiêu được mười phần nghiệp chướng, tăng mười phần phước huệ”.

Viên Giác Kinh: “Dĩ hữu tư duy tâm, trắc độ Như Lai viên giác cảnh giới, như thủ huỳnh hỏa, thiêu Tu Di sơn, chung bất năng trước” (Dùng cái tâm có tư duy để suy lường cảnh giới viên giác của Như Lai thì giống như đem lửa đom đóm thiêu núi Tu Di, trọn chẳng thể làm được).

1. Chỉ vì: Chúng sanh thiếu Huệ, tâm thiên trọng lắm nỗi phân biệt. Ngã Kiến dễ tăng, nghe quá nhiều [mà không thấu hiểu] sẽ thành lầm lỗi.

2. Tranh cãi đoán mò màu sữa, lời càng thốt lắm càng sai. Chưa nhìn thấu suốt da trâu, Lý bị chướng ngăn chẳng thấy. [Do vậy, Đại Sĩ] mở môn bí mật, dùng con đường lấp chặt tư duy
(Đây là trước khi ca tụng thần chú, nêu ra lý do vì sao chú ngữ không dịch nghĩa. Vì vậy, cổ đức nói: “Chú viên mãn, kiến giải thiên lệch. Hễ nẩy sanh kiến giải thì chú ngữ mất sạch ý nghĩa”).

(1) Viên Giác Kinh: “Chúng sanh vô huệ mục” (Chúng sanh không có con mắt huệ). Khởi Tín Luận: “Như Lai thiện xảo phương tiện, nhờ vào ngôn ngữ để hướng dẫn chúng sanh, khiến họ bỏ văn tự, nhập chân thật. Nếu dựa theo lời nói, chấp vào ý nghĩa, sẽ tăng trưởng phân biệt lầm lạc, chẳng sanh Thật Trí, chẳng đắc Niết Bàn”.

Viên Giác Kinh: “Duy ích đa văn, tăng trưởng Ngã Kiến” (Chỉ [chú trọng] nghe cho nhiều sẽ tăng trưởng Ngã Kiến). Lăng Nghiêm Kinh: “Súc văn thành quá ngộ” (Nghe quá nhiều trở thành lỗi lầm).

(2) Niết Bàn Kinh: “Như sanh manh nhân, bất thức nhũ sắc, tiện vấn hà tự? Nhân ngôn: Bạch như bối. Vấn: Như bối thanh da? Đáp ngôn: Bất dã! Vấn: Bối sắc hà tự? Viết: Như mễ mạt. Vấn: Nhu nhuyễn như mễ mạt da? Mễ mạt phục hà tự? Viết: Như tuyết. Phục vấn: Lãnh như tuyết da? Tuyết phục hà tự? Thị sanh manh nhân, tuy văn chủng chủng thí dụ, chung bất năng thức nhũ chân sắc” (Như kẻ mù từ lúc lọt lòng, chẳng biết sữa màu gì, liền hỏi giống như thế nào? Người ta nói: Trắng như vỏ ốc. Liền hỏi: Như tiếng ốc (tù và) thổi phải không? Đáp: Không phải! Hỏi: Màu của vỏ ốc giống như thế nào? Đáp: Như bột gạo. Hỏi: Mềm mịn như bột gạo ư? Bột gạo lại giống như thế nào? Đáp: Như tuyết. Lại hỏi: Lạnh như tuyết ư? Tuyết lại giống như thế nào? Kẻ mù từ lúc lọt lòng ấy tuy nghe các thứ thí dụ, trọn chẳng biết được màu sắc thật sự của sữa).

Tăng sĩ hỏi ngài Dược Sơn Nghiễm: “Hòa thượng chẳng cho người khác xem kinh, sao lại tự mình xem?” Ngài Dược Sơn bảo: “Ta chỉ che mắt”. Tăng hỏi: “Như vậy thì người học cũng bắt chước Ngài được chăng?” Ngài Dược Sơn bảo: “Nếu ông xem thì da trâu cũng bị xuyên thủng”. Ngài Thiên Đồng tụng rằng: “Xem kinh nào phải lọt da trâu”.

1. Khi ấy, đức Phật ta ngự tại đạo tràng Trúc Duẫn, đại hội xiển dương không ngăn che, Đại Sĩ làm Liên Hoa Bộ Chủ[12], thống lãnh các vị thần tiên trì chú.

2. Nói ra chú tâm Thập Nhất Diện, trọn khắp oai lực Tứ Tất Đàn.

3. Nhớ tại nơi Liên Hoa Nhãn thuở trước, ở chỗ ngài Mỹ Âm Hương.

4. Hoặc làm tiên nhân đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, hoặc làm cư sĩ đạt Đại Bi trí tạng.

5. Do tụng trì trăm lẻ tám biến, vượt thoát bốn vạn kiếp sanh tử.

6. Mười thứ lợi ích thù thắng, đã hưởng phước trong thuở sanh tiền. Bốn thứ công năng, càng hiệu nghiệm sau khi đã khuất.

7. Chỉ cần chí tâm tụng niệm, Cực Lạc ắt sẽ sanh về. Nếu tu hành đúng pháp, Bồ Đề nắm chắc trong tay
(Đoạn này ca tụng Thập Nhất Diện Chú Kinh. Do khi trì chú này, Ngài là tiên nhân hoặc là cư sĩ, nên xếp vào trước phần này).

(1) Thập Nhất Diện Chú Kinh: “Phật tại Thất La Phiệt Trúc Duẫn đạo tràng” (Đức Phật ở tại đạo tràng Măng Tre nơi thành Thất La Phiệt). Lăng Nghiêm Kinh: “Khai xiển vô giá, độ chư nghi báng” (Khai thị, xiển dương, không ngăn che, để độ những kẻ nghi ngờ, hủy báng). Mật Tông chia ra năm bộ, Đại Sĩ là bộ chủ của Liên Hoa Bộ. Thập Nhất Diện Chú Kinh: “Quán Tự Tại Bồ Tát dữ vô lượng câu-chi na-dữu-đa bách thiên trì chú thần tiên, đáo dĩ, đảnh lễ Phật túc” (Quán Tự Tại Bồ Tát và vô lượng câu-chi na-do-tha[13] trăm ngàn thần tiên trì chú đến nơi rồi bèn lễ dưới chân Phật).

(2) Thập Nhất Diện Chú Kinh[14]: “Bạch Phật ngôn: - Ngã hữu thần chú tâm, danh Thập Nhất Diện, cụ đại oai lực” ([Quán Thế Âm Bồ Tát] bạch Phật rằng: - Con có chú tâm[15] tên là Thập Nhất Diện, đầy đủ oai lực). Tứ Tất Đàn thì một là thế giới Tất Đàn, hai là vị nhân Tất Đàn, ba là đối trị Tất Đàn, bốn là đệ nhất nghĩa Tất Đàn. Tất Đàn (Siddhanta) nghĩa là “thí trọn khắp”.

(3 & 4 & 5) Kinh chép: “Ngã ức quá khứ hằng hà sa kiếp tiền, hữu Phật danh Bách Liên Hoa Nhãn. Ngã thời tác đại tiên nhân, thọ đắc thử chú, ứng thời chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Hựu quá khứ quá hằng hà sa kiếp, hữu Phật danh Mỹ Âm Hương, ngã thân tác đại cư sĩ, thọ đắc thử chú, tiện ư sanh tử siêu tứ vạn kiếp. Tụng trì thử chú, phục đắc chư Phật đại bi trí tạng, nhất thiết Bồ Tát giải thoát pháp môn” (Tôi nhớ hằng hà sa kiếp trước trong quá khứ, có Phật hiệu Bách Liên Hoa Nhãn. Khi ấy, tôi làm đại tiên nhân nhận lãnh chú này, ngay khi ấy chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Lại qua khỏi hằng hà sa kiếp về quá khứ, có Phật hiệu là Mỹ Âm Hương, tôi làm thân đại cư sĩ, được nhận lãnh chú này, liền vượt thoát bốn vạn kiếp sanh tử. Tụng trì chú này lại đắc đại bi trí tạng của chư Phật và hết thảy pháp môn giải thoát của Bồ Tát).

(6) Thập Nhất Diện Thần Chú Kinh: “Thị cố tịnh tín nam nữ, đương cung kính, chí tâm hệ niệm. Mỗi thần triêu tụng chú nhất bách bát biến, hiện thân hoạch thập chủng thắng lợi. Nhất thân thường vô bệnh, nhị chư Phật nhiếp thọ, tam tài bảo vô tận, tứ năng phục oán địch, ngũ tôn quý cung kính, lục quỷ độc bất thương, thất đao trượng bất hại, bát thủy bất nịch, cửu hỏa bất thiêu, thập bất hoạnh tử. Phục đắc tứ chủng công đức thắng lợi: Nhất mạng chung đắc kiến chư Phật, nhị chung bất đọa ác thú, tam bất nhân hiểm ách tử, tứ đắc sanh Cực Lạc thế giới” (Do vậy, kẻ nam người nữ có lòng tin trong sạch hãy nên cung kính, chí tâm hệ niệm. Mỗi sáng sớm tụng chú 108 biến thì nơi thân hiện tại được mười thứ lợi ích thù thắng: Một là thân thường không bệnh, hai là chư Phật nhiếp thọ, ba là của cải vô tận, bốn là hàng phục oán địch, năm là tôn quý, [được người khác] cung kính, sáu là quỷ mị, chất độc không hại được, bảy là đao gậy không hại được, tám là nước chẳng nhấn chìm, chín là lửa chẳng đốt được, mười là chẳng chết ngang trái. Lại còn được bốn thứ công đức lợi ích thù thắng: Một là mạng chung được thấy chư Phật, hai là trọn chẳng đọa vào đường ác, ba là chẳng chết vì nguy hiểm, tai ách, bốn là được sanh về thế giới Cực Lạc).

(7) Thập Nhất Diện Kinh Chú: “Ư ngã sở thuyết thần chú, thọ trì, độc tụng, như thuyết tu hành, thị nhân ư vô thượng Bồ Đề lãnh thọ như tại chưởng trung” (Đối với thần chú do ta đã nói mà thọ trì, đọc tụng, tu hành đúng như lời dạy thì người ấy sẽ nhận lãnh Vô Thượng Bồ Đề như đang cầm trong tay).



Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Bảy, 31 Oct 2015, 8:36 PM
 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 02 Nov 2015, 11:37 PM | Message # 8
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
1. Kế tiếp là Phật ngự trong vườn Am La, khắp thành Tỳ Xá mắc bệnh.

2. Dạ Xoa mến giữ, [thầy thuốc] đã bó tay chẳng thể chữa lành, Nguyệt Cái nặng lòng, bèn thỉnh cầu đức Phật thương xót.

3. Do thấy đời ngũ trược khó thể ở lâu dài, Phật dạy hãy chú tâm nơi Tịnh Độ. Sáu thức hãy gấp nên chuyển biến, thỉnh Quán Âm là bậc trí chiếu soi.

4. [Đức Phật] dặn dò [Nguyệt Cái] hãy cầu bậc Năng Thí cõi Cực Lạc phóng tịnh quang trọn khắp, diệt tối, trừ si, tiêu tai, ngừa ách.

5. Vốn là cha mẹ từ bi, Đại Sĩ nói tâm ấn trừ phiền não. Do lòng lân mẫn chúng sanh, Thế Tôn thỉnh Đà La Ni phá ác.

6. Muốn được Ngài hiện thân, nên biết pháp Sổ Tức.

7. Chương cú Lục Tự, nhất định cát tường, năm môn Thiền Quán, càng tăng Định lực.

8. Vì thế, lìa ác như mây trôi gặp gió, thấy Phật dường lũ trút khe ngòi.

9. Vị đẫm cam lộ, nhỏ giọt từ cành dương liễu. Miệng phóng quang như thể ráng chiều, lưỡi hoa sen khen ngợi trọn khắp.

10. Vì thế, chư thiên cúng dường, hầu hạ, như tôn cha kính mẹ. Được nghe tựa đề kinh, cũng sanh về Tịnh Độ (Đoạn này ca tụng Tiêu Phục Độc Hại Chú Kinh[16]).




1. Tiêu Phục Độc Hại Chú Kinh: “Phật trụ Tỳ Xá Ly Am La thụ viên Đại Lâm tinh xá. Thời Tỳ Xá Ly quốc nhân, ngộ đại ác bệnh” (Đức Phật ngự tại tinh xá Đại Lâm trong vườn cây Am La (Ambāla-vana) thành Tỳ Xá Ly[17]. Khi ấy, dân nước Tỳ Xá Ly mắc bệnh ngặt nghèo).

2. Kinh chép: “Hữu ngũ dạ-xoa, hấp nhân tinh khí. Lương y Kỳ Bà, tận kỳ đạo thuật, bất năng cứu. Hữu nhất trưởng giả danh Nguyệt Cái, nghệ Phật bạch ngôn: ‘Nguyện Thế Tôn từ mẫn nhất thiết, cứu tế bệnh khổ” (Có năm dạ-xoa[18] hút tinh khí của con người. Lương y Kỳ Bà[19] dốc hết khả năng y thuật vẫn chẳng thể chữa lành. Có một trưởng giả tên là Nguyệt Cái đến chỗ Phật bạch rằng: ‘Xin đức Thế Tôn từ bi thương xót hết thảy, cứu chữa bệnh khổ). Ngài Trí Giả sớ giải: “Những người tu hành thuộc về Phần Đoạn sanh tử, chưa đoạn Hoặc, hễ tâm vừa dấy lên ý niệm thì luôn bị ái kiến mê hoặc đến nỗi sáu trần làm tổn thương sáu căn tạo thành bệnh. Do xét theo Lý nên gọi Ngũ Căn là năm dạ-xoa vì chúng sanh ra năm thứ Kiến vậy”.

(3). Kinh chép: “Phật ngôn: - Khứ thử bất viễn, chánh lập Tây Phương, hữu Phật danh Vô Lượng Thọ, Bồ Tát danh Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, hằng dĩ đại bi cứu tế khổ ách. Nhữ đương tác lễ, thiêu hương, hệ niệm, sổ tức, linh tâm bất tán, kinh thập niệm khoảnh, vị chúng sanh thỉnh bỉ Phật, Bồ Tát” (Phật dạy: - Cách đây chẳng xa, ngay nơi phương Tây có Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, có Bồ Tát tên là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, thường đem lòng đại bi cứu giúp khổ ách. Ông hãy nên làm lễ, hệ niệm, đếm hơi thở sao cho tâm chẳng tán loạn trong vòng mười niệm, vì chúng sanh thỉnh đức Phật và các vị Bồ Tát ấy). [Ngài Trí Khải] chú giải: “Chúng sanh cõi uế do thấy Kiến Hoặc, Tư Hoặc độc hại, nên muốn nhờ vào Tịnh Độ để phá bệnh ấy. Hơn nữa, Quán Âm biểu thị trí Chánh Quán Trung Đạo, nhằm đối trị các thứ độc. Vì thế, thỉnh một mình Quán Âm nói ra thần chú”.

(4) Kinh chép: “Phổ phóng tịnh quang minh, diệt trừ si ám minh” (Phóng khắp quang minh sạch, trừ diệt tối si ám). Lại chép: “Tất lai chí ngã sở, thí ngã đại an lạc” (Ắt đến chỗ của ta, ban cho đại an lạc).

(5) Kinh chép: “Ngã kim tự quy y, thế gian từ bi phụ” (Con nay tự quy y, thế gian từ bi phụ). Lời sớ giải ghi: “Ba bài chú trong kinh này trừ tam chướng. Chú thứ nhất trừ độc phiền não, chú thứ hai phá ác nghiệp độc, chú cuối cùng, phá được quả báo độc”.

Kinh dạy: “Nhĩ thời Thế Tôn, lân mẫn chúng sanh, trùng thỉnh Quán Thế Âm Bồ tát thuyết Tiêu Phục Độc Hại Chú. Quán Thế Âm đại bi huân tâm, nhi thuyết Phá Ác Nghiệp Chướng Tiêu Phục Độc Hại đà-la-ni chú” (Khi ấy, đức Thế Tôn thương xót chúng sanh lại thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát hãy nói Tiêu Phục Độc Hại Chú. Quán Thế Âm đại bi hun đúc nơi lòng, bèn nói Phá Ác Nghiệp Chướng Tiêu Phục Độc Hại đà-la-ni chú).

(6) Kinh chép: “Vân hà đắc kiến Quán Thế Âm Bồ Tát, cập thập phương Phật? Nhược dục đắc kiến, đoan thân chánh tâm, sử tâm bất động, linh tức điều quân, bất thô, bất tán, an tường từ sổ, tùng nhất chí thập, thành tựu tức niệm, vô phân tán ý. Khí bất ngoại hướng, bất sáp, bất hoạt, điều hòa đắc trung, linh tâm minh tịnh”. (Làm thế nào để thấy Quán Thế Âm và mười phương Phật? Nếu muốn được thấy, hãy đoan thân, chánh tâm, khiến cho tâm bất động, khiến cho hơi thở điều hòa, quân bình, chẳng thô, chẳng tán loạn, an tường thong thả đếm từ một đến mười, thành tựu ý niệm chú tâm nơi hơi thở, ý không phân tán. Khí chẳng hướng ra ngoài, chẳng thô rít, chẳng quá nhanh, điều hòa đúng mực, khiến cho tâm sáng lặng).

(7) Kinh chép: “Thị lục tự chương cú tất định cát tường, chân thật bất hư” (Chương cú sáu chữ này nhất định là tốt lành, chân thật, chẳng dối). Sớ giải ghi: “Có nhiều cách giải thích từ ngữ ‘chương cú sáu chữ’ khác nhau. Có thuyết cho rằng: Tam Bảo là ba chữ, Quán Thế Âm là ba chữ nữa cho tiện tụng trì, tức là như kinh chép: ‘Nam-mô Phật, nam-mô Pháp, nam-mô Tăng, nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Kinh lại chép: “Phật cáo chư tỳ-kheo: - Nhữ đẳng dục phục cam lộ vô thượng pháp vị, tu ngũ môn Thiền, đương tự quán thân, tùng đầu chí túc, nhất nhất tiết gian, giai linh hệ niệm, đình trụ bất tán, đế quán chúng tiết như ba tiêu thụ, nội ngoại câu không. Đương tri Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, diệc phục như thị” (Phật bảo các tỳ-kheo: - Các ông muốn uống cam lộ vô thượng pháp vị, tu năm môn Thiền, hãy tự quán tâm từ đầu đến chân, trong mỗi lóng đốt đều hệ niệm gìn giữ cho chẳng tán loạn, xem kỹ các lóng giống như cây chuối, trong và ngoài đều rỗng không. Hãy nên biết Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, cũng giống như vậy).

(8) Kinh chép: “Dĩ thử sổ tức tâm định lực cố, như sử thủy lưu, tất tật đắc kiến Quán Thế Âm Bồ Tát cập thập phương Phật” (Do phép đếm hơi thở này, tâm có định lực giống như nước chảy mạnh, ắt nhanh chóng được thấy Quán Thế Âm Bồ Tát và mười phương Phật). Kinh còn chép: “Nhược hữu túc thế tội nghiệp nhân duyên, cập hiện sở tạo cực trọng ác hạnh, mộng trung đắc kiến Quán Thế Âm Bồ Tát như đại mãnh phong xuy ư trùng vân giai tất tứ tán, đắc ly ác nghiệp, sanh chư Phật tiền” (Nếu có tội nghiệp nhân duyên trong đời trước và những hạnh ác cực nặng trót tạo trong đời này, trong mộng sẽ được thấy Quán Thế Âm Bồ Tát như cơn gió to mạnh thổi những tầng mây bay tứ tán, được lìa ác nghiệp, sanh về trước các đức Phật). Theo Thiên Lộc Các Ngoại Sử đời Hán: “Nếu mây trôi gặp phải trận gió sẽ bị cuốn vùn vụt về nơi hang hốc, không ai có thể ngăn được!”

(9) Tiêu Phục Độc Hại Chú Kinh: “Tỳ Xá Ly nhân, tức cụ dương chi tịnh thủy, thọ dữ Quán Thế Âm Bồ Tát” (Người nước Tỳ Xá Ly bèn chuẩn bị cành dương, nước sạch, trao cho Quán Thế Âm Bồ Tát). Kinh còn chép: “Nhất thiết Phật hưng thế, an lạc chúng sanh cố. Dị khẩu, các các thân, đoan tọa Kim Cang tòa, khẩu xuất ngũ sắc quang, liên hoa diệp hình thiệt, tán thán đại bi giả, điều ngự sư tử pháp” (Hết thảy Phật ra đời, nhằm an lạc chúng sanh. Mỗi vị thân miệng khác, ngồi trên tòa Kim Cang, miệng tỏa quang năm sắc, lưỡi như cánh hoa sen, khen ngợi bậc Đại Bi, pháp điều ngự sư tử).

(10) Kinh chép: “Từ tâm ủng hộ trì kinh giả, cung kính cúng dường tiếp túc lễ. Thí như chư thiên phụng Đế Thích, diệc như hiếu tử kính phụ mẫu” (Từ tâm ủng hộ người trì kinh, cung kính, cúng dường, lễ dưới chân, ví như chư thiên thờ Đế Thích, cũng như con hiếu kính cha mẹ).

Kinh còn chép: “Nhược thiện nam tử nữ nhân, đắc văn thử kinh thủ đề danh tự, thường đắc kiến Phật, cập chư Bồ Tát, cụ túc thiện căn, sanh tịnh Phật quốc” (Nếu thiện nam tử, nữ nhân nào được nghe danh tự nơi tựa đề kinh này sẽ thường được thấy Phật và các Bồ Tát, đầy đủ thiện căn, sanh về cõi Phật thanh tịnh).



1. Lại từ trong điện Trang Nghiêm nơi núi Bố Đát.

2. Bậc Diệu Giác Thế Tôn giáng xuống, nhóm hội Bồ Tát đại bi.

3. Bèn tuyên nói thần châu Như Ý, có tên là Bất Không Quyến Sách.

4. Trao cho các thế chủ[20], hòng dạy khắp trời người.

5. Mười ức số diệu trí hiện tiền, hai mươi thứ đại lợi thành tựu.

6. Lại thêm tám pháp, Tịnh Độ tùy nguyện vãng sanh, được nhập Chánh Định, chư thiên thường đến ủng hộ.

7. Dù tội khó sám hối, ghẻ lở cũng được tiêu trừ, dẫu vờ vĩnh thọ trì, tự đượm mùi hương trầm, xạ.

8. Muốn thành tựu nghiệp tối thắng, thân tự tại càng trang nghiêm.

9. Búi tóc xoắn ốc xoay theo chiều phải, đầu đội mão hoa, khoác tấm da hươu trên vai bên trái, tóc xanh buông rủ.

10. Anh lạc để trang nghiêm, hương hoa dâng cúng dường.

11. Tâm tin sẽ cảm Phật, nên khiến thân có quang minh. Tượng vẽ chẳng khác chân thân, bởi đó, thỏa mãn các nguyện (đoạn này ca tụng Bất Không Quyến Sách Kinh[21])



(1) Bất Không Quyến Sách Kinh: “Phật tại Bố Đát Lạc Ca sơn, Quán Tự Tại cung điện. Kỳ địa hữu vô lượng bảo thụ, châu táp trang nghiêm” (Phật ngự tại núi Bố Đát Lạc Ca, trong cung điện của ngài Quán Tự Tại. Nơi cuộc đất ấy có vô lượng cây báu vây quanh trang nghiêm).

(3) Trong lời tựa cuối kinh Bất Không Quyến Sách có đoạn: “Các nước trong xứ Ấn Độ đều gọi kinh này là viên thần châu Như Ý”.

(4 & 5) Kinh chép: “Vãng tích hữu Phật, hiệu Thế Chủ Vương Như Lai, ngã tùng bỉ Phật, thọ thử chú tâm, giáo hóa vô lượng bách thiên thiên tử, linh thú Bồ Đề. Dĩ thị công đức, hoạch thập ức tam-ma-địa bất không diệu trí” (Thuở xưa có Phật hiệu là Thế Chủ Vương Như Lai, ta nhận lãnh chú tâm này từ nơi đức Phật ấy, giáo hóa vô lượng trăm ngàn thiên tử, khiến họ tiến nhập Bồ Đề. Do công đức ấy, đạt được mười ức tam-ma-địa, bất không diệu trí).

Kinh còn chép: “Nhược nhân ư nguyệt bát nhật, chuyên tâm trai giới, bất tạp dư ngữ, tụng chú thất biến, hiện tại đắc nhị thập chủng thù thắng lợi ích” (Nếu có người trong ngày mồng Tám mỗi tháng, dốc lòng trai giới, chẳng xen tạp những lời nào khác, tụng chú này bảy biến thì trong hiện tại sẽ đạt được hai mươi thứ lợi ích thù thắng).

(6) Kinh chép: “Phục hoạch bát pháp: Nhất giả, lâm chung kiến Quán Tự Tại Bồ Tát, tác tỳ-kheo tượng, hiện tiền ủy dụ... Bát giả, mạng chung tùy nguyện vãng sanh chư Phật Tịnh Độ” (Lại đạt được tám pháp: Một là lâm chung thấy Quán Tự Tại Bồ Tát hiện thân tướng tỳ-kheo ở trước mặt vỗ về, khuyên nhủ... Tám là mạng chung, tùy theo ý nguyện vãng sanh Tịnh Độ của chư Phật).

Kinh còn chép: “Hữu thử chú xứ, tức hữu thập nhị ức chư thiên ủng hộ” (Chỗ nào có chú này thì chỗ ấy liền có mười hai ức chư thiên ủng hộ).

(7) Kinh chép: “Nhược nhân tạo chư trọng tội, hủy nhục thánh hiền, phỉ báng chánh pháp, đương đọa Vô Gián địa ngục, thọ chư kịch khổ, chư Phật, Bồ Tát diệc bất năng cứu. Nhược văn thử chú, nhất nhật dạ, thọ trì trai giới, tụng thử chú tâm, sở tác tội nghiệp, hiện thế khinh thọ, hoặc tao hàn nhiệt, cập chư tiễn giới, bất phục đương đọa địa ngục. Sở tạo tội nghiệp tất đắc tiêu trừ” (Nếu có người tạo các trọng tội, hủy báng, nhục mạ thánh hiền, phỉ báng chánh pháp, sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián, chịu các nỗi khổ dữ dội, chư Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể cứu, mà nếu nghe chú này, thọ trì trai giới một ngày một đêm, tụng chú tâm này thì các tội nghiệp đã tạo sẽ chuyển thành báo nhẹ trong đời này, hoặc bị bệnh hàn, bệnh nhiệt và các thứ ghẻ lở, chẳng còn đọa vào địa ngục, tội nghiệp đã tạo đều được tiêu trừ).

Kinh còn chép: “Nhược chúng sanh văn thử chú tâm, trá hiện thọ trì, diệc sanh thắng phước. Như nhân thủ chiên đàn, trầm, xạ, dụng đồ kỳ thân, tuy mạ lỵ, hủy tý, nhi bỉ hương đẳng, chung bất vị thử nhân hủy ngã, lận kỳ hương khí, nhi bất dữ chi” (Nếu chúng sanh nghe chú tâm này, giả vờ thọ trì, cũng sanh phước thù thắng. Như người lấy chiên đàn, trầm, xạ bôi lên thân mình, tuy chửi mắng, rủa xả, nhưng những thứ hương ấy trọn chẳng nói ‘kẻ này hủy nhục ta’ mà tiếc rẻ mùi hương chẳng ban cho hắn).

(8 & 9 & 10) Kinh chép: “Thử thần chú thành tựu như thị tối thắng sự nghiệp. Vị thành biện giả, dĩ tố điệp họa Phật tượng, ư hữu biên họa Quán Tự Tại Bồ Tát tượng. Kỳ thân hoàng bạch, đảnh hữu loa kế, cám phát thùy hạ, thủ quan hoa quan, phi lộc bì phú tả kiên thượng. Tự dư thân phần, anh lạc, hoàn, xuyến, nhi vi trang nghiêm. Đàn nội tán bạch hoa, dĩ bát tịnh bình thịnh hương hoa thủy an bát phương” (Thần chú này thành tựu sự nghiệp tối thắng như thế. Kẻ nào chưa thành tựu thì hãy dùng vải điệp trắng vẽ tượng Phật. Ở bên phải [tượng Phật], vẽ tượng Quán Tự Tại Bồ Tát. Thân Ngài màu vàng pha sắc trắng, đảnh đầu có búi tóc xoắn ốc, tóc xanh biếc rủ xuống, đầu đội mão hoa, khoác da hươu bên vai trái. Những phần thân thể khác trang nghiêm bằng anh lạc, vòng, xuyến. Trong đàn rải hoa trắng, dùng tám cái bình thanh tịnh đựng nước cắm hoa, hòa chất thơm đặt ở tám phương).

(11) Kinh chép: “Chí thành tụng chú, mãn bát thiên biến, hành giả tự kiến kỳ thân biến phóng quang minh. Quán Tự Tại tiện hiện kỳ tiền, tùy sở nguyện cầu, giai linh mãn túc” (Chí thành tụng chú trọn tám ngàn biến, hành giả tự thấy khắp thân tượng Ngài phóng quang minh. Quán Tự Tại liền hiện ra trước mặt, tùy theo nguyện cầu của hành nhân sẽ đều làm cho được thỏa mãn).



1. Chỉ vì Đại Sĩ nhận lãnh pháp môn bí mật, số lượng vốn như vi trần, nhiếp khắp các đà-la-ni diệu ngữ, một hội há tuyên nói trọn!

2. Vì thế, đức Phật lại giáng lâm, phàm thánh bèn tái nhóm.

3. Sắp nói thần chú Đại Bi, ngầm phóng quang minh thần thông
(Từ đây ca tụng Đại Bi Chú Kinh[22], gồm năm đoạn)



(1) Lăng Nghiêm Kinh: “Thừa thuận thập phương vi trần Như Lai bí mật pháp môn, thọ lãnh vô thất” (Vâng theo pháp môn bí mật của mười phương vi trần Như Lai, nhận lãnh không mất).

Đại Bi Chú Kinh: “Thị diệu pháp tạng phổ nhiếp nhất thiết chư đà-la-ni môn. Hựu thị diệu ngữ tạng, khẩu trung đà-la-ni âm vô đoạn tuyệt cố” (Đây là diệu pháp tạng, nhiếp khắp hết thảy các môn đà-la-ni, lại là diệu ngữ tạng vì trong miệng âm thanh đà-la-ni không đoạn tuyệt).

(2) Kinh chép: “Phật tại Bổ Đà Lạc Ca sơn, Quán Thế Âm cung điện, dữ vô ương số Bồ Tát, Thanh Văn, dĩ chí thiên, long, dạ-xoa, nhân, phi nhân đẳng, giai lai tập hội” (Đức Phật ở núi Bổ Đà Lạc Ca trong cung điện của ngài Quán Thế Âm, cùng vô ương số Bồ Tát, Thanh Văn, cho đến trời, rồng, dạ-xoa, người, phi nhân đều cùng đến nhóm hội).

(3) Kinh chép: “Quán Thế Âm Bồ Tát mật phóng thần thông quang minh, chiếu diệu thập phương sát độ, giai tác kim sắc, nhật nguyệt chi quang giai tất bất hiện. Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật ngôn: - Ngã hữu Đại Bi Tâm đà la ni chú, kim đương dục thuyết” (Quán Thế Âm Bồ Tát ngầm phóng quang minh thần thông, chiếu sáng ngời mười phương cõi nước đều biến thành sắc vàng, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng đều [bị che lấp] chẳng hiện. Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật: - Con có Đại Bi Tâm đà-la-ni chú, nay con muốn nói).



Ấy là vì: Từ vô lượng kiếp trước, nơi Thiên Quang Vương Phật, nhận lãnh vô ngại đà-la-ni này, vì vị lai tạo lợi lạc trọn khắp. Ngàn mắt, ngàn tay trong một niệm liền trọn đủ, vượt ngay lên Bát Địa, mười phương chư Phật đều phóng quang minh, đồng thời đến chứng minh.



Đại Bi Chú Kinh: “Ngã niệm quá khứ vô lượng ức kiếp, hữu Phật danh Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Bỉ Phật lân ngã cập nhất thiết chúng sanh, thuyết Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni. Dĩ kim thủ ma ngã đảnh, ngôn: - Nhữ đương trì thử tâm chú, phổ vị vị lai ác thế nhất thiết chúng sanh, tác đại lợi lạc. Ngã ư thị thời, thỉ trụ Sơ Địa, nhất văn thử chú, siêu Đệ Bát Địa. Ngã phát thệ ngôn: - Nhược ngã đương lai năng lợi lạc nhất thiết chúng sanh giả, linh ngã thân thiên thủ thiên nhãn cụ túc. Phát thị nguyện dĩ, ứng thời cụ túc. Thập phương Phật tất phóng quang minh, chiếu xúc ngã thân” (Tôi nhớ trong quá khứ vô lượng ức kiếp, có Phật hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Đức Phật ấy thương tôi và hết thảy chúng sanh, nói Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm đà-la-ni, dùng cánh tay sắc vàng xoa đầu tôi, nói: ‘Ông nên trì tâm chú này, vì khắp hết thảy chúng sanh trong đời ác mai sau mà làm lợi lạc’. Khi ấy, tôi mới trụ Sơ Địa, vừa nghe chú này liền vượt lên Bát Địa. Tôi thốt lời thề: ‘Nếu trong tương lai con có thể lợi lạc hết thảy chúng sanh thì khiến cho thân con đầy đủ ngàn mắt, ngàn tay’. Phát lời nguyện ấy xong, ngay lập tức bèn đầy đủ. Mười phương chư Phật đều phóng quang minh chiếu chạm thân tôi).



1. Phàm là người học Phật, hãy nên phát thệ nguyện rộng lớn.

2. Trước hết, mở mười nguyện, rộng phát Bồ Đề, lại trở vào tam đồ, giải thoát trọn khắp.

3. Xưa lễ Không Vương Phật, nhân chẳng khác quả, nay xưng danh Đại Sĩ, thoạt đầu, lúc cuối chẳng hai.




(1 & 2) Đại Bi Chú Kinh: “Dục tụng trì giả, ư chúng sanh khởi từ bi tâm, tiên đương tùng ngã phát nguyện” (Người muốn tụng trì, hãy khởi tâm từ bi đối với chúng sanh, trước hết hãy theo ta phát nguyện). Mười nguyện chính là nguyện tôi sớm biết hết thảy pháp, nguyện tôi sớm đắc mắt trí huệ, nguyện tôi mau độ hết thảy chúng sanh, nguyện tôi sớm đắc phương tiện khéo, nguyện tôi mau ngồi thuyền Bát Nhã, nguyện tôi sớm được thoát biển khổ, nguyện tôi mau đắc đạo giới định, nguyện tôi sớm lên non Niết Bàn, nguyện tôi mau về nhà vô vi, nguyện tôi sớm cùng chứng thân pháp tánh.

Kinh còn chép: “Ngã nhược hướng đao sơn, đao sơn tự tồi chiết. Ngã nhược hướng hỏa thang, hỏa thang tự tiêu diệt. Ngã nhược hướng địa ngục, địa ngục tự khô kiệt. Ngã nhược hướng ngạ quỷ, ngạ quỷ tự bão mãn. Ngã nhược hướng Tu-la, ác tâm tự điều phục. Ngã nhược hướng súc sanh, tự đắc đại trí tuệ” (Nếu ta hướng về núi đao, núi đao tự sụp vỡ. Nếu ta hướng về lò lửa, vạc sôi, lò lửa, vạc sôi tự tiêu diệt. Nếu ta hướng về địa ngục, địa ngục tự khô cạn. Nếu ta hướng về ngạ quỷ, ngạ quỷ tự no đủ. Nếu ta hướng về Tu-la, ác tâm tự điều phục. Nếu ta hướng về súc sanh, tự đắc đại trí huệ).

(3) Hoằng Mãnh Hải Huệ Kinh: “Tích Diêm Phù Đề hữu vương danh Thiện Thủ, hữu ngũ bách vương tử. Đệ nhất thái tử danh Thiện Quang, trị Không Vương Quán Thế Âm Phật, nãi phát thập nguyện. Nhất nguyện tri nhất thiết pháp, nhị nguyện thừa Bát Nhã thuyền, tam nguyện đắc trí huệ phong, tứ nguyện đắc thiện phương tiện, ngũ nguyện độ nhất thiết nhân, lục nguyện siêu sanh tử hải” (Xưa kia, trong Diêm Phù Đề có vua tên là Thiện Thủ, có năm trăm vương tử. Thái tử thứ nhất tên là Thiện Quang, gặp đức Không Vương Quán Thế Âm Phật, bèn phát ra mười nguyện. Nguyện thứ nhất là biết hết thảy pháp, nguyện thứ hai là ngồi thuyền Bát Nhã, nguyện thứ ba là được gió trí huệ, nguyện thứ tư là đắc phương tiện khéo, nguyện thứ năm là độ hết thảy mọi người, nguyện thứ sáu là vượt biển sanh tử). Bốn nguyện còn lại giống như phần kinh văn đã dẫn ở trên. Hơn nữa, trước mỗi câu nguyện trong mười nguyện của Đại Bi Chú Kinh, đều có câu “Nam-mô Đại Bi Quán Thế Âm”, còn trong đoạn văn nói về mười nguyện ấy [của kinh Hoằng Mãnh Hải Huệ], trước mỗi câu nguyện chỉ thiếu hai chữ Nam Mô.



1. Lại niệm Bổn Sư, rồi mới trì thần chú.

2. Khi ấy, diệt trọng tội trong một ức vạn kiếp, tùy nguyện vãng sanh, đắc mười lăm thứ sống tốt lành, lại không chết thảm.

3. Dẫu là độn căn, vẫn đắc tiểu quả, thành tựu huệ thân, chẳng do ai giác ngộ.



(1 & 2) Kinh chép: “Phát nguyện dĩ, chí tâm xưng niệm ngã chi danh tự, diệc ưng chuyên niệm ngã Bổn Sư A Di Đà Như Lai, nhiên hậu tụng chú, nhất túc mãn ngũ biến, trừ diệt thân trung bách thiên vạn ức kiếp sanh tử trọng tội. Nhược chư nhân thiên tụng trì Đại Bi chương cú giả, lâm mạng chung thời, thập phương chư Phật giai lai thọ thủ, dục sanh hà quốc, tùy nguyện vãng sinh. Tụng trì Đại Bi thần chú, nhược bất sanh chư Phật quốc giả, ngã thệ bất thành chánh giác. Tụng trì Đại Bi thần chú, ư hiện sanh trung, nhất thiết sở cầu bất quả toại giả, bất đắc vi Đại Bi Tâm đà-la-ni dã. Duy trừ bất thiện, trừ bất chí thành” (Phát nguyện xong, hãy chí tâm xưng niệm danh hiệu ta, cũng nên chuyên niệm Bổn Sư của ta là A Di Đà Như Lai rồi mới tụng chú. Một đêm tụng đủ năm biến, sẽ trừ diệt trọng tội trong trăm ngàn vạn ức kiếp sanh tử. Nếu các trời người trì tụng chương cú Đại Bi thì lúc lâm chung, mười phương chư Phật đều đến xòe tay tiếp dẫn. Muốn sanh về cõi nào, sẽ tùy theo lòng mong, sanh về cõi ấy. Tụng trì thần chú Đại Bi mà nếu chẳng sanh về các cõi Phật thì ta thề chẳng thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi mà trong đời này hết thảy sở cầu chẳng được toại nguyện thì chẳng đáng gọi là Đại Bi Tâm đà-la-ni, chỉ trừ kẻ chẳng lành, hoặc chẳng chí thành)

Lại nữa, người tụng trì tâm chú Đại Bi được mười lăm thứ sanh tốt lành, chẳng bị mười lăm thứ chết thảm. Một là chẳng bị chết vì đói khát khốn khổ. Hai là chẳng bị chết vì xiềng xích, giam cầm, đánh đập. Ba là chẳng bị oán gia cừu nhân hại chết. Bốn là chẳng bị chết trong chiến trận. Năm là chẳng bị chết vì ác thú tàn hại. Sáu là chẳng bị rắn rết cắn chết. Bảy là chẳng bị chết vì nước trôi, lửa cháy. Tám là chẳng bị chết vì trúng thuốc độc. Chín là chẳng chết vì trùng độc làm hại. Mười là chẳng điên loạn, mất trí mà chết. Mười một là chẳng chết vì rơi té từ núi, cây, vách đá. Mười hai là chẳng chết vì bị kẻ ác ếm đối, quỷ mị. Mười ba là chẳng chết vì tà thần, ác quỷ thừa dịp hãm hại. Mười bốn là chẳng chết vì bệnh ngặt dây dưa. Mười lăm là chẳng tự hại chết trái lẽ.

[Mười lăm chỗ sanh tốt lành là]: Một là thường sanh về nơi có vua tốt lành. Hai là thường sanh vào nước tốt lành. Ba là thường gặp thời tốt lành. Bốn là thường gặp bạn lành. Năm là thân căn đầy đủ. Sáu là đạo tâm thuần thục. Bảy là chẳng phạm giới cấm. Tám là tất cả quyến thuộc đều nghĩ đến nhân nghĩa, hòa thuận. Chín là của cải đầy đủ. Mười là thường được người khác cung kính, nâng đỡ. Mười một là tất cả của cải không bị kẻ khác cướp đoạt. Mười hai là những điều mong mỏi đều được vừa lòng. Mười ba là long thiên, thiện thần luôn thường ủng hộ, bảo vệ. Mười bốn là tại chỗ sanh về thường thấy Phật, nghe pháp. Mười lăm là được nghe chánh pháp, có thể ngộ được nghĩa rất sâu).

(3). Kinh chép: “Nhược năng tinh thành dụng tâm, trai giới sám hối, khẩu trung ngập ngập tụng thử đà-la-ni, thanh thanh bất tuyệt giả, tứ Sa-môn quả, thử sanh tức chứng. Kỳ lợi căn hữu huệ quán giả, Thập Địa quả vị, khắc hoạch bất nan” (Nếu có thể dụng tâm tinh thành trai giới, sám hối, trong miệng luôn ra rả tụng trì đà-la-ni này chẳng ngớt tiếng thì sẽ chứng bốn quả Sa Môn ngay trong đời này. Những người lợi căn có huệ quán thì sẽ đạt được quả vị Thập Địa chẳng khó).

Kinh còn chép: “Bồ Tát vị giai Sơ Trụ giả, tốc linh đắc cố, hựu linh đắc đáo Phật địa cố. Tự nhiên thành tựu tam thập nhị tướng, bát thập tùy hình hảo” (Sẽ làm cho Bồ Tát nhanh chóng đạt được địa vị Sơ Trụ, lại còn làm cho đạt đến địa vị Phật. Tự nhiên thành tựu ba mươi hai tướng, tám mươi thứ vẻ đẹp phụ). Phẩm Phạm Hạnh của kinh Hoa Nghiêm nói: “Tri nhất thiết pháp tức tâm tự tánh. Thành tựu huệ thân, bất do tha ngộ” (Biết hết thảy pháp chính là tự tánh của cái tâm. Thành tựu huệ thân, chẳng do người khác giác ngộ).



1. Chạm gió thổi thân người trì chú, thường sanh trước Phật. Dính nước tắm từ thân người ấy, cùng về Tịnh Độ.

2. Khen ngợi công đức, mười hai tạng rộng lớn chưa thể bao trùm. Xưng dương, cầu nguyện, bốn mươi tay cùng làm há nào trọn hết.

3. Cầu biệt tướng Đại Bi, phải đủ mười tâm. Tổng trì thần chú này, tuyên dương chín hiệu.

4. Sức oai thần như thế, trước Bồ Tát, quả chưa từng nghe [có ai giống vậy]! Kinh văn rộng lớn, dẫu Như Lai cũng sẽ tùy hỷ.




(1) Đại Bi Chú Kinh: “Nhược chư nhân thiên tụng trì thử đà-la-ni, kỳ nhân nhược tại giang, hà, đại hải trung mộc dục, kỳ trung chúng sanh, đắc thử nhân dục thân chi thủy, triêm trước kỳ thân, nhất thiết ác nghiệp, tất giai tiêu diệt, tức đắc chuyển sanh tha phương tịnh độ, liên hoa hóa sanh, bất thọ thai thân, thấp noãn chi thân. Hà huống thọ trì, độc tụng giả? Nhược tụng trì giả, hành ư đạo lộ, đại phong lai thời, xuy thử nhân thân mao, phát, y phục, dư phong hạ quá, chư loại chúng sanh đắc kỳ nhân phiêu thân phong xuy trước thân giả, nhất thiết ác nghiệp tịnh giai diệt tận, bất thọ tam ác đạo báo, thường sanh Phật tiền. Đương tri thọ trì giả, phước đức quả báo bất khả tư nghị” (Nếu các trời người tụng trì đà-la-ni này, nếu như người ấy tắm gội trong sông, rạch, biển cả, những chúng sanh ở trong ấy được nước tắm của người ấy dính vào thân thì hết thảy ác nghiệp đều được tiêu diệt, liền được sanh về Tịnh Độ trong những phương khác, hóa sanh trong hoa sen, chẳng còn phải mang những thân thai, noãn, thấp sanh. Huống hồ kẻ thọ trì, đọc tụng? Nếu người tụng trì đi trên đường sá, khi trận gió lớn lùa tới, thổi qua lông, tóc, y phục trên thân người ấy, các loại chúng sanh do được hơi gió thừa sau khi đã thổi qua thân người ấy chạm vào thân thì hết thảy ác nghiệp đều tiêu diệt sạch, chẳng mắc báo đọa trong ba đường ác, thường sanh trước Phật. Hãy nên biết quả báo, phước đức của người thọ trì chẳng thể nghĩ bàn).

(2) Mười hai tạng là: 1) Phật tạng 2) Quang minh tạng 3) Từ bi tạng 4) Diệu pháp tạng 5) Thiền định tạng 6) Hư không tạng 7) Vô úy tạng 8) Diệu ngữ tạng 9) Thường trụ tạng 10) Giải thoát tạng 11) Dược vương tạng 12) Thần thông tạng. Bốn mươi tay[23]: Kinh văn quá rườm rà nên không sao lục.

(3) Đại Bi Chú Kinh: “Đại Phạm thiên vương bạch Bồ Tát ngôn: - Duy nguyện Đại Sĩ, vị ngã thuyết thử đà-la-ni hình mạo trạng tướng. Quán Thế Âm Bồ Tát ngôn: - Đại từ bi tâm thị, bình đẳng tâm thị, vô vi tâm thị, vô nhiễm trước tâm thị, không quán tâm thị, cung kính tâm thị, ty hạ tâm thị, vô tạp loạn tâm thị, vô kiến thủ tâm thị, vô thượng Bồ Đề tâm thị” (Đại Phạm thiên vương bạch Bồ Tát rằng: “Kính xin Đại Sĩ hãy vì con nói hình mạo, tướng trạng của đà-la-ni này”. Quán Thế Âm Bồ Tát nói: “Tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm không nhiễm trước, tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm hạ, tâm không tạp loạn, tâm chẳng chấp vào kiến giải, tâm vô thượng Bồ Đề chính là hình mạo, tướng trạng [của chú Đại Bi]”).

Lại nữa, trong kinh này, đức Phật bảo A Nan: “Như thị thần chú danh Quảng Đại Viên Mãn, danh Vô Ngại Đại Bi, danh Cứu Khổ, danh Diên Thọ, danh Diệt Ác Thú, danh Phá Ác Nghiệp Chướng, danh Mãn Nguyện, danh Tùy Tâm Tự Tại, danh Tốc Siêu Thượng Địa Đẳng đà-la-ni” (Thần chú như thế này tên là Viên Mãn Rộng Lớn, tên là Vô Ngại Đại Bi, tên là Cứu Khổ, tên là Kéo Dài Tuổi Thọ, tên là Diệt Đường Ác, tên là Phá Nghiệp Chướng Ác, tên là Thỏa Nguyện, tên là Tùy Theo Tâm Nguyện Mà Tự Tại, tên là Đà-la-ni Giúp Hành Nhân Nhanh Chóng Vượt Lên Địa Vị Cao Hơn). Tổng cộng gồm chín tên.

(4) Đại Bi Chú Kinh chép: “A Nan ngôn: - Thử Bồ Tát danh tự hà đẳng, thiện năng tuyên thuyết như thị đà-la-ni? Phật ngôn: - Thử Bồ Tát danh Quán Thế Âm, bất khả tư nghị oai thần chi lực. Quá khứ vô lượng kiếp trung, dĩ tác Phật cánh, hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai. Đại bi nguyện lực, vị dục phát khởi nhất thiết Bồ Tát, an lạc thành thục chư chúng sanh cố, hiện tác Bồ Tát. Nhữ đẳng đại chúng chư Bồ Tát giai ưng cung kính, mạc sanh khinh mạn” (A Nan thưa: - Danh hiệu của vị Bồ Tát ấy như thế nào mà có thể khéo tuyên nói đà-la-ni như thế ấy? Phật đáp: - Vị Bồ Tát này tên là Quán Thế Âm, sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn. Trong vô lượng kiếp về quá khứ, Ngài đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Do đại bi nguyện lực, vì muốn phát khởi hết thảy các Bồ Tát, an lạc thành thục các chúng sanh, nên thị hiện làm Bồ Tát. Đại chúng và các vị Bồ Tát các ông hãy đều nên cung kính Ngài, chớ sanh lòng khinh mạn). Đức Phật lại dạy: “Nhữ đại từ bi, an lạc chúng sanh, dục thuyết thần chú, Như Lai tùy hỉ” (Ông đại từ bi, an lạc chúng sanh, muốn nói thần chú, Như Lai tùy hỷ).


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Nov 2015, 10:32 PM | Message # 9
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
1. Ngoài những thứ tối thắng trong ba đời ấy, Ngài còn diễn nói mười lăm loại chân ngôn, hết thảy tùy tâm, nêu cặn kẽ bốn mươi tám ấn pháp.

2. Trên đảnh Tu Di, thân hóa hiện minh phi[24]. Cõi trời Tịnh Cư, mắt xuất hiện diệu nữ.

3. Bao trùm Liên Hoa Bộ, có chú tâm bảy chữ. Khoác lầm tràng hoa, được Phật thỉnh ba lượt.

4. Nhận lời Kim Cang cầu khẩn, từng hiện thân Diệp Y. Trọn khắp pháp giới được xông, hương ấn càng phong phú.

5. Trang nghiêm địa ngục, nói nhân duyên nhiều kiếp. Đảnh sen bí mật, giống Như Ý thần châu.

6. Đảnh hiện La Sát, hiệu Nhất Kế Tôn. Đầu hiện Mã Vương, ấn tôn Thiên Chuyển.

7. Câu tâm chú sáu chữ, Như Lai còn phải tìm cầu. Đà La Ni ngàn tay, người dịch từng mong thánh chứng.

8. Thanh tịnh phụng thỉnh, trời lạy Bạch Y. Viên mãn từ bi, tướng tôn Thanh Cảnh.

9. Nói danh hiệu Như Lai, phá ác, sanh thiên. Tu quán hạnh Bồ Tát, đem thân làm Phật.

10. Vô biên thần chú như vậy, diệu dung thật nhiều.

11. Không gì chẳng nhằm đặt các con ngồi yên trên xe, chỉ đường phẳng phiu dẫn đến đạo tràng.

12. Làm Phật sự lớn lao, phù hợp lời Bảo Tạng dự ghi. Viên mãn quả Bồ Đề, đáng hưởng Phật Thích Ca huyền ký
(đoạn này ca tụng những bộ chú kinh khác)



(1) Trong Kim Cang Khủng Bố Tập Hội Phương Quảng Nghi Quỹ Quán Tự Tại Bồ Tát Tam Thế Tối Thắng Tâm Minh Vương Kinh, Đại Sĩ nói tâm chân ngôn và những bài chân ngôn đầu, đảnh, nhãn[25] v.v..., tổng cộng là mười lăm chân ngôn. Trong Quán Tự Tại Bồ Tát Đát Phạ Đa Lị Tùy Tâm Đà La Ni Kinh, Đại Sĩ nói thần chú và bốn mươi tám ấn pháp.

(2) Theo Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh, đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai lên đảnh núi Tu Di, nhập các tam-muội, xuất sanh mười sáu Kim Cang đại Bồ Tát[26] và bốn vị Như Lai là A Súc, Bảo Sanh, Quán Tự Tại Vương, Bất Không Thành Tựu. Mỗi vị Như Lai ấy cũng hiện ra các hình tượng Kim Cang. Đức Tỳ Lô Giá Na lại nhập bốn môn tam-muội, xuất sanh bốn vị đại minh phi. Bốn vị Như Lai cũng xuất sanh bốn vị đại minh phi[27].

Theo Đại Phương Quảng Mạn Thù Thất Lợi Kinh và Quán Tự Tại Bồ Tát Nghi Quỹ Kinh, đức Thế Tôn xem khắp Tịnh Cư thiên cung, tán thán Quán Tự Tại Bồ Tát, thọ ký Ngài sẽ thành Phật. Đại Sĩ trở về chỗ ngồi, nhập Phổ Quang Minh Đa La tam-muội, từ tròng mắt phải phóng ra ánh sáng, hiện thành diệu nữ[28]. [Vị diệu nữ ấy] bảo khắp các chúng sanh: “Thề vượt khổ hải, dạo khắp các thế giới”, trở về chỗ Phật, lễ Quán Tự Tại, cầm hoa sen xanh, đứng chiêm ngưỡng.

(3) Theo A Lỗ Lực Kinh, Quán Thế Âm Bồ Tát nói [chân ngôn]: “Án, a lỗ lực ca sa phạ ha” (Aum, arolik, svaha). Đây chính là tâm chú của hết thảy [những thần chú] trong Liên Hoa Bộ. Người trì tâm chú này sẽ sanh về Cực Lạc.

Theo Quảng Đại Liên Hoa Trang Nghiêm Mạn Noa La Diệt Nhất Thiết Tội Chú Kinh, do quốc vương Phạm Thọ ngẫu nhiên đến chùa, vị Tăng trong chùa dùng tràng hoa đang khoác trên đảnh tượng Phật để đón vua. Vua đeo vào liền bị nhức đầu, em gái vua khuyên hãy đến gặp Phật. Phật nói sử dụng vật của thường trụ thì quả báo là quyết định đọa địa ngục. Vua lại hỏi phương cách cứu vớt như thế nào, Phật bèn ba lần thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát nói thần chú.

(4) Theo Diệp Y[29] Quán Tự Tại Kinh, đức Phật ở tại thế giới Cực Lạc, ngài Kim Cang Thủ thỉnh Quán Tự Tại Bồ Tát hãy nói Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát Chú và các phương pháp trì tụng, cầu nguyện.

Trong Tục Tạng của Nhật Bản, có Quán Tự Tại Bồ Tát Đại Bi Trí Ấn Châu Biến Pháp Giới Lợi Ích Chúng Sanh Huân Chân Như Diệu Hương Ấn Pháp (một quyển) do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.

(5) Theo Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh, từ dưới địa ngục hiện ra đại quang minh chiếu khắp nước Xá Vệ, hiện sự đại trang nghiêm. Trừ Cái Chướng Bồ Tát hỏi là nhân duyên gì, Phật bèn vì Ngài nói những chuyện cứu khổ trong nhiều kiếp của Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát.

Trong Như Ý Luân Đà La Ni Kinh, Quán Tự Tại Bồ Tát bạch Phật: “Con có Đại Liên Hoa Phong Kim Cang Bí Mật Như Ý Luân Chú, như châu Ma Ni, khiến cho chúng sanh được mãn sở nguyện”.

(6) Theo Nhất Kế Tôn Đà La Ni Kinh, Quán Tự Tại Bồ Tát từ trên đảnh hóa ra một La Sát vương[30], nói chú hàng phục các quỷ thần ác.

Trong Đà La Ni Tập Kinh có pháp ấn chú của Mã Đầu Quán Âm[31] và tâm ấn chú của Thiên Chuyển Quán Âm[32].

(7) Theo [Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh], hết thảy Như Lai chẳng biết tìm đại minh chú sáu chữ của đức Quán Âm ở đâu, bèn trải qua bao kiếp tìm cầu bài chú sáu chữ ấy. Đấy chính là câu chú “Án, ma-ni bát-di hồng” (Aum, mani padme hum).

Theo Thiên Nhãn Thiên Tý Quán Thế Âm Bồ Tát Thần Chú Kinh thì [bài chú nói trong kinh ấy] có thể diệt tội, trị bệnh, thỏa mãn những điều mong cầu, khác với Đại Bi Tâm Chú. Ngài Trí Thông đời Đường dịch xong kinh ấy, khẩn cầu Bồ Tát ứng hiện, liền cảm được Bồ Tát chứng minh.

(8) Trong Thanh Tịnh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Hiền Đà La Ni Kinh, Đại Sĩ nói chú Phụng Thỉnh, chú Kết Giới, chú Căn Bản. Có thiên nữ mặc áo trắng, quỳ hướng về Bồ Tát.

Trong Tục Tạng của Nhật Bản có Đại Từ Bi Viên Mãn Vô Ngại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Chú Ấn, một quyển, do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.

(9) Theo Nhất Thiết Như Lai Danh Hiệu Chú Kinh, lúc Phật mới thành đạo, ngài Quán Tự Tại nói chú này, người thọ trì chẳng đọa ác đạo, sanh lên trời, thành Phật.

Theo Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Tâm Chân Ngôn Du Già Quán Hạnh Nghi Quỹ; trước hết, hãy quán thân của Bổn Tôn là Quán Tự Tại cho được thành tựu, tu các chú, ấn. Kế đó, quán tưởng cách sắp xếp các chủng tự trong thần chú [trên thân hành giả] (Bố Tự Pháp) khiến cho thân mình và thân của Bổn Tôn như hình hiện bóng trong gương, chẳng một, chẳng khác.

(10) Lăng Nghiêm Kinh: “Ngã năng hiện chúng đa diệu dung, năng thuyết vô biên thần chú” (Ta có thể hiện rất nhiều thân tướng nhiệm mầu, nói vô biên thần chú).

(11) Lời tựa ở phía sau bộ Bất Không Quyến Sách Chú Kinh có đoạn: “Đây chính là lời chí lý về Chủng Trí trong ba đời, là chỗ tiến nhập cùng cực hòng chứng Chân trong Thập Địa, chuyển các con lên ngồi yên trên xe, chỉ đường phẳng phiu dẫn đến đạo tràng”.

(12) Trong kinh Bi Hoa, Bảo Tạng Phật thọ ký [cho Quán Thế Âm Bồ Tát]: “Nhữ vi Bồ Tát thời, dĩ năng đại tác Phật sự” (Trong lúc làm Bồ Tát, ông đã có thể thực hiện Phật sự lớn lao).

Lăng Nghiêm Kinh: “Viên mãn Bồ Đề, quy vô sở đắc” (Viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ không có gì để đạt được).



1. Do vậy, trong vườn tiên nhân thành Ba La Nại, Hoa Đức Tạng Bồ Tát thưa rằng:

2. Muốn phổ độ chúng sanh, hãy nên đắc Như Huyễn tam-muội.

3. Sao buổi sớm lưa thưa, cảm khái Đông Độ khó bề gặp gỡ, khảy ngón tay vượt thoát, ngưỡng mộ sự vô lượng cõi Tây Phương.

4. Cầu Thế Tôn phóng bạch hào quang, tiến thẳng về An Lạc. Đại Sĩ hiện thân tướng tử kim, sang trụ cõi Diêm Phù
(Từ đây trở đi ca tụng kinh Thọ Ký, gồm ba đoạn)



(1 & 2) Theo Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh[33], Phật ở tại Vườn Nai (Lộc Uyển) của tiên nhân trong thành Ba La Nại, Hoa Đức Tạng Bồ Tát bạch Phật: - Làm thế nào để được bất thoái nơi Bồ Đề và năm thứ thần thông, đắc Như Huyễn tam-muội, có thể hóa hiện thân hình tùy theo từng loại chúng sanh hòng thành thục thiện căn cho họ, vì họ thuyết pháp khiến họ đắc Bồ Đề?

(3) Kinh chép: “Ư thử chúng trung, hữu đắc thị tam muội giả hồ? Phật ngôn: - Di Lặc, Văn Thù đẳng, lục thập Chánh Sĩ. Tha phương hữu Bồ Tát thành tựu như thị tam-muội giả hồ? Phật ngôn: - Tây Phương An Lạc thế giới, Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế đắc thị tam-muội. Phục thứ, nhược Bồ Tát tùng bỉ Chánh Sĩ, thất nhật thất dạ, thính thọ thị pháp, tiện đắc Như Huyễn tam-muội. Đức Tạng ngôn: - Bỉ quốc ưng hữu vô lượng Bồ Tát đắc thị tam-muội. Phật ngôn: - Như thị, như thị, hữu vô lượng A-tăng-kỳ Bồ Tát đắc thị tam-muội” (Trong đại chúng đây, có vị nào đắc tam-muội ấy hay không? Phật nói: “Di Lặc, Văn Thù, sáu mươi vị Chánh Sĩ”. Phương khác có Bồ Tát thành tựu tam-muội như thế hay chăng? Phật nói: “Tây Phương An Lạc thế giới có Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế đắc tam-muội ấy. Lại nữa, nếu có Bồ Tát trong bảy ngày bảy đêm nghe nhận pháp này từ vị Chánh Sĩ ấy thì sẽ đắc Như Huyễn tam-muội”. Đức Tạng nói: “Trong cõi ấy phải có vô lượng Bồ Tát đắc tam-muội này”. Phật nói: “Đúng như vậy, đúng như thế, có vô lượng A-tăng-kỳ Bồ Tát đắc tam-muội này”).

(4) Kinh chép: “Hoa Đức Tạng bạch Phật ngôn: - Nguyện linh bỉ Chánh Sĩ, chí thử thế giới. Thế Tôn tức phóng mi gian Bạch Hào tướng quang, chí An Lạc thế giới” (Hoa Đức Tạng bạch Phật rằng: - Xin hãy làm cho vị Chánh Sĩ ấy đến thế giới này. Thế Tôn liền phóng quang minh từ tướng Bạch Hào giữa chặng mày chiếu đến thế giới An Lạc). Quán Kinh: “Quán Thế Âm Bồ Tát thân tử kim sắc” (Quán Thế Âm Bồ Tát thân màu vàng tía).



1. Đại Sĩ liền cung kính bạch A Di Đà Phật, dẫn ngài Thế Chí đi theo.

2. Suất lãnh bốn mươi ức quyến thuộc quy y, hóa hiện đài báu lớn mười hai do-tuần.

3. Bảy tầng trân bảo, trọn đủ trang nghiêm, hoa sen bốn màu, đua chen tỏa sáng.

4. Tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, chia nhau cầm quả, nâng hoa. Như Lai ba mươi hai tướng, dâng bình, hiến hương cúng dường.

5. Ao báu, cây báu, gió Cực Lạc nghiễm nhiên. Diệu nhạc, diệu âm, trời Dạ Ma diễn tấu đâu bằng!

6. Chẳng đi mà đến, phô vẻ diệu dung thù đặc. Vô vi mà thành, hiện trang nghiêm nơi đời trược.

7. Nhất niệm, nhất thời, chiếu khắp Phật hội, vô pháp, vô đắc, thọ ký Bồ Đề.



(1 & 2) Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh: “Nhĩ thời, Quán Thế Âm cập Đắc Đại Thế, bạch bỉ Phật ngôn: ‘Ngã đẳng dục nghệ Sa Bà thế giới, lễ bái, cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật’. Phục cáo tứ thập ức Bồ Tát quyến thuộc cộng vãng thính pháp. Dĩ thần thông lực, các vị quyến thuộc, hóa tác tứ thập ức trang nghiêm bảo đài, tung quảng thập nhị do-tuần” (Khi ấy, Quán Thế Âm và Đắc Đại Thế Bồ Tát bạch với đức Phật cõi ấy rằng: “Chúng con muốn sang thế giới Sa Bà lễ bái, cúng dường Thích Ca Mâu Ni”. Lại bảo bốn mươi ức Bồ Tát quyến thuộc hãy cùng đi nghe pháp. Ngài dùng sức thần thông, vì mỗi một quyến thuộc, hóa ra bốn mươi ức đài báu trang nghiêm, mỗi đài có kích thước là mười hai do-tuần).

(3) Các đài báu ấy do vàng, bạc, lưu ly, xích châu, xa cừ, mã não hợp thành. Lại dùng xích châu, chiên đàn, các thứ hoa sen xanh, đỏ, vàng, trắng để trang nghiêm. Vãng Sanh Luận: “Gió nhẹ lay hoa lá, ánh sáng chen lẫn chuyển biến”.

(4) Trên đài lại hóa ra tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, hoặc cầm hoa sen bốn màu đứng nghiễm nhiên, hoặc cầm hết thảy hoa quả đứng nghiễm nhiên. Trên đài có tòa sư tử trang nghiêm bằng các báu, trên mỗi tòa đều có hóa Phật [trọn đủ] ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo để tự trang nghiêm thân. Mỗi đài lại có tám vạn bốn ngàn bình bằng các thứ báu nhiệm mầu, đựng đầy hương bột bày ở trên đó.

(5) Trên mỗi đài đều có tám vạn bốn ngàn các cây báu đẹp đẽ, giữa các cây báu là ao bảy báu, nước tám công đức đầy ắp trong đó. Các hoa sen bằng nhiều chất báu, màu sắc, ánh sáng chiếu rực. Gió nhẹ lay động các hàng cây báu, phát ra âm thanh vi diệu. Âm thanh ấy hòa nhã, vượt xa nhạc trời.

(6) Kinh chép: “Nhĩ thời, Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế, dữ kỳ quyến thuộc bát thập ức chúng Bồ Tát, như lực sĩ khuất thân tý khoảnh, tùng bỉ quốc một, chí thử thế giới. Dĩ thần thông lực, linh thử thế giới địa bình như thủy. Dữ bát thập ức Bồ Tát tiền hậu vi nhiễu, dĩ đại công đức trang nghiêm thành tựu, đoan nghiêm thù đặc, vô khả vi dụ” (Khi ấy, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với quyến thuộc là tám mươi ức[34] các vị Bồ Tát, như trong khoảng lực sĩ co duỗi cánh tay, biến mất nơi nước kia, đến thế giới này. Do sức thần thông khiến cho thế giới này mặt đất bằng phẳng như nước. [Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát] cùng với tám mươi ức Bồ Tát vây quanh trước sau, dùng đại công đức trang nghiêm thành tựu, đoan nghiêm thù thắng đặc biệt không thể tỷ dụ được).

Phần Hệ Từ Truyện trong sách Châu Dịch lại viết: “Vô tật nhi tốc, bất hành nhi chí” (Chẳng nhanh mà lẹ, chẳng đi mà đến). Sách Trung Dung có câu: “Bất kiến nhi chương, vô động nhi biến, vô vi nhi thành” (Chẳng thấy mà hiện bày, chẳng động mà biến, không làm mà thành).

(7) Vãng Sanh Luận: “Ánh sáng vô cấu trang nghiêm, trong một niệm và một thời chiếu khắp các hội Phật, lợi ích các chúng sanh”.

Kim Cang Kinh: “Dĩ thật vô hữu pháp, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thị cố, Nhiên Đăng Phật dữ ngã thọ ký, tác thị ngôn: - Nhữ ư lai thế, đương đắc tác Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni” (Do thật sự không có pháp để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên Nhiên Đăng Phật thọ ký cho ta, nói như thế này: - Trong đời mai sau, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni)



1. Lúc đó, Thế Tôn truy từ nhân quá khứ, nhằm chỉ dạy quả vị lai.

2. Trong cõi Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm, có danh hiệu tôn quý là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương.

3. Cõi An Lạc Đức Tụ khó thể sánh bằng. Hàng Duyên Giác, Thanh Văn thảy đều lui gót.

4. Cõi chủng tánh Đại Thừa, vĩnh viễn dứt gièm báng. Thọ mạng thuận lòng muốn, há còn luận thời kiếp? Ấy là Đại Sĩ trong khi tu hạnh Bồ Tát, thệ nguyện cực sâu, nên lúc thành Như Lai, sự trang nghiêm hết sức tuyệt diệu.




(1 & 2) Về nhân duyên trong thuở xưa, xin xem trong phần trước. Quả vị lai là theo như Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh: Trong kiếp lâu xa chẳng thể tính toán trong tương lai, khi Chánh Pháp của A Di Đà Như Lai diệt, Quán Thế Âm Bồ Tát thành Đẳng Chánh Giác, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, cõi nước tên là Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm. Sự trang nghiêm trong cõi nước ấy, dẫu chư Phật giảng nói trong hằng sa kiếp vẫn chẳng thể hết được!

(3) An Lạc Đức Tụ chính là cõi nước của Kim Quang Sư Tử Du Hý Phật. Kinh chép: “Kim Quang Sư Tử quốc độ trang nghiêm, phương ư Công Đức Sơn Vương quốc độ, toán số sở bất năng cập” (Đem so sự trang nghiêm trong cõi nước của Kim Quang Sư Tử Phật với cõi Công Đức Sơn Vương Phật thì dùng toán số cũng không thể sánh bằng được). Kinh còn nói: “Kỳ Phật quốc độ, vô hữu Thanh Văn, Duyên Giác chi danh; thuần chư Bồ Tát sung mãn kỳ quốc” (Cõi nước Phật ấy không có danh từ Thanh Văn, Duyên Giác, thuần là các Bồ Tát đầy ắp trong nước ấy). Trong Pháp Hoa Kinh có đoạn văn nói năm ngàn vị [Thanh Văn, Duyên Giác] rời chỗ rút lui [khi đức Phật chấp nhận lời thỉnh cầu của ngài Xá Lợi Phật giảng về đạo Nhất Thừa].

(4) Vãng Sanh Luận: “Cõi căn tánh Đại Thừa bình đẳng, không có danh từ đáng bị chê gièm như nữ nhân và thiếu căn, chủng tánh Nhị Thừa chẳng thể sanh về cõi ấy”. Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh: “Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, tùy kỳ thọ mạng” (Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, thọ mạng tùy theo ý muốn).



Hơn nữa, Như Lai tại thế, nhờ vào Phật lực gia trì. Đức Phật nhập Niết Bàn, cảm thương quần sanh, truyền trao chỗ quy ngưỡng, tựa nương. Lại mở môn quán tưởng, khéo nói pháp tư duy (Từ đây trở đi là ca tụng phần kinh văn giảng về phép quán hoa tòa và quán tưởng thân tướng Đại Sĩ trong Quán Kinh, tổng cộng bốn đoạn).



Trong Quán Kinh, bà Vy Đề Hy bạch Phật: “Như ngã kim giả, dĩ Phật lực cố, kiến bỉ quốc độ. Nhược Phật diệt hậu, chư chúng sanh đẳng, trược ác bất thiện, ngũ khổ sở bức, vân hà đắc kiến A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới” (Như con hiện nay do nhờ Phật lực, được thấy cõi nước kia. Nếu sau khi Phật diệt độ, các hàng chúng sanh trược ác chẳng lành, bị năm nỗi khổ bức bách, phải làm sao để thấy thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật?). Lại nói: “Duy nguyện Thế Tôn, giáo ngã tư duy” (Kính xin đức Thế Tôn hãy dạy con cách tư duy).



1. Rộng bày y báo, chánh báo, đã thấy Di Đà, quán trọn sắc thân, lại nghĩ tới Bồ Tát.

2. Đứng bên trái Như Lai, tưởng đặt tòa Bồ Tát.

3. Sen hiện tám vạn bốn ngàn cánh, ánh sáng báu tỏa ngời, rộng hai trăm năm mươi do-tuần, những đường gân trên cánh hoa hệt như nét vẽ cõi trời.

4. Trăm ức châu vương, phóng quang như lọng. Tám vạn kim bảo, trang hoàng làm đài.

5. Trên đảnh Tu Di, bảo tràng cao lớn khó bề chiêm ngưỡng . Cung trời Dạ Ma, sánh với màn che [trên tràng] đành kém trang nghiêm.

6. Bảo châu lóa mắt, có vô lượng quang minh. Mây rợp sắc vàng, làm Phật sự mười phương.




(1) Trong Quán Kinh, phép quán thứ bảy là Hoa Tòa Tưởng, phép quán thứ tám là Tượng Tưởng, phép quán thứ chín là Biến Quán Nhất Thiết Sắc Thân Tướng (quán trọn khắp hết thảy tướng nơi sắc thân), phép quán thứ mười là quán tướng sắc thân chân thật của Quán Thế Âm Bồ Tát.

(2) Kinh chép: “Phục đương cánh tác nhất đại liên hoa, tại Phật tả biên, như tiền liên hoa, đẳng vô hữu dị. Tưởng nhất Quán Thế Âm Bồ Tát tượng, tọa tả hoa tòa, diệc tác kim sắc, như tiền vô dị” (Lại nên tưởng một hoa sen lớn ở bên trái đức Phật, giống hệt như hoa sen được nói trong phần trước (tức là phần nói về tòa sen của A Di Đà Phật), trọn chẳng khác gì. Tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi trên tòa sen bên trái, cũng là sắc vàng giống như trong phần trước chẳng khác).

(3 & 4) Kinh chép: “Ư thất bảo trì thượng, tác liên hoa tưởng, linh kỳ liên hoa, nhất nhất diệp thượng, tác bách bảo sắc, hữu bát vạn tứ thiên mạch, do như thiên họa. Hoa diệp tiểu giả, tung quảng nhị bách ngũ thập do-tuần. Như thị liên hoa, hữu bát vạn tứ thiên diệp. Nhất nhất diệp gian, hữu bách ức Ma Ni châu vương, dĩ vi ánh sức. Nhất nhất châu, phóng thiên quang minh. Kỳ quang như cái, thất bảo hợp thành, biến phú địa thượng. Thích Ca Tỳ Lăng Già bảo, dĩ vi kỳ đài. Đài hữu bát vạn Kim Cang Chân Thúc Ca bảo, diệu chân châu võng, dĩ vi hiệu sức” (Trên ao bảy báu, tưởng có hoa sen. Tưởng trên mỗi cánh của đóa sen ấy đều có màu sắc của trăm thứ báu, có tám vạn bốn ngàn đường gân giống như nét vẽ cõi trời. Hoa sen như vậy có tám vạn bốn ngàn cánh. Trong mỗi một cánh có trăm ức Ma Ni châu vương trang hoàng chói ngời. Mỗi một viên châu tỏa ngàn quang minh. Quang minh ấy như cái lọng do bảy báu hợp thành, che khắp trên mặt đất. Chất báu Thích Ca Tỳ Lăng Già dùng làm đài hoa. Trên đài có tám vạn báu Kim Cang Chân Thúc Ca, lưới kết bằng chân châu đẹp đẽ để trang hoàng). Thích Ca Tỳ Lăng Già (Sakrā-bhilagna-mani-ratna), cõi này dịch là Năng Thắng. Chân Thúc Ca (Kimśuka) cõi này dịch là Xích Sắc.

(5 & 6) Trên đài có bốn trụ tràng báu, như trăm ngàn vạn ức núi Tu Di. Trên tràng treo màn báu như cung trời Dạ Ma. Năm trăm ức bảo châu vi diệu trang hoàng chói ngời. Mỗi viên châu có tám vạn bốn ngàn tia sáng, mỗi tia sáng bao gồm tám vạn bốn ngàn thứ sắc vàng ròng khác nhau. Mỗi một sắc vàng chiếu khắp cõi báu, chỗ nào cũng biến hóa thành đài Kim Cang, thành lưới chân châu, thành mây các loại hoa, thực hiện Phật sự trong mười phương.



1. Mặt Đại Sĩ như vàng Diêm Phù Đàn, đảnh đầu lộ nhục kế.

2. Thân sắc vàng tía, hiện bóng chúng sanh trong năm đường. Mão trời Ma Ni, hóa Phật cao ngàn dặm đứng trên đó.

3. Trong viên quang, chư thánh giáng lâm, nơi hào tướng bảy báu gồm đủ.

4. Lưu xuất vô lượng Như Lai, trọn khắp mười phương thế giới.

5. Cánh tay như sen thắm, bàn tay dường hoa bình[35].

6. Quang minh, anh lạc, hiện khắp trang nghiêm, nét ấn nhu nhuyễn, phóng quang chuyển vần.

7. Tuy đủ ba mươi hai tướng đại nhân, đảnh đầu vẫn kém Thế Tôn, dạo bước năm trăm ức đài đỡ gót, khác gì đức Phật.

8. Chỉ nghe danh hiệu, được phước há biết bến bờ. Nếu được nhìn kỹ, trừ chướng chẳng còn dư sót.




(1) Theo Quán Kinh, mặt Bồ Tát như sắc vàng Diêm Phù Đàn, trên đảnh có nhục kế.

(2) Kinh chép: “Thân tử kim sắc, cử thân quang trung. Ngũ đạo chúng sanh, nhất thiết sắc tướng, giai ư trung hiện. Đảnh thượng Tỳ Lăng Già Ma Ni bảo, dĩ vi thiên quan. Quan trung nhất lập hóa Phật, cao nhị thập ngũ do-tuần” (Thân màu vàng tía, khắp thân phủ trong ánh sáng. Hết thảy sắc tướng của chúng sanh trong năm đường đều hiện trong quang minh ấy. Trên đảnh có mão trời bằng chất báu Tỳ Lăng Già Ma Ni, trong mão có một vị hóa Phật đứng, cao hai mươi lăm do-tuần). Một do-tuần bằng bốn mươi dặm cõi này.

(3 & 4) Quán Kinh: “Đảnh hữu viên quang, diện các bách thiên do-tuần. Viên quang trung hữu ngũ bách hóa Phật, nhất nhất hóa Phật, hữu ngũ bách hóa Bồ Tát, vô lượng chư thiên, dĩ vi thị giả. Hựu my gian hào tướng, bị thất bảo sắc, lưu xuất bát vạn tứ thiên chủng quang minh. Nhất nhất quang minh, hữu vô lượng vô số hóa Phật. Nhất nhất hóa Phật, hữu vô số hóa Bồ Tát, dĩ vi thị giả, biến hiện tự tại mãn thập phương giới” (Trên đảnh có viên quang, mỗi phía chiếu xa tới trăm ngàn do-tuần. Trong viên quang có năm trăm hóa Phật, mỗi một hóa Phật có năm trăm hóa Bồ Tát và vô lượng chư thiên làm thị giả. Lại nữa, tướng bạch hào giữa hai mày có đủ màu của bảy báu, tỏa ra tám vạn bốn ngàn thứ quang minh. Trong mỗi một quang minh có vô lượng vô số hóa Phật. Mỗi một hóa Phật, có vô số hóa Bồ Tát làm thị giả, biến hiện tự tại trọn khắp các cõi trong mười phương). Trong kinh Lăng Nghiêm, Di Lặc Bồ Tát nói: “Thức tánh lưu xuất vô lượng Như Lai”.

(5 & 6) Quán Kinh: “Tý như hồng liên hoa sắc, hữu bát thập ức vi diệu quang minh, dĩ vi anh lạc. Kỳ anh lạc trung, phổ hiện nhất thiết chư trang nghiêm sự. Thủ chưởng tác ngũ bách ức tạp liên hoa sắc. Thủ thập chỉ đoan, nhất nhất hữu bách vạn tứ thiên hoạch, do như ấn văn. Nhất nhất hoạch, hữu bát vạn tứ thiên sắc. Nhất nhất sắc, hữu bát vạn tứ thiên quang. Kỳ quang nhu nhuyễn, phổ chiếu nhất thiết” (Cánh tay như màu hoa sen hồng, có tám mươi ức quang minh vi diệu để làm anh lạc. Trong các chuỗi anh lạc, hiện khắp hết thảy các sự trang nghiêm. Lòng bàn tay có màu của năm trăm ức hoa sen nhiều màu. Mười đầu ngón tay, mỗi ngón đều có tám vạn bốn ngàn đường vân giống như nét khắc trên ấn. Mỗi một đường vân có tám vạn bốn ngàn sắc. Mỗi một sắc có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Ánh sáng ấy mềm mại, chiếu khắp hết thảy). Vãng Sanh Luận lại ghi: “Mềm mại xoay tròn chung quanh”. Lăng Nghiêm Kinh: “Như Lai tùng luân chưởng trung, phi nhất bảo quang, tại A Nan hữu, hựu phóng nhất quang, tại A Nan tả” (Từ bàn tay có hình bánh xe[36] của Như Lai tỏa ra một tia sáng báu chiếu tới bên phải A Nan, lại tỏa ra một tia sáng chiếu về bên trái của A Nan).

(7) Theo Quán Kinh, các thân tướng khác [của Quán Thế Âm Bồ Tát] đều có trọn đủ các thứ hảo, giống như Phật chẳng khác; chỉ có nhục kế trên đảnh và Vô Kiến Đảnh Tướng là chẳng bằng Thế Tôn. Kinh còn nói khi Ngài giở chân lên, dưới chân có tướng bánh xe ngàn căm, tự nhiên hóa thành năm trăm ức đài quang minh.

(8) Quán Kinh: “Như thử Bồ Tát, đản văn kỳ danh, hoạch vô lượng phước, hà huống đế quán, tác thị quán giả, tịnh trừ nghiệp chướng, trừ vô số kiếp sanh tử chi tội” (Vị Bồ Tát như vậy, chỉ nghe danh hiệu Ngài sẽ được vô lượng phước, huống là quán sát kỹ. Người quán tưởng Ngài như vậy sẽ trừ sạch nghiệp chướng, trừ tội trong vô số kiếp sanh tử).



1. Là vì: Chúng sanh dễ độ, chỉ vọng tưởng khó trừ. Phật pháp vô biên, tại chế tâm một chỗ.

2. Nhưng khởi, diệt không ngừng, quả thật do tâm mắt lỗi lầm.

3. Muốn khuất phục Kiến Hoặc, Tư Hoặc, không gì bằng đổ công quán tưởng.

4. Tuy Dụng quy về ý thức, tâm sanh tử vẫn hệt như xưa, huân nhập A Lại Da Thức, có thể chấp trì thành chủng tử.

5. Hệt như ở chung quanh, dường thấy nơi canh, tường.

6. Chẳng phải là chí thành cảm thánh, thì cũng là tâm này làm Phật!




(1) Lục Tổ Đàn Kinh: “Nhân tánh bổn tịnh, do vọng niệm cố, cái phú Chân Như, đản vô vọng tưởng, tánh tự thanh tịnh” (Tánh của con người vốn tịnh, do vọng niệm che lấp Chân Như. Chỉ cần không có vọng tưởng thì tánh tự thanh tịnh). Trong Tứ Hoằng Thệ có “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Di Giáo Kinh: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” (Chế ngự tâm vào một chỗ thì không chuyện gì chẳng hoàn thành).

(2) Lăng Nghiêm Kinh: “Sử nhữ lưu chuyển, tâm mục vi cữu” (Khiến cho ông bị lưu chuyển là do lỗi của tâm và mắt).

(3) Niệm Phật có bốn cách: Trì danh, quán tượng, quán tưởng và Thật Tướng.

(4) Sách Đại Thừa Chỉ Quán giảng: “Lấy ý thức nương tựa cái tâm này để tu Chỉ Quán, niệm niệm huân tập bổn thức, sức giải tánh được tăng thêm, ý thức càng thêm sáng suốt, nhạy bén. Huân tập cái tâm lâu ngày, cho nên giải tánh viên minh, soi rõ cái Thể của chính mình chỉ là Chân và Tịch, ý thức liền dứt bặt”. Bổn thức chính là A Lại Da Chủng Tử Thức.

(5) Sách Trung Dung có câu: “Như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu” (Như là ở trên đó, như là ở hai bên đó). Trong tiểu truyện của ông Lý Cố đời Hậu Hán có nói vua Thuấn khi ăn thì thấy vua Nghiêu hiện trong canh, khi ngồi thì thấy vua Nghiêu hiện nơi tường.

(6) Quán Kinh: “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật” (Tâm này làm Phật, tâm này là Phật). Sách Đại Thừa Chỉ Quán có đoạn viết: “Nhờ vào tưởng để huân tập cái tâm thì chư Phật ở ngay trong tâm đều hiển hiện. Có thể thấy rằng đức Phật được thấy đó chính là vị Phật chân thật xuất thế. Hết thảy chư Phật là do tâm tạo ra”.



1. Vàng, bạc, cùng các báu, nào phải châu trong búi tóc; sữa, lạc, hai thứ tô, hương vị vẫn kém Đề Hồ.

2. Cảm khái diệu quán khó thành, chẳng gì bằng lễ kính. Than thở tụng kinh bị chuyển, không chi hơn trì danh.

3. Giơ tay, cúi đầu đều thành Phật đạo. Danh tự rốt ráo, Nhị Tức viên dung. Pháp giản dị nhưng cao rộng, môn phổ cập càng nhiệm mầu
(Đoạn này ca tụng sự lễ kính, trì danh. Dựa theo sự phán định của ngài Thiên Thai đối với phẩm Phổ Môn thì: “Xưng danh trừ được bảy tai nạn, lễ bái mãn hai nguyện”. Trong Vãng Sanh Luận, ngài Thiên Thân đưa lễ kính vào môn thứ nhất, trì danh vào môn thứ ba. Vì thế, trước khi ca tụng kinh Pháp Hoa, đem lời khuyên niệm đặt trước phần ca tụng).



(1) Phẩm An Lạc Hạnh kinh Pháp Hoa có đoạn: “Như Chuyển Luân Vương, kiến binh chúng chiến hữu công giả, tùy công thưởng tứ, dữ chủng chủng trân bảo kim ngân đẳng, duy kế trung minh châu, bất dĩ dữ chi” (Như vua Chuyển Luân thấy các quân lính chiến đấu có công bèn tùy theo công mà ban thưởng, ban cho những thứ như vật quý báu, vàng, bạc v.v... chỉ có viên minh châu trong búi tóc là chẳng ban cho).

Ngài Thiên Thai phán giáo, đem năm vị đối ứng với năm thời: Thứ nhất là kinh Hoa Nghiêm, giống như từ bò sanh ra sữa. Tiếp đó là Tam Tạng Giáo (Tạng Giáo) chuyển phàm thành thánh, giống như chuyển sữa thành lạc. Kế đến là thời Phương Đẳng, bài xích, quở trách Thanh Văn, hạ thấp Tiểu Thừa, ngưỡng mộ Đại Thừa, như chuyển lạc thành sanh tô. Tiếp đó là thời Bát Nhã, vâng lời Phật sắc truyền, lần lượt dạy nhau, tâm dần dần thông thái, như chuyển sanh tô thành thục tô. Kế đó là thời Pháp Hoa, được thọ ký thành Phật, như chuyển thục tô thành Đề Hồ[37].

(2) Ngài Thiện Đạo nói: “Chúng sanh chướng nặng, cảnh tế, tâm thô, quán khó thành tựu”. Đàn Kinh: “Tâm mê, Pháp Hoa chuyển; tâm ngộ, chuyển Pháp Hoa. Tụng kinh lâu chẳng hiểu, bèn đối với nghĩa kinh, trở thành kẻ oán cừu”.

(3) Pháp Hoa Kinh: “Hoặc hữu nhân lễ bái, hoặc phục đản hiệp chưởng, nãi chí cử nhất thủ, hoặc phục tiểu đê đầu. Dĩ thử cúng dường tượng, tiệm kiến vô lượng Phật, tự thành vô thượng đạo” (Hoặc có người lễ bái, hoặc lại chỉ chắp tay, thậm chí giơ một tay, hoặc lại khẽ cúi đầu. Dùng đấy cúng dường tượng, dần thấy vô lượng Phật, tự thành đạo vô thượng). Kinh còn chép: “Nhược nhân tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng Nam Mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo” (Nếu người tâm tán loạn, đi vào trong tháp miếu, niệm Mô Phật một tiếng, đều đã thành Phật đạo).

Ngài Thiên Thai dùng Lục Tức để luận Phật:

1) Lý tức

2) Danh tự tức

3) Quán hạnh tức

4) Tương tự tức

5) Phần chứng tức

6) Cứu cánh tức.

Nhưng Hàng Bố[38] chẳng ngại Viên Dung, Viên Dung chẳng ngại Hàng Bố. [Nhị Tức] được nói ở đây chính là Danh Tự Tức và Phần Chứng Tức, Nhị Tức dung thông, chẳng nói đến Lý Tức, bởi lẽ, Lý Tức chỉ gồm Lý tánh chưa khởi Sự tu.



1. Do nhập lưu tướng, Đại Sĩ phát khởi môn Diệu Nhĩ.

2. Ngũ Quán viên dung, bốn âm thù thắng.

3. Vì vậy, trong kinh Phật Đảnh, A Nan Đà thỉnh cầu phương tiện, nơi hội Pháp Hoa, Vô Tận Ý khải vấn nhân duyên.

4. Diệu Đức đã tự tuyên nói, thần lực càng được Phật khen.

5. Nếu có thể niệm niệm tín tâm, sẽ khế hợp quán quán diệu giác.

6. Dẫu bị xô rớt hầm lửa, lửa biến thành ao nước mát trong. Tuy trôi giạt biển khơi, nước hóa thành trưởng dưỡng.

7. Thuyền giạt nước quỷ, thành sắt bỗng hóa ra vò vàng. Thân ngã đầu non, dường Tu Di khẽ rơi hạt cải.

8. Đi qua đường hiểm, giặc dấy lòng Từ, phép vua xử tội, đao như cắt nước.

9. Trong chốn giam cầm nhốt kín, vạch đất nhọc công. Ếm, rủa, độc dược xảy tới, khạc trời, tự bẩn.

10. Gặp gỡ thú dữ, độc xà, lòng thành cảm hóa vật. Tiêu tan sấm rền, chớp giật, sức chuyển được trời.

11. Lìa sân, lìa dục, ba độc trọn tiêu. Cầu con trai, mong sanh gái, đôi lòng cầu đều được thỏa nguyền.

12. Làm bậc lương y, tự đạt thượng thọ. Diệt trừ phiền não, quyết chứng tam-ma.

13. Hễ niệm Ngài đều chẳng uổng công, phước đức chẳng hề luống mất.

14. Không gì chẳng một dạ vì chúng sanh, nên Bồ Tát cảm được thập phổ
(Đoạn này ca tụng phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa và mười bốn thứ Vô Úy được nói trong chương Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm, nhưng lấy bài kệ trong [phẩm Phổ Môn của] kinh Pháp Hoa làm chủ, nhằm nói lên những điều ứng nghiệm nhỏ nhặt của người lễ kính, trì danh [Bồ Tát]).



(1) Lăng Nghiêm Kinh: “Nhân nhập lưu tướng, đắc Tam-ma-đề” (Do nhập vào trong tướng lưu xuất [của tánh Nghe] nên đắc Chánh Định). Kinh còn chép: “Do ngã sở đắc viên thông bổn căn, phát diệu nhĩ môn” (Do ta đắc được sự viên thông tận gốc rễ của Căn nên phát sanh môn Nghe mầu nhiệm).

(2) Pháp Hoa Kinh: “Chân quán, thanh tịnh quán, quảng đại trí huệ quán, bi quán, cập từ quán, thường nguyện, thường chiêm ngưỡng” (Chân quán, thanh tịnh quán, trí huệ quán rộng lớn, bi quán và từ quán, thường nguyện, thường chiêm ngưỡng). Kinh còn chép: “Diệu âm, quán thế âm, phạm âm, hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm, thị cố thường tu niệm” (Tiếng diệu, tiếng xét đời, phạm âm, tiếng sóng biển, trỗi vượt tiếng thế gian, cho nên hãy thường niệm).

(4) Lăng Nghiêm Kinh: “Ngã hựu hoạch thị viên thông tu chứng vô thượng đạo cố, hựu năng thiện hoạch tứ bất tư nghị vô tác diệu đức” (Ta lại đạt được viên thông này, tu chứng đạo vô thượng, lại có thể khéo đạt được bốn thứ diệu đức vô tác chẳng thể nghĩ bàn). Pháp Hoa Kinh: “Quán Thế Âm Bồ Tát hữu như thị đẳng đại oai thần lực, đa sở nhiêu ích” (Quán Thế Âm Bồ Tát có những sức oai thần to lớn như thế, tạo nhiều lợi ích)

(5) Pháp Hoa Kinh: “Niệm niệm vật sanh nghi” (Niệm niệm đừng sanh lòng nghi). Lăng Nghiêm Kinh: “Do ngã bất tự quán âm, dĩ quán quán giả” (Do chính tôi không quán âm thanh, mà quán nơi tự tánh của phép quán)[39]. Kinh còn chép: “Thượng hợp thập phương chư Phật bổn diệu giác tâm” (Trên là hợp với tâm diệu giác sẵn có của mười phương chư Phật).

(6) Pháp Hoa Kinh: “Giả sử hưng hại ý, thôi lạc đại hỏa khanh, niệm bỉ Quán Âm lực, hỏa khanh biến thành trì” (Giả sử nẩy lòng hại, xô té hầm lửa lớn, do sức niệm Quán Âm, hầm lửa biến thành ao). Phẩm Thập Hạnh của kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Bồ Tát vị thế gian nhất thiết thiên nhân tác thanh lương trì” (Bồ Tát làm ao trong mát cho hết thảy trời người trong thế gian). Pháp Hoa Kinh: “Hoặc phiêu lưu cự hải, long, ngư, chư quỷ nạn, niệm bỉ Quán Âm lực, ba lãng bất năng một” (Hoặc trôi giạt biển cả, các nạn rồng, cá, quỷ, do sức niệm Quán Âm, sóng mòi chẳng chìm được). [Trong cõi Cực Lạc] nước có tám công đức thì điều thứ tám là trưởng dưỡng các căn, chẳng giống với nước trong cõi này tổn hoại các căn, gây thêm bệnh, chết chìm.

(7) Pháp Hoa Kinh: “Giả sử hắc phong xuy kỳ thuyền phưởng, phiêu đọa La Sát quỷ quốc, kỳ trung nhược hữu nhất nhân xưng Quán Thế Âm Bồ Tát danh giả, thị chư nhân đẳng giai đắc giải thoát La Sát chi nạn” (Giả sử cuồng phong thổi giạt thuyền bè vào nước quỷ La Sát, trong ấy nếu có một người xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát, thì những người ấy đều được thoát khỏi nạn La Sát). Phật Bổn Hạnh Tập Kinh: “Tích hữu ngũ bách thương nhân, nhập hải thái bảo, hốt trị ác phong, xuy thuyền phưởng chí La Sát quốc. Chư nữ tương bỉ thương nhân, trí thiết thành trung vi thực” (Xưa kia có năm trăm thương nhân vào biển để thâu nhặt của báu, chợt gặp cơn gió dữ, thổi thuyền bè giạt vào nước La Sát. Các La Sát nữ nhốt những thương nhân ấy trong thành bằng sắt để ăn thịt [dần dần]).

Kinh Hiền Ngu Nhân Duyên cũng chép: “Hữu bà-la-môn phụ thọ Bát Quan Trai. Thời vương dạ phần, di nhân tống thực vãng khoáng dã, đạo đa La Sát, vô cảm vãng. Thử phụ tín trì Bát Quan giả, quỷ bất năng hại, toại vãng. La Sát nữ dục thực bất cảm, tặng nhất phủ kim. Phục tiền phùng kỳ muội, kỳ đệ, giai tặng nhất phủ kim” (Có một phụ nữ Bà-la-môn thọ Bát Quan Trai. Khi ấy, vào ban đêm, vua sai người đưa đồ ăn qua chỗ quỷ Khoáng Dã, trên đường có nhiều La Sát, [người ấy] không dám đi. Phụ nữ đó tin quỷ chẳng thể hại được người trì Bát Quan Trai, bèn đi. La Sát nữ muốn ăn thịt bà ta nhưng không dám, bèn tặng cho bà ta một vò vàng. Trước đó, bà ta lại gặp em gái và em trai [của La Sát nữ ấy], mỗi người đều tặng một vò vàng).

Pháp Hoa Kinh: “Hoặc tại Tu Di phong, vị nhân sở thôi đọa, niệm bỉ Quán Âm lực, như nhật hư không trụ. Hoặc bị ác nhân trục, đọa lạc Kim Cang sơn, niệm bỉ Quán Âm lực, bất năng tổn nhất mao” (Hoặc trên chót Tu Di, bị người đẩy té xuống, do sức niệm Quán Âm, như mặt trời trên không. Hoặc bị kẻ ác đuổi, rớt xuống núi Kim Cang, do sức niệm Quán Âm, chẳng tổn hại mảy lông).

Duy Ma Kinh: “Dĩ Tu Di chi cao quảng, nội giới tử trung, vô sở tăng giảm. Tu Di sơn vương, bổn tướng như cố” (Lấy núi Tu Di cao rộng bỏ vào trong hạt cải, chẳng có tăng giảm. Tướng sẵn có của núi Tu Di vẫn y hệt như cũ).

(8) Pháp Hoa Kinh: “Hoặc trị oán tặc nhiễu, các chấp đao gia hại, niệm bỉ Quán Âm lực, hàm tức khởi từ tâm” (Hoặc gặp oán tặc vây, đều cầm đao toan hại, do sức niệm Quán Âm, chúng liền khởi lòng Từ). Kinh Hoa Nghiêm cũng nói: “Năng linh chúng sanh kinh quá hiểm lộ, tặc bất năng kiếp” (Có thể làm cho chúng sanh đi qua đường hiểm mà giặc chẳng thể cướp bóc).

Pháp Hoa Kinh: “Hoặc tao vương nạn khổ, lâm hình dục thọ chung, niệm bỉ Quán Âm lực, đao tầm đoạn đoạn hại” (Gặp nạn vua gây khổ, sắp bị xử tử hình, do sức niệm Quán Âm, đao liền gãy từng đoạn). Lăng Nghiêm Kinh: “Sử kỳ binh qua, do như cát thủy, diệc như xuy quang, tánh vô dao động” (Khiến cho vũ khí của chúng giống như cắt nước, cũng giống như thổi ánh sáng, tánh không dao động).

(9) Pháp Hoa Kinh: “Hoặc nhân cấm già tỏa, thủ túc bị nữu giới, niệm bỉ Quán Âm lực, thích nhiên đắc giải thoát” (Hoặc do bị gông cùm, chân tay bị xiềng xích, do sức niệm Quán Âm, tháo gỡ, được giải thoát). Lăng Nghiêm Kinh: “Năng linh chúng sanh cấm hệ già tỏa, sở bất năng trước” (Có thể làm cho chúng sanh bị giam cầm mà gông xiềng không trói buộc được). Thời cổ, người ta vạch đất làm nhà tù.

Pháp Hoa Kinh: “Chú trớ, chư độc dược, sở dục hại thân giả, niệm bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn nhân” (Nguyền rủa, các thuốc độc, muốn làm hại đến thân, do sức niệm Quán Âm, trở ngược kẻ làm hại). Ngài Liên Trì giải thích: “Như ngậm máu phun lên trời, lại bẩn chính mình”.

Tứ Thập Nhị Chương Kinh: “Ác nhân hại hiền giả, do ngưỡng thiên nhi thóa, thóa bất chí thiên, hoàn tùng kỷ đọa” (Kẻ ác hại người hiền, giống như ngửa mặt nhổ lên trời, nhổ chẳng tới trời lại rơi xuống chính mình).

(10) Pháp Hoa Kinh: “Nhược ác thú vi nhiễu, lợi nha trảo khả bố, niệm bỉ Quán Âm lực, tật tẩu vô biên phương. Ngoan xà cập phúc yết, khí độc yên hỏa nhiên, niệm bỉ Quán Âm lực, tầm thanh tự hồi khứ” (Nếu ác thú vây quanh, nanh vuốt bén đáng sợ, do sức niệm Quán Âm, chúng bỏ chạy mất tích. Rắn độc, bò cạp, rết, phun hơi độc mịt mù, do sức niệm Quán Âm, theo tiếng lui chạy hết). Lại chép: “Vân lôi cổ, xiết điển, giáng bạc chú đại vũ, niệm bỉ Quán Âm lực, ứng thời đắc tiêu tán” (Trời nổi sấm, nháng chớp, tuôn mưa đá, mưa to, do sức niệm Quán Âm, ngay lập tức tan mất).

Trong Mật Bộ có Tiêu Trừ Nhất Thiết Thiểm Điển Chướng Nạn Kinh, Quán Tự Tại Bồ Tát có nói thần chú [dứt trừ những tai nạn mưa giông, sấm sét].

(11) Pháp Hoa Kinh: “Nhược hữu chúng sanh, đa ư dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện đắc ly dục. Nhược đa sân khuể, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện đắc ly sân. Nhược đa ngu si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện đắc ly si” (Nếu có chúng sanh lắm dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được lìa dục. Nếu lắm nóng giận, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được lìa giận. Nếu lắm ngu si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được lìa si).

Lại nói: “Nhược hữu nữ nhân, thiết dục cầu nam, lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện sanh phước đức, trí huệ chi nam, thiết dục cầu nữ, tiện sanh đoan chánh hữu tướng chi nữ, túc thực đức bổn, chúng nhân ái kính” (Nếu có nữ nhân muốn sanh con trai, lễ bái, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sanh con trai phước đức, trí huệ. Nếu muốn cầu con gái, liền sanh con gái có tướng đoan chánh, đã gieo cội đức từ kiếp trước, được mọi người yêu mến, kính trọng).

(12) Lăng Nghiêm Kinh: “Cầu tam-muội đắc tam-muội, cầu trường thọ đắc trường thọ”. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có đoạn nói: “Ư chư bệnh khổ vị tác lương y” (Làm lương y cho những kẻ bệnh tật khổ sở).

Pháp Hoa Kinh: “Bi thể giới lôi chấn, từ ý diệu đại vân, chú cam lộ pháp vũ, diệt trừ phiền não diệm” (Thể bi răn như sấm, ý từ diệu dường mây, tuôn mưa pháp cam lộ, diệt trừ lửa phiền não). Tam-ma là tam-muội.

(13) Pháp Hoa Kinh: “Văn danh cập kiến thân, tâm niệm bất không quá, năng diệt chư hữu khổ” (Nghe tên và thấy thân, tâm niệm chẳng luống uổng, diệt khổ trong các cõi). Lại chép: “Nhược hữu chúng sanh, cung kính, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, phước bất đường quyên” (Nếu có chúng sanh cung kính, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, phước chẳng luống uổng). “Đường quyên” còn nói là bỏ phí.

(14) Pháp Hoa Kinh: “Nhữ đẳng ưng đương nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát” (Các ông hãy nên nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát).

Ngài Thiên Thai sớ giải phẩm Phổ Môn nói có mười loại phổ: 1) Từ bi phổ 2) Hoằng thệ phổ 3) Tu hành phổ 4) Ly hoặc phổ 5) Nhập pháp môn phổ 6) Thần thông phổ 7) Phương tiện phổ 8) Thuyết pháp phổ 9) Thành tựu chúng sanh phổ 10) Cúng dường chư Phật phổ.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Nov 2015, 10:33 PM | Message # 10
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 1, phần 2 hết




[1] Nguyên văn “dương diệm” (mirage) là một loại ảo ảnh. Khi trời nắng gắt, những chỗ bị nắng chiếu xuống, nhìn xa trông lấp loáng như nước thì gọi là “dương diệm”.

[2] Phạm Chí (Brahmacarin) có nghĩa là “có chí hướng cầu sanh lên cõi trời của Đại Phạm Vương”, được sử dụng với hai nghĩa:

1. Chữ Phạm (Brahma) chỉ hàng Bà La Môn như phần nói về ngoại đạo trong sách Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập đã giảng: “Chủng tánh Bà La Môn tự xưng là từ miệng Phạm Thiên sanh ra, cao quý nhất trong bốn chủng tánh, riêng dùng chữ Phạm để đặt tên cho chủng tánh của mình. Chỉ riêng năm xứ Thiên Trúc có chủng tánh này, các nước khác không có. Chữ Phạm Chí dùng trong các kinh có cùng ý nghĩa với danh từ này”.

2. Phạm Chí là tiếng gọi chung những hàng ngoại đạo xuất gia ở Ấn Độ. Đại Trí Độ Luận, quyển 56 giảng: “Phạm Chí là hết thảy ngoại đạo xuất gia. Nếu có kẻ nào vâng thờ pháp của bọn họ thì cũng gọi là Phạm Chí”.

[3] Thôi thăng (推升): Đây là từ ngữ được dùng bởi đại sư Thanh Lương trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ khi viết khoa phán nhằm phân chia mỗi chương tham học của Thiện Tài đồng tử thành các tiểu đoạn. “Thôi thăng” là sau khi mỗi vị thiện hữu đã dạy cho Thiện Tài hiểu biết cảnh giới của pháp môn do chính mình tu học, bèn nói “ta chỉ biết một pháp môn, không thể biết trọn hết Bồ Tát hạnh. Vị thiện hữu kế tiếp tốt đẹp hơn ta, sẽ dạy cho ngươi biết rõ về Bồ Tát hạnh” (đó gọi là Thôi, tức đề cao) với ngụ ý là thể hiện ý khiêm hư, đề cao cảnh giới của địa vị kế tiếp nhằm thúc đẩy Thiện Tài dũng mãnh tu tập, tiến lên địa vị cao hơn (Thăng) trong năm mươi hai địa vị Bồ Tát.

[4] Tông ở đây là giáo nghĩa chủ yếu, chánh yếu của một bộ kinh.

[5] Xin lưu ý đây cũng là sự thị hiện nhằm dạy pháp, chứ không phải thật sự đức Quán Thế Âm Bồ Tát chưa chứng Thập Địa, vẫn còn thuộc địa vị Tùy Thuận Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng.

[6] Cây to nhất trong các cây xung quanh thì được tôn là “thụ vương” (cây vua, cây chúa).

[7] Thệ Đa lâm (Jetavāna), thường được biết dưới danh xưng phổ biến hơn là Kỳ Viên hoặc Kỳ Hoàn tịnh xá. Khu rừng này vốn là hoa viên của thái tử Kỳ Đà (Jetakumāra) do ông Cấp Cô Độc (Anāthapindika) dâng cúng. Trong các kinh Đại Thừa thường gọi khu rừng này là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (Jetavane Anāthapindikassa ārāma).

[8] Thập Bát Giới là sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) phối hợp với sáu trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) và sáu thức. Mười tám giới biểu thị toàn bộ sự nhận thức của con người đối với hiện tượng và sự vật chung quanh. Do vậy, ta có nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, cho đến ý giới, sắc giới cho đến pháp giới, nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Dùng trí huệ Bát Nhã để quán chiếu, mười tám giới này chỉ là phân biệt, vọng tưởng, chấp trước tạo ra, bản tánh của chúng là Không, cho nên Tâm Kinh mới bảo “vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới” (không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới).

[9] Śāri là một loại chim, thường được dịch là Thu Lộ, cặp mắt rất đẹp và trong vắt. Phong tục Ấn Độ thời ấy hay gọi tên con theo tên mẹ. Mẹ của ngài Xá Lợi Phất tên là Śāri nên Ngài được gọi là Śāriputra (con của bà Xá Lợi, con bà Thu Lộ).

[10] Vua Ba Tư Nặc (Prasenajit, dịch nghĩa là Thắng Quân, hay Thắng Quang) là vua nước Kiều Tát La (Kosala), thuộc vương triều Aiksvāka, là một vị cư sĩ hộ pháp nổi tiếng thời ấy. Thoạt đầu, vua không tin Phật, do thấy trưởng giả Cấp Cô Độc (Tu Đạt Đa) không tiếc của trải vàng để mua bằng được rừng Thệ Đa dâng lên Phật làm tinh xá, vua bèn thống lãnh các đại thần đến thăm Phật. Vua đến tinh xá với vẻ hống hách ta là chủ một nước, coi Phật như một tu sĩ khổ hạnh toan đến kiếm chác lợi dưỡng trong xứ Kiều Tát La, huênh hoang nói: “Ta nghe nói có một vị đại giác ngộ tên là Phật Đà, nhưng ta không hiểu! Có nhiều người tu hành khổ hạnh trong núi sâu rừng thẳm mấy chục năm cho đến khi già lụm cụm vẫn chưa giác ngộ, làm sao người trẻ tuổi này lại giác ngộ cho được?” Đức Phật ngồi yên trong thất, trả lời: “Đại Vương! Đa số khinh người trẻ tuổi, nhưng thế gian có bốn sự không thể coi thường. Một là vương tử trẻ tuổi, hai là rồng con mới sanh, ba là đốm lửa nhỏ tí, bốn là tăng lữ trẻ tuổi. Vương tử tuy nhỏ mai sau cũng là vua một nước, rồng con rồi sẽ trưởng thành, phun mưa vẫy gió, đốm lửa nhỏ tí cũng đốt cháy cả cánh đồng, tăng lữ trẻ tuổi chỉ cần vâng giữ đạo nghiệp, sẵn lòng cứu độ chúng sanh, chẳng phân biệt đều có thể chứng vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chớ nên ác khẩu, kẻo mắc tội chướng”. Vua nghe nói, ngỡ ngàng nín lặng, vì từ trước đến nay, chưa ai dám cãi vua. Phật lại từ tốn thuyết pháp khiến cho vua giải ngộ, chí thành quy hướng, thề trọn đời ủng hộ Tam Bảo.

[11] Bốn mươi hai tự mẫu này chính là bốn mươi hai chữ cái trong một loại tiếng Phạn cổ, gọi là Tất Đàm (Siddham). Ba kinh Bát Nhã, Niết Bàn và Hoa Nghiêm đều giảng về những pháp, những ý nghĩa được biểu thị bởi bốn mươi hai chữ ấy. Phật môn Trung Hoa có riêng một nghi thức xướng tụng bốn mươi hai chữ này, gọi là Hoa Nghiêm Tự Mẫu Xướng Tụng (theo ngu ý, tại Việt Nam thuở trước cũng có nhiều nơi tụng đọc nghi thức này vì nhà xuất bản Sen Vàng có in nghi thức Hoa Nghiêm Tự Mẫu do Hòa Thượng Thiện Hoa phiên âm).

[12] Liên Hoa Bộ là một trong năm bộ của Kim Cang Giới (Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Bảo Bộ, Kim Cang Bộ, Yết Ma Bộ), hoặc một trong ba bộ của Thai Tạng Giới (Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Kim Cang Bộ). Nếu hiểu một cách nông cạn thì trong Thai Tạng Giới, những chú ngữ của Phật thuộc về Phật Bộ, chú ngữ của Bồ Tát thuộc Liên Hoa Bộ, chú ngữ của quỷ thần thuộc về Kim Cang Bộ. Hiểu theo Kim Cang Giới, năm bộ chính là Ngũ Trí của Như Lai từ Đại Viên Kính Trí của Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật lưu xuất. Liên Hoa Bộ tượng trưng cho tâm Bồ Đề thanh tịnh sẵn có của chúng sanh, vừa tiêu biểu cho tâm đại bi của mười phương Như Lai. Dù bị lưu chuyển trong sanh tử, tâm Bồ Đề thanh tịnh sẵn có của chúng sanh vẫn chẳng hoen ố, như hoa sen mọc trong bùn nên gọi là Liên Hoa Bộ. Ở đây, cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh nói Quán Thế Âm Bồ Tát làm bộ chủ Liên Hoa Bộ là dựa theo quan điểm Thai Tạng Giới. Trong Thai Tạng Giới Mạn Đồ La, hai viện Quán Âm và viện Địa Tạng đều thuộc Liên Hoa Bộ, tôn Mã Đầu Quán Âm làm Bộ Chủ, Bạch Y Quán Âm làm Bộ Mẫu. Nếu nói theo Kim Cang Giới thì Liên Hoa Bộ Chủ là A Di Đà Phật, Kim Cang Pháp Ba La Mật Bồ Tát (Kim Cang mật hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát) là Bộ Mẫu.

[13] Na-dữu-đa là cách phiên âm khác của chữ Na-do-tha (Nayuta). Một Na-do-tha là một ngàn ức.

[14] Thập Nhất Diện Quán Âm (Ekādaśa Mukhānām Avalokiteśvara) là một trong sáu hóa thân được tôn sùng nhất của ngài Quán Âm. Với hóa thân này, Ngài đặc biệt cứu vớt chúng sanh trong loài A Tu La, ban bố lợi ích trừ bệnh, diệt tội, tăng phước trong đời hiện tại. Hiện thời, trong Đại Tạng có ba bộ kinh nói về hóa thân này là Thập Nhất Diện Quán Âm Thần Chú Kinh do ngài Da Xá Quật Đa dịch vào năm Bảo Định thứ 4 (564) đời Bắc Châu và quyển thứ tư trong bộ Đà La Ni Tập Kinh do ngài A Địa Cù Đa dịch vào năm Vĩnh Huy thứ 4 (653) đời Đường. Ngài Huyền Trang cũng dịch Thập Nhất Diện Thần Chú Tâm Kinh vào năm Hiển Khánh nguyên niên (656) đời Đường. Thật ra, cả ba bản này đều là bản dịch khác nhau của một hội trong bộ Đại Kim Cang Đạo Tràng Kinh. Ngài Bất Không có dịch một nghi quỹ niệm tụng là Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ Tát Tâm Mật Ngôn Niệm Tụng Nghi Quỹ. Bản kinh này giảng rõ các nghi thức niệm tụng, kết giới, cách vẽ tượng, các phương pháp cúng dường v.v... Theo các sớ giải, với hóa thân này, Đại Sĩ có mười một mặt, mười mặt phía dưới được xếp thành ba tầng tượng trưng cho mười phương và ba đời, đồng thời biểu thị Đại Sĩ đã vượt khỏi Thập Địa, một mặt trên cùng là mặt A Di Đà Phật, biểu thị Đại Sĩ đã thật sự chứng Phật quả. Thân tượng Thập Nhất Diện có nhiều tay, cầm tịnh bình, cành dương liễu, Nhật Tinh Ma Ni, bảo châu, chĩa ba, bảo bát, xâu chuỗi, dây quyến sách, hoa sen, gậy đầu lâu, kết các ấn như Thí Vô Úy, Dữ Nguyện v.v... Đa phần các tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn được thờ hiện thời đã kết hợp giữa tượng ngàn mắt ngàn tay và Thập Nhất Diện này.

[15] Phần cốt tủy của một bài thần chú được gọi là Chú Tâm. Chẳng hạn phần lớn chú Lăng Nghiêm là danh xưng của chư Phật, Bồ Tát, chư thiên, quỷ thần, phần chính thức của bài chú bắt đầu bằng chữ Án (Om, Aum).

[16] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Chú Kinh (1 quyển), do cư sĩ Trúc Nan Đề (Pháp Hỷ) dịch vào thời Đông Tấn.

[17] Tỳ Xá Ly (Vaishali, Vesali, Visálá): Còn phiên âm là Duy Da Ly, là vương thành của thị tộc Licchavi (kinh thường gọi là “Ly Xa chủng tánh” hoặc “Ly Xa tộc tử”). Thành này được đặt tên theo vua Vishal của thời cổ Ấn Độ. Đức Phật giảng kinh ở đây khá nhiều lần. Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai cũng được tổ chức tại kinh thành này. Am La (Am Ba La, Yêm Ma La) chính là quả xoài.

[18] Dạ-xoa (Yaksha), còn phiên âm là Dược Xoa, dịch nghĩa là Tiệp Tật Quỷ (quỷ nhanh lẹ), Khinh Tiệp (nhẹ nhàng, nhanh chóng), Dũng Kiện (mạnh mẽ) là một loài quỷ trong tám bộ quỷ thần (thiên long bát bộ). Loài quỷ này dưới quyền thống lãnh của Bắc Phương Tỳ Sa Môn thiên vương. Dạ-xoa thân hình đen đúa, mặt mũi hung ác, đầu không có tóc, tay cầm chĩa sắt, gồm ba loại: Địa hành dạ-xoa, hư không dạ-xoa và thiên dạ-xoa. Theo Đại Nhật Kinh Sớ, dưới quyền Tỳ Sa Môn thiên vương (Mật giáo thường được gọi là tài thần Kumbera – Câu Tỳ La), có tám vị Dạ Xoa đại tướng rất nhiệt tâm hộ trì Phật pháp. Tên của họ là Ma Ni Bạt Đà La (Bảo Hiền), Bố Lỗ Bạt Đà La (Mãn Hiền), Bán Chỉ Ca (Tán Chi đại tướng), Sa Đa Kỳ Lý, Hê Ma Phược Đa, Tỳ Sái Ca, A Tra Phạ Ca và Bán Già La.

[19] Kỳ Bà (Jivakajiva), còn phiên âm là Kỳ Vực hoặc Thời Phược Ca, dịch nghĩa là Cố Hoạt hay Năng Hoạt (cứu sống), ông là con của Bình Sa Vương (Tần Bà Sa La) và bà Nại Nữ, là một vị thần y nổi tiếng nhất Ấn Độ thời đức Phật. Trong Quán Kinh, chính Kỳ Bà đã can ngăn A Xà Thế đừng giết mẹ khi bà Vy Đề Hy lén lút đem thức ăn vào ngục để duy trì mạng sống của vua Tần Bà Sa La.

[20] Thế chủ: Các vị chúa tể trong cõi đời, chỉ chư thiên, chư thần quản lãnh, chẳng hạn như Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương, Chủ Dạ Thần, Chủ Hải Thần, Chủ Không Thần, Chủ Phong Thần v.v...

[21] Trong Đại Tạng, có rất nhiều bản kinh nói về Bất Không Quyến Sách Quán Âm như Bất Không Quyến Sách Chú Kinh do ngài Xà Na Quật Đa dịch vào đời Tùy, Bất Không Quyến Sách Tâm Chú Vương Kinh do ngài Bảo Tư Duy dịch vào đời Đường, Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch cũng vào đời Đường, Bất Không Quyến Sách Thần Chú Tâm Kinh do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Bất Không Vương Bí Mật Tâm Đà La Ni do ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống v.v... Trong các bản đó, bản Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh của ngài Bồ Đề Lưu Chi đầy đủ nhất.

Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pasa Avalokiteśvara), còn gọi là Bất Không Quảng Đại Minh Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, hoặc Bất Không Tất Địa Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, mật hiệu là Đẳng Dẫn Kim Cang. Bất Không có nghĩa là “không gì chẳng thành tựu”. Dây Quyến Sách vốn là sợi dây thừng để quăng bắt thú của thợ săn (gần giống như dây lasso của các chàng chăn bò ở châu Mỹ), hàm ý Bồ Tát dùng lòng từ bi trói lôi chúng sanh lìa bỏ ác nghiệp, dẫn về chánh đạo. Bất Không Quán Âm Bồ Tát thường được tạc tượng đầu đội mão báu có hóa Phật đứng ở giữa mão, một mặt, bốn tay, vẻ mặt tươi cười, hai tay phía trên lần lượt cầm hoa sen và xâu chuỗi, hai tay phía dưới kết ấn Thí Vô Úy, hoặc là một mặt ba mắt, cầm hoa sen, chĩa ba, dây Quyến Sách và kết ấn Thí Vô Úy, vai trái khoác da hươu, ngồi xếp bằng trên tòa sen.

[22] Trong Đại Tạng, cũng có rất nhiều bản kinh về chú Đại Bi như Thiên Nhãn Thiên Tý Quán Thế Âm Bồ Tát Đà La Ni Thần Chú (Trí Thông dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đà La Ni Thân Kinh (Bồ Đề Lưu Chí dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú Bản (Kim Cang Trí dịch), Kim Cang Đảnh Du Già Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Tu Hành Nghi Quỹ (Bất Không dịch) v.v... Bản đầy đủ và gãy gọn nhất là bản Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh do ngài Già Phạm Đạt Mạ dịch dưới đời Đường nên Hòa Thượng Thiền Tâm dùng bản này để dịch sang tiếng Việt. Thần chú Đại Bi được lưu hành trong Phật môn hiện thời cũng dựa theo cách phiên âm trong bản dịch của ngài Già Phạm Đạt Mạ.

[23] Bốn mươi tay (đúng ra là bốn mươi hai tay) ở đây chính là bốn mươi cánh tay của Bồ Tát được nói trong kinh Đại Bi, mỗi cánh tay cầm một thứ pháp khí, có bài thần chú tương ứng nhằm thỏa một nguyện đặc biệt của hành nhân, chẳng hạn như: “Nếu muốn vãng sanh thập phương Tịnh Độ thì hãy nên cầu nơi tay cầm hoa sen xanh, chú rằng: - Án, phạ nhật ra, đạt ma, nĩnh la bát nạp ma, ốt bệ đa, bột đà vĩ sái dĩnh, sa phạ hạ”.

[24] Minh phi (Vidyā-rājñī): Minh (Vidyā) là một danh xưng khác của Đà La Ni. Do đà-la-ni có công năng diệt trừ tối tăm phiền não nên gọi là Minh (sáng). Do có công năng tăng trưởng hết thảy công đức nên gọi là Phi (Rājñī). Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 9, giảng: “Minh là đại huệ quang minh, Phi, tiếng Phạn là La Thệ (rājñī), là danh xưng giống cái của chữ Vương (Raja). Phi có nghĩa là tam-muội, tức là Đại Bi Thai Tạng tam-muội vậy”. Do Đà La Ni có công năng sanh trưởng hết thảy pháp công đức nên dùng Phi (nữ nhân) để biểu thị. Hơn nữa, trong Mật Giáo, trí huệ được coi là tĩnh, còn phương tiện là động, cho nên dùng nữ để biểu trưng trí huệ, nam biểu trưng phương tiện. Vì thế, mỗi một bài chú thường có minh vương và minh phi xuất hiện để biểu thị lực dụng trí và hạnh của chân tâm bổn giác cùng hành, cũng như biểu thị sự từ bi, nhu thuận cứu khổ của trí huệ.

[25] Trong một bài kinh dạy về thần chú trong Mật Tông, nhất là trong những kinh điển thuộc hệ thống Kim Cang Giới luôn gồm nhiều thần chú nhằm thể hiện lực dụng vô biên của bổn tôn (vị tôn thánh nói ra bài chú ấy), ngoài chánh chú, còn có tâm chú (chú cốt lõi), đảnh chú, nha chú, nhãn chú v.v... cũng như rất nhiều bài chú nhằm giúp cho hành giả thanh tịnh thân tâm, chánh tâm nhập định quán tưởng như chú kết giới, chú giáp trụ, chú sái tịnh v.v...

[26] Mười sáu vị Kim Cang Đại Bồ Tát là 1) Kim Cang Tát Đỏa (Phổ Hiền Bồ Tát, ngài còn có mật hiệu là Kim Cang Thủ) 2) Kim Cang Vương (Diệu Bất Không Vương Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Câu) 3) Kim Cang Ái (Ma La Bồ Tát, vị này còn có mật hiệu là Kim Cang Cung) 4) Kim Cang Hỷ (Cực Hỷ Vương Bồ Tát) 5) Kim Cang Bảo (Hư Không Tạng Bồ Tát) 6) Kim Cang Quang (Đại Oai Quang Bồ Tát) 7) Kim Cang Tràng (Bảo Tràng Bồ Tát) 8) Kim Cang Tiếu (Thường Hoan Hỷ Căn Bồ Tát) 9) Kim Cang Pháp (Quán Tự Tại Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Nhãn) 10) Kim Cang Lợi (Diệu Cát Tường, tức Văn Thù Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Huệ) 11) Kim Cang Nhân (Khởi Bình Đẳng Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, mật hiệu là Kim Cang Trường) 12) Kim Cang Ngữ (Vô Ngôn Bồ Tát) 13) Kim Cang Nghiệp (Nhất Thiết Như Lai Xảo Nghiệp Bồ Tát) 14) Kim Cang Hộ (Cực Nan Địch Tinh Tấn Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Từ Hữu) 15) Kim Cang Nha (Tồi Chư Ma Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Bạo Nộ) 16) Kim Cang Quyền (Nhất Thiết Như Lai Quyền Bồ Tát).

[27] Tỳ Lô Giá Na Phật xuất sanh bốn vị minh phi: Kim Cang Hỷ Hoan Đại Minh Phi, Kim Cang Man Đại Minh Phi, Kim Cang Diệu Ca Đại Minh Phi, Kim Cang Vũ Đại Minh Phi. A Súc Phật xuất sanh Kim Cang Hương Đại Minh Phi, Bảo Sanh Phật xuất sanh Kim Cang Hoa Đại Minh Phi, Quán Tự Tại Vương Phật xuất sanh Kim Cang Đăng Đại Minh Phi, Bất Không Thành Tựu Phật xuất sanh Kim Cang Đồ Hương Đại Minh Phi.

[28] Vị diệu nữ này chính là Đa La Bồ Tát (Ārya Tārā), thường được dịch nghĩa là Độ Mẫu. Do thân chính của Ngài có màu xanh lá cây nên thường gọi là Lục Độ Mẫu. Từ vị Lục Độ Mẫu này lại xuất sanh ra 21 vị Độ Mẫu nữa. Mật Tông Tây Tạng đặc biệt sùng bái Đa La Bồ Tát, nhất là các vị Bạch Độ Mẫu, Hoàng Độ Mẫu và Xích Độ Mẫu. Mỗi một vị Độ Mẫu tượng trưng cho một khía cạnh đặc biệt trong sự cứu độ của Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng hạn như Bạch Độ Mẫu chuyên ban bố sự trường thọ, chữa trị bệnh tật và bình an.

[29] Theo như kinh chép, Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát (Parna-Savari) có hình dạng như thiên nữ, trên đầu đội mão báu, trên mão có Vô Lượng Thọ Phật ngồi. Thân Bồ Tát có bốn tay, trang nghiêm bằng anh lạc, vòng vàng, xuyến vàng, cánh tay thứ nhất bên phải đặt ngang ngực cầm quả Cát Tường, cánh tay phải thứ hai kết ấn Thí Nguyện, cánh tay trái thứ nhất cầm búa, cánh tay trái thứ hai cầm dây Quyến Sách, ngồi trên hoa sen, ngang hông quấn y kết bằng lá cây (do vậy gọi là Diệp Y).

[30] Vị La Sát Vương này chính là Nhất Kế Tôn La Sát. Sở dĩ gọi là Nhất Kế (Ekajati: một búi tóc) vì tượng Ngài mang thân hình La Sát nữ, thân màu xanh pha sắc đen, hoặc nâu hồng, chỉ có một mắt ở chính giữa trán, miệng có một răng nanh chĩa ra ngoài, vểnh lên trên, tóc kết thành búi nhọn hoắt trên đỉnh đầu, đội mão năm nhánh, mình trần, chỉ có một vú nằm chính giữa ngực, tay phải nâng xác người, tay trái cầm tim của Ma và xác sói, khoác da người, vận quần da hổ, cổ đeo chuỗi tràng hạt làm bằng năm mươi ba đầu người còn tươi, một chân co, một chân duỗi, đứng trên xác người đặt trên tòa hoa sen (những điều này đều nhằm biểu thị pháp; chẳng hạn năm mươi ba đầu người còn tươi tượng trưng cho năm mươi ba Tâm Sở, đầu người còn tươi tượng trưng cho vận dụng tâm sở một cách hoạt bát, uyển chuyển. Sợ quá rườm rà nên không sao chép vào đây).

[31] Mã Đầu Quán Âm (Hayagriva ) còn gọi là Mã Đầu Minh Vương, Mã Đầu Kim Cang Minh Vương, hoặc Sư Tử Vô Úy Quán Thế Âm, là một hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát khi nói ra bài chú Ha Gia Yết Lị Bà. Theo Phật Học Đại Từ Điển, trên đầu của Bồ Tát có hình đầu ngựa nhằm biểu thị Chuyển Luân Thánh Vương có bảo mã có thể du hóa khắp nơi tự tại, xuất nhập biển sanh tử vô ngại. Đầu ngựa còn biểu thị sự ăn nuốt vô minh trọng chướng một cách vô ngại. Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 5, viết: “Ha Da Yết Lị Bà, dịch là Mã Đầu, thân màu chẳng phải vàng, chẳng phải đỏ, như màu mặt trời vừa mới mọc, dùng hoa sen màu trắng làm anh lạc để trang nghiêm thân. Khắp thân tuôn lửa mạnh hừng hực, chói ngời như tràng hoa, móng tay dài bén, hai nanh chĩa ngược lên trên, tóc trên đầu trông như bờm sư tử, hiện tướng cực phẫn nộ. Đây chính là Phẫn Nộ Trì Minh Vương của Liên Hoa Bộ”. Ngài hiện thân phẫn nộ nhằm hàng phục những kẻ tâm sân nộ, cống cao, ngã mạn, cũng như trấn nhiếp những thiên ma toan phá hoại Phật pháp.

[32] Thiên Chuyển Quán Âm là danh hiệu gọi theo tên bộ kinh Thiên Chuyển Đà La Ni Quán Thế Âm Bồ Tát Chú Kinh do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường (ngài Huyền Trang cũng dịch bài chú này trong Chú Ngũ Thủ Kinh, một tên gọi khác của kinh này là Năng Diệt Chúng Tội Thiên Chuyển Đà La Ni Kinh). Theo như kinh văn: “Nghiệp chướng tụ tập trong ngàn kiếp, nhất thời niệm tụng đều tiêu diệt sạch, đạt được thiện căn của một ngàn đức Phật tụ tập, vượt khỏi giới hạn lưu chuyển sanh lão bệnh tử trong ngàn kiếp. Sau khi bỏ thân liền thấy một ngàn vị Chuyển Luân Thánh Vương”.

[33] Bài kinh này có tên đầy đủ là Quán Thế Âm Bồ Tát Đắc Đại Thế Bồ Tát Thọ Ký Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Kiệt dịch vào thời Lưu Tống.

[34] Nguyên văn chép đoạn này là “tứ thập ức Bồ Tát”, vậy thì tại sao đến đoạn sau lại nói là tám mươi ức. Kiểm trong chánh kinh, chúng tôi thấy vì lời kinh trong lời tụng và chú giải của cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh đã bị trích lược dễ gây hiểu lầm. Theo chánh kinh, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, mỗi vị có bốn mươi ức Bồ Tát làm quyến thuộc. Do vậy, có đến tám mươi ức Bồ Tát theo hai Ngài đến thế giới Sa Bà.

[35] Hoa bình: Cái bình đẹp lộng lẫy, rực rỡ.

[36] Giữa lòng bàn tay và bàn chân của đức Phật có hình bánh xe ngàn căm.

[37] Không rõ thời ấy, những thứ này được dùng theo nghĩa nào, chứ nếu căn cứ theo hiện thời thì Lạc chính là lớp kem sữa, váng sữa, ngưng đọng khi đem thắng (cô đặc) sữa, hoặc sữa chế thành gia-ua (yogurt). Sanh Tô là phần chất béo của sữa kết đông lại, Thục Tô là Sanh Tô đã khử nước, còn Đề Hồ chính là phó-mát (cheese).

[38] Hàng Bố nói đầy đủ là Thứ Đệ Hàng Bố Môn. Hàng là Hàng Liệt (để theo từng dãy), Bố là Bố Trí (xếp đặt). Đây là một thuật ngữ nhằm diễn tả từng giai đoạn địa vị tu tập của Bồ Tát từ lúc sơ phát tâm cho đến khi chứng được Phật Quả. Hàng Bố đối lập với Viên Dung. Theo ngài Thanh Lương, từ địa vị Bồ Tát tiến đến Phật quả gồm hai môn:

1) Sơ Hậu Tương Tức (đầu tiên và sau rốt không sai, không khác): Nghĩa là lúc mới phát tâm thì đã thành Chánh Giác (đây là nói trên mặt Lý, giống như Lý Tức Phật trong tông Thiên Thai). Đó gọi là Viên Dung Môn.

2) Sơ Hậu Thứ Đệ (Đầu tiên và sau rốt theo thứ tự): Tức là năm mươi hai địa vị tu chứng từ Thập Tín, Thập Trụ… cho đến địa vị Đẳng Giác (Thập Tín chưa được kể là Pháp Thân đại sĩ, nên thường nói là bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, tức là những địa vị từ Thập Trụ cho đến Đẳng Giác Bồ Tát). Phải theo thứ tự mà lần lượt tấn tu nên gọi là Hàng Bố Môn.

[39] Trong bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, pháp sư Viên Anh đã giảng như sau: “Câu này nói về sự tự tu: Do phép quán của tôi chẳng lấy âm thanh làm đối tượng để quán. Chữ Quán trong câu thứ hai chính là nói về trí Năng Quán. Nghĩa là trí quang chẳng chiếu ra ngoài, nên nói ‘chẳng tự quán âm thanh của thế gian’. Do vậy, câu thứ nhất là lìa khỏi trần cảnh, câu dưới là nói về chiếu tánh, trái trần, hiệp giác”.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 06 Nov 2015, 9:39 PM | Message # 11
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Phần 3

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang


1. Phàm phu càng mong ngóng, nối gót bậc tịnh thánh.

2. Phước báo thế gian, lòng Thái Tử vốn chẳng mong cầu. Nhân duyên Tịnh Độ mới chính là đại bi thệ nguyện.

3. Cảm khái địa vị phàm phu như đất trên móng tay, thân người dễ mất chẳng biết bao nhiêu? Rùa mù trúng bộng gỗ nổi, chẳng sánh tày Phật pháp khó bề gặp gỡ!

4. Dẫu có thiện căn, được nghe chánh pháp.

5. Nhưng ánh sáng hư phù đoạt ảnh[1], được mấy kẻ chân tu? Dẫu cho kiến tánh minh tâm, vẫn chần chừ lắm nỗi!

6. Chỉ cậy vào Phật lực gia trì, mới hòng khỏi lâm chung đọa lạc.

7. Ví như trẻ thơ khôn lớn, toàn nhờ ân cha mẹ. Lông vũ yếu toan bay cao, khó trông chờ tự lực.

8. Huống hồ Thập Địa chẳng lìa niệm Phật, vốn là pháp tối viên trong Giáo. Bảy ngày liền được vãng sanh, gọn tắt nhất trong các pháp gọn tắt
(Từ đây trở đi ca tụng sự tiếp dẫn trong Quán Kinh, tổng cộng bốn đoạn, trước hết ca tụng pháp môn Tịnh Độ thù thắng)

(2) Xem phần trên, trong lời chú thích cho phần ca tụng kinh Bi Hoa.

(3) Niết Bàn Kinh: “Đắc nhân thân giả, như trảo thượng thổ. Tam ác đạo thân, như đại địa thổ” (Được thân người như đất trên móng tay. Thân trong ác đạo như đất trong đại địa). Kinh còn chép: “Sanh thế vi nhân nan, trị Phật thế diệc nan, do như đại hải trung, manh quy trị phù khổng” (Sanh trong cõi đời làm người là khó, gặp lúc có Phật trong đời cũng khó, giống như con rùa mù trong biển cả gặp được bộng gỗ nổi). Ngài Khuê Phong nói: “Con rùa mù rớt xuống biển, muốn thoát ra nhưng không được. Trong biển có khúc gỗ nổi, trong khúc gỗ có lỗ bộng chứa được thân rùa. Nếu rùa chui vào đó để trôi đến bờ kia sẽ ra khỏi biển. Ta như con rùa mù, Phật pháp như bộng gỗ nổi”.

(5) Bài Tứ Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh có câu: “Hữu Thiền, vô Tịnh Độ, thập nhân, cửu tha lộ” (Có Thiền, không Tịnh Độ, mười người, chín chần chừ). Tổ Ấn Quang giảng: “Người minh tâm kiến tánh ắt phải đoạn sạch Kiến Tư phiền não không còn sót thì mới khỏi Phần Đoạn sanh tử. Kiến Tư còn chưa đoạn sạch mà đã mạng chung thì luân hồi trong lục đạo vẫn khó thoát y như cũ. Trong mười người đại ngộ, hết chín là như vậy. Tha lộ, nghĩa là đường Bồ Đề xa thẳm, mạng sống trong Diêm Phù ngắn ngủi, chần chừ chẳng thể đạt đến được”.

(6) Duy Ma Kinh: “Bồ Tát ư sanh tử úy trung, đương y Như Lai công đức chi lực” (Bồ Tát sợ sanh tử thì hãy nên nương tựa sức công đức của Như Lai).

(7) Thập Nghi Luận: “Trẻ thơ chẳng thể lìa mẹ, lìa mẹ chắc sẽ té hang, giếng, khát sữa mà chết. Chim non chưa mọc đủ lông cánh, hãy nương cây chuyền cành, chẳng thể đi xa. Lông cánh đã đầy đủ thì mới có thể bay lên không trung”.

(8) Phẩm Thập Địa kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Địa địa giai vân niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng” (Trong địa vị nào cũng đều nói niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng). Tây Phương Hiệp Luận: “Ngài Chân Hiết Liễu dùng ngàn hạt châu trong cái lưới của Thiên Đế để giảng ý nghĩa Tịnh Độ viên dung. Vì thế, kinh Di Đà thuộc viên cực giáo. Nếu bảo chỉ là viên đôi phần thì sự viên mãn ấy có phần đoạn, ý nghĩa viên mãn ấy chẳng thành!” Kinh Di Đà nói từ một ngày đến bảy ngày chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn thì khi người ấy mạng chung, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện ra trước mặt. Khi người ấy mạng chung, tâm không điên đảo, liền được sanh về cõi Cực Lạc. Niệm Phật là đường tắt tu hành, nhưng trong bốn cách niệm Phật, trì danh dễ nhất, là đường tắt nhất trong các đường tắt.

Trong Hiển Giáo, Đại Sĩ là bậc Bổ Xứ; trong Mật Tông, Ngài chính là Như Lai. Hiện thân trong các cõi nhiều như vi trần, làm bậc hướng dẫn chánh của chốn Liên Bang.

Đại Giáo Vương Kinh của Mật Tông nói bậc chủ Tây Phương được gọi là Quán Tự Tại Vương Như Lai. Pháp Hoa Kinh: “Thập phương chư quốc độ, vô sát bất hiện thân” (Các cõi nước mười phương, không cõi nào chẳng hiện). Lăng Nghiêm Kinh cũng nói: “Thập phương vi trần quốc độ, giai danh ngã vi Thí Vô Úy giả” (Trong các cõi nước nhiều như vi trần trong mười phương, đều gọi ta là bậc Ban Cho Sự Không Sợ Hãi). Theo lời Vô Tận Ý Bồ Tát hỏi Phật trong kinh Pháp Hoa: “Quán Thế Âm Bồ Tát làm như thế nào để đi khắp thế giới Sa Bà này?” Đức Phật liền nói ba mươi hai ứng thân [mà ngài Quán Âm đã hóa hiện] để vào các cõi nước; nhưng Vô Lượng Thọ Kinh nói Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát hiện đang sống trong thế giới ấy (thế giới Cực Lạc) để tạo sự lợi ích to lớn, nhiếp thủ người niệm Phật sanh về cõi Phật kia. Đại Bi Chú Kinh: “Quán Thế Âm Bồ Tát dĩ tác Phật cánh, vị an lạc thành thục chư chúng sanh cố, hiện tác Bồ Tát. Nhữ đẳng đại chúng, chuyên xưng danh hiệu, mạng chung vãng sanh A Di Đà Phật quốc” (Quán Thế Âm Bồ Tát đã thành Phật, nhưng vì an lạc, thành thục các chúng sanh nên hiện làm Bồ Tát. Hàng đại chúng các ông chuyên xưng danh hiệu [Bồ Tát] thì khi mạng chung sẽ sanh về cõi A Di Đà Phật). Đủ biết Đại Sĩ thị hiện mọi thứ, không gì chẳng nhằm tiếp dẫn vãng sanh mà lập ra!

1. Người học dùng lễ kính làm cận môn, nhờ trì danh để thâm nhập.

2. Bất luận xưng tụng Đại Sĩ hay ức niệm Di Đà.

3. Chỉ cần trong tâm chúng sanh, lúc nào cũng đều phát nguyện vãng sanh sẽ là ở trong thân Đại Sĩ, mỗi niệm đều có Phật thành Chánh Giác.

4. Do vậy, hoặc là cầm đài vàng để khuyên lơn, khích lệ, hoặc là theo hóa Phật đến tiếp nghênh.

5. Hoặc phóng quang nói kinh sâu xa, hoặc dùng Phạm âm an ủi.

6. Rộng mở phương tiện cho phàm thánh cùng ngự Đồng Cư, bất thoái Bồ Đề, thỏa đại nguyện Niết Bàn
(Đây phần ca tụng chánh yếu sự tiếp dẫn của Đại Sĩ, kinh Lăng Nghiêm có nói “cầu Đại Niết Bàn đắc đại Niết Bàn”, đấy là sự ứng nghiệm to lớn vào lúc lâm chung do lễ kính, trì danh).

(1) Theo Vãng Sanh Luận, có năm môn thành tựu năm thứ công đức. Một là cận môn, hai là đại hội chúng môn, ba là trạch môn, bốn là ốc môn, năm là viên lâm du hý môn[2]. Lấy lễ bái A Di Đà Phật hòng sanh về cõi ấy, được sanh về thế giới Cực Lạc thì gọi là nhập môn thứ nhất (tức Cận Môn, Cận là gần gũi). Lấy tán thán A Di Đà Phật, tùy thuận danh nghĩa, xưng danh hiệu Như Lai, nương theo trí tướng quang minh[3] của Như Lai để tu hành, được dự vào trong số đại chúng thì gọi là nhập môn thứ hai. Dùng nhất tâm chuyên niệm, nguyện sanh về cõi ấy, tu hạnh Xa Ma Tha[4] tịch tĩnh tam-muội, được nhập thế giới Liên Hoa Tạng thì gọi là nhập môn thứ ba.

(3) Phát nguyện vãng sanh chính là phát Bồ Đề tâm. Bởi lẽ, trong Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, [Phổ Hiền Bồ Tát dạy Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng] phát mười đại nguyện vương, nhưng nói tóm lại chỉ là “nguyện sanh về Tịnh Độ”. Phẩm Xuất Hiện của kinh Hoa Nghiêm có câu: “Bồ Tát ưng tri tự tâm, niệm niệm thường hữu Phật thành Chánh Giác” (Bồ Tát hãy nên biết trong tự tâm, trong mỗi niệm luôn có Phật thành Chánh Giác).

(4) Theo Quán Kinh, bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh thì Quán Thế Âm Bồ Tát cầm đài kim cang cùng với Đại Thế Chí Bồ Tát đến trước hành giả. A Di Đà Phật phóng đại quang minh chiếu thân hành giả, cùng với các Bồ Tát đưa tay nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí cùng với vô số Bồ Tát tán thán hành giả, khuyên lơn, khích lệ tâm người ấy. Người Thượng Phẩm Trung Sanh thì A Di Đà Phật và Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng, cầm đài tử kim, đến trước hành giả và một ngàn hóa Phật, cùng một lúc xòe tay [tiếp dẫn]. Người Thượng Phẩm Hạ Sanh thì A Di Đà Phật và Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, cùng với các Bồ Tát, tay cầm hoa sen vàng, hóa ra năm trăm vị Phật đến đón người ấy.

(5) Theo Quán Kinh, người Hạ Phẩm Thượng Sanh sẽ sanh trong ao báu, sau bốn mươi chín ngày hoa sen mới nở. Đại Bi Quán Thế Âm phóng đại quang minh, đứng trước người ấy, giảng nói mười hai bộ kinh rất sâu. Nghe xong tin hiểu, phát vô thượng đạo tâm. Người Hạ Phẩm Trung Sanh sẽ sanh trong ao báu, sau sáu kiếp hoa sen mới nở, Quán Thế Âm dùng tiếng Phạm Âm an ủi người ấy, giảng kinh điển Đại Thừa rất sâu. Nghe pháp ấy xong, ngay lập tức phát vô thượng đạo tâm.

(6) Sách Di Đà Yếu Giải có đoạn: “Có bốn cõi Phật, một là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, hai là Phương Tiện Hữu Dư Độ, ba là Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, bốn là Thường Tịch Quang Độ. [Nói đến] thế giới Cực Lạc chính là nói Đồng Cư Tịnh Độ, cõi ấy theo chiều ngang cũng trọn đủ cả ba cõi Tịnh Độ bậc trên”. Kinh Di Đà: “Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả. Thị chư nhân đẳng, giai tất bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh” (Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về nước A Di Đà Phật thì những người ấy đều được chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đối với cõi ấy, hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh). Lăng Nghiêm Kinh: “Cầu đại Niết Bàn, đắc đại Niết Bàn”.

Than ôi! Làm bạn thù thắng của trọn hết chúng sanh thì mới thỏa lòng cha mẹ. Dốc thâm tâm phụng sự khắp trần sát, vẫn cảm thấy khó báo ân Phật (tổng kết sự thuyết pháp lợi sanh của Đại Sĩ).

Quán Kinh: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân, tức thị nhân trung Phân Đà Lợi[5] hoa. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát vi kỳ thắng hữu” (Nếu là người niệm Phật thì nên biết người ấy là hoa sen trắng trong loài người. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát là bạn thù thắng của người ấy). Bất Không Quyến Sách Kinh: “Thử thần chú tâm, thị đương lai thế Bồ Tát phụ mẫu” (Thần chú tâm này là cha mẹ của những Bồ Tát trong đời tương lai). Lăng Nghiêm Kinh: “Tương thử thâm tâm phụng trần sát, thị tắc danh vi báo Phật ân” (Đem thâm tâm này phụng sự trong các cõi nước số nhiều như vi trần, đấy gọi là báo ân Phật).

Đối với những kinh văn đã nêu, có thể lấy nguyên bản để làm chứng. Lại trần thuật những sự cảm ứng, những sự việc này chẳng phải là không có chứng cứ, ngõ hầu [độc giả] tu hành chẳng lui sụt lòng tin. Vì thế, viết ra lời ca tụng, chẳng ngại rườm lời (Đoạn này tổng kết phần trên, dẫn khởi phần dưới).

2.2. Ca tụng sự ứng hóa trong phương này nhằm hiển thị bi sâu nguyện nặng

Trong phần này chia thành năm đoạn lớn:

1) Thị hiện.

2) Cứu khổ.

3) Ban vui.

4) Hoằng pháp.

5) Nhiếp thọ chúng sanh.

Trong phần thị hiện lại chia thành sáu đoạn:

1.1. Hiện tướng nơi Phổ Đà.

1.2. Hiện tướng ở nơi khác.

1.3. Hiện tướng trong gỗ đá.

1.4. Hiện tướng trong loài vật.

1.5. Hiện quang minh.

1.6. Hiện thần thông biến hóa.

1. Thân Phật ngập tràn khắp pháp giới, Phạm âm vang vọng tợ hư không.

2. Quả thật đang hiện hữu khắp nơi, mà cũng chẳng khi nào đoạn tuyệt.

3. Vì vậy, hư không ngút mắt, không gì chẳng phải là thánh dung Đại Sĩ, tiếng sóng vỗ đêm ngày, chính là lời tụng Phổ Môn.

4. Há phải đợi thị hiện biến hóa rồi mới bảo thần kỳ; chờ Ngài du hý thần thông rồi mới tăng lòng tin tưởng, ngưỡng mộ hay sao?

5. Chỉ là mặt trời, mặt trăng tuy sáng, kẻ mù vẫn không trông thấy. Mưa ngọt thấm khắp, hạt giống cháy khó thể nẩy mầm.

6. “Chết rồi diệt mất”, tin lời ma của ngoại đạo! “Phật tánh chân thường”, báng Như Lai là vọng ngữ.

7. Đau lòng than thở xưa nay, mấy kẻ biết ân đức? Nếu chẳng thị hiện, làm sao lay tỉnh kẻ mê muội, ngu si?

8. Đặc biệt nêu bày những gì sử sách chép, nhằm phô tỏ vụng về [ý nghĩa] “Pháp Thân thường trụ”
(Đoạn này ca tụng chung sự thị hiện, phá mối nghi Đoạn Diệt để vững tín căn).

(1 & 2) Phẩm Như Lai Hiện Tướng của kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Phật thân sung mãn ư pháp giới, phổ hiện nhất thiết chúng sanh tiền, tùy duyên phó cảm mị bất châu, nhi hằng xử thử Bồ Đề tọa” (Phật thân tràn ngập khắp pháp giới, hiện trước khắp hết thảy chúng sanh, tùy duyên cảm ứng thảy trọn khắp, nhưng luôn ngồi tòa Bồ Đề này). Phẩm Phổ Hiền Tam Muội lại nói: “Nhập ư pháp giới nhất thiết trần, kỳ thân vô tận, vô sai biệt, thí như hư không tất châu biến, diễn thuyết Như Lai quảng đại pháp” (Nhập trong hết thảy bụi pháp giới, thân ấy vô tận, không sai biệt, ví như hư không bao trọn khắp, diễn nói pháp Như Lai rộng lớn). Vãng Sanh Luận: “Âm thanh vi diệu của Như Lai, tiếng Phạm âm vang vọng mười phương, giống như đất, nước, gió, lửa, hư không chẳng phân biệt”. Phẩm Bất Tư Nghị trong kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Nhất thiết chư Phật, giai năng dĩ thanh tịnh thanh, khởi tứ biện tài, thuyết pháp bất đoạn” (Hết thảy chư Phật đều có thể dùng tiếng thanh tịnh để khởi bốn thứ biện tài thuyết pháp không ngừng).

(3) Thơ của Hám Sơn có câu: “Mãn mục hàn không Đại Sĩ nhan” (Hư không ngút mắt là dung nhan của Đại Sĩ) và câu: “Nhật dạ triều thanh tụng Phổ Môn” (Ngày đêm tiếng sóng tụng Phổ Môn).

(4) Duy Ma Kinh: “Biện tài vô ngại, du hý thần thông”.

(5) Duy Ma Kinh: “Nhật nguyệt khởi bất tịnh da, nhi manh giả bất kiến” (Mặt trời, mặt trăng há có phải là bất tịnh đâu? Nhưng kẻ mù chẳng thấy).

(6) Lăng Nghiêm Kinh: “Ngã tích vị thừa chư Phật hối sắc, kiến Ca Chiên Diên Tỳ Đa La Chi Tử, hàm ngôn thử thân tử hậu đoạn diệt, danh vi Niết Bàn” (Xưa kia, trước khi ta được đức Phật răn dạy, gặp các ông Ca Chiên Diên và Tỳ Đa La Chi Tử[6], họ đều nói sau khi thân chết đi sẽ đoạn diệt, đó gọi là Niết Bàn).

(7) Thơ của ngài Bàng Đạo Huyền có đoạn: “Dã lão phụ tân quy, thôn phụ liên tiêu chức, khán tha gia sự mang, thả đạo bằng thùy lực, vấn cừ, cừ bất tri, đặc địa sanh nghi hoặc, thương ta cổ kim nhân, kỷ cá tri ân đức” (Ông lão gánh củi về, mụ quê dệt suốt đêm, thấy người ta bận bịu, hỏi nhờ vào sức ai, hỏi họ, họ chẳng biết, bởi vậy, sanh nghi hoặc, thương ôi, người xưa nay, mấy ai biết ân đức).

(8) Đại Tông Địa Huyền Văn Bổn Luận: “Tự tánh của bản thể quyết định thường trụ”.

2.2.1.1. Hiện tướng ở Phổ Đà

1. Có lúc thị hiện cho Thuấn Phong trên biển, tướng mãn nguyệt quang minh. Chỉ Sử Hạo nơi vách núi, kim dung chói ngời.

2. Anh lạc chen lẫn, Khâm Sứ họ Phạm chiêm ngưỡng nhiều phen. Bảy báu trang nghiêm, ghi dấu Tào công ba lượt lễ bái.

3. Biệt Truyền vượt biển, mây bỗng trổ sen vàng. Bồng Sơn chúc ly, quang minh ngời chén biếc.

4. Kim tướng vòi vọi, già, trẻ theo Quy Niên cùng nhìn. Bạch y tha thướt, Tăng chúng Phổ Đà chung ngắm.

5. Đắp y ca-sa[7], mặc hậu rộng tay, ông Giám chiêm ngưỡng thánh dung rành rành. Áo khoác ráng trời, xiêm sắc cầu vồng, Đoan Bá nhìn ngắm mê man.

6. Hiện một bên vẻ mặt rồi lại hiện chánh dung, thuận theo tâm họ Trương kiền thành cầu khẩn. Hình tướng rõ rệt hay lờ mờ, nhằm an ủi lòng ông Đinh buồn bực.

7. Cao tăng đốt ngón tay, nhiều đời cùng chiêm ngưỡng. Cụ già xả thân, tùy thời ắt thấy thánh dung.

8. San hô, bích ngọc, chói rực Túy Chiêu. Lọng báu, chuỗi châu, rạng ngời Hồ Vĩ.

9. Mũi chân, gót chân, Vô Ẩn do tin nên gặp gỡ. Bé trai, bé gái, ông Lưu thỏa nguyện hâm mộ.

10. Mẹ con Thúc Hình, thấy ni cô xõa tóc. Đồng bọn Hành Nghĩa, nhìn diệu nữ trang nghiêm.

11. Đốc Tào Nhân Bổn bảo không khác tượng vẽ. Lái buôn Triệu Hỷ than chẳng giống tranh, tượng (tổng cộng hai đoạn)


(1) Theo Phổ Đà Chí, năm Nguyên Phong thứ ba (1080) đời Tống Thần Tông, Nội Điện Thừa Chỉ[8] là Vương Thuấn Phong đi sứ Tam Hàn[9], gặp trận bão, có con rùa lớn đội thuyền, hết sức nguy ngập. Thuấn Phong kinh hãi, hướng về Triều Âm Động dốc lòng cầu khẩn, chợt thấy ánh sáng sắc vàng chói rực, Đại Sĩ hiện tướng mãn nguyệt, chuỗi châu ngọc sáng ngời, từ động đá bước ra, rùa lặn xuống, thuyền bơi tiếp. Trở về đem chuyện này tâu lên, vua ban danh hiệu là Bảo Đà Quán Âm Tự.

Năm Mậu Thìn (1158) trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống Cao Tông, Sử Hạo và Trình Hưu Phủ đến động Triều Âm [triều bái] không thấy gì. Một vị Tăng dạy: “Có hang báu trên đỉnh vách núi, có thể thấy được [Đại Sĩ nơi đó]”. Họ nghe theo lời, chợt [Đại Sĩ] hóa hiện tướng tốt lành, sắc vàng chói ngời, mày mắt rành rành.

(2) Năm Bính Dần (1266) trong niên hiệu Hàm Thuần đời Tống Độ Tông, Phạm Thái Úy[10] mắc bệnh mắt, sai con đến động Triều Âm cầu đảo, múc nước suối rửa mắt. Lành bệnh, lại sai con đi lễ tạ. Đại Sĩ hiện thân bên trái, phảng phất trong làn khói nhạt như được ngăn cách bởi một bức màn bằng sa biếc. Tiếp đó, đến hang Thiện Tài, Đại Sĩ và đồng tử cùng hiện. Đại Sĩ mặc áo the, thắt đai nhẹ, chuỗi ngọc xen kẽ, mắt nhìn lấp lánh như sắp nói điều gì.

Năm Chí Hòa nguyên niên (1054) đời Thái Định Đế nhà Nguyên, quan Ngự Sử Trung Thừa[11] là Tào Lập, vâng mạng tới dâng hương ở động Triều Âm, thấy tướng bạch y, khắp thân đeo anh lạc. Do chưa thuận con nước để nhổ neo, ông ta lại lễ bái, Đại Sĩ lại hiện tướng; đến động Thiện Tài, Đại Sĩ cũng hiện thân ở đó, đồng tử khom mình cung kính, mày, mắt, tóc mây, chuỗi anh lạc bảy báu hiện rõ ràng có thể đếm được từng hạt, những người đi theo đều trông thấy.

(3) Năm Vạn Lịch thứ hai (1574) đời Minh Thần Tông, Biệt Truyền vượt biển đến lễ Đại Sĩ, trong mây chợt xuất hiện đóa sen vàng, thị hiện tướng Bạch Y tha thướt. Ông ta và vị Tăng tên Thúy Vi ở Thành Đô cùng trông thấy.

Năm Đại Đức thứ năm (1301) đời Nguyên Thành Tông, Tập Hiền Học Sĩ[12] là Trương Bồng Sơn phụng chỉ đến làm lễ Chúc Ly[13] ở Phổ Đà, tới động Triều Âm, thấy Đại Sĩ đội mão báu, đeo anh lạc, tay cầm cành dương và chén pha lê biếc. Các đại thần hộ pháp đứng bảo vệ đằng trước, ánh sáng tốt lành tràn ngập cả động.

(4) Đời Tống, quan Cấp Sự Trung[14] là Hoàng Quy Niên lễ động Triều Âm, đích thân thấy tướng tự tại tử kim ngồi trên đá, những kẻ già trẻ đi theo ông ta đều cùng thấy.

Hôm Nguyên Đán năm Khang Hy thứ ba (1664) đời Thanh, tăng chúng trong núi Phổ Đà thấy ánh sáng trắng như cầu vồng từ nóc Phật điện tỏa ra cuộn quanh núi Tiểu Lạc Ca, Đại Sĩ mặc áo trắng cưỡi ánh sáng bước đi. Người hiểu biết bèn đoán sắp có tai nạn xảy ra.

(5) Năm Khang Hy 29 (1690) đời Thanh, Tổng Binh huyện Định Hải là Lam Lý triều yết động Phạm Âm, thấy Đại Sĩ hiện thân: Mày to, mặt đỏ, râu ria rậm rạp, mắt lộ ánh xanh lẫn trắng, chót mũi hơi trắng, đội mão Kim Khuyên Đại Hỏa Diệm, mặc áo ca-sa sắc vàng pha đen, tay rộng, một tượng Phật nhỏ đứng trên đảnh.

Đời Minh, Hoàng Đoan Bá đến lễ Đại Sĩ, cảm Đại Sĩ hiện thân giữa trời, khoác xiêm sắc cầu vồng, áo bào màu như ráng trời, ông ta kinh ngạc, ngỡ là huyễn cảnh[15]. Những chuyện trên đây trích từ Phổ Đà Sơn Chí.

(6) Theo Cư Dị Lục, Trương Hán Nho người xứ Thương Châu đến động Triều Âm, thoạt đầu lễ bái không được thấy Đại Sĩ. Một cụ già bảo muốn thấy thì phải kiền thành cầu nguyện. Ông Trương quỳ cầu đảo, hồi lâu sau thấy kim quang, Đại Sĩ từ trong vách đá hiện ra, đứng cho thấy một bên của Ngài. Ông Trương lại xin nguyện thấy được chánh diện của Đại Sĩ để trở về sẽ phỏng theo đó mà tạc tượng hòng đảnh lễ. Đại Sĩ bèn hướng mặt ra phía biển, xoay lưng vào động, cách ông Trương chỉ trong gang tấc, mái tóc xanh ánh sắc đỏ, cuộn từng lọn tóc mai, gò má cao, sống mũi cao, áo màu lục, mọi người hoan hỷ làm lễ. Cụ già nói: “Nhằm cảm Đại Sĩ thị hiện, ta xả thân quét dọn ở nơi đây, cho tới nay được nhiều lần thấy Ngài”.

Sách Miễn Giới Thiết Yếu Lục chép ông Đinh Triệu Hỷ người xứ Lâm Giang đời Thanh, buôn bán nơi đất Thục, do cầu nguyện cho mẹ được lành bệnh nên đến dâng hương ở động Phạm Âm, thấy hình tượng Đại Sĩ không rõ rệt, liền thầm niệm: “Con từ xa vượt sóng gió, trai giới đến đây, há tấm lòng chưa đủ chí thành ư?” Niệm chưa lâu, chợt thấy Đại Sĩ hiện thân nơi cửa động, áo trắng, một đồng tử áo đỏ đứng đằng trước, chẳng giống với tượng đắp hay vẽ trong thế gian.

(7) Theo Phổ Đà Sơn Chí, năm Đại Trung nguyên niên (847) đời Đường Tuyên Tông, có vị Tăng Ấn Độ đến trước động Triều Âm đốt mười ngón tay. Tay cháy hết, đích thân thấy Đại Sĩ thuyết pháp, trao cho viên đá bằng bảy báu.

Vị Tăng hiệu Đạo Nghi, pháp danh Ngộ Kiên, đốt ba ngón tay cúng Phật, đến Phổ Đà chuyên dốc lòng thành bái yết, được thấy Đại Sĩ. Với câu kế tiếp, xin xem lời chú liên quan trong câu thứ sáu.

(8) Theo Đồ Thư Tập Thành, Vương Tảo tự là Túy Chiêu, vâng theo lời hịch truyền trong quận, đến Phổ Đà Sơn cầu mưa. Do khấn thầm nguyện được thấy Đại Sĩ, chợt thấy có lan can toàn bằng bích ngọc, trên ấy có những nét chạm trổ. Tiếp đó, lại hiện ra những vạch như san hô dài cả mấy thước ở trước mặt một lúc lâu. Ở đằng xa có tượng Bồ Tát, dưới sáng, trên tối, mặc áo trắng, đeo anh lạc, [tượng hiện rõ] rành rành có thể đếm từng hạt [anh lạc] được.

Năm Canh Dần (1230) nhằm niên hiệu Thiệu Định đời Nguyên, quan Quốc Giám là Hồ Vĩ lễ Triều Âm Động, chợt có quang minh sáng rực, một vị Tăng ở bên phải, trưởng giả Nguyệt Cái và Thiện Tài đứng bên trái. Đến động Thiện Tài, đồng tử lại hiện. Lọng báu, tràng kết bằng châu, bày la liệt như rừng trước mặt. Cái tháp bên cạnh tỏa ánh sáng ngời, trong vắt.

(9) Thích Vô Ẩn đời Thanh, tham cứu đắc ngộ, nói: “Danh sơn, sông cái, không đâu chẳng phải là đạo tràng để Bồ Tát hiện bóng. Mũi bàn chân, gót bàn chân, đâu đâu cũng gặp gỡ”. Sư lễ Phổ Đà, cảm Đại Sĩ hiện thân diệu trang nghiêm.

Theo Kỷ Cầu Thư, vào đời Minh, ông Lưu X... ở Mạt Lăng, sanh ra liền ăn chay. Năm hai mươi chín tuổi, triều bái Nam Hải, ngồi trên thuyền phát nguyện được thấy Bồ Tát, chợt trên mặt nước hiện ra hai đóa sen, một đóa có bé trai đứng, đóa kia có bé gái đứng, rồi thấy Đại Sĩ ngồi trên đóa sen to. Họ Lưu lễ bái, trong khoảnh khắc chẳng thấy nữa.

(10) Theo sách Phổ Đà Chỉ Nam, Thịnh Thúc Hình đời Thanh theo mẹ triều bái Phổ Đà. Thoạt đầu, ông ta nghe nói Đại Sĩ hiện thân bèn cười nhạo chẳng tin. Về sau, tại động Phạm Âm liếc nhìn, chợt thấy trên vách đá hiện sắc trắng như bôi phấn; kế đó, nghiễm nhiên hiện hình người, ngũ quan rành rẽ, buông tóc xõa, áo trắng, eo thon, giống như hình trạng tỳ-kheo-ni. Thoạt đầu [Đại Sĩ] ở trong động, rồi bước ra cửa động, càng thấy rõ ràng hơn, ông ta bèn than thở: “Đại Sĩ chẳng thể nghĩ bàn!”, chỉ quỳ mọp, khấu đầu mà thôi. Mẹ ông ta thấy giống hệt như vậy; nhưng những người cùng quỳ lễ mỗi người lại thấy mỗi khác.

Theo Cư Dị Lục, thầy Thích Hành Nghĩa đời Thanh cùng bảy vị du tăng, đội mưa thắp hương ở Triều Âm động, kiền thành cầu đảo, chợt thấy trong động hiện ánh sáng ngũ sắc, có hình tượng Đại Sĩ đứng, trang nghiêm diệu hảo, mang hình tướng nữ nhân. Những vị Tăng kia, mỗi người thấy mỗi khác.

(11) Theo Phổ Đà Sơn Chí, năm Ất Mùi (1355) đời Nguyên Thuận Đế, Lưu Nhân Bổn làm Đốc Tào[16], về đến Phổ Đà, thấy Đại Sĩ ở động Triều Âm chẳng khác gì với hình được họa trong bức vẽ. Đối với câu kế tiếp xin xem lời chú thích thứ sáu.

1. Lại còn Thiện Tài, Long Nữ, chắp tay hầu bên cạnh. La Hán, Vi Thiên, đứng trên mây hộ vệ.

2. Tràng châu, cờ ngọc, la liệt trong sóng, trong mây. Anh vũ, Tần Già bay lượn thơm tho sực nức.

3. Pháp thân chẳng khác, nhưng biến hiện bất đồng.

4. Ví như Xuân về, muôn loài thảo mộc xum xuê, vốn không phân biệt thơm, hôi; trăng in ngàn sông, trọn chẳng nề hà trong, đục.

5. Năm lượt hiện trong triều Vĩnh Lạc, chưa thể truyền sự tốt đẹp hơn xưa. Bức tranh vẽ toàn diện nơi điện Tư Đức, chẳng đủ để bao gồm mai hậu.

6. Bởi thế, Nguyên Quân hối tội, thệ nguyện trang nghiêm. Thịnh Tử dứt nghi, thiết tha lễ bái. Đấy chính là điều thứ nhất trong sự thị hiện của Đại Sĩ vậy (Hoa Nghiêm Kinh: “Hoặc hiện sắc thân nhiếp thủ chúng sanh, hoặc hiện chủng chủng bất tư nghị sắc tịnh quang minh võng nhiếp thủ chúng sanh, hoặc dĩ âm thanh, hoặc dĩ oai nghi, hoặc vị thuyết pháp, hoặc hiện thần biến, linh kỳ tâm ngộ, nhi đắc thành thục”
(Hoặc hiện sắc thân để nhiếp thủ chúng sanh, hoặc hiện các lưới quang minh thanh tịnh có đủ mọi màu chẳng thể nghĩ bàn để nhiếp thủ chúng sanh, hoặc dùng âm thanh, hoặc dùng oai nghi, hoặc thuyết pháp cho họ, hoặc hiện thần thông biến hóa khiến lòng họ giác ngộ, được thành thục). Vì thế, hai đoạn đầu cùng ca tụng oai nghi thị hiện).

(1) Theo Phổ Đà Chí, đời Nguyên, Tào Lập đến động Thiện Tài, thấy đồng tử búi tóc xoắn ốc, chắp tay như người sống. Lại nữa, vào thời Vĩnh Lạc nhà Minh, tại động Triều Âm, hiện tướng Bạch Y Đại Sĩ, long vương, long nữ v.v... theo hầu. Lại còn có Vi Đà Thiên Tôn đứng dưới bóng mặt trời, La Hán đạp mây trên biển đến chầu.

(2) Trong bộ Phổ Đà Sơn Ký của Lỗ Vương đời Minh có chép: “Hoa sen, lọng ngọc, cờ tiết[17] bằng ngọc, tràng kết bằng châu, luôn luôn hiện trong mây, sóng”.

Sách Hải Nam Nhất Chước có dẫn Phổ Đà Sơn Chí rằng: “Bình báu, hoa sen, bày la liệt trong sóng biển, Tần Già[18], Anh Vũ, bay lượn trong hương thơm sực nức”.

(3 & 4) Phẩm Vấn Minh của Hoa Nghiêm Kinh có chép: “Diệc như địa giới nhất, năng sanh chủng chủng nha, phi địa hữu thù dị, chư Phật pháp như thị. Diệc như không trung nguyệt, thế gian mị bất hiện, phi nguyệt vãng kỳ xứ, chư Phật pháp như thị” (Như cõi đất chỉ một, sanh ra các thứ mầm, chẳng phải đất sai khác, pháp chư Phật như vậy. Cũng như trăng trên không, đời không đâu chẳng hiện, trăng chẳng đến chỗ ấy, pháp chư Phật cũng vậy). Còn chép: “Thí như tịnh minh kính, tùy kỳ sở đối chất, hiện tượng các bất đồng, nghiệp tánh diệc như thị” (Ví như gương sáng sạch, tùy thể chất vật soi, hiện hình tượng sai khác, nghiệp tánh cũng giống vậy).

(5) Theo Phổ Đà Chí, trong hai ngày Mười Chín và Hai Mươi tháng Mười năm Vĩnh Lạc 21 (1423) đời Minh, Đại Sĩ hiện thân năm lần ở động Triều Âm. Tại Tư Đức Đường ở phía sau núi, có treo bức họa gia bảo do Vương Doanh vẽ hình tướng Đại Sĩ thị hiện tại động Phạm Âm núi Phổ Đà, gồm năm mươi ba lần biến hiện. Hình vẽ này được lưu truyền trong cõi đời.

(6) Theo Phổ Đà Chí, đời Nguyên, Cáp Lạt Ngạt do bị hoa sen bằng sắt ngăn trở thuyền[19] [bèn quay lại Phổ Đà] sám hối, tạ lỗi, đến cầu đảo nơi động Triều Âm, thấy Bạch Y Đại Sĩ hiện thân. Do vậy, bèn đắp tượng trang nghiêm và dựng điện thờ trong động. Đối với câu kế tiếp, coi lời chú số 10 trong đoạn trước.

Ghi thêm: Trầm My Phong là Thái Thú Đài Loan đời Thanh, đến động Phạm Âm thấy Đại Sĩ hiện thân, báo cho biết ông ta sẽ sanh con trai, [đứa con ấy về sau] chính là quan Biên Tu Vinh Bưu.

Năm Dân Quốc 11 (1922), Lưu Khế Tịnh ở Bành Trạch, đến lễ Phạm Âm Động, thấy Đại Sĩ nhiều lượt hiện thân dưới bốn hình tượng [khác nhau]. Do vậy, bèn soạn bài ký Đại Sĩ Hiện Thân.

2.2.1.2. Hiện tướng ở nơi khác

1. Chùa Huệ Cự tại Trường An đua nhau lưu truyền đài Linh Ứng, ngọn Cô Sơn thành Ma Kiệt, nhiều lần xuất hiện tướng trang nghiêm.

2. Trên núi Mộc Bình, thân tượng choàng anh lạc; trong chùa Dục Vương, đảnh đầu đội tháp.

3. Thiên Vương vằng vặc, giống Như Lai quang minh rạng ngời; bóng tháp trùng trùng, có Bồ Tát hương hoa dâng cúng.

4. Thưởng Linh Chi trì giới luật, sáu cánh tay chen sáng; khử mối nghi cho Tăng Nhẫn, hai nắm tay cùng ngời.

5. Pháp Thường tu tập, chiêm ngưỡng thân tướng phi phàm; họ Hạ vẽ chân dung, thấy kim quang chói rực.

6. Phong Tường tụng niệm thiết tha, Ngũ Phong Tự hiện thân; chùa Báo Ân đời Vĩnh Lạc, ngàn vị Phật phóng quang.

7. Lâm Khôi xem kịch, chói ngời thế giới tựa lưu ly, Phổ Minh nói kinh, rủ dương liễu giữa đám mây màu.

8. Rạng ngời trong ánh đuốc Thị Ngự xứ An Dương, hiện nghi dung trên rèm thiện nhân nơi Nam Quách.

9. Ấy là tùy lòng thành để cảm có sâu hay cạn, thuận theo tâm mà ứng. Hoặc do pháp duyên vốn dầy hay mỏng, chạm vật liền thông. Tuy cùng lúc hiện thân, quả thật đã khơi lòng tin chẳng ngớt. Đấy là điều thứ hai trong sự thị hiện của Đại Sĩ vậy.


(1) Theo sách Huyễn Dị Chí, tại hang Linh Mẫu ở phía Nam thành Trường An có chùa Huệ Cự. Phía Tây Nam chùa, có một ngọn núi tên là Linh Ứng Đài. Trên đó dựng tháp, trong tháp thờ tượng Quán Thế Âm bằng sắt. Đại Sĩ từng hiện thân tại đây.

Theo sách Đường Tây Vực Ký, tại Cô Sơn Tinh Xá thuộc nước Ma Kiệt Đà ở Trung Thiên Trúc, có tượng Quán Tự Tại Bồ Tát, tượng nhỏ nhưng có oai thần. Thường có nhiều người nhịn ăn để cầu Bồ Tát hiện thân. Từ bảy ngày đến một tháng, sẽ thấy diệu tướng trang nghiêm của Bồ Tát từ tượng hiện ra, an ủi, răn dạy người ấy.

(2) Theo sách Phật Tổ Thống Kỷ, một buổi sáng trong năm Nguyên Phù (1099) thứ hai đời Tống, thái thú Viên Châu là Vương Cổ cầu đảo [xin hãy đổ mưa] tại tháp xá-lợi trên núi Mộc Bình. Từ trong vách đá phóng quang, thấy Đại Sĩ thân kim sắc, đeo anh lạc. Lại đến chỗ tháp Ngưỡng Sơn, thấy Tứ Châu Đại Sĩ[20], Duy Ma, La Hán, đứng hai bên, [trời liền] mưa to [nước nhiều đến nỗi ngấm] ướt chân.

Theo Dục Vương Sơn Chí, Quách Thừa Quýnh đời Minh đến lễ xá-lợi tại chùa A Dục Vương, thấy Quán Thế Âm Bồ Tát trên đảnh có cái tháp nhỏ, ngồi xếp bằng trong lòng tháp [thờ xá-lợi].

(3) Phía Đông phủ Tô Châu có hai chùa Đông Thiên Vương và Tây Thiên Vương. Vào năm Đại Lịch thứ ba (769), chợt hiện ra tượng Xí Thạnh Quang Vương Phật[21] và Tỳ La Quán Thế Âm đầy dẫy.

Theo Đàm Hội, năm Vĩnh Lạc thứ năm (1407), Minh Thành Tổ tới Linh Cốc Tự, nhìn ánh mặt trời chiếu lên tháp, từ tầng thứ hai của tháp thấy tượng Quán Âm sắc đỏ, hai bên có bốn tượng Bồ Tát chắp tay đứng hầu, dâng hương hoa cúng dường.

(4) Đời Tống, ngài Linh Chi trùng tu Ngũ Đài Giới Đàn ở Minh Châu vừa xong, có thần nhân dâng ba viên châu, đặt ở giữa đàn. Châu nhiều lượt phóng quang, trong quang minh có Kim Sắc Phật, hoặc Quán Âm sáu tay, hoặc Thiện Tài, hoặc [trưởng giả] Nguyệt Cái, hoặc long thần dâng châu, hoặc trúc tía, liễu biếc.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, Tăng Nhẫn đời Đường đọc kinh Đại Bi, đọc đến phần kinh văn nói về bốn mươi hai tay của Bồ Tát, tới đoạn nói về cánh tay Vô Úy, khởi lòng nghi, bèn kết đàn cầu thỉnh. Từ trong hư không, hiện ra hai tay kết ấn rõ rành rành.

(4) Theo Cao Tăng Truyện tập 2, Pháp Thường đời Đường dốc lòng theo đúng thời khóa tu hành. Vào nửa đêm, ở trong Phật đường thấy Quán Âm Bồ Tát từ ngoài bước vào cửa, đứng trên hư không, thân tướng hoàn mỹ, phi thường, đeo chuỗi ngọc, chiếu sáng ngời hy hữu.

Đời Tống, họ Hạ ở Hú Sơn, Hải Châu, đời đời vẽ tượng Quán Âm rất khéo léo và rất có giá trị. Có một người ăn mày ghẻ lở máu mủ, dơ dáy chẳng ai muốn đến gần, đem một giỏ cá chép đến xin đổi lấy tranh vẽ. Họ Hạ nói: “Nhà chúng tôi không ăn mặn đã nhiều đời, làm sao chấp nhận thứ ô uế này?” Người ăn mày đáp: “Ông vẽ chưa thật giống, ta có bản vẽ đẹp hơn”. Do vậy, bèn quét dọn nhà cửa, dẫn vào, mời ngồi ở phía Nam. Hồi lâu sau, họ Hạ ra xem, thấy đã hiện chân tướng Đại Sĩ, kim quang chiếu tỏa chung quanh.

(6) Vị Tăng tên Phong Tường, pháp danh Dữ Khải, lễ bái, tụng niệm tha thiết ở chùa Ngũ Phong, một đêm nọ đích thân chiêm ngưỡng Đại Sĩ.

Theo sách Hoàng Minh Thông Kỷ, vào năm Vĩnh Lạc 15 (1417) đời Minh, vua ban kinh Phật cho chùa Đại Báo Ân, trong ngôi tháp ở chùa hiện hào quang ngũ sắc, trong ấy có ngàn vị Phật, Quán Âm, La Hán, các thứ diệu tướng đều nhóm họp.

(7) Theo Dạ Đàm Tùy Lục, Lý Lâm Khôi thường cùng mười mấy người cùng trang lứa đi xem kịch. Đêm về, trời tối đen như mực, chợt thấy núi, sông, đại địa cùng phóng quang minh. Ở ngay trước mặt cách mười mấy bước chân, Đại Sĩ hiện tướng báu, cao mấy chục trượng, nét hoa văn trên áo, chuỗi anh lạc sáng ngời như ráng mây, mặt tựa trăng tròn sáng ngời, thần thái dị thường, chiếu rạng tột cùng thế giới đều như lưu ly. Họ Lý vừa chiêm ngưỡng vừa lạy, miệng tụng Phật hiệu không ngừng, những người cùng đi chẳng thấy.

Sư Thích Phổ Minh đời Tống, ở xứ Thiên Trúc, tịnh tọa suốt ba tháng, cảm Đại Sĩ hiện thân, nói rõ hành trạng từ đầu đến cuối. Do vậy, Sư bèn soạn Quán Âm Bổn Hạnh Kinh. Soạn xong, lại cảm Đại Sĩ hiện thân tử kim, tay cầm tịnh bình có cành liễu xanh, đứng giữa đám mây nhiều màu, hồi lâu mới biến mất. Xem chuyện này trong lời tựa bộ Quán Âm Bổn Hạnh Kinh.

(8) Theo sách Nam Hải Từ Hàng, quan Thị Ngự[22] Trương Chi Quý là người huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, trì kinh Quán Âm, rộng hành phương tiện. Về sau, con ông ta bệnh nguy ngập, bèn thỉnh Tăng tụng kinh. Đại Sĩ hiện thân trong ánh đuốc, đại chúng kinh ngạc, cảm thán, đứa con liền hết bệnh.

Theo Tỉnh Am Di Thư, đời Thanh, vị thiện nhân họ Cố ở Nam Quách, cả nhà ăn chay, thờ Phật. Vào ngày Mười Chín tháng Sáu năm Bính Thân (1686) đời Khang Hy, Đại Sĩ hiện thân nơi rèm trúc, nghi dung nghiễm nhiên, trông như một bức vẽ vậy. Ngài Tỉnh Am viết lời tán: “Đại Sĩ hiện dấu tích, rủ lòng ứng quần sanh, đầm lạnh in bóng trăng, hang trống tiếng vang vọng, từ dung chẳng rút nhỏ, rèm trúc chẳng phình to, chân thân từng phiến một, hiện pháp giới vi trần. Ứng duyên mà hiện đến, duyên hết liền rời đi. Ứng hiện như thế nào? Chỉ do lòng Thành cảm”.

(9) Trong bài ký của Lỗ Vương đời Minh có đoạn: “Đại Sĩ linh chân huyền giám, tùy theo sức lớn nhỏ, hay duyên dầy mỏng, lòng Thành cạn hay sâu mà ứng hiện”

2.2.1.3. Hiện tướng nơi gỗ đá



1. Cây bách cổ thụ xứ Như Tuyền, hiện hình như người sống. Trên gỗ Sam thơm am Thủy Nguyệt, người và chim đều trọn.

2. Giang Đô tạo chiến hạm, hiện bóng hai tràng hoa. Lâm An đốn củi, thấy tượng cao một thước.

3. Cột chùa Bạch Vân chợt hiện bảo châu, khe suối Thiên Trúc, gỗ thơm chuyển tới.

4. Trong đá Uẩn Bích tại huyện Tùng Tư, dựa cội trúc nhập Thiền. Giữa viên Không Thanh của nhà hoàng tộc, lửng ngang trời sống động.

5. Thạch nhũ động Bằng Hư, nước nhỏ giọt thành hình Tự Tại. Khám đá dưới đáy biển, hơi giống đảo Phổ Đà.

6. Tướng báu trang nghiêm, Văn Tĩnh trân tàng[23]. Mài rửa hình ảnh lờ mờ, Nguyên Mô đích thân được thấy.

7. Bản Kiều chặt trúc, mây Từ cao ngang lóng trúc. Họ Cố mài gạch, tượng Tống Tử, Tỳ Kheo cùng hiện.

8. Đấy chính là: Nơi đầu lông hiện cõi nước, chốn phàm vĩnh viễn ngự, vi trần chuyển pháp luân, tai dân quê thường nghe. Đấy chính là sự thị hiện thứ ba của Đại Sĩ vậy.



(1) Theo sách Khoáng Viên, trong năm Tân Dậu (1657) niên hiệu Thuận Trị đời Thanh, phủ Kim Lăng chế thuyền đi biển, ra lệnh cho các quận huyện đốn gỗ. Tại hương trấn Như Tuyền, có cây bách cổ thụ to mười mấy người ôm, bèn cưa chặt. Trong gỗ có hình tượng Quán Âm Đại Sĩ hết sức đoan nghiêm, đẹp đẽ, có đồng tử đứng hầu bên cạnh. Những hình ảnh như gộp đá, suối chảy, rừng trúc, chim Anh Vũ, những chi tiết tỉ mỉ đều trọn đủ, cả hai mặt khối gỗ đều có. Họ bèn đem một mặt gỗ khảm vào vách của Tây Tự tại huyện, mặt kia không biết về đâu.

Theo sách Quân Lang Ngẫu Bút, tại Thủy Nguyệt Am ở Dương Châu, trên gỗ Sam có hình tượng Bạch Y Đại Sĩ nghiễm nhiên, Thiện Tài, anh vũ, rừng trúc đều đầy đủ.

(2) Theo sách Hy Triều Tân Ngữ, vào năm Nhâm Dần (1662) đời Khang Hy nhà Thanh, tại hải cảng chốn kinh thành truyền lệnh tạo chiến hạm. Trong vườn nhà họ Lưu ở Giang Đô có một cây Ngân Hạnh[24] đã mọc mấy trăm năm cũng bị đốn. Cưa ra, trong cây có hai tượng Quán Âm Đại Sĩ, đeo tràng hoa thiên nhiên xinh đẹp. Mọi người kinh hãi than thở, đem cúng cho chùa Phước Duyên.

Theo sách Quái Viên, năm Giáp Thìn (1604) đời Vạn Lịch nhà Minh, ở phía Bắc ngọn núi thuộc huyện Lâm An, thôn dân đốn cây làm củi, thấy trong cây có tượng Quán Âm cao đúng một thước, mày, mắt, y phục, trang sức giống hệt như được chạm trổ, liền thờ trong thôn, hương đèn chẳng dứt.

3. Theo Di Kiên Chí, trong niên hiệu Thuần Hy đời Tống, có vị Tăng chùa Bạch Vân ở huyện Mân Thanh, do thấy lớp sơn son của cột điện tối tăm, xỉn màu, liền bảo thợ sơn tô phết lại. Do dưới lớp sơn cũ có nét hằn lờ mờ, liền cậy sơn ra, thấy có một viên bảo châu trong cột, trong châu có tượng Quán Âm nhập Định, mày mắt rõ ràng, người xem không ai chẳng cúi đầu dốc lòng lễ kính.

Theo Thiên Trúc Chí, trong niên hiệu Thiên Phước nhà Thạch Tấn[25], vị Tăng xứ Thượng Thiên Trúc là Đạo Dực mộng thấy khe nước trước núi phóng quang, liền tìm được khối gỗ thơm kỳ lạ, cao mấy thước. Bửa ra, bên trong có hình tượng Đại Sĩ do thiên nhiên tạo thành; do vậy, bèn khắc thành tượng.

(4) Theo Diệc Phục Như Thị Tập, tại huyện Tùng Tư tỉnh Hồ Bắc, trong sông sanh ra đá ngũ sắc. Từng thấy có một người dân địa phương nhặt được hòn đá màu xanh nhạt. Lúc mới mài thì thấy trong mạch đá ẩn hiện cành trúc, mài thêm nữa thì thấy cành lá phân minh, ngọn trúc hơi rủ xuống, Đại Sĩ ngồi ngay ngắn dựa lưng vào thân trúc, pháp tướng trang nghiêm, mắt, mày đều rõ rệt. Về sau có thương nhân mua lại, đem đi mất.

Theo Quái Viên, hoàng tộc nhà Minh ở đất Sở[26] có cất giữ một viên đá màu vàng, to bằng bàn tay, ban ngày tỏa sáng, có tượng Bạch Y Quán Âm, lông mày, tóc, anh lạc, tướng hảo thành tựu, dường như khảm vào hư không, lay động như người sống. Uẩn Bích và Không Thanh đều là tên của những viên đá.

(5) Theo Cư Dị Lục, trong các chỗ núi sông nổi tiếng của đất Điền (Vân Nam), đất Kiềm (Quý Châu), hai động Bằng Hư và Thanh Khê đứng đầu. Những mầm đá ở Thanh Khê là lạ lùng nhất. Động Bằng Hư có thạch nhũ như hình cái chuông, nước nhỏ giọt đọng thành hình Đại Sĩ, La Hán [tinh xảo], dẫu là thợ chạm trổ chẳng thể nào sánh bằng.

Theo Tri Bất Túc Trai Tùng Thư, gần đây có một người tìm được tượng Quán Âm bằng đá trắng ở đáy biển, phía trên tượng lại có am, hơi giống như hình dạng của gộp đá Bổ Đà (Phổ Đà), điêu khắc tinh tế. Về sau, tượng này thuộc về tay một lái buôn ở đất Mân (Phước Kiến).

(6) Theo Đệ Nhất Công Đức Lục, ông Tôn Văn Tĩnh cất giữ một trăm lẻ một khối đá; do vậy, bèn đặt tên chỗ mình ở là Bách Nhất Sơn Phòng. Trong ấy, một khối đá được Văn Tĩnh quý nhất, giấu kỹ, cao chưa đầy nửa thước, trong đá có hình Quán Âm Đại Sĩ, tướng báu trang nghiêm, nét hoa văn trên áo, anh lạc, tỉ mỉ trọn đủ. [Nhìn tượng ấy xong] nhìn vào cái bình phong làm bằng đá Đại Lý, thì thấy [tài nghệ điêu khắc những cảnh như] núi cao, trăng nhỏ, nước rơi, đá lộ, và sóng biển, mặt trời buổi sớm, hạc, nai quẩn quanh bên cội đào v.v... [trong tấm bình phong ấy] chẳng đáng để nói tới nữa!

Theo sách Thiết Võng San Hô, ông Thang Nguyên Mô kể đã từng thấy một viên đá màu xanh dương, to bằng trứng ngỗng nhưng dẹp, phía trên có tượng Quán Âm lờ mờ như bức vẽ, đem mài rửa thì càng hiện rõ.

(7) Theo Nhẫn Am Ngữ Lục, người xứ Bản Kiều chặt trúc, trong mười ba lóng trúc đều có tượng Quán Âm Đại Sĩ.

Theo Nhất Hạnh Cư Tập, ông Cố Văn Diệu, vợ là Tống Thị, chuyên thờ Đại Sĩ. Một đêm kia, con họ là Tấn Phương mộng thấy hai vị Đại Sĩ mặc áo chằm vá rách rưới dường như cầu xin điều gì. Sáng ra, có người đem bức họa Quán Âm có hình dạng như một vị Tăng do Ngô Đạo Tử[27] vẽ và bức tượng thêu Tống Tử Quán Âm đến rao bán, bèn vội trả đúng giá, bồi tranh, sửa chữa như mới rồi đem tặng cho Nguyệt Thanh Am. Đến Tết, Tấn Phương lại mộng thấy hai vị Đại Sĩ bảo: “Sắp ra đi” liền vội đến am xem, thấy treo nơi vách chạn đã lâu, bèn thỉnh về, treo trong tịnh thất, Nhụ Nhân[28] lễ kính không bỏ sót buổi nào. Một hôm, nơi vách gạch của tịnh thất, chợt thấy Đại Sĩ hiện tướng tăng nhân. Tám hôm sau, lại thấy Đại Sĩ hiện tướng Tống Tử Quán Âm[29], Thiện Tài, Long Nữ, trước sau cùng xuất hiện, liền cho khắc tượng lên gạch, kim dung sáng ngời.

(8) Lăng Nghiêm Kinh: “Ư nhất mao đoan, hiện Bảo Vương sát, tọa vi trần lý, chuyển đại pháp luân” (Trong đầu sợi lông, hiện cõi Bảo Vương, ngồi trong vi trần chuyển đại pháp luân). Sách Trang Tử có câu: “Đại thanh bất nhập ư lý nhĩ” (Tiếng tăm to lớn chẳng lọt tai dân quê).


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Chủ Nhật, 08 Nov 2015, 0:34 AM
 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 09 Nov 2015, 1:35 AM | Message # 12
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
2.2.1.4. Hiện tướng trong loài vật



1. Bèn có nghêu, hàu trong bếp, ba lượt hiện kim dung. Ba ba dưới đáy nồi, hai phen bày diệu tướng.

2. Xương cẳng bò của Hoài Sâm, chất tủy xương ngưng đọng thành vàng. Răng hàm lợn của Vô Cữu, viên châu nơi búi tóc to như hạt thóc.

3. Trứng gà họ Tuân đời Đường, diệu tướng trang nghiêm. Kén tằm họ Đàm, nghiễm nhiên tướng hảo.

4. Phàm giết hại loài vật như thế, chính là làm thân Phật chảy máu.

5. Riêng thương xót con một, thay chúng sanh chịu khổ. Đấy là sự thị hiện thứ tư của Đại Sĩ.




(1) Theo Truyền Đăng Lục, vua Đường Văn Tông thích ăn hàu. Một hôm, ngự soạn[30] có một con hàu to, dao bửa không được, vua tự tay bửa lấy thì vỏ hàu tách ra, bên trong là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Vua kinh dị, đựng trong hộp gỗ đàn hương bịt vàng, thờ trong chùa Hưng Thiện.

Theo sách Di Kiên Chí, Du Tập đời Tống làm Thái Úy huyện Hưng Hóa, ngồi thuyền ngược sông Hoài. Nhà thuyền hằng ngày mua nghêu, hàu làm thức ăn. Ông Tập thường mua lại, thả xuống sông. Ngẫu nhiên họ mua được một con nghêu to, ông Tập trả giá gấp bội mà vẫn không chuộc được. Họ liền bỏ vào nồi, chợt vang ra tiếng lớn, ánh sáng hừng hực toả lên. Nhìn vào, con nghêu đã tách vỏ, hiện ra tượng Quán Âm Đại Sĩ, tướng hảo đoan nghiêm, áo, mão, anh lạc, và lá, cành trúc đều do những viên ngọc trai nhỏ kết thành. Ông Tập bảo nhà thuyền niệm Phật sám hối, đem tượng về thờ trong nhà.

Lại nữa, ông Trịnh Bá Dần thấy tượng Quán Âm trong một con nghêu ở Sở Châu, diệu tướng trang nghiêm, cành dương, tịnh bình đều đủ.

Theo Đông Pha Tạp Ký, Ngô Bích là người đất Mân, từng tới nhà viên Trung Thừa họ Kim ăn tiệc. Họ nấu ba ba, gỡ thịt ba ba ra, thấy trong ấy có một tượng Quán Âm, đầu đội lúp vàng, áo trắng, đeo trang sức, mày, mắt, áo, xiêm như vẽ, tay phải rủ xuống, tay trái đặt lên ngực, chân đứng trên hoa sen. Khách dự tiệc không ai chẳng kinh hãi, liền sai đổ canh đi. Dựa theo chuyện này, Quái Viên viết chuyện Hà Bích.

Theo Âm Chất Văn Tân Biên, Dương Hiếu Chiêm ở Tô Châu thích ăn ba ba. Một hôm, đầy tớ vừa mổ ba ba, thấy có tượng Quán Âm Đại Sĩ rành rành, kinh hãi, chùn tay, cả dao lẫn thịt ba ba đều vứt xuống sông. Chạy đi báo với họ Dương, Dương giận dữ, quở là bịa chuyện, hết sức trách phạt. Đầy tớ thưa: “Con đền mạng chứ không dám giết!” Dương nói: “Đem ra chợ, ắt có người giết”; ông ta vừa đi vào trong nhà, thấy con ba ba vừa mua trước đó, lển nghển bò ra. Họ Dương bảo: “Quả nhiên mày nói dối tao, nay nó vẫn còn đây mà!” Ép đầy tớ đem ba ba đi nấu, Dương ăn vào được một lúc liền chết tươi.

(2) Theo sách Hải Nam Nhất Chước, sư Thích Hoài Sâm thấy bầy chó trong thôn giành nhau gặm một cái xương cẳng bò, cắn nhau điên cuồng không ngừng, dùng gậy đuổi không được. Do vậy, bèn đoạt lấy, chẻ ra, chất tủy xương bên trong đông cứng như vàng, thành hình tượng Bồ Tát, hoa văn trên áo, chuỗi ngọc, tướng hảo lạ lùng đẹp đẽ.

Theo Cư Sĩ Truyện, vào đời Tống, có người dân ở huyện Hoạch Gia mổ lợn để cúng tế. Có con chó săn gặm xương đầu lợn, gằm ghè suốt bốn ngày nhưng không nhá được. Chẻ ra xem, thấy trong răng hàm lợn có một tượng Như Lai, trên búi tóc có một hạt châu to bằng hạt thóc, nhắm mắt, ngồi xếp bằng, tròng mắt ẩn kín. Triều Vô Cữu bèn viết lời tán dương.

Theo Quái Viên ghi chép, phía sau chuyện Đại Sĩ hiện thân tướng trong con ba ba ở bếp nhà viên Trung Thừa họ Kim có câu: “Nhưng chuyện tượng Quán Âm hiện trong răng lợn của người đời Đường vẫn chưa đủ gọi là hiếm có”, tức là đã lầm Tống thành Đường vậy.

(3) Theo Dị Văn Lục, vợ người đầu bếp nhà họ Tuân đời Đường cầm mấy quả trứng, làm rớt xuống đất, bên trong có tượng Quán Âm Đại Sĩ ngồi trên hoa sen, Thiện Tài, Long Nữ chầu hầu hai bên, tịnh bình, cành dương. Sách Quái Viên Bút Ký cũng chép chuyện này.

Di Kiên Bính Chí ghi: “Ở nhà Đàm Tăng, tôi thấy trong kén tằm có tượng nhỏ, hình trạng giống như Quán Âm”.

(4) Theo giới luật, làm thân Phật chảy máu là một tội trong Ngũ Nghịch.

(5) Niết Bàn Kinh: “Bồ Tát tu từ bi hỷ, đắc trụ cực ái nhất tử chi địa. Hà danh nhất tử? Như phụ mẫu ái tử yểu vong, nguyện dữ bình mạng, Bồ Tát diệc nhĩ” (Bồ Tát tu từ bi hỷ, đắc địa vị Cực Ái Nhất Tử. Vì sao gọi là Nhất Tử (con độc nhất)? Giống như con yêu của cha mẹ chết mất, nguyện bỏ mạng theo con, Bồ Tát cũng giống như thế). Phẩm Thập Hồi Hướng kinh Hoa Nghiêm có câu: “Ngã đương phổ vị chúng sanh, ư nhất thiết thế giới ác thú trung, tận vị lai kiếp, thọ nhất thiết khổ, bất linh chúng sanh đọa địa ngục. Ngã đương ư bỉ địa ngục, súc sanh, Diêm La Vương đẳng xứ, dĩ thân vi chất, cứu thục nhất thiết ác đạo chúng sanh, linh đắc giải thoát” (Tôi sẽ vì khắp chúng sanh trong đường ác nơi hết thảy thế giới, đến tột cùng kiếp vị lai chịu hết thảy nỗi khổ, chẳng để cho chúng sanh đọa vào địa ngục. Tôi sẽ ở trong những chỗ địa ngục, súc sanh, Diêm La Vương v.v... ấy, đem thân thay thế hòng cứu chuộc hết thảy chúng sanh trong ác đạo khiến họ được giải thoát).



2.2.1.5. Hiện quang minh



1. Bèn có chuỗi anh lạc từ triều đình trả lại, sắc tối tăm bèn sáng bừng. Hiện Bảo Sơn cho Khâm Sứ, giữa đêm [mà thấy rõ ràng] như vẽ.

2. Hình truyền vách Đông, sáng rực hai cung Đường, Tống. Tượng thờ Tây Thiên, ba đạo quang minh xông ngất mây trời.

3. Bước khỏi Lạc Ca, sắc hiện như cầu vồng. Thiên Trúc công thành, quang minh át mặt trời.

4. May gặp dịp thánh đản, có châu quang tại động Triều Âm. Nhằm lễ cầu phước cho hoàng thất, hiện kim sắc thanh lương.

5. Tôn xưng bà Ngô, bình tịnh thủy phát sanh linh cảm. Thờ tại Qua Châu, gương tỏa viên quang chiếu sáng tột cùng.

6. Bài ký ghi chuyện Lôi Phong thọ giới, sáng rực khắp sân. Mừng được Vương Diễm đón về, quang soi ba thước.

7. Ngoài màn bệnh Tăng, thấy rõ gót vàng. Bên bãi dân chài, đầu sắt tỏa ngời ánh lửa.

8. Sùng Thánh ghi chép cảnh tượng lớn lao, tướng bạch hào còn mãi. Từ Lâm vui tu lễ bái, đóa liên hoa thường tỏa quang minh.

9. Tả Khê dốc lòng niệm, sắc màu hệt mây trời. Khai Quýnh trọn chí thành, vách chùa ngời kim sắc.

10. Ấy là vì chúng sanh Phật tánh vốn sẵn Ma Ni, Bồ Tát làm duyên huân tập, dường như gương sáng.

11. Bổn Giác, Thỉ Giác ngầm hợp, liền không ngăn cách ta - người.

12. Thần châu rực rỡ, chẳng do bên ngoài mà có. Lưới thiên đế trùng trùng, vốn sẵn giăng xen. Đấy chính là sự thị hiện thứ năm của Đại Sĩ vậy.




(1) Theo Thiên Trúc Chí, tượng Quán Âm ở chùa Thượng Thiên Trúc thân đeo anh lạc đều làm bằng thất bảo do nhà Tống ban tặng, quý báu, hiếm có trên đời. Sau khi Hàng Châu quy phục, do thấy chuỗi anh lạc có thần quang, [quan lại địa phương] bèn đem dâng lên triều đình. Đến kinh sư, chuỗi anh lạc mờ câm không sáng nữa. Vua bèn bảo: “Nếu muốn trở về chùa Thiên Trúc, mong đến lúc... sẽ lại phóng quang minh”. Tới kỳ hạn, thần quang ngút trời, bèn rước trở về [chùa Thượng Thiên Trúc].

Theo Phổ Đà Chí, Thị Lang[31] Lưu Đạt và Cấp Sự Trung Ngô Sức đời Tống cùng đi sứ Cao Ly trở về. Suốt bốn ngày đêm, trăng tối, mây dầy, chẳng biết phương hướng. Thủy thủ kinh hoảng, bèn hướng về phía Đại Sĩ lễ bái, trong khoảnh khắc, thần quang ngập tràn mặt biển, bốn phía sáng trưng như ban ngày, thấy núi Chiêu Bảo, liền lên được bờ.

(2) Đời Lương, Trương Tăng Do vẽ tượng Quán Âm và Thế Chí ở vách Đông chùa Thiện Tịch tại Đức Dương, hào quang chiếu bốn phía. Đến đời Đường, Võ Tắc Thiên hạ lệnh thỉnh tượng vào cung, ánh sáng càng rực rỡ. Đường Trung Tông càng thêm khen ngợi khôn cùng. Đến đời Tống, Trần Thánh Du có được hai bức tượng này, rất quý trọng. Năm Chánh Hòa thứ sáu (1116), đem dâng lên Tống Huy Tông. Vua sai vẽ lại để giữ trong cung cấm, ánh sáng càng sáng ngời.

Theo Thiên Trúc Chí, năm Chí Chánh 20 (1360) đời Nguyên, đất Hàng mắc nạn đao binh, chùa cháy sạch, thánh tượng chẳng biết lạc về đâu. Thừa Tướng đăng bảng vàng tìm tượng, bèn tìm được tượng trong trảng cỏ, rước về an trí tại chùa Tây Thiên. Khi ấy, tượng phóng quang minh to lớn, chiếu tận trời thẳm, chia thành ba tia sáng. Một tia chiếu về phương Đông như hướng tới Phổ Đà. Một tia chiếu về Thượng Thiên Trúc, một tia chiếu về phía chùa Tây Thiên hiện thời, đại chúng càng thêm kính ngưỡng.

(3) Đối với câu trước, xin xem lời chú thích thứ tư trong phần hiện tướng ở Phổ Đà. Theo Thiên Trúc Chí, vị Tăng tên Đạo Dực khắc tượng xong, bạch quang tỏa sáng ngời, ban đêm ánh sáng ấy chói mờ các ngọn đuốc, ban ngày che lấp ánh sáng mặt trời.

(4) Theo Phổ Đà Chí, vào đêm Mười Chín tháng Hai năm Chánh Thống thứ hai (1437) đời Minh, Đại Sĩ hiện bảo châu nơi động Triều Âm, phóng đại quang minh.

Năm Khang Hy 50 (1711) đời Thanh, Tri Phủ Mã Trụ Thạch đến Phổ Đà chủ trì đạo tràng Chúc Ly, cảm Đại Sĩ phóng đại viên quang kim sắc trên rặng núi Thanh Lương.

(5) Theo Thiện Nữ Nhân Truyện, vợ của Lã Hoằng đời Tống là Ngô Thị thờ Đại Sĩ có linh cảm. Vì thế, được người ta gọi là Quán Âm Huyện Quân[32]. Trong tịnh thất, bà ta để mấy chục cái bình, chứa đầy nước sạch, tay cầm cành dương tụng chú, cảm Đại Sĩ phóng quang chiếu vào bình.

Vợ chồng ông X... ở Qua Châu, thờ ba tượng Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền Đại Sĩ, sáng tối lễ bái. Năm Vạn Lịch 13 (1585), ba tấm gương sau tượng[33] ban đêm phóng đại quang minh chiếu khắp cả nhà, suốt cả ba đêm như thế.

(6) Theo Phật Tổ Thống Kỷ, đời Tống, trong niên hiệu Nguyên Phong, ngài Lôi Phong Huệ Tài thọ giới nơi các vị như Linh Chi Chiếu v.v... Tượng Quán Âm phóng quang, giảng đường sáng bừng. Ngài Tịnh Từ Thủ Nhất có viết bài Giới Quang Ký.

Đời Lưu Tống[34], Vương Diễm thuở nhỏ sống tại Giao Chỉ, vị Tăng tặng cho tượng Quán Âm để cúng dường. Về sau, trở về kinh, lễ kính không mệt mỏi. Do sửa nhà, phải gởi tượng vào chùa Nam Giản. Mấy tháng sau, chợt mộng thấy tượng đứng trong một xó, bèn đón về. Đêm ấy, tượng Phật trong chùa đều bị trộm sạch. Về sau, tượng phóng quang xa tới ba thước, kim quang lóa mắt.

(7) Theo Cao Tăng Truyện tập 2, đời Ngụy, sư Đạo Thái mộng thấy có người bảo: “Ông sẽ mất năm bốn mươi hai tuổi”. Đến năm ấy bị bệnh, một người bạn khuyên quy y Đại Sĩ, liền kiền thành tụng niệm suốt bốn ngày đêm không ngừng. Chợt thấy dưới tấm màn ở chỗ đang ngồi có quang minh từ ngoài cửa chiếu vào, thấy gót chân Quán Âm kim sắc chiếu sáng ngời, bảo Đạo Thái: “Ngươi niệm Quán Âm phải không?” Đạo Thái vén màn cúi đầu lễ thì đã không còn thấy nữa, liền được sống thọ.

Theo Phổ Đà Chí, năm Khang Hy 13 (1674) đời Thanh, có mấy chục chiếc thuyền chài đậu ở bãi Thiên Bộ Sa. Ban đêm chợt thấy ánh lửa sáng tận trời; sáng ra thấy một đầu tượng Phật nằm giữa cát, chẳng biết là từ đâu mà có, mới biết ánh sáng ban đêm chính là Phật quang, liền khênh về thờ tại chùa sau.

(8) Theo Nhĩ Hải Tùng Đàm, chùa Sùng Thánh ở phía Nam thành Đại Lý đất Điền (Vân Nam) tạo tượng Đại Sĩ bằng đồng, cao hai trượng bốn thước, eo thon, chân trần, giống như tranh vẽ của Ngô Đạo Tử. Tượng đúc xong, bạch hào quang phủ lấp suốt ba ngày ba đêm. Đến nay vào khoảng chuyển mùa giữa Xuân và Hạ, cũng thường phóng quang.

Ngài Thích Hoằng Tán đời Thanh muốn báo ân cha mẹ, dùng vải bạch điệp vẽ tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi. Tượng vẽ xong, nhóm đại chúng giảng Đại Bi Sám, tu tập, lễ bái suốt hai mươi mốt ngày, cảm Đại Sĩ phóng kim sắc quang, tay cầm hoa sen xanh và hồng, nhiều lượt phóng bạch quang. Về sau, hễ ai lễ bái, tu tập trước tượng, từ hoa sen thường phóng ra bạch quang. Do vậy, bèn soạn bộ Từ Lâm Tập.

(9) Theo Cao Tăng Truyện tập 3, ngài Tả Khê Huyền Lãng đời Đường vẽ tượng Quán Âm nơi vách điện, đốt hương chú tâm niệm, cảm được ngũ sắc quang. Đạo tục đều chiêm ngưỡng, than là chưa từng có.

Theo Từ Lâm Tập, Thích Khai Quýnh mắc bệnh, thở ra không hít vào được. Khai Quýnh nhất tâm niệm danh hiệu Đại Sĩ, dần dần lành bệnh. Do vậy, nghiêm túc, thành kính vẽ tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn: Người vẽ dùng giấy che mũi, giấy lẫn mực đều được gia trì bằng thần chú. Đêm vẽ xong tượng, quang minh sáng ngời, vách chùa Từ Lâm đều như sắc vàng ròng.

(10) Viên Giác Kinh: “Thí như thanh tịnh Ma Ni bảo châu, ánh ư ngũ sắc, tùy phương các hiện, viên giác tịnh tánh hiện ư thân tâm, tùy loại các ứng, diệc phục như thị” (Ví như bảo châu Ma Ni thanh tịnh tỏa ngời ánh sáng năm màu, phương nào cũng hiện, tánh Viên Giác thanh tịnh hiện trong thâm tâm, ứng theo từng loại cũng giống như thế).

Khởi Tín Luận: “Thể tướng của Giác có bốn nghĩa lớn, ví như gương sạch. Duyên thứ tư huân tập cái gương, nghĩa là nương theo pháp để xuất ly, chiếu khắp tâm chúng sanh khiến họ tu thiện căn, ứng theo tâm niệm mà thị hiện”.

(11) Khởi Tín Luận: “Nghĩa của Bổn Giác là đối ứng với Thỉ Giác để nói, bởi lẽ Thỉ Giác cũng giống như Bổn Giác[35]”.

(12) Lăng Nghiêm Kinh: “Phương ngộ thần châu, phi tùng ngoại đắc” (Mới hiểu rằng viên thần châu chẳng phải do bên ngoài mà được). Trong phần giảng về sự xen lẫn của thân và cõi nước, Thể và Dụng thấu triệt lẫn nhau, kinh Hoa Nghiêm có dùng nghĩa “các viên châu nơi cái lưới của Đế Thích hiện bóng, chiếu rọi lẫn nhau”.



2.2.1.6. Hiện thần thông, biến hóa



1. Bèn có: Nơi tịnh thất bà Trần, trên tòa hiện thân vàng. Trong bình bà cụ Trịnh, tiền chảy thành tượng báu

2. Ngăn thuyền nhằm cảnh tỉnh, sen sắt nở tầng tầng. Chặn di dân khỏi biển, chiếc bát vàng chợt nổi.

3. Giữa sóng Giang Âm, yểng báo chuông trở về. Ni am nước Sở, bồ câu vẽ thánh tượng.

4. Giúp núi Điểm Thương đúc tượng, ngòi rãnh chảy đồng lỏng. Thành tựu khuôn chùa Thiên Trúc, núi Vân Phòng lở đất.

5. Gương Phong Môn, hiện ảnh Đế Thích, chư thiên. Động Triều Âm, hóa hình Diêm La, ngọc nữ.

6. Trí Cần hiếu dưỡng, thấy cành cành ngồi chật Như Lai. Tâm Đạt lòng thành, mộng lá lá in hình Bồ Tát.

7. Quốc vương soi gương, hiện bóng núi thần. Phổ Minh đúc chuông, ngân vang huyện bạn.

8. Thánh tượng Thọ An, từ biển giạt vào. Túi kinh Đổng Cát, từ nước vọt lên.

9. Tay nắm xương Lợi Tân Bồ Tát, cách đêm vẫn còn. Thân hiện vẻ dung nhan thiên nữ, trong khoảnh khắc ba phen biến hóa.

10. Trong lò bà Tôn, vươn đóa sen xanh. Trai phòng ông Mậu, trúc rủ lọng biếc.

11. U Khê gia bị, thân hóa hiện chuông vàng. Phổ Đà hiển linh, cánh hoa trôi nâng ngón.

12. Chùa Quang Phước tôn sùng kim thân, vốn trồi lên từ giữa bùn lầy. Thánh tượng đến xứ Hồi Long, đất thù thắng chẳng lo nước lụt.

13. Phác Lão chùa Thanh Nguyên, vách hiện hoa sen. Cô gái xứ Bình Tuyền, giường ngăn dương liễu.

14. Thiện Tài thoát nạn, nhặt áo da dê, đào, táo. Trâu Hạo tụng kinh, hiện điềm lành xá-lợi, cành tre. Những chuyện như vậy là do Như Huyễn tam-muội, nào có phải hư huyễn, thần kỳ! Hãy nên biết đấy là Đối Trị Tất Đàn, tâm bi mẫn thật ban rộng khắp. Đấy chính là sự thị hiện thứ sáu của Đại Sĩ vậy.




(1) Theo Biện Chánh Luận, đời Đường, vợ ông Trần Nguyên Phạm là Trương Thị nhất tâm thờ Phật, luôn nguyện tạo tượng Quán Âm để thờ phụng, nhưng thiếu tiền bạc, chẳng thể thỏa nguyện. [Trải qua một thời gian sau], chợt có một tượng Quán Âm bằng vàng, cao chừng năm thước hiện trên tòa cao, tỏa ánh sáng nhiều màu chiếu bốn phía, mọi người đều than lạ.

Theo sách Nam Hải Từ Hàng, đời Tống có bà lão họ Trịnh ở Ngô Giang xin tiền nơi chợ, cất trong bình, muốn thuê vẽ thánh tượng [Quán Âm]. Chợt hàng xóm hỏa hạn cháy lan. Bà cụ tìm được cái bình cũ trong đám tro tàn, tiền đã bị nung chảy thành tượng báu Đại Sĩ, cao chừng một thước, chuỗi anh lạc, tịnh bình, cành dương đều trọn đủ, khéo léo, tinh xảo tuyệt diệu.

(2) Phổ Đà Chí có nói về nguyên do của cái tên “biển Liên Hoa”. Một là dưới thời hoàng đế cuối cùng của nhà Hậu Lương, vị Tăng Nhật Bản tên là Huệ Ngạc, lấy tượng Quán Âm từ núi Ngũ Đài đem về nước mình. Đi đến nơi đây, khắp biển nẩy sanh hoa sen sắt, thuyền không thể tiến được. Hai là khi Tống Thái Tổ sai Vương Quý đến núi lễ Phật, Quý nghĩ: “Giữa chốn biển khơi sóng vỗ ào ạt, làm sao có Bồ Tát được?” Lúc trở về, liền có hoa sen sắt ngăn thuyền. Ba là tướng nhà Nguyên tên Cáp Lạt Ngạt bái yết động Triều Âm, chẳng thấy gì, bèn giương cung bắn vào động. Quay thuyền trở về, khắp biển chợt trổ đầy hoa sen sắt. Bốn là Minh Thái Tổ sai Thang Hòa đến Phổ Đà, muốn phá chùa. Thuyền đậu cạnh núi Chiêu Bảo, chợt mặt biển hiện ra hoa sen sắt, cánh hoa sáng rực như sắc vàng nung, xông chiếu khắp trên dưới, thuyền đi chẳng được phải quay lại. Hơn nữa, Thang Hòa toan dời dân đảo đi nơi khác, thấy trên mặt biển nổi lên một cái bát vàng, nay hãy còn tên núi là Kim Bát Vu Sơn (núi bát vàng).

(3) Theo Quái Viên, chùa Quán Âm ở Giang Âm được trùng tu vào thời Gia Tĩnh nhà Minh, không có chuông. Một hôm, ngoài sông trôi tấp vào hai cái chuông to, sóng dữ vỗ vào chuông, tiếng vang mấy dặm. Trên mỗi chuông có một con yểng đậu, kêu liên tục: “Chuông trong chùa Quán Âm”. Dân cư bèn đưa một chuông vào chùa, chuông kia để xuôi theo dòng, chẳng biết về đâu.

Đời Tống, chùa Thiên Tiên ở Tương Dương, trên vách điện vẽ hình Thiên Thủ Quán Âm. Tương truyền, đầu niên hiệu Vũ Đức đời Đường, vị ni trong chùa tìm thợ vẽ hình; có một cặp vợ chồng bế đứa con gái đến xin nhận vẽ, hạn định bảy ngày sẽ vẽ xong cả điện. Đến ngày thứ sáu, bà ni nghi ngờ, đẩy cửa vào, thấy vắng lặng, có hai con bồ câu bay vụt đi. Thánh tượng đã vẽ thành, chỉ có tay kết ấn là chưa vẽ xong.

(4) Chùa Sùng Thánh ở phía Tây đất Điền nằm dưới chân núi Điểm Thương, to lớn, đẹp đẽ, tinh xảo, lợp ngói lưu ly[36], sàn và lối đi lót toàn bằng đá Điểm Thương. Trong niên hiệu Thiên Bảo, tăng sĩ nhà chùa quyên mộ tạo tượng Đại Sĩ. Còn chưa đủ số thì ban đêm trời mưa to, ngòi rãnh đều tuôn ra chất đồng lỏng, bèn khởi công đúc tượng đồng. Tượng toàn bằng đồng vàng, chỉ có dưới chân là bằng đồng đỏ, ấy là vì đồng không đủ, cho nên Đại Sĩ ban thêm. Chỗ đồng đắp thêm vào có kẽ hở to bằng cây kim, ghé tai nghe như có tiếng sóng vỗ oàm ạp trên sông. Ghé miệng hút thì cam lộ đầy miệng. Xem chuyện này trong sách Nhĩ Hải Tùng Đàm và Liễu Nhai Ngoại Biên.

Theo Hồ Nhuyên Tạp Ký, trong niên hiệu Khang Hy đời Thanh, Thích Hối Sơn đúc tượng Đại Sĩ bằng đồng ở chùa Thiên Trúc, muốn làm khuôn đúc tượng, nhưng khó tìm được đất. Chợt gặp cơn mưa lũ, núi bị lở, chỗ núi lở phía sau Bạch Vân Phòng lộ ra toàn là đất sét nhiều đến một trăm thạch, đủ dùng [để làm khuôn].

(5) Theo Quái Viên, phía trong cửa Phong Môn thành Tô Châu, có vợ chồng nhà nọ thờ Quán Âm. Nơi tấm gương treo phía sau tượng, chợt hiện bóng hạc bay vờn trong mây. Lại hiện hoa sen nhiều màu và hình tướng Đế Thích, chư thiên, cả vạn người đến xem.

Theo Phổ Đà Chí, năm Tuyên Đức thứ hai (1427) đời Minh, trong động Triều Âm hiện tướng Diêm La Thiên Tử, có hai ngọc nữ đứng hầu.

(6) Theo Cao Tăng Truyện tập 2, sư Trí Cần đời Đường tinh thành, dũng mãnh, việc làm đều được ngầm gia hộ. Mẹ Sư bị bệnh gầy mòn, Sư siêng năng vì mẹ niệm Quán Âm, lá cây trong nhà đều hiện hình hóa Phật, cả nhà cùng thấy, bệnh mẹ liền lành.

Theo Linh Cảm Phú, Thích Tâm Đạt trụ tại Phong Tra Am ở Ninh Hải, chí thành lễ Quán Âm, mộng thấy những chiếc lá trên cây trong sân đều hiện hình Quán Âm, đạo tâm càng thiết tha.

(7) Theo Đường Tây Vực Ký, xưa kia, quốc vương Tăng Già La ở Nam Hải lấy kính soi mặt, chẳng thấy mặt mình mà thấy trong rừng cây Đa La ở nước Ma Kiệt Đà, có ngọn núi nhỏ, trên núi có tượng Quán Âm Bồ Tát. Do vậy, bèn vẽ hình lại cho người đi tìm, chỉ thấy Cô Sơn là gần giống. Vì thế bèn dựng tinh xá, đây chính là nơi Đại Sĩ thị hiện.

Vị Tăng đời Tống là Phổ Minh tu Quán Âm Sám Pháp, được thấy Đại Sĩ. Về sau đúc chuông, tiếng chuông vang xa đến bảy mươi dặm.

(8) Theo Hiện Quả Tùy Lục, Trương Đại Trị trấn thủ Sùng Xuyên, có tượng Đại Sĩ từ ngoài biển giạt vào, thỉnh tượng đến phía Nam thành, tu bổ ngôi chùa cổ Thọ An để thờ phụng.

Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Đổng Cát tụng Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh rất tinh tấn, có ai bị bệnh mời ông đến tụng kinh phần nhiều lành bệnh. Có người cùng chí hướng là Hà Hoảng Giả trúng độc, vội cho mời ông. Đi giữa đường, nước suối tràn dâng, chẳng thể đi được nữa. Ông Cát nói: “Con cứu nạn gấp cho người ta, chẳng tiếc thân mạng, xin đức Phật và Quán Âm hãy thầm soi xét lòng thành” rồi đội túi kinh lên đầu, nhào xuống nước lội qua. Lẽ ra nước phải lút đầu, nhưng chỉ ngập tới gối. Lên được bờ, túi kinh rơi mất, vừa buồn vừa hối hận. Đến nhà ông Hoảng, thấy túi kinh đặt trên tòa cao, buồn vui xen lẫn, nâng lên xem, kinh vẫn khô như cũ. Khi ấy, người trong thôn đều tin theo Phật.

(9) Theo Cảm Thông Lục, ông Lưu Tát Ha đời Tấn, cõi đời gọi là Lợi Tân Bồ Tát, mất đi, xương vụn như hạt quỳ (hạt hoa hướng dương). Hễ ai mắc tai chướng liền đến chỗ ông mất tìm [xương ông] trong cát, sỏi; hễ tìm được thì cát, không tìm được thì hung. Có người tìm không được, bèn tìm ở phía bên trái tượng Quán Âm, đến tối lạc mất. Sáng hôm sau đi tìm, thấy vẫn ở trên tay của tượng. Trong Bắc Tề Thư[37], nơi tiểu truyện của Từ Chi Tài có chép: Vào đầu niên hiệu Vũ Thành, ông Từ thấy trên không trung có vật năm màu, đến gần, vật ấy biến thành một phụ nữ, thân cao mấy trượng, trong khoảng bữa ăn, biến thành Quán Thế Âm Bồ Tát.

(10) Đời Minh, ông Trần Trang Tĩnh thờ Phật, gả con gái cho họ Tôn. Ngày Mười Chín tháng Sáu năm Vạn Lịch thứ 5 (1577), mở hội Quán Âm Trai. Trai hội xong, đốt giấy trong lò; lúc tro sắp nguội, bèn đặt lò dưới bàn Phật. Từ trong lò chợt vươn lên một cành sen xanh hãy còn ngậm búp, sắc biếc dường như nước đọng. Ba hôm sau, do bị một bà bầu sờ vào, hoa liền bị héo.

Theo Quái Viên, Mậu Nguyên đời Minh là người huyện Thường Thục, trong trai phòng[38] thờ tượng Quán Âm. Trong niên hiệu Vạn Lịch, Mậu Nguyên đi dự lễ Chúc Ly ở chùa Thiên Trúc trở về, chợt thấy dưới tòa Đại Sĩ trổ một búp măng. Trong nửa tháng, măng mọc dài hơn một trượng; từ chót đầu búp măng lại trổ những giò măng, nhánh dài rũ xuống, những nhánh ngắn cong lên kết thành hình cái lọng biếc, che đầu Đại Sĩ.

(11) Đời Minh, đạo tràng U Khê tại núi Thiên Thai đúc chuông to. Thị giả Hữu Pháp trì Phổ Môn Phẩm một ngàn biến để cầu gia bị, mộng thấy Bồ Tát hóa thân làm hồng chung, kim quang chói ngời. Tụng kinh đủ số thì chuông đúc xong.

Theo Phổ Đà Chí, tượng Quán Âm Bất Khẳng Khứ cũ nhiều lượt hiện sự thần dị. Viên quan đứng đầu quận bèn thỉnh tượng vào thành để cầu phước cho dân. Chợt có vị Tăng đi đến, xin gỗ quý để khắc. Tượng khắc xong, chẳng biết biến đâu mất! Đến niên hiệu Gia Định đời Tống, ngẫu nhiên tượng bị sứt mất một ngón tay. Sau này, ở trước động, giữa sóng nổi lên một cánh hoa, nhìn kỹ thì ra là ngón tay bị mất [ở ngay trên cánh hoa đó]. Tượng đang được thờ hiện thời chính là tượng này.

(12) Theo sách Hải Nam Nhất Chước, vào năm thứ mười mấy thời Đạo Quang nhà Thanh, Tuần Phủ tỉnh Giang Tô là Lâm Tắc Từ tâu lên vua: Trong năm Khang Định nguyên niên (1040) đời Tống, bị đại hạn, chợt có tượng Quán Âm bằng đồng từ bùn lầy trồi lên, đem thờ trong chùa Quang Phước ở núi Đặng Úy thuộc Ngô Huyện, trời liền đổ mưa to. Từ thời Nguyên, Minh trở đi, mỗi lần bị hạn hán hay lụt lội, cầu đảo liền ứng nghiệm ngay. Năm trước hạn hán, thỉnh tượng nhập thành, nhiều lượt mưa thấm đẫm. Năm nay, vào lúc giao mùa giữa Xuân và Hạ, vừa mới khấn thầm, liền được linh ứng. Và khi bệnh dịch lưu hành, hễ cầu đảo liền ứng nghiệm, ân trạch thấm khắp đất Tam Ngô[39].

Bài ký Hồi Long Am ở huyện Lâm Xuyên có đoạn: - Miền Bắc châu Bác Khê này rộng chưa đầy một dặm, bốn mặt nước bao quanh. Xưa kia có người từ Nghi Hoàng dùng thuyền chở tượng Đại Sĩ lên quận. Đến đây, thuyền không tiến được. Đối trước tượng, bói xem có phải là Đại Sĩ muốn lưu lại nơi đây để lập chùa hay không? Quả nhiên bói được quẻ tốt, do vậy dựng nhà thờ tượng trong ấy. Đây không phải là vùng đất cao, nhưng khi nước lụt chẳng bao giờ ngập đến nền chùa, ai nấy đều lấy làm lạ.

(13) Theo Hiện Quả Tùy Lục, Nghê Phác Lão bị bộ Công nhốt lầm vào ngục, ngày đêm đảnh lễ Đại Sĩ, lễ sám, tụng kinh, đột nhiên trong ngục hiện ra hoa sen đầy vách, không lâu sau được thả ra. Về sau, cụ xuất gia, trụ trì chùa Thanh Nguyên, hiệu là Khiếu Phong hòa thượng.

Theo Liễu Nhai Ngoại Biên, một cô gái ở Bình Tuyền, thuở nhỏ vừa thông minh vừa xinh đẹp, dốc lòng thành thờ phụng Quán Âm. Về sau, bị gả cho con nhà họ Vưu, [chàng Vưu] dáng vẻ thô lậu. Lúc sắp thành hôn, cô gái tự cảm thương bạc mệnh, cầu khẩn Đại Sĩ, nguyện giữ thân thanh tịnh. Đã thành hôn, tuy nằm cùng giường, chàng Vưu thấy một đống dương liễu chặn ngang thân cô gái, rốt cục chẳng thể gần gũi vợ được!

(14) Theo sách Pháp Uyển Châu Lâm, Từ Thiện Tài đã bị giết rồi sống lại, trải qua mấy bữa, hết sức đói lạnh, bèn đi dọc theo khe nước dưới hàng cây, nhặt được một cái áo cừu bằng da dê, một đôi vừa giày vừa vớ, phía trước lại có một bát đựng hơn một thưng vừa đào vừa táo, xanh tươi, đỏ, trắng như vừa mới hái, nên khỏi đói lạnh. Nếu chẳng phải là thần lực của Đại Sĩ, há đang giữa mùa Đông lại nhặt được đào, táo tươi nguyên?

Theo Cư Sĩ Truyện, vào đời Tống, lúc Trâu Hạo làm quan ở Tương Dương, mộng thấy Đại Sĩ đích thân thuyết pháp cho mình. Do vậy bèn vẽ tượng được thấy trong mộng. Thời Tống Huy Tông, ông Hạo làm quan đến chức Thị Lang. Lúc Thái Kinh[40] nắm quyền, đẩy ông ta đi Thiều Châu; ông Hạo thờ phụng tượng vẽ càng thêm kiền thành, quỳ tụng Hoa Nghiêm, có xá-lợi xuất hiện trong tay áo. Phía sau bức tượng ấy sanh ra ba nhánh trúc, cành che rủ xuống, giống bức vẽ rừng trúc và gộp đá Phổ Đà trong cõi đời chẳng khác gì!



Phàm trong cõi này, hoặc hiện sắc thân, hoặc bày huyễn tướng, lớn thì như thế giới, núi, sông, nhỏ thì như vi trần, ngọn cỏ, hạt cải, không gì chẳng thuận theo lòng người mong muốn, ứng niệm mà sanh. Như vậy thì đáng tin tưởng rằng Pháp Thân Đại Sĩ trải bao kiếp vẫn chẳng mòn, luôn thường viên mãn trọn khắp mười phương (Từ đây trở đi là tổng kết về sự thị hiện, răn nhắc khuyên tu, gồm bốn đoạn. Đoạn này nhằm tổng kết đoạn văn nói về sự thị hiện, ca tụng Pháp Thân thường trụ).



Hoa Nghiêm Kinh: “Thập Địa Bồ Tát tùy tâm sở niệm, năng ư thân trung, hiện hằng hà sa thế giới vi trần số Phật sát, phục quá thử số vô lượng vô biên” (Thập Địa Bồ Tát tùy theo tâm niệm có thể từ trong thân hiện hình trong các cõi Phật nhiều bằng số vi trần trong hằng hà sa thế giới, lại còn hiện hơn số ấy vô lượng vô biên lần).



1. Tín tâm đã định, xin hãy hiểu nghĩa thêm.

2. Pháp Thân của chư Phật chính là tự tánh của chúng sanh.

3. Nước dậy sóng mòi, chỉ là tùy duyên. Vàng và nhẫn vốn chẳng biến đổi.

4. Nổi chìm Ngũ Trược, thân thanh tịnh chẳng nhơ. Đọa lạc tam đồ, đức trang nghiêm vẫn đủ.

5. Uổng công nhận bọt nước, bỏ bê biển cả, luyến mến Tứ Đại giả danh. Lầm tớ là chủ, theo đuôi duyên ảnh lục trần. Chạy theo dục trong khoảnh khắc, chịu đắng cay trải kiếp, chẳng đáng thương lắm thay!
(Đoạn này ca tụng Phật tánh của chúng sanh và Phật tánh của Đại Sĩ chẳng hai, chẳng khác, phá trừ tà kiến Đoạn Diệt).



(2) Phẩm Minh Pháp của kinh Hoa Nghiêm có câu: “Nhất thiết chúng sanh, dữ chư Như Lai đồng nhất thể tánh” (Hết thảy chúng sanh và các Như Lai có cùng một thể tánh).

(3) Khởi Tín Luận: “Như nước biển và sóng, chẳng một, chẳng khác. Sóng do gió động, chứ tánh nước chẳng động. Nếu như lúc gió lặng thì sóng động liền diệt, chứ tánh nước chẳng diệt. Chúng sanh cũng vậy, tâm thanh tịnh nơi tự tánh do gió vô minh động nên khởi lên sóng thức. Ba chuyện như vậy chẳng một, chẳng khác; nhưng tịnh tâm nơi tánh là cái gốc của thức dao động. Khi vô minh diệt, sự lay động của thức bị diệt theo, nhưng trí tánh chẳng hoại”. Mật Nghiêm Kinh: “Như Lai thanh tịnh tạng, thế gian A Lại Da, như kim dữ chỉ hoàn, triển chuyển vô sai biệt” (Thanh tịnh tạng của Như Lai và A Lại Da Thức của thế gian, giống như vàng và nhẫn, xoay chuyển không sai khác).

(4) Khởi Tín Luận: “Tâm tánh vốn là thanh tịnh, tuy có nhiễm tâm, nhưng thường sáng sạch chẳng biến đổi”. Sách Đại Thừa Chỉ Quán cũng viết: “Từ vô thủy đến nay, tuy bị pháp nhơ bẩn là vô minh che đậy, nhưng tánh tịnh chẳng đổi, vì nhiễm pháp vốn lìa tâm tướng”. Sách còn viết: “Khi tâm này bị nhơ, vẫn trọn đủ hai tánh phước và trí, chẳng khác gì Phật. Chỉ vì bị nhiễm pháp che lấp nên [hai thứ tánh phước và trí] chẳng thể hiện lộ”.

(5) Lăng Nghiêm Kinh: “Thí như trừng thanh bách thiên đại hải khí chi, duy nhận nhất phù âu thể, mục vi toàn triều, cùng tận doanh bột” (Ví như vứt bỏ trăm ngàn biển cả trong lặng, chỉ chấp nhận một bọt nước coi như là toàn bộ biển khơi, tột cùng các đại dương).

Duy Ma Kinh: “Tứ đại hợp cố, giả danh vi thân. Tứ đại vô chủ, thân diệc vô ngã” (Do tứ đại hợp lại nên giả gọi là thân, tứ đại không có chủ, thân cũng không có ngã).

Kinh Lăng Nghiêm có thí dụ nhận giặc làm con, nhà Thiền bảo là “coi tớ là chủ”, đều nhằm tỷ dụ sự lầm tưởng ý thức là chân tâm vậy!

Viên Giác Kinh: “Vọng nhận tứ đại vi tự thân tướng, lục trần duyên ảnh vi tự tâm tướng” (Lầm tưởng tứ đại là tướng của tự thân, coi hình bóng của sáu trần duyên là tướng của tự tâm).



May gặp được bậc Đại Thánh, là bậc đạo sư trong biển trí, hằng thuận chúng sanh, làm từ phụ trong nhà lửa. Muốn cầu giải thoát thì Ngài đáng làm bậc quy y, huống là những điều cứu khổ ban vui vụn vặt. Ngài có thể làm chỗ nương tựa để chấn động kẻ mù, khơi gợi kẻ điếc, noi gương sáng cho thế hệ sau dõi theo lớp trước (Đoạn này nối tiếp ý “tâm tánh bất diệt” trong đoạn văn trên, khuyên người hãy quy y Đại Sĩ. Nêu chung lòng Bi cứu khổ, lòng Từ ban vui của Đại Sĩ để khuyến khích hành giả).



Trong phần kinh văn của kinh Hoa Nghiêm kể về sự tham học Đại Sĩ của Thiện Tài đồng tử có câu: “Thiện tri thức giả, trí hải đạo sư” (Thiện tri thức là bậc dẫn đường trong biển trí). Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có câu: “Cửu giả hằng thuận chúng sanh” (Điều thứ chín là hằng thuận chúng sanh).



1. Xét ra thì huyễn thân không có Thể, trọn chẳng có gì dính dáng sanh tử. Cảnh vọng toàn là không, ghét - yêu lấy đâu nương gởi?

2. Chẳng biết thân an thì đạo mới tốt đẹp, duyên đủ rồi mới hòng chứng quả.

3. Trong lời phát nguyện của ngài Vĩnh Gia còn mong gìn giữ thân tâm. Trong bài lễ văn của ngài Đại Huệ, cũng cầu An Lạc. Chưa từng thật chứng, đừng chuộng bàn xuông. Chỉ vững tín tâm, quyết không luống uổn
g (đây là vì kẻ ham chuộng Khẩu Đầu Thiền mà đâm một mũi kim, khuyên người ta hãy chết lòng noi theo thực tiễn, quy y Đại Sĩ)



(2) Trong Tiểu Chỉ Quán có đoạn: “Kinh dạy: “Thân an tắc đạo long” (Thân an ắt đạo thịnh). Niết Bàn Kinh: “Ca Diếp Bồ Tát ngôn: ‘Nhược lợi căn giả, hà bất hiện tại nhập Niết Bàn da?’ Phật ngôn: - Thị nhân Tứ Đại doanh liệt, bất năng tu đạo. Hoặc Tứ Đại khang kiện, vô hữu phòng xá, ẩm thực, y phục, chúng duyên bất cụ, bất đắc Niết Bàn. Hữu nhất tỳ-kheo tu đạo, bất đắc quả. Ngã cáo A Nan, dữ dĩ phòng xá, cụ chư sở tu, tức đắc Tu Đà Hoàn quả” (Ca Diếp Bồ Tát nói: - Nếu là kẻ lợi căn, sao hiện thời chẳng nhập Niết Bàn? Phật dạy: - Người ấy Tứ Đại suy yếu, chẳng thể tu đạo. Hoặc là Tứ Đại mạnh khỏe, nhưng không có nhà cửa, thức ăn, y phục, chẳng đầy đủ các duyên nên chẳng đắc Niết Bàn. Có một tỳ-kheo tu đạo, chẳng đắc quả. Ta bảo A Nan cấp nhà cửa cho người ấy, lo đủ những thứ cần dùng, người ấy liền đắc quả Tu Đà Hoàn).

(3) Trong bài Phát Nguyện Văn của ngài Vĩnh Gia có đoạn: “Trước khi đắc đạo, thân không bệnh bất ngờ, chẳng bị chết yểu. Đúng khi hết tuổi thọ thì thân không đau khổ, tâm chẳng tán loạn”. Lại còn có đoạn: “Ở nơi an ổn, không có các chướng nạn, trộm cắp, giặc cướp, phép vua, lao ngục, gông cùm xiềng xích, đao, thương, tên, giáo, thú dữ, độc trùng, té núi, chết chìm, lửa vây, gió cuốn, nhà sụp, kèo mục. Phàm hết thảy các tai nạn đều chẳng phải hứng chịu”. Ngài Đại Huệ Cảo nhiều lần được Đại Sĩ gia bị, liền soạn Lễ Quán Âm Văn để những điều mong cầu được tăng thêm, có những câu như: “Con nay thọ trì thánh hiệu, lễ bái thánh tượng, diệt tội, tăng huệ, đắc đại thọ mạng, đắc đại an lạc”.



* Phụ Lục - Phổ Khuyến Giới Sát Ngật Tố Vãn Hồi Kiếp Vận Thuyết (Khuyên khắp mọi người hãy kiêng giết ăn chay để vãn hồi kiếp vận)



(Bồ Tát thường hiện thân loài vật để răn nhắc người đời hãy kiêng giết ăn chay; vì thế, tôi đem bài văn này đính kèm sau phần nói về sự thị hiện hòng làm sáng tỏ ý nghĩa của sự hiện thân trong loài vật ngõ hầu người đọc sanh lòng kinh sợ)



Người đời quen thói tàn nhẫn lắm thay! Chuyện gì cũng lấy sát sanh để thành lễ, chẳng biết như vậy là sai! Ôi! Hết thảy chúng sanh sống cùng ta trong vòng trời đất, cùng có cái thân huyết nhục, đồng bẩm thụ tánh tri giác, cùng biết tìm lành tránh dữ, tham sống sợ chết. Huống chi kinh Phật thường nói: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật, đều trong vô lượng kiếp đến nay, đây - kia làm cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc của nhau”. Há có nên vì muốn báo ân, báo đức, cầu phước, cầu thọ, hoặc tế lễ thiên địa, thần thánh, và cúng giỗ tổ tông, họ hàng, hoặc phụng dưỡng cha mẹ, hoặc đãi đằng khách khứa, bè bạn, hoặc vì sướng khoái bụng miệng ta, bồi bổ thân thể ta, mà chuyện gì cũng đều giết các sanh mạng để mong bày tỏ tấc lòng thành của ta, thỏa thích tâm ta, chẳng nghĩ đến chúng nó hứng chịu các nỗi khổ cùng cực, chẳng đoái nghĩ đại ân của những người từng làm thân thuộc đời trước vậy.

Vả nữa, thiên địa lấy hiếu sanh làm đức, Nho gia vâng giữ ý niệm “cùng là ruột thịt, vật giống hệt như ta”, sao chẳng sanh tâm trắc ẩn nhân từ yêu thương muôn vật, mà cứ quen thói bạo hành mạnh ăn thịt yếu? Phải yêu thương loài vật thì mới có thể yêu thương dân được, hễ thương dân ắt phải yêu thương loài vật! Nếu đối với dị loại còn chẳng nỡ giết thì chắc chắn chẳng nỡ giết hại người dân là đồng loại của ta. Nếu coi giết hại loài vật là chuyện bình thường, ắt sẽ giết người ngập thành tràn đồng, chẳng những không thương xót, ngược lại còn coi đó là chuyện sung sướng, khoái trá. Ấy là vì hễ thói giết chóc vừa tăng trưởng thì cái tâm nhân từ sẽ bị mất ngay!

Còn như tế lễ thiên địa, thánh nhân, há chẳng thể dùng nếp, gạo thơm[41], rau, quả để tỏ lòng thành, cần gì cứ phải sát hại mạng loài vật? Chúng ta sống trong vòng trời đất, được trời đất che chở thì phải nên tích đức, làm điều nhân để bổ khuyết quyền dưỡng dục của trời đất. Nếu luận về chuyện báo ân, dù có tan xương nát thân cũng khó thể báo đáp được muôn một, há những loại thịt trâu, dê, lợn… tanh tưởi, hôi dơ, lại có thể [dùng để] báo ân được ư? Huống chi Thiên Đế và người cõi trời thanh tịnh, thơm tho, thanh khiết há lẽ nào còn hâm hưởng[42] những mùi vị ô trược, hôi nhơ ấy chăng? Ấy chính là dùng cái tâm tham lam cốt thỏa thích bụng miệng của chính mình để suy lường tâm trời đất. Lại xem trời đất như những quỷ thần ở trên không, dưới nước thì vu báng, miệt thị, khinh nhờn, ô nhục thiên địa quá đáng! Ngay như hai kỳ tế lễ Xuân - Thu ở thánh miếu văn võ[43], các tỉnh, phủ, châu, huyện đều giết trâu, dê, lợn v.v… để cúng tế, ngỡ đó là báo ân, đáp đức, sùng thánh, trọng đạo.

Quang Tự nguyên niên (1875) đời Thanh, tại Văn Miếu thuộc tỉnh thành Thiểm Tây, một ngày trước bữa tế mùa Thu, tôi đến đó lễ yết. Trong điện Đại Thành[44], những con trâu, dê, lợn v.v… đều bày trên giá, để nguyên con, chỉ mổ bỏ ruột gan mà thôi. Mùi tanh hôi, tình trạng thê thảm gai mắt, nhức mũi, chẳng nỡ thấy nghe! Khi ấy, tôi vừa mới theo đòi học vấn, vẫn còn bắt chước Hàn, Âu báng Phật, mà đã khôn ngăn than thở sườn sượt: “Có nên biến lòng kính trọng thánh nhân rốt cuộc trở thành sự khinh nhờn thánh nhân đến mức cùng cực như thế này chăng?” Cứ thử bảo những người tế lễ ấy ngủ lại qua đêm trong điện để họ nhìn cho quen mắt, ngửi cho quen mùi, ắt họ sẽ cật lực cự tuyệt chẳng chịu ở! Huống hồ bậc đại thánh nhân trăm đời “Tổ Thuật Nghiêu Thuấn, Hiến Chương Văn Vũ, Vạn Thế Sư Biểu”[45] của Nho Gia lại cam lòng hâm hưởng những vật ô uế chẳng thể kham nổi ấy ư?

Lại như ở phía Đông ngoài cửa miếu là chỗ để giết trâu, tôi trông thấy một cái nồi lớn, nước chứa trong ấy ô trược chẳng thể kham nổi vì nó là nước để rửa trâu. Nghĩ đến liền muốn phát ói. Than ôi! Bẩn thỉu đến thế mà dùng làm lễ vật để tôn kính thánh nhân được ư? Nếp, tẻ không thơm tho, do Minh Đức bèn thành thơm tho, sao không dùng nếp, gạo thơm, rau, quả để tỏ lòng chí thành? Hơn hai ngàn huyện trong thiên hạ, mỗi năm hai lần khinh nhờn Văn Võ nhị thánh[46], khiến cho mấy vạn sanh linh đều lâm vào tử địa, thật là “khinh thánh, giết vật” quá lớn! Sao không có bậc đại nhân tôn kính thánh nhân, yêu tiếc sanh mạng loài vật ra mặt thay đổi vĩnh viễn lệ cũ, lập ra cách thức mới, khiến cho oai linh của hai vị thánh chẳng bị những thứ đó xông sực ô uế, mấy vạn sanh mạng chẳng bị làm thịt để làm thức ăn cho những người tế lễ? Thánh nhân ôm lòng “thương dân, yêu vật”, há muốn chính mình bị ô uế, khinh miệt, lại còn làm cho mấy vạn sanh linh cùng lâm vào tử địa ư?

Quan Đế lúc còn sống thì tinh trung lòa nhật nguyệt, hạo khí ngút trời đất, phú quý chẳng dâm, nghèo hèn chẳng thay đổi, oai vũ chẳng thể khuất phục; mất đi, làm thần cai quản núi Ngọc Tuyền. Thời Tùy Văn Đế, Trí Giả đại sư đến Ngọc Tuyền[47], Quan Đế bèn vận dụng thần lực xây dựng chùa miếu, lại cầu được truyền giới để làm cái gốc cho đạo Bồ Đề và phát nguyện ủng hộ Phật pháp (xem Quan Đế Toàn Thư và Ngọc Tuyền Tự Chí). Vì thế, các tùng lâm trong thiên hạ đều gọi Ngài là Già Lam Bồ Tát, cùng với Vi Đà Bồ Tát trấn giữ sơn môn. Hơn một ngàn năm qua, hộ quốc, hộ dân, được tôn lên địa vị đế vương, há cam lòng nhận lãnh những con trâu, dê, lợn v.v… còn sống ô uế chẳng kham nổi, cho chúng nó là những thứ ngon lành để hâm hưởng ư? Dẫu là bọn tham ăn hèn tệ cùng cực trong thế gian cũng chẳng đến nỗi đành lòng ngửi những thứ hôi nhơ ấy, mà lại bảo là Quan Đế ưng chịu ư? Sao lại coi hai vị thánh nhân văn võ hèn tệ cùng cực đến mức như thế ấy? Ô hô, buồn thay! Nếu như có bậc đại nhân hiểu rõ lý lẽ, thực hành lòng kính thật sự dấy lên sửa bỏ thói quen hèn hạ khinh thánh hại vật ấy, tôi sẽ thơm thảo đảnh lễ, chúc tụng khôn ngằn.

Còn như cúng bái tổ tông, cố nhiên nên dùng nếp, gạo thơm, rau, quả để tỏ lòng tôn kính, cần gì phải giết chóc hoặc mua [thịt, cá] từ hàng đồ tể? Cổ nhân cúng tổ tiên còn cầu thóc lúa từ nơi người có lòng nhân, nay vì trọn hết lòng thành tưởng nhớ người trước của ta mà khiến cho những loài vật kia đều chịu nỗi thảm bị giết hại cắt xẻ thì chẳng những đánh mất lòng nhân trắc ẩn của chính ta mà còn đánh mất sâu xa đạo tôn kính tổ tiên! Lấy giết chóc để tỏ lòng kính, ấy là đại nghịch! Huống chi tổ tông chẳng phải là bậc thánh nhân đã đoạn Hoặc chứng Chân, ắt phải luân hồi trong lục đạo tam đồ, chẳng vì họ làm phước để họ được siêu thăng thì là đã đánh mất đạo [hiếu kính] của người đời sau, há có nên mặc tình sát sanh gây nên chuyện “đã té giếng còn bị quăng đá” nữa ư?



Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 09 Nov 2015, 1:36 AM | Message # 13
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Còn như phụng dưỡng cha mẹ, thức ăn rau quả há chẳng đủ vị ngọt bùi mà cần phải ăn thịt, hãm cha mẹ ta vào cảnh đời đời kiếp kiếp bị giết để đền trả mối nợ oan uổng vì được ta hiếu dưỡng hay chăng? Nếu chẳng biết sự lý tam thế nhân quả, luân hồi lục đạo thì còn dung thứ được. Nay đã hiểu rõ chuyện người và súc sanh tuần hoàn, báo ứng, những chuyện ấy được thấy thấu triệt trong hai mươi bốn bộ sử và các sách vở, mà vẫn cố chấp thói quen hèn tệ chẳng chịu sửa đổi, cứ mong cho chính mình và cha mẹ cùng hứng chịu quả báo ấy, kẻ như vậy chẳng đáng gọi là hạng đã mất trí cuồng tâm, đem Tỳ Sương, trầm độc dâng cho cha mẹ mà mong được trường thọ, yên vui ư? Đáng buồn thay! (Những sự tích nhân quả ba đời, luân hồi lục đạo trong các bộ sử chép rất nhiều. Muốn biết đại khái thì hãy xem sáu câu vấn đáp về vấn đề “thân diệt, tinh thần vẫn còn” trong ba trang từ bốn mươi ba đến bốn mươi lăm của bộ Dục Hải Hồi Cuồng sẽ biết đại lược. Lại nữa, Phật, Bồ Tát muốn làm cho con người kiêng giết, phóng sanh nên dùng lòng đại từ bi, thị hiện thân trong dị loại, giết rồi mới biết là thánh nhân thị hiện, khiến cho con người chẳng dám giết các loài vật để ăn ngõ hầu đây - kia cùng được giải thoát. Chuyện như vậy rất nhiều, chẳng thể ghi trọn, nên xem đoạn văn “Vật loại hiện tướng” (hiện thân trong loài vật) nơi trang ba mươi trong quyển 1 của bộ Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng sẽ biết đại khái. Nguyện những ai xem xong đều sanh chánh tín).

Nói đến chuyện đãi đằng khách khứa, bạn bè, vốn nhằm để thỏa lòng, phô bày tình cảm, sao lại dùng chuyện sát sanh thê thảm để giúp cho bữa tiệc thanh khiết ấy? Loài vật cùng với ta và bạn ta chẳng hề có nỗi oán giết cha, sao lại xẻ thịt chúng bày thành tiệc để giúp cho khách khứa vui sướng? Cứ thử nghĩ đến tiền nhân hậu quả thì dù có ăn cũng chẳng thể nuốt trôi được! Người đời cưới vợ sanh con vốn để tiếp nối dòng giống, đó là chuyện tốt lành nhất, nếu như ăn thịt thì không còn gì hung hiểm hơn được nữa! Ta muốn cho vợ chồng giai lão[48], con cháu đầy đàn, mà làm cho những con vật kia chịu nỗi bi thương lìa đàn, hoặc bị nỗi thảm dao xẻ; đêm thanh suy nghĩ, yên lòng được chăng? Lại nữa, người ta cứ mỗi khi gặp dịp vui như chúc thọ, cưới vợ, sanh con v.v… nếu vô ý nói đến những chữ Chết, Tang v.v… chủ nhân không vui, nếu có chuyện như làm hư vỡ đồ đạc chẳng hạn liền cho là bất tường. Cớ sao giết các sanh mạng, cắt, chặt, nấu, nướng, cho đến xé ăn, lại ngược ngạo coi là vui, là lễ, là tốt lành, may mắn? Thật ra, ấy là cái tâm gì vậy? Chính là [làm theo] thói quen không suy nghĩ đó thôi!

Nếu nói đến chuyện để tự cung phụng mình thì lại càng không nên giết. Nên nghĩ rằng: Ta sanh trong thế gian có công đức gì đối với nhân dân và muôn loài, có phước trạch gì đối với tổ tông, cha mẹ, nay được nhờ phước ấm của tổ tông, cha mẹ che chở sâu dầy, chẳng cực lực làm lành để tăng thêm phước cho tổ tông, cha mẹ, lại cứ mặc tình sát sanh ăn thịt, chẳng những bất lợi cho chính mình, mà còn gây liên lụy cho tổ tông, cha mẹ! Huống chi ta bẩm thụ di thể từ cha mẹ, hằng ngày dùng loài vật để bồi bổ, lâu ngày khí chất sẽ biến đổi theo, thật đáng sợ!

Nay tôi nêu chứng cứ đại lược ngõ hầu người biết yêu thương chính mình sẽ tận lực dứt bỏ thói tham ăn ngon ấy. Sách Vạn Thiện Tiên Tư chép: “Đàn bà có thai ăn thịt thỏ thì con bị môi sứt, ăn chim sẻ thì mắt lé, ăn cua thì phần nhiều con bị đẻ ngang, ăn ba ba thì cổ ngắn đầu teo, ăn cá chình, lươn thì phần nhiều khó sanh, ăn thịt ếch thì phần nhiều con bị câm ngọng”. Sách Đại Đới Lễ[49] chép: “Ăn thịt thì dũng cảm nhưng hung hãn, ăn ngũ cốc thì trí huệ, khéo léo; đều là khí chất [của chính mình] bị chuyển biến theo khí chất của từng loài vật vậy”. Khí chất do cha mẹ để lại cho ta vì ăn thịt mà dần dần bị biến đổi ngấm ngầm thành khí chất của loài vật, đấy là đại bất hiếu!

Từng thấy [người ta] chữa trị kẻ cứa cổ nhưng chưa đứt khí quản bằng cách cắt thịt chim hay thịt gà sống đắp vào chỗ bị thương, khi lành rồi chỗ ấy bèn mọc lên lông gà. Tuy đắp ở bên ngoài nhưng chỗ ấy vẫn là thể chất của súc vật. [Như vậy thì] suốt cả đời ăn thịt để bồi đắp bên trong há chẳng đáng kinh sợ hoảng hốt ư? Như vậy là gìn giữ di thể được bẩm thụ từ cha mẹ đó sao? Huống chi chất thịt đều chứa chất độc, do lúc [con vật] bị giết, hận tâm kết lại cho nên người ăn thịt phần nhiều hay sanh ghẻ chốc, khi ôn dịch lưu hành hay mắc bệnh truyền nhiễm. Người ăn chay thường ít mắc phải những chứng ấy. Phàm muốn giải thoát oán nghiệp, giữ gìn thân thể thì không thể không biết [chuyện này].

Nếu nói: “Tam sanh ngũ đỉnh[50], nhờ vào loài vật để tỏ lòng thành; nếu như ông vừa nói thì pháp do cổ thánh hiền đã lập đều sai trái hết hay sao?” Đáp: Thánh hiền thuận theo thói tục mà lập pháp, lúc đầu chẳng phải là thật nghĩa rốt ráo. Nay đã biết sự thật người và súc sanh luân hồi thì cố nhiên phải bỏ Quyền theo Thật, há nên chấp Quyền bỏ Thật, tổn thương đức hiếu sanh của trời đất, chôn vùi lòng nhân bất nhẫn của chính mình? Huống chi, nhờ vào vật để tỏ lòng Thành thì sao không mượn nếp, gạo thơm, rau, quả mà cứ phải dùng những vật máu thịt ô uế? Há chẳng phải là nói trời, đất, đức Khổng, đức Quan thích vật nhơ uế, ghét những món thanh khiết ư? Không có gì khác ngoài việc quen thói chẳng biết là sai đó thôi! Đến như việc cúng tổ, phụng dưỡng cha mẹ, đãi khách, tự dùng, hễ nhìn lại sẽ đều biết rõ là sai, đều [hãy nên] thay đổi thói cũ, nên tôi chẳng nói tỉ mỉ.

Nếu như lại nói: “Nếu như ông nói thì hoàn toàn chẳng sát sanh ăn thịt, ắt loài vật sẽ đầy dẫy trọn khắp thế giới, biết làm sao đây?” Đáp: Những thứ bị con người ăn đều là do con người làm cho chúng nó sanh sôi nẩy nở. Những loài lợn, dê, gà, vịt kia nếu như nhốt riêng các loài đực - cái, trống - mái thì chưa quá mười năm, chúng nó sẽ vĩnh viễn không tồn tại nữa! Huống chi những giống cọp, báo, chó sói, rắn, rết, con người đều chẳng ăn, sao từ cổ đến nay chúng nó chẳng đầy khắp thế giới vậy? Phải biết: Nếu con người ăn thịt nhiều thì người ta lập ra cách để những giống lợn, dê, gà, vịt v.v… sanh trưởng cho nhiều! Thật ra, quá nửa đều là vì bụng miệng tham muốn, chẳng tiếc mạng loài vật, phải theo nghiệp thọ báo, thác sanh trong những loài vật ấy để bị người ta giết ăn!

Do vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: “Tham lẫn ái cùng nẩy nở. Do tham chẳng thể ngưng dứt nên các loài noãn, thai, thấp, hóa trong thế gian cậy mạnh hiếp yếu, ăn nuốt lẫn nhau. Người ăn dê, dê chết thành người, người chết thành dê, như thế cho đến mười thứ sanh loại, chết chết sống sống ăn nuốt lẫn nhau”. Kinh Phạm Võng dạy: “Nếu là đệ tử Phật thì do từ tâm bèn hành nghiệp phóng sanh, hết thảy người nam đều là cha ta, hết thảy người nữ đều là mẹ ta. Đời đời ta chẳng bao giờ không sanh ra từ họ”. Vì thế, lục đạo chúng sanh đều là cha mẹ ta, giết chúng để ăn thịt chính là giết cha mẹ ta. Kinh Lăng Già dạy: “Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay luân hồi chẳng ngơi trong sanh tử, không ai chẳng từng làm cha mẹ, anh em, con cái, quyến thuộc cho đến bạn bè, người thân yêu, kẻ hầu hạ, sanh sang đời khác mang thân chim, thú v.v… Sao lại bắt lấy chúng để ăn thịt?” Trong các kinh Đại Thừa, những câu nói như vậy nhiều lắm, khó thể trích đủ.

Quán lời Phật dạy, có thể biết rằng cái họa sát sanh ăn thịt rất sâu, con người và súc vật tuần hoàn, giết ăn lẫn nhau. Nếu vẫn chấp mê chẳng ngộ thì sẽ trở thành “kẻ đáng thương xót” như đức Như Lai đã gọi. Phải biết kiếp đao binh đều do sát sanh phát khởi. Một ngày trong thế gian chẳng biết giết mấy vạn vạn triệu! Do ác tâm sát sanh ăn thịt và tâm oán hận của những con vật bị giết kết thành kiếp đao binh. Mười mấy năm qua, trong nước ngoài nước chiến tranh, người bị tử vong số đến vạn vạn. Huống hồ thiên tai liên tiếp giáng xuống, lụt lội, hạn hán, ôn dịch, bão lốc, động đất, biển trào, sông tràn, thổ phỉ, đạo tặc, các thứ tai nạn xảy ra dồn dập, thóc gạo đắt đỏ, dân không lẽ sống. Bọn ta gặp phải thời đại này mà vẫn chẳng phát lòng tự thương xót, sanh tâm tự thương mình xót người để mong vãn hồi kiếp vận thì còn quý báu gì để dự vào trong số mục Tam Tài, là “vạn vật chi linh” nữa ư? Nỡ dùng tâm tánh “có thể làm Nghiêu - Thuấn, có thể thành Phật” để trầm luân bao kiếp dài lâu trong biển nghiệp ăn giết lẫn nhau không thể thoát ra được thì chẳng đáng buồn ư?

Thích Ấn Quang soạn



Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 1, phần 3 hết

Hết quyển 1


[1] Ý nói: Thời gian hư huyễn trôi qua rất nhanh, chẳng mấy chốc đã hết tuổi thọ.

[2] Ốc môn: An trụ nơi địa vị đã tu hành để đạt đến giống như ở yên trong nhà (Ốc) nên gọi là Ốc môn.

Viên lâm du hý địa môn: Tu hành thành tựu xong, liền đạt đến địa vị giáo hóa. Do sự giáo hóa ấy, nhằm tùy thuận cơ nghi bèn biến hiện thân hình hoặc thị hiện các hạnh nhằm chiết phục chúng sanh nên gọi là Du Hý (vui chơi).

[3] Trí tướng quang minh: Thân do trí huệ kết thành, quang minh sáng ngời.

[4] Xa Ma Tha (Samatha) là Chỉ, tức một trong hai môn tu tập của Chỉ Quán. Chỉ có nghĩa là dứt hết thảy vọng niệm và ngoại duyên, chuyên chú nơi một đối tượng Thiền Định hòng đắc Định, Chỉ thuộc về Định, còn Quán thuộc về Huệ. Chỉ Quán chính là Định Huệ song tu.

[5] Phân Đà Lợi (Pundarīka) là hoa sen trắng.

[6] Ca Chiên Diên ở đây gọi đủ tên là Ca La Câu Ca Chiên Diên (Pakudha Kaccayana, còn phiên âm là Già Câu La Ca Chiên Diên, hoặc Bạt Hưu Ca Chiên, hoặc Bà Phù Đà Già Chiên Na), không phải là ngài Ca Chiên Diên (Katyana) đại đệ tử của đức Phật, mà là một trong lục sư ngoại đạo thường được nhắc tới trong kinh A Hàm và Niết Bàn. Còn Tỳ Đa La Chi Tử (Sanjaya Belatthiputta, còn dịch là San Sa Dạ Tỳ La Chi Tử, hoặc Tiên Xa Na Tỳ La Chi Tử, hoặc Tát Nhã Tỳ Đa La Chi Tử) cũng là một trong sáu vị lục sư ngoại đạo (tức là sáu “đại tông sư” của sáu trường phái triết học ngoại đạo thời ấy). Cả hai ông này đều chủ trương không nhân quả, tin theo thuyết Đoạn Diệt.

[7] Nguyên văn “phương bào” (方袍), tên gọi khác của y ca-sa.

[8] Thừa Chỉ: Theo quy chế thời Đường - Tống, có chức quan Hàn Lâm Học Sĩ Thừa Chỉ, chuyên giữ vai trò cố vấn cho nhà vua cũng như biên soạn các mệnh lệnh quan trọng hay bàn định những chánh sự quan trọng.

[9] Tam Hàn chính là ba vương quốc cổ trên bán đảo Đại Hàn, tức là Cao Câu Ly (Koguryo), Bách Tế (Paekje) và Tân La (Silla).

[10] Thái Úy là một chức quan đã có từ thời Tây Hán, hợp với Thừa Tướng và Ngự Sử Đại Phu gọi là Tam Công. Chức Thái Úy thường chỉ được phong khi quốc gia có chuyện động binh lớn vì Thái Úy nắm vai trò tổng tư lệnh trong quân đội. Thời Hán Vũ Đế, chức Thái Úy gọi là Đại Tư Mã, đến các đời sau bèn đổi trở lại là Thái Úy. Đời Tống, trong dân gian quen gọi những quan võ cao cấp nhất tại địa phương là Thái Úy nên ông Phạm Thái Úy đã nói ở đây có lẽ chỉ là một võ quan cao cấp tại một huyện, một phủ mà thôi!

[11] Ngự Sử Trung Thừa là chức quan đã có từ thời Tần, chức vụ thấp hơn Ngự Sử Đại Phu, quản lãnh các thứ sử và thị ngự sứ, chuyên lo việc giám sát, đàn hặc các quan, kiêm xét duyệt các văn thư hành chánh nhằm đảm bảo các quan làm việc theo đúng thể chế của triều đình. Thông thường, nếu khuyết chức Ngự Sử Đại Phu, Ngự Sử Trung Thừa sẽ kiêm nhiệm chức trưởng quan của Ngự Sử Đài.

[12] Tập Hiền Học Sĩ là một chức quan của Tập Hiền Viện (còn gọi là Tập Hiền Thư Viện, hoặc Tập Hiền Điện Thư Viện). Tập Hiền Viện là nơi lưu trữ các sách vở, tài liệu nhiều đời của một triều đại. Tùy theo triều đại mà có thể có những danh xưng khác như Thiên Lộc Các, Văn Lâm Quán, Lân Chỉ Điện, Quán Văn Điện, Lệ Chánh Điện v.v... Đời Tống, nhằm dễ quản trị tài liệu, đã tách cơ quan quản trị văn thư thành Tam Quán (Sử Quán, Chiêu Văn Quán và Tập Hiền Thư Viện), và gọi chung là Sùng Văn Viện. Đến đời Nguyên, Tập Hiền Điện đặt dưới quyền quản trị của Bí Thư Giám và có thêm trách nhiệm quản trị các trường học quốc lập tại các phủ, huyện, chiêu hiền đãi sĩ. Tập Hiền Học Sĩ là chức quan đứng thứ hai trong Tập Hiền Viện, dưới quyền Đại Học Sĩ.

[13] Ở đây, Chúc Ly là lễ cầu phước do các quan khâm mạng thay mặt vua đến dâng lễ ở các chùa miếu nổi tiếng linh ứng trong nước.

[14] Cấp Sự Trung là một chức quan đã có từ thời Tần, nhưng chỉ là một chức kèm thêm của các chức Đại Phu, Bác Sĩ, Nghị Lang v.v... với nhiệm vụ làm cận thần cố vấn cho vua trong những trường hợp đặc biệt. Đến đời Tấn, chức vụ này mới trở thành một chức quan độc lập. Thời Tùy gọi là Cấp Sự Lang, từ đời Đường trở đi, đổi trở lại thành Cấp Sự Trung như cũ. Nhiệm vụ của chức quan này là đọc các tấu chương và trình lên vua nội dung tóm tắt, giảo duyệt những chiếu văn được soạn thảo theo lệnh vua, xét xử những đơn từ kêu oan từ các cấp dưới v.v...

[15] Nguyên văn “thẩn thị” (蜃市), tức là “hải lâu thẩn thị” (lầu biển, phố sò). Theo truyền thuyết, ở ngoài biển khơi có loài sò to, hơi thở của nó biến ra những cảnh huyễn ảo giống như lâu đài, thành quách.

[16] Đốc Tào là chức quan trông coi việc tu bổ cầu đường, vận chuyển đường thủy, đường biển. Đến đời Minh, Thanh, chức vụ này được gọi là Tào Vận Tổng Đốc.

[17] Tiết (節): Một loại cờ lệnh do các quan ngày xưa cầm đến chỗ trị nhậm, về sau, thường được dùng chỉ chung các loại cờ hiệu. Nguyên thủy, Tiết là một loại tín phù (vật làm tin) bằng ngọc do vua trao cho các đại thần cầm ra các xứ ngoài kinh đô nhằm toàn quyền xử lý mọi việc.

[18] Chim Tần Già, gọi đủ là Ca Lăng Tần Già (Kalavinka), dịch nghĩa là Diệu Âm hoặc Hảo Thanh hay Hòa Nhã, là một loài chim hót rất hay, ngay cả tiếng hát của nhạc thần Khẩn Na La cũng không thể sánh bằng. Loài chim này chỉ sống ở Tuyết Sơn (Himalaya). Anh Vũ là chim két (vẹt).

[19] Theo phần Quán Âm Hiện Thần Thông Biến Hóa ngay trong sách này, tướng Nguyên là Cáp Lạt Ngạt bái yết động Triều Âm, chẳng thấy gì, bèn giương cung bắn vào động. Quay thuyền trở về, khắp biển chợt trổ đầy hoa sen sắt, thuyền không thể đi được. Do vậy, ông ta mới quay lại Phổ Đà sám hối.

[20] Tứ Châu Đại Sĩ, còn gọi là Tứ Châu Đại Thánh, hoặc Tứ Châu Phật, hoặc Tăng Già Đại Sĩ, thường được coi là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Trong thời Đường Cao Tông, ngài Tăng Già hóa duyên khắp một giải Trường An và Lạc Dương, về sau sang tận miền Ngô - Sở. Sư cầm cành dương liễu, đến khắp nơi thuyết pháp. Có người hỏi: “Sư họ gì?” Ngài trả lời: “Ngã tánh hà?” (có thể hiểu là “ta họ gì?” Hoặc “ta họ Hà”). Hỏi tiếp: “Quê Sư ở đâu?” “Ngã thị Hà quốc nhân” (Ta là người nước nào? hoặc: Ta là người nước Hà). Có người bảo nước Hà ở phía Bắc nước Toái Diệp bên Tây Vực. Về sau, Sư trụ ở Tứ Châu. Có lần Sư bảo chủ nhà trọ: “Đây chính là một ngôi chùa cũ”. Chủ nhà kinh ngạc, cho người đào lên, quả nhiên thấy nền chùa cũ, tấm bia đề Hương Tích Tự và một tượng Phật vàng. Người ta đoán đó là tượng Nhiên Đăng Cổ Phật; nhưng Sư bảo đó là Phổ Quang Vương Phật. Năm Cảnh Long thứ hai (708), Đường Trung Tông cho người thỉnh Sư lên kinh thành, vua đích thân ra ngoài thành nghênh tiếp, trăm quan hành lễ. Vua đích thân đề biển tên chùa là Phổ Quang Vương Tự. Sư thị tịch ngày 30 tháng Ba năm Cảnh Long thứ tư, đưa về an táng tại Tứ Châu.

[21] Xí Thịnh Quang Vương Như Lai chính là một vị Phật Đảnh, có tên đầy đủ là Đại Oai Đức Minh Vương Pháp Tánh Kim Luân Phật Đảnh Xí Thịnh Quang Như Lai, xuất hiện từ nhục kế của Phật, nói ra đà-la-ni tiêu trừ hết thảy tai nạn, giáng cát tường. Do toàn thân của vị Phật Đảnh này tuôn rực ánh sáng chói ngời nên có tên như vậy. Nhằm thể hiện Phật trí vô thượng tối thắng nên Phật thường lưu xuất các vị Phật Đảnh (tức các vị hóa Phật xuất hiện từ nhục kế), những vị ấy thường được gọi là “giáo lệnh thân luân” của Phật.

[22] Thị Ngự tức là Thị Ngự Sứ, một chức quan đã có từ đời Tần, Hán, dưới quyền cai quản của Ngự Sử Đại Phu, chịu trách nhiệm kiểm soát lễ nghi trong triều đình. Chức vụ này bị nhà Minh bãi bỏ nên câu chuyện này chỉ có thể xảy ra chậm nhất là vào thời nhà Nguyên.

[23] Trân tàng: Cất giữ như của báu.

[24] Ngân Hạnh (Ginkgo biloba), còn gọi là Bạch Quả hay Ngân Quả, là một loại cây to, cây cao trung bình từ 20-30 mét. Hạt của nó thường được dùng làm thuốc hay nấu chè, thường được Đông Y coi là một vị thuốc bổ có tác dụng tăng cường sức khỏe và trí nhớ. Thậm chí có y sĩ còn đề nghị dùng nó để trị bệnh Alzheimer. Người ta còn chiết xuất các dược chất từ lá để làm thuốc. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy chất MPN (4-methoxypyridoxine) trong hạt Bạch Quả có thể gây nên động kinh cho trẻ nhỏ cũng như có thể gây nên rối loạn tuần hoàn máu ở một số người. Chất nhựa trong lớp vỏ hạt của nó cũng có thể gây dị ứng ngứa ngáy, nổi mụt nhọt.

[25] Thạch Tấn tức là nhà Hậu Tấn (936-947) do Thạch Kính Đường sáng lập vào thời Ngũ Đại, chỉ truyền được hai đời vua (Cao Tổ và Xuất Đế). Gọi là Thạch Tấn để phân biệt với nhà Tây Tấn của Tư Mã Viêm, Đông Tấn của Tư Mã Duệ, và Tấn Vương Lý Khắc Dụng cuối thời Đường. Thiên Phước là niên hiệu của Tấn Cao Tổ (Thạch Kính Đường) sử dụng từ năm (936-942).

[26] Sở là tên gọi chung của tỉnh Hồ Bắc (Kinh Sở) và Hồ Nam (Tương Sở), do hai tỉnh này thuộc địa bàn nước Sở thời Chiến Quốc.

[27] Ngô Đạo Tử (685-758), tên thật là Đạo Nguyên, tự là Đạo Tử, về sau lại đổi tên thành Đạo Huyền, người xứ Dương Địch (nay thuộc huyện Vũ tỉnh Hà Nam, là một họa sĩ trứ danh đời Đường, có mỹ hiệu là “bách đại họa thánh” (bậc thánh vẽ vời trong cả trăm đời). Nét vẽ của ông mạnh mẽ, nhưng tỉ mỉ, bay bướm, thanh nhã, rất sống động. Những nhân vật do ông vẽ thường mặc áo dài tha thướt, dường như tà áo bay tung trước gió, màu sắc rất thanh nhã.

[28] Nhụ Nhân: Theo quy chế từ thời Đường - Tống, vợ quan Đại Phu từ Ngũ Phẩm trở xuống gọi là Nhụ Nhân. Về sau, Nhụ Nhân cũng là tiếng gọi chung mẹ hay vợ của các quan.

[29] Tống Tử Quan Âm (đôi khi còn gọi lầm là Tống Tử Nương Nương) là hình tượng Quán Âm có hình dạng một phụ nữ bế một đứa bé trai. Đây là một hình tướng biểu thị lời nguyện “cầu sanh con trai sanh liền được con trai, cầu sanh con gái được con gái” như trong phẩm Phổ Môn đã nói. Theo truyền thuyết, vào đời Tấn, có một người tên là Tôn Đạo Đức ở Ích Châu tuổi ngoài năm mươi vẫn không có con. Có một vị Tăng quen biết bảo: “Ông hãy thành tâm tụng Quán Thế Âm Kinh sẽ được như ý”. Ông Tôn kiền thành lễ bái, một thời gian sau mộng thấy Quán Thế Âm Bồ Tát bế một đứa bé trai trao cho, bảo: “Không lâu sau ngươi sẽ sanh được đứa bé bụ bẫm này”. Về sau, quả nhiên vợ ông ta sanh con trai.

[30] Ngự soạn: Thức ăn của vua.

[31] Thị Lang là một chức quan đã có từ đời Hán, dưới quyền Thượng Thư. Từ thời Tùy Đường, lập ra sáu bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công, đặt quan Thượng Thư làm trưởng quan, Thị Lang làm phụ tá. Như vậy, Thị Lang tương đương với chức vụ Thứ Trưởng hiện thời.

[32] Huyện Quân vốn là một danh hiệu chuyên để gọi những phụ nữ thuộc các dòng họ lớn hay vợ các quan chức lớn. Danh hiệu này bắt nguồn từ thời Tây Hán, khi Hán Vũ Đế phong cho người chị cùng mẹ khác cha làm Tu Thành Quân (thuở ấy, Quân là người đứng đầu một huyện, Tu Thành là tên huyện). Do vậy, bà ta thường được gọi là Huyện Quân. Kể từ thời Đường, vợ quan Ngũ Phẩm trở lên, Tam Phẩm trở xuống đều được gọi là Huyện Quân; ngay cả mẹ của các quan thuộc ngạch trật ấy cũng gọi là Huyện Quân. Đời Tống, vợ các quan được nhất loạt gọi là Huyện Quân. Còn dưới đời Kim, chỉ có vợ hoặc mẹ các quan Tứ Phẩm bên văn hoặc từ chức Tán Quan Hoài Viễn Đại Tướng Quân bên võ trở lên mới được gọi là Huyện Quân. Thời Nguyên, danh xưng này dành cho mẹ hoặc vợ các quan từ ngạch Tùng Ngũ Phẩm trở lên. Thời Minh, chỉ có chắt gái của Quận Vương mới được gọi là Huyện Quân. Đến đời Thanh, chỉ có con gái của các Bối Tử (Gūsa-i beise, tức tước phong bậc bốn, dưới tước vị vương công) mới được gọi là Huyện Quân.

[33] Tượng Phật thời cổ ở Trung Hoa thường có gắn một tấm gương bằng đồng sau đầu để tượng trưng cho hào quang của Phật.

[34] Triều đại Lưu Tống (420-479) do Lưu Dụ sáng lập vào thời Bắc Triều, khác với Triệu Tống (thường chỉ gọi là Tống hoặc Đại Tống) của Triệu Khuông Dẫn sáng lập về sau này.

[35] Bổn Giác là Phật tánh sẵn có trong tâm tánh của chúng sanh, khi chúng sanh tu thành Phật thì sự giác ngộ ấy được gọi là Thỉ Giác. Thỉ Giác và Bổn Giác xét về tánh chỉ là một, gọi thành

[36] Ngói lưu ly đã có từ rất lâu, đã rất phổ biến từ thời Đường, thường dùng để lợp chùa, miếu, cung điện, dinh thự. Ngói làm bằng đất sét trắng trộn với bột đồng, bột đá Lạc Hà (một loại đá lấy từ sông Lạc), hoàng đan (oxyde chì), trộn thêm bột thiếc đen, tiêu thạch (salpeter - KN03) đã nung tán nhuyễn. Đem đất ấy nhồi thành ngói, nung thành hai lượt: Lượt thứ nhất là bảy ngày, để nguội rồi đem ra tráng men, nung lại lần thứ hai suốt ba ngày. Gọi là ngói lưu ly vì nó có sắc óng ánh, trông xa như bằng chất ngọc, nhưng có khuyết điểm là dễ bị vỡ, dễ rạn nứt. Tùy theo cách chế biến, hình dạng và công dụng mà còn chia ra thành nhiều loại ngói lưu ly khác nhau. Do cách chế biến rất tốn công nên ngói lưu ly rất đắt.

[37] Bắc Tề Thư là một bộ sử do Lý Bách Dược soạn vào đời Đường gồm 50 quyển, chép từ lúc vương triều Bắc Ngụy phân liệt cho đến khi triều đại Bắc Tề diệt vong. Sách được soạn xong vào năm Trinh Quán thứ 10 (636), là một bộ sử rất có giá trị, được xếp vào trong hai mươi bốn bộ sử căn bản Trung Hoa.

[38] Trai phòng: Căn phòng hoặc gian nhà thanh tĩnh để làm nơi đọc sách, học tập, hay tu dưỡng, còn gọi là Thư Trai.

[39] Có nhiều cách hiểu chữ Tam Ngô:

1) Chỉ chung ba nơi Ngô Hưng, Ngô Quận, Cối Kê.

2) Chỉ Ngô Hưng, Ngô Quận và Đan Dương.

3) Chỉ Tô Châu, Thường Châu và Tô Châu.

4) Chỉ chung cả vùng hạ lưu của Trường Giang.

Do ông Lâm Tắc Từ làm Tuần Phủ tỉnh Giang Tô nên chữ Tam Ngô ở đây có lẽ nên hiểu theo cách thứ tư.

[40] Thái Kinh (1047-1126), tự Nguyên Trường, người xứ Tiên Du, Hưng Hóa, là tể tướng Bắc Tống, nổi tiếng gian hùng, tham lam, tàn nhẫn, bốn lượt làm Tể Tướng. Thái Kinh cùng với Tô Thức (Tô Đông Pha), Hoàng Đình Kiên, Mễ Phất được xưng tụng là tứ đại thư pháp gia đời Tống. Về sau, do chán ghét tính gian hoạt của Thái Kinh, người ta gạt tên ông ta khỏi danh sách này, đem thầy của ông ta là Thái Tương thay vào.

[41] Nguyên văn là Tắc (稷), tức là một thứ lúa thân dài đến hơn một trượng, là một giống lúa chín sớm nhất, ngày xưa cho là thứ lúa quý nhất trong trăm giống lúa. Ở đây tạm dịch là “gạo thơm”.

[42] Hâm hưởng (歆饗): Quỷ thần hưởng đồ cúng tế bằng cách ngửi hơi nên gọi là “hâm hưởng”.

[43] Thánh miếu văn võ: Miếu thờ Khổng Tử (văn miếu) và võ miếu (thờ Quan Công và các vị trung thần nghĩa sĩ)

[44] Đại Thành Điện chính là chánh điện của Khổng Miếu ở Khúc Phụ (quê hương Khổng Tử). Gọi là điện Đại Thành, vì Khổng Tử được sắc phong Đại Thành Chí Tánh Tuyên Vương. Do vậy, chánh điện của những tòa Văn Miếu tại các địa phương đều được gọi là Đại Thành Điện.

[45] Mỹ hiệu tôn xưng Khổng Tử của Nho Gia, ngụ ý: Khổng Tử là bậc vâng giữ, tiếp nối đạo của Nghiêu, Thuấn, phỏng theo, tỏ rõ quy chế, luật pháp của Văn Vương và Vũ Vương, xứng đáng là bậc thầy gương mẫu cho muôn đời.

[46] Tức Khổng Tử và Quan Công.

[47] Núi Ngọc Tuyền nằm ở phía Đông Nam huyện Đương Dương, tỉnh Hồ Bắc.

[48] Giai lão: Sống hạnh phúc với nhau đến thuở bạc đầu.

[49] Đại Đới Lễ tức là sách Lễ Ký. Nguyên thủy, Lễ Ký là một trong sáu kinh trọng yếu của Nho Gia do Khổng Tử biên tập vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. Sau khi Tần Thủy Hoàng đốt sách Nho, chôn học trò, Lễ Ký chỉ còn sót lại 130 thiên, được Lưu Hướng thâu thập. Đới Đức đời Hán đã rút gọn 130 thiên ấy thành 85 thiên, nên người đời sau gọi là Đại Đới Lễ Ký. Về sau, cháu của ông là Đới Thánh lại rút gọn bộ Đại Đới Lễ Ký một lần nữa thành 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt Lệnh, Minh Đường Vị và Nhạc Ký, thành bộ Lễ Ký gồm 49 thiên, với danh xưng Tiểu Đới Lễ Ký. Bộ Lễ Ký được lưu hành hiện thời chính là bộ Tiểu Đới này. Các thiên sách Đại Học, Trung Dung được rút ra từ bộ Lễ Ký, hợp với Luận Ngữ, Mạnh Tử tạo thành Tứ Thư. Tuy mang tên gọi là Lễ Ký, nhưng sách này không chỉ nói đến lễ nghi, chế độ, mà còn bao gồm của những quan điểm nhân nghĩa đạo đức, xử thế thời cổ.

[50] Theo Nho lễ, để cúng tế phải dâng ba thứ thịt là bò (hoặc trâu), lợn, dê gọi là “tam sanh” (ba loại động vật dùng để hiến tế). “Ngũ đỉnh” là các thứ cỗ cúng phải được nấu thành năm món (thuở xưa dùng những cái đỉnh đồng không có nắp để đựng vật cúng). Về sau từ ngữ “tam sanh ngũ đỉnh” được dùng để chỉ cỗ bàn cúng tế hậu hĩnh.


Đại Bi Chú
 
bluedragon Date: Thứ Bảy, 14 Nov 2015, 7:56 AM | Message # 14
Major
Group: Users
Messages: 93
Status: Tạm vắng
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 21 Nov 2015, 8:51 PM | Message # 15
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2

Phần 1

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang




2.2.2. Cứu khổ:



Chia thành tám môn:

- Cứu lửa thiêu.

- Cứu nước chìm.

- Thoát hiểm.

- Thoát giết chóc.

- Thoát hành hình.

- Lành bệnh.

- Trừ tà quái.

- Cứu khỏi đọa lạc.

Xét theo mặt Sự và mặt Lý của việc cứu khổ thì như phẩm Quang Minh Giác của kinh Hoa Nghiêm đã chép: “Chúng sanh lưu chuyển ái dục hải, vô minh võng phú đại ưu bách, chí nhân dũng mãnh tất đoạn trừ, thệ diệc đương nhiên thị kỳ hạnh” (Chúng sanh lưu chuyển trong biển ái dục bị lưới vô minh che lấp, bức bách gây lo buồn lớn. Bậc chí nhân dũng mãnh ắt phải đoạn trừ những điều đó, đương nhiên cũng thề sẽ làm hạnh ấy). Đấy chính là ý nghĩa của việc cứu lửa thiêu, nước chìm, thoát chết, thoát hành hình v.v... Chúng sanh không nơi nương tựa, bệnh tật trói buộc, thường chìm đắm trong đường ác, khởi lên tam độc, ngọn lửa to hừng hực thường nung đốt, nên phải có hạnh “tịnh tâm độ họ”. Đấy chính là ý nghĩa của việc lành bệnh, trừ tà, cứu khỏi rơi ngã, cứu nạn lửa thiêu v.v... Chúng sanh mê mất chánh đạo, thường đi theo đường tà vào trong nhà tối, bèn vì họ thắp ngọn đèn chánh pháp to lớn chiếu sáng vĩnh viễn, đấy chính là ý nghĩa của việc thoát hiểm, trừ tà, cứu họ khỏi đọa lạc v.v... Chúng sanh trôi giạt, đắm chìm trong biển các cõi[1], sầu lo, hoạn nạn không bến bờ nương tựa, bèn thực hiện hạnh “vì họ tạo dựng đại pháp thuyền, khiến cho họ đều đắc độ”. Đấy chính là ý nghĩa của việc cứu người chìm đắm. Thấy các chúng sanh ở trong đường hiểm, bị sự khổ già, bệnh, chết thường bức bách, bèn thực hiện hạnh “tu các phương tiện không hạn lượng, thệ sẽ đều độ trọn hết”. Đấy chính là ý nghĩa của việc “thoát hiểm, khỏi bị giết, thoát khỏi hành hình” v.v...

Những điều đã nói trên đây Sự lẫn Lý đều đủ, nay tôi chỉ chọn khía cạnh thông tục, chuyên ca tụng theo mặt Sự.



2.2.2.1. Cứu nạn thiêu đốt



1. Bèn có: Từ Vân tụng chú, ba phen lửa nóng chẳng thiêu. Trường Thư trì danh, bốn mặt phóng hỏa đều tắt.

2. Kinh hoảng bốn mặt lửa cùng ập tới, chỉ chừa khoảnh đất dung thân. [Kiệt sức] xưng danh mới vừa một chữ, gió liền đổi chiều tắt lửa.

3. Lý mẫu kinh hồn tỉnh mộng, chỉ cháy lò sấy áo. Nghe Diệp Dục Tinh tụng niệm, màn trướng hãy còn nguyên.

4. Quốc Khanh thoát nạn, tự thấy Đại Sĩ dắt dìu. Pháp Vũ cháy lầu, tự có thần linh ủng hộ.

5. Dốc lòng chuyên lễ Phật, tiệm ông Uông hãy còn. Tâm chí tín cảm trời, nhà họ Thái vô sự.

6. Trên tháp Thiên Hỷ, kinh vàng chẳng tổn. Nơi nhà Tỷ Bộ, tượng vẽ còn nguyên.

7. Một bản kinh xưa, tiêu tai nạn nhiều phen nơi Thiện Ấp. Ba gian nhà cũ, cứu đại kiếp vùng phụ cận Đông Kinh.

8. Nếu chẳng ban hương Chiên Đàn, ai thoát khỏi khói hôi, lửa rực? Đấy là sự cứu khổ thứ nhất của Đại Sĩ vậy.




(1) Theo Liên Tông Bảo Giám, ngài Tuân Thức đời Tống hiệu là Từ Vân Sám Chủ, dựng chùa Hạ Thiên Trúc gồm mấy trăm gian. Mỗi lần bắc một cây kèo, đều tụng bảy biến chú Đại Bi. Ba lượt giặc đốt phá chùa, lửa đều tự tắt.

Theo Biện Chánh Luận, ông Trúc Trường Thư đời Tấn, chuyên dốc lòng tụng Quán Âm Kinh, ngụ cư ở đất Ngô. Khi những nhà xung quanh bị cháy, ông Thư đứng phía dưới chiều gió, nhất tâm niệm Quán Thế Âm, lửa cháy đến gần, đột nhiên gió thổi ngược lại, lửa tắt. Cả ấp kinh dị. Có kẻ ác nghi ngờ sự linh cảm ấy bèn đợi đến đêm lúc gió mạnh, đem bó củi đã nhóm lửa ném vào nhà [ông Trúc], ném khắp bốn mặt đều tắt. Khi ấy, hắn mới than thở, công nhận thần lực, khấu đầu tạ tội. Ông Thư nói: “Ta tụng niệm Quán Thế Âm chẳng biếc nhác, hễ có tai nạn gì đều liền thoát khỏi”.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, sư Thích Pháp Trí đời Ngụy, lúc còn tại gia, đi một mình trong vùng đầm lầy. Đột nhiên lửa dữ bốc cháy đùng đùng, bốn mặt lửa đều ùa tới, tự nhủ “ta ắt phải chết”, chỉ chí tâm niệm Quán Thế Âm. Trong khoảnh khắc, lửa cháy ào qua, không còn sót một cọng cỏ nào, chỉ có chỗ đất nơi Pháp Trí đứng là không sao cả.

Lại nữa, sư Thích Pháp Lực đời Ngụy, sửa tháp, dựng nhà, xin được một xe gai, đi qua nơi đầm lầy, chợt gặp lửa đốt đồng. Nhằm lúc mệt mỏi, buồn ngủ, lửa đã bén tới, bèn to tiếng xưng niệm chữ Quán, chưa kịp niệm tới chữ Thế Âm, theo tiếng niệm, gió đã xoay chiều, lửa liền tắt.

(3) Trong sách Linh Nghiệm Ký, ông Lý Ấn Vạn nói: “Mẹ tôi theo lời cha tôi dặn trong thư, trở về quê. Trong thuyền, hơ quần áo trên lồng ấp[2], nửa đêm quần áo bén lửa. Mẹ tôi mộng thấy trên hư không có tiếng hô hoán: ‘Bồ Tát đến rồi’, tiếng reo hò dồn dập. Kinh sợ, tỉnh giấc, lửa đỏ đã ngập thuyền, lan kín cả mui, vội dập tắt lửa”.

Theo Ứng Nghiệm Ký, Diệp Dục Tinh kiền thành tụng Cao Vương Kinh. Một ngày nọ, trong lúc bạn bè tụ họp, họ bèn mời ông tụng niệm. Cô em gái còn bé nghe tụng kinh bèn chạy đến nghe, liếc thấy trên lầu có ánh lửa bèn hô lên. Dập tắt được lửa, mền nệm đều cháy sạch, nhưng màn treo vẫn còn.

(4) Theo sách Nam Hải Từ Hàng, tại Sơn Âm, ba anh em ông Trần Quốc Khanh ở cùng một nhà, chỉ riêng Quốc Khanh ưa làm lành, sáng chiều kiền thành tụng chú Quán Âm. Một đêm nọ, do không cẩn thận nhà bị bốc cháy, Quốc Khanh thấy Bạch Y Đại Sĩ cứu vớt che chở liền thoát được, các em đều bị chết cháy.

Theo Phổ Đà Chí, vào năm Càn Long thứ 3 (1738) đời Thanh, lầu trống chùa Pháp Vũ bị hỏa hoạn, gió rất mạnh, sắp cháy lan sang những căn lầu như Thủy Nguyệt v.v... chợt Hỏa Thần thị hiện, gió chuyển hướng, thổi ra ngoài, các lầu không bị sao cả.

(5) Theo Hiện Quả Tùy Lục, ông Uông X... đời Minh sống ở Côn Sơn, ăn chay ba năm, tính sang Phổ Đà dâng hương. Nhằm hôm Nguyên Đán, ông gói ghém hành trang xuống thuyền, chợt [những căn phố] bên cạnh cửa tiệm bốc lửa, [người nhà] vội báo cho ông hãy về ngay. Ông Uông nói: “Ta dốc lòng Thành suốt ba năm rồi mới triều bái Bồ Tát, há vì một cái tiệm mà thay đổi chí hướng của ta ư? Dẫu cháy sạch, cũng không trở về”, rồi cứ căng buồm ra đi. Dâng hương xong, trở về Côn Sơn, thấy nhà cửa ở bốn phía tiệm ấy đều đã cháy tan, chỉ còn mỗi cái tiệm của chính mình.

Theo Tín Tâm Lục, ông Thái Tư Tương được cử giữ chức Thôi Tào Vận (kiểm soát vận chuyển đường thủy), thuê nhà dân để làm công sở, bốn phía không có tường, ở sát với nhà dân. Chợt hàng xóm bốc lửa, mọi nhà đều lo cứu đồ đạc, ông Thái ngồi yên không động đậy. Kẻ hầu nhiều lần van nài ông Thái hãy lánh nạn, nhưng ông ta chẳng đoái hoài. Lửa cháy lan tới, vượt qua công sở của ông Thái, còn cháy thêm mấy nhà nữa rồi mới tắt. Người ta hỏi ông có thuật gì, ông đáp: “Tôi kiền thành tụng chú Đại Bi”. Người ta bảo: “Thần chú cố nhiên linh nghiệm, lỡ vạn nhất không ứng nghiệm, thì há chẳng phải là chết uổng một mạng ư?” Ông Thái nói: “Nhà tôi nhiều đời trì tụng, những sự tích thoát khỏi những ách nạn đao binh, nước lửa, nạn gấp v.v... chẳng thể kể xiết. Còn như tôi trì chú đã hai mươi năm, phàm gặp phải nạn gấp, hễ cảm đều thông. Trong thời Càn Long, khi tôi sống ở kinh đô, nhà hàng xóm ở phía Nam bốc lửa, lại gặp trận gió nồm, lửa càng cháy mạnh, dọn chạy đồ đạc không kịp. Tôi tụng chưa xong một biến chú này, gió đã đổi chiều, lửa cháy ngược lại phía Nam, riêng nhà tôi không sao. Vì thế, biết sâu xa chú này được chư thần ủng hộ, gìn giữ, có thể chuyển biến ách nạn. Nếu lòng tin không chân thành, làm sao dám coi thường hiểm nạn cho được? Nhưng phải sám hối tội trước, tận lực làm chuyện lành. Mỗi ngày sáng tối kiền thành tụng chú năm bảy lượt thì sở cầu không chi chẳng được toại ý!”

Theo sách Liệt Tử, Trọng Ni nói: “Người có lòng tin chí thành sẽ động trời đất, cảm quỷ thần, ngang dọc khắp trời đất không trái nghịch”, há phải chỉ là trải nỗi nguy hiểm, vào trong nước lửa mà thôi!

(6) Theo Mặc Ký, Lý Hậu Chúa nhà Nam Đường[3] đích thân chép Tâm Kinh bằng chữ vàng, ban tặng cung nhân Kiều Thị. Về sau, Kiều Thị bị đưa vào cung nhà Tống, nghe tin Hậu Chúa đã chết, bèn bỏ cuốn kinh ấy trong tướng luân[4] của tháp chùa Thiên Hỷ. Về sau, nhà chùa bị hỏa hoạn, tướng luân bị rơi xuống, nhưng kinh vẫn còn nguyên.

Theo Linh Nghiệm Ký, ông Lý Vạn Ấn làm quan Tỷ Bộ[5]. Khi cha ông làm quan ở Giang Hữu, có thờ tượng Đại Sĩ [bằng tranh vẽ]. Tàn đuốc chợt nổ tung, rơi xuống, những món đồ thờ đều bị cháy sạch, nhưng cuốn trục tranh thờ [vẽ hình Đại Sĩ] vẫn còn nguyên.

(7) Theo sách Quán Âm Kinh Cận Nghiệm, vùng Mão Điền ở Thiện Ấp nhiều lần bị hỏa hoạn, nhưng nhà Ngu Khải nhiều lần thoát nạn. Lửa cháy đến gian nhà phụ bên trái nhà họ Ngu đều tự tắt. Do vậy, họ bèn lục lọi để kiếm xem có gì lạ không thì từ trên tấm lót trần nhà tìm được một bản khắc gỗ Quán Âm Kinh đã cũ, mới biết nguyên do thoát khỏi hỏa hoạn. Vì thế, nhà nhà khắc kinh này, trai giới trì tụng, đến nay đã ba mươi năm chưa hề bị hỏa hoạn.

Năm Dân Quốc 11 (1922), Nhật Bản động đất. Đại biểu của Phật Giáo Phổ Tế Nhật Tai Hội (hội Phật giáo cứu tế tai nạn tại Nhật Bản) là các ông Bao Thừa Chí, Dương Thúc Cát v.v... sang Nhật cứu trợ, gởi thư cho ngài Thích Ấn Quang, [trong ấy có đoạn]: “Số người chết ở Nhật Bản lần này ước chừng hơn ba mươi vạn, hài cốt chất như núi. Khu Thiển Thảo (Asakusa) ở Đông Kinh gần như hoàn toàn hủy hoại, công viên, ao nước bị thiêu cạn. Trong công viên có Quán Âm Đường, gồm ba gian xây theo lối cũ. Nạn dân bị lửa bao vây, ùa nhau chạy vào đó ước chừng hơn ba vạn người. Trong chánh điện và các gian nhà phụ đều đầy ắp người, cùng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, đều được thoát nạn ấy, mà cũng chỉ có ngôi điện đường ấy là còn nguyên. Do vậy, người Nhật ca ngợi không ngớt lời”.

(8) Theo phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm, núi Ma La Da[6] sanh ra loại hương Chiên Đàn, nếu dùng hương ấy bôi lên thân, gieo mình vào hầm lửa, lửa chẳng thể đốt được. Phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa có câu: “Xú yên bồng bột, tứ diện sung tắc” (Khói hôi, lửa hực, bốn mặt ngập tràn).



Ghi thêm: Theo Giác Thế Kinh Thuyết Chứng, trong niên hiệu Thiên Khải đời Minh, thành Hàng Châu bị hỏa hoạn lớn, có nhà buôn vùng Giang Hữu ở trên lầu cao chót vót, tự biết là không sao cứu được. Người ta thấy Bạch Y Đại Sĩ rưới nước bên lầu, người theo hộ vệ rất đông. Lửa tắt, mọi người hỏi ông ta đã làm điều lành nào? Thương nhân chối là chẳng làm điều lành nào. Về sau, chú ông ta kể: “Khi cha nó mất, để lại năm trăm lạng vàng. Thằng cháu ấy là con vợ cả, đã trưởng thành, còn bốn em trai nó là con vợ kế hãy còn thơ ấu. Thằng cháu ấy buôn bán hai nươi năm, dành dụm được năm ngàn lượng vàng, tới khi các em nó đã lập gia đình, bèn chia tài sản thành năm phần, chia đều cho các em, cả họ đều khen ngợi”.



2.2.2.2. Cứu nạn chìm đắm



1. Bèn có: Huệ Khánh đối mặt cơn lốc, thấp thoáng thần kim giáp xuất hiện. Cảnh Nhân bị ngã xuống nước, thoát nạn nhờ tụng phẩm Phổ Môn.

2. Từ Vinh hãm trong vực xoáy, ánh lửa rực đầu non. Cụ Lã lọt nơi nước xiết, ánh đuốc soi rõ bờ.

3. Hành Đồng nhảy xuống biển, chợt có Tăng nhân áo nâu sồng xuất hiện. Họ Lưu bị lật thuyền, bèn được ánh sáng màu hồng chiếu rọi.

4. Cố Mại vượt sông yên ổn, lắm lượt ngửi mùi hương lạ. Vạn Thọ quay thuyền trở lại, cũng thấy ngọn lửa thần kỳ.

5. Thương nhân lênh đênh trên biển, Tăng chống tích trượng dẫn đường. Lưu Tế dong thuyền vượt hồ, hai người kè thuyền vượt thoát.

6. Tại Lương Sơn, một bé trai đột nhiên nắm áo. Hồ Bành Lễ, người khổng lồ hô to ôm gỗ.

7. Lệnh Tông lánh giặc, nai dẫn đường vượt bến Mạnh Tân. Lưu sứ lọt thuyền, biển thẳm cá chở đuổi kịp thuyền.

8. Loan Tuân ngã xuống nước, như đi trên đất. Đình Dục lọt xuống sông, sóng chỉ ướt quần.

9. Nhà thuyền trì trai, quỷ bèn trái lệnh. Nhất Thừa xưng danh, linh cảm đẩy mui.

10. Pháp Thuần gặp được bè tiên, Thành Khuê chợt vớ gỗ nổi.

11. Nhật Húc mộng thấy có người bảo “hãy gọi tên ta”, Doãn Thăng được lợi nhờ công hóa độ chúng sanh.

12. Ngầm bảo vệ Trình Chiêu, vật đến đỡ chân. Dẫn Hy Tải trở về, hóa cội dâu cột thuyền.

13. Ông Phan vượt biển, chẳng tin ngu muội như Thương Khâu. Cụ Vương lướt sóng, chân khác nào bước trên đất bằng.

14. Ứng nghiệm soạn ký, ông Túc mừng hai phen sống sót. Đón tôn tượng về, họ Lâm được báo đáp bồi hoàn.

15. Giản Nam và Thiên Tích, phu thuyền kinh hãi. Ánh Khuê với Đại Thành, thân riêng sống sót.

16. Xứ Giang Ninh, nữ nhân nhà cụ Trang toàn mạng. Nơi Nam Việt, nhóm ông Châu chìm thuyền được cứu.

17. Âm thầm bảo vệ thuyền quả phụ, cô nhi. Ngầm hô đẩy thoát họa lửa rực ao cá.

18. Than ôi! So với sách Nho câu nệ, nhọc công giữ điều răn “chớ vào vực thẳm”. Sao bằng quy y Phật pháp, chẳng vướng hung tai tột bực? Đấy là sự cứu khổ thứ hai của Đại Sĩ vậy.




(1) Theo sách Pháp Uyển Châu Lâm, trong niên hiệu Nguyên Gia đời Tống, ngài Trúc Huệ Khánh ngồi thuyền sang Lô Sơn, giữa dòng chợt nổi gió, thuyền sắp lật. Huệ Khánh kiền thành tụng Quán Âm Kinh, mọi người dõi nhìn thì thấy loáng thoáng có thần nhân mặc giáp bằng vàng, lôi thuyền xông qua cơn lốc, cắt ngang dòng tấp vào bờ.

Theo sách Pháp Hoa Cảm Thông, Sầm Cảnh Nhân đời Đường tụng phẩm Phổ Môn từ bé, từng qua đất Ngô, thuyền lật, bị rơi xuống nước, nghe có người nói: “Tụng phẩm Phổ Môn thì phải thoát được thủy nạn”. Nghe nói như vậy ba lượt, liền nổi lên mặt nước. Trong khoảnh khắc đã chạm bờ, những người khác đều chết đuối.

(2) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Từ Vinh ngồi thuyền qua Định Sơn, bị mắc vào vùng nước xoáy, bèn vội niệm danh hiệu Quán Thế Âm, dường như có mấy chục người lôi thuyền ra khỏi vùng xoáy. Khi ấy, trời sắp tối, gió giật, mưa to, ông Vinh tụng kinh không ngớt. Chợt đầu núi có ánh lửa sáng rực chiếu tận trời thẳm, [phu thuyền] bẻ lái về đó, liền vào được bờ. Sáng ra, hỏi người trong bãi thuyền: “Tối hôm qua trên đầu núi là lửa gì vậy?” Mọi người ngạc nhiên, bảo: “Mưa gió suốt ngày, làm sao có lửa được?” Mới biết là do Phật lực ngầm gia hộ.

Theo Minh Tường Ký, vào đời Tấn, cha ông Lã Tủng từng bơi thuyền trên một con suối nước chảy xiết. Trời tối, mưa gió ập tới, bèn niệm Quán Thế Âm không ngừng. Trong khoảnh khắc có ánh lửa soi đường dẫn vào bờ, như có người cầm đuốc vừa thoáng đằng trước lại vụt ra đằng sau, thuyền cứ theo ánh đuốc mà đi, bèn được trở về nhà.

(3) Theo Quái Viên, vào năm Canh Tuất (1610) niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, Tào Hành Đồng theo bề trên triều bái Phổ Đà. Ông Đồng thầm khấn Đại Sĩ, nguyện xả thân. Trở về, tới biển Liên Hoa, liền chắp tay nhảy xuống biển, [người trên thuyền] không cách nào vớt được. Hơn ba tháng sau, ông ta đột nhiên tự trở về, kể: “Lúc nhảy xuống biển, thấy có một vị Tăng người Tây Vực, đắp ca-sa bằng vải nâu sồng, giong thuyền tới vớt tôi lên, đưa về Châu Sơn, tới một nhà dân chài, rồi vị tăng Tây Vực ấy chợt biến mất”.

Theo Kỷ Cầu Thư, năm Kỷ Sửu (1649) đời Thuận Trị nhà Thanh, ông Lưu X... ở Mạt Lăng triều bái Nam Hải, ngồi trong thuyền, lòng phát nguyện được thấy Bồ Tát. Về sau, chợt gặp sóng gió, thuyền lật. Họ Lưu rớt xuống nước, trước mặt thấy ánh sáng đỏ chiếu khắp nơi. Một vị Tăng nắm tay ông Lưu dẫn đi, trong chớp mắt đã về đến nhà, vị Tăng biến đâu mất. Họ Lưu như say, như mộng, uống trà nóng xong rồi mới tỉnh hồn, kể lại mọi chuyện.

(4) Theo Minh Tường Ký, trong niên hiệu Nguyên Gia đời Tống, Cố Mại đi thuyền bị va phải đá ngầm. Gió rít, sóng nhồi, vội tụng Quán Âm Kinh mười mấy lượt, gió yên, sóng lặng. Giữa dòng nhiều lượt nghe có mùi thơm lạ lùng sực nức, vượt sông bình yên.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào thời Nguyên Gia nhà Tống, Phục Vạn Thọ từng qua sông vào lúc canh tư, đêm tối, gió dữ, không biết phương hướng là đâu. Vạn Thọ nhất tâm quy mạng Quán Thế Âm, niệm danh hiệu Ngài chẳng ngớt tiếng. Chợt thấy bờ Bắc có ánh lửa, quay thuyền hướng về đó, trời chưa sáng đã đến nơi. Hỏi người trên bờ thì tuyệt nhiên chẳng có ai nhóm lửa!

(5) Vào đời Tấn, một thương nhân ở Tây Vực, bơi thuyền trong biển bị lạc lối, xưng niệm danh hiệu Quán Âm, thấy một vị Tăng cầm tích trượng, băng mình trên không trung dẫn lối.

Vào đời Tấn, Lưu Tế vượt hồ gặp gió bão, bèn tụng niệm Quán Thế Âm, chợt thấy hai người kè thuyền đưa qua hồ.

(5) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, vào đời Tống, ngài Cầu Na Bạt Đà La[7] được Nam Tiếu Vương [Lưu] Nghĩa Tuyên tôn kính. Vương âm mưu dấy loạn, ngài Cầu Na khóc lóc can ngăn, Vương vẫn không nghe. Sau trận đại bại ở Lương Sơn, Sư bị té xuống sông, nhất tâm tụng Quán Thế Âm Bồ Tát, trông thấy một đứa bé trai lôi áo, bèn hỏi: “Ngươi là đứa bé con mà làm được như vậy ư?” Đến bờ, đứa bé biến đâu mất.

Theo lời chú thích tác phẩm Linh Cảm Phú, vào đời Thanh, Trầm Khởi Tiềm tự kể: - Vào thời Càn Long, khi qua bến Cửu Điểu ở Giang Tây bị ngã xuống sông, trôi đến hồ Bành Lễ, uống no một bụng nước. Chợt thấy giữa sóng có kim quang tỏa ra cả vạn tia; ở giữa đó là một người to lớn kêu lên: “Hãy mau ôm lấy!” Liền quờ tay ôm được một cây gỗ dài hơn một trượng, bèn thoát chết.

(7) Theo Tỳ Kheo Ni Truyện, vào đời Tấn, ni sư Lệnh Tông đi lánh nạn giặc giã ở Ký Châu. Buổi chiều, ni sư đến bến Mạnh Tân, không có thuyền để vượt sông liền niệm Phật và danh hiệu Đại Sĩ, chợt có một con nai trắng lội xuống sông. Lệnh Tông bèn đi theo, nhưng trọn chẳng bị ướt. Do vậy, về đến nhà.

Theo Thiện Dư Dường Bút Thừa, vào đời Minh, Lưu Cốc Hiền theo Trịnh Hòa[8] đi sứ ở hải ngoại. Giữa biển cả, ông Lưu chợt té xuống nước, trong chớp mắt đã cách xa thuyền mấy chục dặm. Mọi người trên thuyền chợt thấy họ Lưu đuổi kịp tới thuyền, bèn kéo ông lên. Có một con cá dài hơn một trượng rẽ sóng bơi đi. Ông Lưu bảo: “Con cá ấy chở tôi đến đây. Tôi chìm xuống nước mấy lần, con cá ấy liền dùng vây lưng nâng lên”. Mọi người hỏi ông đã tích tập thiện quả nào? Đáp: “Chỉ kiền thành niệm Quán Âm Kinh mà thôi!”

(8) Theo Minh Tường Ký, vào đời Tấn, huyện lệnh Phú Bình là Loan Tuân theo quân đi đánh Lô Tuần bị thua, chiến thuyền bị đốt cháy. Ông Tuân vội niệm danh hiệu Quán Thế Âm, trong khoảnh khắc thấy trong sông có thần nhân đứng sững, eo ngập ngang mặt nước. Ông Tuân biết xưng danh được cảm ứng bèn đạp nước lội theo, thân nổi trên mặt nước, chân như đi trên đất, được đại quân giong thuyền ra cứu.

Theo Thương Túc Am Tùy Bút, vào đời Thanh, Thái Thú quận Phổ Nhĩ là Trần Đình Dục thờ Đại Sĩ hết sức kiền thành, hằng ngày tụng chú Đại Bi. Trong niên hiệu Đạo Quang, ông Trần theo ngả Giang Hán về kinh, sảy chân té xuống sông. Khi ấy, gặp cơn gió mạnh, trong chớp mắt đã cách thuyền cả dặm, nhưng nước chỉ ngập tới gối, hai chân như có vật gì nâng đỡ không bị chìm, chỉ có áo bào bay phần phật trên mặt sóng mà thôi. Ông bèn vội tụng chú Đại Bi, chưa được ba lượt, đã có người đến cứu, phần trên thân trọn chẳng bị ngấm ướt.

(9) Theo sách Vạn Thiện Tiên Tư, năm Khang Hy thứ 2 (1663) đời Thanh, có thuyền chài đậu dưới chân Tiểu Cô Sơn. Trong đêm, nghe tiếng sơn thần ra lệnh cho thuộc hạ: “Ngày mai có thuyền chở muối đi qua đây, hãy mau thâu lấy”. Đến sáng, quả nhiên có thuyền chở muối căng buồm đi tới. Sóng gió chợt nổi lên đùng đùng, gần như lật thuyền mấy lượt. Hồi lâu sau thoát nạn. Đêm ấy, thuyền chài lại nghe tiếng sơn thần quở trách bọn quỷ tốt trái mạng, chúng thưa: “Khi đến tịch thâu, thấy cuối thuyền có Quán Âm Đại Sĩ, nên chẳng dám đến gần”. Ngày hôm sau, thuyền chài đuổi theo thuyền muối hỏi thăm; thì ra người giữ bánh lái vâng giữ Quán Âm Trai[9].

Theo Từ Lâm Tập, vào đời Thanh, Bành Nhất Thừa là người Nam Hải. Trong niên hiệu Khang Hy, từ Ngũ Dương trở về nhà, bị bão lốc lật thuyền. Những người cùng đi giỏi bơi lội đều bơi vào bờ, còn ông Thừa bị kẹt trong khoang thuyền không ra được, chỉ nhất tâm xưng danh Đại Sĩ, uống no nửa bụng nước, vừa uống nước vừa niệm. Chợt cảm thấy có người kéo tay ra khỏi nước, chụp được mui thuyền, thuận gió giạt vào bờ. Người trên bờ cùng thấy một người mặc áo trắng đẩy cái mui đến chỗ thuyền đang chìm để cứu ông ta.

(10) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, ngài Pháp Thuần đời Tấn, giữa hồ gặp bão, thuyền lại bé, chỉ một lòng trông cậy Quán Thế Âm, miệng tụng niệm không ngớt. Trong khoảnh khắc, thấy một cái thuyền to trôi tới, trèo lên, bèn được cứu. Đến bờ, không thấy cái thuyền ấy đâu nữa.

Theo Tập Dị Ký, vào đời Đường, Thành Khuê do để mất gỗ xây dựng, bị vu cáo, liền niệm Quán Âm cứu khổ. Sau khi gông xiềng tuột ra, bèn lặn xuống nước trốn, gặp một cây gỗ nổi, chính giữa có một cành mọc thẳng lên. Ông Khuê cưỡi lên gỗ, ôm chặt, chìm xuống lại nổi lên, chí tâm niệm danh hiệu Quán Âm không ngớt tiếng, gỗ giạt vào gần bờ, thoát nạn.

(11) Theo sách Cao Vương Kinh Cận Nghiệm, Dư Nhật Húc về thăm cha mẹ, vượt sông. Mộng thấy có người áo trắng bảo: “Ngày mai ông gặp đại nạn, kêu ta liền được thoát”. Đến khi vượt sông gặp bão, thuyền sắp lật, vội kêu: “Đại Sĩ cứu con!” liền vượt sông an toàn. Xét ra, chuyện này được sách Nam Hải Từ Hàng ghi thành chuyện Du Cửu Vân.

Theo Tịnh Độ Thánh Hiền Tục Lục, vào đời Thanh, Ngô Doãn Thăng ở Hổ Khâu, lúc bé, gặp một vị Tăng bảo: “Ngươi có thiện căn, tiếc là năm hai mươi chín tuổi sẽ gặp thủy tai. Chỉ có cách từ nay trở đi hãy kiêng giết, phóng sanh, mỗi ngày kiền thành niệm Phật, trì chú Đại Bi, may ra sẽ thoát được!” Ông Thăng tin nhận, phụng hành; lại còn đem chuyện này khuyên người khác. Đến năm 29 tuổi, từ đất Hàng ngồi thuyền về thăm nhà, sông nổi sóng rất nguy hiểm, vội chắp tay niệm Phật. Thuyền lật, rơi xuống nước, trong lúc mơ màng nghe có tiếng nói: “Ngô Doãn Thăng có công khuyên người niệm Phật, được thoát khỏi nạn này”. Mở mắt ra nhìn quanh thì thân đã ở trên bờ, đã được dân chài cứu lên rồi!

(12) Theo Hải Nam Nhất Chước, vào đời Thanh, Trình Chiêu ở Phù Lương do có khối u trong bụng, nhờ tụng Tâm Kinh được lành, nên thường trì niệm không gián đoạn. Trong niên hiệu Đạo Quang, thi trượt chức vụ Xuân Quan[10], liền trở về, giữa sông, lật thuyền, trôi giạt mười mấy dặm, nhất tâm niệm Tâm Kinh. Dường như có vật gì đỡ chân, nhờ vào đó, hơi ngồi được một chút, thoát nạn.

Theo Di Kiên Chí, vào đời Tống, Từ Hy Tải, mẹ kính thờ Quán Âm. Trong niên hiệu Thiệu Hưng, ông Tải dẫn hai đứa con trở về. Thuyền gặp bão, bèn đốc thúc người trong thuyền niệm danh hiệu Đại Sĩ, chợt gặp một cây dâu to, vội cột thuyền vào đó. Sáng ra thì thấy thuyền ở trên bãi cát, chẳng thấy cây dâu đâu cả! Về đến nhà, mẹ ra đón, cười bảo: “Tối hôm qua mộng thấy có bà lão dẫn cha con mày trở về. Nay quả nhiên đúng như vậy”, mới biết là Đại Sĩ rủ lòng cứu vớt.

(13) Theo Từ Lâm Tập, vào đời Thanh, Phan Quốc Chương là người Quảng Đông. Một hôm trở về quê, đến Tam Thủy, gặp bão lật thuyền, ông Phan nhất tâm niệm danh hiệu Đại Sĩ, đạp ngay xuống đáy biển, liền vững chân bước đi, nhờ đó vào đến bờ. Tiền cầm đi đường vẫn còn ở trong tay! Ông ta tin tưởng Đại Sĩ thần lực chẳng thể nghĩ bàn, bèn xuất gia ở núi Nhật Thân tại Thiều Thạch, hiệu là Huyền Cầu.

Lại nữa, theo Liệt Tử, Thương Khâu Khai làm khách trong nhà họ Phạm ở đất Tấn. Môn đồ của họ Phạm xuồng sã, khinh nhờn, lừa gạt, không trò lừa dối nào chẳng làm, nhưng ông Khai vẫn tin là thật. Một hôm, họ chỉ khúc sông phủ sương mờ mù mịt bảo: “Trong ấy có bảo châu, bơi ra đó sẽ lấy được”. Khai bơi ra đó, quả nhiên được bảo châu. Trong chốc lát, nhà kho của họ Phạm cháy to, bảo: “Nếu ai có thể vào trong lửa lấy được gấm ra, sẽ thưởng cho gấm ấy”. Ông Khai ra vào lửa, chẳng dính tro, thân chẳng cháy. Mọi người xúm lại hỏi han. Ông Khai nói: “Tôi chẳng có bí quyết gì! Thoạt đầu, tôi luôn tin lời các ông là thật. Chỉ sợ lòng Thành chưa đến mức cùng cực, làm chưa đến mức cùng cực, chẳng nghĩ tưởng đến thân hình, lòng chẳng nghĩ đến lợi hại. Hễ tâm chuyên nhất thì sự vật chẳng trái nghịch, chỉ có vậy mà thôi!” Trọng Ni (Khổng Tử) nói: “Thương Khâu Khai tin vào lời dối trá, mà sự vật còn chẳng trái nghịch. Huống chi ta đối với người khác toàn bằng lòng Thành ư?” Ông Dương Nhân Sơn chú thích đoạn này, cho rằng câu nói “ta đối với người khác toàn bằng lòng Thành” có thể dùng làm chứng cứ thật sự cho việc niệm Phật vãng sanh. Di Đà đại nguyện tiếp dẫn chúng sanh, đấy là lòng Thành của ngài. Chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đấy là lòng Thành của ta. Thương Khâu Khai tin vào lời nói dối, lòng Thành còn thiếu một phía mà sự vật còn chẳng trái nghịch. Ta với Phật đều có lòng Thành, há có lẽ nào chẳng sanh Tịnh Độ ư? Theo ngu ý, như Hoa Nghiêm Kinh đã dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo” (Hết thảy chỉ do tâm tạo), kinh còn dạy: “Tín năng thị hiện nhất thiết Phật” (Lòng tin có thể thị hiện hết thảy Phật). Lại nói: “Nhất thiết Phật hưng, giai tùng tín khởi” (Hết thảy chư Phật xuất hiện đều do từ lòng tin mà ra), người học hãy nên suy nghĩ kỹ!

Theo Trì Nghiệm Ký, bà lão họ Vương ở Đông Đài bế cháu nội vượt sông, sảy chân, ngã xuống nước. Khi ấy, nước đang dâng tràn, chảy xiết, bà lão bế cháu đi trên mặt nước như trên đất bằng. Thuyền đến vớt đưa lên bờ. Hỏi thăm, cụ nói: “Chẳng biết đến hiểm nạn, chỉ trì thánh hiệu Quán Âm không ngớt”.

(14) Trong bài Ứng Nghiệm Ký của Hiếu Liêm Túc Khải có kể: Cha ông ta làm khách ở Duy Dương, vượt sông, bão lốc ập tới, cột buồm gãy nát, phân nửa những người ngồi cùng thuyền chết chìm. Do cha ông ta chí tâm tụng chú Quán Âm, hứa in tặng một vạn hai ngàn cuốn, trong khoảnh khắc, gió giạt tới cửa sông, vô sự. Đến Tết, từ đất Tô trở về Duy Dương, lúc vượt sông, sóng bủa vào thuyền, nhà thuyền cực lực chống chọi, còn cha ông chỉ tụng chú Quán Âm, lại được toàn mạng.

Theo Thiện Dư Đường Bút Thừa, vào đời Minh, chùa Nam Đài ở Phước Châu đắp tượng Đại Sĩ, sắp hủy tượng cũ. Thợ đắp tượng là Lâm X... xin đem tượng cũ về thờ. Được mấy tháng, vượt biển, thuyền hư, bị chìm, vội hô: “Con từng cứu Bồ Tát, sao nay Bồ Tát chẳng cứu con vậy?” Nói xong, thân chợt nổi lên, vớ được một tấm gỗ, cỡi lên, lênh đênh hơn trăm dặm, mới tấp vào một xóm nhỏ ven bờ, nhặt nhạnh được cả sọt những vật sót lại [từ chiếc thuyền vỡ tấp vào], bèn có tiền trở về.

(15) Bài ký tự thuật của cư sĩ Giản Nam đời Thanh có chép: “Trong niên hiệu Càn Long, mua chiếc thuyền mới đóng, ra cửa hồ, gặp phải gió to, sóng dữ, phu thuyền nhắm mắt bó tay. Tôi thầm niệm Quán Âm Kinh, vượt hồ an ổn”.

Theo sách Cao Vương Ứng Nghiệm, Vương Thiên Tích ở Giang Hữu ngồi thuyền sang Hán Khẩu, gió lốc ùa tới, tánh mạng mất còn trong khoảnh khắc, cả thuyền kêu khóc. Thiên Tích tụng Cao Vương Kinh và nguyện khắc in một ngàn quyển, gió liền dứt.

Theo Bạch Y Ứng Nghiệm, đời Thanh, Trầm Ánh Khuê lấy một quyển kinh Bạch Y từ nhà bạn đem về, vượt sông, bị gió lật thuyền, những người cùng đi đều mất mạng. Ông Khuê chìm nổi trong nước dường như có ai nâng đỡ. Lên được bờ mới biết là nhờ sức của quyển kinh mang theo, bèn ăn chay, tụng kinh suốt đời.

Theo Kính Tín Lục, Triệu Đại Thành ở Nam Xương nghe nói chú Bạch Y linh nghiệm, bèn thành tâm trì tụng. Một hôm vượt sông, sóng gió ùa tới, cả thuyền đều chết đuối, chỉ mình ông Triệu còn sống.

(16) Theo Kính Tín Lục, một bà lão họ Trang xứ Giang Ninh đem cuốn kinh Quán Âm từ nhà con rể trở về, bảo đám phụ nữ trong nhà tụng niệm. Về sau, quân lính chinh phạt phương Nam kéo qua, cướp đoạt của cải trong nhà. Đám đàn bà sợ bị làm nhục, nhảy xuống sông, nhưng đều tấp vào bờ, không ai chết. Đám lính rút đi, rốt cuộc, chúng bị lật thuyền chết hết.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, ông Chương Tông Triều đời Thanh viết: “Ông Vũ Đường Châu Minh Phủ có nói: ‘Khi gặp nạn hãy thầm tụng chú Đại Bi hoặc Cao Vương Kinh liền thoát được tai ách’. Tôi cũng thường tụng. Trong niên hiệu Gia Khánh, cùng đi với ông ta vào tỉnh Quảng Đông, bị bão lật thuyền. Tôi rơi xuống vực sâu, cảm thấy dưới nước có người đỡ chân tôi đẩy lên. Vũ Đường và người cùng thuyền cũng đều rớt xuống nước, được cứu. Y phục, văn thư vớt lên đều bị ngấm ướt. Chỉ có quyển Cao Vương Kinh, ngoài ướt, trong khô”.

(17) Theo Khuyến Giới Loại Sao, vào thời Thuận Trị nhà Thanh, Thí Cứ chết tại nhiệm sở ở Mân Trung, vợ là Trần Thị hai mươi ba tuổi, dẫn hai con đưa quan tài về quê. Vượt qua bãi Xa Đối trên dòng Thanh Hà, thuyền gần chìm, bà ta kiền thành tụng chú Quán Âm. Vừa được mấy biến, gió lặng, qua sông yên ổn. Về đến nơi, ăn chay, thủ tiết, mất năm bảy mươi hai tuổi. Phạm Văn Chánh đời Tống làm thơ, có câu: “Đây là thuyền cô nhi quả phụ”.

Theo sách Quái Viên, ông cụ Trương ở Tô Châu, trong niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, dẫn đứa cháu nội tám tuổi đến Phổ Đà lễ Đại Sĩ. Mới từ đất Hàng [toan] xuống thuyền ra biển, đứa cháu bảo: “Phu thuyền đều bị trói chân tay”, lôi áo ông đứng lại. Đổi sang thuyền khác, nó cũng thấy giống như vậy. Lại đổi thuyền, mới nói không có gì lạ hết; cụ Trương lần chần, có hai người đứng trên đầu thuyền hô: “Đáp thuyền này, đừng lên thuyền khác”, rồi dường như có người đẩy đằng sau. Đã lên thuyền rồi thì người hô lẫn kẻ đẩy đều chẳng thấy đâu. Chiều tối, sóng trắng xóa bủa cao như núi, hai chiếc thuyền đi trước đều chìm; chỉ riêng chiếc thuyền này xuôi dòng an ổn. Sách Phong Tục Thông có câu: “Cửa thành hỏa hoạn, rực sáng cả ao cá”.

(18) Thiên Khúc Lễ [của sách Lễ Ký] có câu: “Làm phận con, chẳng leo cao, chẳng vào vực sâu”. Sách Châu Dịch giảng về hào Lục Thượng trong quẻ Đại Quá như sau: “Quá thiệp tai đảnh, hung” (Tai nạn vượt quá mức cùng cực, là quẻ xấu)[11].


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 22 Nov 2015, 0:03 AM | Message # 16
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
2.2.2.3. Thoát hiểm



1. Bèn có: Mỹ nhân đến tắm suối, cứu dân sống dưới vách đá. Cô gái rao bán cá, công nhân liền thoát khỏi hang.

2. Đơn thân cỡi ngựa tẩu thoát, Tất Giám được chỉ đường về. Thú dữ đi qua, mặc kệ Thành Khuê ẩn núp.

3. Thầy tu vào đất Lạc, người đầu cạo láng đi theo. Trần công bị tuyệt lương, được người áo tía gọi dậy.

4. Ông nội Ngạn Sơn dạy cháu ngừa tai ương nhà sụp. Cháu nội Sĩ Khải, nhiều phen thoát họa té lầu.

5. Ngoài biên ải, đồng bạn Cấp Đa đều chịu ơn. Giữa biển khơi, cả thuyền ngài Na Bạt được cứu.

6. Thiện Xung nhờ đuốc hiện dẫn đường, Nho Tuấn được cỡi ngựa tẩu thoát.

7. Ẩn núp trong gò mả, Chi Khai thoát nạn. Náu mình trên cây khô, Lệnh Tông khỏi họa.

8. Quân Khương nhốt Đạt Khai, cọp táp thủng cũi. An Khởi lánh né giặc, sói ném qua sông.

9. Đạo Tú lạc hẻm núi, Đại Sĩ hiện chân dung chỉ đường. Hoài Minh hãm hang giặc, Bồ Tát hóa lửa thần dẫn về.

10. Ông Trầm trượng nghĩa, thánh tượng hiện thân dắt dìu. Tớ Hạ trọn trung, được người to cõng khỏi suối.

11. Những điều được nói trong kinh Phật, hoàn toàn phù hợp sự thật (tổng cộng hai đoạn).




(1) Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, động Bạch Thủy tại huyện Tu Văn ở Quý Châu có mỏ thủy ngân. Thợ mỏ hơn một ngàn người, dân sống dưới vách núi mấy trăm nhà. Trước động chừng hai dặm có con suối; đột nhiên, một người đàn bà xinh đẹp đến tắm rửa nơi đó, vú trễ xuống tận eo. Cư dân bỏ nhà ùa nhau ra xem. Vừa mới tới gần suối, vách núi sụp đổ ầm ầm, nhà cửa đều bị chôn vùi. Người đàn bà đang tắm không còn thấy tung tích đâu nữa, mới biết là Đại Sĩ hóa thân cứu vớt mọi người.

Theo Quảng Tín Phủ Chí, vào đời Tống có người vào núi khai thác mỏ đồng, đào hang sâu không lường được. Lúc núi sắp sụp, chợt có một cô gái cầm giỏ đựng một con cá chép vảy vàng óng ánh đến rao bán. Người trong hang tranh nhau chạy ra coi. Núi sập, chẳng biết cô gái ở chỗ nào nữa, mới biết là Đại Sĩ thị hiện.

(2) Theo Minh Tường Ký, vào đời Tấn, Tất Lãm là người xứ Đông Bình, theo Mộ Dung Thùy[12] chinh phạt miền Bắc, [thua trận], nhưng không bị bắt. Một mình một ngựa trốn chạy, lạc đường trong núi, niệm Quán Thế Âm. Nửa đêm thấy một vị Tăng mặc pháp phục, tay cầm tích trượng chỉ lối, về đến nhà an ổn.

Theo Tập Dị Ký, vào đời Đường, Thành Khuê té xuống nước gặp được cây gỗ bèn thoát nạn. Về sau, ông ta ẩn nấp ở bên bờ lau, bên sông có thứ dữ đi ngang, liếc nhìn ông ta, nhưng không làm hại.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, đời Đường, ngài Đạo Nhân sang Lạc Trung. Khi ấy, quy luật nghiêm ngặt, Tăng không có người đi cùng thì không được phép du phương. Do vậy, Sư bèn kiền thành tụng niệm Quán Âm. Chợt có vị Tăng đầu cạo láng bóng đến xin cùng đi. Tới Đồng Nhai Kim Địa, chẳng biết [vị sư ấy] đã biến đâu mất.

Theo phần Ngoại Thích Truyện (tiểu truyện của những nhân vật bên vợ vua) không thuộc phần chánh văn của Minh Sử, vào đời Nguyên, Trần công là người Dương Châu, là cha của Thuần Hoàng Hậu[13]. Cuối đời nhà Tống, ông Trần theo Trương Thế Kiệt[14] sung quân. Sau trận thảm bại ở Nhai Sơn, phải náu thân trên hải đảo, lương thực đã cạn. Những người cùng ở trên đảo với ông ta sắp phải qua núi Độc Lâu ăn thịt ngựa chết. Ông Trần mộng thấy người áo trắng căn dặn đừng qua đó ăn. Còn nói: “Ban đêm sẽ có thuyền tới, sẽ chở đi”. Ông bèn nằm ngủ, không đi nữa. Tới đêm, lại mộng thấy có người áo tía gọi dậy: “Thuyền đến rồi đó!” Hốt hoảng thức dậy thì đã nằm trong thuyền của nguyên soái X... Ấy là vị thống lãnh mà ông vốn đã theo hầu trước đây, nay đã hàng quân Nguyên, do thương xót ông bèn chở đi. Sau này, ông quay về Dương Châu, sanh được hai con gái. Cô út chính là Thuần Hoàng Hậu.

(4) Theo Cảm Ứng Ký Lược, Trần Ngạn Sơn ở Vụ Châu mộng thấy có người bảo: “Ta là ông nội ngươi, ngươi sắp gặp họa tan thân nát xương, hãy gấp trì tụng Quán Âm Cứu Khổ Kinh và ấn hành lưu truyền trong cõi đời thì mới thoát khỏi tai kiếp”. Sáng hôm sau, ông Trần liền quỳ khấn trước tượng Đại Sĩ, chuyên tụng niệm không lười nhác. Một hôm ngồi trong thư trai, nghe có tiếng gõ cửa rất gấp, vội mở cửa ra nhìn, chợt nghe có tiếng gió xô đổ cây, cây đè sập nhà, ông Ngạn thoát nạn.

Theo Quán Âm Kinh Cận Trưng, Ngô Sĩ Khải ở Hà Tây, suốt đời tụng Quán Âm Kinh. Sau khi cụ mất, kinh cất trên lầu. Lũ cháu nội trai trèo lên lầu chơi giỡn, thường bị xảy chân, té xuống nhưng không sao cả. Hỏi ra thì chúng nói là thấy một bà cụ mặc áo trắng từ trên không trung ôm lấy, mới biết là Đại Sĩ cứu giúp, che chở. Cả nhà bèn lễ tụng, đến nay thư hương bất tuyệt.

(5) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Tùy, ngài Đạt Ma Cấp Đa[15] đi qua sa mạc, nước lẫn cỏ đều thiếu, người cùng đi chăm sóc lẫn nhau, tánh mạng không biết trông cậy vào đâu. Vượt núi tìm không được nước, Ngài bèn chuyên niệm chú Quán Âm, ban đêm trời chợt đổ mưa, thân tâm vui sướng.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, vào đời Tống, ngài Cầu Na Bạt Đà La cỡi thuyền sang xứ này (Trung Hoa), giữa đường nước ngọt đã cạn, cả thuyền kinh hoảng. Ngài Bạt Đà nói: “Hãy đồng tâm dốc sức xưng niệm Quán Thế Âm”, rồi ngầm tụng chú, khẩn thiết lễ sám. Trong khoảnh khắc, mây giăng kín, trời đổ mưa, cả thuyền được cứu.

(6) Theo Báo Ứng Ký, đời Đường, Thôi Thiện Xung lúc làm quan ở Huề Châu, các sắc dân thiểu số nổi loạn. Bọn ông Xung gồm hai mươi mấy người ban đêm bỏ chạy; muốn chạy về Côn Minh, nhưng tối tăm chẳng biết đường. Ông bèn chuyên chú, thành tâm niệm Tâm Kinh. Trong khoảnh khắc, thấy ánh đuốc đằng trước, đi theo bèn đến được Côn Minh.

Theo Biện Chánh Luận, đời Tấn, Lý Nho Tuấn trấn giữ Hổ Lao, bị quân Ngụy bao vây, ban đêm vượt thành ra ngoài, thấy giặc nằm ngang dọc khắp nơi. Ông Tuấn bèn nhất tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, vượt qua doanh trại giặc, chạy đến đồng trống. Bọn giặc đuổi theo, ông Tuấn núp trong bụi, gấp gáp niệm Quán Âm Kinh, chợt bắt được con ngựa, chạy thoát.

(7) Vào đời Thanh, Đào Chi Khải ở Tiền Đường, do gặp nạn nhưng chẳng nỡ bỏ ông nội, bèn núp trong gò mả, phát nguyện ăn chay ba năm, hằng ngày tụng Phổ Môn Phẩm, lại niệm thánh hiệu Quán Âm, bọn giặc lùng sục nhưng chẳng tìm thấy.

Theo Tỳ Kheo Ni Truyện, ni sư Lệnh Tông đời Tấn là người xứ Cao Bình, gặp thời loạn bị giặc truy đuổi, liền tụng phẩm Phổ Môn, vặt trụi lông mày, giả vờ bị bệnh ngặt, nên được giặc thả đi. Đến Ký Châu, lại bị giặc đuổi, ni sư trèo lên cây khô, chuyên dốc lòng Thành niệm Quán Âm. Những kẻ đuổi bắt dòm ngó ra xa, nhưng trọn chẳng ngước nhìn lên, nên ni sư thoát nạn.

(9) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Thích Khai Đạt vào đất Lũng (Thiểm Tây) hái cam thảo, bị người Khương[16] bắt, nhốt vào cũi. Trong cũi đã nhốt sẵn mười mấy người. Sáng tối, người Khương lôi từng người ra giết ăn thịt, đến khi chỉ còn mình Khai Đạt, sáng hôm sau sẽ bị giết. Khai Đạt thầm tụng Quán Âm Kinh không lười nhác. Trời vừa hừng sáng, chợt có con hổ to xông đến, người Khương kinh hãi chạy tứ tán. Hổ cắn cũi thành lỗ, Khai Đạt sợ nó sẽ làm hại, nhưng đến khi cũi đã bị cắn thủng có thể chui lọt thì hổ bỏ đi, mới biết là do Đại Sĩ xua nó đến cứu, Sư liền được thoát thân.

Theo Quán Âm Huyền Nghĩa Sớ Ký, Bùi An Khởi trở về phương Nam, đến bên sông, giặc cưỡi ngựa đuổi tới, vội niệm Quán Âm Bồ Tát, chợt thấy một con sói trắng chụp lấy, quăng ông ta sang bờ kia, thoát nạn!

(9) Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Phan Đạo Tú theo quân lên đánh phía Bắc, thất bại, bèn chí tâm niệm Quán Thế Âm. Trong khi mộng mị liền thấy Bồ Tát khi ở đằng trước, lúc ở đằng sau. Sau đấy, ông ta chạy xuống phương Nam, lạc đường. Ở nơi núi thẳm, giữa hư không chợt thấy chân dung Bồ Tát, giống như hình tượng được lưu truyền hiện thời, chỉ cho lối về. Ông Tú vừa lạy xong, không còn thấy nữa, liền biết lối trở về nhà.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Lưu Tống, Hình Hoài Minh theo Châu Tuần lên đánh miền Bắc, bị cầm tù. Trốn thoát, bèn cùng trốn về Nam, đêm đi, ngày núp. Do sợ bị truy bắt, bèn sai người đi trước thăm dò động tĩnh của giặc. Mấy hôm sau người ấy mới quay lại, tự kinh hoảng nói: “Nhìn từ xa thấy có ánh lửa rất sáng, nên chạy đến đây. Cớ sao lại trở thành tối om?” Ấy là vì Hoài Minh luôn đội Quán Âm Kinh trên đầu, tụng niệm không ngớt. Mọi người đều tin vào thần lực của kinh, liền được thoát nạn.

(10) Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, đời Minh, Trầm Văn Tung khi làm quan ở Triêm Hóa, Sơn Tả, có bạn đồng liêu là X... mẹ già, không con, sắp phải vâng chiếu sang Tây Tạng. Ông Trầm khẳng khái đi thay, trải bao hiểm trở, ba năm sau mới quay về. Người nghe chuyện đều khen ông là người đầy nghĩa khí. Trong số những người theo hầu, trung thành nhất là Hạ Tường. Một hôm, sương mù mờ mịt, đi đến chỗ vách núi cheo leo, phía dưới ngầm ẩn khe nước sâu vạn trượng. Hai tên hầu ngã xuống suối, ngựa của ông Trầm đã lọt vào chỗ hiểm. Chợt trông lên thấy Đại Sĩ ở giữa mây mù, tay cầm hoa sen xanh, hướng về phía ông Trầm chỉ đường. Trong khoảnh khắc, thân đã vượt qua khe nước đến chỗ đất bằng. Ông đau xót hai tên hầu đã chết, hồi lâu sau, ánh sáng chiều tà tắt hẳn, nghe có tiếng người liền vội hô lên, thấy một mình Hạ Tường chạy đến, hỏi làm sao thoát khỏi? Thưa: - Lúc rơi xuống suối, có người lông xanh cao hơn một trượng, từ dưới khe suối cõng lên. Chủ tớ ôm nhau khóc ròng. Cao Văn Lương Công bèn vẽ tượng Đại Sĩ, đề ngày tháng để ghi nhớ.

(11) Trong Thỉnh Quán Âm Kinh, đức Phật bảo A Nan: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân, đắc văn Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, tịnh thọ trì lục tự chương cú, nhược hành khoáng dã, mê thất đạo kính, Quán Thế Âm Bồ Tát đại bi huân tâm, hóa vi nhân tượng, thị kỳ đạo lộ, linh đắc an ổn. Nhược đương cơ khát, hóa tác tuyền, tỉnh, quả lõa, ẩm thực, linh đắc bảo mãn” (Thiện nam tử, thiện nữ nhân được nghe danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và thọ trì lục tự chương cú, nếu đi trong đồng hoang, lạc mất đường lối, Quán Thế Âm Bồ Tát do đại bi huân lòng, sẽ hóa thành hình người chỉ cho đường lối, khiến cho người ấy được an ổn. Nếu bị đói khát, Ngài sẽ hóa thành suối, giếng, trái quả, thức ăn khiến cho người ấy được no đủ).



1. Hóa ao, cỏ giữa Lưu Sa, Tam Tạng còn mạng. Bày quán trà bên bến nước, Tống Khản ngủ đêm.

2. Tôn xưng thánh hiệu, gặp giặc tự có thần lực. Trí Hiển ẩn thân, chẳng giống như phương thuật.

3. Pháp Trí ẩn lùm gai, mặc người lùng sục. Đậu Truyền núp trong rừng, nghiễm nhiên an ổn.

4. Trong hang Hoắc Sơn, lửa đóm tỏa sáng. Giữa lùm cây rậm, Áp Lan hiện tướng.

5. Ông Từ ẩn trọn người trong lùm cỏ rậm, Đức Tổ giấu nửa thân bên cỏ bồng hao.

6. Kỵ binh truy đuổi vượt qua ông Đạt, da trâu che mắt. Linh cảm ứng hiện cho Thiện Tài, mõm sói sát mũi.

7. Thấy Phật quang tỏa bảy tia, đèn họ Xa thắp sáng rành rành. Hãm trong kẹt đá ba năm, cứ ăn chữ từ kinh họ Triệu. Do vậy, thấy rằng những thân, những cảnh đã hiện, không đâu là thật, mà cũng biết Phật lực không mảy trần nào chẳng trọn. Đấy là sự cứu khổ thứ ba của Đại Sĩ vậy. (Phần này ca tụng cảnh giới hiểm nạn như huyễn).



(1) Theo Đường Tam Tạng Truyện, ngài Huyền Trang đi đến vùng Lưu Sa[17], trên con đường dài hơn tám trăm dặm, trên trời không có chim bay, dưới đất không có thú chạy. Yêu quái nổi lửa, ánh lửa lập lòe như sao sa, Ngài trọn chẳng sợ hãi. Chỉ đến khi hết nước đã năm ngày, gần chết, không đi được nữa, nằm trên cát, thầm niệm Quán Âm, nguyện rằng: “Huyền Trang đi chuyến này, chuyên vì vô thượng đạo tâm chánh pháp mà ra đi. Bồ Tát từ bi nghĩ đến chúng sanh, chuyên cứu khổ, há chẳng biết con khổ sở ư?” Nửa đêm, chợt có trận gió mát thổi qua thân, mát mẻ như được tắm trong nước lạnh, mắt liền sáng ra, ngựa cũng trỗi dậy được. Đi tiếp, ngựa chợt đổi hướng, chế ngự không được, bèn thấy một vùng cỏ xanh rộng mấy mẫu. Lại có một cái ao, nước ngọt, trong suốt. Xuống ngựa uống nước, thân mạng khôi phục. Xét ra chỗ này trước kia vốn không có, nhất định phải là do Bồ Tát từ bi hóa hiện.

Theo Báo Ứng Ký, đời Đường, Tống Khản ngồi thuyền của người khác qua Tam Môn, gặp trận gió lật thuyền, nắm được bó sách, lội lên bờ, đến ngủ đêm tại chòi tranh của bà lão bán trà. Phơi sách, thấy trong ấy có bộ kinh Kim Cang. Bà lão nói: “Kể từ sau bữa ông ra đi, vợ ông lễ kinh thành khẩn, thiết tha, nên cứu được ông”. Trở về hỏi chuyện, quả nhiên đúng là vợ lễ tụng kinh ấy. Do vậy, gói ghém trà, lụa đem tạ ơn bà cụ bên bến sông. Đến nơi lều tranh không còn nữa. Dân địa phương nói: “Nơi ấy nước [lên xuống] không có ngằn hạn, làm sao có am trà cho được” mới biết là Đại Sĩ hóa thân.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Tùy, ngài Na Liên Đề Lê Da Xá[18], Hán dịch là Tôn Xưng, đi đường gặp bọn giặc núi, chuyên niệm chú Quán Âm, ở ngay trước mắt giặc mà chúng không thấy. Về sau, những khi rảnh rỗi trong lúc dịch kinh, Ngài thường giảng giải thần chú, lập công cao nhất [trong việc hoằng truyền Mật Tông trong thời ấy].

Lại nữa, ngài Trí Hiển đời Đường, đi đường gặp bọn Đột Quyết[19], mười mấy người đều bị đuổi bắt, ngài Trí Hiển ẩn thân chẳng hiện. Hỏi ra, Ngài nói: “Tôi niệm Quán Âm nên chẳng gặp giặc”.

(3) Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, ngài Thích Pháp Trí trì danh thoát khỏi hỏa hoạn, lại đăng vào lính, bị vây bắt, phải ẩn quanh trong lùm gai góc bên ngòi nước, lại chí tâm niệm Quán Thế Âm. Giặc đứng cách ngòi nước hô đám quân phía sau, chỉ trỏ, ra lệnh giết, nhưng họ lục lọi chẳng tìm thấy. Pháp Trí thoát nạn bèn trở thành Tăng.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Đậu Truyền do niệm Đại Sĩ thoát được gông cùm, bèn vượt thành trốn. Lúc trời sáng, ẩn nấp trong rừng, trong khoảnh khắc, người ngựa dồn dập kéo tới truy bắt, đốt rừng, giày xéo cỏ cây, không đâu chẳng lục kỹ, chỉ có khoảng đất Đậu Truyền đang nấp là không lục tới.

(4) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, đời Lưu Tống, ngài Đạo Quynh vào Hoắc Sơn để hái mầm đá. Vào trong hang mấy dặm, nhảy qua những khúc gỗ để vượt qua nước, ba người chết đuối, lại rơi mất đuốc. Đạo Quynh chuyên tụng Pháp Hoa, chỉ dựa vào nghiệp ấy, lại nghĩ đến Quán Âm. Một lúc sau, có tia sáng như lửa đom đóm, đuổi theo không kịp, bèn thoát ra khỏi động. Về sau, Sư lại cùng bốn người đồng học cưỡi băng vượt sông, băng vỡ, ba người chết đuối. Đạo Quynh lại dốc lòng thành nơi Quán Âm, cảm thấy dưới chân như có vật tự nổi. Lại thấy ánh sáng đằng trước, dõi theo ánh sáng vào được bờ.

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Minh, người đất Mân là Lôi Pháp Chấn làm nghề đốt than. Trong nhà có cây gỗ Áp Lan, đường nét tinh tế, muốn khắc thành tượng Đại Sĩ, nhưng chưa được toại ý. Một bữa, vào núi đốt than, từ trong lùm rậm, đột nhiên có con hổ phóng ra chụp. Chợt có một phụ nữ ẻo lả chặn quát hổ, hổ liền nem nép, khấu đầu rút lui. Ông Chấn lạy tạ, hỏi tên tuổi, [người phụ nữ ấy] bèn nói: “Ta chính là cây gỗ Áp Lan trong nhà ông” rồi không thấy nữa. Ông Chấn cảm ngộ, bèn chọn ngày lành khắc tượng, suốt đời ăn chay, đảnh lễ.

(5) Theo Minh Tường Ký, Từ Nghĩa làm Thượng Thư trong triều đại Phù Tần, sau bị Mộ Dung Vĩnh[20] bắt được. Do niệm Đại Sĩ bèn thoát nạn, trốn thoát trong đêm, núp trong đám cỏ, kỵ binh đuổi theo đốt đuốc như sao sáng ngời, nhưng trọn chẳng thấy ông Từ.

Theo Biện Chánh Luận, Mao Đức Tổ ở Vinh Dương, theo đường tắt xuống Giang Nam, gặp bọn giặc cưỡi ngựa đuổi tới, bèn núp trong đám cỏ bồng hao[21] bên đường, nửa thân vẫn còn lộ ra, nghĩ chắc phải chết, bèn chí tâm niệm Quán Âm. Trong khoảnh khắc, trên mây trút mưa xuống, liền thoát nạn.

(6) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, Thích Siêu Đạt học rộng biết nhiều. Thời Nguyên Ngụy cấm đồ sấm[22], có người vu cáo, Sư bèn bị bắt, hạ ngục, buộc bánh xe vào cổ. Siêu Đạt chuyên niệm Quán Âm, tới đêm chợt chẳng thấy bánh xe nữa, những người canh giữ đều ngủ; do vậy, chuồn ra, nhưng do chân bị trói đã lâu, chẳng đi xa được. Trời sáng, bốn thớt ngựa truy binh đuổi theo, Siêu Đạt nằm xoài trong đám cỏ, kỵ binh giày xéo tan nát mà trọn chẳng thấy. Siêu Đạt lén dòm, thấy mặt bọn giặc đều bị da trâu che mắt, nhờ đó trốn thoát.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, Từ Thiện Tài bị giết nhưng sống lại, lại nhặt được áo cừu bằng da dê, đào, táo, khỏi bị đói khát. Đi năm mươi dặm, nghỉ lại một chút, ngồi xếp bằng tụng niệm, không ngờ ngồi ngủ luôn. Đến canh tư chợt tỉnh, có một con sói xanh to đùng đang ngồi chồm hổm trước mặt, đưa mõm chạm mũi ông Tài. Ông Tài thấy rồi, lại nhắm mắt niệm rằng: “Nếu thật là oan cừu của ta, hãy ăn ta để đền tội ương đời trước. Nếu là Đại Sĩ hiển linh, xin hãy cứu đệ tử được yên vui”. Niệm xong mở mắt ra, chẳng thấy tông tích con sói đâu nữa.

(7) Theo Tuyên Nghiệm Ký, vào đời Tống, Xa Tử Giả do mắc nạn Lô Lăng Vương tại Thanh Nê, bị hãm trong trại giặc. Bà mẹ ở nhà thắp bảy ngọn đèn trước bàn Phật, chuyên tâm niệm Quán Thế Âm, nguyện con được trở về. Hơn một năm sau, Xa Tử ban đêm trốn trại, lạc đường, thường thấy bảy ngọn lửa sáng trước mặt, ngỡ là thôn xóm, cứ dõi theo ánh lửa mà đi, nhưng trọn chẳng đến nơi được. Suốt bảy đêm như thế, không ngờ đã về đến nhà, thấy mẹ vẫn còn phủ phục trước bàn Phật thỉnh nguyện, bảy ngọn đèn xen nhau chiếu sáng.

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, khi vách núi sụp ở huyện Tu Văn, Quý Châu, có Triệu Nhị Giả bị vùi trong đó, may lọt nhằm kẽ hở nên không chết. Sau ba năm, có người đến hái thuốc nơi chỗ sụp, nghe trong đá có tiếng kêu cứu, hè nhau tận lực đào ra. Ông Triệu thuật rằng: Khi núi sụp, đang ngủ mê man chẳng tỉnh. Đến lúc tỉnh lại, thấy bốn phía đều là đá, không cách gì thoát ra được. Lại khổ sở vì đói khát, đột nhiên có con chuột trắng nép sát bên cạnh thân, dài hơn cả thước, mắt lấp lánh như chớp, soi thấy trên đá có chữ. Nhìn kỹ thì ra là kinh Quán Âm. Chuột nhấm chữ làm ra vẻ ăn nuốt, ông Triệu thử bắt chước làm theo, bèn đỡ đói. Về sau, mỗi lần nhấm một chữ, liền no bụng suốt ngày. Đến nay đã gậm gần hết chữ, chỉ sót lại mấy hàng. Mọi người thấy trên đá không còn dấu chữ mà cũng chẳng thấy con chuột trắng nào! Đưa ông ta về nhà, lấy cuốn kinh ông ta đã tụng mở ra xem, chỉ còn mấy hàng cuối, giống hệt như chữ đã thấy trong kẹt đá.

2.2.2.4. Khỏi bị giết chóc



1. Bèn có: Tướng quân Ninh Sóc, sắp bị chém, được tha. Lính thú Nam Cung, đao phủ bỗng bải hoải.

2. Đạo Tập trì danh, giặc chém nhiều lần, kinh hãi bỏ chạy. Từ Ân[23] tụng kinh, gã Hồ rút dao rồi lại nằm.

3. Tên chẳng thể tổn hại Pháp Thiền, đao không chém được Trầm Giáp.

4. Quân Mưu, Du Nhung, cùng phô chuyện lạ ba đao. Lục Huy, Kính Đức, hai tượng, cổ cùng in vết.

5. Chàng Trương thuật lời Phật, liền giải oan khiên đời trước. Họ Trình gọi gã Vương, chuyển thành sống đời yên vui.

6. Thiện Tài bị giết, hồi sinh trên cành trong động. Vương Ất gặp hiểm, đột nhiên trèo lên bờ cao.

7. Chỉ Nhất nghe dị tăng răn dạy, giặc bèn hồi tâm. Cao Tuân xin Bồ Tát xót thương, bị chém chẳng chết.

8. Đầy tớ nghe lời chủ dạy, chưa ba năm đã được tha về. Em bị kẻ xấu vu hãm, tụng một tạng sạch nỗi oan khiên.

9. Nhà họ An thờ tượng, đánh vào lưng nghe tợ tiếng đồng. Ông Trữ Úy trì danh, trên đảnh đầu hào quang tỏa rực.

10. Truyền lời cho quan huyện lệnh, ba phen cứu chàng buôn gạo. Báo mộng răn đe Tiếu Vương, Trương Sướng rốt cuộc sống yên.

11. Giản Vinh quy mạng, đao bèn gãy nát. Đình Ái gặp cướp, lương vẫn còn nguyên.

12. Thoát nạn như ưng, cắt vụt bay, sắp đi được két kêu cảnh tỉnh.

13. Đấy đều là trong khoảnh khắc táng thân mất mạng, liền nhờ ân khởi tử hoàn sanh. (gồm ba đoạn)




(1) Theo Vương Nguyên Mưu Truyện trong bộ Tống Thư, ông Mưu làm tướng quân ở Ninh Sóc, vây Hoạt Đài không đánh thắng được nên bị thượng tướng đem chém. Ông Mưu mộng thấy có người bảo: “Tụng Quán Âm Kinh ngàn biến sẽ thoát”. Tỉnh giấc, liền tụng được một ngàn biến. Sắp bị chém, chợt có tiếng hô truyền lệnh ngưng hành hình. Ấy là vì Trầm Khánh can gián nên [cấp trên] thôi chém.

Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Nam Cung Tử Ngao, làm lính thú[24] ở Tân Bình, bị Trường Lạc Công phá thành, cả thành mấy ngàn người đều bị xử chém. Tử Ngao chí tâm niệm Quán Thế Âm. Khi đao phủ chém đến Tử Ngao, các lưỡi đao chém xuống, hoặc là cao quá, hoặc là thấp quá. Người cầm đao chợt mỏi mệt, tứ chi bủn rủn. Trường Lạc Công kinh hãi, tra hỏi. Ông Ngao thưa: “Biết chế yên ngựa”, bèn được tha. Ông Ngao cũng trọn chẳng biết vì sao mình lại trả lời như thế. Về sau, ông ta tạo một tượng Đại Sĩ nhỏ, hễ đi bèn đội trên đầu, khi ngưng lại bèn đảnh lễ.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Ngụy, ngài Đạo Tập đi sang Tây Sơn, Thọ Dương, bị giặc bắt trói vào cây, sắp giết. Đạo Tập bèn niệm Quán Âm không ngừng, giặc vung đao chém mấy lượt nhưng Sư trọn chẳng bị tổn thương, bèn sợ hãi bỏ chạy. Đạo Tập bèn được thoát.

Theo Đường Tam Tạng Truyện, ngài Huyền Trang vượt ải Ngọc Môn, tùy tùng là Thạch Bàn Đà, vốn là người Hồ, chợt sanh lòng khác lạ, rút đao ngồi dậy, từ từ tiến về phía pháp sư. Sư ngồi dậy, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Gã người Hồ vẫn thấy vậy, lại nằm xuống, Sư cỡi ngựa bỏ đi.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Ngụy, sư Pháp Thiền đi đường núi gặp giặc, chỉ niệm Quán Âm. Giặc buông cung bắn, tên chẳng thể thương tổn Sư, bèn ném cung xuống đất, tỏ lòng quy kính.

Theo Tuyên Nghiệm Ký, Trầm Giáp ở Ngô Quận bị trói, sắp bị hành hình, kiền thành niệm danh hiệu Quán Âm, mũi đao tự gãy. Do vậy bèn được thả.

(4) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tống, Huệ Hòa thoạt đầu làm Quân Mưu, bị địch quân bắt được, đem chém. Ông Hòa tận lực tụng Quán Âm Kinh, cầu nguyện khẩn thiết tột bực. Tên lính vung đao, ba lần giơ lên, ba lượt gãy nát bèn kinh hãi, thả đi, ông Hòa bèn xuất gia.

Đời Thanh, Lã Thiên Hộ ở Thiểm Tây kiền thành tụng chú Bạch Y, bôi Đàn Hương lên thân Đại Sĩ, sáng tối cúng dường. Về sau, ông đảm nhiệm chức Du Nhung tại Ninh Ba, do lỡ việc, bị luận tội chém. Lúc bị hành hình, đao phủ chém liên tiếp ba đao đều bị gãy, tâu lên, ông Lã bèn được miễn tội.

Theo Tuyên Nghiệm Ký, Lục Huy bị giam trong ngục sắp chết, bèn bảo người nhà tạo tượng Quán Âm. Lúc bị hành hình, chém ba đao đều bị gãy. Quan hỏi nguyên cớ, đáp rằng: “Tôi e rằng đấy là từ lực của Quán Âm”, nhìn vào tượng thì cổ tượng có ba vết đao; do vậy, tâu lên, Lục Huy được miễn tội.

Theo Tề Thư, Tôn Kính Đức phòng ngự biên giới phương Bắc, tạo tượng Quán Âm, lễ kính, thờ phụng. Về sau, bị bọn giặc cướp gây liên lụy, [triều đình] định tội tử hình. Đêm ấy, ông lễ sám, khóc lóc, chợt như trong mộng thấy một sa-môn dạy hãy tụng Cứu Khổ Quán Âm Kinh một ngàn biến, sẽ thoát khổ nạn. Kính Đức tụng đến lúc bị hành hình vừa đủ ngàn biến. Đao chém xuống gãy thành ba đoạn; ba lượt thay đao vẫn gãy như cũ. Thừa tướng Cao Hoan dâng biểu xin miễn hành hình. Kính Đức được thả về, thấy nơi cổ của bức tượng Quán Âm do mình đã tạo có ba vết đao.

(5) Đời Tống, Trương công tử ở Lâm An thấy trong ngôi chùa đổ nát có tượng Quán Âm đã mất chân tay, bèn thỉnh về, trang nghiêm, cúng dường. Về sau, gặp giặc, phải nhảy xuống giếng, thấy Đại Sĩ đến nói: “Ngươi nay sắp chết, ta không cách nào cứu được. Bởi lẽ, trong đời trước, ngươi từng giết một người, tên hắn hiện thời là Đinh Tiểu Đại sẽ giết ngươi để báo oán”. Ngay lúc đó, có người thọc mâu xuống giếng, kêu chui ra. Trương hô lên: “Ông là Đinh Tiểu Đại phải không?” Kẻ kia kinh hãi hỏi: “Sao ngươi biết?” “Do Phật bảo tôi”. Họ bèn cùng nhau cởi gỡ oán thù đời trước rồi bỏ đi.

Theo Kỷ Cầu Thư, đầu đời Thanh, Trình Bá Lân buôn bán ở Dương Châu, thờ Đại Sĩ rất kiền thành. Năm Ất Dậu (1645), quân binh [nhà Thanh] phá thành Dương Châu[25], ông Trình cầu khẩn Đại Sĩ cứu giúp. Mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Mười bảy mạng trong nhà ông, mười sáu người đều được thoát tai kiếp, còn ông không trốn được. Đời trước ông giết Vương Ma Tử bằng hai mươi sáu nhát đao, nay phải đền món nợ ấy. Hãy nên bảo người nhà ở chái Đông, riêng mình ông ở giữa nhà đợi hắn, đừng làm liên lụy đến ai”. Ông Trình tin theo. Đến khi binh lính đập cửa, ông Trình ra đón, hỏi: “Ông có phải là Vương Ma Tử hay chăng?” Tên lính kinh hãi hỏi vì sao biết tên họ ta? Ông Trình kể lại giấc mộng. Tên lính than: “Đời trước, ngươi giết ta, đời này chịu báo. Ta nay giết ngươi, há đời sau chẳng lại bị báo thù hay sao?” Bèn dùng sống đao đập ông Trình hai mươi sáu lần để xóa nợ. Ông Trình bèn dẫn quyến thuộc sang Kim Lăng, sống yên ổn nhiều đời.

(6) Theo Minh Tường Ký, trong niên hiệu Vũ Đức thời Đường, Từ Thiện Tài thường giữ trai giới, tụng Quán Thế Âm Kinh. Về sau bị giặc bắt, có một ngàn một trăm người cùng bị bắt, cùng bị đem tới Hồng Nhai rồi lần lượt giết chết. Ông Tài chí tâm niệm Quán Âm Kinh, trong lúc bị giết trọn chẳng biết gì. Đến đêm mới biết thân mình đang nằm trên cành cây mọc de trên con suối sâu, cách vách đá độ hơn ba trăm thước. Lấy tay sờ cổ, chỉ thấy hơi đau, nhưng không thương tổn gì. Trèo xuống khỏi cây, đi dọc theo khe suối, nhặt được áo ấm bằng lông dê, đào, táo v.v... Coi chuyện này trong phần trước.

Đời Đường, Vương Ất lúc nhỏ trì chú Như Ý Luân[26]. Đầu thời Khai Nguyên, cùng bè bạn sang Hà Bắc, liếc thấy phu chèo thuyền có vẻ khác lạ, bèn cầm đuốc niệm chú. Nửa đêm, phu chèo thuyền cầm búa chặt đầu hai đứa đầy tớ, lại chém hai người bạn, rồi tới chỗ Ất. Vương Ất nằm phục xuống đất, đuốc chợt tắt, bị chém ba búa. Đột nhiên, sau lưng có hai người nâng Vương Ất đưa lên bờ. Máu chảy khắp mình, nhưng không đau đớn lắm. Sau đó, thấy [từ thuyền lên bờ] cao mấy chục trượng mới biết là sức của thần chú.

(7) Theo Pháp Hoa Cảm Thông, đời Thanh, Thích Chỉ Nhất thuở nhỏ gặp một vị Tăng kỳ lạ, răn dạy: “Con sắp gặp phải đại nạn, nếu có thể trì thánh hiệu Đại Bi thì sẽ thoát nạn”. Sư bèn dốc lòng thọ trì. Trong niên hiệu Sùng Trinh, Hiến tặc[27] phá Quang Sơn, giết đến Sư, đao bỗng tự gãy. Giặc lấy làm lạ nên [tha cho] Sư khỏi chết, Sư liền xuất gia.

Theo Tuyên Nghiệm Ký, Cao Tuân niệm Đại Sĩ, gông xiềng tự tháo. Cai ngục kinh dị, bảo Tuân rằng: “Nếu Bồ Tát thương ông thì chém cũng chẳng chết”. Lúc xử tử hình, đao vung lên liền gãy, [quan giám trảm] tâu lên trên, ông Cao liền được thả.

(8) Theo Quán Âm Cảm Ứng, vào thời Vạn Lịch nhà Minh, đầy tớ quan Thượng Thư Lục Ngũ Đài đánh lộn gây chết người, cầu cứu chủ nhân. Ông bảo: “Theo quốc pháp, giết người phải đền tội, ta làm sao xin tha cho ngươi được? Ngươi vào ngục hãy chuyên niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, sau ba năm, Ngài sẽ tự đến cứu ngươi”. Đầy tớ nghe lời dạy, niệm Bồ Tát không lười nhác, một năm sau được thả.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, vào đời Minh, Khương Thiện bị anh là Liêm do chiếm núi không được bèn vu cáo Khương Thiện hại mạng người, Khương Thiện bị kết thành tội nặng. Trong thời Vạn Lịch, Khương Thiện bị chuyển đến nhà giam trên phủ, có được cuốn kinh Cao Vương bèn ngày đêm lễ tụng, mấy lượt tụng đủ một tạng[28], liền được cứu.

(9) Theo Linh Ứng Lục, đời Đường, An Định là người Sơn Tây. Bà mẹ hái dâu nhặt được tượng Quán Âm bằng đồng, bèn lễ bái, cúng dường. Về sau An Định đi lính, bị ngã trong đám cỏ, cảm thấy sau lưng bị chém liên tiếp ba nhát, [nghe vang ra tiếng] như chặt vào đồ bằng đồng, thân thể không bị vết thương nào.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Đường, một người Mạt Hạt[29] là Đế Thị Giai trốn vào Cao Ly, nhặt được tượng đồng cao chừng hai tấc, chẳng biết là vị thần nào, bỏ trong túi da, hễ ăn uống rượu thịt đều dâng cúng [tượng thần]. Người Cao Ly nghi anh ta là gián điệp bèn đem chém, chém ba đao vẫn không bị thương. Lôi tượng ra thì lưng tượng có ba vết đao. Họ nói: “Đây là tượng Phật, có thể sang Đường quốc (Trung Hoa) hỏi thăm”. Ông Giai bèn xuất gia tại U Châu, hơi giống như chuyện trên đây.

Lại nữa, sách Trà Hương Thất Tùng Sao có viết: “Do bà lão họ An [trong câu chuyện thứ nhất] cũng dùng thịt cá cúng dường [tượng Phật] thì biết rằng thờ Phật cốt ở nhất tâm. Nếu tâm chí thành, cá thịt cũng đem cúng dường Quán Âm được!” Quyết chớ nên nghe theo lời ấy! Phẩm [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện có nói: “Chư cúng dường trung, pháp cúng dường tối. Sở vị: Lợi ích chúng sanh cúng dường, đại chúng sanh khổ cúng dường” (Trong các thứ cúng dường thì cúng dường pháp là tối thắng, như là: cúng dường bằng cách lợi ích chúng sanh, cúng dường bằng cách chịu khổ thay cho chúng sanh). Kẻ ăn thịt đoạn chủng tử từ bi nơi Phật tánh, dám đem [thịt, cá] cúng dường bậc Đại Bi Bồ Tát ư?

Hiện Quả Tùy Lục có chép truyện một viên Hiếu Liêm[30] ở Ma Thành đùa bỡn đem thịt cúng cho Bồ Tát, liền ngã xuống đất chết tươi, đọa thẳng vào địa ngục, khắp thân bị nung nứt nẻ. Trong câu chuyện của bà lão họ An, Bồ Tát đặc biệt thương xót bà ta ngu dại nên không truy tới, há đáng lấy cách thức ấy làm khuôn phép, khiến cho chúng sanh bị lầm lạc ư? Trong sách Vạn Thiện Tiên Tư, câu hỏi: “Làm lành lấy lập tâm làm chánh yếu. Nếu tâm địa đã lành thì sao lại phải kiêng giết” đã bị tiên sinh An Sĩ quở trách thống thiết, thật giống như vấn đề đang được nói tới ở đây.

Theo Di Kiên Chí, Trữ Úy ở Vu Hồ bị Khấu Lục Đức bắt trói, sắp đem chém, thấy trên đảnh ông Trữ có ba đạo hào quang, bèn thả ra, sai giữ chức Chủ Ấp. Về sau lại vì chuyện này, xét công huân, thăng quan cho ông ta. Ông Trữ hằng ngày niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát một ngàn câu, tụng một bộ Viên Giác, cho nên được quả báo ấy.

(9) Theo Sư Tán Hiên Tùng Đàm, một người buôn gạo ở vùng Thượng Ngu mộng thấy Đại Sĩ dặn: “Gặp cầu chớ dừng thuyền, gặp dầu bôi lên đầu, đấu thóc ba thưng gạo, nhặng xanh nâng đầu bút”. Về sau, thuyền gặp mưa, vừa qua một cây cầu, cầu liền sập. Trở về nhà lạy tạ Đại Sĩ, đột nhiên chiếc đèn thờ trước tượng rơi xuống, dầu chảy lênh láng khắp đất. Anh ta liền bôi dầu lên đầu. Đêm ấy, bà vợ bị giết chết trên giường. Ấy là vì người vợ tằng tịu với gã hàng xóm, hắn nghe chàng buôn gạo trở về liền đến giết. Trong đêm tối, hắn vén màn, ngửi thấy đầu anh lái buôn có mùi dầu ngỡ là bà vợ liền chuyển sang giết anh lái buôn, nào ngờ giết nhầm bà vợ. Bố vợ ngờ anh ta giết vợ bèn đi thưa. Anh lái buôn bị ép nhận tội. Lúc ghi biên bản cung khai, chợt có nhặng xanh bu đầy đầu bút, đuổi đi chúng lại bu tiếp, khiến cho quan ngờ có chuyện gì lạ lùng. Lặng lẽ suy nghĩ, chợt anh lái buôn thất thanh kêu: “Bồ Tát!” Quan liền tra hỏi, anh ta bèn thuật lại những chuyện nằm mộng, cầu gãy, bôi dầu. Người cố vấn của quan bèn đoán: “Ba thưng gạo tức là bảy thưng cám, há chẳng phải kẻ sát nhân là Khang Thất[31] hay sao?” Gã hàng xóm của anh lái buôn chính là Khang Thất, vừa tra khảo liền nhận tội, quan lập tức thả anh lái buôn.

Theo sách Đàm Tẩu, đời Lưu Tống, Trương Sướng phụng trì niệm thánh hiệu Quán Âm. Nam Tiếu Vương[32] dấy loạn, ông Sướng không theo, sắp bị vương giết, vương mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Chẳng được giết Sướng”. Nam Tiếu Vương bèn chẳng dám làm hại!

(11) Trong niên hiệu Thái Nguyên đời Tấn, Cao Giản Vinh phạm pháp, lúc sắp bị chém bèn nhất tâm quy mạng Quán Thế Âm Bồ Tát. [Đao phủ] chém xuống, đao liền gãy.

Theo Linh Nghiệm Ký, Châu Đình Ái ở Chiết Giang giải lương[33] qua Sơn Đông, gặp giặc cướp, thủy thủ bị giết sạch, chỉ riêng mình ông Ái còn sống, tiền lương không bị tổn hại. Ông Ái chuyên trì Quán Âm Kinh, lại thí tặng một ngàn hai trăm quyển. Đình Ái còn có tên là Đình Thọ.

(12) Theo Thỉnh Quán Âm Kinh, nếu có chúng sanh vào trong chiến trận, lúc sắp bị hại, bèn tụng niệm chú này, xưng danh hiệu Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được giải thoát nhanh chóng như chim ưng, chim cắt vụt bay. Vào đời Nguyên, Châu Đạo Nhân ở Giang Lăng tụng Quán Âm Kinh, ước hẹn với mọi người đi sang quận khác. Lúc sắp đi, con két kêu ầm lên: “Chớ có đi! Chớ có đi”, liền biết Bồ Tát hiển linh, bèn thôi, những người ra đi đều bị cướp giết!

(13) Theo Quốc Ngữ: “Khởi tử nhân, nhi nhục bạch cốt” (Làm người chết sống dậy, khiến cho xương trắng sanh thịt).


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 22 Nov 2015, 3:24 PM | Message # 17
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
1. Lại như hiện tướng trong mây, hai phen phù hộ Tống thất. Không trung vang tiếng, Tiền Liêu nhiều lần đuổi giặc.

2. Sắp được thăng lên tước vương, ngăn Vũ Túc chớ động binh. Giặc sợ có thần giúp đỡ, cản Sĩ Thành đừng giết bậy.

3. Thỏa bi nguyện của Trương Sùng, đá nứt, vợ chồng đoàn tụ. Cảm lòng Lưu Độ tinh thành, kinh rơi, cả thành khỏi chết.

4. Bà lão cõng đá to, ngăn địch quân đánh úp Điền Nam. Thần nhảy qua hai núi, chống quân binh xâm lăng Hà Bắc.

5. Tuy là trời giáng họa giết chóc, giỏ sắt khó che, nhưng Phật mở ra cõi thọ, trống vàng xưng tụng (câu này ca tụng cả chuyện dứt đao binh).


(1) Theo Thiên Trúc Chí, Tống Thái Tông do thấy Tào Bân đánh quân Khiết Đan[34] bị thua, bèn sai sứ sang chùa Thượng Thiên Trúc cầu Đại Sĩ ngầm gia hộ. Trương Tế Hiền thắng trận Đại Châu. Chư tướng thấy trong ánh lửa có thần kim giáp, cao mấy trượng, đứng trên chót mây, cầm cờ đỏ chỉ huy. Bọn giặc nhìn thấy, vỡ mật bỏ chạy tan tác.

Lại nữa, Lưu Dự cùng giặc Kim vào [đất Tống] cướp phá, Tống Cao Tông đích thân đến Đại Sĩ Điện cầu đảo, xin được ngầm che chở. Sau đấy, Hàn Thế Trung đánh bại quân Kim - Tề[35] ở Nhuận Châu. Trong lúc đối địch, bọn giặc thấy phía trên trận quân Tống có mấy chục vị thần mặc giáp bằng vàng, thân cao hai trượng, ánh mắt tóe lửa, đứng trên chót mây. Bọn giặc biết [quân Tống] có thần che chở, chẳng đánh mà tự tan, thua trận thật lớn. Khi Hàn Thế Trung làm lễ hiến phù[36], có nghe [quân lính] kể chuyện này.

Theo Thiên Trúc Chí, Hoàng Sào[37] dấy loạn, chém giết tại những nơi hắn kéo quân qua. [Tin truyền] đến đất Hàng, già trẻ mấy trăm vạn, khóc lóc lạy Đại Sĩ, xin Ngài rủ lòng Từ che chở. Đến khi Hoàng Sào cùng Tiền Liêu giao chiến, nghe trên không trung có tiếng niệm Phật, ngó lên thấy cờ quạt, lọng báu trên mây, vây quanh Đại Sĩ. Các vị Hỏa Thủ Kim Cang, trời, rồng, Tu-la v.v... theo hầu không thể tính được. Quân Tiền Liêu trông thấy, dũng khí tăng gấp trăm lần. Sào bảo: “Nước Phật mà!” bèn rút lui.

Lại nữa, Ngô Việt Vương là Tiền Liêu xuất thân từ chốn quê mùa, thề giữ yên miền Đông Nam nhưng còn do dự, chưa quyết. Đêm mộng thấy một phụ nữ bảo: “Ông từ bi không giết người, làm phên giậu một phương. Thiên tử đất Trung Nguyên đổi họ năm phen[38], mà cương vực của ông vẫn yên ổn, con cháu phong hầu, bái tướng lâu dài. Hai mươi mấy năm nữa sẽ tìm ta trong núi Thiên Trúc”. Tiền Liêu tự nhủ từ trước đến nay chưa hề có chuyện này, nhiều lần được thần giúp đỡ; vì thế, bèn chép vào sách để răn dạy con cháu đời đời tôn sùng, thờ phụng. Lại nữa, khi Đổng Xương dấy loạn ở Việt Châu, Tiền Liêu cầu khẩn Đại Sĩ rồi mới xuất binh. Khi đối địch, trên không nghe có tiếng cả vạn kỵ binh ùa tới. Đổng Xương vừa nhìn thấy liền kinh hồn, chẳng giao chiến mà bại tẩu, đất Việt được giữ yên.

(2) Theo Thiên Trúc Chí, Tiền Liêu muốn đánh Châu Toàn Trung[39], mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Chớ nên làm càn! Ông cứu được trăm vạn dân đen thì chẳng đầy mười ngày sẽ được phong tước làm vương”. Họ Tiền bèn thôi, quả nhiên như thế.

Hơn nữa, Trương Sĩ Thành[40] chiếm cứ Tô Châu, dung túng cho binh lính đốt phá, cướp bóc, sắp tiến vào Phật Quốc Sơn, vừa đi trên Xuân Kiều, chợt có suối từ Lưu Hồng ồ ạt tuôn ra, nước cao cả trượng, sụp núi, lấp hang, thế nước ầm vang như sấm sét. Bọn giặc hoảng sợ, [cho rằng] nơi ấy có sức thần giúp đỡ nên rút lui. Do vậy, chúng chẳng dám giết chóc bừa bãi nữa!

(3) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Trương Sùng tôn sùng Phật pháp từ bé. Khi Phù Kiên đã bại trận, Sùng chạy xuống phương Nam quy phục nhà Tấn, bị lính trấn thủ bắt giữ. Năm người bọn ông Sùng chân tay đều bị gông cùm, chôn nửa người dưới hố, sáng hôm sau sẽ cho ngựa càn qua, bắn tên cho chết. Ông Sùng nhất tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, nửa đêm gông gãy, thân từ dưới đất tự trồi lên, bèn trốn đi. Trên đường đi, ông nhặt một viên đá, nguyện: “Tôi muốn kêu cầu vua Tấn để cứu vợ bị bắt. Nếu tâm nguyện được thỏa, hòn đá này sẽ nứt làm hai”. Lễ bái xong, hòn đá liền nứt ra. Đến kinh đô, ông Sùng dâng biểu kêu oan, bỏ tờ biểu vào trong tủ Bạch Hổ [trước điện vua], liền được vua xuống chiếu, sai chuộc về hết những kẻ đã bị bắt đem bán.

Theo Minh Tường Ký, đời Tống, Lưu Độ là người Liêu Thành, cùng ấp có hơn một ngàn nhà cùng thờ Quán Âm, tụng kinh, lễ bái. Cuối đời Tống, những kẻ trốn lánh thường ẩn nấp trong thành khiến thành ấy bị [quân Nguyên] giận lây, cả thành sắp bị tàn sát. Ông Độ bèn hướng dẫn mọi người dập đầu cầu khẩn trước tượng Đại Sĩ, nhất tâm lễ tụng. Tù phương[41] đang xét việc, thấy từ trên không trung có một vật rơi xuống, nhiễu quanh cột nhà, kinh hoảng nhìn xem thì ra là phẩm Phổ Môn. Cầm lấy đọc xong, tù trưởng hoan hỷ, cả thành khỏi bị tàn sát.

(4) Theo Hữu Đài Tiên Quán, Quán Âm Các ở phía Nam thành Đại Lý Phủ được xây trên đỉnh một tảng đá lớn. Phủ chí có chép chuyện một phụ nữ cõng tảng đá ấy. Tương truyền, thuở xưa có quân địch [kéo đến] đánh úp Đại Lý, thấy một bà lão, vừa đi vừa cõng tảng đá này. Địch kinh ngạc, bà cụ nói: “Người xứ này mạnh lắm. Ta là đàn bà, vừa già vừa bệnh, chẳng thể mang nặng được!” Địch sợ quá, bèn rút. Bà cụ bỏ tảng đá ở chỗ ấy, chẳng biết đi đâu mất. Người ta biết là Quán Âm hóa thân, bèn dựng Quán Âm Các trên đá.

Tăng nhân chùa Thiếu Lâm từng thấy thần nhân hai chân nhảy từ núi Thái Thất sang Thiếu Thất, cầm gậy quất giặc, giặc hoảng sợ bỏ chạy. Họ bèn nói chắc là Quán Âm hóa thân.

(5) Theo Tăng Nhất A Hàm Kinh, Lưu Ly Vương[42] tấn công dòng họ Thích, ngài Mục Liên bạch Phật: “Kính xin Ngài cho phép con dùng giỏ sắt úp lên thành”. Phật nói: “Dòng họ Thích có oán thù [với Lưu Ly Vương] từ đời trước, ông đậy giỏ được sao?”

Kim Quang Minh Kinh: “Đắc văn kim cổ phát diệu hưởng, giai mông ly khổ đắc giải thoát” (được nghe cái trống vàng vang tiếng nhiệm mầu, đều được lìa khổ, giải thoát). Kinh còn chép: “Sở hữu khổ não, nãi chí uổng tử, tất giai viễn ly, thường mông Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát đại bi oai quang chi sở hộ niệm” (Tất cả khổ não cho đến chết oan uổng đều được xa lìa, thường được đại bi oai quang của Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát hộ niệm).

1. Còn như: Hữu Môn trì chú, cò diệc thoát lưới rập. Thế Thuần chép kinh, chim quạ thoát khỏi tên găm.

2. Xót thương ốc, ba ba, ông Cố được phán “phóng sanh”; ném chết bồ câu non, họ Trình chỉ được gia hạn.

3. Vào trường thi phải gỡ oán cho mèo; toan nhận con thường bị bò cản trở.

4. Tụng chú Đại Minh, mặt lưới mở tung. Niệm danh Bồ Tát, oán quỷ đắc độ. Chẳng chỉ mở rộng lòng nhân đến muôn loài, mà còn dứt tai kiếp trong vị lai. Ấy là sự cứu khổ thứ tư của Đại Sĩ vậy (trong phần này, ca tụng cả sự cứu vớt loài vật).


(1) Vào đời Minh, sư Hữu Môn đắc Đại Bi tam-muội, đi dạo chơi nơi ruộng đồng vùng Phụng Hóa, thấy mấy trăm con cò, con diệc bị người ta giăng bẫy, thầm niệm chú, chúng liền bay thoát.

Theo Linh Nghiệm Ký, đời Tống, Châu Thế Thuần thờ Đại Sĩ nghiêm cẩn, phát nguyện tả kinh để thí cho người khác trì tụng. Khi chép kinh, chợt có bầy quạ kêu rầm rĩ trên nóc nhà. Ra nhìn thì thấy có một con quạ bị trúng tên chảy máu, lũ quạ nhổ không được cho nên kêu rầm rĩ. Ông Châu ngửa mặt lên trời niệm danh hiệu Bảo Thắng Như Lai, Cứu Khổ Quán Âm, dùng bút chỉ vào quạ. Mũi tên liền rớt ra, từ giếng trời[43] rơi xuống bên cạnh khám thờ Phật, quạ bay mất.

(2) Theo Đệ Nhất Công Đức Lục, nhà ông Cố Vĩ Đông có đứa cháu bị bệnh đậu nguy ngập. Đêm nghe tiếng quỷ gào, ông Đông bèn hướng dẫn hai đứa con trai cầu nguyện trước tượng Đại Sĩ. Trong khoảnh khắc, đứa con út ngã lăn ra đất, [khi tỉnh lại kể: ‘Con thấy] có vị thần bảo: ‘Đây là điện Đại Sĩ’. Do vậy, rạp đầu lạy, nghe bên trong có tiếng hô: “Cho Đậu thần và đứa con út cùng vào”. Đậu thần hình dáng như đứa bé trai, dâng sổ lên, trên đó đã ghi ngày đó giờ đó sẽ chết. Đại Sĩ phê hai chữ Phóng Sanh vào sổ. Thần đi ra, có hai người đội mão nhọn, mấy trăm người mặc áo xanh, buồn bã hướng về phía đậu thần xin hãy che chở. Thần nói: “Đã phán!” Đứa con út tỉnh lại, bệnh đậu đã lành. Trước đó, vào buổi sáng, ông Đông ra cửa thấy có người bán ốc xanh ước chừng mấy trăm con, trong ấy có hai con ba ba, [động lòng] xót thương bèn mua đem thả. Vì thế, được quả báo này.

Theo Kiến Văn Lục, Trình Tư cùng anh em đi bẫy chim bồ câu, thấy có ba con. Anh em bắt đem đi, Kim Tư tức giận bèn ném chết hết. Đêm mộng thấy hai người mặc áo xanh đến bắt, Kim Tư bèn trốn vào cửa Đại Sĩ, thì Đại Sĩ đã nghiễm nhiên ở đó. Kim Tư kêu chưa giết người, người áo xanh bảo: “Ba con bồ câu tố cáo”. Kim Tư nói: “Con chim nhỏ nhoi sao đáng phải thường mạng?” Đại Sĩ dạy: “Xét về lý thì phải đền mạng, nhưng nghĩ ngươi nhỏ tuổi, có thể gia hạn, mười hai năm sau sẽ lại bắt”. Kim Tư tỉnh giấc, mười hai năm sau bèn chết đứng dưới chân cầu.

(3) Theo Thủ Nhất Trai Ký, Trần Thái Hòa đi thi Hương mắc bệnh, mộng thấy hai con mèo, ba con chuột, tám con ễnh ương đòi mạng. Họ Trần hứa tụng Tâm Kinh để siêu độ cho chúng. Có viên công sai nói: “[Để ta] bẩm lên quan rồi phúc đáp”. Về sau, lại mộng thấy công sai nói: “Thoạt đầu, Văn Xương Đế Quân bảo: ‘Trần mỗ đỗ Giải Nguyên[44] khoa này, sao lại bạo ác dường ấy. Nếu thoát khỏi phận dân hèn, há hắn chẳng tàn độc sanh linh ư? Cho hắn vào trường thi là đã khoan dung lắm rồi!’ Bổn quan lại bốn lượt thỉnh cầu ‘hắn đã sửa đổi’, Ngài bèn phán rằng: ‘Trời đất hiếu sanh, noãn, thai, thấp, hóa khác gì nhau! Thánh hiền ưa điều lành, há dung thói bạo tàn, xằng bậy!” [Ông Trần] bèn hứa tụng Tâm Kinh năm vạn quyển để siêu độ mười ba mạng oán cừu. Ấy là vì lúc nhỏ cậy là con quan, sai nô tỳ đánh mèo, chuột v.v... giống như kẻ tra hạch phạm nhân đến chết. Do vì lúc bé vô tâm phạm lỗi, chẳng ngờ trong cõi Âm giám sát nghiêm ngặt như thế ấy!

Theo Chuyển Kiếp Luân, đời Tống, Địch Tiếp vẽ hình Đại Sĩ, kiền thành cầu đảo có con. Vợ mộng thấy có bà lão mặc áo trắng tặng cho một đứa con, toan đỡ lấy, chợt có một con bò chặn ngang ở giữa. Đã sanh con nhưng không nuôi được. Người giải mộng bảo: “Hãy kiêng ăn thịt bò!” Ông Tiếp bèn lập thệ cả nhà ăn chay, lại dựng một cây cầu. [Vợ ông Tiếp] lại mộng thấy bà lão lần trước tặng cho đứa bé, bèn bồng lấy. Sanh con ra bèn đặt tên là Kiều. Ông Tiếp thọ chín mươi ba tuổi, các cháu đến nay vẫn còn đỗ đạt.

Theo Liễu Nhai Ngoại Biên, Phùng Như Kinh giữ chức Quán Sát[45] ở Tây Ninh, dẹp yên dân làm loạn, tướng quân muốn giết chết hết [những kẻ làm loạn]. Ông Kinh đem tánh mạng cả nhà mình ra bảo đảm, xin tội cho dân. Do vậy, quan chỉ giết vài người. Đến đêm mộng thấy Đại Sĩ giáng lâm, [bế] một đứa bé quấn trong cái địu thêu, bảo: “Ban cho ngươi”. Toan tiếp lấy, nhưng bị một con bò cản trở. Đại Sĩ bảo: “Cả nhà hãy nên kiêng thịt bò”, bèn phát nguyện chẳng ăn thịt bò, liền đỡ được đứa con. Đứa con sanh ra chính là quan Cấp Gián[46] Vân Tục.

(4) Mặc Khách Tục Huy Trì hễ thấy người ta giăng lưới, thả câu, bèn chí tâm tụng chú Yết Đế bảy biến, có thể khiến cho người ấy suốt ngày chẳng bắt được gì.

Theo Long Thư Tịnh Độ Văn, vào đời Đường, quan Quân Điển của Nhiêu Châu là Trịnh Lân chết rồi vào cõi âm. Tra sổ thì ra bắt lầm, bèn được thả về. Vua (Diêm La Vương) khuyên nhủ: “Ngươi sống lại hãy gắng sức làm lành. Thấy người khác sát sanh, chỉ nhất tâm niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát thì con vật ấy được thọ sanh mà ngươi cũng được phước”.

2.2.2.5. Thoát hành hình

1. Bèn có: Quách Tuyên cảm mộng, tự biết mình mạng lớn chẳng lo. Vương Hãn chịu ơn, hối trót cười mê muội dị đoan.

2. Đổng Hùng hai lượt tuột xiềng, chốt khóa vẫn còn nguyên. Trương Sướng bị cùm chặt hơn, gông gãy tan từng tấc.

3. Bạch hạc lượn quanh Tử Kiều, phảng phất điềm lành thời Viêm Hán. Nhặng xanh cứu chàng buôn gạo, càng tỏ sự lạ triều Phù Tần.

4. Tượng đúc chùa Ngõa Quan tự giáng lâm xoa đầu; nhốt trong ngục Tấn Dương, nhờ Phổ Môn được cứu.

5. Đậu Truyền được Ngài che chở, nhìn đồng bọn khóc cười. Bà Trương đêm trường bôn tẩu, quỳ dài gặp gỡ chồng.

6. Tăng Bao thương sáu tên cướp, thuyết pháp, gông cùm tự tháo. Tăng Lãng suất lãnh đồng môn, xưng danh, dập đầu trên đá.

7. Thỉnh Tăng lễ tụng Phổ Môn, Khả Minh hiện điềm lành sắc lạ. Cai trị nhân từ khoan dung, Thúc Đạt nhận phẩm kinh Quang Minh.

8. Từ Nghĩa giật mình tỉnh mộng, tóc gỡ, thân tự do. Cái Hộ được quang minh chiếu tới, cửa mở, thoát gông xiềng.

9. Chú gây liên lụy, xiềng ông Vi như đá nổ tan. Khổ bởi tham quan, gông ông Khuê chân cầu tự tháo.

10. Tăng Minh bị vu báng, dây trói lỏng dần. Trương Đạt tự sửa mình, gông không còng được.

11. Tâm Kinh ngầm gia hộ, ấm lòng cô trung quan Cấp Gián. Thiền Định chẳng thương tổn, chàng Hiếu Liêm gột sạch tiếng oan.

12. Tăng Quang bị giam trong ngục, chiêm ngưỡng tôn dung, thoát ngục. Ngự Sử bị đày làm lính, có hy vọng trở về.

13. Nguyện xả ác hướng lành, hãy phát tâm nối gót Cao Tuân. Thoát tội, làm công đức, chớ trái nguyện giống như Xử Mậu. Đấy là sự cứu khổ thứ năm của Đại Sĩ vậy.


(1) Theo Biện Chánh Luận, đời Tấn, Quách Tuyên, Văn Xử Mậu và Dương Thâu Kính là bạn bè với nhau. Ông Kính phạm tội khiến cho ông Tuyên và ông Mậu cũng bị cùm. Ông Tuyên niệm Quán Thế Âm, mười ngày sau, mộng thấy Bồ Tát an ủi, bảo “mạng lớn, chẳng lo”. Trong khoảnh khắc, gông cùm tự gỡ, đeo vào lại tuột ra. Ba người phát nguyện nếu thoát tội, ai nấy sẽ bỏ ra mười vạn đồng làm công đức. Không lâu sau cả ba đều được tha.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, Vương Hãn và Đổng Hùng cùng bị hạ ngục. Thoạt đầu, ông Hãn không tin Phật, bà vợ tụng kinh, ông bèn cười rằng: “Sao lại dị đoan mê muội thế?” Đến khi thấy Đổng Hùng tụng phẩm Phổ Môn, xiềng tự tháo gỡ, mới biết Phật lực rộng lớn, hối trách sâu xa đã phạm lỗi chẳng tin, kiền thành niệm danh hiệu tám vị Bồ Tát, đủ số ba vạn, xiềng cũng tự tháo gỡ chẳng khác gì ông Hùng. Khi ấy, trong ngoài ngục nghe chuyện đều lấy làm lạ. Những tù nhân cùng bị nhốt đều được thoát tội.

(2) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, trong niên hiệu Trinh Quán, Đổng Hùng làm Đại Lý Thừa[47], thờ Phật, ăn chay từ bé, do dính vào chuyện của Lý Tiên Đồng bèn cùng với mười mấy người như Vương Hãn v.v... đều bị tống vào ngục. Ông Hùng chuyên niệm phẩm Phổ Môn, xiềng tự tuột ra rớt trên đất, nhưng chốt khóa vẫn chưa mở. [Cai ngục] liền báo với Ngự Sử Trương Thủ Nhất đến xem xét, [ông Trương] kinh ngạc một lúc lâu, rồi khóa chặt, niêm phong, bỏ đi. Ông Hùng vẫn tụng niệm, xiềng lại tuột ra, rớt xuống đất vang ra tiếng, dấu niêm phong vẫn như cũ. Nhờ đó, những người cùng bị nhốt đều được thả.

Theo sách Đàm Tẩu, đời Tống, Trương Sướng thường phụng trì Quán Âm. Do không theo Nam Tiếu Vương dấy loạn, bị Vương giam vào ngục, bèn tụng Quán Âm Kinh ngàn biến, xiềng gãy thành từng tấc. Cai ngục thay xiềng mới lại bị gãy, ông bèn được thả.

(3) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tề, Bành Tử Kiều hằng ngày tụng Quán Thế Âm Kinh. Đầu niên hiệu Kiến Nguyên, bị bắt, Thái Thú Trầm Văn Long muốn giết chết, giam cùm, canh giữ thật nghiêm ngặt. Ông Kiều tụng niệm hồi lâu mệt mỏi ngủ thiếp đi. Mọi người thấy con hạc trắng bay đến bên ông Kiều, trông phảng phất như một người xinh đẹp, gông cùm của ông Kiều liền tuột ra, rồi riêng mình ông ta được thả.

Theo Hán Thư, vua xuống chiếu rằng: “Trẫm tuần du biên giới phương Bắc, thấy bầy hạc đậu tại đây và thấy cảnh sắc tươi sáng, liền xá tội cho thiên hạ”.

Về chuyện nhặng xanh, xin hãy xem lời chú thứ 10 trong đoạn thứ nhất của phần “khỏi bị giết chóc”. Đời Tần, Phù Kiên ban chỉ xá tội, Vương Mãnh dâng bút mực, có con nhặng xanh to kêu vo vo rất lớn, bám vào đầu bút, đuổi đi nó lại bám vào. Trong khoảnh khắc, ở Trường An có đứa bé áo xanh kêu lên ở chợ, bảo là “triều đình đã hạ lệnh ân xá”.

(4) Theo Biện Chánh Luận, vào đời Tấn, có vị Tăng tên Pháp Hồng sống ở chùa Ngõa Quan, lén đúc một tượng vàng trượng sáu. Khi ấy, do quan cấm đúc kim loại nên Pháp Hồng bị tống giam. Pháp Hồng chí tâm niệm Quán Âm, mộng thấy bức tượng do chính mình đã đúc vào trong ngục, xoa đỉnh đầu, bảo: “Đừng lo, sẽ thoát khỏi tai ách”. Trước ngực tượng ấy phóng ra ánh sáng [chiếu xa] trong khoảng một thước vuông, rực rỡ như màu đồng. Trong vòng mười ngày, Sư bèn được thả. Phá khuôn ra, thấy tượng ấy giống hệt như bức tượng chính mình đã nằm mộng thấy.

Theo Pháp Hoa Cảm Thông, đời Ngụy, Lô Cảnh Dũ bị bắt giam vào ngục ở Tấn Dương. Ông Lô chí tâm tụng phẩm Phổ Môn, trong khoảnh khắc tự thoát khỏi gông, riêng ông được tha.

Lại nữa, theo Cao Tăng Truyện tập 4, đời Thanh, Thư Trinh do gây hiềm khích với Phòng Biện, mấy lượt mắc họa ương lạ lùng. Do hằng ngày trì tụng Phổ Môn Phẩm và Đại Bi Chú nên những cạm bẫy đều thoát khỏi.

(5) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Đậu Truyền làm thuộc hạ của Cao Xương, bị Lã Hộ Phù bắt giữ, đem giam trong ngục với bảy người đồng bạn, chờ ngày xử chém. Ông Truyền chuyên tâm niệm Quán Thế Âm suốt ba ngày đêm, xiềng gông gãy nát, rời khỏi thân. Ông Truyền nói: “Nay con được Bồ Tát xót thương che chở, nhưng đồng bạn còn nhiều, nỡ nào bỏ đi một mình? Mong Đại Sĩ hãy cứu vớt trọn hết”. Nói xong, kéo đẩy các bạn tù, họ đều lần lượt thoát khỏi xiềng, bèn thừa dịp ban đêm mở cửa trốn đi.

Sách Châu Dịch có câu: “Đồng nhân, tiên hiệu đào nhi hậu tiếu” (Quẻ Đồng Nhân, trước khóc lóc sau cười)[48].

Theo Minh Tường Ký, đời Tống, do giặc phao tin đồn Trương Hưng đã đầu hàng, vợ ông ta bị [triều đình nhà Tống] bắt giam vào ngục. Bà vợ hằng ngày niệm kinh Quán Thế Âm. Mười mấy hôm sau, mộng thấy một vị Tăng lay dậy, thì gông cùm, xiềng xích đều đã tuột cả rồi, nhưng do cửa bị khóa không thoát ra được, bèn tự đeo cùm vào, nằm ngủ tiếp. Lại mộng thấy có người kêu: “Cửa mở rồi đó”, liền thức dậy chạy ra. Giữa đêm đen, thảng thốt va phải một người, bà ta kinh hoảng khụy xuống đất. Hỏi ra thì chính là chồng. Nâng nhau dậy, buồn vui lẫn lộn, đều cùng được miễn tội. Thơ cổ: “Trường quỵ vấn cố phu” (Quỳ dài hỏi chồng cũ).

(6) Theo Cao Tăng Truyện, tập đầu, vào đời Tống, Tăng Bao đi đường thấy sáu tên cướp sắp bị tru lục, Sư bèn thuyết pháp cho chúng, khuyên hãy niệm Quán Âm. Bọn cướp đang lúc gặp nguy, bèn niệm niệm khẩn thiết. Trong chốc lát, người áp tải uống rượu say mèm, bọn cướp liền tháo gông bỏ trốn.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Ngụy, Tăng Lãng bị cướp bắt, nhốt trong trướng [nơi sơn trại]. Tăng Lãng và bạn đồng học muốn trốn, nhưng bọn chúng canh phòng nghiêm ngặt, không chạy đâu được. Phía Đông, phía Tây, vách núi cao ngất, chẳng biết nông sâu ra sao. Có cái cây to nghiêng mình bên vách đá, liền buộc thang dây dưới thân cây. Khi đó, trời tối âm u, dưới đáy vực thuần là gai góc, không chỗ đặt chân. Sư nắm giây treo mình lơ lửng, nói: “Nguy đến nơi rồi, chỉ niệm Quán Âm mà thôi!” Lấy đầu cụng vào đá để niệm, trong khoảnh khắc ánh sáng chiếu khắp trời đất, thấy trong rừng gai có chỗ đặt chân được. Xuống đến đất, trời lại tối om. Chợt có con cọp to xuất hiện trước mặt, mọi người đều sợ phải vào miệng cọp. Tăng Lãng nói: “Bọn ta đã cảm được ánh sáng hiện ra thì con hổ này chẳng phải là do thánh nhân sai tới chỉ lối hay sao? Hãy mau đi theo hổ!” Đi được một chút, hổ cũng tạm ngừng bước. Đến sáng, tìm được đường thì hổ cũng biến đâu mất.

(7) Theo Từ Lâm Tập, vào đời Thanh, con một nhà giàu vùng Đông Hoàn là Hoàng Khả Minh bị giặc bắt được, đem về sào huyệt, trói ngay vào cánh cửa, sai vợ hắn canh giữ. Nhà ông Minh thỉnh tăng lễ tụng phẩm Phổ Môn. Đêm ấy, nơi thân ông Minh có ánh sáng tốt lành, màu sắc lạ lùng, thầm biết là được sự che chở thần dị. Đợi đến khi vợ tên cướp mò sang hàng xóm, [ông Minh] bèn cõng cả cánh cửa bỏ trốn, gặp được tiều phu phá giùm cánh cửa, cởi xiềng, thoát về.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tống, Vương Cầu tự là Thúc Đạt, làm Thái Thú xứ Phù Lăng, do để mất quận hạt nên bị tống vào ngục. Ông Cầu tin Phật, yêu dân, chia sẻ thức ăn cho bạn tù. Lại chí tâm niệm Quán Âm, đêm mộng thấy lên tòa cao, một vị Tăng trao cho cuốn kinh, đề tên là Quang Minh Án Hành Phẩm, trong ấy có tên các vị Bồ Tát, vị thứ hai là Quán Âm, vị thứ ba là Thế Chí. Tỉnh giấc, xiềng tự gãy, ba ngày sau được tha.

(8) Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Từ Nghĩa bị Mộ Dung Vĩnh bắt, chôn ngập hai chân, buộc tóc vào cây. Ông Nghĩa chuyên niệm Quán Âm, đêm mộng thấy có người bảo: “Sự đã gấp lắm rồi, còn thảnh thơi ngủ nghê hay sao?” Giật mình tỉnh dậy, tay lẫn chân tóc đã được gỡ ra, chân cũng được tự do, bèn trốn đi.

Cái Hộ là người Sơn Dương, bị giam sắp chết, xưng niệm Quán Thế Âm suốt ba ngày ba đêm không gián đoạn, thấy Đại Sĩ phóng quang chiếu soi, xiềng tuột, cửa mở, liền được thả ra.

(9) Trong đời Lưu Tống, chú của Hàn Vi giữ việc binh ở phủ Tương. Trưởng Sứ đất Tương nghi ngờ người chú phản nghịch, bèn giết chết người chú, giam Vi vào ngục, kìm kẹp, gông cùm rất nghiêm ngặt. Ông Vi tụng Quán Âm Kinh đến mấy trăm biến, xiềng chợt vang ra tiếng nghe như tiếng đá bị nung vỡ ra, hư nát, tự rớt xuống. [Cai ngục] báo lên Trưởng Sứ, bèn cho đóng thêm nẹp đinh thật chặt. Ông Vi lại tụng kinh, xiềng lại vang ra tiếng rồi tuột ra giống như trước. Do vậy, Trưởng Sứ bèn thả đi.

Theo Tập Dị Ký, nhằm thời Thiên Bảo đời Đường, Thành Khuê lo liệu việc dựng cầu ở Hà Nam, bị gió thổi bay mất. Quan đứng đầu châu ấy nghi ông Khuê trộm [vật liệu xây dựng đem] bán, sai Dương Cẩn bắt ông Khuê. Họ Dương đòi ăn hối lộ không được, bèn tra khảo tàn tệ, gông xiềng chặt chẽ, cột ở bến thuyền. Ông Khuê niệm Cứu Khổ Quán Thế Âm Bồ Tát, mười mấy ngày sau, gông xiềng tự tuột. Đến đêm, ông Khuê nhổ đinh, nhảy xuống nước trốn.

(10) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Ngụy, Tăng Minh làm chủ chùa Thạch Quật ở Bắc Đài. Khi ấy, vua Ngụy thường ngờ tăng nhân là giặc, bắt mấy trăm tăng nhân giam cầm, bảo Tăng Minh là đầu lãnh, càng trói chặt hơn nữa, đợi sáng ra sẽ chém. Tăng Minh nhất tâm niệm Quán Âm, đến nửa đêm dây lỏng ra, đến sáng dây đứt tung, liền trốn đi. Cai ngục tâu lên, vua thả cả bọn.

Theo Thái Bình Quảng Ký, Trương Đạt có tội, bị giam, bị phân xử đáng tội chết, bèn chuyên niệm Quán Âm, gông xiềng tự tuột ra, liền được tha, bèn suốt đời ăn chay giữ giới.

(11) Theo Ngư Sơn Thặng Cảo, vào đời Minh, Hùng Ngư Sơn làm quan Cấp Gián, do khắc tác phẩm của Châu Đình Nho[49] nên bị giam trong ngục Cẩm Y[50]. Trong ngục, ông đem Phật pháp cảm hóa bạn tù, lễ tụng không thiếu sót. Lại giảng Tâm Kinh cho bạn tù, chép lại Tâm Kinh để lưu truyền. Lúc bị phạt trượng, ông thầm tụng bảo hiệu (danh hiệu quý báu) của Đại Sĩ, không bị nát thịt, chảy máu, chẳng thấy đau đớn, biết là được Đại Sĩ ngầm che chở.

Theo Trì Nghiệm Ký, Hiếu Liêm Ngu Thứ Nhan đã thờ Đại Sĩ từ trước, mỗi sáng lễ Đại Bi Sám, tụng kinh Kim Cang. Lại còn khắc Quán Âm Kinh đem tặng, khuyên người khác trì tụng để tránh tai kiếp. Về sau, bị kẻ thù vu hãm, đưa về giam trong ngục Giang Ninh. Thứ Nhan thầm trì kinh sám, tuy nếm đủ mùi thảm độc mà như nhập Thiền Định, lại được rửa oan.

(12) Đời Thanh, Châu Tăng Quang bị giam vào ngục, mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ truyền dạy bài chú, niệm một vạn hai ngàn biến, in một ngàn hai trăm quyển, được thả.

Theo Kính Tín Lục, Thị Ngự Châu Kế Khanh ở Sơn Tả bị đày làm lính thú ở Hòa Lâm[51], mộng thấy Đại Sĩ truyền dạy chú Bạch Y, bảo niệm một vạn hai ngàn biến và khắc in lưu truyền, sẽ được vua cho trở về. Kế Khanh vâng lời, làm theo, được tha tội cho trở về.

(13) Theo Tuyên Nghiệm Ký, Cao Tuân giết người, bị bắt, xiềng dưới hầm. Người cùng bị giam khuyên hãy niệm Quán Âm, Tuân nói: “Tội tôi rất nặng, làm sao thoát?” Người kia tận lực khuyên, Tuân bèn phát tâm bỏ ác làm lành, chuyên niệm danh hiệu Quán Âm, dụng tâm thành khẩn, xiềng tự tháo.

Theo Biện Chánh Luận, vào đời Tấn, Văn Xử Mậu đã cùng Quách Tuyên phát nguyện sau khi thoát tội sẽ bỏ ra mười vạn đồng làm công đức. Về sau, xiềng tuột, được tha; ông Tuyên đã làm tròn lời nguyện, còn ông Mậu trái lời thề, chẳng làm. Đến khi Lô Tuần[52] hưng binh, ông Mậu bị trúng tên, bèn nói: “Ta phạm tội nặng”. Nói xong bèn chết.

2.2.2.5. Lành bệnh



1. Bèn có: Giới Hiền thọ ký, hiện sắc biếc như chất lưu ly. Xử Bá quy y, thấy thể chất dường như vàng rọi.

2. Như Am, Thùy Kế được tưới cam lộ nhiều phen. Ứng Cát, Cánh Lăng, cùng hưởng đề hồ rưới đảnh.

3. Huệ Cung trọn kính, gà bèn chặn mèo. Đàm Dĩnh thành tâm, rắn đến nuốt chuột.

4. Hai lượt gọi tên Hoằng Nguyên, Bạch Y hiện thân. Ba phen xoa thân Huyền Tảo, tượng vàng chợt tới.

5. Sanh bệnh phù chân, chuột gặm đùi Vô Lậu. Họa khởi Trầm, Thai, họ Lý mộng thấy trâu.

6. Thịnh Minh đau bụng, nhức đầu, thần châm khỏi bệnh. Vương tử ung nhọt lở loét, tự hưởng cối thuốc.

7. Miệng sùi dãi trắng, Pháp Thông mộng xơi gân lạc đà, đảnh phóng tia chớp, Tào Ngọc trừ hết sạch trùng lao.

8. Thệ nguyện, nhọt thịt liền trừ, dán kinh, họng tiêu bướu thịt.

9. Được hiện tướng, Trí Đàn lành bệnh trầm kha; do xả thân, Dã Mục chẳng cần uống thuốc.

10. Phan mẫu, ông Vu, cùng được ban linh dược; bà Tiết, bà Trầm, cùng được thí thần thang.

11. Bà Bành thắp tâm hương, [thân] nhẹ như lá táo; bà Trần trừ nghiệp chướng, cành hoa sen khẽ phẩy.

12. Trừ bệnh phong, khỏi sốt rét, đâu cần khoe “văn chương hữu thần”. Mổ toang bụng, rửa sạch ruột, tự sẵn có thần cao bôi đắp (tổng cộng ba đoạn).




(1) Theo Đường Tam Tạng Truyện, ngài Chánh Pháp Tạng Giới Hiền thuộc chùa Na Lan Đà ở Ấn Độ bị bệnh phong. Mỗi lần lên cơn, chân tay co quắp, đau đớn như lửa đốt, dao cắt, muốn nhịn ăn để chết. Sư mộng thấy có ba người: Một người sắc vàng ròng, một người màu lưu ly, một người màu bạch ngân, bảo: “Trong quá khứ, ông từng làm quốc vương, nhiều phen não hại chúng sanh, cho nên hứng chịu quả báo này. Hãy nên chí thành sám hối, siêng năng tuyên giảng kinh luận, bệnh sẽ tự tiêu diệt”. Người sắc vàng chỉ người sắc biếc nói: “Đây là Quán Thế Âm, người sắc bạc là Từ Thị”, tự bảo mình là Văn Thù, cho biết sẽ có vị Tăng Trung Hoa đến đây, “ông hãy nên dạy dỗ”. Ngài Giới Hiền thưa “xin vâng lời dạy”, từ đấy lành bệnh.

Theo Minh Tường Ký, đời Tống, Mã Xử Bá tin Phật pháp từ bé. Trong niên hiệu Nguyên Gia, mộng thấy ba người ở lưng trời, cao hơn hai trượng, dáng vẻ nghiêm trang, đứng trên mây nhìn xuống, các thứ âm nhạc cõi trời vang rền hư không. Về sau, bị bệnh ngặt nghèo, nhìn xa xa thấy phương Tây có ba người đi, cao hơn hai trượng. Đằng trước là một người mặc áo kép, tóc mai buông rủ, đảnh đầu có hào quang. Hai người phía sau tư chất như vàng chói lọi, dáng vẻ trang nghiêm, chính là ba vị thánh đã từng thấy trong mộng trước kia, liền khỏi bệnh.

Theo Sơn Am Tạp Lục, vào đời Minh, vị sư giữ chức Liêu Nguyên tên là Chiếu ở chùa Thiên Đồng, mắc bệnh ngặt trong niên hiệu Hồng Vũ, hằng ngày niệm thánh hiệu Quán Âm một vạn tiếng. Sau đấy, tự nghĩ: “Chẳng bao lâu nữa ta sẽ chết, sao bằng đổi sang trì niệm danh hiệu A Di Đà Phật”. Vừa mới khởi lên ý niệm ấy, chợt thấy một phụ nữ xinh đẹp, mặc áo lục thù[53], cầm tịnh bình, từ ngoài cửa bước vào; sư Chiếu kinh hãi không biết làm thế nào. Lắng lòng nhìn kỹ thì chính là Bồ Tát hiện tướng, sư Chiếu khóc lóc cầu xin thương xót, liền chẳng thấy nữa. Năm ngày sau hoàn toàn khỏi bệnh.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Nguyên, Chân Tịnh tự là Như Am, bị bệnh khổ, mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ cầm bình rót nước vào miệng, bảo: “Lành bệnh!”

Theo Trì Nghiệm Ký, vào đời Minh, vị tăng tên Thùy Kế bị đau sườn, chẳng thể ăn uống đã hơn một tháng. Có người bảo: “Sư thường khuyên người khác niệm Quán Âm hòng cứu khổ, nay sao chẳng tự niệm”. Đang mê mệt, Sư nghe nói bèn tỉnh ngay, vội vàng chuẩn bị đèn hương, lớn tiếng trì danh hiệu Đại Sĩ không ngừng. Đến canh tư nghe im tiếng, mọi người sợ Sư đã tắt hơi, đến xem, thấy đang ngủ li bì. Trưa hôm sau đòi ăn, có thể đứng dậy đi lại được. Mọi người hỏi sao lành bệnh nhanh thế? Sư đáp: “Lúc mới xưng danh, bèn đau như cắt. Lâu sau, trên không trung hiện ra đám mây lành, Đại Sĩ lấy cam lộ trong bình rưới lên đỉnh đầu tôi, mát mẻ thấm tận tim gan, bệnh liền khỏi hẳn”.

Trong bài Linh Giới Sát Trung Ngôn của bộ Vương Ứng Cát Bút Ký, cho biết: “Trong thời Vạn Lịch nhà Minh, Cát phụng mạng đi sứ, tiện đường trở về quê, chợt bị bệnh nặng, hoảng hốt sai người khiêng tôi đi. Chợt rơi xuống nước, thấy các loài có vảy, có mai ở trước mặt, tự nghĩ trước kia ta ăn những thứ này nên nay gặp nạn. Chợt có người đỡ lên bờ, thấy Đại Sĩ ngồi dựa vào vách đá, Thiện Tài, Long Nữ đứng hai bên. Tôi khấu bái, Đại Sĩ dạy: ‘Ngươi vốn là thiện tri thức chuyển thân, dốc lòng thành kính thờ ta. Nay vì sát sanh nên bị bệnh này. Nếu kiêng giết sẽ lành’. Tôi kính cẩn, vâng theo lời dạy. Đại Sĩ ban Đề Hồ, màu vàng pha biếc. Uống vào vị trong ngần, bèn tỉnh giấc. Hương thừa vẫn còn đọng trên môi mép. Dần dần lành bệnh, bèn kiêng giết, quy y”.

Theo Biện Chánh Luận, Cánh Lăng Vương đời Tề tin nội điển[54], bị bệnh nhiệt sắp chết, mộng thấy Đại Sĩ đích thân rưới nước thần bèn lành bệnh.

(3) Theo Báo Ứng Lục, vị tăng đời Nguyên là Huệ Cung bị bệnh bao tử, không ăn uống được. Đêm mộng thấy một con mèo chui vào bụng, bệnh ngày càng nặng, thèm ăn cá. Tự biết là nghiệp báo, phát tâm niệm thánh hiệu Đại Sĩ trăm vạn câu, hằng ngày trì chú Đại Bi 108 biến. Về sau, mộng thấy đồng tử áo xanh xách giỏ đựng một con gà tới, con mèo bèn từ miệng sư Huệ Cung vọt ra. Sư kinh hãi tỉnh giấc thì đã lành bệnh.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, ngài Đàm Dĩnh đời Tống bị bệnh ghẻ, lễ Quán Âm cầu lành bệnh. Một hôm có con rắn bò men theo vách trèo lên nóc. Trong khoảnh khắc có một con chuột rớt xuống, sùi bọt đầy thân. Sư trước kia đã từng nghe nói những con chuột bị rắn nuốt có thể trị lành ghẻ lở, bèn gạt lấy bọt xoa lên ghẻ, con chuột xoay mình chạy trốn. Qua hôm sau bệnh liền lành, mới biết rắn và chuột ấy đều là lòng thành cầu đảo cảm nên. Do vậy, nổi danh xa gần, được quốc vương cúng dường.

(4) Theo Cảm Ứng Thiên Chú, Trương Hoằng Nguyên mộng thấy thần bảo: “Ngươi có thiện căn nhưng phước lực cạn, hãy nên tu đức, tập tánh hiền lành”. Do vậy, bèn quy y Đại Sĩ, và ghi chú đại lược bộ Cảm Ứng Thiên đem khắc in. Chợt mắc phải căn bệnh lạ, thấy có người áo trắng vén màn, kêu tên mình hai lượt, bệnh liền khỏi ngay, mới biết là Đại Sĩ hóa thân.

Theo Tỳ Kheo Ni Truyện, vào đời Tống, ni sư Huyền Tảo thuở nhỏ bị bệnh nặng, không sao chữa được, bèn bày tượng Đại Sĩ, trai giới thanh khiết, lễ bái, chuyên niệm liên tục. Sau bảy ngày, thấy tượng vàng cao chừng một thước, ba lượt xoa trên thân ni sư từ đầu đến chân, liền cảm thấy căn bệnh trầm kha khỏi hẳn, bèn xuất gia.

(5) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, sư Vô Lậu đời Đường, là vương tử xứ Tân La, từ Trung Quốc đến Thông Lãnh[55], nghe trong chùa có tượng Quán Âm, cầu đảo không điều gì chẳng ứng nghiệm. Sư bèn đứng trước tượng, thề nhập Định bốn mươi chín ngày. Chưa hết hạn, thân đã mắc bệnh hư thũng[56]. Chợt có con chuột to bằng viên đạn, cắn vào bắp chân, mủ chảy ra chừng một đấu, bèn lành bệnh.

Tả Truyện có câu: “Dân sầu tắc điệp ải, ư thị hồ hữu trầm nịch, trọng trùy chi tật” (Dân buồn bã sẽ gầy mòn, héo hon, do vậy, bèn có những chứng bệnh nặng nề, phù chân). Chú thích: “Trọng trùy” (重膇) là phù chân.

Đời Tống, Lý Thương Lão do sửa chữa mà cuộc đất bị xung phạm, cả nhà mắc bệnh thũng, bèn cầu khấn Đại Sĩ, tụng chú Tiêu Tai suốt bảy ngày, mộng thấy người mặc áo trắng cưỡi trâu đi, ngày hôm sau [cả nhà] đều khỏi bệnh.

Theo Tả Truyện, Thúc Hướng hỏi Tử Sản[57]: “Quả quân[58] tật bệnh, bói được quẻ: ‘Thật Trầm, Đài Thai tác quái’, dám hỏi ngài, Trầm, Thai là thần nào vậy?” Tử Sản đáp: “Thật Trầm là thần sông Sâm, Đài Thai là thần sông Phần. Như thân vua bệnh là do ra vào, ăn uống, vui buồn mà ra, chứ thần núi, sông, tinh tú há làm gì được?”

(6) Theo Miễn Giới Thiết Yếu, Dương Thịnh Minh thích làm lành, chuộng bố thí, lại càng khăng khăng ngưỡng mộ Quán Âm Đại Sĩ. Chợt bị bệnh trướng, bụng nổi gân xanh, châm cứu, thuốc thang đủ mọi cách vẫn vô hiệu. Chợt mộng thấy một bà tiên già, tay cầm một cái kim nói: “Bệnh ngươi khó khỏe lắm, để ta thay ngươi trừ đi”. Bà dùng kim chọc từ bụng dần dần cho đến ót, cổ, dường như cắt từng đoạn, [ông Dương] gào lên đau đớn, tỉnh giấc. Sáng ra, gân xanh biến mất, lành bệnh.

Sách Lã Thị Xuân Thu có câu: “Thân tận phủ chủng” (Khắp cả thân đau bụng, đau đầu). Chú thích: Phủ (府) là đau bụng, Chủng (種) là đau đầu.

Theo Cảm Ứng Truyện, đời Tề, Kiến An Vương bị ghẻ lở, niệm Quán Âm không ngừng. Đêm mộng thấy Đại Sĩ chính tay đắp thuốc cho. Sáng hôm sau liền khỏi bệnh.

Trong lời tựa của bộ Quỷ Di Phương (những toa thuốc do quỷ truyền lại) có ghi: Lưu Quyên Tử bắn trúng một vật, chợt không thấy đâu. Tìm theo dấu đến núi, nghe có tiếng giã thuốc. [Ông Lưu bước tới], có ba người bỏ chạy để lại toa thuốc trị bệnh ung loét và một cối thuốc; do vậy, soạn ra sách Quỷ Di Phương gồm mười quyển.

(7) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, sư Pháp Thông đời Đường cực yếu đuối, chuyên niệm Quán Âm. Về nhà, thân cận mẹ, một đêm nằm ngủ, trong miệng ọc ra ba thưng dãi trắng. Mẹ kinh hãi, hỏi vì sao. Đáp: Con mộng thấy có người tặng cho ba sợi gân lạc đà, vừa mới ăn một sợi, liền bị lay tỉnh. Thân bèn khỏe mạnh. Từ Nam Sơn đội cái cối đá nặng hơn năm trăm cân đến chùa mình ở kinh đô để cúng dường cho Tăng chúng sử dụng.

Đời Nam Tề, Tào Giác xuất gia từ bé. Về sau, do trong nhà nhiều đời bị bệnh truyền thi[59] [mất sớm], không ai thờ phụng [tổ tông] bèn hoàn tục. Sau đấy, ông ta cũng bị bệnh nguy cấp, tụng chú Đại Bi đến một vạn biến, cảm thấy ba con trùng từ trong thân bò ra. Trên đỉnh đầu tỏa chớp, ba con trùng chạy trốn.

(8) Theo Kính Tín Lục, vào đời Gia Khánh nhà Thanh, Ngô Cơ cổ họng chợt sanh bướu thịt, châm, khêu càng nguy kịch hơn, dần dần [cái bướu] to bằng trứng chim sẻ, ăn uống rất khổ. Ông ta bèn nguyện khắc thí một ngàn hai trăm quyển kinh Cao Vương và quỳ tụng suốt ba năm. Tụng chưa đầy một trăm biến, bướu thịt tự rụng.

Lại nữa, theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Đường, sư Thích Tĩnh Chi chùa Tây Minh lúc nhỏ mũi bị nghẹt vì bướu thịt, chữa trị trăm cách vô hiệu. Về sau, tụng Tâm Kinh năm ngàn biến, bướu thịt liền rụng.

Theo Từ Lâm Tập, vào thời Khang Hy nhà Thanh, con dâu ông Đặng Thừa Chiếu ở Quảng Đông là Hoàng Thị trong họng sanh ra hai bướu thịt, ăn uống khó khăn. Mời thầy phá bướu, sưng phồng, đau đớn càng dữ, tính mạng kể trong sáng chiều. [Ông Đặng] bèn dạy cô ta niệm mười câu kinh do Đại Sĩ đã truyền dạy trong giấc mộng và dán kinh bên giường. Người bệnh ban đêm thấy những chữ ấy to cả tấc, nửa đêm vết thương lành miệng, nói: “Tôi lành bệnh rồi!” Xin nước súc miệng, lễ Đại Sĩ, bình phục như cũ.

(9) Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Thanh, Trí Đàn mắc bệnh nhiệt, cảm Đại Sĩ hiện tướng, quỳ mọp lễ bái liền lành bệnh.

Lại nữa, vào đời Thanh, Hồng Kiến tự là Dã Mục, sanh được ba ngày, mẹ mộng thấy con nói: “Con sanh lầm vào nhà mẹ, ý muốn bỏ đi”. Mẹ kinh hãi tỉnh giấc, thấy quả nhiên con đã sanh bệnh, không bú sữa. Mẹ cầu đảo Đại Sĩ, nguyện cho con làm Tăng, không thuốc thang mà tự lành.

(10) Vào đời Minh, mẹ ông Hoàng Nham Phan trì Quán Âm Trai, bệnh tình sắp nguy ngập, mộng thấy có người áo trắng cho một hoàn thuốc, liền lành bệnh.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Vu Ngọc Giai ở Tiền Đường vào niên hiệu Sùng Trinh bị bệnh gần chết, mộng thấy Đại Sĩ trao cho linh dược, ngũ tạng thanh lương, bệnh lành, ngồi dậy được.

Lại theo Cao Tăng Truyện, tập 4, ngài Đạo Siêu đời Minh bị bệnh lao nguy ngập, cầu đảo Quán Âm, mộng thấy có người áo trắng trao cho hoàn thuốc màu đỏ bảo nuốt. Ngày hôm sau có cụ già đến, chữa trị liền lành.

Đời Tống, ở Giang Lăng có ông Tiết Quán Âm Nô, do kính thờ Đại Sĩ mà mang tên ấy, hằng ngày tụng tôn kinh không thiếu sót. Bà vợ bị bệnh, chữa trị trăm cách vô hiệu, đêm mộng thấy một phụ nữ áo trắng bảo: “Chồng người kiền thành, khẩn thiết nên trừ được túc nghiệp” rồi cho uống nước trong bình, miệng thoảng mùi hương lạ, bệnh liền lành.

Theo Linh Cảm Phú, vào đời Thanh, vợ ông Trầm Khởi Tiềm là Hồ Thị, vợ chồng ăn chay trường thờ Phật. Trong thời Gia Khánh, bà Hồ bị bệnh lỵ, tánh mạng đếm từng hơi thở. Mộng thấy một bà cụ cầm một chén nước, bảo: “Ta là Quán Âm. Do ngươi rất kiền thành, nên đem cam lộ cho ngươi, uống vào sẽ hết bệnh”. Tỉnh giấc, miệng vẫn còn mùi hương, dần dần lành bệnh.

Lại nữa, theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Thanh, Minh Trí bị bệnh gần như không bò dậy được, lễ danh hiệu Đại Sĩ, sáng tối không gián đoạn. Lâu ngày, mộng thấy có người áo trắng ban cho một chén nước sạch. Uống vào, trong khoảnh khắc cảm thấy thân tâm thanh lương.

(11) Theo Nhất Hạnh Cư Tập, vào đời Thanh, vợ Bành Hy Tăng là Diêu Thị bụng nổi báng bèn phát tâm trì chú Đại Bi. Một đêm nọ, mộng thấy một bà lão trao cho một cành hoa bèn vui vẻ nhận lấy, chợt cảm thấy thân nhẹ như chiếc lá, bệnh liền khỏi. Diêu Thị làm thơ như sau: “Toan hướng Không Vương sám túc khiên, tâm hương sớm kết Lạc Ca duyên”.

Theo Ấn Quang Văn Sao, vợ ông Trần Tích Châu là Hồ Thị lễ Phật tụng kinh rất kiền thành, mang thai sắp sanh, chợt bệnh nặng, thân nóng như lửa, cấm khẩu, cứng mình, chẳng thể uống nước trong suốt hai mươi chín ngày. Chợt mộng thấy một bà cụ cầm hoa sen đến, bảo: “Ngươi do túc nghiệp phải hứng chịu căn bệnh hiểm nghèo này. May nhờ gieo thiện căn sâu đậm, ta từ Nam Hải đến an ủi ngươi”. Liền dùng hoa sen phẩy lên thân, bảo: “Phẩy đi nghiệp chướng, hãy khéo sanh đứa con tốt lành”. Tỉnh dậy đã hạ sốt, thân an, ngày hôm sau sanh con.

(12) Theo Quán Âm Kinh Chú, Mạc Xuân Huy và Mạc Nhật Huy cùng tụng Quán Âm Chú. Về sau, vợ là Trương Thị bị trúng phong, gần chết. Ông Huy hứa khắc kinh lưu truyền, chân tay liền có thể cử động được.

Theo Cao Vương Chứng Nghiệm, vào đời Thanh, mẹ ông Chương Tông Triều ở Cối Kê trong niên hiệu Gia Khánh bị phong viêm, bệnh tình nguy ngập. Ông Triều cầu đảo Đại Sĩ, hứa niệm Cao Vương Kinh, bệnh dần dần khỏi.

Lại nữa, theo Cao Vương Ứng Nghiệm, vợ ông Chung Bằng ở Thư Thành là Châu Thị bị sản hậu kinh phong, thầy thuốc chẳng dám kê toa. [Ông Chung] bèn lạy cầu Đại Sĩ, hứa in một ngàn cuốn Cao Vương Kinh, vợ lập tức khỏi bệnh.

Quan Trung Thừa đời Thanh là Diệp Kiện Am kể: Lúc tuổi chừng hai mươi, bị bệnh sốt rét rất nặng, thầy thuốc bảo: “Lần sau bệnh càng nặng hơn!” Chợt thấy trong tủ sách có một cuốn Đại Bi Chú, muốn mau diệt bệnh khổ nên ngày hôm sau liền cầu nguyện trước bàn Phật, thắp hương kiền thành tụng, bệnh sốt rét liền dứt ngay trong hôm ấy. Tụng liên tiếp mấy ngày, bệnh sốt rét trọn chẳng phát. Vì thế, trì tụng suốt đời.

Đời Ngụy, Tào Tháo đọc lời hịch của Trần Lâm, bảo: “Càng khiến cho ta đầu óc choáng váng”. Theo sách Thi Thoại, có người bị sốt rét, Đỗ Tử Mỹ bảo đọc những câu như “Tử Chương độc lâu huyết mô hồ, thủ đề trịch hoàn Thôi đại phu” (Xương sọ Tử Chương máu lờ mờ, tay xách quăng cho Thôi đại phu), quả nhiên hết sốt rét. Lại nữa, thơ Tử Mỹ có câu: “Văn chương hữu thần, giao hữu đạo” (văn chương có thần, kết giao hợp đạo lý).

Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, ngài Trúc Pháp Nghĩa đời Tấn chợt cảm thấy hơi xông lên ngực đau nhói, thường niệm Quán Âm, bèn mộng thấy có người mổ banh bụng rửa ruột, thức giấc liền lành bệnh. Thượng Thư Phó Lương soạn sự tích của Sư, thường nói: “Cha tôi chơi với ngài Pháp Nghĩa, hễ nghe nói tới sự thần dị của Quán Âm, không chuyện lớn nhỏ nào mà chẳng nghiêm túc [lắng nghe]”.

Theo Linh Nghiệm Ký, Trần Thanh Vân ở Huy Châu thuở nhỏ mắc bệnh, dần dần không dậy được, hứa in thí Quán Âm Kinh một ngàn quyển. Mộng thấy một vị thần cầm một chậu nước tắm, một vị thần khác mổ banh bụng [Thanh Vân] để rửa, kinh hoảng, thức dậy, toát mồ hôi liền lành bệnh. Từ đấy béo tốt, minh mẫn, không còn yếu ớt như xưa nữa!

Theo Ngụy Chí, Trần Khuê thông thạo thuốc men, có thể mổ toang bụng, lưng, lôi ra cắt bỏ những thứ tích tụ. Nếu là [bệnh trong] ruột, bao tử thì cắt xén, rửa ráy, trừ khử những thứ ô uế do bệnh tật sanh ra rồi may lại, đắp thuốc cao thần diệu. Sau bốn năm ngày, vết thương bèn lành.

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2, phần 1 hết


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Hai, 23 Nov 2015, 0:08 AM
 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 23 Nov 2015, 0:09 AM | Message # 18
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng


[1] Nguyên văn “chư hữu hải”. Hữu là tên gọi khác của tam giới, do tam giới có phiền não, vọng tưởng, chấp trước, vô minh, nên gọi là Hữu. Do có vi trần số thế giới, tam giới trong những thế giới ấy vô lượng vô biên nên gọi chung là Chư Hữu Hải.

[2] Nguyên văn “hỏa lam” (火籃), là một cái giỏ đan bằng cật tre chắc chắn, bên trong có đặt chậu hoặc vỉ sắt đốt than để sưởi cho ấm trong mùa Đông.

[3] Nam Đường (937-975) là một triều đại tồn tại rất ngắn ngủi, chỉ có 39 năm, do Lý Biện sáng lập khi nhà Đường mất ngôi, các tướng quân phiệt nổi lên chia cắt Trung Hoa thành mười nước (sử gọi là thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc). Hậu Chúa nhà Nam Đường là Lý Dục, đế hiệu Đường Nguyên Tông. Ông là người dốc lòng tin tưởng Phật pháp, nhưng bản tánh xa hoa, ưa ngâm vịnh, không quan tâm chánh sự, dành rất nhiều thời gian để xây dựng tháp miếu, thích tạo chùa to tượng lớn để khoe khoang công đức hơn là thật tâm thực hành Phật giáo.

[4] Tướng luân là cái chóp bằng kim loại thường đặt trên đỉnh những ngọn tháp năm tầng, thường có hình trụ tròn, trừ hai khối kim loại tròn (gọi tương ứng là Bảo Châu và Long Xa) ở đầu, phần còn lại là những khối kim loại có hình như cái lọng. Theo thứ tự từ trên xuống dưới, tướng luân được chia thành Bảo Châu, Long Xa, Thủy Yên, Cửu Luân, Thọ Hoa (Tinh Hoa), Phục Bát, Lộ Bàn. Đây chính là một hình thức rút gọn của những cấu trúc hình lọng 13 tầng thường che trên các tháp thờ (stupa) tại Ấn Độ. Phần quan trọng nhất là Bảo Châu, bên trong thường chứa xá-lợi.

[5] Tỷ Bộ là một chức quan thuộc hạ của quan Thượng Thư đã có từ thời Ngụy - Tấn, dưới chức Thượng Thư năm cấp, có trách nhiệm quản thủ sổ sách, đặc trách quản trị thuế khóa, kinh phí, tu bổ công sở, thu chi lương hướng, ban thưởng, mua sắm v.v.. cho các quan Thượng Thư. Về sau, đến đời Đường, Tỷ Bộ là danh từ chỉ chung một ty thuộc bốn ty của bộ Hình, và được dùng để chỉ chung các chức vụ Lang Trung, Viên Ngoại Lang, Chủ Sự v.v... Chức vụ này bị phế bỏ dưới các triều Kim và Nguyên.

[6] Ma La Da sơn (Malaya), còn phiên âm là Mạt Lạt Da, hoặc Ma La Diên, chính là rặng Cardamon ở Nam Ấn Độ. Núi nổi tiếng với các loại gỗ thơm. Đại luận sư Thanh Biện (Bhāvaviveka) của tông Trung Quán xuất sanh từ núi này.

[7] Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra, 394-468), dịch nghĩa là Công Đức Hiền, người Trung Thiên Trúc, thuộc dòng Bà La Môn, do đọc A Tỳ Đàm Tạp Tâm Luận có chỗ ngộ bèn quy hướng Phật pháp. Thoạt đầu, ngài học Tiểu Thừa, về sau thâm nhập Đại Thừa, người thời ấy xưng tụng Ngài bằng danh hiệu Ma Ha Diễn. Năm Nguyên Gia 12 (435) đời Lưu Tống, Sư đến Quảng Châu, trụ tại chùa Vân Phong trên núi Vân Phong. Thứ sử Quảng Châu tâu lên Tống Văn Đế. Vua sai người thỉnh Sư sang Nam Kinh, trụ tại chùa Kỳ Hoàn. Sư được danh sĩ và thiền đức đương thời hết sức kính ngưỡng, đặc biệt hai vị vương gia Nam Tiếu Vương Lưu Nghĩa Tuyên và Bành Thành Vương Lưu Nghĩa Khang cùng tôn Sư làm thầy. Ngài phiên dịch các bộ Tạp A Hàm Kinh, Đại Pháp Cổ Kinh, Tương Tục Giải Thoát Kinh, Thắng Man Kinh, Ương Quật Ma La Kinh, Lăng Già Kinh, Vô Ưu Vương Kinh, Bát Cát Tường Kinh, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh, Đại Phương Quảng Bảo Khiếp Kinh, Bồ Tát Hạnh Phương Tiện Cảnh Giới Thần Thông Biến Hóa Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh (cuốn này đã bị thất lạc), Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú v.v...

[8] Trịnh Hòa (1371-1433) vốn tên là Mã Tam Bảo, người làng Bảo Sơn, thuộc Côn Dương, tỉnh Vân Nam, là một hoạn quan, vừa là một nhà ngoại giao tài ba, vừa là một nhà hàng hải lừng danh đời Minh. Ông vốn là hậu duệ của Sayyid Ajjal Shams al-Din Omar, thuộc dòng dõi quý tộc, hậu duệ của quốc vương Mohamed xứ Buxoro (những người theo đạo Hồi có tên Mohamed, Muhamad, Mahmud v.v... đều bị Hán hóa thành họ Mã hay Mộc), di cư đến Vân Nam vào đầu đời Nguyên. Khi nhà Minh chiếm được Vân Nam, Trịnh Hòa mới 10 tuổi, bị bắt vào cung “tĩnh thân” (thiến, hoạn), trở thành thái giám trong phủ Yên Vương Châu Lệ. Năm Vĩnh Lạc nguyên niên (1403), ông được Diêu Quảng Hiếu thâu nhận làm Bồ Tát Giới đệ tử, pháp danh là Phước Cát Tường; tuy vậy, vẫn không từ bỏ niềm tin Hồi Giáo. Khi Châu Lệ trở thành Minh Thành Tổ, đã ban tên họ mới cho ông là Trịnh Hòa, phong làm Nội Quản Thái Giám, kiêm Tư Lễ Giám, trở thành một bầy tôi cực kỳ thân tín của Minh Thành Tổ. Với chính sách “viễn giao, cận công” (xa thì giao hảo, gần thì đánh) nhằm mở rộng đế quốc Đại Minh, Minh Thành Tổ giao cho ông cầm đầu 317 chiến thuyền với gần 28.000 tùy tùng đi khắp Đông Nam Á, Ả Rập, Ấn Độ để giao hảo, vừa mua chuộc vừa đe dọa, khiến các tiểu quốc phải triều cống Trung Hoa. Trịnh Hòa xây các pháo đài, kho hàng ở vùng Malacca và lưu lại đây rất nhiều thủy thủ theo đạo Hồi. Học giả Hamka (1908-1981) cho rằng cộng đồng người Hoa theo đạo Hồi nói riêng và đạo Hồi nói chung không thể phát triển mạnh ở Mã Lai và Indonesia nếu không có sự ủng hộ của Trịnh Hòa. Tuy vậy, 600 năm sau khi Trịnh Hòa mất, hầu như không còn người Hoa nào ở Indonesia, Mã Lai, Singapore theo đạo Hồi nữa. Do thế lực của Trịnh Hòa và Minh Triều, người Hoa chiếm nhiều ưu thế tại các vùng đất mới nên họ tôn sùng, lập nhiều miếu thờ Trịnh Hòa và tôn xưng ông ta là Bổn Đầu Công (ông trùm). Tại Việt Nam, các miếu thờ thường được người Việt gọi là “chùa ông Bổn” chính là miếu thờ Trịnh Hòa.

[9] Quán Âm Trai là ngoài ngày trai kỳ cố định ra, mỗi tháng ăn chay thêm một vài ngày nhất định theo một bảng liệt kê riêng gọi là Quán Âm Trai Biểu, chẳng hạn tháng Giêng ăn chay ngày mồng Tám, tháng Hai ăn chay ba ngày mồng Bảy, mồng Chín, Mười Chín, tháng Ba ăn chay trong ngày mồng Ba, mồng Sáu, Mười Ba v.v...

[10] Xuân Quan là một chức quan quản trị việc lễ nghi, tế tự, thường trực thuộc bộ Lễ.

[11] Chúng tôi dịch câu này theo cách giải thích trong sách Châu Dịch Chánh Nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt, Hàn Khang Bá và Vương Bật. Theo đó, quẻ Đại Quá trên là quẻ Đoài, dưới là quẻ Tốn, tượng trưng cho sự vượt quá mức lẽ thường, nên phạm lầm lỗi. Quẻ này gồm sáu vạch nên vạch trên cùng được gọi là Lục Thượng. Câu nói trên đây được trích từ phần Hào Từ của sách Châu Dịch.

[12] Mộ Dung Thùy (326-396), vốn có tên là Mộ Dung Bá (Phách), tự Minh Đạo, thuộc sắc dân Tiên Ty, là con thứ năm của Mộ Dung Hoảng (vua sáng lập nhà Tiền Yên). Mộ Dung Thùy sáng lập nhà Hậu Yên vào năm 384, xưng hiệu là Thành Vũ hoàng đế.

[13] Thuần Hoàng Hậu chính là mẹ của Minh Thái Tổ Châu Nguyên Chương, không rõ bà tên thật là gì, chỉ biết bà là vợ của Châu Thế Trân (Châu Thế Trân được Minh Thái Tổ truy tặng là Minh Thế Tổ tuy ông ta chẳng làm vua ngày nào). Bà có bốn người con với ông Châu, tức là Châu Hưng Long, Châu Hưng Thịnh, Châu Hưng Tổ và Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ). Bà được truy tặng Thuần Hoàng Hậu vào năm Hồng Vũ nguyên niên (1368) dưới đời Minh Thái Tổ.

[14] Trương Thế Kiệt (?-1279) là đại tướng nhà Tống. Khi kinh đô Lâm An của nhà Nam Tống thất thủ, Tống Cung Đế mới 5 tuổi bị quân Nguyên cầm tù, ông đã cùng Lục Tú Phu phò hai vương gia Triệu Thỉ (Tống Đoan Tông) và Triệu Bỉnh (Tống Vệ Vương) đào tẩu. Khi Tống Đoan Tông bị chết đuối, Triệu Bỉnh được đưa lên làm vua, ông vừa phải lo liệu việc quân, việc cai trị, đồng thời dạy Tống Vệ Vương học chữ. Năm Tường Hưng thứ 2 (1297), quân Nguyên mở cuộc đại tấn công nhằm tiêu diệt triều đình nhà Tống lưu vong, quân Tống đại bại tại Nhai Sơn. Ông Trương tổ chức tử chiến, nào ngờ Thừa Tướng Lục Tú Phu đã cõng ấu chúa Tống Vệ Vương nhảy xuống biển tự tử. Ông than thở áo não rồi tự tử, khiến cho các thuộc hạ phải chạy ra hải đảo lánh nạn.

[15] Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta ?-619), dịch nghĩa là Pháp Tạng hoặc Pháp Mật, người xứ La La, Nam Ấn, thuộc dòng Bà La Môn, xuất gia năm 23 tuổi, sở học rộng khắp. Sư nghe nói Phật giáo Đại Thừa thịnh hành tại Trung Hoa, bèn đến Trung Nguyên vào năm Khai Hoàng thứ 10 (590). Tùy Văn Đế thỉnh vua lên kinh đô, trụ tại chùa Đại Hưng Thiện, lo dịch kinh. Ngài dịch các bộ Vô Sở Hữu Bồ Tát Kinh, Hộ Quốc Bồ Tát Kinh, Phật Hoa Nghiêm Nhập Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh, Đại Tập Thí Dụ Vương Kinh, Đông Phương Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Kinh, Di Thức Kinh, Đại Thừa Tam Tụ Sám Hối Kinh, Đại Phương Đẳng Đại Vân Thỉnh Vũ Kinh v.v... Cùng với ngài Xà Na Quật Đa, Sư dịch các bộ Đại Tập Niệm Phật Tam Muội Kinh, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích v.v...

[16] Khương (còn gọi là Nhĩ Mã) là một sắc dân thiểu số ở Trung Hoa, chủ yếu sống tại Tứ Xuyên và Thiểm Tây. Sử sách đã ghi nhận sự tồn tại của người Khương kể từ nhà Thương. Diêu Trành (vua sáng lập nhà Hậu Tần thời Ngũ Hồ loạn Hoa) cũng là người Khương. Cho đến nay người Khương vẫn theo chế độ mẫu hệ, tin theo đa thần, coi những viên đá trắng như hóa thân của thần linh, họ tôn sùng thần núi nhất.

[17] Lưu Sa chính là sa mạc Taklamakan (còn gọi là Taklimakan) hiện thời, là sa mạc lớn thứ 17 trên thế giới, thuộc Tân Cương, được bao quanh bởi các rặng Côn Luân, Pamir và Thiên Sơn. Ý nghĩa của tên sa mạc này thường được giải thích là “vùng đất bỏ hoang” hoặc “đi vào sẽ không bao giờ ra được”.

[18] Ngài Na Liên Đề Lê Da Xá (Narendrayaśas, 490-589), là người nước Ô Trành, thuộc dòng Thích Ca. Sư xuất gia năm 17 tuổi, thông hiểu Đại, Tiểu Thừa, đi khắp các nước chiêm bái thánh tích. Khi đến nước Nhuế Nhuế, gặp giặc cướp, Sư không còn ý định trở về nước mà đến Bắc Tề. Bấy giờ Sư đã 40 tuổi, nhận lời thỉnh của Tề Văn Tuyên Đế, Sư dịch 5 bộ kinh như Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh v.v... Khi Châu Vũ Đế diệt Phật, Sư ẩn cư, sống lẫn với thế tục. Đến khi nhà Tùy hưng thịnh, năm Khai Hoàng thứ 2 (582), Sư nhận lời thỉnh của Tùy Văn Đế trụ tại chùa Đạo Hưng Thiện, chủ trì đạo tràng dịch kinh. Sư cùng với hai vị Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa hợp tác dịch nhiều bộ kinh, nên ba vị này được người đương thời tôn xưng là Khai Hoàng Tam Đại Sĩ.

[19] Đột Quyết (Göktürk) là một từ ngữ chỉ chung các sắc dân Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Uzbek, Turkmen, Kirghyz, Hung Nô v.v... sống chủ yếu ở vùng Trung Á và phía Tây Trung Hoa. Họ được gọi là Đột Quyết vì ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Đột Quyết ngữ (Turkic language). Họ đã từng tập hợp thành các hãn quốc (khannate) Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết.

[20] Phù Tần tức là nhà Tiền Tần (350-394), một trong mười sáu nước được thành lập ở Trung Hoa vào cuối nhà Tấn, do Phù Hồng, tù trưởng của sắc dân Đê, sáng lập, nhưng chỉ đến đời con là Phù Kiện mới chính thức xưng đế. Thoạt đầu nhà Tiền Tần chiếm cứ vùng Quan Trung, về sau diệt các nhà Tiền Yên, Tiền Lương và nước Đại, thống nhất phương Bắc Trung Hoa. Dưới đời vua Phù Sùng (chắt của Phù Kiên, Phù Kiên là cháu nội của Phù Hồng, gọi Phù Kiện bằng bác), nhà Tiền Tần bị Diêu Trành (vua sáng lập triều đại Hậu Tần) tiêu diệt.

Mộ Dung Vĩnh (?-394) chính là vua nước Tây Yên, tộc người Tiên Tỵ, là cháu nội của Mộ Dung Vận (anh em con chú con bác của Mộ Dung Hoảng, vua Tiền Yên). Năm 370, nhà Tiền Yên bị nhà Tiền Tần diệt, nên bộ tộc Mộ Dung bị đưa về an trí tại Quan Trung. Do đói nghèo, Mộ Dung Vĩnh và vợ con phải khâu giày để sống qua ngày tại Trường An. Khi Mộ Dung Xung (con trai Mộ Dung Tuấn, cháu nội Mộ Dung Hoảng) khởi nghĩa vào năm 385 nhằm tái lập nhà Yên, Mộ Dung Vĩnh theo về và được cử làm tướng quân, lần lượt giữ các chức Thái Úy và Thượng Thư Lệnh. Khi Mộ Dung Xung bị giết, Mộ Dung Vĩnh được tôn làm Đại Đô Đốc, Đại Thiền Vu, Hà Đông Vương, tạm thần phục Mộ Dung Thùy (con thứ năm của Mộ Dung Hoảng) nhà Hậu Yên, rồi tự xưng đế vào năm 393, lập ra nhà Tây Yên. Về sau, Hậu Yên diệt Tây Yên vào năm 394, Mộ Dung Vĩnh bị giết chết.

[21] Bồng Hao: Nếu hiểu theo nghĩa hiện thời thì Bồng Hao chính là rau Húng Quế, nhưng xét theo ngữ cảnh ở đây, có lẽ ở đây Bồng Hao chỉ là tiếng chỉ chung các loại cỏ dại như trong cổ văn thường dùng (theo Thành Ngữ Từ Điển). Trong cổ văn, Bồng Hao còn là từ ngữ phiếm chỉ nơi hoang dã, nhưng nghĩa này xét ra không thích hợp với đoạn này cho lắm.

[22] Đồ sấm: Các sách vở do các đạo sĩ hoặc nho sĩ biên soạn luận bàn về những điềm trời báo trước thọ mạng của đế vương hay sự hưng suy của một triều đại. Đa phần những sách này gồm những bài thơ chứa đựng những ẩn ngữ, dự ngôn. Ta thường gọi là sấm truyền, như kiểu sấm Trạng Trình chẳng hạn.

Nguyên Ngụy (còn gọi là Bắc Ngụy, Hậu Ngụy hay Thác Bạt Ngụy) là một vương triều của Trung Hoa từ năm 386-534, do Thác Bạt Khuê sáng lập. Đến đời Ngụy Hiếu Văn Hoàng Đế (Thác Bạt Hoằng) đổi họ Thác Bạt thành Nguyên, nên Sử thường gọi vương triều này là Nguyên Ngụy để phân biệt với quá nhiều nhà Ngụy trong lịch sử Trung Hoa.

[23] Từ Ân ở đây chính là ngài Đường Tam Tạng pháp sư Huyền Trang. Do ngài trụ tại chùa Từ Ân nên thường được gọi là Từ Ân đại sư.

[24] “Thú” (戍) là lính canh giữ biên phòng hay những vùng xa xôi. Có tội bị đầy ra làm lính thú thì được gọi là “trích thú”.

[25] Sự kiện này được sử gọi là “Dương Châu Thập Nhật” xảy ra vào năm Thuận Trị thứ hai, tức năm Ất Dậu (1645). Khi ấy, Sử Khả Pháp là Lễ Bộ Thượng Thư kiêm Đông Các Đại Học Sĩ nhà Nam Minh tổ chức nghĩa quân quyết tử chống lại cuộc tấn công nhằm tận diệt nhà Minh của quân Thanh do Dự Thân Vương Đa Đạc chỉ huy. Ngày 24 tháng Tư, Đa Đạc tập trung đại bác bắn vào Dương Châu, đến ngày 25 phá được thành, nhưng dân quân chống cự quyết liệt từng góc phố, quân Thanh phải vất vả lắm mới chiếm được cả thành. Do vậy, để trả thù, Đa Đạc hành hình Sử Khả Pháp tàn nhẫn và hạ lệnh đại tàn sát nhân dân Dương Châu suốt mười ngày. Số người chết lên đến mười vạn người.

[26] Bài chú này còn gọi là Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni (Cintāmani-cakra Dhāranī), trích từ Như Ý Luân Đà La Ni Kinh (tên gọi đầy đủ là Đại Liên Hoa Phong Kim Cang Bí Mật Như Ý Luân Chú), là một trong mười bài tiểu chú trong công phu sáng của Thiền môn. Trong Mật Tông, Như Ý Luân Quán Âm là một trong sáu thân tướng Quán Âm chánh yếu của Thai Tạng Giới. Nghi quỹ Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát Du Già mô tả: “Tay cầm báu Như Ý, sáu tay, thân sắc vàng ròng, búi tóc trên đầu trang hoàng bằng các thứ báu, trên mão có đức Tự Tại Vương ngồi, hiện tướng thuyết pháp. Tay thứ nhất hiện vẻ tư duy (tức là tay chống cằm hiện vẻ đang suy nghĩ) vì nghĩ thương xót chúng sanh. Tay thứ hai cầm báu Như Ý nhằm làm cho chúng sanh được mãn nguyện. Tay thứ ba cầm xâu chuỗi nhằm độ chúng sanh thoát khổ. Tay thứ nhất phía bên trái tựa vào núi Quang Minh nhằm thành tựu sự không lay động. Tay trái thứ hai cầm hoa sen nhằm thanh tịnh những điều phi pháp. Tay trái thứ ba cầm bánh xe, nhằm chuyển pháp vô thượng. Sáu cánh tay xòe khắp thân biểu thị du hóa lục đạo”

[27] Hiến tặc là quân giặc Trương Hiến Trung (1606-1647), lãnh tụ “khởi nghĩa nông dân” cuối thời Minh, từng kết hợp với Lý Tự Thành tấn công nhà Minh, tàn sát nhiều dân lành vô tội. Hắn gây nên hai cuộc tàn sát lớn nhất ở Phụng Dương (tỉnh An Huy, giết mấy vạn người) và tại Thành Đô (Tứ Xuyên, giết nhiều đến nỗi dân chúng Thành Đô đang từ 40 vạn người chỉ còn 20 vạn người).

[28] Một Tạng là 5.048 quyển hay 5.048 lần.

[29] Mạt Hạt (Malgal, Mogher) là một bộ tộc cổ ở Mãn Châu, được coi là tổ tiên của người Nữ Chân (Jurchen, bộ tộc của tổ tiên nhà Thanh) và người Mãn Châu hiện thời. Thoạt đầu, họ sống tại lưu vực Liêu Giang và di cư dần dần đến phía Nam, xâm nhập Bắc Hàn. Hiện thời, hậu duệ của họ sống chủ yếu ở vùng Trường Bạch Sơn, Tùng Hoa giang, và Ô Tô Lý Giang. Lúc đầu, người Mạt Hạt bị thống trị bởi vương triều Phù Dư (Buyeo) ở Bắc Hàn, nhưng đến năm Thái Hòa 17 (493) đời Bắc Ngụy, họ tiêu diệt vương quốc Phù Dư và thường đánh nhau với vương triều Bách Tế và Tân La của Cổ Đại Hàn. Sử Trung Hoa gọi họ bằng nhiều danh xưng như Túc Thận (đời Tần), Ấp Loại (từ thời Ngụy đến đời Tấn), Vật Cát (thời Nam Bắc Triều). Tên gọi Mạt Hạt phát xuất từ thời Tùy. Sắc dân này gồm nhiều bộ tộc du mục, thiện chiến, có nhiều tướng lãnh kiệt xuất, luôn luôn là một mối đe dọa cho Trung Nguyên. Thời Đường, tù trưởng Đại Tộ Vinh của tộc Mạt Hạt, thừa cơ Cao Câu Ly bị Tân La liên kết với nhà Đường diệt vong, đã lập ra vương quốc Bột Hải (698-926). Nhà Kim sau này (tổ tiên của nhà Thanh) cũng là hậu duệ của một trong các bộ tộc Mạt Hạt (tức bộ tộc Heuksu Malgal).

[30] Hiếu Liêm: Thoạt đầu đời Hán Vũ Đế, hạ lệnh các quận huyện công cử những người hiếu thuận cha mẹ, liêm khiết, chánh trực để tuyển làm quan. Những người ấy được gọi là Hiếu Liêm. Đến đời Minh - Thanh, Hiếu Liêm trở thành một tên gọi khác của Cử Nhân (người trúng tuyển khoa thi Hương).

[31] Khang (糠) là cám, đồng âm với họ Khang (康).

[32] Nam Tiếu Vương là vương tước của Lưu Nghĩa Tuyên (415-454), con thứ sáu của Tống Vũ Đế (Lưu Dụ), là em trai của Tống Thiếu Đế và Tống Văn Đế. Khi Thái Tử Lưu Thiệu giết cha là Tống Văn Đế soán ngôi, con thứ ba của Văn Đế là Lưu Tuấn bèn khởi binh đánh dẹp, được Nghĩa Tuyên phái quân ủng hộ. Khi Lưu Tuấn lên ngôi, lấy hiệu là Tống Hiếu Vũ Đế, Nghĩa Tuyên được phong làm Trung Thư Giám, kiêm đô đốc Dương Châu và Dự Châu. Sẵn binh hùng tướng mạnh, thái ấp trù phú, Nghĩa Tuyên nảy sanh ý chuyên quyền, coi thường vua. Lại thêm Tạng Chất xúi giục, Nam Tiếu Vương dấy quân làm loạn, nhưng bị tướng Vương Huyền Mô của nhà Lưu Tống đánh bại. Nghĩa Tuyên bị bắt giam. Không chịu được khổ cực, Nghĩa Tuyên bèn tự tử chết trong ngục.

[33] Giải lương: Chuyên chở lương thực cho quân đội. Do thời cổ, thường có trộm đạo, sơn tặc, hải tặc cướp lương nên thường phải có võ tướng đi theo bảo vệ.

[34] Khiết Đan (Khất Đan, Khế Đan) là những cách đọc khác nhau của chữ Khitan (đôi khi còn viết là Khitai, hoặc Kidan, là hậu duệ của bộ tộc Nhu Nhiên (Ruran, còn phiên âm là Lâu Lan) thuộc sắc dân Tiên Ty (thuộc nhóm du mục Đông Hồ thời cổ). Sau khi bị bộ tộc của họ Thác Bạt (tổ tiên nhà Bắc Ngụy) đánh bại, họ phải chuyển sang sống chủ yếu ở ngoài rặng Hưng An. Theo truyền thuyết, người Khiết Đan chính là tổ tiên của bộ tộc Mông Cổ Thất Vĩ hiện thời. Họ là một sắc dân du mục, thiện chiến, thường hay giao chiến với các triều đại của Trung Hoa, nhất là dưới đời nhà Tống. Tiếng nói của họ thuộc ngữ tộc Mông Cổ của ngữ hệ Altaic. Người Khiết Đan gồm có tám bộ tộc chính, trong đó bộ tộc Niết Lý là thủy tổ của người Liêu sau này. Ngoài ra còn có những bộ tộc nhỏ sống lẫn lộn với các sắc dân Kazakh, Naiman v.v... khắp Trung Á. Tù trưởng người Khiết Đan gọi là Khan (sử Trung Hoa thường phiên âm thành Khả Hãn), được bầu ba năm một lần. Đến thời Da Luật A Bảo Cơ (Yelü Abaoji), danh xưng này mới được đổi thành Hoàng Đế, xưng quốc hiệu là Liêu, chiếm cứ miền Bắc Trung Hoa cho đến khi bị nhà Nguyên diệt.

[35] Lưu Dự (1073-1416) là người Phụ Thành, Cảnh Châu (nay thuộc Hà Bắc), từng đỗ Tiến Sĩ dưới đời Tống Triết Tông, làm đến chức Thị Ngự Sử dưới thời Tống Huy Tông. Khi quân Kim tấn công Tế Nam, ông ta bèn giết tướng thủ thành là Quan Thắng, theo hàng quân Kim. Năm 1130, nhà Kim phong cho ông ta hư vị là Đại Tề Hoàng Đế, sai theo quân đi đánh Nam Tống. Do vậy, Thiên Trúc Chí mới gọi đội quân ấy là quân Kim - Tề.

[36] Hiến phù (đúng ra phải đọc là Hiến Phu): Mỗi khi đại quân thắng trận khải hoàn, vị đại tướng cầm quân sẽ làm lễ giao nộp lên hoàng đế những tù binh bắt được (Phu: 俘) và những chiến lợi phẩm trước cửa Ngọ Môn. Nghi lễ ấy gọi là Hiến Phù.

[37] Hoàng Sào (?-884) là người xứ Oan Cú, Tào Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), xuất thân là dân buôn muối, chuyên cầm đầu bọn buôn muối lậu. Do đi thi không đậu nên phẫn uất, mượn cớ “thế thiên hành đạo” bảo vệ dân nghèo chống lại tham quan và kỷ cương mục nát cuối đời Đường để dấy loạn (sử Hoa Lục thường gọi hoa mỹ là “phong trào nông dân khởi nghĩa”) vào năm Càn Phù thứ 2 (875). Thanh thế rất lớn, gây nên những trận chiến dai dẳng, tàn sát dân vô tội rất nhiều. Về sau, Hoàng Sào bị Châu Ôn đánh bại ở bến Vương Mãn (thuộc tỉnh Hà Bắc), các thủ hạ thân tín như Cát Tùng Châu, Dương Năng, Hoắc Tồn, Trương Quy Hậu v.v... đều theo hàng Châu Ôn. Thế cùng lực kiệt, Hoàng Sào trốn qua sông, lại bị Lý Khắc Dụng truy sát, phải bôn tẩu không ngừng Cuối cùng, chỉ còn một ngàn quân, lương hết, thế cô, lại bị Lý Sư Duyệt dẫn một vạn quây vây đuổi, Hoàng Sào bị bộ hạ là Lâm Ngôn giết chết tại Lang Hổ Cốc (Sơn Đông).

[38] Tiền Liêu (852-932) là người xứ Đại Quan Sơn, huyện Lâm An, vốn là con nhà thuyền chài. Cũng theo nghề buôn muối, giỏi võ nghệ, thích phiêu lưu, nhưng bẩm tánh hiền lương, trọng nhân nghĩa. Thoạt đầu theo Chỉ Huy Sứ Thạch Trấn là Đổng Xương ngăn chặn loạn quân Hoàng Sào, ông chỉ huy đội Bát Đô Quân nhằm bảo vệ cho dân cư trong tám huyện thuộc vùng Giang Tô, chống lại các tướng quân phiệt lăm le chia năm xẻ bảy cương vực nhà Đường thời ấy. Đến khi Đổng Xương bộc lộ dã tâm xưng vương, ông diệt trừ Đổng Xương, vẫn giữ lòng trung với nhà Đường, tận hết sức bình định, bảo vệ vùng Giang Chiết. Ông được phong làm Việt Vương vào năm 902. Khi nhà Đường sắp mất ngôi, vào năm 907, nghe theo lời khuyên của thuộc hạ, nhằm danh chính ngôn thuận, ông xưng là Ngô Việt Vương, hiệu là Ngô Việt Thái Tổ Vũ Túc Vương, để bảo vệ mười bốn châu vùng Giang Chiết và một phần phía Bắc tỉnh Phước Kiến hiện thời. Ngôi vua của ông truyền qua nhiều đời cho đến 978 khi Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) thống nhất Trung Hoa thì chắt của Tiền Liêu là Tiền Hoằng Thục xưng thần, quy thuận Tống Thái Tổ. Sở dĩ Thiên Trúc Chí chép lời Bồ Tát dạy: “Trung Nguyên thiên tử đổi họ năm phen” là vì từ khi Tiền Liêu xưng vương cho đến khi nhà Tống thống nhất Trung Hoa đã có năm triều đại kế tiếp nhau là Hậu Lương (do Châu Toàn Trung sáng lập), Hậu Đường (Lý Tồn Úc sáng lập), Hậu Tấn (Thạch Kính Đường sáng lập), Hậu Hán (Lưu Tri Viễn sáng lập) và Hậu Châu (Quách Oai sáng lập).

[39] Châu Toàn Trung (852-912) là vua sáng lập triều đại Hậu Lương (907-923). Vốn có tên là Châu Ôn, được vua Đường ban tên là Toàn Trung. Đến khi xưng đế, lại đổi tên thành Châu Hoảng. Châu Ôn quê quán ở Đãng Sơn, Tống Châu (nay là huyện Đãng Sơn, tỉnh Hà Bắc). Ông ta xuất thân từ một gia đình Nho học, mồ côi cha từ nhỏ, mẹ phải đi ở cho nhà Lưu Sùng ở Túc Huyện. Ông ta có sức mạnh, tánh tình tàn bạo, thâm hiểm, khiến người làng rất khiếp sợ. Khi trưởng thành, theo Hoàng Sào làm phản, trở thành đại tướng quân, từng đánh vào kinh đô nhà Đường. Sau đấy lại phản Hoàng Sào, theo Tiết Độ Sứ Vương Trọng Vinh đánh lại Hoàng Sào, được Đường Hy Tông phong làm Kim Ngô Vệ Đại Tướng Quân, ban tên là Toàn Trung. Về sau, chính Châu Ôn đã đánh bại Hoàng Sào, dẹp tan dư đảng của hắn là Tần Tông Quyền, nên được vua phong làm Đông Bình Vương, rồi Lương Vương. Khi ấy, nhà Đường chỉ còn hư vị, các tiết độ sứ nắm binh quyền, dấy loạn lung tung. Năm Thiên Phục nguyên niên (901), Đường Chiêu Tông bị hoạn quan Hàn Toàn Hối giam giữ, tể tướng Thôi Dẫn gọi Châu Ôn về cứu giá. Sau khi dẹp loạn và hòa giải với các Tiết Độ Sứ có chức quyền thời ấy, họ Châu trở thành quyền thần bậc nhất trong triều. Sau khi giải toán lực lượng Thiên Sách Quân của nhà vua, Châu Ôn khống chế hoàng tộc, giết chết Thôi Dẫn, ép Chiêu Tông phải dời đô về Lạc Dương. Năm Khai Bình nguyên niên (907), Châu Ôn phế Đường Ai Tông, tự xưng đế, lập ra nhà Hậu Lương, mở đầu thời Ngũ Đại.

[40] Trương Sĩ Thành (1321-1367) là một tướng quân phiệt cuối đời Nguyên, đầu đời Minh, người xứ Bạch Câu Trường, Thái Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô), xuất thân là phu gánh muối. Do bất mãn với bọn quan đánh thuế muối nên tụ tập đồ đảng làm loạn vào năm Chí Chánh 13 (1353), dần dần trở thành một tướng quân phiệt có thế lực hùng mạnh, nhiều phen đương đầu với Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ), cho đến khi nhà Minh bắt được, đem treo cổ tại Ứng Thiên (Kim Lăng). Họ Trương tính tình xa xỉ, kiêu căng, dâm dật, hiếu sát, tàn nhẫn.

[41] Tù phương: Tướng lãnh chỉ huy của dân Liêu, Kim, hoặc Mông Cổ thường bị người Tống gọi miệt thị là Tù Phương (Tù phương có nghĩa là tay sai của các tù trưởng. Vì đối với người Trung Hoa, vua của các sắc dân ngoài biên ải chỉ được coi là Tù Trưởng dù họ có xưng đế, xưng vương như thế nào đi nữa). Ở đây, chữ Tù Phương được dùng lẫn lộn với chữ Tù Trưởng.

[42] Lưu Ly Vương (gọi đủ là Tỳ Lưu Ly – Virudhaka), dịch nghĩa là Ác Sanh Vương, con của vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) xứ Câu Tát La (Kosala) và phu nhân Mạt Lợi (Mallika). Do quý kính đức Phật, vua Ba Tư Nặc xin cầu hôn với dòng họ Thích Ca, nhưng hoàng tộc Thích Ca tự cho mình là huyết thống cao quý, không thể xen tạp với dòng họ khác, nhưng không thể không gả vì thế lực của Ba Tư Nặc quá mạnh. Cuối cùng, vương gia Ma Ha Nam gợi ý đem Mạt Lợi là cô tỳ nữ xinh đẹp, thông minh nhất của chính mình, giả làm công chúa dòng họ Thích Ca, gả cho Ba Tư Nặc. Mạt Lợi sanh ra Tỳ Lưu Ly. Khi Tỳ Lưu Ly tám tuổi, về quê ngoại học bắn cung. Lúc bấy giờ, dòng họ Thích vừa xây xong một ngôi giảng đường để thỉnh Như Lai và các vị thánh tăng đến cúng dường. Tỳ Lưu Ly cùng năm trăm đứa trẻ vào giảng đường, trèo lên tòa sư tử chơi, bị họ Thích mắng là “kẻ nô tỳ” và đuổi ra khỏi cửa. Tỳ Lưu Ly vô cùng căm tức, lại được đại thần Khổ Mẫu (Dīgha Chārāyana) xui xiểm, nên đã thừa cơ đoạt ngôi vua cha khi Ba Tư Nặc viễn du. Ba Tư Nặc chạy sang cầu viện A Xà Thế giúp đỡ, nhưng bị bệnh chết trên đường lưu vong. Nghe tin cha chết, Tỳ Lưu Ly liền đem binh tiến đánh thành Ca Tỳ La Vệ (dù Phật Thích Ca đã ba lần hiện thân khuyên can). Chiếm được thành, Tỳ Lưu Ly tàn sát tận diệt dòng họ Thích Ca, máu chảy thành sông.

[43] Giếng trời (thiên tỉnh, courtyard): Khoảng sân trống giữa các khu nhà xây quanh bốn phía, nhằm mục đích thoáng khí và lấy ánh sáng chiếu vào nhà.

[44] Vào thời Đường, người đỗ đầu kỳ thi Hương gọi là Giải Nguyên, đến đời Tống gọi là Giải Đầu. Từ thời Minh, Thanh, trở đi, những người đỗ khoa thi Hương được gọi chung là Cử Nhân, nhưng dân gian vẫn quen gọi là Hiếu Liêm. Người đỗ đầu khoa thi Hương vẫn gọi là Giải Nguyên như thời Đường.

[45] Quán Sát là một chức quan cầm đầu quân sự tại một châu, gọi đủ là Quán Sát Xử Trí Sứ.

[46] Cấp Gián là danh xưng gọi chung hai chức vụ Cấp Sự Trung và Gián Nghị Đại Phu.

[47] Thừa là một chức quan, là thuộc cấp của Thái Úy. Đại Lý Tự là cơ quan chủ quản tư pháp, chuyên quản trị những vụ kiện tụng hình sự, được đặt ra dưới thời Bắc Tề, đứng đầu là Đại Lý Khanh, phó là Đại Lý Thiếu Khanh. Những nhân viên cấp nhỏ hơn gọi là Đại Lý Thừa.

[48] Theo Châu Dịch Chỉ Yếu, Đồng Nhân là quẻ thứ 13 trong sáu mươi bốn quẻ, có tên đầy đủ là Thiên Hạ Đồng Nhân do hai quẻ Càn và Ly ghép lại (trên Càn dưới Ly), hàm nghĩa “thượng hạ đồng thuận”, tượng trưng cho “trước gian nan, sau thuận lợi”. Câu nói trên đây trích từ phần Tượng Truyện giải thích về ý nghĩa của hào thứ năm trong quẻ này.

[49] Châu Đình Nho (1593-1644), tự là Ngọc Thằng, hiệu Ấp Tề, người làng Nghi Thành, huyện Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, làm đến chức Đông Các Đại Học Sĩ dưới thời Sùng Trinh. Ông ta thông minh, văn tài hoạt bát, được coi là thần đồng, rất thông minh, mẫn tiệp, giỏi đoán ý người khác, là lãnh tụ của nhóm Phục Xã, từng làm cố vấn thân tín của vua Sùng Trinh. Năm Sùng Trinh 16 (1643), quân Thanh vượt quan ải tấn công Trung Nguyên, kinh thành rúng động. Châu Đình Nho vâng lệnh dẫn quân ra ngoài thành đối địch, nhưng đóng lì tại Thông Châu, không dám tiến lên, chỉ lo nhậu nhẹt, ca hát cùng thuộc hạ, ngụy tạo chiến công, nên được nhà Minh thăng lên làm Thái Sư cho đến khi Cẩm Y Vệ Chỉ Huy Sứ Lạc Dưỡng Tánh dâng sớ hạch tội, chân tướng mới lộ ra. Vua cả giận bắt Châu Đình Nho tự tử vào năm Sùng Trinh 17 (1644); do vậy, những người khắc in văn chương của Châu Đình Nho trước đó đều bị vạ lây.

[50] Cẩm Y Vệ là cơ quan đặc vụ kiêm tình báo quân sự thời Minh, có tên gọi đầy đủ là Cẩm Y Thân Quân Đô Chỉ Huy Sứ Ty. Tiền thân của nó chính là Ngự Dụng Củng Vệ Ty (được thành lập vào thời Minh Thái Tổ). Cơ quan này trực tiếp nhận lệnh từ nhà vua, có thể bắt cứ ai (chỉ trừ hoàng đế), kể cả hoàng thân quốc thích, có thể xử tử không cần xét xử công khai. Đồng thời nó có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo quân sự.

[51] Hòa Lâm là tên gọi tắt của Cáp Lạp Hòa Lâm (Karakorum), vốn là kinh đô cũ đế quốc Mông Cổ, nhưng đến đời Thanh thì đã trở thành nơi hoang phế. Thành phố này nay nằm ở Tây Bắc tỉnh Övörkhangai của Mông Cổ.

[52] Lô Tuần (?-411) thuộc một dòng họ lớn ở Phạm Dương (nay thuộc Hà Bắc) vào thời Đông Tấn, là chồng của em gái Tôn Ân người xứ Lang Tà (tỉnh Sơn Đông). Khi Tôn Ân chết trận, Lô Tuần trở thành thủ lãnh của đám quý tộc vùng Lang Tà, có tham vọng lật đổ nhà Tấn, từng hưng binh đánh chiếm nhiều phen, giết các thái thú những châu huyện quan trọng. Lô Tuần từng nhiều lần đánh xuống Quảng Đông, Hợp Phố, Giao Châu, khiến nhà Tấn chao đảo, cho đến khi bị Đỗ Huệ Độ đánh bại, phải tự giết vợ con rồi nhảy xuống sông tự sát.

[53] Thù là đơn vị trọng lượng thời cổ, một thù bằng 1/24 của một lượng. Áo lục thù chính là áo cõi trời, rất nhẹ, nói một cách ước lượng là lục thù (sáu thù), chứ sáu thù thì vẫn còn nặng hơn áo cõi trời rất nhiều!

[54] Nội điển: Kinh sách nhà Phật.

[55] Thông Lãnh chính là vùng cao nguyên Pamir hiện thời. Nơi này nổi tiếng vì Con Đường Tơ Lụa đi qua đó. Pamir nằm giữa Trung Quốc, A Phú Hãn và Tajikistan. Đây là nơi được gọi là “nóc nhà của thế giới” vì là nơi hội tụ các mạch núi lớn như Tuyết Sơn (Himlayas), Thiên Sơn, Karakorum, Côn Luân và Hindu Kush.

[56] Theo Trung Y Dược Điển, Hư Thũng (Thủy Thũng) là một chứng bịnh do Thận hư (Thận khí suy hụt), đến nỗi Hàn xâm nhập, khiến cho cơ thể sưng phù vì nước đọng dưới da. Trước tiên là phù thũng ở bên ngoài, rồi đến sưng to các nội tạng nên gọi là Hư, nước tiểu có cặn trắng ánh xanh, thường bị tiêu chảy, vẻ mặt tái xanh, mệt mỏi, tiếng nói nhỏ yếu. Khi nặng, chất dịch dưới da có thể biến thành mủ.

[57] Thúc Hướng tên thật là Dương Thật Hiệt (Thúc Hướng là tên tự), vốn là một chính trị gia lẫy lừng của nước Tấn thời Xuân Thu. Ông làm quan khắp ba triều vua Tấn Điệu Công, Tấn Bình Công, Tấn Chiêu Công và từng đạt được hiệp ước liên minh quân sự với nước Sở. Còn Tử Sản (?-522 trước Công Nguyên), tên thật là Cơ Kiều, tự là Tử Sản, còn có tên tự là Tử Mỹ, thường được nước Trịnh gọi là Công Tôn Kiều (vì Tử Sản vốn là cháu nội của Trịnh Văn Công, nên thay vì gọi theo họ, người ta gọi theo quan hệ với hoàng tộc thành họ Công Tôn), vốn là một nhà tư tưởng và chính trị gia lỗi lạc thời ấy. Ông làm Khanh Đại Phu (giống như Tể Tướng) nước Trịnh, chấp chánh suốt hai mươi ba năm

[58] Quả quân: Tiếng các quan đại phu của các nước chư hầu gọi vua nước mình. Chữ Quả Quân ở đây chỉ vua nước Tấn.

[59] Truyền Thi là từ ngữ cổ để gọi bệnh lao kết hạch ở phổi. Câu truyện này trích từ phần Xí Thịnh Quang Chú trong bộ Di Kiên Giáp Chí của Hồng Mại đời Tống.


Đại Bi Chú
 
thanhxuansg Date: Thứ Hai, 23 Nov 2015, 4:07 PM | Message # 19
Lieutenant colonel
Group: Users
Messages: 116
Status: Tạm vắng
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 26 Nov 2015, 10:52 PM | Message # 20
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2

Phần 2

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang




1. Lại càng từ bi nhìn chúng sanh, tương lân, đồng bệnh.

2. Vì thế, phóng quang gia trì bình nước, đủ dứt bệnh trầm kha, lòng Thành chiêu cảm suối thiêng, nhằm chữa hết bệnh tật.

3. Kinh truyền Bồ Tát, sớm tạo phước xứ Tây Hà. Tiên nhân giáng cơ, truyền lòng Từ nơi Đông Việt.

4. Ngọc Khê, Bành Lễ, tật dịch chẳng phải di dân. Nhà họ Trần, Phương, che chở chớ ngờ mộng bệnh.

5. Ông Du khuyên nên tin tưởng, quyến thuộc đều hưởng tốt lành. Họ Đàm hoằng dương kinh điển, lợi đẫm người cùng chí hướng.

6. Thiên Thai tu sám, cứu Vĩnh Dương Vương ngã ngựa lâm nguy. Bôi Độ trở về, ấm lòng Thiệu Tín buồn không ai hỏi.

7. Uông huynh thật hiếm có, chợt thấy phẩy phất trần. Họ Lý thương con thơ, sẻ ngậm châu linh ứng.

8. Trì kinh, vợ tiêu trừ nạn; lễ khấn, chồng tăng tuổi trời.

9. Mở cửa cam lộ, chúng sanh đều hưởng thanh lương. Ngự núi Quang Minh, con thơ thảy chẳng yểu thọ.

10. Trị bằng đạo thuật, thánh thần công xảo, há thể suy lường? Uống thuốc Già Đà, hàn, nhiệt, khí, phong, bệnh ắt khỏi hẳn.

11. Phải biết: Tấm lòng có thể cảm thông, đừng sầu lâm thời ắt ứng (đây là ca tụng sự cứu chữa các bệnh, chữa lành các bệnh tật khác)




(1) Pháp Hoa Kinh: “Từ nhãn thị chúng sanh” (Mắt từ nhìn chúng sanh). Ngũ Tử Tư nói: “Đồng bệnh tương lân, đồng ưu tương cứu” (Cùng bệnh bèn thương nhau, cùng nỗi lo bèn cứu nhau). Duy Ma Kinh: “Dĩ nhất thiết chúng sanh bệnh, thị cố ngã bệnh” (Do hết thảy chúng sanh bệnh cho nên ta bệnh).

(2) Theo Thiện Nữ Nhân Truyện, Lã Ngô Thị kiền thành thờ Quán Âm, trì chú Đại Bi, gia trì bình nước, quán tưởng Đại Sĩ phóng quang vào bình. Người bệnh uống nước ấy phần nhiều được lành.

Theo bia tháp Bảo Quang thì sư Pháp Thông đời Đường muốn trùng tu tháp cũ ở núi Cung Công, thầm niệm Quán Âm, không ăn nhiều ngày, cảm suối thiêng phun ra, người gù, kẻ bệnh uống vào liền hết sạch bệnh tật.

(3) Theo Pháp Hoa Truyện Ký, Hà Tây Vương là Thư Cừ Mông Tốn[1] quy y chánh pháp, mắc bệnh. Y Ba Lặc Bồ Tát bảo Quán Thế Âm Bồ Tát có nhân duyên với cõi này, dạy vua tụng phẩm Phổ Môn, [vua làm theo] liền lành bệnh. Do vậy, cho khắc in riêng lưu hành phẩm này ở Hà Tây, gọi là Quán Thế Âm Kinh. Xét ra, Cao Tăng Truyện chép thêm rằng: Bồ Tát Địa Trì Kinh là do Y Ba Lặc Bồ Tát truyền đến cõi này, nhưng [kinh này] do ngài Đàm Vô Sấm[2] dịch, cho nên ngờ ngài Đàm Vô Sấm chính là Y Ba Lặc Bồ Tát.

Trong Cao Vương Chứng Nghiệm, Châu Trung Thừa nói: “Nhà họ Tiết [cầu cơ] có tiên giáng đàn, nói: ‘Xứ Lãnh Nam có nhiều cướp biển, Châu Giang lại có chuyện thuyền hoa[3], dâm dật, tàn sát ngày càng thậm tệ, khiến lòng trời nổi giận, Phật sanh lòng từ bi, sai ta khuyên dụ các chúng sanh, kiền thành tụng Cao Vương Quán Âm Kinh một vạn biến, sẽ giải được hắc nghiệp’. Do vậy, khắc in, lưu hành, khiến cho kẻ thấy người nghe đều vĩnh viễn đoạn dâm, sát”.

(4) Theo Cao Vương Chứng Nghiệm, đời Thanh, Trương Tào Thị người xứ Đồng Hương, nhà ở trấn Ngọc Khê, kiền thành tụng Cao Vương Kinh. Hai mươi mấy nhà cùng sống ở nơi đó đều bắt chước làm theo. Chỉ có mình nhà họ X... là không tin Phật, còn cười nhạo. Năm Càn Long 20 (1755) xảy ra trận dịch lớn, những nhà tụng kinh đều không sao, còn cả nhà ông X... dậy không nổi.

Theo Bạch Y Kinh Cận Nghiệm, tại khu Tây Hương mới xây dựng có hơn một ngàn nhà họ Lý, bị dịch đậu mùa, mười phần chết mất tám, chín, chỉ một nhà bình an. Hỏi nguyên cớ, họ nói: “Trong nhà kiền thành thờ Quán Âm Đại Sĩ, hứa thí tặng một ngàn quyển kinh Bạch Y”. Do vậy, mọi người đều bắt chước, có bị lên đậu cũng không sao.

Theo Quán Âm Linh Nghiệm, Vương Nhật Quang ở Cửu Giang đem Quán Âm Kinh thờ trong khám, dâng cúng hương đèn. Khi ấy, ôn dịch lan truyền, những nhà hàng xóm đều bị nhiễm bệnh, riêng một nhà Nhật Quang vô sự. Mộng thấy Đại Sĩ dạy: “Ta thương xót đất này bị kiếp nạn, ngươi hãy mau đem quyển kinh này thí tặng mỗi nhà một quyển, ôn dịch sẽ tự trừ”. Tỉnh giấc, bèn chia ra tặng, [người trong vùng] đều sống sót chẳng thể tính kể được.

Sách Châu Lễ có câu: “Đại trát, tắc linh bang quốc di dân” (Tật dịch khiến cho nước nhà phải di dân). Chú thích: “Đại trát” (大札) là tật dịch, “di dân” nhằm tránh né tai nạn.

Theo Hải Nam Nhất Chước, Trần Thị ở Huy Châu mắc bệnh nguy cấp, hứa thí tặng một ngàn quyển kinh Cao Vương. Đêm ấy mộng thấy hai vị Tăng hộ trì, còn nói: “Bà thành tâm thí kinh, bệnh sẽ được lành”. Quả nhiên lành bệnh.

Lại nữa, mẹ ông Phương Khải Thuần ở Phù Lương bị bệnh bèn thí kinh, cũng nằm mộng thấy hai Tăng nhân ủng hộ.

Theo Tả Truyện, vua Tấn bị bệnh, nằm mộng thấy hai “thụ tử” (hai đứa bé con)[4].

(5) Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Thanh, Du Nguyên ở Phủ Châu, cha bệnh lao, mẹ bị bệnh khí chất chứa gây nghẹn, chính ông Nguyên thì bị choáng váng, hai mắt bị thương tổn, vợ đẻ con nhưng chẳng nuôi được. Trong niên hiệu Càn Long, ông ta bèn khuyên cả nhà phát tâm thờ Đại Sĩ, thành kính, khiết tịnh tụng kinh, sám lỗi, hướng lành. Thế rồi cha mẹ không uống thuốc mà lành bệnh, mắt ông Nguyên lành lặn như cũ, sanh được một đứa con. Mẹ ông ta tám mươi tuổi bị bệnh ho ra máu. Ông Nguyên khóc lóc cầu Đại Sĩ; bà mẹ mơ màng thấy một bà cụ bảo: “Không sao cả! Ta bảo vệ ngươi, chẳng mấy bữa sẽ lành”. Từ đấy, thí kinh không ngớt.

Lại nữa, Đàm Dụng Hàng ở Hành Dương thuở nhỏ lắm bệnh, nhiều lần chết ngất. Do vậy, phát nguyện biên tập Quán Âm kinh chú và các câu cách ngôn, các toa thuốc cấp cứu thần diệu thành một quyển, mời những người cùng chí hướng khắc in, lưu truyền rộng rãi. Những người trong hội [in sách ấy] hoặc cầu có con nối dòng, hoặc cầu danh lợi, hoặc [cầu khỏi] tật bệnh, tai nạn nguy hiểm. Phàm có khổ não gì, đều được giải thoát.

(6) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Trần, do Vĩnh Dương Vương Bá Trí té ngựa sắp chết, ngài Thiên Thai Trí Giả bèn đích thân lãnh chúng tu tập Quán Âm sám pháp. Không lâu sau, vương hơi tỉnh lại, ngồi tựa vào ghế, thấy một vị Phạm tăng cầm lò xoay quanh vương một vòng, đột nhiên hết đau nhức.

Lại nữa, vào đời Lưu Tống, Thiệu Tín ở huyện Ngô Hưng, tu tập bị bệnh, không ai dám đến thăm, bèn buồn khóc niệm Quán Âm. Chợt có một vị tăng đến xưng là đệ tử của ngài Bôi Độ[5], bảo: “Đừng buồn, gia sư sắp đến thăm ông”. Sư Thiệu Tín nói: “Ngài Bôi Độ đã mất, làm sao đến được?” Tăng bảo: “Trở lại khó khăn chi?” rồi liền dùng y trùm đầu [Thiệu Tín], lấy ra vị thuốc Hợp Hứa Tán cho Thiệu Tín uống, liền khỏi bệnh.

(7) Theo Hưu Ninh Tân Chí, Uông Cư Kính năm lên mười tuổi bị bệnh đậu nguy ngập, thầy lang nói: “Không chữa được!” Anh là Cư Nhân bèn đối trước tượng Đại Sĩ, thắp hương, quỳ niệm thánh hiệu. Cư Kính chợt thấy có người mặc áo trắng cầm phất trần phẩy quanh thân mình, không thuốc thang mà bệnh lành.

Theo Quán Âm Linh Nghiệm Ký, trong lời tựa của Hình Bộ Chủ Sự Lý Ấn Vạn có nói: “Đứa con thơ của tôi mới sanh được sáu tháng, bị bịnh đậu, nhưng đậu mọc ngược [vào trong], không dậy được. Khi ấy, lũ chim sẻ kêu cuồng lên, ta mộng thấy có người bảo: ‘Chim sẻ báo tin vui, ngậm châu trao cho con của ngươi, đừng lo nữa!’ Thức dậy thì đậu đã trổ toàn thân đứa con, nên bèn chế tấm biển có bốn chữ Linh Ứng Hàm Châu để nêu rõ sự gia hộ linh cảm”.

(8) Theo Cảm Ứng Truyện, Trương Khánh đời Tống làm cai ngục, quét dọn nhà giam sạch sẽ. Trong những tháng nắng càng siêng năng [dọn dẹp], thức ăn, thức uống, thuốc men, đồ trải nằm càng thêm sạch sẽ. Ông thường trì kinh Pháp Hoa, hễ thấy tù nhân bị xử tử ắt sẽ ăn chay, tụng kinh cho người ấy một tháng. Vợ là Viên Thị, bị nhiễm bệnh dịch chết, ba ngày sau sống lại, nói: “Thoạt đầu, tôi tới một chỗ dơ bẩn, chợt thấy Bạch Y Đại Sĩ bảo: ‘Chồng bà nhiều âm đức, con cháu ắt hưng vượng, nay còn chưa có con nối dõi’, bèn nắm tay tôi dẫn ra, tôi liền tỉnh lại”.

Lại nữa, Phan Loan Pha ở Ngô Giang, thành kính tụng Cao Vương Kinh, vợ là Vương Thị bị bệnh nguy ngập, chồng tụng kinh ấy ngàn biến, vợ liền được lành bệnh. Không lâu sau, bà ta bị sản hậu, do kiền thành cầu nguyện mà được khỏi bệnh.

Theo Trì Nghiệm Ký, vợ ông Đào Hành Phong là Tống Thị sùng phụng Đại Sĩ, tụng trì nghiêm tịnh. Năm ông Hành Phong tám mươi mốt tuổi bị bệnh nguy ngập. Bà Tống ban đêm cầu đảo Đại Sĩ, nguyện giảm tuổi thọ một kỷ để tăng thọ cho chồng, bệnh liền lành, mười hai năm sau, Hành Phong mới mất.

Theo Kính Tín Lục, Đới Nhữ Quỳ bệnh nguy ngập, vợ là Hoàng Thị đã thờ phụng Đại Sĩ từ trước, bèn quỳ tụng Cao Vương Kinh và in biếu một ngàn quyển, chồng được lành bệnh.

(9) Theo Trì Nghiệm Ký, vợ ông Đào Hành Phong là Tống Thị, ngoài bảy mươi mấy tuổi, vùng Giang Nam bị trận dịch lớn. Tống Thị bệnh tình nguy ngập, hoảng hốt ra khỏi cửa, thấy có người bảo: “Ngươi đáng mắc tai kiếp này”. Bà Tống xin gặp Đại Sĩ, liền được dẫn tới một chỗ, bảo: “Đại Sĩ ở trong đó”. Bà Tống liền thấy hai người mặc áo mão theo lối cổ, bèn phủ phục, nghe vị ngồi bên trái nói: “Nếu bà này mắc tai kiếp thì còn ai có lòng tin hướng thiện nữa!” Liền bảo bà ta hãy trở về. Giật mình tỉnh giấc thì đã hết bệnh, chỉ có xương cổ là còn đau. Một đêm mộng thấy có người cầm đồ đựng búp trà, bảo: “Vâng theo lệnh Đại Sĩ, chữa xương cổ cho nhà ngươi. Hãy uống thứ này sẽ lành bệnh”. Uống vào thấy ngon ngọt, cổ liền lành.

Theo Từ Thị Đình Huấn, đời Minh, Từ Minh Phủ chăm học siêng hành, lễ Đại Sĩ cực kiền thành, con là Khoáng lúc bé mắc bệnh nguy ngập, vợ chồng sáng tối lễ bái, cầu khẩn. Đến ngày thứ bảy, mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Đừng lo, ngày mai con các ngươi sẽ ngồi dậy được”. Chợt có âm thanh khiến cho cái kỷ thờ bị rung động, những thứ vật cúng đặt trên đĩa đựng trái cây đều rơi xuống đất, nhưng không bị hư hỏng gì. Đứa con lẩm bẩm: “Bồ Tát cứu con”. Vặn hỏi thì nó nói: “Đang trong lúc con ngất đi, Bồ Tát đến bảo: ‘Ta cứu ngươi’, trao cho một lọ nước bảo uống. Vị nước trong mát thấu tận xương, khắp thân toát mồ hôi bèn lành bệnh”. Sau này, Khoáng đỗ Tiến Sĩ dưới thời Vạn Lịch.

Theo Linh Nghiệm Ký, trong niên hiệu Thuần Hy đời Tống, Tuần Kiểm[6] xứ Nhiêu Châu là La Sanh tránh nạn lụt nên đến ở nhờ nhà Vương Tú Tài. Có đứa tớ gái bị lòa đã lâu lại còn bị đau đớn, mộng thấy có vị Tăng đem lọ nước cho uống, hai mắt sáng lại. Hỏi: ‘Thầy là người ở đâu?’ Đáp: ‘Ta ở trong nhà ngươi đã lâu! Nghe ngươi kêu khổ, lòng thương xót nên cứu giúp’. Sáng hôm sau, mắt người tớ gái sáng ngời, mà cũng hết đau đớn. Kể lại duyên cớ, mẹ ông Vương nói: “Đấy là Đại Sĩ! Nhà ta kính thờ Ngài mấy năm, linh ứng như tiếng vang”.

Đời Tống, Thị Lang Biên Tri Bạch đi đường bị cảm nắng, mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ dùng nước rửa, từ đảnh đầu tới gót chân mát rượi; do vậy bèn soạn Cảm Ứng Tập.

Theo Đậu Liệu Định Luận, đời Tống, các con ông Vương Đán đều bị bịnh đậu chết, đứa con út vừa sanh liền bị bệnh đậu. Có người tiến cử thần y có thể chủng ngừa bệnh đậu. Thần y là một bà cụ, ngay từ bé đã trường trai niệm Phật, vân du đến Nga Mi, có ba nữ đệ tử, họ bèn thay mặt bà cụ chủng đậu cho con ông Đán, [nhờ đó, con ông Đán tuy lên đậu nhưng] không sao cả. Ông Đán bèn đem vàng, lụa tạ ơn, bà cụ nói: “Ta là người tu hành, không cần những thứ này! Nếu ông trong là khen ngợi đức hạnh của chủ, ngoài là làm gương cho đồng liêu, giữ gìn bờ cõi khiến đạt đến thái bình thì ta chịu ơn ông nhiều lắm”. Bà cụ bèn trở về Nga Mi. Sau đấy, bà cụ nói với ba người đệ tử: “Ta là từ bi Quán Thế Âm, nhằm chăm nom cho trẻ thơ trong thiên hạ không bị chết yểu, nên truyền dạy pháp để hóa độ”. Xét ra, núi Nga My theo tương truyền chính là Quang Minh Sơn trong kinh Hoa Nghiêm.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Hồ Đức Xương kính phụng Tam Bảo từ trước, hiếu thảo với cha mẹ, phóng sanh, nằm mộng thấy thần ban cho đứa con họ Đào, nên đặt tên cho con là Kế Đào. Đứa con bị bệnh đậu đã nguy ngập, [vợ chồng ông Hồ] ấn tống Quán Âm Kinh một ngàn quyển, con liền lành bệnh.

Theo Quán Âm Linh Nghiệm Ký, vào đời Thanh, Dương Bái Luân, trong niên hiệu Càn Long, đứa con bị bệnh đậu nguy ngập. Bà vợ thắp hương, tụng kinh, tiếp đó khóc lóc, mộng thấy bà cụ áo trắng vào phòng vén màn, tay trái cầm cái thưng, tay phải cầm cái chổi nhỏ, hướng về phía đầu, mặt, ngực, bụng đứa con, quét đậu vào thưng. Quét xong, bảo: “Đứa nhỏ không còn đáng lo nữa”, bà Dương bèn ngủ thiếp đi. Đứa con liền khỏi bệnh đậu.

Theo Kính Tín Lục, Đới Nhữ Quỳ, vợ là Hoàng Thị, con lên đậu gần chết, đích thân thấy Đại Sĩ thổi hơi vào thóp (mỏ ác) ba lượt, bệnh liền nhẹ đi rồi lành hẳn.

Theo Cao Vương Chứng Nghiệm, trong niên hiệu Càn Long nhà Thanh, con ông Lý Thái lên đậu, sắp nguy hiểm tới tánh mạng, ông bèn cực lực cầu đảo Đại Sĩ, nguyện thí một trăm quyển kinh, con liền được sống sót.

Theo Nam Hải Từ Hàng, hai đứa con quan Ngự Sử Châu Hoa Khanh đều bị bệnh đậu nguy ngập. Ông bà nội đau đớn khóc lóc, bảo nếu cháu chết sẽ chết theo. Đến đêm, ông Châu mộng thấy một vị Tăng bảo: “In tặng một tạng kinh Quán Âm sẽ bảo đảm không sao!” Liền phát thệ sửa lỗi, làm lành, khắc kinh in tặng, cả hai cháu đều khỏi bệnh đậu, về sau cùng đỗ đạt.

Con gái bé của ông Chương Tông Triều ở Cối Kê bị mắc bệnh đậu đã tới lúc nguy ngập, lập đàn tụng Đại Bi Chú mấy ngàn lượt, bé không sao cả.

(10) Sách Ngụy Tử[7] có câu: “Đợi Biển Thước[8] đến trị bệnh, suốt đời chẳng lành. Dùng đạo thuật thì không gì chẳng trị được”. Theo Nạn Kinh[9], nhìn mà biết thì gọi là Thần, nghe mà biết thì gọi là Thánh, hỏi mà biết thì gọi là Công, chẩn mạch mà biết thì gọi là Xảo.

Theo Quán Âm Kinh Linh Nghiệm, trong thời Thuận Trị nhà Thanh, Châu Sĩ Nguyên bị bệnh nguy cấp, mộng thấy một vị Tăng cầm quyển sách chỉ dạy: “Đây là chân kinh của Bạch Y Đại Sĩ. Nếu kiền thành tụng sẽ trừ được bệnh. Nếu khắc in lại càng tăng tuổi thọ”. Liền cho khắc in biếu tặng rộng rãi, bệnh lập tức lành.

Đời Thanh, ông Phố X... nhiễm bệnh thời khí sắp nguy đến tánh mạng, hứa in bốn trăm quyển Quán Âm Kinh, ngày hôm sau lành bệnh.

Vợ ông Cừu Tấn là Mậu Thị, sau khi có thai, mộng thấy đến một nơi, trên đầu cửa đề “Hồng Y Thất”. Bên trong treo quần áo bằng giấy đỏ và một cỗ quan tài trống. Người bên cạnh bảo: “Những thứ này dành cho sản phụ”, bà Mậu hoảng sợ tỉnh dậy, bèn in tặng một ngàn quyển Quán Âm Kinh. Về sau, sanh con gái bình yên, tốt lành, ông Tấn càng thêm tin tưởng, ngưỡng mộ.

Theo Bạch Y Kinh Ứng Nghiệm, trong niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh, con dâu ông Uông Phác Trai là Trần Thị bị sản hậu băng huyết, tình thế rất nguy ngập; do nhà nghèo, bèn hứa in Bạch Y Kinh, Cao Vương Kinh mỗi thứ một trăm quyển, liền lành bệnh.

Tạ Trọng Hoa tuổi đã già chỉ có một gái, nó bị nhiễm bệnh dịch rất nguy ngập. Ông Tạ cầu đảo Đại Sĩ, in tặng một ngàn quyển Quán Âm Kinh, con gái lành bệnh ngay trong hôm ấy.

Theo Kính Tín Lục, vào đời Thanh, Ngô Thiện Đường ở Hưu Ninh trong niên hiệu Càn Long bị bệnh nằm li bì, thầy thuốc đều từ chối không chữa được. Trong lúc mê mệt, vẫn thầm cầu nguyện Đại Sĩ, hứa in tặng Cao Vương Kinh một tạng, bệnh liền giảm. Thầy thuốc đến khám bệnh nói: “Bệnh chuyển biến rồi”, ông lành bệnh mau chóng.

Thái Thú đất Tương Dương là Trương Dung bị bệnh hàn, bủn rủn không dậy được, lập nguyện tụng Cao Vương Kinh trong một thời gian dài, liền lành bệnh.

Cấp Gián Trần Trung Phù làm quan coi thi ở Điền Nam, bị trúng nắng ngã bệnh, gần chết. Thề nguyện tụng Cao Vương Kinh và lưu truyền rộng rãi, không lâu sau lành bệnh.

Vào niên hiện Càn Long đời Thanh, Hà Thế Kiệt ở Sơn Âm bị trúng độc, bà mẹ hứa tụng một ngàn biến Cao Vương Kinh, in một ngàn hai trăm quyển, mấy ngày sau, bệnh cũ dây dưa hoàn toàn khỏi hẳn.

Uông Trân Bính ở An Huy bệnh đã lâu không lành, kiền thành phát tâm tặng năm trăm quyển Cao Vương Kinh, liền lành.

Vào đời Thanh, Thí Đình Phương ở Lâu Huyện, trong niên hiệu Càn Long mắc bệnh, mỗi đêm lúc đi ngủ, ngực đau không thể ngủ được. Hứa tụng Cao Vương Kinh một tạng, biếu tặng một ngàn quyển, liền hết bệnh.

Trình Nghi Hiến ở Thái Cốc mắc bệnh thương hàn đã hơn hai tháng, bỗng nhiên bị thêm thủy tả[10], đã ba lần bị tắt hơi. Người nhà thay ông ta lạy Đại Sĩ, hứa in một ngàn quyển Quán Âm Kinh, chưa đầy một hôm đã khỏi.

Ngô Thủ Phương ở Thái Hưng bị bệnh máu, phát tâm vẽ tượng Đại Sĩ, in một ngàn hai trăm quyển Bạch Y Thần Chú, liền khỏi bệnh.

Theo Giản Nam Cư Sĩ Tự Ký, trong đời Thanh, dưới triều vua Càn Long, vợ ông Giản bệnh nguy cấp, thuốc men vô hiệu. Ông bèn vì vợ tụng Cao Vương Kinh và nguyện in kinh lưu truyền trong cõi đời, bệnh giảm nhanh chóng.

Đời Thanh, vào năm Đạo Quang thứ ba (1823), ông Phó Húc Giai ở Lâm Xuyên bị bỏng vì thuốc nổ, thuốc thang không chữa được, bèn phát tâm ăn chay, tụng Cao Vương Kinh, trong một tháng liền dần dần khỏi bệnh. Cháu nội ông ta ngã bệnh, chẳng biết là bệnh ở chỗ nào, bèn cầu đảo Đại Sĩ, mới biết là chân nổi nhọt đầu đinh, đắp thuốc liền lành.

Trương Học Tảo ở Lâm Xuyên, tự chép: “Con gái tôi lên đậu, thổ tả (ói mửa, tiêu chảy) không ngừng, tánh mạng đếm từng hơi thở. Mẹ nó bèn quỳ cầu nguyện Đại Sĩ, tụng chú Quán Âm, và hứa in một trăm bộ Quán Âm Kinh. Ngày hôm sau liền lành bệnh”.

Trương Chánh Tâm năm hai mươi tuổi, nổi ung nhọt lạ, tính mạng mất còn trong sớm tối, bèn phát tâm làm lành, kiền thành tụng Cao Vương Kinh một ngàn biến, được lành bệnh, thọ chín mươi sáu tuổi.

Càn Đột bị bệnh thủy thũng[11], chữa trị trăm cách vô hiệu, muốn trì Cao Vương Kinh nhưng bệnh nặng quá không thể đọc được. Đêm mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Chẳng đọc được thì in tặng, công đức cũng chẳng nhỏ”. Ngày hôm sau liền hứa nguyện, chưa được một tháng đã hết bệnh.

Ông Phố X... trong đời Thanh do vợ sanh nở lâm nguy, thệ nguyện in năm trăm quyển Quán Âm Kinh, mẹ con bình yên. Bản in ấy còn giữ tại miếu Huyền Đế[12] ở trấn Tân Hưng.

Theo Trầm Đỉnh Nam Hải Ký, vợ góa ông X... ở Đông Việt ăn chay, niệm Phật, ham làm lành, thích bố thí. Con dâu sanh nở khó khăn, Đại Sĩ hiện thân lão ni, trao cho phù chú, chẳng những dễ sanh mà còn chuyển nữ thành nam, nhưng Bồ Tát răn kiêng thịt những loài trâu, chó, cá chạch, tôm, ếch, chim chóc v.v... và thường niệm Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quán Tự Tại Vương Phật, hoặc Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát. Lại dặn: “Phù chú này chẳng chỉ trị sản phụ [sanh khó] mà còn trị được hết thảy ác chứng. Phàm những loại bệnh chứng kỳ quái, hãy viết phù chú này, dùng mộc hương, thù du, hết thảy loại nước thơm để nuốt, thì không gì chẳng được lành”. Năm ấy, con dâu sanh, mẹ con vuông tròn. Đem truyền [phù chú] cho mọi người đều ứng nghiệm.

Theo sách Dậu Dương Tạp Trở, đời Đường, tại chùa Vân Hoa ở Trường An có Quán Âm Đường. Cuối niên hiệu Đại Trung, Khuất Nham bị ghẻ độc, chết ngất, mộng thấy Bồ Tát xoa lên chỗ ghẻ bảo: “Ta ở Vân Hoa Tự”. Ông Nham giật mình tỉnh dậy, vết ghẻ đã lành. Đến chùa thấy tượng Đại Sĩ giống hệt như chính mình đã thấy [trong giấc mộng].

Theo Khuyến Giới Loại Sao, trong niên hiệu Khang Hy nhà Thanh, Tưởng Thị ở Ngô Môn bị ung loét ở eo, chết ngất một đêm, bỗng thấy một bà cụ nói: “Ngươi hãy kiền thành tụng chú Bạch Y Đại Sĩ một vạn hai ngàn biến, khắc in, đem thí rộng rãi, bệnh sẽ lành”. Họ Tưởng lạy vâng lời, tỉnh giấc, bèn kiền thành tụng đủ số, liền lành bệnh.

Theo Kính Tín Lục, Vương Trác Nhiên làm quan võ đứng đầu xứ Thuần Hóa, bị bệnh bao tử đã bốn năm. Hằng ngày, ông Vương tụng Cao Vương Kinh và in tặng một ngàn quyển, bèn ói ra hơn một đấu huyết đã tích tụ rồi lành bệnh.

Tống Bang Bảo ở Việt Tây bị bệnh trĩ, in tặng Cao Vương Kinh năm trăm quyển, liền hết bệnh trĩ.

Vợ ông Hầu Thuần Hiếu ở Phần Dương bị mất trí đã hai năm. Chính ông ta lại bị bệnh mắt, cầu đảo Đại Sĩ, hứa in một trăm cuốn Quán Âm Kinh, hai vợ chồng đều lành.

Theo Báo Ứng Lục, đời Đường, Ngô X... làm lính đi đánh dân thiểu số, nấu con rùa trắng ăn, bị mọc ghẻ lở loét, rụng lông mày, ngón chân, ngón tay đều rụng, đi ăn xin ở chợ An Nam. Có vị Tăng bảo: “Nếu ngươi niệm Quán Âm Đại Bi Chân Ngôn ắt sẽ được thiện báo” rồi truyền dạy [chú Đại Bi]. Người lính ấy nhất tâm niệm tụng, vết thương dần dần lành, ngón chân, ngón tay lại mọc ra, bèn [xuất gia] làm tăng, hiệu là Trí Ích. A Già Đà (Agada) là tên một món thuốc ở phương Tây có thể trị hết thảy bệnh.

Sách Quốc Sử chép thêm rằng: Vương Ngạn Bá tự khoe y thuật rất giỏi, bày ba bốn cái lò, nấu thuốc khắp sân, già trẻ đứng chật cổng để thỉnh. Ngạn Bá chỉ trỏ: “Người bệnh nhiệt uống loại này, người bệnh hàn uống loại kia, người bệnh phong uống loại đó, người bệnh khí uống loại nọ”, không gì chẳng hiệu nghiệm.

Theo Bạch Y Kinh Ứng Nghiệm, vợ ông Tôn Lâm ở Trường Sa bị sản nạn, sanh con phần nhiều không nuôi được, kiền thành tụng Bạch Y Kinh. Về sau, trong đêm lâm bồn, mộng thấy Đại Sĩ trao cho viên thuốc hồng bảo nuốt, nói: “Khỏi tai ách sanh nở, mẹ con đều yên ổn”. Liền khắc kinh để rộng thí.

Theo Linh Nghiệm Ký, vào đời Tống, tượng Đại Sĩ ở chùa An Quốc tại Nhiêu Châu linh thiêng nhất. Trong niên hiệu Khánh Nguyên, vợ ông Hứa Hồi là Tôn Thị mắc sản nạn, thầm cầu đảo Quán Âm, sai con đem một chén dầu thắp đèn [trước tượng ấy]. Trưởng lão Liễu Bái chúc: “Nhà bà vững như tường, dầu tuy ít nhưng tâm chí thành, mong Đại Sĩ từ bi xót thương”. Chúc xong, do mệt mỏi bà Tôn đi nằm, mộng thấy một phụ nữ khoác áo lông trắng ôm một con rồng gỗ sắc vàng trao cho, liền sanh ra con trai, đặt tên là Long.

Theo Tây Phương Công Cứ, cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống mượn bản kinh Di Đà chép tay từ chùa Kim Sơn, muốn giảo chánh, khắc ván theo bản đó để lưu truyền rộng rãi. Ngón tay bên phải chợt rung, viết chữ bất tiện, bèn giơ ngón tay niệm A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu xin hết bệnh phong hòng thành tựu tâm nguyện. Cầu nguyện xong, ngón tay liền không rung nữa, liền ngộ Phật, Bồ Tát ở ngay trước mắt, chỉ vì lòng tin của người đời không chân thật mà thôi!

(11) Trong lời tựa cho bộ Nam Hải Từ Hàng, Trữ Cảnh Hiền viết: “Hiền trước đây thường nghĩ tụng kinh được phước là chuyện bịa. Cưới vợ tám năm, không sanh nở. Bố vợ bảo in kinh Quán Âm, trì Quán Âm Trai thường được ứng nghiệm rõ rệt. Vợ tôi vâng lời làm theo, nằm mộng thấy điềm lành. Lúc sắp sanh, lại mộng thấy có bà cụ trao cho đứa con, bèn đặt tên cho nó là Tích. Đến khi sanh, do phù hợp với giấc mộng, bèn đặt tên như vậy, tôi vẫn cười cợt, chẳng tin. Về sau trong khi bệnh tật nguy nan, thường thấy sự linh dị, nên nửa tin nửa ngờ.

Sau đấy, đứa con thứ bị bệnh thổ tả, không có cơ hội sống sót, tôi đau xót cầu đảo Đại Sĩ, thề biên tập bộ Nam Hải Từ Hàng, sửa lỗi, làm lành. Vừa mới cầu đảo, bệnh thổ tả dứt ngay lập tức, con có thể bú sữa được. Lạ nhất là vợ tôi vốn thiếu sữa, lại thêm lo lắng vì con bệnh, bỏ ăn bỏ ngủ mấy ngày, sữa không có được nửa giọt. Sau khi cầu đảo, sữa chợt vọt ra. Tôi tự nghĩ mình đức bạc, rốt cuộc là do mang ý niệm khuyến hóa rộng rãi nên Đại Sĩ động lòng xót thương. Tụng kinh được phước, rành rành chẳng dối! Do vậy, bèn ghi lại để trình lên độc giả”.

Con ông Từ Lai Thái ở Đô Xương bị bệnh ngặt nghèo, có người khuyên hãy tụng Quán Âm Kinh, ông Từ bảo: “Thường ngày chưa thể tích lũy âm đức rộng rãi, đến lúc ngặt mới cầu Phật, làm sao ứng được?” Tiếp đó, do người ấy vẫn cực lực khuyên nhủ, bèn phát nguyện suốt đời trì tụng, in kinh một ngàn quyển, con dần dần lành bệnh.



1. Chắc vì bệnh chưa đến nỗi chết, chỉ đành sót tiếng gièm chê căn khuyết, nhưng chưa khỏi tự tổn thương, tàn phế, ắt phải nuôi dưỡng con người.

2. Tụng câu kệ của Xử Thao, mắt lại được sáng; truyền già-đà nơi Hoài Điện, chân lại vững vàng.

3. Truyền nuốt mắt dê, liền chiêm ngưỡng đóa sen tươi. Tự đếm hoa tay, thỏa lòng già khi xế bóng.

4. Mở am Tồn Tế, ghi chuyện linh ứng Dương Châu. Tăng hiệu Bán Nhai, bàn luận mãi sự hay Sơn Tả.

5. Thần cao tục đoạn, kham chữa tổn thương do thầy thuốc gây nên. Cam lộ chạm mắt, cứu chữa nạn tai do quỷ sứ trừng phạt.

6. Thị dân gãy chân, may được truyền cách chữa lành xương. Cụ Hạ đứt tay, ý nghĩa kiếm Hàm Quang chợt hiểu.

7. Nước suối Triều Âm, được mang hiệu Quang Minh. Nhật tinh ma-ni, thuận lòng người quán tưởng.

8. Than ôi! Chín lần gãy, thành nghề y, vẫn thiếu tài y thuật Hoa Đà. Nhất tâm xưng niệm tên ta, may mắn còn lưu danh Huệ Tập.

9. Tuy lòa điếc, què quặt, túc nghiệp vốn đã nặng sâu, nhưng diệt ác, thỏa cầu, bi tâm đáng nơi nương cậy.

10. Cẩn thận, đừng trả bài cho xong chuyện, oán kinh chẳng linh, lại chẳng ngã mạn, kiêu căng, lâm nguy bất biến. Đấy là sự cứu khổ thứ sáu của Đại Sĩ vậy (đoạn này kiêm ca tụng cả sự chữa lành cho người bị bệnh tật tàn phế).




(1) Sách Tả Truyện có câu: “Bệnh vị cập tử, ngô tử miễn chi” (Bệnh chưa đến chết thì ta còn phải cố gắng). Vãng Sanh Luận: “Cõi thiện căn Đại Thừa, trọn không tên gièm báng, nữ nhân và căn khuyết, giống Nhị Thừa chẳng sanh”.

Lễ Ký: “Kẻ bệnh tật tàn phế không được nuôi dưỡng là do một người (tức hoàng đế) chẳng noi theo lẽ chánh”.

Quản Tử: “Nước nào cũng đều nuôi người tàn tật. Điếc, mù, câm, ngọng, thọt chân, khô đét là những kẻ chẳng thể tự sống thì nhà cầm quyền sẽ nhận về, nuôi dưỡng. Bộ Hộ ra lệnh: một là mù mắt, hai là tai điếc, thiếu ngón, bị phù thũng thì là tàn tật; còn những kẻ si khờ, câm, mất một chi là phế tật”.

(2) Theo sách Đồ Thuyết, Tăng Xứ Thao người Thai Châu, mắc bệnh mắt, thường tụng chú Đại Bi, mộng thấy Đại Sĩ truyền dạy bài kệ, mỗi sáng lấy một chén nước sạch, niệm bảy biến [rồi dùng nước ấy] để rửa mắt, không ai chẳng được lành. Kệ rằng: “Cứu khổ Quán Thế Âm, cho con đại an lạc, và ban đại phương tiện, diệt trừ ngu si ám, Hiền kiếp các chướng ngại, các tội ác vô minh, ra khỏi nhà tăm tối, khiến con thấy ánh sáng. Tôi nay nói cách rửa, sám hối, gỡ tội mắt, khắp phóng quang minh sạch, nguyện thấy tướng vi diệu”. [Bài kệ này được] truyền tụng, [những người làm theo] phần nhiều đều linh nghiệm.

Theo Thiện Dư Đường Bút Thừa, đời Tống, Trương Hiếu Thuần có đứa cháu nội năm tuổi không đi được, nghe có người kể chuyện một nông phu ở Hoài Điện có tật ở chân đã lâu, chỉ trì danh hiệu Quán Âm cảm được Đại Sĩ dạy bốn câu kệ: “Đại trí phát từ tâm, trong tâm vô sở ngại, thành tựu nhất thiết nghĩa, không xưa cũng chẳng nay”. Nông phu tụng bài kệ này một trăm ngày bèn lành bệnh. Hiếu Thuần liền dạy cháu nội và nhũ mẫu hãy trai giới trì tụng. Quả nhiên, ba tháng sau, cháu bước đi như thường. Phàm trẻ nhỏ bị bệnh nơi chân, hễ tụng bài kệ ấy đều lành.

Theo Tăng Bảo Truyện, sư Tự Nghiêm đời Tống do có một sa-di tánh tình cẩn thận nhưng ngu độn, liền viết bốn câu kệ này bảo [sa-di] hãy tụng. Thế là đối với câu chữ thế gian, chú sa-di ấy đều có thể nói được. Tự Nghiêm còn có hiệu là Bạch Y Bồ Tát; do vậy biết bốn câu kệ này chẳng phải chỉ trị lành bệnh chân mà còn có thể tăng trí huệ.

(3) Theo Duyện Châu Chí, đời Trần, Dương Sanh Hoa ở Ích Tu do thấy bọn Hồi Hồi muốn phá miếu Quan Đế để vun vén cho Thanh Chân Tự[13] của bọn chúng, bèn đi thưa, khiến cho việc ấy phải đình lại. Về sau, gặp lúc giặc khởi loạn, Sanh Hoa bị chết giữa đường, lại còn bị khoét hai mắt. Hồn thấy Quan Đế an ủi rằng: “Ta vốn chẳng ở nơi miếu ấy, hiềm rằng ngươi do hảo tâm mà mất mạng, ta sẽ thỉnh Quán Âm Đại Sĩ đến ban mắt cho ngươi”. Liền bay lên không trung, nhìn lại, thấy Đại Sĩ mặc áo trắng, trọn đủ tướng hảo vô cùng. Quan Đế thay Hoa Sanh xin Bồ Tát hãy ban cho mắt. Đại Sĩ liền hướng trên không hô một tiếng, liền thấy đồng tử xách giỏ đậy bằng hoa sen tới. Mở ra thì thấy toàn là tròng mắt dê. Bồ Tát bèn nhặt lấy hai tròng, ban cho, bảo nuốt. Hai mắt sáng lại. Quan Đế bảo: “Không lâu nữa đại binh sẽ kéo tới, đối với bọn này thì không gì có thể sống sót được. Sau năm tới, ngươi sẽ được tin chiến thắng”, bèn tỉnh lại. Quả nhiên về sau đều ứng nghiệm.

Theo Trì Nghiệm Ký, Đinh Truyền người đời Thanh cho biết: “Bà nội hai mắt mất ánh sáng đã hai mươi năm, vào thời Càn Long, ngẫu nhiên bảo tôi: ‘Chỉ mong mắt thấy được một tấc ánh sáng thì ý nguyện tuổi bóng dâu xế chiều đã được thỏa’. Truyền thưa: ‘Chuyên tụng thánh hiệu Quán Âm thì mắt sẽ sáng lại’. Đấy cũng là lời an ủi nỗi u uất của cụ mà thôi. Bà nội tin là thật, ngày đêm niệm tụng không ngớt. Chưa đầy một tháng, một mắt chợt sáng, tự đếm được hoa tay. Lại bảo người nhà họp lại cho cụ nhìn, bảo khi vợ của hai đứa cháu nội được cưới về, cụ trọn chẳng biết mặt, nay cũng thấy mặt đứa chắt, nếu không nhờ Phật lực sẽ chẳng thể nào được như vậy. Do vậy, tôi ghi thêm chuyện này sau sách Tây Phương Công Cứ để giúp chứng tín”.

(4) Theo Giác Thế Kinh Thuyết Chứng, ở Dương Châu có một người bại liệt đã mấy chục năm. Một hôm, mò được một tượng Quán Âm bằng sành trong ao, đem thờ trong nhà, lễ bái suốt năm năm, mộng thấy một bà cụ xoa bóp thân thể, bảo hãy đứng dậy. Người ấy thưa: “Con làm sao đứng dậy được?” Bà cụ bảo: “Nay có thể đi được rồi đấy!” Lúc tỉnh giấc bèn đi đứng như thường. Mẹ quan huyện lệnh Giang Đô bèn tặng tiền xây cất Tồn Tế Am, hiện đang thờ tượng Đại Sĩ trong ấy.

Theo Kỷ Cầu Thư, trong niên hiệu Sùng Trinh đời Minh, trên đường có một người bại liệt xứ Sơn Đông ăn mày ở chợ, tánh khá nóng nảy. Sư Thủy Cốc khuyên ông ta xuất gia, ông ta bèn ăn chay. Nếu có ai chửi bới, ông ta đều yên lặng nhịn chịu. Ngài Thủy Cốc lại dạy ông ta niệm thánh hiệu Đại Sĩ và chú Chuẩn Đề. Thọ trì hai năm, mộng thấy một bà cụ hô “đứng dậy” và túm lấy hai chân ông ta, chân liền thẳng ra, không quặp nữa. Sáng dậy, nghiễm nhiên là một vị Đầu Đà đĩnh đạc, hiệu là Bán Nhai.

(5) Theo Hải Nam Nhất Chước, mẹ ông Đới Hồng Trạch ở Vụ Nguyên lễ kính Đại Sĩ, thường chế cao cứu khổ để tặng cho người khác. Trong niên hiệu Đạo Quang, đứa cháu họ bên nội lên đậu, bị biến chứng, mắt trái đã lòa. Mẹ nó mộng thấy một bà lão, bảo: “Ta là Quán Âm ở tại nhà Hồng Trạch đã ba năm. Ngươi hãy nên qua đấy xin thần cao, dán vào huyệt Thái Dương bên trái”. Bà mẹ tỉnh giấc, đi ngay. Thầy thuốc chê là chuyện bịa đặt, dùng lửa đèn để trị con mắt lòa [của đứa bé], đến nỗi tròng mắt nó lọt ra, chỉ còn dính những sợi gân nên chưa rớt hẳn, [thầy thuốc] bèn trốn mất. Mẹ nó cầu khẩn Đại Sĩ, niệm Tâm Kinh hai ngàn biến rồi dán thuốc cao, tròng mắt trái từ từ thụt vào, mắt lòa lại được sáng, bệnh đậu cũng lành.

Đời Minh, Vương Lập Cốc tự ghi lại bài ký về chuyện sống lại như sau: “Tôi mộng thấy cha tôi là quan Trung Thừa [Vương] Sĩ Tánh khuyên: ‘Trong mười năm, ngươi phải chết năm lượt, hãy nên vun trồng đức để diệt tai nạn’. Do vậy, lập thệ ăn chay, trì giới kiêng giết, trộm, dâm, dối. Về sau, làm huyện lệnh Tân Cam, bèn thôi không giữ những điều ấy. Sau đấy, tôi lên miền Bắc chầu vua, một đêm, đang ngồi thuyền, bị người áo xanh bắt đi. Vua cõi âm quở mắng: ‘Mạng ngươi kể như đã hết từ lâu, được kéo dài đến nay là nhờ vào sức trai giới, cớ sao lại bỏ?’ Vua sai tống tôi vào ngục. Người ngồi bên trái xin vua hãy xét sổ sách ghi chép những chuyện tôi đã làm sau khi phá giới, thì chuyện của mỗi ngày đều được ghi rõ trong từng thẻ riêng, và những giấy tờ tôi ngẫu nhiên viết lách cũng đều giữ đủ cả. Trên mỗi thứ đều có hơi bốc lên ngùn ngụt, xanh, trắng, đỏ, đen khác nhau. [Các viên nha lại trong cõi âm] bèn dựa theo màu sắc để kiểm thì với sắc đỏ, rực rỡ nhất là đã khắc Kim Cang Kinh, Hiếu Sanh Thiên. Vẻ mặt vua hơi dịu đi, phán: ‘Có thể giữ nguyên tánh mạng, nhưng phải khoét mắt để trừng phạt’, bèn sai người khoét mắt, rồi tôi tỉnh lại, thấy người nhà vây quanh khóc lóc, bảo đã đổ thuốc bảy lượt rồi. Đêm hôm ấy, lại mộng thấy quỷ đóng đinh vào mắt, liền lòa. Do vậy, bèn bỏ nhà, tu Tịnh nghiệp, lễ sám ở U Khê, mộng thấy Đại Sĩ dùng cành dương rẩy cam lộ vào mắt. Sáng dậy, hai mắt sáng lại, sống được 12 năm nữa, hiệu là Bích Như”.

(6) Theo Nam Hải Từ Hàng, một thị dân[14] tụng Quán Âm Kinh hết sức kiền thành. Đi đường bị gãy một chân, đau buồn kêu tên Bồ Tát không ngừng; mộng thấy một vị Tăng truyền cho toa thuốc: Dùng bột đậu xanh, sao trong cái ấm mới cho đến khi bột đậu ngả sang màu tía, hòa với nước giếng, bọc giấy cho dày để bó [bột ấy] vào chân, dùng gỗ Sam[15] nẹp cứng, rất thần hiệu!

Theo Cảm Ứng Linh Nghiệm Ký, đời Thanh, Hạ Chi Hoàng kể chuyện ông cố của ông ta, vào cuối đời Minh gặp nhằm bọn cướp, bị chúng chặt đứt tay trái nhưng chẳng biết đau khổ, chỉ kinh hoảng bất tỉnh nhân sự. Sau đấy, về đến nhà, tay liền lành lặn như cũ. Người ta kinh ngạc hỏi han, nói là do tụng Cao Vương Kinh, đến già không suy yếu. Ai nấy đều khen là được Bồ Tát rủ lòng gia hộ.

Sách Liệt Tử có câu: “Hàm Quang chi kiếm, vận chi bất tri hữu; kỳ sở dung, mẫn nhiên vô tế, kinh vật nhi vật bất giác” (Kiếm Hàm Quang, sử dụng mà chẳng biết là có kiếm, nó hòa lẫn với chung quanh chẳng thấy có dấu vết, không ngằn mé, chém qua muôn vật mà muôn vật chẳng hề hay biết).

(7) Theo Phổ Đà Chí, tại động Triều Âm có ao Quang Minh, tức là Huệ Tuyền (suối trí huệ) vậy. Trong niên hiệu Chánh Đức đời Minh, Thái Hậu sai sứ cầu đảo [tại nơi đây], được chữa lành bệnh mắt nên ban cho cái tên ấy.

Mẹ của sư Thích Hữu Nghiêm đời Tống mắc bệnh mắt, đối trước thánh tượng Quán Âm, tưởng nơi tay cầm Nhật Tinh Ma Ni [của tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn], kiền thành trì tụng chân ngôn, mộng thấy Đại Sĩ nâng vầng mặt trời, mắt liền sáng.

(8) Trong Sở Từ[16] có câu: “Cửu chiết tý nhi thành y” (Chín lần gãy tay thành thầy thuốc). Phó Đại Sĩ thường nói: “Huệ Tập là Quán Âm”. Có người teo chân, cho biết đã bị chứng ấy bốn mươi năm, xin chữa trị. Huệ Tập[17] bảo: “Chỉ nhất tâm niệm ta”. Người teo chân nghe theo, trong một thời gian ngắn, bèn có thể đi lại được. Lại có một người điếc, nói đã bị điếc nhiều năm, sư bảo: “Hãy nhất tâm niệm ta”, niệm rồi lại gọi tên, thì ba lần kêu bèn khỏi hẳn. Lại có những người bị bệnh tật đã lâu, bạch lại[18], điên cuồng, sư đều dạy “niệm ta”. Ai niệm cũng đều khỏi bệnh.

(9) Pháp Hoa Kinh: “Tỏa lậu luyến tích, manh lung bối ủ, báng tư kinh cố, hoạch tội như thị” (Lùn, xấu, còng, vẹo. Lòa, điếc, lưng gù, do báng kinh này, mắc tội như thế). Đại Bi Chú Kinh: “Trừ diệt nhất thiết ác nghiệp trọng tội cố, mãn túc nhất thiết chư hy cầu cố” (Do trừ diệt hết thảy tội nặng ác nghiệp, do thỏa mãn trọn đủ hết thảy mong cầu).

(10) Theo Quán Âm Kinh Linh Nghiệm, Giang Lăng Vương đi đường, té xuống vách đá gãy lưng, điều trị mãi chẳng lành. Vương tụng Bạch Y Kinh suốt một năm vẫn chưa lành, nghĩ kinh không ứng nghiệm bèn bỏ dở giữa chừng. Đêm mộng thấy thần quở mắng: “Ngươi tụng kinh coi như trả bài cho xong chuyện, lại ngược ngạo oán kinh chẳng linh ư?” Vương bèn rửa lòng, gột chí, kiền thành tụng niệm. Sau ba tháng, lại mộng thấy vị thần trước kia đưa tay vỗ vào lưng, giật mình tỉnh giấc, lưng đã duỗi thẳng như thường.

Đời Tống, Ngô Khắc Kỷ thường khổ vì bệnh mắt. Nếu có ai khuyên hãy trì thánh hiệu Đại Sĩ bèn nói: “Lâm nguy bất biến mới thật sự là trượng phu”. Có người nói: “Ông chưa đọc sách Phật, sao biết là chẳng bằng Khổng - Mạnh?” Bèn thử làm theo, được lành bệnh, bèn tin Phật sâu đậm.



Ghi thêm: Theo Tuyên Nghiệm Ký, Sử Huề tài học siêu quần, không tin Phật, thường nói: “Phật là vị thần nhỏ nhoi, chẳng đáng để thờ!” Về sau, cả hai chân đều bị co quắp, chẳng bước xuống giường được. Thuốc men, khấn vái vô hiệu. Bạn bè bảo: “Chẳng cậy vào sức đại từ bi, chẳng thể cứu được! Hãy phát tâm tạo tượng Quán Âm, cầu khẩn sẽ ứng nghiệm”. Ông Huề do bệnh nguy ngập, theo đúng lời khuyên tạo tượng. Tượng đúc xong, mộng thấy Đại Sĩ giáng xuống nhà mình, quả nhiên được lành. Do vậy, hối lỗi đã chẳng tin Phật.

Vào đời Tống, vợ của Tri Châu xứ Tùy Châu là Thạch Thị khổ sở vì tay bị đau, thuốc men vô hiệu, phát nguyện tu bổ trọn khắp những tượng Phật, tượng Quán Âm cũ đã bị sứt mẻ, bệnh liền khỏi.

Theo Bạch Y Kinh Cận Nghiệm, mẹ của Sử Tuấn ở Phiêu Dương là Hứa Thị bị bệnh phong, loạng choạng khó đi lại. Ông Tuấn bèn cầu khẩn Đại Sĩ, hứa sẽ rộng thí kinh Bạch Y. Sau một năm, mẹ khỏe mạnh đi lại như thường.

Theo Linh Nghiệm Ký, đời Thanh, Hoa Đình Tướng nói: “Thím tôi là Vương Thị tuổi đã bảy mươi. Trong thời Càn Long, bước lên thuyền, sảy chân ngã xuống sông, xương hai chân đều bị tổn hoại, điều trị không khỏi. Thấy tôi cầu đảo, tụng Cao Vương Kinh được lành bệnh, các cô con dâu của bà ta mỗi người đều kiền thành tụng một ngàn quyển cho mẹ chồng. Chưa đầy năm ngày, cụ liền có thể đi được”.

Lại nói: “Cháu tôi là Tam Anh, làm quan coi ngục, một mắt chợt lồi ra, tối đen không có ánh sáng. Quyến thuộc tụng kinh cho nó, vừa được ba ngàn biến thì mắt lại sáng như cũ”.

Vương X... ở Tuyền Châu mắt gần mù, có vị Tăng khuyên hãy tụng chú Bạch Y một vạn biến, [anh ta làm theo] bèn lành. Về sau, bị vu hãm vào một vụ án nghiêm trọng, do siêng năng trì tụng mà được thoát.

Theo Cư Dị Lục, trong thời Khang Hy nhà Thanh, các học trò ở vùng Bảo Để như Vương Kính Tổ, cả mười bảy người bị mất ánh sáng, kiền thành trì tụng chú Bạch Y. Họ mộng thấy Đại Sĩ dùng kìm nhỏ rút hai sợi gân máu ra, mắt bèn sáng lại, thấy rõ ràng.

Hạ Huấn Tuyên ở Sùng Nhân bị bệnh mắt. Một bữa nọ thấy kinh Quán Âm, bèn trai giới phụng hành. 5 năm sau, mắt lành.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, vào đời Thanh, Phan Loan Pha ở Ngô Giang, trong thời Gia Khánh, té ngựa, gần gãy xương sống, trai giới tụng Cao Vương Kinh một ngàn biến, bình phục như cũ.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 29 Nov 2015, 4:17 PM | Message # 21
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
2.2.2.7. Trừ tà quái



1. Bèn có: Trải y Già Lê nơi Đại Lý, đem thân trấn cõi La Sát. Kết am tranh trên ngọn Nam Đài, hoằng pháp trong hang rồng độc.

2. Nơi quán trọ, Đạo Dung khiến lũ quỷ binh dựa tòa khiếp sợ. Ẩn trong núi, Trí Khải khiến bọn nữ quỷ nắm y hàng phục.

3. Thân hiện lưng trời, cáo chẳng trốn khỏi gia hình. Mộng giáng giữa mây, quỷ mị thảy đều biệt tích.

4. Huyền Trang cầu kinh, chẳng hề bị ác quỷ quấy nhiễu. Vương Kỳ lắm bệnh, nhiều phen trị lũ ma khinh nhờn.

5 Kẻ hầu trao thuốc, bệnh tật lìa thân; bản lãnh thiên sứ, hai trẻ rời nhà.

6. Âm Thiên xe ngựa, khó lên được núi Thái Hoa. Hành Bệnh Quỷ Vương, chẳng vào được nước Kế Tân.

7. Ánh sáng bay ra bắn chết mãng xà, gái đất Việt tài giỏi trở thành vương phi. [Vung gươm] chém rắn chắn lối giữa đường, Lê Thần hào hùng như con trai Xích Đế.

8. Đứa tớ gái Tân Phường tụng kinh siêu độ ma dân. Cô gái vùng Giang Hạ giáng quỷ, được chiêm ngưỡng thánh tượng.

9. Ban vô úy cho ông Lý; trị bệnh cuồng cho cô Triệu.

10. Âu Dương trông thấy quái vật to chạy trốn. Huệ Giản mặc kệ gã đen đúa thử tài.

11. Toan kiếm chác thức ăn, phi đao khó chịu đựng; đưa em gái trở về, bởi thần chú chẳng vừa!

12. Cạnh miếu Tỷ Phảng, gã dân bướng thoát cơn trách phạt. Giữa rừng gai góc, kẻ lạc lối bèn được chỉ đường.

13. Xá Nhân, Gián Nghị, mau trừ yêu quái nơi nhà họ Vương. Uông tử, Trương Thành, cùng thoát khỏi quỷ A Ni.

14. Lệ quỷ từ đầu đến chân toàn là đèn, lui chạy vào nhà dân. Gã khổng lồ áo mão trắng toát, chẳng hại người tin Phật.

15. Đúc đỉnh có hình tượng quái vật, chỉ mong dân khỏi gặp chúng nơi núi đầm; trì chú tụng kinh, tự có thần linh ủng hộ. Đấy là sự cứu khổ thứ bảy của Đại Sĩ vậy.



1. Theo Nhĩ Hải Tùng Đàm, Đại Lý Phủ thoạt đầu là chỗ La Sát chiếm cứ. Đại Sĩ đến ngồi xếp bằng nơi ấy, nay vẫn còn tảng đá Bàn Đà, rồi hướng về La Sát xin một khoảnh đất bằng tấm ca-sa. La Sát bằng lòng. Đại Sĩ liền mở y Tăng-già-lê[19], phủ khắp ngàn dặm. La Sát xin chừa một khoảng đất để nương náu, Bồ Tát bèn chấp thuận cho chúng dời lên sống trên đảnh núi, nay tức là cuộc đất có cái ao Hắc Bạch Nhị Long vậy. Có thuyết nói Đại Sĩ nhốt La Sát trong thạch động.

Theo Nam Ngũ Đài Sơn Thị Tích Ký, vào niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy, trong núi có rồng độc, biến làm đạo sĩ bán thuốc ở kinh đô, [rêu rao ai mua thuốc] uống vào sẽ lập tức bay lên trời. Thật ra, là nó dùng thần thông của loài yêu quái, đem họ bỏ vào trong hang rồng trên núi để ăn thịt. Chợt có một vị Tăng đến đó, kết lều tranh trên đỉnh núi, chế phục thần thông của loài yêu quái, khiến nó ở yên trong hang động, dân được che chở, người theo đạo đông đảo. Sư bèn nhập diệt vào ngày Mười Chín tháng Sáu năm sau. Đến lúc trà-tỳ, phía Đông đỉnh núi hiện ra chiếc cầu vàng, các vị trời đứng thành hàng, âm nhạc, hoa trời, mùi hương lạ sực nức. Trên ngọn Nam Đài trăm thứ báu chói ngời, số lượng nhiều đến nỗi không thể đếm xiết. Giữa làn mây khói, hiện tướng tự tại đoan nghiêm, từ dung xinh đẹp, cao quý, anh lạc, áo châu, chói ngời cả mắt, mới biết là Quán Âm Đại Sĩ thị hiện.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Lương, sư Đạo Dung du hóa vùng Giang Lăng, phá hủy miếu thờ tà thần. Trở về nghỉ tại quán trọ, một đêm Sư thấy quỷ binh rất đông. Một gã mặc giáp, ôm đao, ngồi dựa trên chiếc giường theo kiểu Hồ, quát ngài Đạo Dung: “Ngươi cho là quỷ thần chẳng linh hả? Hãy mau lôi nó xuống đất!” Bọn quỷ sắp nắm lấy tay, ngài Đạo Dung liền thầm niệm Quán Thế Âm. Âm thanh chưa dứt liền thấy một vị thiên tướng cao hơn một trượng dùng kim cang xử gạt ra, bọn quỷ hoảng sợ chạy tứ tán.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Đỗ Trí Khải ẩn cư tại Thái Sơn, trì Quán Âm Kinh không gián đoạn. Trong niên hiệu Trinh Quán, Sư đang bị bệnh nguy ngập, lấy áo ca-sa đắp thân, mơ màng như đang nằm mộng, thấy mấy chục phụ nữ già trẻ đến quấy nhiễu, bảo nhau lôi Trí Khải đi, quăng xuống khe suối phía Bắc. Có kẻ nắm phải tấm y ca-sa, đột nhiên cùng nhau niệm Phật, lui bước sám hối, xin Sư hãy vì họ mà tạo tượng Phật Di Đà, niệm danh hiệu Quán Âm ba ngàn biến. Sư liền tỉnh giấc, toát mồ hôi đầm đìa rồi lành bệnh.

(3) Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, trong niên hiệu Khang Hy đời Thanh, em gái của Trịnh Quốc Tướng huyện Tiền Đường bị hồ ly quấy nhiễu đến nỗi choáng váng, chết ngất. Khi ấy, Quốc Tướng tụng Tâm Kinh, cô ta mới tỉnh. Quốc Tướng liền cầu đảo Đại Sĩ, nguyện thí hai ngàn quyển kinh để trừ yêu quái cứu em gái. Đang trong lúc nguy cấp, Đại Sĩ hiện thân trên không trung, hô: “Nghiệt súc! Sao lại đến nơi này?” Lũ hồ thưa: “Do đói khát nên tới kiếm ăn”. Đại Sĩ đưa tay chỉ, yêu quái bay vọt lên không rồi chẳng thấy nữa. Mọi người nghe mùi hương lạ ngập nhà. Về sau, người em gái mộng thấy có người dùng thương chống vào một cái đầu đầy lông lá, nói: “Phủ của Hồ Tam Giao chân nhân đã bị tru lục rồi!”

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Minh, vợ của Vu Ngọc Bệ ở Tiền Đường bị yêu quái quấy nhiễu đã ba năm. Một đêm, mộng thấy Đại Sĩ giáng xuống, ngự trên đám mây, quang minh chói rực hư không, quỷ mị trốn biệt, bèn lễ Liên Trì đại sư, bệnh trầm kha liền lành.

(4) Theo Đường Tam Tạng Truyện, thoạt đầu, ngài Huyền Trang ở đất Thục (Tứ Xuyên), thấy có một người bệnh, thân lở loét hôi thối, bẩn thỉu, quần áo rách rưới, dơ dáy, Sư thương xót, tặng cho quần áo, thức ăn. Người bệnh dạy cho Sư bài Tâm Kinh. Do vậy, Sư thường tụng đọc. Khi đến Lưu Sa, trên con đường hơn tám trăm dặm, ác quỷ, dị loại vây quanh quấy nhiễu con người. Niệm danh hiệu Quán Âm chẳng đuổi hết được; Sư bèn tụng kinh này, vừa đọc lên, chúng nó tiêu tan hết.

Theo Quảng Dị Ký, đầu niên hiệu Đại Lịch đời Đường, Vương Kỳ thích trì Quán Âm Kinh, nhiều lần bị bệnh nặng, hễ tụng kinh thì không bệnh gì chẳng lành. Thường có loài quỷ kỳ lạ đến quấy nhiễu nhưng chẳng dám xâm phạm, chúng bèn tự tiêu diệt. Chuyện như vậy chẳng thể ghi chép xuể!

(5) Theo Thiên Hậu Chí, trong niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, Lã Đức ra trấn giữ vùng biển, ngã bệnh bèn cầu đảo Thiên Hậu[20]. Mộng thấy một vị nữ thần mặc áo lông biếc, bông tai sáng ngời, bảo đứa hầu cầm hoàn thuốc, sáng lấp lánh như hổ phách trong suốt, bảo: “Uống thuốc này sẽ trừ được bệnh”. Vừa mới qua khỏi cổ, liền tỉnh giấc, mùi hương vẫn chưa tan. Khát nước quá bèn uống vào, liền ói ra hai vật, liền cảm thấy thần khí sảng khoái, bình phục như thường. Về sau, mộng thấy Thiên Hậu bảo: “Đấng từ bi cứu ngươi đêm qua chính là đức từ bi Quán Thế Âm, từ nay hãy nên kính phụng Ngài”. Ông Đức bèn dựng Quán Âm Đường ở Mỵ Dự[21].

Theo Cao Vương Kinh Chứng Nghiệm, vào đời Thanh, Ngô Quốc Nãi ở Sơn Âm thường tụng Cao Vương Kinh. Trong niên hiệu Càn Long, ngẫu nhiên ngủ trưa, chợt thấy hai đứa bé bước vào trong nhà, rồi lại trở ra ngay, bèn hỏi: “Ai đó?” Trên không trung có tiếng đáp: “Là thần gây dịch đậu mùa. Do ông thành kính tụng Quán Âm Kinh nên bọn chúng tránh né”. Không lâu sau đó, con cái của ông Ngô đều lên đậu, nhưng vô sự.

Theo Tống Thư, Tôn Pháp Tông khổ sở vì đau đầu. Ban đêm mộng thấy có nữ nhân đến bảo: “Ta là thiên sứ đến tạ lỗi, bản lãnh vốn chẳng sánh bằng thiện nhân, mà sứ giả cứ tưởng lầm là bằng nhau”. Nhân đấy, trao truyền phương thuốc, ông Tôn liền lành bệnh.

(6) Theo Ký Văn, vào đời Đường, Hàn Quang Tộ [được bổ làm quan ở ngoài kinh đô], dẫn gia đình tới nhiệm sở. Đường đi ngang qua Hoa Sơn, vào miếu lễ bái. Người thiếp yêu quý bị chết đột ngột, bèn vời đồng cốt đến hỏi. Bà đồng nói: “Tam lang muốn cưới người thiếp của ông, nay tuy đã cầu được [tam lang] tha cho [sống lại], nhưng khi đến huyện, rốt cuộc [tam lang] cũng sẽ đoạt lấy”. Quang Tộ đến nhiệm sở, bèn vì người thiếp đúc tượng Quán Âm bằng vàng, cầu thoát nạn. Năm ngày sau, người thiếp lại chết đột ngột cả nửa ngày rồi mới tỉnh lại, kể: “Hoa Sơn phủ quân đã chuẩn bị xe ngựa đến đón. Ra khỏi cửa, thấy một vị tăng sắc vàng ròng chặn đằng trước, kỵ binh sợ hãi, chạy tán loạn”. Ông Tộ do vậy càng thêm tin vào nội giáo[22].

Theo thiên Xiển Vi trong sách Chân Cáo[23], trong số cung điện quỷ thần ở núi La Phong, cung thứ nhất có tên là Trụ Tuyệt Âm Thiên. Phàm những người mới chết đều đến cung này để chịu phán định.

Vị tăng nước Kế Tân[24] là Chân Đế[25] tụng chú Đại Bi khiến cho bệnh dịch trong cả nước đều tiêu tan, Hành Bệnh quỷ vương phải bỏ ra khỏi nước ấy.

(7) Theo Đàm Tẩu, đời Tống, Lại Tỉnh Can dùng yêu thuật giết người để tế quỷ. Hắn mua những cô gái mười mấy tuổi từ vùng Chiết Giang để cúng quỷ. Mẹ của một cô [trong số những cô gái ấy] thờ phụng Đại Sĩ, cô bèn theo mẹ tập niệm Tâm Kinh. Khi tới đàn tế, cô được tắm gội, trang điểm, rồi bị xiềng trong căn nhà trống. Cô gái nghĩ số phận ắt phải chết bèn nhất tâm tụng kinh. Nửa đêm, có một vật từ cửa sổ trên trần rơi xuống, sáng lòe như ánh chớp. Cô vội tụng chú Yết Đế, từ trong miệng chợt phóng ra ánh sáng. Vật ấy toan tiến đến lại lùi. Ánh sáng từ miệng cô gái lớn dần, bắn vào vật ấy vang ra tiếng leng keng, nó ngã nhào xuống đất. Khi có người tuần đêm đi qua, cô bèn kêu: “Sát nhân”. Tuần cảnh phá vách cho cô ra, thấy một con bạch mãng xà to kềnh đã chết cứng, bèn bắt họ Lại và người nhà trừng trị theo đúng luật.

Theo Sưu Thần Ký, trong vùng Dung Lãnh xứ Đông Việt, có con rắn to, thích ăn trẻ gái. Mỗi tháng Tám, người ta thường cúng tế, đưa trẻ gái đến hang rắn, rắn liền nuốt ngay. Khi ấy, Lý Đản có đứa con gái tên Ký, nhận lời tuyển mộ ra đi, cầm gươm, mang theo con chồn ăn rắn (mongoose). Cô nấu mấy hộc chất mật dính, đổ vào hang rắn. Rắn bò ra, đầu to như cái bồ, mắt như cái gương to hai thước. Trước hết, nó liếm mật dính. Cô Ký liền thả chồn ra, dùng gươm chém, giết chết rắn. Việt Vương bèn rước cô Ký về làm vợ.

Theo Linh Nghiệm Ký, trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống, vợ người họ Châu ở Dư Can đi đường gặp ba con rắn chắn lối, bà ta bèn nhảy qua. Rắn đuổi theo, chợt biến thành ba gã trai, nhằm đúng lúc người làng là Cung Lê Thần đi tới, thấy con rắn to vờn quanh người đàn bà mấy vòng khiến cô ta ngã nằm sõng xoài trên đất. Ông Cung bèn lớn tiếng niệm chú Đại Bi, dũng mãnh quát rắn, rắn bèn tháo lui.

Theo Hán Thư, Cao Tổ (Lưu Bang) ban đêm đi qua cái đầm, có con rắn to chắn lối, bèn vung gươm chém chết. Sau đấy, có người tới chỗ rắn, thấy một bà cụ ban đêm khóc lóc: “Con ta là con Bạch Đế hóa làm rắn, nay bị con của Xích Đế chém mất rồi”.

(8) Theo Thủ Nhất Trai Bút Ký, đứa tớ gái nhà Trần Hữu Nham chợt nổi cuồng, nói: “Ta là Hồ tam gia, đâu phải là đứa tớ gái mà dám mạo phạm ta?” Trong khoảnh khắc, lại nói giọng đất Ngô[26], xưng là họ Dương, là đầy tớ của Hồ Tam. Ông Trần cầu khẩn trăm cách, [vong linh] vẫn chẳng bằng lòng. Ông xin tụng Tâm Kinh siêu độ, nó liền gật đầu ưng chịu. Cả nhà kiền thành tụng niệm, đứa tớ gái trừng mắt quát to: “Thằng X... tụng kinh vô ích, nó vừa mới ăn canh thịt viên”. Hỏi ra đúng như vậy. Tụng đủ một ngàn biến, họ Dương bằng lòng ra đi. Đưa đến dưới cầu Tân Phường thì đứa tớ gái tỉnh lại.

Theo Dạ Đàm Tùy Lục, nhà ông X... ở vùng Giang Hạ lập đàn cúng, có bé gái ban đêm đi qua đó xem. Chợt có một con quỷ to lớn lôi nhốt trong buồng. Bé gào khóc, nhưng không ai nghe tiếng. Đến lúc tống tiễn, quỷ mang bé gái đi theo, chợt thấy ánh sáng hồng thấp thoáng, quỷ hoảng sợ bỏ chạy. Trong khoảnh khắc, ánh sáng đến gần, người theo hầu đông như mây; giữa đó có một người đeo chuỗi anh lạc khắp thân, hỏi han bé từ đâu đến, lại nói: “Ta là Nam Hải Đại Sĩ, ngươi có thể đi theo!” Trong khoảnh khắc đến một chỗ, lầu gác thăm thẳm, khác xa cảnh phàm! Đại Sĩ ngó kẻ hầu dặn dò. Không lâu sau, người hầu xách con quỷ to lớn đến, sai thần kim giáp vứt đi. Lại có một người đội mão vàng đến khấu đầu bái yết Đại Sĩ và thưa: “Mẹ cô bé này ăn chay trường thờ Phật”. Đại Sĩ bảo: “Mẹ của con thiện hạnh đáng khen” rồi bảo hãy theo người mão vàng quay về. Cô nhắm mắt bay trên không, trong khoảnh khắc thấy mẹ ngồi bên giường của một người giống hệt như mình, chợt như tỉnh mộng. Ấy là từ khi ngất đi cho đến lúc này đã hơn một tháng. Tỉnh dậy liền ăn chay trường, trì Quán Âm Kinh.

Trong Thỉnh Quán Âm Kinh, đức Phật nói: Trong thành Vương xá có nữ nhân bị ác quỷ dựa, ta dạy người nữ ấy xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Do sức oai thần của Bồ Tát, ác quỷ tiêu mất, được thấy thân sắc tướng khôn sánh của ta.

(9) Lý Ngạc ở Tứ Minh hay sợ hãi, đêm ngủ liền bị ác mộng, thấy những hình dạng quỷ quái kỳ lạ. Về sau, niệm danh hiệu Quán Âm, trì chú Chuẩn Đề, hết ác mộng, tâm không sợ hãi.

Đời Tống, Thích Bảo Thông tụng Đại Bi đà-la-ni đã lâu năm, có cô gái họ Triệu bị quỷ mị dựa, phát cuồng. Sư tụng chú, quỷ liền bỏ trốn, cô Triệu bèn hết điên.

(10) Theo Ngọc Đường Nhàn Thoại, đời Đường, Âu Dương Xán chuyên trì chú Đại Bi. Ngẫu nhiên đi đêm gặp mưa, từ trong hang thẳm giữa rừng rậm xông ra một vật dài hơn cả trượng chặn đằng trước. Ông Xán hoảng sợ, muốn trì chú Đại Bi, nhưng cứng miệng chẳng thể thốt ra tiếng, bèn niệm thầm mấy biến rồi mới có thể tụng rõ ra tiếng, quái vật bèn ẩn trốn.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Lương, ngài Huệ Giản giới nghiệp cao rộng. Phía Đông tòa sảnh sự xứ Kinh Châu có căn nhà biệt lập, có lắm chuyện quỷ quái. Khi ấy, Vương Kiến Vũ đến cai trị nơi ấy, thờ Huệ Giản làm thầy, cậy Sư đến ở nơi đó. Sư thấy một người đen kịt không mắt, từ vách bước ra, Sư chỉ thầm niệm Quán Âm. Quỷ nói: “Nghe nói ngài tinh tấn nên đến thử xem. Nay thần sắc chẳng động, há còn bức bách nữa ư?” Lại trở vào vách; từ đấy, không còn thấy chuyện quỷ quái nữa!

(11) Theo Chất Trực Đàm, trong niên hiệu Càn Long đời Thanh, vợ ông Dư Tông chợt bị cảm lạnh, nói sảng: “Mẹ chồng, con dâu ta đi qua đây, đói lắm, ắt phải đem rượu thịt cho ta xơi”. Ông Dư mời Tăng tụng Tâm Kinh, Đại Bi Chú, Kim Cang Kinh. Vừa mới tụng một lượt, liền nghe người bệnh trách móc: “Thoạt đầu con đâu chịu vô, mà mẹ cứ muốn tới. Nay khắp thân con bị dao đâm, đau đớn khó thể chịu đựng được, hãy mau đi thôi!” Bệnh liền lành.

Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, Lý Hân trì chú Đại Bi. Có người bị bệnh sốt rét, ông Hân trì chú, quỷ nói: “Vốn muốn làm khó ngươi, nay sợ Lý Thập Tứ Lang, chẳng dám đến nữa!” Ông Hân sang sống trọ ở Hà Nam, em gái ông ta chết vì bệnh dịch, mấy bữa sau sống lại, nói: “Thoạt đầu bị mấy người dẫn tới gò mả, muốn làm nhục. Một người nói: ‘Đây là em gái của Lý Thập Tứ Lang. Hắn trở về sẽ dùng thần chú làm khó bọn ta’, chúng bèn đưa về”.

(12) Theo Linh Nghiệm Ký, phía Tây thành Định Tương có miếu Tỷ Phảng[27]. Người trong thôn ngẫu nhiên nghỉ chân nơi ấy, có một người khinh nhờn thần, đêm mộng thấy quỷ tốt lôi đến đồng trống, quở trách mấy chục lượt. Chợt thấy một bà cụ áo trắng đi đến nói: “Đã quở trách rồi, hãy thả về”. Do vậy, được tha về. Khắp mình bị thanh thũng[28], ngộ ra nơi ấy gần Quán Âm Các nên được Đại Sĩ rủ lòng cứu giúp, bèn đi chợ mua hương lễ tạ.

Lý Tinh Viên ở Phù Lương từ nhà ra quán, trăng mờ mông lung, đi đứng nhiều trở ngại, bèn niệm bài kinh do Quán Âm truyền trao trong mộng. Vừa mới tụng bảy biến, mới biết đang đi trong lùm gai. Thường nghe người ta nói chỗ ấy có yêu quái mê hoặc người. Nếu không tu tập bài kinh ấy, chẳng thể nào tìm đường thoát ra được!

(13) Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, vợ ông Vương Kỳ mắc bệnh dịch. Ông Kỳ tụng Tâm Kinh, thấy dưới đèn có ba đầu người. Vợ ông đớ mắt, không nói được, chỉ lấy tay chỉ chỗ mình thấy. Ông Kỳ bèn cầm đao hướng về chỗ vợ chỉ chém xuống. Bà vợ chợt nói: “Trong cửa sổ có yêu quái, mũi dài mấy thước. Trước giường có hai con vật giống như lạc đà, đều bị chém tiêu hết rồi”. Ông Kỳ tụng kinh bốn mươi chín biến, vợ bèn lành bệnh.

Theo Thanh Minh Đầu Hạt Lục, có hai con lạc đà nói chuyện, một con xưng là Xá Nhân, con kia xưng tên là Gián Nghị.

Đời Tống, con nhà họ Uông ở Kỳ Môn đi đường, bị mấy người trói lại đem đi, buộc vào cột của ngôi miếu cổ, thưa rằng: “Xin mời đại vương tự nhận lấy”. Uông biết là bọn họ giết người tế quỷ, bèn niệm tụng chú Đại Bi. Ban đêm, có tiếng gió rít như tiếng sấm, một con mãng xà to mắt sáng như đuốc bò tới, ba lượt tiến lại lùi. Sáng ra, cậu Uông được người khác cởi trói, liền thoát nạn.

Theo Linh Nghiệm Ký, Trương Thành ở Cát Thủy, trong niên hiệu Càn Đạo đời Tống, nghỉ đêm ở vùng ranh giới Lễ Lăng. Chủ quán tiếp đón trọng thể, rượu nồng, cỗ đầy, tâm kinh ngạc, lấy làm lạ, thoái thác không thể uống rượu rồi bỏ đi ngủ. Hồi lâu, thấy đuốc trong gian nhà chính thắp sáng, bèn nhìn trộm, thấy chủ quán lạy lục, khấn trước một bức tranh vẽ, nhiều lần nhắc tới ông khách họ Trương, biết là hắn sẽ đem mình tế quỷ. Nhìn sang bức tranh vẽ, thấy hai tròng mắt như cái chén, ông Trương vội trì chú Đại Bi. Vừa được mấy biến, thấy yêu quái từ trong bức vẽ tụt xuống, hình dạng đanh ác, bèn đóng cửa, càng dốc sức tụng chú, nghe ngoài cửa có tiếng đập phá. Trời vừa sáng, ông Trương chạy ra, nghe thấy người nhà chủ quán kêu khóc, đi hai dặm mới tạm nghỉ, nghe người ta nói: “Chủ quán chết bất ngờ”. Cật vấn sự tình thì ra nhà ấy ba đời thờ yêu quái, mỗi năm tế một người. Nếu không có người ngoài thì sẽ giáng họa xuống chủ nhà.

Theo Tùy Thư, đầy tớ nhà Độc Cô Đà[29] là Từ A Ni thường thờ quỷ mèo, thường giết người [để tế quỷ]. Tài vật [của người bị giết] sẽ nhập vào gia sản của nhà kẻ thờ quỷ.

(14) Theo Di Kiên Chí, người trong họ [của tác giả sách ấy] là Hồng Dương trở về trong đêm, chợt nghe tiếng động lớn phát ra từ khe núi như mấy chục cây gỗ to bị đốn ngã, liền tận hết sức chạy xuống gầm cầu tính tìm chỗ núp, nhưng vật đó đã đến trước rồi: Thân dài ba trượng từ đầu đến gót toàn là đèn. Ông Dương chuyên trì Đại Bi Chú nên vội niệm, vật ấy đứng thẳng, bất động. Ông Dương sợ vỡ mật, ngã lăn ra đất, nhưng vẫn tụng chú không ngừng. Vật ấy liền lùi lại, hô lên: “Ta đi đây!” rồi đi tắt qua khu nhà dân bên khoảnh ruộng mất dạng. Ông Dương về nhà ngã bệnh rồi lành, còn hai người phu khiêng kiệu đều chết. Về sau, hỏi thăm những nhà dân [nơi ấy] thì một nhà chết vì bệnh dịch, mới biết vật ấy chính là lệ quỷ (quỷ gây ra bệnh dịch).

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, tại Vương Gia Khẩu ở Ứng Thành, những kẻ lang thang trong thôn đi trông lúa [thuê cho người ta]. Vào ban đêm có cơn gió trốt cuốn tới, thế như xô núi, có hình dáng giống như cái tháp, tiếng rền như sấm, hóa thành một người to lớn, cao hai trượng, áo mão trắng toát, tay cầm phan trắng hướng về bọn họ phất một cái rồi bỏ đi. Mọi người sợ ngất đi, một lúc lâu sau mới tỉnh lại. Chỉ có một người trì chú Quán Âm và một người nữa không ăn thịt bò là chẳng thấy. Mấy ngày sau, mười mấy người đều chết, chỉ có hai người ấy là vô sự.

(15) Sách Tả Truyện chép: “Đúc đỉnh có hình tượng muôn vật, để dân biết là thần hay thứ yêu quỷ gian dối, để khi dân đi vào sông, đầm, núi, rừng, chẳng gặp chuyện không lành”. Các bộ kinh giảng về thần chú [trong nhà Phật] đều có chép Kim Cang lực sĩ và các chúng quỷ thần phát nguyện ủng hộ [người trì chú].

Theo Liễu Nhai Ngoại Biên, vùng Giang Nam khi làm lễ Hồi Sát[30], liền bày rượu thịt rồi trốn qua chỗ khác. Có kẻ đầy tớ ban đêm [đi công việc] về tới, [không biết là ngày Hồi Sát], quá đói bèn ngồi xổm ăn uống. Chợt thấy một con quỷ lạ lùng cao tới hai trượng, cầm chĩa ba dài chừng một trượng, áp giải một ông già tới. Tên đầy tớ trốn vào chái nhà, dòm trộm, thấy ông già ngồi ghé bên cạnh, còn quỷ ngồi ở phía trên ăn uống nhồm nhoàm. Trong chốc lát, ông già xin phép quỷ vào nhà sau để nhìn qua tình hình, quỷ bằng lòng. Tên đầy tớ thấy cái chĩa ba trong ngần, lóng lánh đáng yêu bèn vớ lấy, chạy vào buồng, đóng chặt cửa. Quỷ kiếm chĩa ba, vươn cánh tay xanh rì gõ cửa, gió quái dị từ bốn phía thổi ùa tới, buốt tận xương. Tên đầy tớ niệm chú Quán Âm, quỷ lùi bước, gió tan. Vừa mới ngưng niệm, quỷ liền duỗi chân bước vào, tên đầy tớ cảm thấy hơi lạnh từ đất xông lên, buốt tới đùi rồi tới eo, bèn vội niệm chú như trước, quỷ rụt chân lại. Gà gáy, quỷ bèn lôi ông già đi. Trời sáng dần, chĩa ba teo nhỏ dần còn chừng một tấc, nhìn rất tinh xảo. Đến nhà người bị bệnh sốt rét, chĩa ba ngân lên một tiếng, bệnh gần như mất tiêu.

Theo Thủ Nhất Trai Bút Ký, tiến sĩ Hiếu Cảm Trình Tốc Viên sang dạy học nơi đất Tần, đêm ngủ nơi chòi ngoài đồng. Cảm thấy có vật gì đè lên chân, miệng chẳng thể nói được, thân cũng chẳng thể cử động được. Dần dần, vật ấy chuyển tới bụng, liền vội thầm niệm Tâm Kinh, đến câu “Sắc tức thị Không”, liền vội lớn tiếng kêu lên, vật ấy trốn mất.

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, vào đời Thanh, Trần Quý ở Giang Hạ, vừa có chí nguyện vừa hiếu thảo. Trong thời Càn Long, ông qua nhà của người họ hàng bên ngoại là X... mộng thấy một khối tròn đen xì giống như hình người duỗi bàn tay to đùng kéo ông ra ngoài, đánh không ngừng. Ông hôn mê một lúc lâu mới tỉnh lại, trở nên điên cuồng, câm bặt không nói được suốt năm sáu năm. Về sau, mộng thấy một bà cụ đầu đội lúp trắng, xách giỏ, bảo hãy nuốt viên thuốc hồng đựng trong giỏ. Ông Quý muốn giữ lại để dâng cho mẹ, bà cụ ép nuốt, lấy gậy quật vào lưng. Ông Quý bèn tỉnh giấc, chẳng còn thấy khối đen tròn truy đuổi nữa, khỏi ngay bệnh điên. Ngày hôm sau, thấy ở cạnh miếu có người xách giỏ, hình dáng, ăn mặc giống như người trong mộng, muốn cảm tạ nhưng không nói được, bà cụ cũng chợt mất dạng. Đến buổi chiều, hầu [mẹ ăn] cơm, đột nhiên nói ra tiếng, cả nhà kinh ngạc, hỏi han. Ông kể lại những gì được thấy trong mộng, [người ta nói] ấy chính là Ngư Lam Đại Sĩ[31] được lưu truyền trong cõi đời; do vậy bèn vẽ tượng cúng dường.

Theo Tĩnh Hàm Bút Ký, trong niên hiệu Gia Khánh, kỳ nhân[32] là Văn Hải cùng với anh lập đàn, tập luyện [binh thư] Vũ Bị Lục[33]. Trong nhà họ đã thờ Quán Âm từ trước, Bồ Tát bèn giáng đàn khuyên: “Đây không phải là chánh đạo, tập theo sẽ bất lợi. Cha các ngươi làm lành rất nhiều, và do bà cố ăn chay, tin tưởng làm lành, nên được quả báo con cháu là hạng trâm anh hiển hách nhiều đời. Anh em các ngươi tập luyện thứ này sẽ có tai họa bất trắc, cho nên ta đến cứu”. Quán Âm Bồ Tát cho biết: “Trong ngày Hai Mươi Mốt tháng Sáu năm nay, Hải sẽ bị sét đánh”, rồi sai người anh hãy đưa tay viết, vẽ lên ngực ông Hải. Trong chớp mắt, thấy con vượn trắng đang vờn quanh thân mình đã bị thần bắt ném đi. [Văn Hải viết]: “Đến ngày Hai Mươi Mốt [tháng Sáu năm ấy], sấm sét nổ dữ dội quanh nhà, nghĩ đến mà run rẩy. Nay được nghe lời truyền bảo tại vùng Giang Hữu đang khắc sách Hải Nam Hợp Biên, chẳng dám tự giấu diếm, mà cũng chẳng dám có một chữ dối đời. Chép vào cuối sách để trên là báo ơn Đại Sĩ cứu vớt”. Xét ra Văn Hải làm quan đến chức Án Sát, thọ bảy mươi hai tuổi; đủ thấy người có thể sửa lỗi hướng lành sẽ tự hưởng phước, thoát khỏi tai họa.





Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 29 Nov 2015, 4:18 PM | Message # 22
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
2.2.2.8. Cứu vớt kẻ đọa lạc



1. Trong hội Vu Lan, dẫn dự hương trai. Địa ngục rền tiếng, vẩy rưới tịnh thủy.

2. U Minh coi trọng Quán Âm Kinh, tháp A Dục cũng nên lễ bái.

3. Da Xá vào đường quỷ chẳng sợ, Gia Huy người cõng bay lên không.

4. Thôi Quỹ chép kinh hưởng phước, Lý Huy tạo tượng sanh thiên.

5. Cứu vãn đọa lạc, mừng Lô Sơn đảnh đầu ấm áp. Oai nghi nghiêm chỉnh, mời Sa-di ngự trên tòa vàng.

6. Quận Quân thầm tụng, điện đường chao đảo. Ngô Duyệt hô lên, vạc dầu vỡ nát.

7. Tây Phương tạo phước, khỏi thành lợn dê trên mặt nước. Nam Hải hoàn hồn, đừng ngắm chốn tửu lâu xinh đẹp.

8. Tụng kinh, giữ giới, ông Thang chẳng tới non đao, lìa tối vào sáng, họ Hà trốn khỏi gậy sắt.

9. Đệ tử ngài Hám Sơn, do thầy quán tưởng, được hưởng thanh lương. Vong huynh sư Tam Quả, nương lời chúc nguyện, chóng được giải thoát.

10. Cao tăng tu sám, mệnh phụ được thăng thiên cung. Từ mẫu tụng kinh, con đã mất mừng sanh hoàng thất.

11. Quan phạm tội Ba La Di, suýt bị phạt làm trâu. Cô gái trì kinh Bát Nhã, khỏi bị đọa làm chó.

12. Dùng tâm chuyển nghiệp, Bá Thời khỏi sanh vào bụng ngựa. Nghe dạy sanh thiên, Tông Diễn cứu hầu vương thoát kiếp.

13. Am Ban Trúc tu sám, khỏi bị quỷ sứ bắt đi. Vạc dầu nở hoa sen, may được Vi Đà nâng xử.

14. Húc Đình, Thiên Trụ, mau giải oan khiên. Lưu Viện, Quế Dung chẳng đền nợ trước.

15. Rưới bằng nước tụng chú, thân ngạ quỷ đã hiện dần tiêu. Vừa mới tụng tựa kinh, sự khổ địa ngục liền dứt.

16. Mẹ ông Phạm sanh thiên, hưởng phước; vợ họ Phương làm con, thành tài.

17. Xây chùa chẳng đọa tam đồ, hiếu thảo khỏi đền túc nghiệp.

18. Gỡ sửa tóc rối, diệt trừ ngũ quỷ trêu ghẹo. Đau hơn nung, nướng, may được cả nhà trai giới.

19. Ấy là vì Đại Sĩ phát nguyện, vốn trọng tại tam đồ, nhưng tội tánh vốn không, nên có thể diệt từ một niệm. Ấy là sự cứu khổ thứ tám của Đại Sĩ vậy.




(1) Theo Hoạt Diêm La Đoán Án, ngày Rằm tháng Bảy, khắp thiên hạ lễ sám, thí thực. Quán Âm Đại Sĩ đích thân dẫn các tù nhân [trong địa ngục] đến ăn. Lại còn xem xét bốn mươi chín vụ án. Diêm Vương nói: “[Các ngươi] cũng nên biết người dẫn bọn ngươi đi ăn là ai, chính là đức từ bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu các ngươi niệm A Di Đà Phật một tiếng thì các ngươi sẽ thoát tội. Cả ngục đều niệm thì cả ngục thoát tội. Nếu vạn nhất niệm không được bốn chữ thì chỉ niệm một chữ Phật cũng được thoát tội. Các ngươi có niệm được một chữ Phật hay không?”

Theo Hiện Quả Tùy Lục, Vương Kiến ở Ngô Môn chết xuống cõi âm. [Phán quan] tra án thấy là bắt lầm bèn cho hồi sanh. Vương Kiến thấy địa ngục lửa đen ngút trời, tiếng gào khóc như sấm động. Ba vị lão tăng ngồi trên ngọn cây to, mỗi lần trong ngục vang rần tiếng kêu đau đớn bèn rẩy tịnh thủy xuống, âm thanh ấy liền ngưng bặt. Hỏi ra thì đấy là ba vị Đại Sĩ Quán Âm, Phổ Hiền, và Địa Tạng.

(2) Theo Quán Âm Kinh Linh Nghiệm, khi Cừu Tấn làm quan tại Tiền Đường, ở trong nha môn có một vầng ánh sáng tròn đưa cô em gái đã mất tới. Hỏi chuyện cõi âm, cô ta bảo: “Trong cõi u minh trọng Quán Âm Kinh nhất, Bồ Tát có thể tầm thanh cảm ứng, cứu khổ giúp nạn; nhưng lễ sám, tụng kinh, hãy nên trai giới, thành kính thì mới có thể tiêu tai, được phước. Quan trọng nhất là đừng như trẻ nít đùa bỡn, khinh nhờn!”

Theo Dục Vương Chí, trong niên hiệu Thái Khang đời Tấn, ông Lưu Tát Ha làm nghề săn bắn, chợt chết bất ngờ. Bảy ngày sau tỉnh lại, kể đã đến mười tám địa ngục, đều tùy theo nghiệp nặng hay nhẹ mà chịu đựng các nỗi đau đớn, khổ sở. Chợt thấy Quán Thế Âm Bồ Tát bảo: “Ngươi đáng phải đọa địa ngục, ta cứu ngươi sống lại, hãy nên làm sa-môn. Hiện nay, tại hạ lưu sông Lạc, Tề Thành, Đan Dương, Cối Kê đều có tháp A Dục Vương, có thể đến những nơi ấy lễ bái thì khi mạng chung sẽ chẳng đọa địa ngục”. Sau khi tỉnh lại, ông xuất gia, có pháp hiệu là Huệ Đạt. Do vậy, đến các chỗ như Mậu Sơn, Trường Can v.v... lễ bái, tháp xá-lợi chợt vọt lên.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Tùy, ngài Na Liên Đề Lê Da Xá, hành hóa ở phía Bắc Tuyết Sơn, thấy giữa nhân đạo và quỷ đạo thì nhân đạo vắng vẻ, hiểm trở, còn quỷ đạo thì thông suốt, tiện lợi. Một vị Tăng đồng bạn đi nhầm vào quỷ đạo. Ngài Da Xá miệng tụng Quán Âm thần chú, còn một trăm bước nữa sẽ đuổi kịp thì vị ấy đã quỷ bị hại, còn chính Ngài thì do chú lực nên quỷ không làm gì được.

Theo Linh Cảm Phú, đời Minh, Dương Gia Huy bị bệnh chết, vào cõi âm, được một người cõng lên núi cao chớn chở, vội niệm Quán Âm bèn cùng với người cõng mình bay vọt lên hư không.

(4) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, trong niên hiệu Trinh Quán đời Đường, con rể của Vương Hoằng Chi là Thôi Quỹ chết. Về sau, [Thôi Quỹ] thường đến báo mộng với người khác, khuyên người ta lễ Phật, lại kể đầy đủ những chuyện trong địa ngục, xin chép kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Quán Âm mỗi thứ ba bộ. Chép xong, cảm tạ: “Được giúp phước to lớn, nay xin cáo biệt”.

Theo Thái Bình Quảng Ký, Lưu Tử Cống đã chết rồi tạm sống lại, nói đã gặp bố vợ là Tô Nguyên Tông, bèn hỏi bố vợ ham làm lành, sao lại ở nơi đây? Ông đáp: “Do có lỗi nên bị ở lại đây, nay chẳng bao lâu nữa sẽ sanh lên trời. Con trưởng ta có tín nguyện, mất đi liền sanh lên trời, con út vừa trộm cắp, vừa giết chóc, hiện đang ở địa ngục”. Hàng xóm là Lý Huy nói: “Phiền ông hãy nói với con tôi, tôi phạm tội bị trói, hãy mau vì tôi tạo một tượng Quán Âm và chép một bộ Pháp Hoa thì tôi sẽ sanh lên trời”. Còn cha ông ta thì dè dặt nói: “Ta bắn chết cầm thú, hằng ngày thường có quỷ đầu trâu nung mấy ngàn viên đạn sắt đỏ như lửa, nhét vào trong thịt ta, khổ chẳng thể nói nổi!”

(5) Theo Linh Cảm Phú, hai vị Tăng ở Lô Sơn, một vị trì chú Vãng Sanh, vị kia trì chú Đại Bi cầu sanh Tịnh Độ. Người trì Vãng Sanh mất trước, đảnh đầu ấm. Vị trì Đại Bi mất sau, thoạt đầu thân lạnh, bàn chân nóng như lửa; hồi lâu sau, đảnh đầu bèn nóng, bàn chân lạnh như băng, ấy là điềm ứng nghiệm diệt nghiệp địa ngục, vãng sanh Tây Phương vậy.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đầu đời Tùy, có vị Tăng ở Dương Châu tụng kinh Niết Bàn, tự kiêu hãnh với hạnh tu ấy. Một chú Sa-di ở Kỳ Sơn tụng Quán Âm Kinh. Hai người cùng chết đột ngột. Đến chỗ Diêm Vương, vua bèn mời chú Sa-di ngồi tòa vàng, hết sức kính trọng; mời vị Tăng tụng kinh Niết Bàn ngồi tòa bạc, kém phần cung kính hơn, vị Tăng cả thẹn. Khi cả hai đều sống lại, vị Tăng đến chỗ chú Sa-di ở Kỳ Sơn hỏi cặn kẽ nguyên do. Sa-di thưa: “Mỗi khi con tụng kinh đều mặc áo sạch, đốt hương thơm, chú nguyện rồi mới tụng”. Ông Tăng nói: “Tội ta sâu lắm. Khi tụng Niết Bàn, oai nghi không tề chỉnh, thân miệng chẳng sạch”.

Lăng Nghiêm Kinh: “Nghiêm chỉnh oai nghi, túc cung trai pháp” (Oai nghi nghiêm chỉnh, cung kính vâng giữ trai pháp).

(6) Theo Cảm Ứng Thiên Tăng Chú, đời Tống, Lý Quận Quân đã sẵn có đức hạnh tốt đẹp, thường trì chú Đại Bi. Do bị bệnh, họ Lý đi vào cõi âm, thấy hai người quyền cao chức trọng ngồi trên tòa cao ngất ngưởng, liền thầm niệm chú Đại Bi, điện đường lay động, bên trái, bên phải đều muốn đổ nhào. Người quyền quý bảo: “Đừng tụng nữa, sẽ thả cho ngươi về. Do lúc còn sống từng nhặt được hạt châu đánh rơi, trả lại cho người ta, nên tăng thọ hai mươi năm”. Tỉnh dậy bèn lành bệnh.

Theo Hiện Quả Tùy Lục, trong thời Khang Hy nhà Thanh, Hiếu Liêm Đới Ngô Duyệt ở Tô Châu hành vi rất phóng đãng, người bị hại rất nhiều, bị bộ Công bắt giữ, chết trong ngục. Đúng lúc ấy, trong thành có người tên X... bị chết bất ngờ, sống lại, kể: “Vua cõi âm sai bỏ họ Đới vào vạc dầu. Từ chỗ đất bằng bỗng trồi lên một vạc dầu. Quỷ lấy chĩa xiên họ Đới bỏ vào vạc. Ông Đới hô lên: ‘Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da’, vạc dầu vỡ nát, trên mặt đất hoa sen trồi lên. Vua cõi âm phán: “Hắn đã có thể tụng chú cho nên không phạt được, hãy cho hắn đầu thai vào nhà xấu ác”. Bầy tôi tâu: “Gã X... ở Gia Hưng làm ác, lập đàn cầu con”. Vua liền cho ông ta đầu thai vào nơi ấy. Sang Gia Hưng hỏi thăm, mọi chuyện đều chẳng sai!

(7) Theo Kim Cang Cảm Ứng, trong niên hiệu Đại Trung đời Đường, Lý Cư nhiễm bệnh; cảm thấy gió thổi bay đến một nơi, nước rộng mênh mông không bờ mé, người và súc vật đứng trên bờ. Có người mặc áo vàng hỏi đã làm điều thiện gì. Nếu không có thì sẽ làm lợn, dê trên mặt nước. Ông Cư nói đã từng tạo một bức Tây Phương Công Đức ở chùa Tịnh Chúng, lại chép năm trăm quyển kinh trong Đại Tạng. Sứ giả dẫn vào một tòa đại điện, có vị Tăng bảo nhà vua rằng: “Người này chí tâm tạo phước, chẳng dối trá”. Vua sai đưa về. Ông Cư thấy công đức do chính mình đã tạo được khắc bia, ghi chép phân minh trong điện, liền sống lại. Thấy Quán Âm Bồ Tát đứng cười, vợ con vây quanh khóc lóc, bảo ông đã chết bảy ngày rồi.

Theo Nhân Quả Thực Lục, trong niên hiệu Gia Khánh đời Thanh, Chương Khai Nguyên ở Nam Phong thấy sai nha cầm xiềng, vác côn đến lôi đi. Phía sau chợt có người nắm lại kêu: “Người này trì Quán Âm Kinh rất kiền thành. Lại còn trích những điều dễ phạm nhất từ Kính Tín Lục để in tặng. Nếu bị đoản thọ thì làm sao khuyên kẻ khác làm lành?” Sai nha không nghe, người kéo lại cũng không buông. Sai nha bỏ đi, người nắm ông Chương bảo: “Bọn chúng bỏ đi nhưng ắt sẽ trở lại. Hãy mau tới Nam Hải cầu Đại Sĩ”. Người ấy dặn ông Chương hãy chí tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật và Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát thì sẽ tự đến được. Còn nói thêm: “Nếu thấy điều gì đáng ưa, hãy cẩn thận đừng động lòng đến nỗi đọa ác đạo”. Ông Chương vâng theo lời dạy, liền bay lên không. Không lâu sau, thấy những quán rượu đẹp đẽ, tranh nhau chèo kéo. Ông Chương nhớ kỹ lời dặn, không nhòm ngó tới thì không thấy nữa. Sóng bủa tận trời, biển cả đã hiện ra trước mặt. Trong biển có đảo, người qua lại đều mặc áo nhà tu. Ông Chương phục xuống đất, xưng Phật hiệu, thấy hai ba cụ già tóc bạc, dẫn một người xuống núi. Người đã kéo ông Chương [khi trước] bảo: “Đấy chính là hồn của ngươi, hãy mau lễ tạ Bồ Tát”. Ngài bèn dẫn đi thăm địa phủ, đi qua khắp hai đường thiện ác rồi mới tỉnh lại.

(8) Theo Nhân Quả Thực Lục, Lâm Tự Lân bị [cõi âm] bắt lầm, sống lại, kể chuyện đã thấy vua cõi âm phán tội Thang X... ở Hoàng Mai như sau: “Trong quân ngũ, ngươi quen thói tàn nhẫn, bắt bớ con cái người khác, tội ác ngập đầu, giải lên núi đao”. Phán quan bẩm rằng: “Trong hôm phá thành Dương Châu, họ Thang bắt được hai thiếu phụ giữ kín nhưng không xâm phạm, đem trả lại chồng họ, còn không nhận lễ tạ. Hơn nữa, mồng Một, ngày Rằm, hắn ăn chay, tụng Cao Vương Kinh”. Vua phán: “Có công đức ấy thì rất đáng kính, cho làm quan văn thất phẩm, con cháu hai đời hiển vinh, thọ bảy mươi chín tuổi, khi chết không bệnh tật gì”.

Theo Nhất Hạnh Cư Tập, trong thời Càn Long nhà Thanh, con bà Hà Thị ở Nam Hào bệnh nhiệt, thấy người chú đã mất lõa lồ, xõa tóc, nói: “Lúc sống tạo nhiều oan nghiệt, chết đi bị nhốt trong ngục Hắc Ám đã tám năm, hằng ngày bị ác quỷ đập bằng gậy sắt. Gần đây, Quán Âm Đại Sĩ giáng lâm, ta quỳ xin Ngài từ bi cứu vớt, chợt được ra khỏi chốn tối tăm. Đúng lúc ấy, đạo nhân Kính Trí từ Tây Phương đến, Ngài là thầy của vua cõi âm, có tình thân thiết cũ với nhà ta, xin [cho ta được] tạm thả về. Hãy gấp vì ta tu phước hòng được sanh vào loài người”.

(9) Đời Minh, Hám Sơn đại sư có một đệ tử bị bệnh điên, tự nói đã bị đọa hỏa ngục, cầu Sư cứu vớt. Sư quán tưởng Quán Âm, hiện ra ao nước trong mát.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Tùy, ngài Trí Hưng tụng kinh, trì luật. Người anh đã mất của vị Tăng cùng chùa là Tam Quả báo mộng cho vợ: “Ta đọa địa ngục, nhờ sư Trí Hưng chùa Thiền Định gõ chuông, tiếng vang chấn động địa ngục, những người chịu khổ bèn cùng lúc được giải thoát”. Bà ta bèn đem mười xấp lụa tạ ơn ngài Trí Hưng. Ấy là vì khi gõ chuông, sư Trí Hưng luôn chúc nguyện Như Lai, Đại Sĩ cùng giáng đạo tràng, ngõ hầu hết thảy chúng sanh trong các đường ác nghe tiếng chuông đều lìa khổ.

(10) Đời Minh, tại núi Thiên Thai có vị tăng tên Nhất Chỉ, tu Đại Bi Sám Pháp mấy chục năm. Chi phu nhân ở Côn Sơn cúng dường Sư mười mấy năm, chưa từng biết mặt. Bà Chi mất rồi, sư Nhất Chỉ mộng thấy bà ta đến xin sám hối. Sư Nhất Chỉ tu sám pháp suốt 21 ngày, đích thân thấy trên hư không có hai đồng tử cầm phan. Một đồng tử đứng giữa, cảm tạ: “Nhờ sức sám hối của Sư, con được sanh lên thiên giới”.

Tạ Thao chôn hai con, vợ đau buồn, ngã bệnh, mộng thấy hai đứa đều đeo gông xiềng bằng sắt, khuyên mẹ hãy tự rộng lượng, làm phước cứu họ thoát tội. Bà mẹ liền giữ Quán Âm Trai, lễ Quán Âm Sám, tụng Quán Âm Kinh, lại mộng thấy con nói đã thác sanh vào cung vua hưởng phước.

(11) Theo Phổ Đà Chí, vào đời Minh, Quận Thừa xứ Ninh Ba là Long Đức Phù do xử án, đốt kinh Pháp Hoa, buộc Tăng dẫm lên. Ông Long chợt ngã xuống đất, không dậy được. Thấy thần Già Lam vâng lệnh Đại Sĩ đến luận tội: “Gã quan này phạm tội Ba La Di[34], nhưng do còn yêu dân, chỉ phạt làm trâu”. Đức Phù đau xót cầu xin, ăn chay trường, in kinh, trai tăng để chuộc tội. Lại được Đại Trí thiền sư sám hối mười lăm ngày. Ông Phù đích thân thấy hai ngọc nữ cầm phan dẫn đến trước Đại Sĩ, được tha tội.

Theo Nam Hải Từ Hàng, con gái Trương Thị là Phật Nhi tụng Quán Âm Kinh, đột ngột chết đi, sống lại, nói bị hai tên sai dịch lôi đi. Trước hết, sai dịch dùng cái mền đen trùm hai người rồi bỏ vào nhà họ Trần; kế đến dùng cái mền hoa trùm lấy cô ta, bảo: “Ngươi thiếu hắn một ngàn năm trăm đồng, nay phải nên trả nợ!” Có người mặc áo xanh nói: “Cô gái này niệm kinh Bát Nhã, hãy thả ra”. Do vậy, sảy chân ngã xuống đất, bèn tỉnh lại. Thưa chuyện với cha, ông bố đi hỏi nhà họ Trần thì ra đêm đó có ba con chó sanh trong nhà ấy, hai con đen, một con vá, con vá chết ngay. Do vậy, bèn đem tiền trả cho ông Trần. Ông Trần không lấy, bảo đem quyên tặng để giúp làm việc nghĩa.

(12) Theo Giác Hổ Tập, đời Tống, Lý Bá Thời thích vẽ ngựa. Sư Pháp Tú khuyên nhủ: “Ông là đại phu mà cứ suốt đời hết kiếp hằng ngày nghĩ đến hình dáng ngựa. Khi nhắm mắt xuôi tay, sẽ lạc vào thai ngựa không ngờ gì nữa!” Bá Thời bái tạ: “Làm thế nào để gột lỗi?” Sư dạy: “Chỉ nên vẽ hình Quán Thế Âm Bồ Tát”. Từ đấy, những bức vẽ Đại Sĩ của ông đẹp nhất thiên hạ.

Đời Tống, thần rừng hộ sơn chùa Năng Nhân tại Phước Châu [trước kia] vốn là một con khỉ bị [dân chúng] bắt sống, trói lại, đắp bùn lên [thành tượng thờ] gọi là Hầu Vương (vua khỉ). Lâu ngày nó tác quái, nhiều người bị hại. Trưởng lão Tông Diễn thương xót con khỉ oan nghiệt nặng nề bèn tụng chú Đại Bi độ nó. Ban đêm mộng thấy có người đàn bà chân khỉ lấm lem máu, dẫn con khỉ nhỏ buộc bằng xích sắt, đến bái tạ nói: “Đệ tử là Hầu Vương, nay nhờ pháp lực giải thoát sanh lên trời. Xin hãy cởi trói cho con khỉ nhỏ”. Đến sáng mở khám thờ ra xem, thấy xác khỉ bị xiềng ba vòng, từng bị bọn đồng cốt bắn trúng nách trái, bèn phá sạch hết đi, những chuyện tà quái tuyệt tích.

(13) Vào đời Minh, sư Thích Không Tuyết tu sám tại am Ban Trúc ở Tân Xương, đêm lễ Quán Âm. Mộng thấy hai sứ giả mặt xanh đến bắt. Bên cạnh có cụ già khuyên hãy ngừng tay. Một cô gái áo trắng nói: “Ông ta tu hành chân chánh, sao các ngươi lại bắt?” Hai người mặt xanh liền biến mất.

Đời Minh, Ngô Dịch Đức bắt chước người chú là Chánh Côn, ăn chay, lễ Phật, càng thêm tin tưởng sâu đậm. Chép kinh Đại Bi năm mươi quyển, kinh Kim Cang ba mươi quyển, chợt chết đột ngột, tắt hơi, hồn đi vào cõi âm. Do tội đời trước nên phải vào vạc dầu sôi; chợt Vi Đà Thiên (Hộ Pháp Vi Đà Bồ Tát) và Quan Đế đứng trên không trung. Vi Đà Thiên nâng [kim cang] xử; trong vạc sanh ra hoa sen, ông Ngô bèn tỉnh lại.

(14) Theo Kiến Văn Tùy Bút, Thái Thú Tông Tương Văn cầu cơ. Cơ dạy: “Hãy gọi gã giúp việc án từ[35] là Trầm Húc Đình đến đây”. Ông Trầm đến, cơ bút vẽ một con dao, viết: “Sẽ giết hắn để rửa sạch oán thù”. Nhóm ông Tông đều thay ông Trầm xin giải oan, [oán quỷ giáng cơ] nói: “Chẳng tham tiền tài, lụa là, chẳng cần trai sám, chỉ muốn đoạt mạng!” Họ bèn thỉnh thần Thổ Địa, hỏi đầu đuôi mối oán thù, và xin Thổ Địa đứng làm trung gian hòa giải. Thổ Địa nói: “Quỷ tên là Tào Thiên Hỷ, người xứ Giới Hưu. Đời trước, ông Trầm làm huyện lệnh nơi ấy, ăn hối lộ, vu oan, khiến họ Tào bị giam cầm, bị phạt trượng đến chết, nên nay đòi mạng. Ta đã bẩm với Thành Hoàng. Thành Hoàng tra thấy họ Trầm đời này không có tội gì, khuyên họ Tào hãy để cho họ Trầm hằng ngày niệm Tâm Kinh năm mươi lần, lấy năm tháng làm hạn, kiền thành chép năm mươi quyển Tâm Kinh đốt đi để cởi gỡ oán thù”. Ông Trầm tuân lời dạy. Về sau, do bận bịu nên hơi lười nhác, Thổ Địa giáng đàn bảo: “Trước kia ta giấu đao của họ Tào, đứng giữa giàn xếp. Nay ngươi phụ ước, họ Tào lại đòi đao”. Ông Trầm bái tạ sám hối, kiền thành tụng Tâm Kinh không dám lười nhác.

Đời Minh, Hồ Thiên Trụ chẳng theo Ngụy Đang [dấy loạn], bỏ chức quan, xuống tóc, tách họ ra làm tên, đặt hiệu là Cổ Nguyệt[36], bị vết ghẻ có hình mặt người, nói: “Ta là Lô Chiêu Dung đời Đường, ông giết chết ta, hơn sáu trăm năm vẫn còn làm quỷ. Hãy nên chép kinh để cứu vớt”. Cổ Nguyệt nhịn đau chép kinh, còn niệm thánh hiệu Quán Âm, vết ghẻ liền lành.

Theo Minh Báo Lục, con gái Lăng Tụ Cát ở Hàng Châu bị bệnh, thốt lời trách mắng. Hỏi tới thì xưng là oán thù đời trước, bảo: “Ta là Nghê Thụy Long, người Dương Châu có năm mươi mẫu đất, bị cường hào chiếm đoạt. Con gái ngươi đời trước chính là Lưu X... làm Sát Viện, nhận tiền của ta mà lại hại ta phải chết trong ngục, ngậm oan sáu mươi năm, nay đến đòi mạng”. Nói xong, kéo [con gái ông Lăng] xuống địa phủ, trong miệng rì rầm kể chuyện cõi âm: “Thoạt đầu tối như mực, mất một lúc mới nhận được mọi vật, Quỷ Môn Quan, Vọng Hương Đài, Nại Hà Kiều, đều đi qua hết. Người bị xay, xương cốt vỡ nát từng miếng kêu đau đớn, chia cho trùng kiến. Những chuyện khác đau đớn chẳng thể nói được! Lại có một chỗ đèn đuốc sáng ngời, áo mũ rỡ ràng, là nơi người lành ở. Lại đến một chỗ, sáng như ban ngày, sen nở đỏ, trắng, gió thơm lùa ngát mũi, nhà cửa đều bằng vàng, bằng ngọc, chính là chỗ ở của bậc chí thiện”. Tụ Cát bảo con gái hãy kiền thành niệm Quán Âm, mỗi ngày ba ngàn biến để cầu giải oan. Cô gái thấy quỷ sứ cho biết đã đến hạn thẩm tra, bèn mê đi. Họ Nghê tố cáo [trong đời trước] cô đã ăn hối lộ, khiến ông ta bị chết, cô gái biện bạch ông ta chết không phải do chính mình gây ra. Thần phán định: “Ông ta chết là do bị người nhà hạ độc! Tuy ngươi không biết nhưng ăn hối lộ một ngàn hai trăm lạng bạc, cũng không lẽ nào được sống sót!” Cô gái hoảng sợ, xin tha mạng. Vua nói: “Nghĩ ngươi đã sám hối, trì tụng Quán Âm, nên thả ngươi, nhưng phải tận lực làm lành để tăng thọ”, vua sai đưa về. Bèn mời Ẩn Nhai thiền sư làm lễ phóng Diệm Khẩu. Con rể là Giang X... tận mắt thấy quỷ có hình dáng mặt đen, phun lửa, nói: “Pháp sư đạo lực sâu dầy, chúng con được ăn, sắp ra đi vĩnh viễn, xin ông Lưu hãy đưa tiễn”. Cô gái tự chồm dậy, đến chỗ lập đàn, bệnh trầm kha liền hết.

Theo Tự Cầu Tập, ông Thí ở Tô Châu khinh tài trọng nghĩa, đem vàng tu bổ Đại Sĩ Điện ở Hổ Khâu, nghe có tiếng khóc, nhìn xem thì thấy bạn học là Quế X... nói mắc nợ muốn tự tử, ông bèn đem ba trăm lạng vàng trao cho. Ông Quế lạy trước Đại Sĩ, thề: “Nếu đời này chẳng thể trả được, đời sau sẽ làm chó ngựa báo đáp”. Ông Thí lại cho ông Quế ở trong vườn táo. Ông Quế có một gái, ông Thí bèn hứa sẽ cưới cho con trai của mình tên là Hoàn. Không lâu sau, họ Quế đào được hơn một ngàn lạng vàng dưới gốc cây táo, dần dần giàu lên. Trái lại, ông Thí đâm ra nghèo nàn, vợ chồng kế tiếp nhau mất đi. Ông Quế rắp tâm bội hôn, dời sang Cối Kê. Thí Hoàn nạp sính lễ, ông Quế không nhận.

Về sau, ông Quế lên kinh đô bị lường gạt, tài sản hao hụt quá nửa. Ngủ trong quán trọ, thấy có một tòa nhà to, bên cạnh có lỗ chó, liền nép xuống đất chui vào, thấy ông Thí bèn chắp tay chào. Ông Thí quát: “Súc sanh sủa bậy!” Chạy ra sau vườn, thấy vợ và hai con đều mang hình dáng chó, nhìn lại chính thân mình cũng là chó, kinh hãi hỏi: “Sao lại ra nông nỗi này?” Vợ đáp: “Ông chẳng nhớ lời thề trước tượng Đại Sĩ hay sao?” Kinh hãi tỉnh giấc, vội trở về thì hai con đã chết, vợ cũng sắp nguy, trợn mắt, nói giọng đứa con cả: “Vua cõi âm do thấy nhà ta phụ ơn ông Thí nên phạt chúng ta đều sanh làm chó [trong nhà ông ta]. Hai con đực là anh em con, còn con cái lưng có bướu là mẹ. Tới mùa Thu cha cũng sẽ sanh vào đó. Chỉ có em gái con là do có nhân duyên nên được miễn”.

Ông Quế đang kinh hãi, đau đớn thì bị cháy nhà, chẳng còn một vật gì, bèn dắt con gái sang tìm con ông Thí. Đến nơi thì nhà cửa khang trang, Thí Hoàn đã thi đậu, đã cưới con gái quan Tham Chánh. Ông Quế hối hận, nhờ người bày tỏ lòng hối tiếc và ý muốn xin dâng con gái làm thiếp. Thí Hoàn không chấp nhận. Ông Quế bước vào nhà, ba con chó vây quanh sủa ai oán, một con quả thật có bướu, biết là vợ con mình, đau đớn cùng cực, hướng về phía Thí Hoàn khóc lóc, lạy lục, kể lại giấc mộng và lời vợ nói lúc lâm chung, van nài: “Xin ân nhân mở một mặt lưới, nhận con gái tôi làm tôi tớ, cho tôi làm nô bộc để tận lực làm lụng nhằm thay cho quả báo làm chó”. Thí Hoàn thương cảm nhận lời. Ông Quế đêm mộng thấy vợ con nói: “May mà ông đã hối tội, chúng tôi được thoát thân nghiệp chướng”. Đến sáng, cả ba con chó đều chết, còn chính ông ta đến hết năm cũng không sao.

(15) Đời Tống, một vị tăng ở Hổ Khâu là Pháp Đạo do bị bệnh liền biến hình thành ngạ quỷ, bụng to, họng nhỏ. Người ta cho ăn bèn kêu là viên sắt. Đạo pháp sư tụng chú Đại Bi, đem nước đã tụng chú rưới lên, [Pháp Đạo] bèn đòi ăn cháo, dần dần khỏi bệnh.

Đời Đường, Long Đức Minh mất, vào cõi âm. Diêm vương hỏi lúc sống làm điều lành nào? Thưa: “Tôi tụng Quán Âm Kinh”. Vua mời lên tòa, vừa mới đọc tựa đề kinh, sự khổ trong địa ngục đã dứt.

(16) Theo Linh Sơn Thắng Tích, vào đời Tống, mẹ ông Phạm Trọng Yêm mất được ba tuần, báo mộng, khóc lóc nói: “Mẹ do nghiệp phải bị giam cầm nơi Thái Sơn Phủ Quân, chịu phạt không kham nổi. Xin con hãy tụng kinh Kim Cang một tạng để cứu vớt, xin đừng chần chừ, nghi hoặc. Nếu mẹ lọt vào địa ngục sẽ vĩnh viễn chẳng thể siêu sanh”. Ông Phạm khóc lóc, tỉnh giấc, liền mời Tăng phúng tụng. Đến hôm thứ sáu, mộng thấy mẹ bảo: “Nhờ con chí thành, cảm Bạch Y Đại Sĩ giáng phàm, đọc nửa quyển kinh, mẹ được sanh lên trời, hãy nên đáp tạ Đại Sĩ trọng hậu”. Trong ngày tụng kinh viên mãn, ông Phạm bèn cảm tạ chúng tăng; nhân đó, hỏi ai là người đã tụng nửa quyển kinh. Chúng tăng thất sắc đáp: “Tụng kinh chẳng thiếu một chữ, há lại có chuyện chỉ trì nửa quyển?” Có một vị Tăng ở bên cạnh nói: “Ngày hôm qua đại chúng tụng kinh, sơn tăng đứng bên cạnh yên lặng nhìn, đến nửa quyển thì Ngài đến dâng hương, liền trở về nhà bếp làm việc, nay Ngài hỏi tới, tôi xin đáp thẳng”. Ông Phạm sụp xuống lạy, vị Tăng nói: “Mạc, mạc” (đừng, đừng) rồi bay lên trời, chẳng thấy nữa! Do vậy, ông Phạm bèn dựng tòa Mạc Mạc Đường để kỷ niệm.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Phương Nham Tú ở Huy Châu, vợ chết vì sanh nở, mộng thấy vợ bảo với Nham: “Lúc còn sống, tội lỗi đã nhiều, chịu phạt chốn âm tào. Xin hãy tụng Quán Âm Kinh một ngàn biến, in tặng một ngàn quyển để mong được siêu sanh”. Ông Nham làm theo. Về sau, bà vợ kế có mang, chợt thấy người vợ trước đi vào phòng. Đứa con sanh ra đặt tên là Nguyên Hanh, lúc trưởng thành đậu Tiến Sĩ.

(17) Theo Phổ Đà Chí, trong bài ký của Cao Sĩ Kỳ có kể: “Vợ tôi là Phó Thị, tin Phật, ăn chay, bị bệnh ngất đi rồi tỉnh lại, nói: ‘Nếu tu bổ đại điện Phổ Đà thì sẽ tăng thọ’. Mấy hôm sau, vợ mất, tôi bèn gom góp tiền bạc cùng các thứ trâm, bông tai của vợ để góp phần sửa chữa đại điện, mời tăng tụng kinh, thầm nguyện Đại Sĩ cho vợ báo mộng. Tối hôm ấy, đứa con lớn mộng thấy có vị Tăng nắm tay áo dẫn đến Phổ Đà, thấy điện đường nguy nga, đề biển là Phổ Trang Nghiêm Điện. Chúng tăng tụng kinh, lại nói: ‘Do công đức sửa chữa điện, vĩnh viễn chẳng đọa ba đường ác, sanh trong trời người, hưởng diệu lạc thù thắng’. Lại thấy mẹ mặc áo vàng váy trắng, chắp tay ở trước điện, bảo: ‘Kim Cang Bát Nhã lợi khắp các cõi nhiều như cát. Ta nương theo Phật lực ghi nhớ chẳng quên, phát Bồ Đề tâm, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển. Hãy nhắn với cha con đừng nhớ nhung mẹ nữa’, đứa con liền tỉnh giấc. Đứa con tánh tình thật thà[37], quyết chẳng phải là bịa chuyện. Do vậy bèn ghi lại. Áo vàng, váy trắng chính là những thứ đã đốt cho bà ta”.

Theo Hồ Nhuyên Tạp Ký, vào đời Thanh, Kim Hoàn ở Thiệu Hưng tánh hiếu thảo, thương yêu anh em. Trong niên hiệu Khang Hy, mộng thấy có người bảo: “Vào ngày này năm sau, ngươi sẽ bị sét đánh”. Hằng ngày Hoàn bèn lễ Đại Sĩ sám hối tội nghiệp. Năm sau, vào đúng hôm ấy, trời tối sầm, Hoàn sợ không tránh khỏi được, kinh động đến mẹ già, bèn ra ngoài quỳ dưới tháp Phật, sấm sét đánh ầm ầm chung quanh. Đến khi tạnh mưa vẫn không sao. Hỏi chuyện, Hoàn nói: “Đúng như trong mộng, tôi thấy Đại Sĩ dùng cành dương rưới nước, lại cầm gương chiếu một cái rồi đi”.

(18) Theo Quái Viên, trong niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, Chương Tảo bị bệnh nguy ngập, phát tâm chép kinh, thờ tượng, liền mộng thấy năm con quỷ vò đầu tóc rối bù, quần áo lam lũ, bắt đi, lột quần áo trao đổi rồi bỏ đi. Chợt thấy chủ tiệm bán tượng Phật bảo: “Trang phục của ông để ở đây”, đi tìm quả nhiên tìm được. Thấy giường Thiền cao rộng, một vị Phạm tăng ngồi trên ấy, ông Tảo làm lễ. Thị đồng bảo: “Pháp Hoa đại sư đấy!” Đi ra, thấy trong đình có người đàn bà mặc áo trắng xách giỏ đứng đấy, ông Tảo vái chào, bà ta dùng cành dương gạt đầu tóc rối bù, liền tỉnh giấc, biết là Đại Sĩ cứu vớt.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, Hứa Nghiễm sống bằng nghề bắt cá. Về sau mắc bệnh, thân đỏ như lửa, đau đớn hơn bị nung nướng, kêu: “Xe lửa đốt thân, tôm cá tranh nhau đến rỉa rói”. Có người khuyên hãy làm công đức, ông ta bèn đốt dụng cụ bắt cá, tạo hai bức tượng Đại Sĩ, cúng dường, sám hối. Cả nhà ăn chay, kiêng giết và thí Kim Cang Kinh, liền khỏi bệnh.

(19) Với câu trên, xin coi lại lời chú thích cho đoạn thứ ba, tức đoạn “nhập tam đồ” trong phần ca tụng chú Đại Bi.

Trong bài kệ của Tỳ Bà Thi Phật có câu: “Huyễn nhân tâm thức bổn lai vô, tội phước giai không vô sở trụ” (Tâm thức huyễn nhân vốn là không, tội phước đều không, chẳng hề trụ). Trong bài kệ của Câu Na Hàm Mâu Ni Phật có câu: “Trí giả năng tri tội tánh không, thản nhiên bất bố ư sanh tử” (Trí giả biết tội tánh vốn không, thản nhiên chẳng khiếp sợ sanh tử).

Tô Đông Pha nói: “Ta tạo vô thỉ nghiệp, vốn từ một niệm sanh. Đã từ một niệm sanh, vẫn theo một niệm diệt”.

Than ôi!

1. Sống là Phần Đoạn, ai trốn khỏi cực hình ngũ thống, chết bèn trầm luân, lại thọ quả báo lục giao.

2. Đau đớn, thảm thiết, xót xa, kệ từ mẫu chẳng gọi, kiêu căng, phóng túng, hồ nghi, bỏ lương y chẳng đoái.

3. Tự chuốc buồn phiền, há chẳng ngu lắm ư?

4. Huống hồ, thuốc vốn là Vô Úy, không chỉ các nạn trọn tiêu, châu quả thật Ma Ni, càng mừng sở cầu như nguyện.

5. Trần thuật phước báo, nhờ dục kéo lôi. (Trên đây là tổng kết về sự cứu khổ, tiếp theo là ca tụng sự ban vui).



(1) Lục đạo luân hồi đều thuộc về Phần Đoạn Sanh Tử. Do đời này chẳng biết đến chuyện thuộc đời khác, nên bảo là Phần Đoạn.

Vô Lượng Thọ Kinh: “Ngã ư thử thế gian tác Phật, xử ư ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu chi trung, vi tối kịch khổ, giáo hóa quần sanh, linh xả ngũ ác, linh khử ngũ thống, linh ly ngũ thiêu” (Ta làm Phật trong thế gian này, ở trong đời có năm thứ ác, năm thứ đau đớn, năm thứ thiêu đốt khổ sở nhất, để giáo hóa quần sanh khiến họ bỏ năm thứ ác, trừ năm thứ đau đớn, lìa năm thứ thiêu đốt).

Lăng Nghiêm Kinh: “Bỉ chư chúng sanh, tự nghiệp sở cảm, tạo thập tập nhân, thọ lục giao báo” (Các chúng sanh ấy do nghiệp của chính họ cảm vời, tạo ra mười nhân tập khí, chịu quả báo của lục giao). “Lục giao” chính là sự “thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, nghĩ tưởng” nơi sáu căn, cùng hứng chịu ác báo vậy.

(2) Sử Ký: “Đau đớn, thảm thiết, xót xa, chưa từng không kêu cha gọi mẹ”. Cũng theo Sử Ký, có sáu loại bệnh chẳng trị được, thứ nhất là kiêu căng, phóng túng, thứ sáu là chẳng tin vào thầy thuốc.

(4) Theo phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm: “Như nhân đắc Vô Úy dược, ly ngũ khủng bố, hỏa bất năng thiêu, độc bất năng trúng, đao bất năng thương, thủy bất năng phiêu, yên bất năng huân” (Như người được món thuốc Vô Úy, lìa năm sự sợ hãi: Lửa chẳng thể đốt, chẳng bị trúng độc, đao chẳng thể gây tổn thương, nước chẳng thể cuốn trôi, khói chẳng thể hun).

Trong phần giảng về Thập Địa, kinh lại có đoạn viết: “Như đại Ma Ni châu, năng tùy vương ý, vũ chúng bảo vật, như chúng sanh tâm, sung mãn kỳ nguyện” (Giống như châu đại Ma Ni có thể thuận theo ý vua, tuôn ra các vật báu vừa lòng chúng sanh, thỏa mãn ý nguyện của họ).

Như Ý Luân Chú Kinh cũng viết: “Đẳng Ma Ni châu, năng mãn hữu tình nhất thiết thắng nguyện” (Giống như châu Ma Ni có thể thỏa mãn hết thảy nguyện thù thắng của hữu tình).

(5) Duy Ma Kinh: “Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí” (Trước hết dùng dục để lôi kéo, rồi làm cho họ nhập Phật trí).



2.2.3. Ban vui



Trong phần này chia thành bốn đoạn. Trước hết là ban cho được mùa, hai là giáng phước, ba là tăng thọ, bốn là sanh con.



2.2.3.1. Ban cho được mùa



1. Bèn có đao đặt trên chậu, thỏa lòng Lương đế nguyện cầu, bình tưới lên trời, gỡ mối lo của Đường thất.

2. Kim thân hiện tướng, thật hợp lòng Vương Cổ mong cầu. Dấu thiêng tùy duyên, sự truyền trong bài ký Lưu Canh.

3. Động Triều Âm, cầu khẩn thiết tha, hoan hỷ đến đón. Chốn Tứ Châu vẳng nghe tiếng hát, Đông Tây trúng mùa.

4. Tưới nhuần Chiết thủy, há vì hương mộc mới thiêng? Phước đẫm Ngô Sơn, kim thân linh dị chẳng trật!

5. Thiên Hán trọn nhờ tưới đẫm, Quảng Phong cũng nhớ ân sâu.

6. Nổi sấm chớp trừ nạn châu chấu, ngăn dòng sông để dứt nước tràn.

7. Cảm bi nguyện của Đạo Châu, mưa tuyết đúng kỳ; chép thần thông ngài Vô Úy, hiện tướng thái dương.

8. Nhị Lâm tụng chú, gom thơ, ký, thành tập Quán Hà. Mạnh Túc trì kinh, lời ca tụng vang dội Cao Uyển.

9. Gỡ rối, họ Trình dốc lòng nơi pháp, thân chẳng chấp chặt hẹp hòi. Báo mộng cảnh tỉnh Trung Ý Vương, tượng Phật ắt cầu thanh tịnh.

10. Như Bích Chi thọ thực, khắp xứ Ca Bạt ấm no. Pháp Âm làm vua, trọn cõi Diêm Phù hưởng phước. Đấy chính là sự ban vui thứ nhất của Đại Sĩ vậy.



(1) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, mùa Đông năm Thiên Giám thứ 5 (506) đời Lương bị hạn hán, ngài Chí Công sai giảng kinh Thắng Man để cầu mưa. Pháp vừa giảng xong, trời đổ tuyết lớn. Chí Công bảo đem đặt thanh đao trên chậu nước, mưa to trút xuống.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, Đường Trung Tông đón đại sĩ Tăng Già vào cung để cúng dường. Một hôm, vua nói: “Chốn kinh kỳ mấy tháng không mưa, xin hãy từ bi giải nỗi lo cho trẫm”. Sư hắt bình nước lên không trung, mưa ngọt ào ào trút xuống. Xét ra, hai vị này đều là do Đại Sĩ ứng hóa, xem chú thích trong phần sau.

(2) Đời Tống, Vương Cổ cầu mưa trên núi Mộc Bình, Đại Sĩ hiện tướng. Xin coi chuyện này trong lời chú thích thứ hai cho phần “hiện tướng ở nơi khác” [trong quyển 1], mưa to ngập đến chân.

Theo Phổ Đà Chí, học sĩ đời Nguyên là Lưu Canh chép: “Bảo Đà được sáng lập từ thời Nguyên Phong; khi ấy, trong những sự tích linh thiêng tùy duyên thị hiện thì sự cảm ứng đối với hạn, lụt, gió, sóng là nhanh chóng nhất”.

(3) Theo Phổ Đà Chí, trong niên hiệu Thuần Hựu đời Tống, hạn hán dữ dội mấy năm liền. Người đứng đầu vùng Chiết Giang là Nhan Di Trọng đến động Triều Âm cầu đảo, thấy Đại Sĩ hiện tướng hoan hỷ, mưa ngọt lập tức trút xuống.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, Tăng Già đại sư đời Đường có tháp thờ ở Tứ Châu, hiển hiện các thứ thần dị. Trong niên hiệu Trường Khánh, có lời ca rằng: “Hoài Nam, Hoài Bắc hưởng phước từ đây, từ Đông sang Tây thảy trúng mùa”. Cả vùng ấy liền trúng mùa to.

(4) Theo Thiên Trúc Chí, năm Hàm Bình nguyên niên (998) đời Tống, Trương Khứ Hoa làm quận thú đất Hàng. Trời hạn hán to, cầu đảo khắp nơi vô hiệu, bèn rước tượng Đại Sĩ sang chùa Phạm Thiên để lễ bái, cầu nguyện. Trời liền mưa to, bốn phía nước ngập đến chân.

Lại nữa, vào năm Cảnh Thái thứ 6 (1455) đời Minh, vùng Lưỡng Chiết khổ sở vì hạn, Trấn Thủ là ông Tôn bèn trai giới, tắm gội, đi chân không đến chùa Thiên Trúc, đón tượng về cầu mưa. Ngay hôm ấy, mây kéo dầy, mưa liên tiếp ba ngày, những thứ khô khao đều hồi sinh.

Lại nữa, vào đời Thanh, trong lời tựa cho bộ Cảm Ứng Tụng của Kim Đình Tử có viết: “Năm Gia Khánh 24 (1819), hạn hán dữ dội, xác chết khô đầy đồng, cầu đảo khắp nơi vô hiệu, bèn truyền bọn huyện lệnh không được ngồi xe, mặc áo trắng, đi chân không sang chùa Thiên Trúc, đón Đại Sĩ, các vị Tăng như Huệ Lâm v.v... tụng kinh. Trước hết, họ dùng bình sạch đựng nước cho rỉ ra để xét nghiệm xem có mưa hay không. Sau một ngày, nước trong bình hơi trào ra, nhỏ tí tách như từng hạt châu, quả nhiên được mưa lay phay. Ngày hôm sau, nước tuôn ra ào ạt, liền mưa lớn. Do vậy, soạn bài tụng để nêu rõ sự ứng nghiệm thần kỳ”.

Theo Hồ Nhuyên Tạp Ký, tượng Đại Sĩ cũ ở chùa Thiên Trúc bị người Kim là Ngột Thuật[38] chở lên phía Bắc. Tăng chúng trong chùa dùng loại gỗ khác khắc lại tượng mới, nhưng nước lụt, hạn hán, cầu đảo không gì chẳng ứng nghiệm. Tin chắc Ngài do lòng đại từ, tùy duyên cư trụ, há có phải xá-lợi mới hiện oai thần, gỗ lạ mới bày sự dị thường ư? Câu kế tiếp xin coi lời chú thích 12 trong phần Hiện Thần Biến.

(5) Theo Cảnh Tâm Lục, tại Tứ Xuyên, nơi giáp ranh giữa Thiên Bành và Hán Phồn có suối Quán Âm, từ Đạo Bàng chảy ra. Mùa Hạ gặp trời hạn, nước suối ấy tưới tắm mấy ngàn mẫu, cả hai ấp được nhờ.

Theo Hải Nam Nhất Chước, ngoài cửa Bắc thành Quảng Phong ở Giang Tây, có suối Quán Âm, gặp năm khô khan, suối vẫn chẳng cạn, tưới tắm rất rộng.

(6) Theo Thiên Trúc Chí, năm Tường Phù thứ 9 (1016) đời Tống, châu chấu bay kín trời, vua sai sứ cầu đảo Đại Sĩ. Trời đang nắng chang chang, chợt nổi sấm, nháng chớp, mưa đá sầm sập trút xuống như bắn tên, quăng đá, châu chấu hết sạch.

Lại nữa, năm Khai Bảo thứ 5 (972) đời Tống, mưa to, nước sông chảy xiết. Vua cầu đảo thiên địa quỷ thần, mưa càng lớn hơn, bèn sai sứ sang chùa Thiên Trúc kiền thành cầu đảo. Mấy hôm sau, trời tạnh ráo, nước sông không dâng lên nữa. Sứ giả trở về, hỏi ra, thì quả thật [trời ngưng mưa] nhằm đúng hôm sứ giả vừa đến Hàng Châu cầu đảo. Từ đó, hễ nước lụt, hạn hán, tật dịch đều cầu đảo ở đấy.

(7) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, đời Thạch Tấn[39], Thích Đạo Châu vào núi Hạ Lan, trích huyết vẽ tượng Đại Bi Thiên Thủ Thiên Nhãn, tuyệt thực cầu mưa, được cảm ứng. Ngài lại chặt tay trái, đem đốt cúng dường tượng Đại Sĩ, nguyện xã tắc Trung Nguyên sớm dứt đao binh. Nói xong, trời nổi sấm, gió dậy, mưa to trút xuống. Lại nữa, Sư từng cắt tai trái để cầu mưa cho dân, nhịn ăn cầu trời đổ tuyết, đều được như nguyện.

Hơn nữa, đời Đường, ngài Thiện Vô Úy[40] cầu mưa ở Trung Thiên Trúc, thấy Quán Âm [hiện thân] trong vầng mặt trời, cầm tịnh bình xối nước xuống đất, đại chúng đều vui mừng cảm động.

(8) Theo Quán Hà Tập, năm Ất Tỵ (1785) đời Càn Long nhà Thanh, Tô Châu hạn hán, cư sĩ Bành Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) kết giới hai mươi mốt ngày tụng tâm chú Đại Bi, trì thêm thánh hiệu của Tây Phương Phật (A Di Đà Phật), bỏ ăn trưa. Mãn kỳ hạn, mưa ngập nửa thước. Có thơ rằng: “Hung niên bất đáo liên hoa quốc, từ tế trường hoài tử trúc lâm, phần đắc tư nhân cơ bán nhật, chi đầu điểm trích dã thành lâm” (Cõi hoa sen chẳng bị mất mùa, rừng trúc biếc lòng Từ sẵn giúp, kẻ mọn nhịn ăn chừng nửa buổi, giọt sương ngọn trúc hóa mưa dầm).

Theo Cư Sĩ Truyện, đời Minh, Vương Mạnh Túc tên là Tại Công, là đệ tử ngài Vân Thê (tổ Liên Trì), đồng thời là tri huyện Cao Uyển. Lúc làm quan, ông Vương lễ Phổ Môn Đại Sĩ, tụng kinh Di Đà. Trời hạn hán to, cầu đảo ngoài đất trống, trời liền đổ mưa.

(9) Theo Lãng Tích Tục Đàm, tại Phước Châu có một năm mùa Hè bị hạn hán, quan Tư Đạo bèn yết kiến quan Đốc Bộ Trình Tân Đình, xin quan tối nay cùng lên Cổ Sơn, đón tượng Quán Âm Đại Sĩ - tượng này tự nhiên sanh ra trong lò gốm - [về thành] để cầu mưa. Họ Trình mỉm cười nói: “Đại Sĩ tại Tây Thiên, chẳng ở Cổ Sơn, các ông tự làm là được rồi”. Đến khi đã rước tượng vào thành, mời ông Trình dâng hương, ông Trình lại ngửa mặt lên trời nói: “Hôm nay, chính mắt thấy trời không mưa rồi, ngày mai chẳng mưa thì lại như thế nào đây? Ta chẳng thể sấp ngửa chạy đôn chạy đáo được!” Đêm ấy, trời mưa to lai láng suốt đêm đến tận sáng. Ông Trình bèn lên núi dâng hương, giữ tượng Đại Sĩ lại, một mình tụng kinh cả ngày. Ấy là vì [linh ứng] đến mức như vậy thì chẳng thể nào không hồi tâm quy hướng được!

Theo Thiên Trúc Chí, Tiền Trung Ý Vương[41] dốc sức trang hoàng điện đường chùa Thượng Thiên Trúc. Trời đại hạn, vương cầu mưa, mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Mặt ta chẳng sạch, chẳng thể thấy ngoài ngàn dặm được!” Ấy là vì [chất sơn để tô] mặt tượng có hòa lòng trắng trứng gà. Sửa đổi, trời liền đổ mưa.

(10) Theo Bồ Tát Bổn Hạnh Kinh, có vị Bích Chi Phật thấy nhân dân Diêm Phù Đề đói kém, bèn tới chỗ quốc vương là Ca Na Ca Bạt khất thực. Vua bảo: “Ta chỉ có ngần này thức ăn, nhưng dù có chết cũng sẽ dâng cơm lên Ngài là bậc thần nhân”. Bích Chi Phật thọ thực xong, hỏi nhà vua ước nguyện điều gì? Vua nói: “Dân trong nước đói kém, mạng chỉ còn trong sớm tối. Mong trừ sự khốn khổ”. Ngay lập tức gió nổi lên, thổi sạch ô uế, mưa xuống món ăn trăm vị, y phục, trân bảo, thảo mộc xum xuê, nhân dân no đủ.

Trong kinh Hoa Nghiêm, đồng nữ Bảo Quang Minh ca tụng Pháp Âm Viên Mãn Vương như sau: “Trì thủy ký doanh mãn, lưu diễn nhất thiết xứ, phổ cập Diêm Phù địa, mị bất giai triêm hợp” (Ao đã đầy tràn nước, tràn chảy khắp mọi nơi, trọn khắp đất Diêm Phù, không đâu chẳng thấm đẫm).



Ghi thêm: Theo Thiên Trúc Chí, vào đời Tống, Trần Hiên là quận thú Tiền Đường, soạn bài văn bia Linh Cảm Quán Âm có đoạn: “Giữa Hạ và Thu, mưa dầm mấy tháng không tạnh, thần dẫn quyến thuộc xông mưa lên núi. Khi trở về, trời đất tạnh ráo, trời chẳng kéo mây. Đem xe rước Ngài vào thành làm Phật sự xong thì mưa tạnh đúng lúc, nhà nông chẳng cáo bệnh, quả thật là Đại Sĩ gia hộ đất này!”

Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, đời Minh, ngài Thiện Học hiệu là Cổ Đình, trụ tại chùa Đại Từ, có tượng Quán Âm rất linh thiêng. Trời hạn, Quận Thủ bèn cầu ngài Thiện Học làm lễ cúng dường, mưa dầm liền trút xuống.



Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2

Phần 2 hết


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 29 Nov 2015, 4:50 PM | Message # 23
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
[1] Thư Cừ Mông Tốn (368-433) là người sáng lập triều đại Bắc Lương vào thời Nam Bắc Triều cuối đời Tấn, thuộc sắc dân Hung Nô. Thoạt đầu Mông Tốn ủng hộ Lữ Quang ly khai nhà Diêu Tần, lập ra nhà Hậu Lương; sau đó, lại chống Lữ Quang, chiếm lãnh miền Cô Tạng, tự xưng là Hà Tây Vương. Về sau, Mông Tốn diệt nhà Hậu Lương, khống chế đường giao thông Tây Vực, trở thành vua một nước hùng mạnh. Thư Cừ Mông Tốn rất tôn sùng Phật giáo, từng thỉnh ngài Đàm Vô Sấm dịch kinh Phương Đẳng, Niết Bàn v.v… Em họ Mông Tốn là Thư Cừ Kinh Thanh (?-464) là một cư sĩ học rộng, từng sang Vu Điền học tiếng Phạn, thông thạo Phạn Văn. Chính Kinh Thanh đã đích thân thỉnh ngài Đàm Vô Sấm đến đất Lương và đích thân dịch các bộ Thiền Yếu Bí Mật Trị Bệnh Kinh, Bát Quan Trai Giới Kinh, Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Kinh v.v…

[2] Đàm Vô Sấm (385-433), tên Phạn ngữ là Dharma-raksa, đôi khi còn phiên là Đàm Ma La Thức, Đàm Ma Sám, Đàm Mô Sấm, Đàm La Vô Sấm, dịch nghĩa là Pháp Phong. Ngài xuất thân từ dòng Bà La Môn tại Trung Ấn Độ, thoạt đầu tu học Tiểu Thừa. Sau gặp được Bạch Đầu thiền sư truyền thụ kinh Đại Niết Bàn bèn phát tâm học Đại Thừa. Năm hai mươi tuổi Sư đã thông thạo các kinh Đại Thừa, kiêm hiểu Mật chú nên được gọi là Đại Chú Sư. Về sau, Sư mang kinh Đại Bát Niết Bàn, Bồ Tát Giới Kinh, Bồ Tát Giới Bổn v.v… sang Kế Tân, đến nước Quy Tư. Do thấy hai xứ này sùng trọng Tiểu Thừa, bèn sang Đôn Hoàng. Năm Huyền Thỉ nguyên niên (412) nhà Bắc Lương, Hà Tây Vương Thư Cừ Mông Tốn sai Thư Cừ Kinh Thanh cung thỉnh Sư đến Cô Tạng để Sư học tiếng Hán trong vòng ba năm, rồi bắt đầu phiên dịch kinh Đại Bát Niết Bàn, hai vị Huệ Tung và Đạo Lãng giữ nhiệm vụ Bút Thọ. Do kinh Niết Bàn Sư mang theo chưa trọn vẹn, Sư bèn trở về Vu Điền, tìm được một phần cuối kinh ấy, mang về Cô Tạng tiếp tục dịch. Nhận lời thỉnh của Huệ Tung và Đạo Lãng, Sư chủ trì công việc phiên dịch các kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, Kim Quang Minh Kinh, Bi Hoa Kinh, Bồ Tát Địa Trì Kinh, Bồ Tát Giới Bổn… Do Thái Vũ Đế nhà Bắc Ngụy nghe tin Sư thông thạo phương thuật, bèn sai sứ sang thỉnh, Thư Cừ Mông Tốn sợ Sư sẽ sang đất Ngụy, liền giả vờ sai Sư sang Tây Vực tìm kiếm phần sau kinh Niết Bàn (phần này về sau được ngài Nhã Na Bạt Đà La dịch tiếp vào đời Đường), rồi ngầm sai thích khách giết chết Sư giữa đường. Bản kinh Đại Bát Niết Bàn của Sư được gọi là Bắc Bản Niết Bàn để phân biệt với bản dịch Nê Hoàn Kinh của ngài Pháp Hiển dịch (thường gọi là Nam Bản Niết Bàn Kinh).

[3] Nguyên văn “hoa đĩnh” (thuyền hoa): Thuyền chở gái ăn sương.

[4] Đây là lời giải thích chữ “mộng thụ” trong nguyên bản của tụng văn: “Trần trạch, Phương môn, hộ vệ mạc nghi mộng thụ” (Nhà họ Trần, Phương, che chở chớ ngờ mộng bệnh): “Mộng thụ” (mộng thấy đứa bé) chính là điển tích vua Tấn bị bệnh, nằm mộng thấy hai đứa bé (tiếng cổ là “thụ tử”) từ trong bụng nhảy ra, bàn với nhau ‘lương y đã đến, hãy trốn kỹ vào phía dưới Cao, phía trên Hoang thì thầy thuốc không làm gì được!’ Khi thầy thuốc đến, bảo bệnh đã nhập Cao Hoang (phần dưới hoành cách mô, phía trên gan) không cách nào trị được!

[5] Bôi Độ là một sư nổi danh ở kinh đô vào thời Tống, không rõ họ tên, Ngài thường đạp lên một cái chén để vượt qua sông nên được gọi là Bôi Độ. Ngài xuất hiện đầu tiên ở Ký Châu, không giữ oai nghi, thậm chí không ăn chay, mà ăn thịt, uống rượu, quần áo tồi tàn lam lũ, không đủ che thân, thần lực khó đoán. Ngài ra vẻ hỷ nộ bất thường, nhưng lời lẽ phảng phất huyền cơ sâu xa. Ngài thường lang thang khắp nơi, tắm trong băng giá, Những chuyện thần dị của Ngài được chép trong bộ Lương Cao Tăng Truyện. Khi Ngài sắp tịch, có ngỏ lời xin một đệ tử may cho một tấm ca-sa, nói: “Ngày mai ra khỏi cửa sẽ không quay lại nữa”. Áo chưa may xong thì Ngài đã đi mất. Cả vùng chợt nghe mùi hương lạ ngào ngạt, đi tìm thấy Ngài nằm dưới gộp đá, quấn mình trong tấm ca-sa rách, đã tịch từ lâu. Từ đầu đến chân đều trổ hoa sen thơm ngát. Mấy hôm sau, có người từ phương Bắc về nói thấy Ngài lang thang tại Bành Thành. Đại chúng hồ nghi, mở quan tài ra xem thì thấy chỉ còn đôi giày.

[6] Tuần Kiểm là một chức quan võ đời Tống trấn nhậm những vùng trọng yếu, quản hạt châu huyện, huấn luyện binh lính, tuần phòng trong địa phương, duy trì an ninh, trấn áp phản loạn.

[7] Ngụy Tử chính là Ngụy Cao, tự Bá Dương, hiệu Vân Nha Tử, một nhà luyện đan nổi tiếng thời Đông Hán, quê ở Cối Kê, đại khái sống vào thời Hán Hoàn Đế (147-167), ưa chuộng Đạo giáo, ham luyện đan, được coi là tác giả của bộ Tham Đồng Khế, là sách gối đầu giường của những kẻ ham mê luyện đan, tin vào chuyện trường sanh bất lão! Trong câu nói này của họ Ngụy, chữ “Đạo thuật” chỉ cho cách luyện đan nói riêng và những cách luyện tập của Đạo giáo nói chung. Nhưng cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh mượn câu nói này để ca ngợi thần lực chẳng thể nghĩ bàn của Quán Thế Âm Bồ Tát, chứ không hề nhằm ca ngợi Đạo Giáo. Chữ “đạo thuật” trong câu “Trị bằng đạo thuật, thánh thần công xảo há thể suy lường?” hàm nghĩa: Sức thần thông chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát, làm sao có thể đem các tài khéo chữa bệnh của thế gian như Thánh, Thần, Công, Xảo đã nói trong Nạn Kinh, để suy lường lực dụng của Bồ Tát cho được!

[8] Biển Thước vốn họ Tần, tên Việt Nhân, có hiệu là Lô Y, người đất Trịnh thuộc Bột Hải (nay là Nhậm Khâu ở Hà Bắc), không rõ năm sanh và năm mất, phỏng chừng trong khoảng từ 407 đến 310 trước Công Nguyên, là danh y thời Xuân Thu Chiến Quốc. Do vậy, người đương thời gọi ông là Biển Thước (Biển Thước vốn là tên một vị thần y của Hoàng Đế trong thần thoại). Ông được coi là thủy tổ thật sự của y học Trung Hoa, sáng tạo ra cách coi mạch và chẩn bệnh, lập ra cơ sở cho cách chữa trị dựa theo biểu hiện bệnh trạng.

[9] Nạn Kinh là một bộ sách cổ về y học Trung Hoa, có tên gọi đầy đủ là Hoàng Đế Bát Thập Nạn Kinh, không rõ được hình thành vào thời kỳ nào. Theo truyền thuyết, sách này do chính Biển Thước biên soạn, nhằm giải thích những ý nghĩa khó hiểu, dễ gây vấn nạn trong bộ Hoàng Đế Nội Kinh, theo hình thức vấn đáp, hệ thống hóa học thuyết kinh lạc, mạch lý, tạng phủ, chẩn đoán v.v...

[10] Theo Trung Y Dược Điển, Thủy Tả là chứng bệnh đi tiêu ra rất nhiều nước khiến người bệnh bị mất nước nhanh chóng, có thể mất mạng. Có lẽ đây chính là bệnh dịch tả?

[11] Theo Trung Y Dược Điển, Thủy Thũng (Edema, dropsy, hay hydropsy) là chứng bệnh chân tay, thân thể sưng phù, mặt sưng húp, bóp nhẹ sẽ thấy da lõm xuống, phập phều như khắp thân được bơm đầy chất khí. Nguyên do là vì các chất dịch trong cơ thể sinh ra quá mức, ứ đọng dưới da.

[12] Huyền Đế có thể hiểu theo nhiều cách:

1. Huyền Đế là thần ở phương Bắc, tên là Chuyên Dĩnh. Do trong thiên Đại Tông Sư của sách Trang Tử có nói Chuyên Dĩnh ở trong cung điện màu đen nên Chuyên Dĩnh được gọi là Huyền Đế. Chuyên Dĩnh là cháu nội của Hoàng Đế, tức là Đế Cao Dương trong cổ sử Trung Hoa. Theo truyền thuyết, Đế Cao Dương thọ đến chín mươi bảy tuổi.

2. Huyền Đế là mỹ hiệu của vua Hạ Vũ. Do Hạ Vũ có công trị thủy, theo Ngũ Hành, nước có màu đen nên Hạ Vũ được gọi là Huyền Đế.

3. Huyền Đế chính là gọi tắt của Huyền Thiên Thượng Đế, tức Chân Vũ Đế Quân, một phân thân của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Đây là cách hiểu phổ biến nhất.

[13] Thanh Chân Tự chính là giáo đường Hồi Giáo. Đây là cách người Trung Hoa dịch chữ Masjid (nơi thờ phụng) của tiếng Ả Rập. Các giáo đường Hồi giáo hiện thời phỏng theo kiến trúc từ nhà ở cũ của tiên tri Mohamed. Trong giáo đường Hồi giáo, không được phép đặt tượng thờ, tranh vẽ hay đồ cúng, không được vẽ hình người. Các câu kinh Koran hay các họa tiết trang trí được vẽ hay khắc thẳng lên tường, nhưng thường thì vách giáo đường để trơn, chỉ khắc các câu kinh trên đầu các cửa vòm. Gian phòng chính giữa có dấu khắc để chỉ phương hướng thánh địa Mecca, khi cầu kinh tín đồ phải hướng về đó.

[14] Thị dân: Người sống ở thành phố lớn, để phân biệt với dân sống ở các hương trấn hay làng quê.

[15] Sam (Cryptomeria Japonica), còn gọi là Liễu Sam, là một loại cây thuộc loài Tùng, thường bị gọi lầm là Japanese Cedar. Cây có thể cao đến 70m, đường kính 4m, lá kim, vỏ cây nâu đỏ, có trái hình nón giống thông, gỗ có tinh dầu thơm. Liễu Sam được coi là cây thiêng tại Nhật Bản, chủ yếu trồng quanh các “thần xã” (miếu thờ thần).

[16] Sở Từ nói chung là những tác phẩm thơ ca nơi đất Sở trong thời Chiến Quốc (vua Sở là chư hầu của nhà Châu, nước Sở nằm trong địa bàn hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam hiện thời); nói riêng, Sở Từ là tên một tập sách hợp tuyển những bài thơ ấy, nổi tiếng chỉ kém Thi Kinh. Những tác giả nổi tiếng nhất được giới thiệu trong Sở Từ là Khuất Nguyên, Tống Ngọc v.v...

[17] Theo Phó Đại Sĩ Truyện, Huệ Tập là học trò của Phó Đại Sĩ, nổi tiếng với tài chữa bệnh và thích phóng sanh. Suốt đời Sư lo mua lại các loài vật bị đánh bắt để phóng sanh, không tiếc sức.

[18] Theo Trung Y Dược Điển, Bạch Lại là một trong các loại bệnh ma phong (bệnh cùi). Sách trích dẫn Chư Bệnh Nguyên Hầu Luận, quyển 2, như sau: “Phàm những ai bị bệnh Bạch Lại thì tiếng nói rè đục, mắt nhìn không rõ, tứ chi tê cứng, các khớp viêm đỏ, trong lòng bức rức, chân tay bải hoải... có những vết loét kín, da thường nổi những vết trắng, mắt có cườm”.

[19] Tăng-già-lê (Samghati), dịch nghĩa là Trùng Y, Đại Y hoặc Tạp Toái Y, là một trong ba y của tỳ-kheo. Loại y này chỉ đắp khi đi khất thực, thuyết pháp, hoặc cử hành pháp hội. Thoạt đầu, có đến chín loại y Tăng-già-lê khác nhau:

1. Bậc hạ là gồm chín điều, mười một điều, mười ba điều. Ba loại y này mỗi điều gồm hai miếng dài, một miếng ngắn.

2. Bậc trung gồm mười lăm điều, mười bảy điều, mười chín điều. Loại y này mỗi điều gồm 3 miếng dài, một miếng ngắn.

3. Bậc thượng gồm hai mươi mốt điều, hai mươi ba điều và hai mươi lăm điều. Mỗi điều gồm bốn miếng dài, một miếng ngắn.

Nay chỉ còn thịnh hành loại hai mươi lăm điều. Y được may bằng những miếng vải ghép lại theo chiều dọc, gọi là điều. Mỗi một điều lại được cắt thành những miếng dài ngắn xen kẽ, trông giống như thửa ruộng, nên các loại y được gọi chung là Phước Điền Y.

[20] Thiên Hậu, còn được gọi là Thiên Phi, Mỵ Châu Nương Nương, Thiên Phi Nương Nương, Thiên Hậu Nương Nương, Thiên Thượng Thánh Mẫu, Ma Tổ (thường bị đọc trại thành Mã Tổ) v.v... là một vị nữ thần được dân cư vùng Đông Nam Trung Quốc sùng bái, nhất là ngư dân. Theo ngọc phổ, bà có tên thật là Lâm Mặc, không rõ sanh và mất năm nào, chỉ biết bà đã được phong thần từ thời Tống, quê quán tại đảo Mỵ Châu, huyện Bồ Điền, tỉnh Phước Kiến. Tương truyền, bà lúc còn sống có tài tiên tri, dự đoán họa phước nên được dân chúng tôn sùng, lập miếu thờ sau khi mất. Bà được tôn lên thành vị thần bảo hộ cho hàng hải sau khi có chuyện Cấp Sự Trung Lộ Doãn Địch đi sứ Cao Ly vào năm Nguyên Hòa thứ 5 (1123) đời Tống Huy Tông, chìm thuyền, được bà che chở. Ông Lộ thoát nạn, bèn trùng tu miếu thờ, triều đình ban tặng biển đề Thuận Tế. Các triều đại kế tiếp liên tiếp sắc phong như năm 1156, Tống Cao Tông sắc phong bà là Linh Huệ Phu Nhân, Tống Quang Tông phong cho bà hiệu Linh Huệ Phi, năm Chí Nguyên 15 (1278), nhà Nguyên sắc phong cho bà hiệu Hộ Quốc Minh Trước Linh Huệ Hiệp Chánh Thiện Khánh Hiển Tế Thiên Phi. Danh xưng Thiên Hậu bắt đầu từ đời Thanh khi vua Khang Hy gia phong cho bà mỹ hiệu Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu Linh Chiêu Ứng Nhân Từ Thiên Hậu. Lần sắc phong cuối cùng là do vua Hàm Phong ban chiếu vào năm Hàm Phong thứ 7 (1857) và cũng là mỹ hiệu dài nhất Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu Linh Chiêu Ứng Hoằng Nhân Phổ Tế Phước Hựu Quần Sanh Thành Cảm Hàm Phù Hiển Thần Tán Thuận Thùy Từ Đốc Hựu An Lan Lợi Vận Trạch Đàm Hải Ninh Điềm Ba Tuyên Huệ Đạo Lưu Diễn Khánh Tĩnh Dương Tích Chỉ Ân Châu Đức Phổ Vệ Tào Bảo Thái Chấn Vũ Tuy Cương Thiên Hậu Chi Thần, nhằm ca tụng nữ thần linh ứng, oai linh, nhân từ, dẹp yên sóng gió, tạo phước lợi, che chở nhân dân, giữ yên bờ cõi. Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu theo chân người Hoa phổ biến khắp vùng Đông Nam Á. Các nơi được gọi là “chùa Bà” ở Việt Nam chính là miếu thờ Thiên Hậu.

[21] Mỵ Dự là tên gọi khác của đảo Mỵ Châu, quê hương của Thiên Hậu.

[22] Nội giáo chính là đạo Phật. Gọi như vậy vì đạo Phật dạy tu tập nơi chân tâm bản tánh, chứ không phải chú trọng luyện nơi thần thức hoặc cầu trường sanh bất lão.

[23] Chân Cáo là một kinh điển trọng yếu của phái Thượng Thanh trong Đạo Giáo, do đạo sĩ Đào Hoằng Cảnh (456-536) biên soạn, gồm 12 quyển, nội dung nhằm giải thích 64 quẻ của kinh Dịch, trình bày những giáo nghĩa của Đạo Giáo. Thiên Xiển Vi có tên gọi đầy đủ là Xiển U Vi, nhằm giải thích thiên giới và tiên giới theo quan điểm Đạo Giáo.

[24] Kế Tân là một nước cổ ở Tây Vực, cho đến hiện thời, các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa xác định dứt khoát vị trí nước này. Nói chung, có ba thuyết:

1. Kế Tân là phiên âm của chữ Kophen, là danh xưng của sông Kabul theo tiếng Hy Lạp cổ. Chữ Kế Tân chỉ vùng hạ lưu sông Kabul của A Phú Hãn (Afghanistan).

2. Kế Tân chính là quốc gia về sau này được ngài Huyền Trang gọi là Ca Thấp Di La, tức vùng Kashmir hiện thời.

3. Kế Tân là phiên âm của chữ Kapisa, tức vùng bình nguyên từ Kafiristan cho đến hạ lưu sông Kabul, bao gồm cả miền Tây Kashmir.

[25] Chân Đế (Paramārtha, 499-569), còn được dịch âm là Ba La Mạt Đà. Sư là một trong bốn vị thánh tăng được xưng tụng là “tứ đại dịch giả” của Hán Truyền Phật giáo (ba vị kia là Cưu Ma La Thập, Bất Không, Huyền Trang). Sư vốn là người xứ Ưu Thiền Ni ở Thiên Trúc, tu tập chủ yếu theo truyền thống Du Già Hành Phái (tức Duy Thức), được coi là vị học giả có uy tín nhất thời đó về Vô Tướng Duy Thức. Sư đi nhiều nước, do từ Kế Tân vào Trung Quốc, nên thường bị lầm tưởng là người xứ Kế Tân. Sư được Lương Vũ Đế thỉnh đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh) vào năm Thanh Thái thứ 2 (548). Vừa đến nơi, Hầu Cảnh làm loạn, Lương Vũ Đế băng hà. Sư phải lánh nạn đến đất Tô Hàng, vừa lánh nạn vừa theo đuổi việc dịch thuật. Sư dịch được tất cả 76 bộ kinh luận, trong đó có những bộ hết sức quan trọng như Nhiếp Đại Thừa Luận, Câu Xá Luận, Kim Thất Thập Luận... Tuổi già, Sư cảm khái “hoằng pháp không đúng thời, thường bị trở ngại” bèn ngồi thuyền trở về Ấn Độ vào năm 562, nhưng thuyền lại bị bão giạt vào Quảng Châu. Thứ sử Âu Dương Ngỗi dốc cạn lòng thành cúng dường, Sư tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp, dịch kinh. Ngài vừa dịch thuật vừa giảng dạy không mệt mỏi, lại còn viết chú sớ cho những bộ kinh luận đã dịch và soạn sách như Hoằng Minh Tập, Cao Tăng Truyện v.v... Dưới ảnh hưởng của Sư, các tông phái Nhiếp Luận Tông và Câu Xá Tông được thành lập để chuyên nghiên cứu những bộ luận ấy.

[26] Ngô âm hay Ngô ngữ là một loại phương ngôn phổ biến ở vùng Giang Tô, phía Nam các tỉnh An Huy, Thượng Hải, Chiết Giang, Tây Bắc tỉnh Giang Tây, gồm nhiều loại nhỏ hơn (gồm giọng Thái Hồ, giọng Thai Châu, giọng Đông Âu, giọng Vụ Châu, giọng Xử Cù, giọng Tuyên Châu). Giọng nói vùng Tô Châu (tức giọng Thái Hồ) được coi là giọng đặc trưng nhất của Ngô ngữ. Ngô ngữ khác biệt tiếng Quan Thoại rất lớn, nó có âm điệu, nhịp điệu biến đổi liên tục và còn giữ nhiều nhân tố ngữ âm cổ nên nếu không phải người địa phương sẽ khó thể hiểu người xứ Ngô nói gì, chỉ cảm thấy âm điệu líu lo, ríu rít, thánh thót mà thôi.

[27] Tỷ Phảng (Fall Armyworm) còn gọi là Niêm Trùng, có tên khoa học là Spodoptera Frugiperda, là một loài côn trùng hại lúa. Chúng đẻ trứng nở ra sâu, trông giống sâu róm, to từ 3 đến 5 cm, mầu nâu có những vạch vàng, ăn hại ngũ cốc rất dữ. Chúng lột xác biến thành bướm trông giống con ngài hay con nắc nẻ, đẻ trứng rất nhiểu. Sử Trung Hoa thường chép rất nhiều trận đói do Tỷ Phảng cắn hại hoa màu.

[28] Thanh thũng là những vết xanh bầm nổi lên dưới da do những mao huyết quản bị vỡ. Có những trường hợp máu còn đọng lại thành từng thành đám xanh bầm loang rộng, có thể gây thành nhọt loét.

[29] Độc Cô Đà là con thứ sáu của Độc Cô Tín (Đại Tư Mã thời Ngụy Văn Đế), vốn thuộc sắc tộc Tiên Ty. Dòng họ Độc Cô này được coi là một trong tám dòng họ lớn của nước Ngụy thời ấy. Độc Cô Tín có ba con gái đều là hoàng hậu. Cô út có tên là Độc Cô Già La, chính là Văn Hiến Hoàng Hậu, vợ của Tùy Văn Đế. Theo Tùy Thư, Độc Cô Đà thường sai Từ A Ni dùng tà thuật để cướp tiền bạc của người khác, thậm chí sai Miêu Quỷ ép hoàng hậu Độc Cô Già La lén lút lấy tiền bạc từ công khố ban thưởng cho hắn. Về sau sự việc bị phát giác, vua toan giết Độc Cô Đà, nhưng nhờ hoàng hậu và các anh là những công thần van xin, Độc Cô Đà mới được tha chết, đuổi về làm dân. Vua hạ lệnh hễ ai thờ Miêu Quỷ sẽ bị xử tử ngay lập tức. Từ đấy, tục lệ thờ Miêu Quỷ mới chấm dứt.

[30] “Hồi sát” (回煞) là một thứ tín ngưỡng thông tục trong tang ma Trung Hoa đã có từ trước thời Tần. Sát (煞) có nghĩa là tính ngày người chết trở về thăm nhà, mà Sát cũng có nghĩa là các hung thần, tai vạ. Do vậy, Hồi Sát thường được hiểu thành “đẩy lùi hung tai, hung thần”. Theo tín ngưỡng dân gian, linh hồn người chết sẽ quay trở lại nhà do Sảnh Thần (眚神) dẫn đường trong một thời gian ngắn sau khi chết. Ngày giờ ấy thường được giới đạo sĩ tính ra, gọi là ngày Hồi Sát hay Tiếp Sảnh (接眚: thường trong vòng từ bảy ngày đến mười bốn ngày sau khi chết). Ngày hôm ấy, phải mời đạo sĩ cử hành cúng tế, yểm đảo với mục đích ngăn ngừa những tà thần theo hồn người chết về bắt người thân chết theo (người Việt thường gọi là Thần Trùng). Đồng thời thân nhân người chết đêm ấy phải ăn một số côn trùng đã hấp và biếu tặng một loại bánh gọi là bánh Trạng Nguyên (hay Tiếp Bài Cao) cho những hàng xóm thân thích để họ khỏi bị Thần Trùng quấy nhiễu. Có những trường hợp theo bói toán, bị kỵ tuổi quá nặng, đến tối hôm Hồi Sát, cả nhà phải bỏ trốn đi nơi khác mấy ngày.

[31] Trong những chuyện ứng hóa của Đại Sĩ, xin coi lại trong phần Hiện Tướng Ở Nơi Khác, Đại Sĩ có biến thành một thiếu nữ xách giỏ bán cá chép vảy vàng óng ánh khiến cho dân phu đang làm trong mỏ tranh nhau ra coi. Khi mọi người vừa ra hết thì núi sụp, cô gái cũng biến mất. Người ta vẽ lại hình tướng này để thờ, bức tranh ấy thường gọi là Ngư Lam Đại Sĩ (Đại Sĩ tay xách giỏ cá). Trong Tây Du Ký, Ngô Thừa Ân đã bịa chuyện con cá chép ở dưới ao trong núi Phổ Đà nhờ nghe Đại Sĩ giảng kinh nên có thần thông, thừa dịp Bồ Tát đi vắng, trốn xuống trần làm yêu quái, vây hãm thầy trò Đường Tăng. Tôn Ngộ Không bèn đến méc Đại Sĩ. Đại Sĩ vội chặt tre, đan giỏ bắt cá, không kịp mặc áo khoác, không trang điểm (?!), xuống trần thâu hồi con cá chép ấy!

[32] Kỳ nhân là người thuộc chế độ Bát Kỳ thời Mãn Thanh. Kỳ (Gūsa), thường được phiên âm là Cố Sơn, là hình thức tổ chức quân đội của Mãn Châu do Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhachi, vua sáng lập nhà Thanh) đặt ra. Tất cả trai tráng người Mãn được chia thành tám Kỳ (tám màu cờ), thời bình thì canh tác, săn bắn, thời chiến thì trưng binh. Tám màu cờ là Hoàng Kỳ, Hồng Kỳ, Lam Kỳ, Bạch Kỳ (bốn Kỳ này gọi là Chánh Kỳ), Tương Hoàng Kỳ, Tương Hồng Kỳ, Tương Lam Kỳ, Tương Bạch Kỳ. Tương (鑲) là viền, tức là cờ được viền quanh một nếp vải khác màu, chẳng hạn Tương Bạch Kỳ là cờ trắng thêu rồng, viền mép màu đỏ. Trai tráng thuộc Kỳ nào thì được điều động bởi vị chỉ huy và quan chức thuộc sắc cờ đó. Mỗi một Kỳ có từ 13 đến 15 vạn quân. Cho đến nay, một số gia đình gốc quý tộc Mãn Châu vẫn tự xưng là “kỳ nhân”.

[33] Vũ Bị Lục là một tác phẩm dạy về cách tập luyện võ nghệ, điều binh, đã mất tên tác giả.

[34] Ba La Di (Pārājika) có thể hiểu theo hai cách:

1. Tứ Ba La Di trong Cụ Túc Giới, do tăng sĩ nếu phạm phải bốn giới này thì không còn tư cách tăng sĩ, khiến cho tăng chúng mang tiếng xấu lây nên gọi là Ba La Di (vứt bỏ, tàn hủy).

2. Mười tội Ba La Di theo Phạm Võng Bồ Tát Giới: sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, bán rượu, phô phang tội lỗi của tứ chúng, khen mình chê người, keo kiệt và nhục mạ người khác, sân tâm chẳng nghe lời răn bảo, hủy báng Tam Bảo.

Theo ngữ cảnh trong đoạn này, chỉ có thể hiểu Ba La Di theo cách thứ hai vì Long Đức Phù không phải là tăng sĩ. Hơn nữa, ông Long đốt kinh Pháp Hoa, bắt Tăng sĩ giẫm lên, quả thật đã phạm tội hủy báng Tam Bảo.

[35] Nguyên văn “mạc hữu”, đây là những người không có quan chức, chuyên giúp việc biên soạn án từ cho các quan.

[36] Chữ Hồ (胡) tách ra thành Cổ (古) và Nguyệt (月).

[37] Nguyên văn “Tử Dư đốc thực”; đây là một thành ngữ ca ngợi người tánh tình thật thà, chín chắn. Tử Dư chính là tên tự của Tăng Sâm, là đệ tử đắc ý của Khổng Tử.

[38] Ngột Thuật (Wanyan Wushu, ?-1148), có khi ghi là Ngột Truật, hoặc Ô Châu. Ông này họ Hoàn Nhan, tên là Tông Bật, là đại tướng và là con thứ tư của Kim Thái Tổ (Hoàn Nhan A Cốt Đả - Wanyan Aguda). Ông ta giỏi bắn cung, cưỡi ngựa, thông thạo chiến thuật, sách lược, từng được phong làm Đô Nguyên Soái, lãnh chức Hành Đài Thượng Thư Sự, đặc trách hành quân tiêu diệt nhà Tống. Từng bị Hàn Thế Trung và Nhạc Phi vây đánh tơi tả, nhờ gian thần Tần Cối mật báo quân tình, hãm hại Nhạc Phi và Hàn Thế trung, Ngột Thuật mới hoàn thành sứ mạng tiêu diệt sức đề kháng của Nam Tống, buộc vua Tống xưng thần với nhà Kim. Do vậy, người Hoa rất căm ghét, tạc tượng vợ chồng Tần Cối và Ngột Thuật bằng sắt quỳ trước mộ Nhạc Phi. Người đến lễ bái Nhạc Phi thường dùng chày sắt đập lên đầu tượng bọn họ, khạc nhổ, chửi mắng ầm ĩ. Tuy tượng bằng sắt mà bị dân chúng đập mãi cũng bị hư hoại, phải thay tượng mấy lần!

[39] Tức nhà Hậu Tấn (936-947) do Thạch Kính Đường sáng lập, là triều đại ngắn nhất của Trung Quốc (chỉ tồn tại 11 năm). Gọi là Thạch Tấn để phân biệt với triều Đông Tấn do Tư Mã Viêm sáng lập, Hậu Tấn của Tư Mã Duệ (hậu duệ nhà Đông Tấn, bị mất miền Bắc, phải lui về Nam, lập kinh đô tại Kiến Khang) và chánh quyền của Tấn vương Lý Khắc Dụng (cha của Lý Tồn Úc, hoàng đế khai quốc nhà Hậu Đường).

[40] Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637-735), còn dịch là Tịnh Sư Tử, là tổ sư của Mật Tông Trung Hoa, chuyên hoằng truyền Thai Tạng Giới Mạn Đà La. Cùng với hai vị Bất Không, Kim Cang Trí, Sư được cõi đời xưng tụng là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ. Sư là người Trung Ấn Độ, thuộc dòng Sát-đế-lợi. Năm mười ba tuổi được truyền ngôi làm vua xứ Ô Trà, nhưng bị các anh em dấy binh làm phản. Sau khi đánh bại họ, Sư truyền ngôi cho anh rồi xuất gia. Trước hết, Sư xuống Nam Ấn Độ, học Pháp Hoa tam-muội tại một ngôi chùa gần biển, gom cát thành tháp, tu tập Thiền pháp và học tập rất nhiều kinh luận. Kế đó, Sư theo học với trưởng lão Đạt Ma Cúc Đa (Pháp Hộ - Dharmagupta) ở học viện Na Lan Đà, được ngài quán đảnh. Ngài có thành tựu, được danh hiệu Tam Tạng Pháp Sư từ nơi ấy. Sau khi triều bái các thánh tích, hóa độ các ngoại đạo tại Ấn Độ. Biết duyên hóa độ ở Ấn Độ đã xong, Sư theo đường bộ vượt qua các xứ Đột Quyết, Thổ Phồn để đến Trung Hoa vào năm Khai Nguyên thứ 4 (716). Lúc ấy, Sư đã 80 tuổi. Ngài Thiện Vô Úy được Đường Huyền Tông tôn làm quốc sư, từng trụ tại các chùa Hưng Phước, Bồ Đề Viện, Đại Thánh Thiện v.v... để phiên dịch kinh điển, dạy dỗ đệ tử. Năm Khai Nguyên thứ 10 (724), Sư xin về nước, nhưng vua giữ lại. Ngài thị tịch năm Khai Nguyên 23 (735) tại Lạc Dương, thọ 99 tuổi, tăng lạp 80 năm. Ngài dịch những bộ kinh điển trọng yếu nhất của Mật Tông như Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh (kinh Đại Nhật), Tô Bà Hô Đồng Tử Kinh, Tô Tất Địa Yết La Kinh, Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề Đại Minh Đà La Ni Kinh, Kim Cang Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Pháp, Kim Cang Đảnh Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát Ngũ Tự Tâm Đà La Ni Phẩm, Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát Du Già Pháp Yếu. Đệ tử đắc pháp của ngài là Nhất Hạnh, Huyền Siêu, Bảo Tư và Diệu Tư.

[41] Tiền Trung Ý Vương (929-988) tên thật là Tiền Hoằng Thục, vua cuối cùng của xứ Ngô Việt. Ông là hậu duệ của của Tiền Vũ Túc Vương (Tiền Liêu). Sau khi Triệu Khuông Dẫn dẹp tan các nước, thống nhất sơn hà, lập ra nhà Tống, ông liền quy phục nhà Tống để tránh cho xứ Ngô Việt khỏi lâm vào cảnh binh đao.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 30 Nov 2015, 0:42 AM | Message # 24
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2

Phần 3

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang


2.2.3.2. Ban phước

1. Bèn có Sơn Đông gấm vóc, ban cho Văn Mục an ninh. Ngăn ranh giới bằng dây lụa, cho Trung Ý Vương quy thuận.

2. Như Hoàng gặp nạn gấp, có sức thần phù trợ; Nguyên Cát tự trầm mình, ngầm được trời nâng đỡ.

3. Xe rực rỡ giáng hạ, giúp Văn Giản trổ tài văn chương. Trút bọc ban châu báu, khiến Pháp Trình y thuật kỳ tài.

4. Trao món ăn chay, Hầu gia có tướng quân khải hoàn. Đảnh lễ liên đài, họ Trương mừng chàng rể vinh quy.

5. Trương Cảnh tiêu tai, hưởng phước; Nguyên Tướng khéo bán, giàu to.

6. Lưu Cảnh mừng huynh đệ trùng phùng; Đạo Hiển được vợ con sum họp.

7. Đứa tiểu tỳ nhà ông Từ, rốt cuộc được Đại Sĩ làm mai. Lý huyện lệnh kết tình với ma, cuối cùng thỏa nguyện bình sinh.

8. Mạng do ta tạo, báo tin đậu, mộng bói rành rành. Khéo chẳng bằng vụng, bảy đề thi Phật thưởng đáng gờm.

9. Thành Thức nhờ vợ giúp, Đoan Phương giúp đỡ bạn (gồm hai đoạn).


(1) Theo Thiên Trúc Chí, Ngô Việt Vương Nguyên Quán[1] sợ Châu Toàn Trung hung tàn, bèn trai giới 120 ngày, lạy cầu Đại Sĩ ứng mộng; mộng thấy núi rừng khắp cõi đều bọc trong gấm vóc, sáng ngời như ban ngày. Nguyên Quán vui vẻ nói: “Ta có thể kê gối ngủ yên rồi”. Nguyên Quán có thụy hiệu là Văn Mục.

Lại nữa, năm đầu triều đại Tống Thái Tổ, Ngô Việt Vương Tiền Thục[2] chưa biết quyết định hành động như thế nào, bèn khẩn cầu Đại Sĩ đến chỉ dạy. Mộng thấy thần cầm sợi dây lụa màu, chăng dây ngăn ranh giới từ bờ Bắc sông Dương Tử thẳng đến vùng Dự, Chương, Mân Việt mới ngừng, bảo Tiền Thục rằng: “Đây là vật cũ của ngươi!” Lại trao cho áo bào, hốt[3], mão, mũ miện không kể xiết. Tỉnh giấc, Tiền Thục bèn vui vẻ nói: “Ta không sợ hãi gì”, bèn chọn ngày dâng biểu chúc mừng vua Tống. Vua Tống vui vẻ, bảo sứ giả rằng: “Hãy về báo với chủ ngươi: Trẫm nhờ ông ta làm phên giậu, giúp đỡ mà đạt đến bình trị thì sẽ chẳng phụ công huân khi trước”. Tiền Thục có thụy hiệu là Trung Ý.

(2) Theo Nam Hải Từ Hàng, Ôn Như Hoàng làm nghề buôn giấy ở Nhiêu Châu, kính phụng Đại Sĩ, in Quán Âm Kinh, mỗi năm thí hơn ba trăm quyển. Từ đấy về sau, buôn bán ngày càng phát đạt. Mỗi lúc nguy cấp, dường như có thần giúp đỡ.

Theo Linh Nghiệm Ký, Hứa Nguyên Cát ở Huy Châu nghèo khổ muốn tự trầm. Một cụ già ngăn lại bảo hãy kiền thành tụng chú Bạch Y của Đại Sĩ thì trời sẽ giáng phước. Ông ta liền tụng chú không ngừng, bèn được giàu to, ấn tống càng rộng. Dời nhà sang Dương Châu, con cháu hiển vinh, thịnh vượng.

(3) Theo Kỳ Cựu Tục Văn, Trình Văn Giản mỗi ngày vào canh năm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát mấy trăm câu, đến già chẳng lười nhác. Khi đi thi, mộng thấy Đại Sĩ từ trên trời cưỡi cỗ xe rực rỡ giáng hạ. Tỉnh giấc, bèn ghi chép tỉ mỉ những chuyện cờ quạt, xe cộ thành một tập sách cho khỏi quên. Vào thi, thấy đề thi là “đức xa kết tinh phú” (hãy làm bài phú về chuyện đức xa kết cờ tinh)[4] bèn viết văn vun vút.

Theo bộ Y Khuyến của Đường Nghi Chi, vị Tăng đời Minh là Pháp Trình, mù từ bé, ngày đêm niệm danh hiệu Đại Sĩ tổng cộng mười lăm năm, mộng thấy Bồ Tát gọi “hãy bước lại” thì dường như có vật gì buộc vào chân. Đại Sĩ than: “Đời trước ngươi làm thầy châm cứu, lỡ tay làm người ta mù mắt, nay phải chịu quả báo này. Ta thương ngươi thành tâm, sẽ làm cho ngươi cơm áo no đủ”, rồi Ngài thò tay vào bọc, bốc châu báu đầy tay ban cho. Tỉnh giấc, Pháp Minh y thuật giỏi giang, kẻ theo học rất đông.

(4) Theo Địch Phàm Tùy Bút, Hiệp Trấn Hầu Biên tỉnh Chiết Giang, do bọn giáo phỉ[5] quấy rối, phải cầm quân phòng ngự ở Túc Tùng. Phu nhân hằng ngày rất lo sợ, nhiều lần mộng thấy bà lão trao cho món ăn chay, lại mộng được dẫn đến một chỗ, thấy ông Biên đang ở trong doanh trại yên ổn. Kể lại giấc mộng với người khác, họ đều nói: “Bà cụ ấy chính là Đại Sĩ, không gì chẳng nhằm khuyên phu nhân hãy ăn chay để cầu cho tướng quân sớm được quay về hay sao?” Do vậy, bà cầu đảo Đại Sĩ, mồng Một, ngày Rằm ăn chay. Không đầy nửa năm, ông Biên trở về.

Theo Kính Tín Lục, đời Thanh, Lã Kế Am nhận chức Phủ Thừa xứ Phong Tường (tỉnh Thiểm Tây). Trong niên hiệu Gia Khánh, bọn giặc cướp từ Tứ Xuyên kéo sang Thiểm Tây, ông Lã phải lo lương thực, nhu yếu phẩm cho quân đội, xông pha vào nơi nguy hiểm. Bà vợ họ Trương kiền thành lễ Đại Sĩ, khắc Cao Vương Kinh biếu tặng rộng rãi, lại còn sớm tối quỳ tụng. Về sau, do có công, ông Lã được cất nhắc lên làm quan ở châu Trực Lệ, cả nhà đều tin tưởng tụng kinh.

(5) Trong Cao Vương Kinh Cận Trưng, Trương Cảnh nói: “Tôi nửa đời bừa bãi, nhiều lần mắc phải nguy hiểm, thề nguyện tụng Cao Vương Kinh, tai nạn tiêu ngay, được hưởng phước quá phận. Hơn nữa, những chuyện sức người chẳng thể vãn hồi, mỗi mỗi đều giải quyết trọn vẹn, mới tin kinh có sức rộng lớn. Do vậy, kiền thành chép thêm vào đây”.

Theo Cao Vương Linh Nghiệm, Trương Nguyên Tướng là người đất Chiết Giang quá nghèo, gột lòng hướng thiện, trì Cao Vương Kinh hơn hai năm, có khách bỏ vốn cho ông ta buôn bán. Tính toán không điều gì chẳng được toại ý, trở thành giàu to.

(6) Đời Thanh, [anh em] Lưu Cảnh và Lưu Trí do chiến tranh bị lạc mất nhau, nhờ tụng chú Bạch Y, anh em trùng phùng.

Vào đời Thanh, Trương Đạo Hiển vợ là Lý Thị, con là Kế Phiên, gặp nạn lạc nhau, bèn kiền thành tụng chú Bạch Y suốt hai năm, vợ con trùng phùng.

Lại theo Hàng Trung Phàm, vào thời Gia Tĩnh nhà Minh, Hoàng Ngạn Sĩ và vợ là Nhan Thị tỵ nạn “giặc lùn” (hải tặc Nhật Bản) lạc nhau, bà Nhan xin vào ở trong ni am. Ông Ngạn tìm suốt ba năm không thấy tăm hơi. Ngẫu nhiên trên đường đi, vào nhà xí, thấy trong kẽ cây dương chết khô có vật gì đó, moi ra thì tìm được vàng và một cuốn sổ màu xanh, tự nhủ: “Chớ bảo nhặt được vàng đánh rơi thì lấy dùng, phải nghĩ là do Tam Bảo mà có”. Do vậy, đợi ở đó. Hai ngày sau, có vị lão ni khóc: “Phát nguyện tạc tượng Đại Sĩ, quyên mộ được ba chục lạng vàng, do tránh giặc giã nên giấu trong bộng cây, nay đã mất sạch rồi! Ta chết mất thôi”. Ông Hoàng vội trả lại. Ni sư lạy tạ, mời tới am, bảo: “Sẽ đối trước Đại Sĩ bày tỏ đức đẹp của ngài”. Ông Hoàng theo về am, gõ cửa thì thấy có người thưa rồi ra mở cửa, ấy chính là Nhan Thị, đang cầm nước mắt. Lái buôn muối là X... nghe chuyện, mời ông Hoàng về làm quản lý trong tiệm. Về sau, theo lệ, ông Hoàng được tuyển giữ chức Huyện Thừa, rồi chuyển làm Phủ Phán, sanh được hai con, vợ chồng cùng thượng thọ.

(7) Trong bộ Tân Tề Hài, Quán Sát Từ Hạo làm bạn với một con hồ ly già. Hồ ly nhìn thấy đứa tiểu tỳ tên Thái Vân bèn nói: “Đứa con gái này có túc căn. Tương lai, nó sẽ được Đại Sĩ làm mai, gả cho Động Đình Quân”. Hỏi ra, biết ông nội nó làm quan Hàn Lâm, ông Từ bèn nhận nó làm cháu nội thứ ba. Về sau, có một vị quan chức lớn, tặng bức trục[6] vẽ Đại Sĩ và tờ thư xin gả cô nương thứ ba cho con trai của Thân Đại Niên là người đất Sở[7]. Do vậy, hôn lễ bèn thành tựu.

Theo Dị Vật Chí, vào đời Đường, Lý Nguyên Bình, thấy một cô gái ở chùa Đông Dương dường như đã biết từ trước. Cô gái nói: “Em chẳng phải là người. Em từng sanh vào nhà quan Thứ Sử Giang Châu, còn chàng khi ấy làm môn lại[8], thần thái rạng ngời, lay động lòng người. Em vì không nén được tình cảm, bèn thường trì chú Thiên Nhãn Quán Âm, phát nguyện đời đời sanh vào nhà phú quý, để được vầy duyên vợ chồng với chàng. Nay sắp thác sanh vào nhà quan Thứ Sử X... Mười sáu năm nữa, chàng sẽ là Huyện Lệnh. Nếu rộng lòng chấp nhận, xin đừng kết hôn; nhưng chỉ hồng đã buộc, dẫu muốn dứt mối tơ vương, cũng chẳng được đâu!” Về sau, quả nhiên đúng như lời đã nói.

(8) Theo Bạch Y Chú Trưng Sự, Vương Hành Thiện ở phủ Thuận Thiên, nhiều lượt đi thi không đậu, cầu đảo Đại Sĩ, mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Túc căn của ngươi quá mỏng cạn, đường công danh chẳng có phần. Nếu kiền thành tụng chú Bạch Y không lười nhác, có thể hy vọng đậu khoa thi năm nay”. Tỉnh giấc, ông Vương bèn in tặng một ngàn hai trăm quyển, liền thi đỗ. Vân Cốc thiền sư nói: “Mạng do ta tạo, phước do ta cầu”.

Theo Cảm Ứng Thiên Chuế Ngôn, xưa kia có hai người học trò cùng lên tỉnh thi. Một người ngu, một người sáng dạ. Kẻ ngu ngày đêm lễ bái, cầu nguyện trước tòa Quán Âm, cầu Ngài cho biết đề thi. Kẻ sáng dạ bèn lén viết bảy đề thi, dùng hương đốt thành vết chữ, để kẻ ngu tưởng là Phật ban cho rồi ngầm giấu trong lư hương. Kẻ ngu tìm được hết sức mừng rỡ, dốc sức giồi mài nơi bảy đề mục ấy. Vào trường thi, trúng ngay một đề bèn thi đậu. Kẻ sáng dạ bị dầu thắp đèn cháy lan sang quyển thi, nên thi trượt! Lão Tử nói: “Xảo giả, chuyết chi nô” (Kẻ khéo là đầy tớ của kẻ vụng).

(9) Theo Bạch Y Kinh Cận Trưng, vào đời Thanh, Vương Thành Thức ở Vũ Tấn, trong niên hiệu Gia Khánh đi thi ở Thuận Thiên. Bà vợ nghe nói chú Bạch Y linh nghiệm bèn vì chồng kiền thành tụng hết một tạng, ông Thức liền thi đỗ.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Từ Đoan Phương nhiều lượt dự thi nhằm được tuyển vào một chức quan ở bộ Lễ, nhưng chẳng đậu, trì Quán Âm Kinh một tạng, đậu Tiến Sĩ. Ông bèn dạy cho bạn là Mã Thiệu Nguyên, ông này tụng hơn ba ngàn quyển liền đỗ trong khóa thi mùa Thu.

1. Lại còn tích đức, chứa nhân, mới biết như tiếng vang dội lại.

2. Giữ lại tên Thiên Tích, càng phục Tư Mã phong thái cao vời. Sắc phong cho Lâm Ông, nữ tỳ tán dương phẩm đức Đề Khống.

3. Tri Khả đỗ giữa Trần, Lâu, y thuật công đức thật nhiều. Tín Chi lõa lồ nào ngại, lòng thành dễ gì có được!

4. Bảo toàn phẩm tiết phụ nữ, Bệ Cẩm thành đạt công danh. Do khéo thấu hiểu lòng trời, Như Tân vâng theo lời dạy.

5. Ông Phùng nhân từ chữa bệnh, nhờ bí phương trở thành giàu sụ. Họ Sầm vốn sẵn thiện duyên, nên địa vị tột cùng vinh hiển.

6. Đọc bài bạt của Giản Nam, linh ứng chẳng hề dối gạt. Xem bài ký của Thành Tú, công danh có thể mong cầu.

7. Dẫu thời thế đổi dời, quốc gia bãi bỏ chế độ thi cử, nhưng cầu gì được nấy, chẳng hề thấy Bồ Tát bỏ lỡ điều nào. Đấy là sự ban vui thứ hai của Đại Sĩ vậy (đoạn này kiêm ca tụng tu đức được phước)


(2) Theo Âm Chất Văn Tân Biên, trong đời Khang Hy nhà Thanh, Lâm X... chết rồi sống lại, nói: Ở trong cõi âm thấy đưa ra bảng trời. Đến tên của đứa cháu con người chị là Lục Thiên Tích, do mẹ nó phạm lỗi lắm điều, nên [thiên đình] muốn gạch tên đi. Chợt Quán Âm Đại Sĩ đến bảo: “Tuy Lục Lâm Thị[9] lắm điều, nhưng thờ Phật rất kiền thành. Thiên Tích lại thay bạn nộp tiền thuế còn thiếu, bù đắp cho chú nó làm huyện lệnh bị thiếu hụt ngân sách, lại còn cự tuyệt hạng gái lả lơi!” Diêm vương bảo ông Lâm: “Cháu ngươi do có ba điều lành nên được giữ tên lại, hãy nên gắng tinh tấn, đừng phụ lòng Đại Sĩ”. Về sau, quả nhiên Thiên Tích thi đỗ.

Theo Hàm Sử, Tư Mã Đán châu cấp cho người gặp cảnh ngặt, có ai nghèo túng chẳng thể tự sống được bèn chia lương tháng ra để giúp đỡ. Người ấy không có gì để báo đáp, bèn đem con gái dâng cho ông để làm thiếp. Ông Đán kinh hãi, từ chối, lấy đồ trang sức của vợ để [làm của hồi môn] gả cô gái ấy [vào chỗ đàng hoàng].

Theo Khuyến Giới Loại Sao, vào đời Minh, Lâm Ông là nha lại thuộc bộ Hình, thương xót, giúp đỡ những người bị tù oan. Ngẫu nhiên có một người bị hạ ngục oan ức, ông Lâm liền sáng chiều cầu nguyện Đại Sĩ, mong chỉ dạy phương cách cứu vớt. Mộng thấy Đại Sĩ dạy: “Hãy dựa vào những chỗ luận tội đáng nghi nhất trong án từ, dựa vào những chỗ phán quan thẩm định chi tiết chưa đích xác để biện bác”. Ông Lâm liền thay người ấy kêu oan, quả nhiên được tha. Người ấy biết do ông Lâm khiếu nại, bèn đem con gái đền ơn, ông Lâm không chấp nhận. Người ấy bèn chuốc rượu cho ông say, bảo con gái ép ông phải lấy. Ông Lâm ba lượt bảo “không được” (bất khả), lánh xa, không đi qua cửa người ấy nữa. Năm ông 50 tuổi, sanh ra Đại Khâm. Về sau, Đại Khâm đậu khoa thi Hương, lên kinh đô. Chủ quán trọ mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Ngày mai có con của ông Lâm Tam Bất Khả đến trọ, là tân trạng nguyên đấy”. Lúc yết bảng, quả đúng như vậy. Đại Khâm về hỏi mẹ, mới biết đức hạnh ẩn kín của cha.

Theo Bại Sử, viên nha lại ở Thái Thương là Cố X... thấy có ông Giang bị kẻ cắp vu cáo, phải vào tù, bèn kêu oan cho ông Giang được tha. Ông Giang cảm đức, đem con gái tới, xin dâng làm người thiếp hầu hạ. Ông Cố khước từ hai lần. Mấy năm sau, ông Cố chuyển lên kinh đô, làm người hầu lo việc cho quan Thị Lang họ Hàn. Khi phu nhân bước ra, ông toan tránh đi, phu nhân trông thấy kinh ngạc bảo: “Ông chẳng phải là viên Đề Khống[10] họ Cố đấy ư? Tôi là con gái ông Giang, chút mảy may nào cũng đều do ông ban cho”. Bà kể lại với quan Thị Lang, quan bèn tâu lên vua. Hiếu Tông khen ngợi, phong cho ông Cố làm Chủ Sự[11] bộ Lễ.

(3) Đời Tống, Hứa Tri Khả thi rớt, trở về, trong thuyền mộng thấy một người mặc áo trắng bảo: “Ngươi không có âm đức nên chẳng đậu. Nếu học nghề thuốc sẽ giúp cho ngươi có trí huệ”. Ông Hứa nghe theo, đạt đến chỗ hay khéo của Lô Biển[12]. Về sau, vào trường thi mùa Xuân, mộng thấy người mặc áo trắng bảo: “Thí thuốc công đức to lớn, trong khoảng Trần Lâu”. Về sau thi đỗ, thứ hạng nằm giữa hai người họ Trần và Lâu.

Theo Tiên Tâm Lục, trong niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, Bao Tín Chi trì Quán Âm Kinh, ngẫu nhiên thấy một tòa Phật điện đổ nát, tượng Quán Âm bị phơi ra cho mưa dầm bèn dâng cúng tiền bạc, vải vóc. Hiềm rằng chẳng đủ, mới đem bảy bộ áo vừa mới may cúng luôn. Đầy tớ xin giữ áo lại, ông nói: “Chỉ cốt sao thánh tượng được yên ổn, ta tuy lõa lồ cũng nào có thương tổn gì?” Vị Tăng ứa nước mắt nói: “Bỏ tiền bạc, quần áo v.v... vẫn chưa phải là chuyện khó, chỉ có một điểm thành tâm ấy dễ gì có được?” Về sau, Tín Chi nằm mộng thấy thần Già Lam bảo: “Bồ Tát ban cho ông con cháu hưởng phước lộc thế gian”. Sau này, con ông ta là Biện, cháu là Sanh Phương đều làm quan to.

(4) Theo Khuyến Giới Loại Sao, vào đời Thanh, Thí Bệ Cẩm ở Ngô Môn lúc còn là “chư sanh”[13] ngẫu nhiên dính dấp vào chuyện tà niệm. Thấy một phụ nữ mắt hằn ngấn lệ bèn gạn hỏi. Cô ta nói quá nghèo, chẳng cam lòng làm chuyện chôn vùi liêm sỉ ấy. Ông Thí bèn gọi người chồng ra, bảo dẫn vợ về, lấy mười lạng vàng trao cho, tuyệt không lui tới nhà phụ nữ ấy nữa, nhưng chồng cô ta cảm ân đức, thường lui tới thăm viếng, người ngoài bèn xầm xì ông Thí dan díu với cô ta. Cô ta nghe được, bèn kiền thành khấn nguyện cùng Đại Sĩ: “Con lập chí không đoan chánh, bị gièm báng chẳng oan uổng gì, nhưng chàng Thí bị vu cáo, nguyện đỗ Giải Nguyên để rửa sạch nỗi oan ấy”. Năm Canh Tý (1720) đời Khang Hy, rốt cuộc ông Thí đỗ Giải Nguyên.

Theo Linh Nghiệm Ký, Bao Như Tân nhiều lần đi thi không đậu, mộng thấy một bà cụ bảo: “Ngươi muốn được trời cho thỏa chí thì phải khéo hiểu lòng trời”. Ông Bao tỉnh giấc, bèn nói: “Đấy chẳng phải là Cứu Khổ Đại Sĩ ư?” bèn in Quán Âm Kinh một ngàn quyển và thật lòng rộng hành chuyện lợi người giúp vật liền đỗ Giải Nguyên ở phủ Thuận Thiên.

(5) Theo Khuyến Giới Loại Sao, Phùng Sanh ở Gia Định nghèo nhưng ưa làm lành, hằng ngày tìm kiếm những toa thuốc hay, hiệu nghiệm, sao ra, đem dán trên những đường phố lớn. Một hôm, đến dâng hương tại Nam Hải, gió thổi lật thuyền; đột nhiên thấy một người mặc giáp dẫn đến trước mặt Long Vương. Vua khuyên nhủ: “Ông chép toa thuốc cứu người, thiện niệm thấu đến thủy phủ, cho nên ta cứu ông”. Vua trao cho toa thuốc bí mật, bảo nhờ đó có thể làm giàu. Ông Phùng thưa: “Tôi tuy nghèo, đâu đám mong giàu có!” Vua phán: “
Giàu nghèo vốn do số mạng, nhưng người có lòng lành thì số mạng cũng chẳng thể chi phối được! Như mạng ông gặp phải thủy nạn, nhưng do tâm lành nên không bị hại”. Vua trao cho toa thuốc, sai đưa về. Trong chớp mắt đã lên tới bờ, lòng biết là Đại Sĩ đã âm thầm sắp đặt, che chở, bèn theo đúng bài thuốc ấy mà cứu người, trở thành giàu có.

Theo Pháp Hoa Cảm Thông, Sầm Văn Bổn tụng phẩm Phổ Môn, thoát khỏi thủy nạn. Một hôm cúng dường trai tăng, có một vị Tăng bảo: “Thiên hạ nhiễu nhương, ông do thiện duyên nên may mắn chẳng gặp nạn, rốt cuộc sẽ hưởng thái bình, trở thành phú quý”. Nói xong, chẳng thấy nữa. Về sau, ông Bổn trở thành Trung Thư Lệnh[14].

(6) Trong lời bạt cho cuốn Quán Âm Kinh, cư sĩ Giản Nam sống vào đời Thanh cho biết: “Trong niên hiệu Càn Long, tôi ở cùng chỗ với Hiếu Liêm Trương Cấn Sơn. Cứ hừng đông là ông Trương tụng kinh. Hỏi ra thì ông bảo là tụng bài Tâm Kinh này và chú Bạch Y, kinh Cao Vương. ‘Cả ba đời nhà tôi tin tưởng trì tụng, nhiều lần được linh nghiệm’. Tôi nghe rồi bèn kiền thành trì tụng. Mùa Thu năm nay, anh tôi đậu khoa thi Hương, tôi được nhận vào học tại trường quận, lũ cháu được vào trường huyện. Càng thêm kinh sợ sự linh ứng của Đại Sĩ, Cấn Sơn chẳng lừa tôi!”

Theo Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết, vào đời Thanh, Tào Thành Tú gặp một vị Tăng bảo: “Nếu ngươi có thể kiêng thịt bò, thịt chó, sẽ có thể hiển đạt”. Ông Tú nói: “Tôi là hạng bắn cung, cỡi ngựa tầm thường, sao dám mong cầu công danh?” Vị Tăng bảo: “Nếu có thể sáng tối tụng chú Đại Bi, lo gì chẳng đạt được phước báo ấy?” Thành Tú bèn giữ giới, tụng chú không gián đoạn. Vào chốn quan trường, dường như có thần giúp, không đầy mấy năm, làm quan đến chức Thiên Tổng[15]. Tự ghi vào năm Càn Long 12 (1747).

(7) Tả Truyện: “Cải bộ, cải ngọc”[16]; sách ấy còn viết: “Dư thủ dư cầu, bất nhĩ tì hà dã” (Tôi nhận lấy những gì tôi mong cầu, ông chẳng có lỗi lầm chi cả).

2.2.3.3. Trường thọ

1. Bèn có: Tượng vẽ cứu Nhân Thiến thoát vong hữu tiến cử. Chú [Đại Bi] che chở Tâm Dư khỏi làm vua cõi âm.

2. Rộng thí tặng kinh sách, Gia Do thọ hơn bốn mươi mốt tuổi. Năm lượt nói lời lành, Hoằng Nho thoát đại hạn tiết Trùng Dương.

3. Người bạn khuyên dạy Như Huyễn, nghi dung nhanh chóng đổi thay. Mẹ cầu thọ cho Vô Minh, cam lòng suốt đời phục dịch.

4. Cho Lã công tăng thọ hai kỷ, báo ứng chẳng sai, răn họ Uông hãy tận lực hành, tuổi già an hưởng.

5. Ngầm hành trì kinh, tựa như thánh nhân không có tướng. Phóng sanh tăng thọ, chỉ cõi âm mới biết luật này.

6. Cháu côi cút được thành danh, Thiệu Đình quyết đạt thượng thọ. Con hiếu đón về phụng dưỡng, Sĩ Ngọc càng cao tuổi trời. (tổng cộng ba đoạn).


(1) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Lục Nhân Thiến bị bệnh nguy ngập, biết là vì người làng là Triệu X... đã tiến cử mình làm quan dưới cõi âm. Công văn đã ban xuống, sắp chết. Nhân Thiến vẽ tượng Quán Âm trên vách chùa, bèn thoát nạn.

Theo Tân Tề Hài, Tưởng Tâm Dư lúc làm quan Trung Hàn, mộng thấy lính lệ cầm thiếp đến mời, bèn theo đến một tòa miếu, cỡi ngựa đất bay lên không trung. Không lâu sau, ngựa hạ vó dưới thềm một nơi trông rộng lớn như chỗ vua ngự. Tấm biển bên trái ngôi điện ghi là “Thiên Đường”, từng gian sáng ngời. Tấm biển bên phải ngôi điện đề “Địa Ngục”, sâu tối khó lường. Địa ngục có giếng, người ta tự nhảy xuống đó. Vua truyền mời ông Tưởng vào điện, bảo: “Ta hết nhiệm kỳ sẽ ra đi, ông hãy thay ta”. Ông Tưởng thưa: “Tôi còn mẹ già con thơ, việc chưa xong làm sao có thể đến [nhậm chức] được?” Vua nói: “Ông có tài đức, tiếng tăm, sao lại chẳng thông đạt đến mức ấy? Chuyện trên đời muốn xong bèn xong. Ta đã tâu lên Thượng Đế, không thể nào vãn hồi được đâu!” Ông Tưởng uất quá, tỉnh giấc, mồ hôi thấm ướt mền. Ngồi dậy, lại mộng thấy vào cõi âm. Trên điện bày năm cái tòa, án từ chất như núi. Nha lại chỉ tòa thứ năm bảo: “Đây là chỗ của ngài”. Ông Tưởng trông thấy thầy dạy là Phùng Tĩnh Sơn, bèn trình bày tình cảnh mẹ già, con thơ. Ông Phùng buồn bã nói: “Tôi vợ dại, con thơ, cũng là kẻ không thể đến [nhậm chức]. Việc đã đến mức này, đừng nói nhiều nữa! Hãy mau lo liệu hậu sự mà thôi!” Tỉnh giấc, ông bèn qua nhà vị quan đứng đầu địa phương là Vương Hưng Ngô chào vĩnh biệt. Ông Vương kinh hãi bảo: “Mặt ông xám như trét than, quỷ khí đầy người”. Ông kể lại giấc mộng, họ Vương khuyên nên tụng chú Đại Bi. Cả nhà bèn trai giới tụng niệm. Đến nửa đêm, ông Tưởng thấy một chiếc kiệu từ trên không trung hạ xuống, có mấy người khiêng kiệu, rõ ràng là kẻ đến đón, bèn tụng chú gấp hơn, họ liền như sương khói tan mất. Ba năm sau, được thăng chức Từ Lâm.

(2) Theo Khuyến Giới Loại Sao, Trình Gia Do ở Thái Cốc khắc Quán Âm Kinh, Kim Cang Kinh, và Cảm Ứng Thiên v.v... nhưng chưa biếu tặng. Chợt bị bệnh, không ăn uống được, mộng thấy Đại Sĩ khuyên: “Ngươi chỉ thọ bốn mươi mốt tuổi, do khắc các kinh nên thả ngươi về, hãy nên ấn loát lưu truyền ngay”. Ông Trình tỉnh giấc bèn vâng theo lời dạy, bệnh liền khỏi.

Theo Giác Thế Kinh Hội Toản, vào đời Minh, vợ ông Hàn Hoằng Nho mộng thấy người cô đã mất nói: “Vào ngày Trùng Cửu[17] năm sau, chồng ngươi sẽ bị đại hạn”. Bà vợ kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, cầu chồng được tăng tuổi thọ. Ông Hàn ra quán, vợ dặn hãy lưu ý làm những chuyện thuận tiện cho người khác, ông Hàn bằng lòng. Ông khuyên chủ quán hãy gả chồng cho mấy đứa tớ gái đã trưởng thành, thấy con cháu một vị quan dùng bạc non cân[18] bèn tận lực khuyên họ đừng làm chuyện tổn người lợi mình. Lại thấy đầy tớ của một người có thế lực vu cáo người khác, liền thay cho người ấy kêu oan. Lại khuyên người khác đừng cậy thế, hãy giữ trọn vẹn tình nghĩa thân tộc. Có mấy môn sinh thi đậu đến yết kiến, ông liền khuyên họ đừng lấy vợ lẽ, đừng lơ là người quen biết cũ, đừng thuê nhiều người hầu, đừng xa xỉ phí phạm. Đêm ấy, bà vợ mộng thấy Đại Sĩ dạy: “Số chồng ngươi sẽ mất vào tháng Chín, nhưng do năm lượt nói lời tốt lành, tạo phước rộng lớn, nên được thọ thêm hai kỷ (24 năm) nữa”. Ông Hàn về sau đỗ Minh Kinh[19], là một vị Ấp Lệnh hiền từ.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Minh, sư Như Huyễn có người bạn là Hạ Trị Thời, thông suốt nội điển. Một hôm, ông Hạ nói với sư Như Huyễn: “Ông môi hớt, răng lộ, chẳng phải là tướng người sống lâu, hãy nên cầu nguyện Quán Âm Đại Sĩ, niệm danh hiệu Ngài để cầu thọ”. Như Huyễn nghe theo, trì danh ba năm, dung mạo biến đổi.

Lại nữa, vào đời Nguyên, Thích Nguyên Trưởng tự là Vô Minh, bị bệnh rất nguy ngập. Bà mẹ cầu khẩn Đại Sĩ: “Nếu đứa con không chết, con sẽ suốt đời làm người quét tước, dọn dẹp”. Khấn xong, [Nguyên Trưởng] đổ mồ hôi, lành bệnh.

(4) Theo Nam Hải Từ Hàng, trong thời Khang Hy nhà Thanh, Lã công ở Giang Ninh phẩm hạnh trong sạch, thuần hậu, mỗi sáng tụng kinh chú của Đại Sĩ một trăm biến. Năm 52 tuổi bị bệnh nguy cấp, mộng thấy Đại Sĩ nói: “Mạng ngươi sắp chấm dứt, nghĩ ngươi ưa làm lành, tụng kinh, tăng thọ hai kỷ nữa”. Tỉnh giấc, bệnh đã lành, thọ bảy mươi sáu tuổi, không bệnh tật gì mà mất.

Theo Phụ Trì Nghiệm Ký, trong thời Đạo Quang nhà Thanh, Lưu Dực Đình ở Kim Lăng tự nói: “Tôi mỗi sáng thức dậy ắt đối trước tượng Đại Sĩ tụng bảy biến chú Đại Bi, suốt hai mươi năm không lười nhác. Một bữa trời xẩm tối, có một bà cụ bước vào, bảo: ‘Đến ngày nọ sẽ bị tai nạn, nên cẩn thận’ rồi đi ra. Gọi người nhà dâng trà thì ai nấy kinh ngạc, chẳng thấy bà cụ đâu nữa! Tới hôm ấy, đêm ngủ, thức dậy đi tiểu, ngã lăn ra đất, chân phải mắc vào trong ghế, đau không thể chịu nổi, thầm trì chú Đại Bi, mấy ngày mới lành. Ấy là vì thờ Đại Sĩ đã lâu, nên được Ngài linh thiêng che chở. Nay tuổi đã sáu mươi tám, quắc thước dị thường, đều là nhờ sức của Đại Sĩ”.

Theo Cao Vương Kinh Linh Ứng, Uông Đức Thành thuở nhỏ mộng thấy một vị lão tăng nói: “Ngươi chỉ thọ được mười tám tuổi”. Sáng dậy thưa với cha, cha cho là mộng huyễn chẳng đáng tin. Đến khi bệnh sắp chết, cha mộng thấy lão tăng nói: “Đại hạn của con ngươi đã tới, nếu chẳng có sự lành lớn lao sẽ chẳng thể vãn hồi được đâu. Hãy nên làm gấp đi!” Ngày hôm sau, cha liền đối trước Đại Sĩ, lập nguyện cứu giúp rộng rãi, khắc kinh in tặng, thí quan tài, châu cấp [cho người nghèo khó], hăng hái lập hạnh. Sau đấy, lại mộng thấy vị lão tăng nói: “Con ngươi chẳng những không chết yểu mà còn có thể mong được vui hưởng tuổi già”. Quả nhiên, [Uông Đức Thành] thọ ngoài chín mươi.

(5) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, đời Tống, sư Thích Tông Uyên thuở bé gặp một thầy tướng giỏi, bảo: “Uyên tuổi thọ ngắn ngủi, hãy gắng trì phẩm Phổ Môn”, liền kính cẩn vâng lời trì tụng, tu tập trong cõi tục chẳng ai sánh bằng. Trong niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, Sư đoán trước ngày mất, thọ tám mươi ba tuổi.

Trong lời bạt của Văn Trung Lâm Tắc Từ đời Thanh có viết: “Thái Thú Đồ Tiềm Viên bị bệnh nguy ngập, mộng thấy Quán Tự Tại Bồ Tát bảo: ‘Theo luật cõi âm, hễ cứu mạng thì sẽ tăng tuổi thọ, thêm phước lộc, ông hãy gắng làm đi’. Tỉnh giấc, cả nhà bèn kiêng giết, mua loài vật đem phóng sanh. Mùa Đông năm ấy, [ông Đồ] liên tiếp được bổ làm quan ở Viên Châu rồi đến Cửu Giang, gia cảnh bèn khá lên, bệnh cũng chóng lành. Do vậy, ông Đồ bèn viết một thiên cuối cho cuốn Phóng Sanh Lục để khuyên đời”.

(6) Theo Cao Vương Kinh Chứng Nghiệm, ông Lý Thiệu Đình ở Đồng Sơn đã bảy mươi, không con cái, nuôi đứa cháu côi cút mới tròn bốn tuổi thì nó bị bệnh nguy ngập. Ông Đình sáng chiều tụng kinh và khắc in kinh biếu tặng. Đứa cháu được lành. Ông sanh được một con trai, đến năm mười sáu tuổi, nó cùng với đứa cháu đều vào học trường huyện. Ông Đình thọ đến 99 tuổi.

Theo Tứ Hương Thảo Đường Bút Ký, Mao Sĩ Ngọc ở Trường Châu do buôn bán vải thua lỗ, lại trúng sương gió, bị ho rất nặng, bèn phát nguyện tụng chú Đại Bi, liền lành bệnh. Về sau, con là Đỉnh Hanh đón về phụng dưỡng tại kinh đô, thọ tám mươi tư tuổi, không bệnh tật mà mất.

1. Bèn có Thường Cô xẻo đùi, cha thêm tuổi thọ. Kim Thị cắt tay, bố chồng tăng kỷ.

2. Sơn Anh cầu mẹ hết bệnh, được tặng chén nước tràn đầy. Vân Cô đáp tạ thần ân, khớp mộng ban cho hoàn thuốc.

3. Tràng phan cùng lay động, ngầm bảo vệ thương thế ông Bành. Hoàn thuốc bôi vết thương, thở dài thương Lưu nhi khổ sở.

4. Chim ngậm quả son, linh dị hợp mộng trao ngọc phượng. Tụng chú Bạch Y, hồn thoát khỏi Kim Kê triệu vời.

5. Văn Ngọc cảm ân, xưng tụng Phật pháp vô biên. Cảnh Hiền vâng pháp, tin tưởng linh phù bậc nhất.

6. Chấn Hỗn, Học Tảo, mẹ đều tuổi hạc tăng cao. Lưu Tễ, Truyền Anh, mẹ cũng thọ thêm mấy tháng.

7. Ấy là vì: Yêu vật, thương dân, trước hết phải có lòng hiếu kính. Thỉnh an, hầu bữa, có gì ngoài biết tuổi thung huyên.

8. Vì thế, phàm hiếu tử cầu thọ cho cha mẹ, quyết sẽ được thần linh ngấm ngầm gia hộ (Đoạn này ca tụng sự tăng thọ cho cha mẹ).


(1) Theo Khải Trinh Dã Thừa, vào đời Minh, con gái ông Thường Mang ở Ích Phiên đức tánh chí hiếu, đã hứa gả cho con trai nhà họ Vương, nhưng chàng Vương đã chết sớm. Cô Thường về nhà họ Vương thủ tiết, mặc áo vải thô mộc[20], ăn chay, thêu tượng Đại Sĩ. Sáng dậy tụng phẩm Phổ Môn, chú Đại Bi, tối tụng kinh Di Đà, chú Vãng Sanh. Cha bị bệnh nguy ngập, bèn cắt thịt đùi dâng lên. Cha mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Do con gái ông hiếu thảo nên được tăng thọ”.

Theo Tự Cầu Tập, bà Tôn Kim Thị ở Vũ Tiến tánh tình hiếu thảo. Bố chồng ưa làm lành, bà Kim bán nữ trang, ruộng nương để cung cấp. Bố chồng bệnh ngặt nghèo, muốn ăn bánh ít trần[21]. Bà Kim cắt thịt trên bắp tay để nấu súp và bún. Bố chồng ăn xong, ngủ yên. Thức dậy, bảo vợ: “Tôi vừa thấy Đại Sĩ đến, nói con dâu ông lòng hiếu chân thành thấu trời, nên cho ông thọ thêm một kỷ”. Cụ lành bệnh, quả nhiên mười hai năm sau cụ mới mất.

(2) Trong Tín Tâm Lục, Lưu Sơn Anh nói: “Tôi phát tâm quỳ tụng các kinh chú Quán Âm, Chuẩn Đề để cầu cho mẹ được lành bệnh. Thoạt đầu vì thân thể yếu đuối, gối đau không thể chịu đựng nổi, lén nghĩ mẹ bệnh đàm hỏa[22] đã lâu, chưa chắc tụng kinh sẽ lành ngay, hơi manh nha ý niệm thoái thất. Kế đó, nghĩ tới Khổng Tử đã nói: “Vô hằng vô khả tác vu y” (Người không có ý chí thường hằng sẽ không thể làm đồng cốt hay thầy thuốc được), bèn gắng sức làm. Đối với chuyện giúp người lợi vật đều hoan hỷ phụng hành. Hơn một tháng, trọn chẳng còn [cảm thấy] đau khổ gì, nhưng bệnh mẹ chợt nguy kịch, bảo tôi: ‘Mẹ bệnh mấy chục năm, có lúc phát bệnh liền lành ngay. Nay con quỳ tụng kinh văn, đâm ra bệnh nặng hơn; chắc là mẹ phước bạc chẳng thể nhận lãnh đấy chăng? Hãy ngừng, đừng tụng kinh nữa’. Tôi khóc thưa: ‘Đây là do con chưa đủ lòng thành, chưa trừ được vọng niệm’. Liền thắp hương, hướng lên trời, dập đầu đến chảy máu, thề trừ vọng niệm ngõ hầu mẹ được khỏi hẳn. Đến đêm, mộng thấy Đại Sĩ kéo mẹ cùng ngồi, trao cho một chén nước màu xanh bảo uống. Ngày hôm sau, bệnh mẹ giảm hẳn một nửa, rồi lành. Bệnh dây dưa suốt ba mươi năm, từ nay vĩnh viễn khỏi hẳn”.

Theo Mộng Viên Tùng Thuyết, Văn Tịnh Hàm Liêm Phỏng khi làm huyện lệnh Nam Xương, do mệt nhọc chồng chất thành bệnh, tình thế dần dần suy sụp. Con gái đầu lòng là Vân Cô kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, hứa tụng Cao Vương Kinh một vạn biến. Tụng sắp đủ số, Liêm Phỏng mộng thấy Đại Sĩ trao cho ba hoàn thuốc, ép nuốt, bệnh liền giảm. Buổi chiều, ông vào nhà trong, thấy con gái dâng hương hoa, quỳ trước tượng Phật. Hỏi ra thì mọi người nói là tụng kinh đã đủ số nên dâng hương hoa cúng dường. Ông thuật lại giấc mộng, càng tin Đại Sĩ linh ứng. Về sau, ông làm đến chức Án Sát đất Lỗ (tỉnh Sơn Đông), thọ bảy mươi hai tuổi.

(3) Theo Khải Trinh Dã Thừa, vào đời Minh, Bành Hữu Nguyên ở Ích Dương kiền thành tụng Quán Âm Kinh. Cha bị bệnh, ông Nguyên cắt tay để chữa chạy. Mẹ bị bệnh nguy ngập, ông Nguyên khóc lóc cầu đảo Đại Sĩ, nguyện cắt gan cứu mẹ. Trong đêm, chợt thấy phan, tràng dẫn đường cho Đại Sĩ, ông Nguyên bèn đốt hương, đảnh lễ, cầm dao tự mổ. Rạch sáu lần mà tim cứ vọt lên, phải mò tìm gan để cắt, đau đớn ngất đi. Tỉnh lại, bảo vợ đem nấu dâng mẹ, bệnh liền lành ngay. Phổi của ông Nguyên thò ra ngoài, vết thương không khép miệng được. Mọi người xót xa khẩn cầu Đại Sĩ; đến đêm, mộng thấy Ngài dạy: “Phổi rút vào chẳng khó khăn gì. Ta muốn để ở ngoài suốt một trăm ngày để người đời nhìn vào, nhằm dạy họ hiếu thảo”.

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, vào đời Thanh, Lưu Thị ở Vân Huyện, phụng dưỡng mẹ chồng rất hiếu thảo. Mẹ chồng bị bệnh nghẹn hơi, liền cắt thịt đùi mình nấu cháo dâng lên, mẹ liền lành bệnh, nhưng bệnh lại phát ra, lại cắt thịt. Thế nhưng cứ cách tuần, lại lên cơn. Lưu Thị cầu đảo Đại Sĩ, nguyện bị bệnh thay. Thầy lang X... bảo xằng là gan người có thể trừ được gốc bệnh. Lưu Thị tin theo, dùng dao bén chọc dưới sườn, lôi gan ra cắt, ngã lăn ra, ngất đi. Chợt thấy Đại Sĩ vỗ về, bảo: “Con khổ quá!” rồi dùng hoàn thuốc bôi lên vết thương khiến Lưu Thị tỉnh lại, đem nấu miếng gan ấy dâng lên mẹ chồng, bệnh trọn chẳng còn phát ra nữa. Về sau, mẹ chồng biết chuyện, hết sức đau lòng nói: “Con dâu [hiếu thảo] đến mức như thế, ta nỡ lòng nào” bèn bẩm với quan xin ban thưởng cờ quạt. Đấy là chuyện trong tháng Sáu năm Kỷ Hợi (1779) đời Càn Long.

(4) Theo Củ Trai Tạp Ký, vào đời Minh, Lý Mộng Khang mộng thấy Đại Sĩ trao cho con phượng bằng ngọc bèn sanh ra con gái. Con gái tròn bốn tuổi thì mẹ mất, hết sức đau buồn! Thờ mẹ kế hiếu thảo, cha nghèo, cô dệt vải cho cha bán. Có người dòng dõi nhà quan mến mộ, xin kết hôn. Cô nói với [cha mẹ]: “Bỏ cha mẹ mình để phụng dưỡng cha mẹ người khác, con không muốn, nguyện suốt đời phụng dưỡng cha”. Cha bệnh, cô xả thân cầu đảo. Sắc thuốc trong sân, có con chim xanh ngậm một quả đỏ chót bỏ vào siêu thuốc. Cha uống vào liền lành bệnh. Năm Sùng Trinh thứ 2 (1629), cô mất năm bốn mươi bảy tuổi, đau lòng không được thỏa ý nguyện phụng dưỡng cha mẹ suốt đời. Hoàng Đạo Châu đề trên mộ cô ta như sau: “Gia Hòa hiếu trinh Lý thị nữ” (Cô gái hiếu trinh họ Lý ở Gia Hòa).

Theo Nhất Hạnh Cư Tập, vào đời Thanh, Bách Vạn An ở Thường Châu thích làm lành không mệt mỏi. Vào thời Càn Long, mẹ ông ta bị bệnh. Ông An từ Tô Châu vội trở về. Mẹ đã tắt hơi, mọi người sắp đặt quan tài, vải liệm. Ông An buồn thương, xót xa, cầu đảo Đại Sĩ, tụng chú Bạch Y một vạn hai ngàn lần, nguyện giảm tuổi thọ của chính mình để tăng thêm thọ mạng cho mẹ, rốt cuộc mẹ tỉnh lại. Cụ bệnh mấy ngày rồi ngồi dậy nói: “Thoạt đầu, ta bị hai viên nha lại [cõi âm] dẫn đi, qua chỗ Thổ Địa, Thành Hoàng rồi mới đến Đông Nhạc. Vua Đông Nhạc nói: - Con của ngươi thành tâm cầu đảo, nhờ Đại Sĩ cứu khỏi chết, nên bèn tha về”. Ông An bèn khuyên mẹ tu Tịnh nghiệp. Về sau cụ được vãng sanh Tây Phương.

Theo Bác Vật Chí, [thần núi] Thái Sơn (tức Đông Nhạc Đại Đế) chuyên triệu hồn người ta. Trịnh Huyền lại chú thích: “Kim kê (gà vàng) là tinh linh của Thái Sơn”.

(5) Theo Thánh Kinh Hội Toản, Vạn Văn Ngọc ở Kinh Sơn tự nói: “Tôi trì Đại Bi Chú, Tâm Kinh, linh dị khôn ngăn thuật trọn. Gặp hung hóa cát, khởi tử hồi sanh, quả thật chính thân tôi đã từng chứng nghiệm. Nhớ khi mẹ tôi bị bệnh nguy ngập sắp mất, tôi đau lòng khóc lóc chảy cả máu, quỳ trước tượng Đại Sĩ, tụng một biến chú Đại Bi, mẹ liền cảm thấy có người dẫn trở lại dương gian, dần dần thở thong thả, nói năng, cử động được, mấy hôm sau là khỏe hẳn. Phật pháp vô biên, quả chẳng phải là lời nói dối”.

Theo Cầu Phước Chỉ Nam, vào đời Thanh, Trữ Cảnh Hiền ở Cao An, trong niên hiệu Đạo Quang, họng mẹ bị liệt, hơn mười ngày không thể uống thứ gì được, máu tươi ngập họng, hơi thở như sợi tơ. Ông Hiền hứa sẽ thí tặng bộ Nam Hải Từ Hàng đang khắc và sách Cầu Phước Chỉ Nam mỗi thứ một trăm quyển, kiền thành tụng Tâm Kinh và niệm thánh hiệu Quán Âm. Mẹ ói ra từng khối huyết to như trứng gà rồi bèn uống thuốc được, mấy ngày sau khỏi bệnh. Căn bệnh này giống như gia nghiêm (cha) bị thoát chứng[23], đều cùng gặp nguy được an, càng thêm tin tưởng, trì tụng, lưu truyền thánh kinh (kinh Quán Âm, tức phẩm Phổ Môn và Tâm Kinh), quả thật là linh phù (bùa thiêng) bậc nhất để kéo dài mạng sống vậy.

(6) Theo Quán Âm Kinh Cận Trưng, vào đời Thanh, Hồ Chấn Hỗn ở Hoài Ninh chuyên tụng Quán Âm kinh chú. Trong niên hiệu Gia Khánh, sống nơi đất khách tại Lĩnh Nam, nhận được thư nhà, nghe nói mẹ đang bị bệnh nguy ngập, liền chí tâm sáng tối cầu đảo Đại Sĩ và thí kinh để cầu thọ, mẹ liền khỏi bệnh.

Đời Thanh, mẹ của Trương Học Tảo ở Lâm Xuyên là La Thị, dốc lòng kính tín Đại Sĩ. Năm Kỷ Hợi (1839) đời Đạo Quang, cụ đã bảy mươi hai tuổi, chợt đầu váng, bụng đau. Ông Tảo quỳ tụng Quán Âm kinh chú một ngàn biến, liền lành.

Theo truyện Lưu Tễ trong bộ Lương Thư[24], mẹ ông Tễ bị bệnh, ông Tễ tụng Quán Âm Kinh đến một vạn biến. Đêm mộng thấy một vị Tăng bảo: “Phu nhân đã tận số, nhưng do ông tinh thành chuyên dốc đến cùng cực, sẽ thọ được mấy chục ngày nữa”. Sáu mươi mấy ngày sau, cụ mất. Ông Tễ cất chòi bên mộ, có một cặp hạc trắng lượn quanh chòi.

Theo lời tựa của bộ Nam Hải Từ Hàng, Đặng Truyền Anh ở Cao An nói: “Anh tôi là Nguyên Đống đem hàm Tứ Phẩm do chính mình đã quyên được xin vua chuyển sang phong cho ông bà nội, nhưng bà nội đột nhiên trúng phong không nói được. Tôi liền kiền thành tụng Cao Vương Kinh, cầu cụ sống thêm một thời gian nữa để chờ cáo phong. Ngay hôm ấy, bà nội khỏe dần. Mấy tháng sau, bằng sắc gởi tới thì mấy hôm sau đấy, bà nội mỉm cười qua đời”.

(7) Sách Mạnh Tử có câu: “Thân thân nhi nhân dân, nhân dân nhi ái vật” (Có yêu thương người thân thì mới có lòng nhân với người khác, có lòng nhân với người khác thì mới có thể yêu thương muôn loài). Sách Lễ Ký viết: “Hiếu tử hữu vấn an, thị thiện chi nghĩa” (Người con hiếu thì có những hành vi hợp đạo nghĩa như hỏi thăm sức khỏe, hầu cơm [cha mẹ]). Luận Ngữ có câu: “Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã” (Con cái chẳng thể không biết tuổi của cha mẹ).

(8) Theo Quán Âm Kinh Cận Trưng, mẹ ông Hoàng Vân Tú ở Tân Kiến bệnh nguy ngập. Ông Hoàng sáng tối kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, nguyện in tặng Cao Vương Kinh, mẹ được lành bệnh.

Lại nữa, mẹ của Lý Nhất Minh ở Đồng Hương tuổi đã bảy mươi, mắc bệnh nặng. Do đi mời thầy thuốc, ông Lý đi qua ngôi chùa cổ, trông thấy trên bàn thờ Đại Sĩ có cuốn Cao Vương Kinh, thầm nguyện mẹ được lành bệnh sẽ in tặng một ngàn hai trăm quyển. Ngay đêm ấy, bệnh mẹ giảm quá nửa, liền khắc in ngay trong đêm, chưa đầy nửa tháng bệnh mẹ đã khỏi hẳn.

Theo Bạch Y Kinh Cận Trưng, con gái nhà họ Lý ở Đại Hưng, theo cha đến chỗ làm quan. Cha bệnh nguy ngập, cô ngày đêm cầu khẩn Đại Sĩ, mộng thấy được Bồ Tát khẩu truyền Bạch Y Kinh. Cô niệm đến một vạn hai ngàn biến, cha khỏi bệnh, thọ tám mươi mốt tuổi.

Lại có cô gái họ Dương, cha bị nổi nhọt đinh ở chân, thuốc men vô hiệu. Cô hằng ngày lạy Đại Sĩ, quỳ tụng Bạch Y Kinh và thề nguyện khắc in biếu tặng, chỉ mấy hôm, nhọt đinh đã lành.

Lại còn có Châu Khởi Phụng ở Ngô Huyện, mộng thấy thần bảo mẹ sắp hết tuổi thọ, ông Châu liền kiền thành tụng chú Bạch Y một vạn hai ngàn biến, in tặng một ngàn hai trăm quyển, mẹ thọ tới tám mươi mấy tuổi.

Theo Nam Hải Ký, trong niên hiệu Gia Khánh đời Thanh, Túc Khải ở Quế Lâm kể: “Ông nội tôi hai đùi lở loét, gân da rữa nát. Cha tôi hoảng hốt, hằng ngày tụng Quán Âm Chú mấy ngàn biến, in tặng một ngàn hai trăm quyển, bệnh của ông nội không thuốc mà lành. Về sau, cha bị bệnh khí thống, Khải thầm cầu nguyện Đại Sĩ, hứa in tặng Nam Hải Ký, lại còn tụng chú không ngớt, chẳng đầy mấy ngày cha khỏi bệnh”.

Theo Linh Nghiệm Ký, Hoa Đình Tướng là người đời Thanh nói: “Trong niên hiệu Càn Long, tôi bị bệnh, tứ chi chẳng thể cử động, ăn uống không nuốt xuống được, khắp thân đau đớn, ngứa ngáy, đầu tóc rụng sạch. Thầy thuốc nói: “Sống chẳng quá ba ngày nữa!” Mấy đứa con bèn kiền thành tụng Cao Vương Kinh một tạng, in năm ngàn quyển, hứa mỗi năm tận hết sức mua loài vật phóng sanh. Ngay trong hôm ấy tôi có thể cử động được, ngứa đau giảm dần, chẳng mấy hôm đã lành bệnh”.


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Hai, 30 Nov 2015, 0:43 AM
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 02 Dec 2015, 0:57 AM | Message # 25
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
1. Bèn có: Phóng sanh, kiêng giết, Ngưng Cô thoát sản nạn. Kêu cầu, cứu khổ, Đổng Mẫu hối thiện căn.

2. Triệu Canh soạn Minh Du Xác Ký, Linh Hóa nghe Tâm Địa Quán Kinh.

3. Tri Kiệm xem sổ ghi tương lai, Soái Thị được tính thêm nửa kỷ.

4. Tự tu, răn người, Khai Nguyên được thả. Giữ phận sống yên, Dương Lượng hoàn sanh.

5. Ông Cố làm lễ, được ngắm thân quảng đại. Họ Tào trì trai, bèn uống nước thanh lương.

6. Đấy đều là tên ghi trong sổ quỷ, rốt cuộc cùng Tần điệp[25] hồi sanh. Dẫu chưa soạn Chiêu Hồn Phú, vẫn kể chuyện trong cung nhà Hán.

7. Cành liễu phe phẩy, biến thành tục mạng thang[26]. Ban bùn Mâu Ni, chính là phản hồn dược. Đây chính là sự ban vui thứ ba của Đại Sĩ vậy (đoạn này ca tụng việc đã chết rồi sống lại)




(1) Theo Ngọc Lịch Cận Báo, Viên Ngưng Cô ở Dậu Dương bị sản nạn, hồn đến địa phủ. Diêm Vương tra sổ, bảo: “Người đàn bà này phạm lỗi quá nhiều”, sai quỷ giải sang Nhị Điện chịu tội. Một viên quan trình sổ lên, thưa: “Viên thị nhà họ Tiền[27] khuyên bố mẹ chồng đừng đốt trùng kiến ba lần. Lại khuyên chồng in năm ngàn tờ Giới Sát Văn, góp tiền in tặng ba ngàn trương Ngư Lam Quán Âm Phóng Sanh Kinh, Ngọc Đế phê chuẩn cho bà ta thọ thêm ba mươi năm nữa”. Vua đứng dậy chắp tay, khen: “Lành thay! Lành thay!” sai đưa về cõi dương, liền tỉnh lại.

Theo Pháp Hoa Cảm Thông, trong niên hiệu Thuần Hy đời Tống, mẹ ông Đổng là Lý Thị ở Nhiêu Châu mắc bệnh đã chết rồi sống lại, thuật rằng: “Thoạt đầu vào âm phủ, đi trong đồng hoang mấy dặm. Đến thành, nghe tiếng người ầm ĩ, nhưng tối đen như mực, tự nghĩ: ‘Ta tụng phẩm Phổ Môn ba mươi mấy năm, nay lọt sổ quỷ, há Bồ Tát chẳng cứu giúp hay sao?’ Ngay lúc ấy, ta hô to: ‘Cứu Khổ Quán Thế Âm Bồ Tát’ khoảng trăm lần, chợt có người nắm cánh tay trái ta dẫn đi, dần dần cảm thấy sáng sủa như ban ngày, thấy Đại Sĩ hiện tướng phụ nữ, anh lạc khắp thân, chiếu ngời lóng lánh, mùi hương lạ sực nức, tướng hảo đoan nghiêm. Do vậy, bèn xin Ngài cứu mạng. Đại Sĩ dạy: ‘Số ngươi đã tận, nhờ từ trước đã có thiện căn, nên ta đến cứu giúp. Hãy nên gấp trở về, sáu năm sau sẽ lại gặp gỡ’. Ta lễ tạ thì Ngài cất bước vọt lên cao, tha thướt bay về Tây Phương. Liếc trông phan, lọng dẫn đường, vàng ngọc sáng ngời, rộn lòng, chóa mắt, đột nhiên tỉnh lại”. 5 năm sau, cụ không bệnh mà mất.

(2) Theo Minh Du Xác Ký, vào đời Thanh, Châu Triệu Canh ở Trường Châu, vợ là Trình Thị, vào năm Đạo Quang 12 (1832), bệnh gan bộc phát, liền nói giọng quỷ, khẩn cầu Triệu Canh hãy tụng chú Đại Bi để giúp siêu độ. Do vậy, hỏi quỷ có oán thù đời trước với người bệnh hay không? Đáp: “Không có!” Hỏi: “Bệnh không sao ư?” Đáp: “Chí tâm niệm Phật ắt sẽ được lành”. Tháng Tám năm sau, bệnh lại phát ra, hai mươi mấy ngày chẳng ăn uống gì được, bèn niệm Phật không ngớt. Sau đó, bà vợ hôn mê chẳng biết gì, hồn đi vào cõi âm, thấy Diêm Vương thẩm tra tù nhân, thiện ác đều rất rõ rệt. Do Trình Thị ăn chay niệm Phật, niệm Kim Cang Kinh, Đại Bi Chú, nên vua bèn thả về. Bà ta bèn kể tỉ mỉ những điều đã thấy, Triệu Canh ghi lại [thành bộ Minh Du Xác Ký] để khuyên đời.

Trong lời chú thích của Quán Âm Linh Cảm Tụng có ghi: Vị Tăng tên Linh Hóa khi chưa xuất gia, chết vì bệnh dịch, nghe vị cai quản cõi âm giảng Tâm Địa Quán Kinh[28]. Nghe xong, Quán Âm dẫn đường, tỉnh lại, về sau xuất gia trong tông Thiên Thai.

(3) Theo Triều Dã Thiêm Tải, đời Đường, Mạnh Tri Kiệm lúc nhỏ bị bệnh chết, hồn vào cõi âm, gặp người quen làm nha lại ở đó bảo: “Ngươi vốn không có phước quả, khó thể trở về được”. Kiệm thưa: “Cháu tụng Tâm Kinh, Cao Vương Kinh, ước chừng ba bốn vạn biến”. Nha lại kiểm sổ, tâu lên vua, vua phán thả về. Lại còn cầm sổ chỉ cho biết chuyện tương lai, bèn tỉnh lại. Về sau, mọi chuyện đều ứng nghiệm.

Theo Hải Nam Nhất Chước, vào đời Thanh, vợ của quan Tỷ Bộ Kim Quang Đẩu xứ Phụng Tân là Soái Thị thờ Đại Sĩ, lúc sáu mươi mấy tuổi bị bệnh mất, ba ngày sau sống lại, [kể chuyện] vào cõi âm, thấy Đại Sĩ bảo với Diêm vương: “Bà này kiền thành tụng Quán Âm Kinh, lại có công đức in tặng rất nhiều, hãy nên cho thọ thêm nửa kỷ”. Vua cho bà Soái sống lại, được đi khắp địa phủ, tận mắt thấy người thọ khổ đông đúc. Có bầy chim khoét mắt, máu tuôn khắp thân, nói đó là quả báo do giết sanh mạng chim. Lại vỏ ốc chất thành núi, lũ quỷ khoét thịt người dồn vào đó, bảo là quả báo do ăn thịt các loại ốc.

(4) Về chuyện hoàn hồn của Chương Khai Nguyên xin xem trong lời chú thích thứ bảy trong phần cứu khỏi đọa lạc. Ông ta khi đi khắp địa ngục xong, người cứu nói: “Ông trở về hãy nên tự tu, răn người, đừng lơi lỏng chí ấy” rồi sống lại.

Theo Chuyển Nhân Lục, cuối niên hiệu Thuần Hy nhà Tống, Dương Lượng bị bệnh chết đi, vào cõi âm. Diêm Vương hỏi có công đức gì, thưa: “Con niệm Quán Thế Âm Kinh”. Vua hỏi: “Làm chuyện lành nào?” Thưa: “Chẳng có điều lành nào để kể, chỉ giữ phận sống yên mà thôi!” Vua kiểm sổ, thấy đúng như lời nói, bèn cho sống lại.

(5) Vào đời Minh, Cố Vỹ ở Thường Thục tánh tình cẩn thận, trung hậu, chết trong niên hiệu Vạn Lịch. Ba ngày sau sống lại, kể: “Lúc mới chết đích thân thấy hình dáng thật sự của Đại Sĩ, giống như tượng Ngài đang đi được thờ tại chùa Hổ Khâu, nhưng thân to lớn hơn, từ trên không trung hạ xuống. Vỹ đầu mặt đảnh lễ. Trong khoảnh khắc, Bồ Tát ẩn hình, coi khắp địa ngục rồi tỉnh lại”.

Tào Học Cứu ở Thái Thương chết vì bệnh dịch, thấy bà cụ mặc áo trắng bảo: “Ngươi trì trai, ta cứu ngươi”. Thưa: “Bồ Tát cứu con, con nguyện trì trai”. Bà cụ bảo uống nước, tâm cốt thanh lương bèn sống lại; thì ra đã chết một ngày đêm rồi. Bèn suốt đời ăn chay, thờ phụng Quán Âm.

(6) Theo Tả Truyện, người nước Tấn bắt được gián điệp của nước Tần, đem giết ở Giáng Thị. Sáu ngày sau, gã gián điệp ấy sống lại.

Thời Chiến Quốc, Tống Ngọc soạn bài Chiêu Hồn Phú. Theo Bác Vật Chí, cuối đời Hán đại loạn, có kẻ quật mồ chôn cung nữ thời Tiền Hán, các cung nữ vẫn còn sống, đều đi ra, bình phục như cũ. Quách Hậu[29] nhà Ngụy nhận họ làm tay chân, hỏi chuyện trong cung thời Hán, họ đều trả lời rành rọt.

(7) Với câu trước, xin hãy xem lời chú thích thứ 18 trong phần cứu đọa lạc.

Theo Kiến Văn Lục, vào đời Thanh, Thang Sính ở Phiêu Thủy nhà nghèo, nuôi mẹ có hiếu. Chợt bị bệnh mất đi, hồn đến Đông Nhạc. Ông Sính xót xa xin [Đông Nhạc Đại Đế] hãy thương mẹ ông ta không người hầu hạ, phụng dưỡng. Vua sai đưa sang chỗ Khổng Thánh định đoạt. Trở về gặp Phổ Môn Đại Sĩ, bèn xót xa khẩn cầu cho sống lại. Đại Sĩ bảo: “Đấy là lòng hiếu thảo. Lại từng cự tuyệt gái lả lơi, tương lai sẽ cao xa, hãy nên cho hoàn hồn gấp”. Quỷ thưa: “Xác đã mục thì làm thế nào?” Đại Sĩ sai Thiện Tài lấy bùn Mâu Ni, sắc như Chiên Đàn, dùng bùn bọc thây ba lớp, những chỗ hư nát trông hoàn hảo như thường. Hồn từ miệng chui vào [xác], bèn sống lại. Về sau, Thang Sính đỗ Tiến Sĩ thời Thuận Trị, suốt đời trai giới.

Theo Thập Di Ký, trong năm Đình Hòa nguyên niên (92) đời Hán, nước Nhục Chi tiến cống Phản Hồn Hương. Về sau bị dịch lớn, vua đốt lên, những ai chết chưa quá ba ngày đều sống lại.



2.2.3.4. Được con



1. Bèn có: Bảy ngày thân thể biến hóa, kể mãi chuyện đẹp Tự Cô. Khoảnh khắc đổi hình, ai nấy gọi tên Phật Tứ.

2. Cúng ngàn vàng dựng gác, sanh liên tiếp anh em. Hứa kỳ hạn sáu ngày, Tín, Trung cùng già cả.

3. Mây màu vờn quanh, thơm ngát tranh Lý Thanh ẵm trẻ, trăng tròn, hoa trổ, Phan Chiếu ngâm vịnh nhà thêm người.

4. Hương vòng in chữ, ấm lòng Chương Tảo lúc tàn niên; dương liễu làm con, ứng Tân Trai thiết tha bái vọng.

5. Họ Cát truyền kinh, quan dân được lợi. Thí chủ Phan công, tăng sĩ sanh đôi.

6. Chú cháu họ Phó, nối gót quy y. Anh em họ Lý, chen vai tin tưởng.

7. Văn Sản sanh được con trai, cháu vốn giống cậu. Tử Thúy có người nối dõi, cháu phải hầu cô.

8. Tươi cười ban tặng, đền bù họ Trâu sửa lỗi . Khớp với điềm mừng, ông Hùng trừ sạch đa nghi.

9. Lương Văn xây dựng Bạch Hoa Am, Long Tướng mộng được trao con đỏ.

10. Chí Thuần khắc ván, khen ngợi “như vang ứng tiếng”, Đạo Đức mộng lan, may đã cải tà quy chánh.

11. Mừng được hậu duệ dằng dặc, ca tụng trọn khắp đất Kinh, Hành. Vịnh câu “con cháu đông đầy”, tiếng ngâm rền miền Huy, Vụ (tổng cộng hai đoạn).




(1) Theo Thuật Dị Ký, cụ Hoàng ở Kinh Châu đã già và góa vợ, dốc lòng ham làm lành. Có một gái tên là Tự Cô, tuổi vừa mười bốn, học chữ với cha, thông minh, hiền hậu, thêu tượng Bạch Y Đại Sĩ, lễ bái hết sức kiền thành. Một đêm, Tự Cô mộng thấy Đại Sĩ nói: “Cha ngươi hiếu nghĩa, chẳng nên không có ai nối dòng. Hiềm rằng tuổi đã già [không thể có con được nữa], ta biến ngươi thành con trai”. Bảo cô ta nuốt viên thuốc màu hồng, cô ta cảm thấy một luồng hơi nóng xông thẳng xuống dưới, ngủ mê mệt suốt bảy ngày, tỉnh dậy thì đã thành thân trai. Nhà chàng rể kinh ngạc cho là dối trá, kiện lên quan để kiểm nghiệm thật hư, người tới xem đông nghịt. Tôn Nguyên Phương đề thơ rằng: “Trong mơ biến hóa sao kỳ lạ, má hồng bỗng chốc biến mày râu”.

Theo Kỷ Cầu Thư, vào đời Minh, Dương Hoàng ở Đương Đồ tận lực học Nho. Gặp lúc quân binh vây làng, chẳng nỡ lìa phần mộ tổ tiên, giấu thê thiếp và con trai trong rừng sâu, một mình canh mộ. Quân lính kéo đến, bắt được ông, vội đem dìm chết. Đứa con trai lên mười, từ trong rừng thấy cha bị chết đuối, cũng gào khóc chạy ra, gieo mình xuống nước chết. Khi ấy là ngày Mười Sáu tháng Ba năm Bính Tuất (1646) đời Thuận Trị. Đến sáng, hai cái xác ôm nhau nổi lên, ai trông thấy cũng ứa lệ. Vợ ông ta là Lục Thị thôi ăn mặn, thờ tượng Đại Sĩ trong nhà, sáng tối niệm Phật, vừa niệm vừa tuôn nước mắt. Mộng thấy một bà lão dẫn một đứa nhỏ, bảo “tặng cho ngươi”. Tỉnh dậy, bèn cầu: “Nguyện người thiếp là Trương Thị đang có mang sẽ sanh được con trai thì là do Bồ Tát ban cho”. Cuối năm, người thiếp sanh con gái, bà Lục khóc lóc: “Nay đã hết rồi!” Đến mùa Xuân, bà mời các vị bề trên trong họ đến nói: “Chồng tôi không có con, tài sản đơn bạc nên chia cho các cháu trai. Tôi xin thâu tô để có cái lo toan cơm áo nuôi con gái”. Nói chưa xong đã đau đớn khóc ròng. Mọi người bất nhẫn, nói: “Đợi tới giáp năm ông Hoàng, sau khi làm Phật sự xong sẽ bàn định”. Đến kỳ, hội họp thân tộc, ngày hoàn tất trai đàn nhằm đúng hôm Mười Sáu tháng Ba, đứa bé gái khóc oa oa không ngớt, Trương Thị ôm nó đặt lên gối, chợt như bị bóng đè chẳng tỉnh. Bé gái khóc càng dữ. Bà Lục phải kêu ầm lên thì bà Trương mới tỉnh, bồng con lên thì nó đã biến thành thân nam, nhìn nhau kinh hãi, ngạc nhiên. Họ hàng xúm lại thấy mặt mũi nó vẫn như cũ, nhưng ở chỗ kín còn vằn vện dấu máu, mới biết Bồ Tát báo mộng chẳng sai, rồi đem nó lễ trình trước bàn Phật, đổi tên là Phật Tứ (Phật ban cho). Trương huyện lệnh sai xét nghiệm, tra hỏi tông tộc, phê rằng: “Nếu sự biến hóa của đứa con không thật, lũ cháu trai há chẳng muốn chia điền sản ư?” Hạc Động Tử[30] nói: “Linh cảm đến mức ấy, đá nứt vỡ, trời rúng động vậy”.

(2) Theo Hiện Báo Tùy Lục, đầu đời Thanh, Đàm Hiến Khanh nhà giàu có nhưng không có con trai, người trong họ ngắm nghé phân chia tài sản. Ông Hiến giận, dùng năm ngàn lạng vàng tổ chức đàn tràng Đại Bi Sám, lễ sám suốt bốn mươi chín ngày, người thiếp bèn sanh con trai, bọc thai trắng tinh. Người vợ cả bèn phát tâm quyên tặng một ngàn lạng vàng để dựng Bạch Y Các; không lâu sau lại sanh con trai, bọc thai cũng trắng như lần trước. Anh và em đều vào học trường huyện.

Theo Trần Hoài Tích Bút Ký, Uông Mậu Huy ở Kỳ Môn không có người nối dõi, bèn niệm và tặng Cao Vương Kinh, rộng làm các thiện sự, mộng thấy Đại Sĩ ẵm một đứa trẻ bảo: “Ngươi hãy khéo đỡ lấy. Sáu ngày sau sẽ đến ẵm đi, sẽ lại ẵm đến một đứa trẻ nữa”. Thế rồi ông sanh liên tiếp hai đứa con trai, trưởng là Nhân Trung, thứ là Nhân Tín. Sau này, Nhân Trung mất năm sáu mươi tuổi, [lúc ấy, người nhà ông Uông] mới hiểu được ẩn ngữ trong giấc mộng.

(3) Theo Trì Nghiệm Ký, vào đời Minh, Hình Khoa[31] Lý Thanh có một con trai chết vì bệnh đậu, mẹ nó bèn kiền thành tụng Cao Vương Kinh. Ông Thanh mộng thấy Đại Sĩ ẵm một đứa trẻ đến, bảo: “Như vân, như nguyệt”. Sáng dậy, ông X... tặng cho ông Lý bức tranh thêu Quán Âm ẵm đứa bé giống hệt như trong giấc mộng. Trên bức tranh ấy có bài thơ, [mở đầu bằng câu]: “Thái vân hương nhiễu hải thiên triều” (Mây màu vờn biển thơm trời thẳm). Câu cuối bài thơ là: “Hoàn lai đan quế nguyệt trung phiêu” (Trở về, quế thắm nhẹ lay trăng), phù hợp với hai chữ “vân” và “nguyệt”. Về sau, quả nhiên sanh con trai.

Theo Linh Ứng Ký, Phan Chiếu ở Ngô Giang đốt sớ cầu con trước tượng Đại Sĩ. Năm sau, giữa Xuân, sanh được một trai. Làm thơ kỷ niệm có câu: “U Yên lão khứ tuyết doanh điên, hỷ kiến hoa sanh nguyệt hựu viên” (U Yên già khọm, tuyết đầy non, mừng thấy hoa đơm, nguyệt lại tròn).

(4) Theo Quái Viên, Chương Tảo tuổi gần bảy mươi, không có con trai, lễ Đại Sĩ, mộng thấy trước tòa của Đại Sĩ, chuỗi hương vòng in một chữ Tử (con), rồi người thiếp sanh được một trai.

Dương Tâm Trai ở Nhạc Châu, triều bái Phổ Đà, mộng thấy Đại Sĩ bẻ cành liễu trong tịnh bình ban cho, bảo: “Cho nó làm con ngươi”. Đứa con trai sanh ra được đặt tên là Tự Liễu.

(5) Theo Cao Vương Cảm Ứng Ký, đời Đường, Cát Trường Niên ở Hành Dương không người nối dõi. Vị lão tăng khuyên ông Cát tụng Cao Vương Kinh, bảo: “Sanh con sẽ có điềm lạ là bọc thai kép màu trắng”. Vợ chồng bèn tụng kinh đủ một tạng; về sau, sanh được ba con trai, đều có bọc thai kép màu trắng. Quan Thái Thú chính mắt thấy sự linh nghiệm ấy, bèn cho khắc ván ấn tống. Vợ chồng Giang Tể ở Vũ Dương thọ trì kinh cũng được quả báo tốt đẹp.

Theo Khoáng Viên, Phan Hải Tân ở Thuận Thiên không con, nỗ lực làm lành, cúng dường chùa Tăng. Có hai vị lão tăng cảm kích, thề trước tượng Đại Sĩ, nguyện làm con ông bà để báo đáp. Một hôm, ông Phan đang ngồi trong gian giữa, chợt thấy hai vị Tăng đi vào nhà, vợ bèn sanh đôi hai con trai. Cho người sang chùa hỏi thăm hai vị lão tăng thì họ đã viên tịch cùng một lúc.

(6) Theo Ứng Nghiệm Ký, Phó Quốc Trấn ở Tân Kiến không con, chú là Quảng Nghiêu đông con trai; do vậy, khuyên: “Chú tụng Quán Âm Kinh nhiều năm, sao cháu không bắt chước?” Ông Trấn bèn kiền thành tụng, năm sau sanh con. Thí kinh hai ngàn quyển lại có thêm con, cùng thi đậu làm quan.

Theo Bạch Y Linh Nghiệm, Lý Tá Nghiêu ở Hành Sơn không con, anh là Thọ Nghiêu có được quyển kinh Bạch Y bèn cùng nhau mở trai đường, thờ tượng Đại Sĩ, tụng kinh, thí tặng, mỗi người đều có một con trai.

(7) Theo Cảm Ứng Ký, Thái Thú Tùng Giang là Phí Vĩnh Niên in tặng Cao Vương Kinh, sanh được một con. Truyền cách này cho cháu là Giang Văn Sản, anh ta cũng sanh được một con trai, năm mười tám tuổi, nó đậu khoa thi Hương.

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Minh, Long Tử Huy ở Lô Lăng không người nối dõi, em gái ông ta có được quyển kinh Bạch Y, đọc những chuyện linh ứng do cầu con, bèn khuyên chị dâu trì tụng. Chị dâu phát nguyện ăn chay, tụng kinh. Năm sau, sanh được một trai, khôi ngô khác thường.

Theo Tấn Thư, Hà Vô Kỵ[32] tàn ác giống như cậu hắn. Sách Tả Truyện có câu: “Điệt tùng kỳ cô” (Cháu làm bầy tôi cho cô)[33].

(8) Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Thanh, Trâu Lỗ ở Lâm Xuyên, trong thời Ung Chánh kiền thành tụng Quán Âm Kinh, sanh được hai con. Tự nhủ: “Chưa chắc đã là sức của Bồ Tát”, tâm liền bê trễ. Hai đứa con chợt chết yểu, bèn kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, thệ nguyện thí kinh. Vợ mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ tươi cười, đáng mến, ẵm một đứa bé đặt lên chõng, hôm sau liền sanh con. Hơn một năm sau, lại mộng thấy giống như trước, lại sanh một con.

Lại nữa, Hùng Thiên Ích ở Ích Dương, sáu mươi tuổi, không con, thấy Quán Âm kinh chú linh nghiệm, bèn ăn chay tụng niệm, ấn tống. Vợ nằm mộng thấy gấu[34], vui vẻ kể với chồng, ông vẫn cho là huyễn mộng. Mùa Xuân năm sau, quả nhiên sanh con trai phù hợp giấc mộng.

(9) Theo Phổ Đà Chí, vào đời Minh, Đô Ty[35] huyện Định Hải là Lương Văn do cầu con được cảm ứng, bèn bỏ tiền cậy vị Tăng trong chùa là Dục Quang dựng Bạch Hoa Am.

Theo Từ Lâm Tập, chư sanh Hà Long Tướng ở Quảng Châu đã năm mươi tuổi nhưng không có người nối dõi, bèn thờ tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, sáng tối kiền thành lễ tụng. Mộng thấy Đại Sĩ trao đứa bé đỏ hỏn, bèn sanh liên tiếp ba con trai.

(10) Theo lời bạt của Cao Vương Kinh thì Hồ Chí Thuần ở Phù Lương cùng với vợ họ Uông tụng Cao Vương Kinh. Bà Uông mộng thấy nhiều người đến xin kinh, bèn hứa in ra biếu tặng. Độ một tháng sau có thai, sanh con nhằm đúng ngày khởi công khắc bản in. Trong lời bạt, ông Thuần viết: “Bồ Tát như vang ứng theo tiếng, chẳng thể nghĩ bàn”.

Theo Minh Tường Ký, thời Lưu Tống, Tôn Đạo Đức theo Đạo giáo, làm quan Tế Tửu[36], tuổi đã năm mươi mà không con. Một vị sa-môn khuyên ông Tôn hãy chí tâm lễ tụng Quán Âm Kinh. Ông liền bỏ không theo Đạo giáo nữa, dốc lòng thành tụng Quán Âm, liền có giấc mộng lạ, vợ sanh được con trai.

Theo Tả Truyện, người thiếp của Trịnh Văn Công là Yến Cật mộng thấy thiên sứ trao cho cành lan, bảo: “Cho nó làm con nhà ngươi”, liền sanh ra [Trịnh] Mục Công, nên đặt tên là Lan.

(11) Theo Linh Ứng Ký, Giang Liên ở Miện Dương phát nguyện tụng Bạch Y Kinh để cầu con. Mộng thấy Đại Sĩ trao cho đứa bé bảo: “Thưởng cho ngươi dốc lòng thành tụng kinh”. Qua năm sau bèn sanh con trai.

Theo Cảm Ứng Ký, Kha Thắng Xuân ở Vũ Xương tuổi đã năm mươi, không con, vợ chồng ngày Rằm, mồng Một ăn chay, tụng Cao Vương Kinh trọn đủ tám tạng. Trong ba năm, liên tiếp sanh hai trai, một gái.

Theo Quán Âm Kinh Cận Nghiệm, Tông Duy Viên ở Kinh Quận, vợ họ Trương nhiều lần bị sản nạn, bèn trai giới tụng Bạch Y Kinh, sanh con có bọc thai kép màu trắng, đặt tên là Đại Sĩ Bảo (Đại Sĩ che chở), thông minh, tuấn tú bất phàm.

Đời Thanh, Tả Phiên[37] xứ Hồ Quảng là Lưu Nguyên Bá tu sám hai mươi tám ngày để cầu con. Năm sau sanh con trai cực thông minh.

Quách Vũ Bá ở Hành Sơn đã sáu mươi mà không con, nghe nói Bạch Y Kinh linh nghiệm, bèn phụng trì, không lâu sau sanh con.

Trần Tảo Xán ở Miện Dương sanh con nhưng không nuôi được, vợ chồng trì tụng Bạch Y Kinh, sanh con nuôi đến trưởng thành.

Hồ Lương Hoảng ở Tân Đề thỉnh kinh, ăn chay tụng niệm, năm sau sanh được con trai.

Bành Tuấn ở Kinh Môn, đã năm mươi tuổi vẫn không có con, tin kinh linh nghiệm, kiền thành tụng niệm bèn có con, đặt tên là Nghiệm Bảo (bảo đảm ứng nghiệm). Năm mười sáu tuổi, nó được vào học trường huyện.

Chương Tuấn ở Miện Dương, nghe chuyện của Bành Tuấn bèn cũng tụng kinh, cũng có con.

Trình Học Tuân ở Huy Châu không con, vợ chồng kiền thành tụng Bạch Y Kinh, lại còn in tặng, năm sau sanh con.

Chiêm Hữu Cao ở Vụ Nguyên, vợ đã ngoài ba mươi mà chưa sanh nở, tụng Bạch Y Kinh, bèn sanh con.

Theo Cao Vương Linh Ứng, Trịnh Thuần Lãnh ở Vụ Châu đã bốn mươi vẫn chưa có con, hứa thí kinh một tạng, bèn có con.

Trong niên hiệu Khang Hy đời Thanh, Dư Lân Văn ở Vụ Nguyên không người nối dõi, vợ là Đới Thị trì Quán Âm Kinh và hứa thí ba ngàn quyển, liền sanh ba con trai. Anh ông ta là Lân Nhân thấy em trai được ứng nghiệm bèn cùng vợ kiền thành trì tụng, in tặng và thỉnh Tăng trì kinh một ngàn biến, liền sanh con. Người cùng ấp là Dư Tư Lai trì Cao Vương Kinh, vào thời Khang Hy sanh được hai con trai, đặt tên là Phật Thành và Phật Chánh.

Uông Trân ở An Huy khắc năm trăm quyển kinh, bèn sanh được con trai.

Trịnh Mỹ Ngọc ở Vụ Châu bốn mươi tuổi vẫn không con, in kinh một tạng, liền sanh con trai. Năm sau lại sanh con gái. Người cùng ấp là Giang Ứng Lâm cùng với vợ tụng kinh, tặng kinh rộng rãi, sanh được một trai.

Hoàng Liên Thị ở Hấp Huyện, lưu truyền rộng rãi kinh này, sanh đôi hai trai, đặt tên là Phật Trụ, Khánh Nhi.

Mễ Nhuận Cô ở Huy Châu, hứa biếu tặng một ngàn quyển kinh, năm sau sanh con trai.

Vào đời Minh, Thư Uông Thị ở Y Huyện đã bốn mươi vẫn không con, trong niên hiệu Hoằng Trị, tới lễ ở Đông Sơn Am, thỉnh được kinh đem về. Trì hơn một năm, sanh con trai.

Trong niên hiệu Sùng Trinh đời Minh, Đổng Khoa ở Vụ Nguyên, vợ là Chúc Thị, kiền thành phụng trì kinh này, hứa in một ngàn quyển, người thiếp sanh được hai trai. Người cùng huyện là Dư Mục Trai thí kinh một ngàn quyển, một năm sau sanh con trai.

Phương Nham ở Hấp Huyện, vợ là Hoàng Thị, cũng thí kinh một ngàn quyển, sanh con trai.



1. Lại thêm: Ham thiện, hành từ, ắt sẽ được trước là rạng rỡ, sau là dư dật.

2. Vì thế, chép kinh, vẽ tượng, Vương Văn Túc trâm anh lừng lẫy thế gian; lợi vật, giúp nghèo, Từ Văn Kính tể tướng suốt cả hai triều.

3. Thưởng âm đức cho ông Trương, cháu đủ sáu rồng. Tặng họ Phùng đứa bé còm, con đeo ba ấn.

4. Tú Tài tuyệt hảo, sanh trung thần nơi xứ Gia Định. Thượng Đế tưởng thưởng, Thiên Phi giáng hạ cõi Bồ Điền.

5. Cụ Trầm trải vàng, cháu chắt đông đầy, hưng vượng. Châu Thị chuộng lành, phước thọ dằng dặc dài lâu.

6. Thương vị tăng nghèo đốt ngón tay, con làm quan tới chức Hàn Lâm. Cự nhũ mẫu giở trò hoa nguyệt, dòng họ thật đông đầy, thịnh vượng.

7. Thông thạo Phạm âm, vọng bái Vương Thượng Thư đời Tấn, bia khắc Lang Sơn, ghi sự thù thắng nơi điện đình.

8. Bền lòng nhân hiếu, kẻ không con rốt cuộc có cháu hiền. Nuôi người tàn phế, hợp lòng trời, hậu đại ắt hưng long.

9. Vẫn mong uống nước nhớ nguồn, nguyền hậu duệ đời đời tin Phật. Nếu trót trước siêng, sau nhác, hãy dũng mãnh sửa mình đổi mới. Đấy chính là sự ban vui thứ tư của Đại Sĩ vậy (đoạn này ca tụng cả chuyện sanh ra quý tử)




(1) Theo Hải Nam Nhất Chước, sự linh ứng do trì kinh Quán Âm khó thể nào thuật trọn, nhưng ắt cần phải hướng thiện, sửa lỗi, kiêng giết hại sanh mạng loài vật thì mới được linh ứng như tiếng vang vọng theo âm thanh, [mà quả báo] cũng chẳng phải chỉ là hưởng niềm vui trông thấy con cháu đầy đàn!

(2) Theo Hiện Quả Tùy Lục, vào đời Minh, Vương Tích Tước, tên thụy là Văn Túc, làm tể tướng thời Minh Thần Tông, sai thợ dùng mực hòa vàng bạc để vẽ tượng Đại Sĩ, đích thân viết Tâm Kinh lên trên, tặng cho người khác thờ phụng chẳng thể tính được số. Con [trưởng] là Hành đậu Bảng Nhãn, cháu là Thời Mẫn tin thờ Phật pháp, phát chẩn cho dân đói. Có người nằm mộng thấy sáu thạch đậu, một vị Tăng bảo: “Đây là để ghi số những việc thiện do Thời Mẫn đã tích tập vậy”. Con trai là Quỹ thi đậu, con trai [thứ] là Viêm, cháu là Nguyên và Kỳ đều đậu Tiến Sĩ.

Theo Ngọc Lịch Truyền Sao, thái phu nhân của ông Từ Văn Kính hằng ngày niệm thánh hiệu Đại Sĩ một ngàn câu, thích nói chuyện nhân quả, khắc Ngọc Lịch Truyền Sao để khuyên người làm lành. Văn Kính cũng khắc Kính Tín Lục, giúp đỡ trọn khắp thân tộc, nhưng không cậy mình có đức. Con ông là Bổn, làm quan đến Đại Học Sĩ[38], [một người con khác là] Kỷ làm quan Tuần Vũ, cháu là Dĩ Huyễn làm quan Thị Lang[39], Cảnh Đào làm quan Đạo Doãn[40]. Lũ cháu chắt đều liên tiếp đỗ đạt.

(3) Trong câu trên, đối với chuyện bị chết vì bệnh dịch rồi sống lại của Viên Thị vợ ông Trương Khánh vào đời Tống xin coi lại lời chú thích thứ tám trong đoạn thứ hai của phần lành bệnh. Đại Sĩ bảo: “Chồng ngươi nhiều âm đức, con cháu ắt sẽ hưng vượng”. Về sau, sanh con là Tử Hanh. Hanh có sáu con trai đều làm quan vinh hiển.

Theo Tấn Thư, sáu anh em Biện Khổn đều lần lượt làm quan tới bậc Tể Phụ, người đời gọi là “Biện Thị Lục Long” (sáu con rồng nhà họ Biện).

Theo Khuyến Giới Loại Sao, họ Phùng ở Đồng Hương đời đời tích đức. Phùng Cẩm làm quan ở Sơn Hữu, không có con, vợ trì chú Đại Bi hết sức kiền thành. Vợ người hàng xóm mộng thấy một bà lão bế hai đứa bé một gầy một béo đến, đỡ lấy đứa béo thì nó rớt xuống đất chết, lại đỡ lấy đứa gầy thì bà lão bảo: “Đứa này sẽ trao cho nhà họ Phùng”. Vợ người hàng xóm sanh con không nuôi được; còn Phùng phu nhân sanh ra Hạo, thuở bé gầy còm, yếu đuối. Đến lớn, Hạo dần dần trở thành khôi ngô, cao lớn, từ chức quan Hàn Lâm chuyển lên Ngự Sử, không chuyện tốt lành nào chẳng tận lực thực hiện. Nay đã bảy mươi lăm tuổi, hai vợ chồng hạnh phúc, khỏe mạnh, có ba con trai đều đỗ đạt làm quan.

Theo Hán Thư, Dương Bộc đeo ba quả ấn để khoe khoang với xóm làng[41].

(4) Theo Hiện Báo Tùy Lục, vào đời Minh, cha của Hoàng Uẩn Sanh ở Gia Định, do hiếm hoi bèn tụng Bạch Y Kinh, tận lực làm lành, mộng thấy Đại Sĩ bế một đứa bé trao cho, bảo: “Nghĩ ngươi siêng khổ, tụng kinh, làm lành, ta tìm được một tú tài tuyệt hảo trao cho ngươi”, liền sanh ra Uẩn Sanh. Uẩn Sanh tài văn chương lừng lẫy trong nước, đậu Tiến Sĩ thời Sùng Trinh. Do thời thế biến loạn, cùng với em là Vĩ Cung thắt cổ nơi điện Phật ngoài Bắc Môn.

Theo Thiên Hậu Chí, Thiên Phi là con gái họ Lâm ở Bồ Điền. Cha là người một niềm chân thành, làm quan Đô Tuần[42] đời Tống, làm lành, thích bố thí, lễ Đại Sĩ cầu con trai. Về sau, mẹ mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Nhà bà nhiều đời gắng công làm lành, Thượng Đế ban thưởng”, lấy ra hoàn thuốc bảo: “Uống thuốc này sẽ được ban tặng đứa con từ bi, thích cứu giúp”. Mẹ liền mang thai. Lúc sanh ra, ánh sáng có màu sắc như ráng trời chiếu vào nhà, chói lòa chóa mắt, mùi hương lạ ngào ngạt, suốt cả tháng không khóc nên đặt tên là Mặc. Từ mười tuổi trở đi, tụng kinh, lễ Phật không lười nhác chút nào. Về sau nhìn xuống giếng tìm được bùa, bèn linh thông biến hóa, cưỡi mây vượt biển cả. Mọi người gọi là Thông Hiền Linh Nữ. Năm Ung Hy thứ 4 (987) đời Tống, nhằm tiết Trùng Cửu, cô bay lên trời giữa ban ngày. (5) Theo Tiên Tâm Lục, vào đời Minh, ông nội của Trầm Kiến Tuyền đi chơi, qua ngôi chùa đổ nát, thấy tượng Quán Âm đầu đội nón cật tre, than thở: “Bồ Tát từ bi, ban cho con người trí huệ, tôi nguyện trùng tu chùa này, cầu cho con cháu có đứa đọc sách”. Không lâu sau, điện đường, pháp tướng, sáng ngời như mới xây. Cháu nội là Nghiêu Trung, chắt là Mộng Đẩu kế tiếp nhau đỗ đạt.

Theo Bạch Y Đồ, Triệu Thế Trân ở Tiền Đường vợ là Châu Thị, không con, đến điện Bạch Y cầu khẩn, tụng chú, in tặng, và thật tâm làm lành. Về sau, sanh được hai trai, đứa lớn đỗ Tiến Sĩ. Bà vợ sống đến chín mươi tám tuổi, chính mắt thấy năm đời sống cùng nhà (ngũ đại đồng đường).

(6) Theo Hy Triều Tân Ngữ, Cấp Sự Trung Tôn Nhương không có người nối dõi, ngẫu nhiên thấy một vị Tăng đốt ngón tay, nói: “Nguyện có được một cái am tranh thờ tượng Đại Sĩ để ngồi bên cạnh tụng kinh, khỏi phải khổ sở khất thực”. Ông nói: “Tôi sẽ vì Sư thỏa nguyện này”. Ông dựng am tranh, Sư sống ở đó ba năm. [Một hôm] chợt thấy vị Tăng rảo bước vào buồng trong, liền chạy theo hỏi thì vợ đã sanh một trai. Còn đang kinh ngạc thì từ am báo tin vị Tăng ấy đã viên tịch, nhìn vào tay con thì vết đốt vẫn còn rành rành, bèn đặt tên là Trác, [về sau] đậu Bảng Nhãn.

Theo Thanh Long Yển Nguyệt Đao, Minh Thiện đời Nguyên không có con, thờ Đại Sĩ nghiêm cẩn, sanh con liên tiếp. Ông rước nhũ mẫu đến chăm nom. Có Bạch Thị là người xinh đẹp, ve vãn ông Thiện. Ông cự tuyệt, đuổi đi. Về sau, các con trưởng thành đều đông con, trở thành dòng họ lớn.

(7) Theo Biện Chánh Luận, vào đời Tấn, Vương Mân không con, vợ khẩn cầu Quán Âm cầu có người nối dõi. Về sau, ông Mân đi đường gặp một vị Tăng người Tây Vực, rất vui vẻ. Vị Tăng nói: “Ta chết sẽ làm con ông”. Không lâu sau, vị Tăng ấy mất, vợ ông Mân có thai. Sanh ra, con đã biết nói, thông hiểu Phạn âm của mười sáu nước tại Tây Vực, thuật những chuyện trong đời trước rành rẽ chánh xác. Đấy chính Thượng Thư Vương Hồng Minh đời Tấn vậy.

Trong đời Thanh, Trương Quý Trực đã bốn mươi mà chưa có con, phu nhân họ Từ cầu khẩn nơi Quán Âm Nham tại Lang Sơn. Một năm sau, bà sanh con trai. Đêm hôm trước [ngày sanh con], bà Từ mộng thấy một bà cụ ẵm đứa bé trao cho, bảo: “Đã xin thì ta cho ngươi vui lòng”. Quý Trực chép kinh Quán Âm tặng cho chùa, lại tạo tượng trên đỉnh núi, dựng đình bằng sắt để che, lại còn cho khắc bia để ghi lại chuyện này nhằm nêu rõ lòng Từ của Phật.

(8) Theo Nam Hải Từ Hàng, Tô Tấn ở Chiết Giang do mẹ bị bệnh, kiền thành tụng Cao Vương Kinh, ăn chay ba năm. Mộng thấy thần bảo: “Ngươi thật là hiếu tử! Ta vâng lệnh Thượng Đế, tăng thọ cho mẹ ngươi một kỷ. Nhưng tổ đức của ngươi mỏng mảnh, lẽ ra không con. Hiện thời tuy sanh được ba đứa con, nhưng chúng đều chẳng thọ. Hãy nên thí một tạng Quán Âm Kinh. Hãy gấp cưới vợ cho đứa con cả, ta sẽ thỉnh cho ngươi một đứa cháu hiền”. Tỉnh giấc, bèn cưới vợ [cho con], năm sau ẵm cháu, các con đều chẳng thọ.

Lại có một nhà giàu nọ ở Sơn Hữu, đã già mà chỉ có một con, một dâu. Dâu chết, con bệnh lao, cha cưới vợ lẽ cho con. Mẹ kinh hãi bảo: “Chẳng phải là ông làm cho nó chóng chết ư?” Ông bảo: “Ta thường cầu có người nối dõi ở chùa Linh Ẩn, mộng thấy Đại Sĩ dạy: ‘Mạng ngươi không có người nối dõi, nhưng vì đã tặng tiền giúp phát chẩn cứu sống cả ngàn người, nên ban cho ngươi một đứa cháu. Vì thế, phải cưới vợ lẽ cho con gấp”. Chưa đầy ba tháng sau, đứa con chết, người thiếp đã có mang, sanh ra con trai, nối dòng hương hỏa.

Theo Cảm Ứng Thiên Tăng Chú, vào đời Minh, Nghiêm Đạo Triệt tuổi đã ba mươi nhưng chưa có con, cưới thêm hai người thiếp đều chất phác, thô lậu, vẫn không sanh được con. Về sau, sang nhà họ hàng, thấy một đứa tớ gái bị câm, bèn cưới làm thiếp. Cha là Văn Tĩnh Công bảo: “Con làm chuyện hợp đạo trời, ắt sẽ có người nối dõi”. Ông Triệt trước đó đã tụng chú Bạch Y, giữ vững giới không sát sanh. Về sau, ba người thiếp đều sanh con, có điềm lạ là bọc thai kép. Cháu chắt đông đúc, nối nhau dạo bước thanh vân.

(9) Theo Tây Quy Trực Chỉ, đời Tống, Lã Mông Chánh thụy hiệu Văn Chánh, mỗi sáng thức dậy, khi lễ Phật, ắt nguyện rằng: “Kẻ chẳng tin Phật đừng sanh vào nhà tôi. Nguyện con cháu tôi là những kẻ ăn lộc trời, ắt sẽ hộ trì Tam Bảo”. Sau này, cháu là Di Giản và con của Giản là Công Trước cả hai đều làm Tướng Quốc[43]. [Hậu duệ là] quan Tả Thừa Lã Hảo Vấn và con ông Vấn là Dụng Trung đều tin Phật.

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Thanh, Tra Bang Việt ở Vụ Nguyên không con, cháu ông ta khuyên hãy tụng Quán Âm Kinh, lại còn dốc sức in tặng sẽ được ứng nghiệm. Trong năm Tân Dậu (1681) đời Khang Hy, vợ chồng bèn cùng tụng, sanh được hai trai, nhưng không nuôi được. Tự hối chưa in tặng, phát nguyện tặng ba ngàn quyển. Sanh con trai đặt tên là Phật Tứ, bèn in kinh đúng như lời nguyện, con được trưởng thành.

Theo Trì Nghiệm Ký, trong thời Tuyên Đức nhà Minh, Trương Quý không người nối dõi, phát tâm thí Bạch Y Kinh để cầu con. Sanh được con nhưng không hoàn nguyện in kinh, con chết yểu năm mười hai tuổi. Đau xót, sám hối, kiền thành cầu đảo, thí kinh năm ngàn quyển. Về sau, sanh con bình yên.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, trong thời Khang Hy nhà Thanh, Dư Chấn Trạc ở Vụ Nguyên không có con, thệ nguyện in tặng Cao Vương Kinh, mồng Một, ngày Rằm trì tụng. Sanh con rồi cũng không hoàn nguyện, con chết yểu, bèn in tặng bốn trăm quyển, lại sanh con trai.

Theo Bạch Y Cận Nghiệm, vào thời Gia Khánh nhà Thanh, con ông Dương A Trần lắm bệnh, ông nhớ lại lúc chưa sanh được con, đã thầm hứa khắc kinh bốn trăm quyển mà chưa hoàn nguyện bèn sám hối trước tượng Đại Sĩ. Ngay hôm ấy khắc ván để thí tặng, bệnh con liền khỏi ngay.



Ghi thêm: Theo Minh Tường Ký, vào đời Tống, Biện Duyệt Chi không có con, phát nguyện tụng Quán Âm Kinh một ngàn biến, gần đủ số, người thiếp có thai sanh con trai.

Theo Bạch Y Kinh Kỷ Nghiệm, vào đời Nguyên, Lưu Ngọc ở Nam Kinh không người nối dõi, tụng Bạch Y Kinh suốt hai năm. Mẹ vợ ông là bà Lưu mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ đội mão vàng, dẫn một đứa trẻ, bảo: “Đưa Thánh Nô đến”. Ngày hôm sau, [vợ ông Lưu] liền sanh con trai, do có điềm lạ là bọc thai trắng, bèn đặt tên là Thánh Nô, thí kinh năm trăm quyển.

Theo Linh Ứng Ký, mẹ ông Ngô ở Gia Hưng bệnh tật không con, tụng chú Bạch Y không thiếu sót, in tặng không tính xuể, khỏi bệnh, sanh con trai làm quan tới chức Thiếu Tư Nông[44].

Vợ ông Hoa Đôn Tam suốt mười chín năm chẳng sanh nở, cầu đảo Đại Sĩ sụt sùi, nức nở. Mộng thấy Đại Sĩ ẵm một trai, một gái đến, bảo: “Thương ngươi kiền thành nên trao cho ngươi”. Năm sau sanh trai, năm sau nữa sanh gái. Sau đấy, không còn sanh nở nữa.

Theo Cảm Ứng Ký, Tiến Sĩ Tiền Phước ở Thuận Thiên không có con, được một vị lão tăng truyền cho Cao Vương Kinh. Vợ chồng trì tụng, khắc thí một tạng, sanh ba con trai, đều vào học trường huyện.

Từ Cửu Đức ở Cừu Châu tạo tượng Đại Sĩ, lễ bái cầu con, tặng một ngàn quyển kinh, sanh con trai.

Đinh Thái ở Hàng Châu, năm mươi tuổi vẫn không con, nghe nói Cao Vương Kinh hễ cầu ắt ứng, liền ngày đêm trì tụng, sanh con trai, mười sáu tuổi thi đỗ.

Vương Tấn ở Như Cao đã ngoài năm mươi, vợ cũng ngoài bốn mươi lại lắm bệnh, cầu đảo Đại Sĩ, tụng kinh cầu con. Rốt cuộc vợ sanh con trai, càng thêm tin thờ, lưu truyền rộng rãi, lại sanh con trai.

Trong niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, Bành Nguyên Chấn ở Quảng Đông hứa in Cao Vương Kinh năm trăm quyển, sanh con trai.

Phương Thị ở Thang Môn, dâu có thai nhiều lần nhưng bị sảy thai, bèn nguyện tụng Quán Âm Kinh một tạng, in tặng hai trăm quyển, về sau sanh được cháu, đặt tên là Âm Bảo.

Vào đời Thanh, Dư Úc Văn ở Bà Dương không con, thí kinh một ngàn quyển, mộng thấy Đại Sĩ tặng con. Thiếp là Lưu Thị cũng mộng thấy Đại Sĩ ẵm đứa bé đến trước giường, liền sanh con trai, đặt tên là Kinh Bảo.

Vào đời Thanh, Trần Thiên Ngự vợ bị tiểu sản (sảy thai), vợ chồng chí thành trì tụng kinh chú Quán Âm, lại in tặng rộng rãi. Năm sau, mang thai yên ổn, sanh được con.

Du Cửu Vân ở Phong Thành nhiều lượt con bị chết. Do vậy, đắp tượng Phật, sửa chữa cầu đường, thắp đèn ban đêm, thí nước trà, hết thảy việc lợi lạc đều vui vẻ thực hiện, lại tụng Quán Âm Kinh, bèn sanh được con. Đến năm ông Du sáu mươi tuổi, con thành tài.

Trần Triều Đống ở Đồng Thành hiếm muộn, kiền thành tụng Bạch Y Kinh, nhiều lần mộng thấy Đại Sĩ, liền sanh hai trai.

Vào đời Thanh, Lý Chi Phú ở Bảo Để trong niên hiệu Càn Long khắc ba trăm quyển kinh, sanh được con đặt tên là Phật Khánh.

Kim Lợi ở Phong Thành đã năm mươi tuổi mà chưa có con, tụng kinh năm ngàn biến, sanh con có điềm ứng nghiệm là bọc thai màu trắng.

Lưu Thế Long ở Kinh Đông không con, trì kinh một vạn hai ngàn biến, sanh được con.

Tô Mỹ Đoan không có con, tụng kinh, lễ bái, sanh hai trai liên tiếp.

Tra Dịch Nam ở Hải Ninh lập nguyện tụng kinh, sanh được con đặt tên là Phật Hựu.

Ngô Thiệu Thành ở Dương Giang trì Tâm Kinh, sanh được con.

Chương Cảnh Dương ở Trì Dương thấy bạn là Thang Kính Trọng trì kinh được ứng nghiệm bèn kiền thành tụng cũng sanh con, đến lớn, con đỗ khoa thi Hương.

Cư sĩ Tế Xuyên ở Nhiêu Châu không có con, khắc kinh thí tặng bèn sanh con.

Vương Triệu Thị ở Giang Lăng mấy lượt gặp cảnh con chết yểu, trong niên hiệu Thiệu Hưng, có được kinh bèn trì tụng. Năm sau, sanh được con.

Tín sĩ là Từ Thụ Bách ở Tam Nham, vợ mang thai, bệnh nặng gần như không trị được. Ở trong nhà kiền thành tụng Quán Âm Kinh một ngàn quyển, và in kinh thí tặng, mua loài vật phóng sanh. Về sau, sanh được một trai, mẹ con vô sự, bệnh khỏi hẳn.

Theo Trì Nghiệm Ký, Lương Nguyên Chinh ở Hoài An không con, lắm bệnh. Do vậy, phát tâm ăn chay trường, hằng ngày tụng chú Đại Bi, Bạch Y Kinh. Vợ cũng trì Chuẩn Đề Trai[45], sáng sớm quỳ tụng kinh. Không lâu sau, ông Chinh khỏi hẳn bệnh, vợ sanh được ba con. Đứa con thứ hai đỗ khoa thi Hương.

Theo Linh Nghiệm Ký, Từ Hy Tải ở Lạc Bình con chết yểu, hết sức đau đớn. Có vị Tăng tặng thánh tượng Đại Sĩ, khuyên khắc ván in Quán Âm Kinh để biếu tặng [người khác], liền sanh được hai trai.

Hoàng Khuếch Sanh ở Quảng Châu nhà giàu nhưng không con, thọ Ngũ Giới, thôi ăn mặn, thờ Đại Sĩ. Sáng tối kiền thành lễ một trăm lạy, xưng danh không bỏ sót [một ngày nào]. Về sau, vợ và thiếp mỗi người đều sanh một trai, rất thông minh.

Từ Cẩn ở Huy Châu không con, tụng Bạch Y Chú để cầu con. Mộng thấy thần bảo: “Tụng thêm một tạng Cao Vương Kinh sẽ có người nối dõi”. Ông Cẩn theo đúng lời ấy, liền sanh con trai. Lại mộng thấy thần dạy: “Hãy rộng hành phương tiện, thí kinh một tạng thì con sẽ sang cả”. Ông Cẩn vâng lời, quả nhiên con đỗ đạt.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 02 Dec 2015, 0:59 AM | Message # 26
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
1. Phàm tránh dữ hướng lành, Châu Dịch nhiều lần đã nhắc, nhưng ban phước, tiêu tai, chính là Bồ Tát hạnh nguyện.

2. Núi đồng lở, chuông Lạc ngân, Phật tức là tâm. Âm đức hiện, dương báo tới, Lý thành tựu Sự.

3. Cát Tường thiên nữ khiến cho kẻ niệm toại lòng, Kiên Lao địa thần cũng khiến hữu tình an ổn.

4. Huống chi Đại Sĩ được chư thiên phụng hành, vạn thần đứng hộ vệ ư? Sở cầu như ý, chớ nên nghi ngờ (Từ đây trở đi là tổng kết chuyện cứu khổ và ban vui, gồm hai đoạn)




(2) Theo Hán Thư, cái chuông trước điện Vị Ương vô duyên cớ tự kêu lên, vua vời Đông Phương Sóc[46] vào hỏi. Sóc thưa: “Đồng là con của núi, núi là mẹ của đồng; sợ rằng sẽ có núi lở”. Ba ngày sau, Nam Quận tâu lên bị núi lở. Phần Càn Truyện (giảng giải quẻ Càn) trong kinh Dịch ghi: “Núi đồng lở, chuông Lạc ngân”.

Quán Kinh: “Tâm này là Phật”. Ngụy Văn Đế hỏi: “Báo là như thế nào?” Ông Quỳ tâu: “Kẻ có âm đức ắt có dương báo”. Trong sách Hoa Nghiêm Pháp Giới Huyền Kính có nói tới Y Lý Thành Sự môn và Chân Lý Tức Sự môn.

(3) Theo phẩm Đại Cát Tường Thiên Nữ[47] của kinh Kim Quang Minh thì [Cát Tường thiên nữ có phát nguyện] tùy theo lòng mong muốn, người niệm [chú Thiện Thiên Nữ] đều được toại nguyện.

Trong phẩm Kiên Lao Địa Thần[48] [của kinh ấy] cũng có nói: “Nếu các hữu tình thọ dụng các món ăn uống thù thắng như thế xong, sẽ tăng trưởng thọ mạng, sắc lực, các căn an ổn”.

(4) Cổ đức nói: “Nhà Nho tôn thờ trời, hành theo, còn Phật thì được chư thiên tôn thờ, làm theo”.

Nguyệt Quang Đồng Tử Kinh: “Phật tọa đạo tràng, vạn thần thị vệ” (Phật ngồi nơi đạo tràng, muôn thần chầu hầu, hộ vệ).



1. Chỉ là y rách, dọn phân, trừ nỗi sợ cho đứa con nghèo, lá vàng, cành dương, dỗ dành con thơ thôi khóc mếu.

2. Bởi lẽ Thế Đế phù hoa, khó nhập đạo lưu huệ nhãn.

3. Ấy là vì: Bóng câu qua cửa sổ, mong giàu sang biết đến thuở nào? Đụn đất vàng chôn mãi, vợ con an hưởng mãi hay chăng?

4. Huống chi: Béo, nồng, giòn, ngọt, đáng xưng là “thuốc mục ruột”. Răng trắng, mày ngài, đáng gọi là “búa đoạn mạng”.

5. Làm trâu ngựa cho con, cho cháu, bị người xỏ mũi lôi đi. Bệnh mê tiền đã lậm tâm can, tâm làm tớ cho thân sai sử.

6. Đã bị các oán xúm vây, còn gây chướng ngại nhập đạo.

7. Gần chết vẫn chẳng ngộ, thật cảm thấy đáng thương.

8. Chẳng biết: Lo được, lo mất, kẻ mong sang quý cảm nhận khổ não nhiều phen. Phụ ta, phụ người, kẻ lắm con trai vốn bởi nghiệp chướng nặng nề.

9. Vì thế, Thích Ca tu đạo, bỏ nước, lìa ngôi. Đại Sĩ cứu người, bán con, bán vợ.

10. Chính là nhằm đoạn tuyệt ái căn, bèn nhập Dự Đạo phẩm.

11. Đối với thân thì tứ đại giả hợp, cứng chắc chỗ nào? Chín lỗ thường tuôn, càng tăng hôi bẩn!

12. Dẫu cho trăm năm tuổi thọ, rốt cuộc như tằm trong kén, tuy nói tiên sống ngàn năm, nhưng vẫn là quỷ giữ thây.

13. Ở tù mãi trong thai ngục, kẹt vĩnh viễn trong núi hình.

14. Là nơi cất giữ đại hoạn, người trí há lại ưa sao?

15. Vì thế, đất Hoa dâng câu chúc tam đa, vua Nghiêu nêu lời tạ tuyệt. Trong Ngũ Phước có chết an lành, Cơ Tử cảm niệm vô thường.

16. Phàm đang si mê, hãy gấp nên mạnh mẽ tỉnh thức.

17. Té giếng mật ngọt, thôi đừng như Kiệt Trụ chóng quên! Bỏ vàng gánh gai, chớ cười Bà La Môn u tối!

18. Huống hồ chẳng tu Tịnh Độ, sao được trường sanh? Chưa đọc Hoa Nghiêm, há biết phú quý? Đây chính là phần nối tiếp đoạn văn nói về sự cứu khổ ban vui, thuật bày sự hoằng pháp độ sanh. (Đây là do bi nguyện của Đại Sĩ thật sự muốn cho hết thảy chúng sanh không ai chẳng thành Phật. Về sự cứu khổ thì không gì chẳng như ngài Vĩnh Gia đã nguyện: Không khổ vì bệnh, không khổ vì nghèo, không bị tai nạn, không bị ma não, mong được thân cận minh sư, tu Phạm hạnh, chuyên tâm Định Huệ, hồi hướng Bồ Đề mà thôi! Về sự ban vui thì không gì chẳng nhằm dùng dục để lôi kéo, khiến cho [chúng sanh] đều nhập Phật trí mà thôi! Nếu chẳng chuyên lấy những điều này làm mục đích, tức là đã phụ bạc bổn hoài vào trong cõi trược [độ sanh] của Đại Sĩ vậy. Do vậy, xóa sạch từng điểm [tham chấp, si mê] hòng làm cho chúng sanh khởi lòng hướng về đạo pháp)




(1) Pháp Hoa Kinh: “Ư thời cùng tử, tự niệm vô tội, nhi bị tù chấp, chuyển cánh hoàng bố, muộn tuyệt tịch địa. Hựu trưởng giả tương dục dụ dẫn kỳ tử, nhi thiết phương tiện, cánh trước thô tệ cấu nhị chi y, chấp trì trừ phấn chi khí” (Khi ấy đứa con nghèo cùng, tự nghĩ ta vô tội mà nay bị bắt giữ, càng thêm hoảng sợ, ngất xỉu té lăn ra đất. Trưởng giả lại muốn dẫn dụ con mình bèn lập phương tiện, mặc áo thô xấu, bẩn thỉu, tay cầm dụng cụ dọn phân).

Niết Bàn Kinh: “Như anh nhi đế thời, phụ mẫu dĩ dương chi hoàng diệp dữ chi, viết dữ nhữ kim. Anh nhi tác chân kim tưởng, tiện chỉ bất đế” (Như lúc trẻ thơ khóc lóc, cha mẹ dùng lá vàng của cành dương đem cho, bảo: ‘Cho con vàng’. Trẻ thơ ngỡ là vàng thật, liền không khóc nữa).

(2) Hoa Nghiêm Kinh: “Tu chư thiện nghiệp, nhi bất nguyện cầu thế gian quả báo” (Tu các thiện nghiệp, nhưng chẳng nguyện cầu quả báo thế gian). [Theo kinh Hoa Nghiêm] cái trống trời lại vang ra tiếng nói: “Nhất thiết ngũ dục tất vô thường, như thủy tụ mạt tánh hư ngụy, thế gian sở hữu chúng khổ bổn, nhất thiết thánh nhân giai yếm hoạn. Ngũ dục công đức diệt hoại tánh. Nhữ ưng ái nhạo chân thật pháp” (Hết thảy ngũ dục thảy vô thường, như bọt nước đọng tánh hư ngụy. Tất cả gốc khổ trong thế gian, hết thảy thánh nhân đều chán nhàm. Ngũ dục công đức tánh diệt hoại. Hãy nên vui thích pháp chân thật).

(3) Theo Sử Ký, Lã Hậu ép Đức Lưu Hầu[49] ăn, bảo: “Đời người trong thế gian như bóng bạch câu[50] vút qua khe hẹp, sao lại khổ đến như thế”.

Đời Hán, Dương Uẩn viết: “Đời người nên hưởng lạc, chứ đợi đến phú quý thì đến bao giờ”.

Trong bài Khuyến Thế Ca (bài ca khuyên đời) của ông Châu An Sĩ có đoạn: “Bao nhiêu vị trượng phu oanh liệt trong thế gian, đa số thường khổ sở vì vợ con; rốt cuộc vợ con có ích gì? Trong nẻo đường sanh tử chia lìa, chẳng thể đi cùng nhau được!”

(4) Trong lời bạt thứ bảy của Mai Thừa có câu: “Răng trắng, mày ngài, mệnh danh là búa chém tánh mạng; ngọt, giòn, béo, nồng, mệnh danh là thuốc làm mục ruột”.

(5) Trong bài Khuyến Cùng Dân Văn (bài văn khuyên dân nghèo) của Trình Loan có câu: “Người đời nay coi thân và nhà quá thật, coi quyến thuộc quá nặng. Dẫu là người hiền, trí, coi nhẹ công danh, cam phận nghèo hèn, nhưng đối với con cái thì chắc chắn chẳng thể buông bỏ được, cam tâm chịu khổ làm trâu ngựa”.

Lại nữa, trong bài Pháp Tín Kệ của Phùng phu nhân có đoạn: “Tùy duyên nhậm nghiệp kỷ đa niên, uổng tác canh ngưu thái khả liên, đả điệp thân tâm tảo thoát khứ, miễn tương tỵ khổng bị nhân khiên” (Tùy duyên, kệ nghiệp bấy nhiêu năm, thương quá trâu cày uổng nhọc nhằn, vật vã thân tâm mau sớm thoát, xỏ mũi người lôi mới thoát vòng).

Theo Tấn Thư, Hòa Kiều giàu có như bậc vương giả nhưng rất keo kiệt, bị người ta chê là mắc bệnh “nghiện tiền”. Lại nữa, Vương Nhung ruộng, vườn, cối xay chạy bằng sức nước trọn khắp thiên hạ, nhưng bo bo keo kiệt, đối với chính mình cũng chẳng dám dùng, người ta bảo “bệnh đã lậm đến Cao Hoang”.

Trong bài Quy Khứ Lai Từ của Đào Uyên Minh có câu: “Ký tự dĩ tâm vi hình dịch” (Đã tự để cho cái tâm bị sai khiến bởi hình hài).

(6) Sơ Quảng đời Hán nói: “Kẻ giàu bị mọi người oán”. Phẩm Thập Hạnh kinh Hoa Nghiêm có câu: “Thử ngũ dục giả, thị chướng đạo pháp” (Năm món dục này gây chướng ngại cho đạo pháp).

(8) Luận Ngữ: “Kỳ vị đắc chi dã, hoạn đắc chi. Ký đắc chi, hoạn thất chi” (Kẻ chưa có bèn lo sao cho có, kẻ đã có, lại lo mất đi). Lời này rất đúng cho lúc thái bình. Nếu nhằm thời loạn, vì chính mình mà tranh thành giành đất, giết người ngập thành đầy đồng, tạo sát nghiệp trong lúc còn sống, chết đi phải thường mạng; kẻ ngu thật sự chẳng nghĩ đến!

Thập Nhị Nhân Duyên Kinh: “Tử dĩ tam nhân duyên sanh, nhất giả phụ mẫu tiên thế phụ tử tiền, nhị giả tử tiên thế phụ phụ mẫu tiền, tam giả oán gia lai tác tử” (Con do có ba nhân duyên mà sanh, một là cha mẹ đời trước thiếu tiền con, hai là con trong đời trước thiếu tiền cha mẹ, ba là oán gia sanh vào làm con).

(9) Thích Ca Mâu Ni Phật là Thái Tử của vua Tịnh Phạn (Śuddhodana) nước Ca Duy La Vệ (Kapilavastu), năm mười chín tuổi vào núi tu đạo.

Vô Lượng Thọ Kinh: “Khí quốc quyên vương, tuyệt khử tài sắc” (Bỏ nước, vứt ngôi vua, trừ sạch tài sắc).

Theo Phó Đại Sĩ Ngữ Lục, trong niên hiệu Đại Thông đời Lương, bị đói kém, Đại Sĩ khuyên dụ vợ con bán thân để lấy tiền mở đại hội [phát chẩn], phát nguyện: “Kính lạy mười phương ba đời chư Phật, nay con buông, bán vợ con để tiêu tai nhóm phước cho khắp các chúng sanh trong tam giới cùng chứng Bồ Đề”

(11) Niết Bàn Kinh: “Thị thân bất kiên, do như lô vĩ, ba tiêu chi thụ” (Thân này không cứng chắc, giống như cỏ lau, như thân cây chuối).

Di Giáo Kinh: “Thế thực nguy thúy, vô kiên lao giả” (Cõi đời thật nguy ngập, mỏng manh, không bền chắc).

Niết Bàn Kinh: “Thị thân bất tịnh, cửu khổng thường lưu” (Thân này không sạch, chín lỗ thường tuôn chảy).

Kinh còn dạy: “Ninh dĩ ngưu tích thịnh đại hải thủy, bất năng cụ thuyết thị thân vô thường bất tịnh xú uế” (Dẫu cho vết chân trâu chứa được nước trong biển cả thì cũng chẳng thể nói trọn sự vô thường, bất tịnh, hôi nhơ của cái thân này).

(12) Niết Bàn Kinh: “Phiền não sở thường lý, do như tàm xử kiển” (Thường ở trong phiền não như tằm nằm trong kén).

Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, Lã Động Tân đi chơi Lô Sơn, trên đường đi ngang qua núi Hoàng Long, gặp lúc Hối Cơ thiền sư[51] thượng đường, ông Lã hỏi: “Trong một hạt lúa chứa cả thế giới, trong cái nồi nửa thưng nấu trọn núi sông, hãy nói ý ấy là như thế nào?” Ngài Hoàng Long dạy: “Đấy là con quỷ giữ thây”. Họ Lã nói: “Cớ sao trong đảy có thuốc bất tử ư?” Ngài Hoàng Long bảo: “Dẫu sống lâu tám vạn kiếp, rốt cuộc vẫn rỗng tuếch”. Ông Lã lại lạy, xin Sư hãy dạy cho đường lối để nương về, Sư thốt lời, ông Lã bèn khế cơ.

Lại nữa, ngài Hàn Sơn có thơ như sau: “Nhiêu nhữ tác tiên nhân, kháp tự thủ thi quỷ” (Dẫu cho ông được thành tiên, hệt như con quỷ giữ thây khác gì).

(13) Trong lời tựa đằng sau sách Thập Nghi Luận có câu: “Thai ngục uế trược, há nên thật sự ở?” Trong Triệu Luận có câu: “Có một vật báu ẩn trong núi hình”.

(14) Đạo Đức Kinh: “Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân” (Sở dĩ ta có mối lo lớn là vì ta có thân).

Niết Bàn Kinh: “Hà hữu trí huệ giả, nhi đương nhạo thị xứ?” (Há kẻ có trí huệ nào sẽ ưa thích chốn này?)

Di Giáo Kinh lại dạy: “Hà hữu trí giả, đắc trừ diệt chi, như sát oán tặc, nhi bất hoan hỷ” (Có kẻ trí nào đã trừ diệt [phiền não] như giết oán tặc mà chẳng hoan hỷ?)

(15) Theo Trang Tử, vua Nghiêu đến thăm đất Hoa, người được phong ở đất Hoa chúc tụng: “Mong thánh nhân sống thọ”. Vua Nghiêu từ tạ. [Người đất Hoa chúc tiếp]: “Mong cho thánh nhân giàu”, vua Nghiêu lại từ chối, [họ bèn chúc]: “Mong cho thánh nhân nhiều con trai”. Vua Nghiêu lại từ chối. Người được phong [ở đất Hoa] nói: “Giàu, thọ, đông con trai là những điều người ta mong muốn, sao riêng Ngài chẳng ham, là vì sao vậy?” Vua Nghiêu đáp: “Lắm con trai bèn lắm sợ hãi. Giàu thì lắm việc. Thọ bèn lắm nhục. Do ba điều ấy đều chẳng phải để dưỡng đức vậy”.

Kinh Thư chép: “Cơ Tử giảng Hồng Phạm, phước thứ năm là chết an lành”.

(17) Sách Chú Giải Kinh Duy Ma có viết: “Xưa kia có người mắc tội với vua, vua sai voi say đuổi theo. Người ấy tự nhảy xuống cái giếng cạn, giữa chừng nắm được một búi cỏ mục. Phía dưới có rồng ác phun hơi độc nhắm tới. Phía trên có một cái cây, bên cạnh lại có năm con rắn độc sắp làm hại. Lại có hai con chuột gặm cỏ sắp đứt. Voi lớn sắp đuổi tới phía trên, lại muốn bắt lấy. Phía trên có một cái cây, khi ấy có nước mật rơi vào họng. Do chấp vào vị ngon nên [kẻ ấy] quên nỗi sợ hãi. Giếng ví như sanh tử. Voi ví như vô thường. Rồng độc ví như ác đạo. Năm con rắn độc ví cho Ngũ Ấm. Cỏ mục ví như mạng căn. Chuột ví như năm tháng. Giọt mật ví như ngũ dục”.

Theo sách Khổng Tử Gia Ngữ, Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử: “Quả nhân nghe nói có người rất hay quên, đến nỗi quên cả vợ mình?” Khổng Tử đáp: “Kiệt, Trụ quên cả thân”. Nếu dùng đạo nhãn để nhìn thì người đời nay đều quên cả thân!

Theo Tế Túc Kinh, có Bà La Môn tên là Tế Túc, bảo với người khác không có đời sau, cũng chẳng có tái sanh, cũng chẳng có thiện báo, ác báo. Đồng nữ Ca Diếp bèn bảo Tế Túc: “Xưa kia có hai người một trí, một ngu, đến một xóm vắng, thấy trên đất có gai bèn lấy đem đi, mỗi người một gánh. Đi tới trước thấy sợi gai, người trí bèn bỏ gai gánh sợi. Kẻ ngu nói: ‘Ta đã lấy gai, chẳng thể bỏ được’. Lại đi tới trước thấy vải, thấy sợi Kiếp Bối[52], thấy bạch điệp[53], thấy đồng, thấy bạc, rồi tới vàng ròng. Kẻ trí nhiều lượt lấy, nhiều lượt bỏ; dần dần [giá trị của món hàng ông ta gánh đi] tăng cao hơn, kẻ ngu trọn chẳng bỏ gai. Về đến nơi, thân thuộc của kẻ trí vui vẻ đón rước; kẻ ngu càng tăng thêm ưu não!”

(18) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Ngụy, ngài Đàm Loan thoạt đầu từ chỗ ẩn cư của họ Đào có được mười quyển tiên kinh, trở về Lạc Hạ, gặp ngài Bồ Đề Lưu Chi, hỏi: “Trong Phật pháp há có pháp trường sanh bất tử trỗi vượt kinh tiên hay chăng?” Ngài Lưu Chi nói: “Trong cõi này, chỗ nào có pháp trường sanh bất tử? Dẫu được khỏi chết trong một thời gian ngắn, rốt cuộc vẫn phải luân chuyển”. Rồi đem Thập Lục Quán Kinh truyền cho, bảo: “Học pháp này thì tuổi thọ dẫu đem hằng hà sa kiếp thạch[54] vẫn không sánh bằng được!”

Theo Nam Đường Thư, tiểu trưởng lão thân mặc y bằng lụa hồng đan chỉ vàng, Hậu Chủ[55] chê là quá xa hoa. Đáp: “Bệ hạ chẳng đọc kinh Hoa Nghiêm, làm sao biết được sự phú quý trong nhà Phật?”



Ghi thêm:

Kim Xương ở Vô Tích, vợ là Trầm Vân Tảo, khá thông hiểu văn lý, bị sản hậu, bệnh nặng, tình thế cực nguy hiểm, các thầy thuốc bó tay. Có người bạn khuyên ông Xương hãy cầu đảo Quán Âm Đại Sĩ. Ông Xương nghe theo, bệnh liền chuyển biến. Hơn một tháng, vẫn khó cử động. Người vợ do thấy cầu đảo linh ứng bèn phát nguyện sau khi lành bệnh sẽ thường thờ phụng Đại Sĩ. Một đêm, ông Xương mộng thấy Đại Sĩ diệu tướng trang nghiêm, đứng nhìn về phía mình, hai đứa bé đứng hầu hai bên kêu tên ông Xương. Ông Xương liền lễ bái, chợt giật mình tỉnh giấc. Bà vợ cũng tỉnh giấc, mỗi người kể lại giấc mộng gần giống nhau. Chỉ có điều là vợ mộng thấy một đứa bé cầm cành dương nhúng nước vẩy lên thân, nói kệ rằng: “Khởi tử hồi sanh cam lộ thủy, nhất điểm thiện tâm cảm hóa thành, vững lòng vàng đá lên Cực Lạc, chỉ sợ trần duyên gỡ chẳng xong”. Thân tâm thanh thản, sảng khoái, bệnh liền lành. Vợ chồng do vậy ăn chay trường niệm Phật và soạn Nhân Quả Lục để khuyên đời.

Phương Tử Trọng ở Trấn Hải mười chín tuổi, chợt ruột sanh khối ung. Thầy thuốc bảo chẳng thể nào không mổ. Cha mẹ không đành lòng liền không chữa chạy. Bà mẹ thông hiểu văn lý, ăn chay trường niệm Phật, bèn cùng với bạn là bà Du Đức Chương liều mạng niệm kinh Kim Cang và thánh hiệu Di Đà, Quán Âm. Ba ngày sau, khối ung vỡ ra, máu mủ theo đại tiện tuôn ra. Năm ngày sau hoàn toàn khôi phục.

Tôn Duy Tiệp ở Giang Ninh, vợ là Mộ Tây, vợ chồng khá thích làm lành, nhiệt tâm làm chuyện công ích. Mỗi năm thường may hơn một ngàn cái áo bông nhằm thí cho người không có để mặc đỡ rét. Bà vợ ngã bệnh đang độ tuổi khỏe mạnh, ngực đau như kim đâm, bèn dốc cạn lòng Thành niệm thánh hiệu Quán Âm cầu cứu. Hồi lâu sau, ngủ thiếp đi, mộng thấy một bà lão xoa ngực, lại nắn bóp khắp nơi, nhổ ra hai cây kim dài hơn một tấc, bảo: “Chẳng lạ gì ngươi bị đau đớn, do ngực có kim mà!” Liền cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, lại tự sờ nắn, nhổ ra được một cây kim nữa, chợt giật mình, tỉnh giấc, trọn chẳng còn bệnh khổ nữa. Ba câu chuyện trên đây do chính Ấn Quang chứng kiến.



* Trình bày việc quyên mộ in cuốn Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng



Trong quá khứ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã thành Phật từ lâu trong vô lượng kiếp trước, hiệu là Chánh Pháp Minh, nhưng do tâm từ bi tha thiết, lòng cứu khổ ân cần, chẳng lìa Tịch Quang, hiện hình trong chín giới, tùy loại hiện thân trong mười phương vô lượng thế giới để độ thoát chúng sanh. Phẩm Phổ Môn nói “nên dùng thân nào để độ được, liền hiện thân ấy để thuyết pháp”. Tuy là mười phương thế giới không cõi nào chẳng hiện thân, nhưng đối với thế giới Sa Bà nhân duyên rất sâu. Tuy những thân trong mười pháp giới không thân nào chẳng hiện, nhưng người đời đều gọi Ngài là Bồ Tát. Tuy những chỗ Ngài ứng hóa trọn khắp hoàn vũ, nhưng Phổ Đà Sơn tại Chiết Giang là nơi rõ ràng nhất.

Ấn Quang được hưởng ân thật lớn, đội ân thật sâu. Thoạt đầu xuất gia tại Nam Ngũ Đài Sơn ở Thiểm Tây, tức là đạo tràng nơi đức Quán Âm hiện thân hàng phục rồng độc. Tiếp đó, sống nhờ ở Phổ Đà trong biển Nam, chính là thánh địa nơi Thiện Tài đi về phương Nam tham học với đức Quán Âm. Thường nghĩ người đời chẳng biết lòng Từ sâu xa, lòng Bi rộng lớn của Bồ Tát, muốn sưu tập từ Đại Tạng và các sách vở, phàm những hạnh nguyện nơi bổn địa của Bồ Tát và những sự tích Bồ Tát cảm ứng nơi phương này, soạn thành bài văn ca tụng, lại còn chú thích tường tận, để những người cùng hàng trong cõi đời đều biết tấm lòng đại từ bi của ngài Quán Âm, cũng như thật sự, thật lý “tùy loại hiện hình, tầm thanh cứu khổ”, ngõ hầu [ai nấy] sẽ đều cùng trì thánh hiệu, cùng tiêu nghiệp chướng, cùng tăng phước huệ, khi sống thì làm người thân tâm thanh tịnh, khi thác sẽ dự vào hội của liên trì hải chúng. Dùng những điều này để uốn nắn lòng người, vãn hồi kiếp vận, ngõ hầu thiên hạ thái bình, nhân dân yên vui. Tuy đã phát cái tâm ấy, nhưng do học thức thiển cận, kém hèn, bút mực vụng về, chất phác, chưa thể tiến hành ngay được!

Khéo sao nhà đại văn học tỉnh Giang Tây là cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh lên núi thăm viếng, vừa gặp nhau đã thành bạn thiết; do vậy bèn đem chuyện này gởi gắm. Ông ta liền vui vẻ chấp thuận rồi lắng lòng soạn thuật suốt cả hai năm ròng, viết ra bản Tụng Văn đến hơn hai vạn chữ. Đối với sự tích trong mỗi câu đều chú thích sau mỗi đoạn văn để người đọc vừa xem liền hiểu rõ ngay, tổng cộng gồm ba quyển. Lại sao lục những nghĩa trọng yếu trong kinh, đặt tên là Kinh Chứng (những dẫn chứng trích từ kinh điển) gồm một quyển, ghi kèm vào sau Tụng Văn. Lại còn có Kim Cang Kinh Công Đức Tụng một quyển cũng ghi kèm vào sau để người tụng kinh, niệm Phật đều biết phương hướng, cốt sao từ phàm tâm thấy được Phật tâm, thỏa mãn nguyện độ sanh của Như Lai.

Do vậy, đã cho sắp chữ tạo bản in, hiện thời đã sắp chữ xong, toàn bộ là hai trăm mười trang. Mỗi trang gồm hai mươi sáu dòng, mỗi dòng ba mươi lăm chữ. Ruột sách dùng loại giấy Trại Tống, bìa sách dùng loại giấy da sẫm màu một trăm bảng[56] bền nhất để in. Mỗi bộ sách chia làm hai cuốn, dùng loại chỉ vải chắc nhất để đóng sách. In ra hai vạn bộ, mỗi một trang sách giá ba mươi đồng[57]. Mỗi bộ, [tiền công] in chữ nơi bìa sách và phần thư căn tổng cộng là ba xu. Bất luận thỉnh bao nhiêu sách đều gói thành bưu kiện để tiện gởi tặng. Chi phí đóng bưu kiện đã tính gộp trong ấy thì tính chung mỗi một bộ giá ba cắc bốn xu năm chinh. Do vì số lẻ khó thể tính toán nên chỉ tính tròn là ba cắc bốn xu. Nếu muốn in một vạn bộ thì giao ba ngàn bốn trăm đồng. In một ngàn bộ thì giao ba trăm bốn mươi đồng. In một trăm bộ thì giao ba mươi bốn đồng. Hiện thời đã in lần thứ nhất, hiện nay sách đã được người ta bỏ tiền in đến sáu vạn bộ. Cứ mỗi lần đúc bản in sẽ in được một vạn hai ngàn bộ. Sau này, in nhiều lượt thì cũng có người đứng ra chịu tiền in nhiều lượt, ước chừng trong một năm sẽ xong xuôi. Nếu quyết định in trong tháng Tám thì tính theo giá này. Nếu cách một thời gian lâu sau, có thể giá giấy sẽ tăng lên. Ai muốn lợi người thì hãy nên sớm báo tin. Hơn nữa, mỗi lần đúc bản in, chỉ in được một vạn hai ngàn bộ, số sách được bỏ tiền in đã đến sáu vạn cuốn; khi sách in ra, nếu đặt in với số lượng lớn thì chẳng thể giao hết một lúc được, có lẽ phải chia thành hai ba lần, hạn lượng số sách vừa phải để giao, ngõ hầu mọi người đều được nhìn thấy sách ngay trong lần in đầu tiên.

Hơn nữa, đây là in sách giùm cho thiện tín, chứ không phải là theo thông lệ quyên tiền để tự làm việc thiện. Với những ai đứng ra bỏ tiền in, sẽ chiếu theo số tiền [đã bỏ ra] để giao sách, chẳng khấu trừ một bộ nào! Nếu có ai ủy thác [người đứng in sách] thay mặt làm chuyện thí tặng, chính mình chỉ cần một ít sách thì xin hãy báo rõ trước, chúng tôi sẽ giao giùm. Nếu không, sẽ giao trọn số sách ấy cho người bỏ tiền in, chẳng khấu trừ tí ti nào! Ở Thượng Hải chẳng phải tốn bưu phí, sẽ giao thẳng đến nhà. Đối với những thành phố khác, nếu là số lượng lớn sẽ có thể nhờ công ty chuyển gởi giùm. Nếu với số lượng ít thì sẽ giao qua bưu điện, chi phí ấy có thể khấu trừ vào tiền in sách, hoặc gởi bù riêng, đều thuận theo ý của người đứng ra chịu tiền in sách.

Hiện nay, thiên tai nhân họa liên tiếp giáng xuống, thế đạo nhân tâm suy hãm đến cùng cực, riêng nhờ vào cuốn sách này để dẫn đường hòng đẩy lui con sóng cuồng, nâng đỡ thế đạo, cùng lên bậc thánh, cùng chứng Bồ Đề. Nguyện những thiện tín có sức đều cùng bỏ ra tịnh tài, ngõ hầu những người cùng hàng trong khắp cõi đời ai nấy đều được gội từ ân của Quán Âm Bồ Tát, để rồi cùng được đích thân chứng đắc Phật tánh vốn có, viên mãn vô thượng giác đạo, một tấm lòng khăng khăng như thế mà thôi! Phàm những ai muốn bỏ tiền ra in, xin hãy gởi khoản tiền ấy về xưởng ấn loát chính của Trung Hoa Thư Cục ở ngõ Cáp Đồng đường Tịnh An Tự tại Thượng Hải, giao cho hai vị tiên sinh Du Trọng Hoàn và Đường Tử Quyền nhận lãnh. Họ nhận được tiền liền gởi biên lai. Khi sách in ra sẽ theo thứ tự giao sách, quyết chẳng đến nỗi nhầm lẫn. Phàm những người đứng ra in với số lượng lớn, đợi khi sách đã giao đầy đủ rồi, xin hãy gởi thư về chùa Pháp Vũ, núi Phổ Đà thuộc huyện Định Hải, tỉnh Chiết Giang, giao cho Ấn Quang, ngõ hầu biết là không bị sai lạc.

Ngày Rằm tháng Giêng năm Bính Dần Âm lịch, tức năm Dân Quốc 15 (1926), Thường Tàm Quý Tăng Thích Ấn Quang kính soạn.



Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Nói tới những điều thiển cận thì phàm phu đều có thể biết được, làm được. Nói tới những chuyện sâu xa, dẫu thánh nhân cũng không biết, không làm được! Những người thông minh trong thế gian nếu có sự hàm dưỡng, từng trải, liền có thể nhập đạo. Nếu không, ắt sẽ do trí huệ nhỏ nhoi mà tự phụ, đến nỗi lầm lạc dùng ý kiến của chính mình để hủy báng Phật pháp. Do vậy, đức Phật xếp Thế Trí Biện Thông vào tám nạn. Sự răn nhắc ấy vừa sâu đậm vừa thiết thực. Gốc bệnh là do dùng tri kiến phàm phu để suy lường cảnh giới của Phật, Bồ Tát. Nếu hạng phàm phu hiểu biết cảnh giới của Phật, Bồ Tát quyết chẳng thể suy lường được thì sẽ dứt bỏ sự suy lường ấy. Đừng nói là bọn họ chẳng thể suy lường cảnh giới của Phật, Bồ Tát, ngay như những kẻ ấy từ sống đến chết, đối với chủ nhân ông của khởi tâm động niệm, bọn họ có từng thấy biết chút nào hay chăng? Nếu có thể đích thân biết được, thấy được chủ nhân ông của chính mình thì sẽ có thể dần dần biết được cảnh giới của Phật, Bồ Tát.

Những kẻ trí huệ nhỏ nhoi mà vẫn tự phụ ấy, ví như kẻ mù chẳng thấy được mặt trời, liền bảo là không có. Lũ mù nghe lời, khen là kiến thức cao siêu, là đích xác, không lầm, chẳng biết đấy là tà thuyết tự lầm, lầm người! Há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Vì thế, xưa nay, phàm là những bậc đại thông gia lỗi lạc, không ai chẳng dùng Phật pháp để giữ yên cõi đời, khiến cho dân hiền thiện, thấu đạt tận cùng gốc lõi của lý và tánh. Những vị lập đại công, dựng đại nghiệp, nêu tỏ những chỗ mầu nhiệm chưa được thánh hiền truyền dạy, đều do học Phật đắc lực mà ra! Những kẻ tự phụ thông minh làm sao xứng đáng biết được điều này! Kẻ bệnh hiểu thầy thuốc, lãng tử cảm thương lữ khách, khôn ngăn cảm khái, bi ca, trình bày những điều này nhằm giãi tỏ nỗi lòng trung thành. Nếu rộng lòng dung nạp thì may mắn lắm thay!



* Kính cáo độc giả hãy nên dốc sức nơi chí thành cung kính để tự đạt được lợi ích thật sự



Pháp thế gian và xuất thế gian đều lấy lòng Thành làm gốc. Hễ có lòng Thành thì sẽ cảm được thánh ứng. Không có lòng Thành sẽ chẳng có cảm, thánh không cách gì ứng được! Ví như vầng trăng sáng ngời giữa trời, hiện bóng muôn sông. Nếu nước nhơ đục, xao động, bóng trăng sẽ khó thể hiển hiện. Do nước gây ra, chứ trăng đâu có lỗi! Vì thế nói: Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, cần phải cầu nơi lòng cung kính. Có một phần cung kính sẽ tiêu một phần tội nghiệp, tăng một phần phước huệ. Có mười phần cung kính sẽ tiêu mười phần tội nghiệp, tăng mười phần phước huệ. Nếu không cung kính thì chỉ kết duyên xa, khó được lợi ích thật sự! Nếu lại còn khinh nhờn sẽ tạo tội vô lượng.

Hơn nữa, những lời chú cho phần ca tụng khơi mở trí huệ nơi ba trang 16, 17, 18 trong quyển thứ ba [của bộ sách này], phần nhiều là Thiền cơ. Những câu ấy chỉ có người thật sự có sở ngộ mới biết ý nghĩa, chớ nên suy đoán, dò tìm theo ý nghĩa lời văn. Dẫu cho trí huệ thông minh thiên bẩm vẫn là càng suy lường càng xa! Những câu nói trong nhà Thiền đều giống như thế. Nếu có thể chú trọng lòng kính, giữ lòng thành, chấp trì thánh hiệu của Bồ Tát thì một mai nghiệp tiêu trí rạng, tất cả những câu nói Thiền cơ sẽ đều hiểu rõ từng câu một, như mở cửa thấy núi, vẹt mây thấy trăng!



Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2 hết


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 02 Dec 2015, 1:00 AM | Message # 27
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
[1] Tiền Nguyên Quán (887-941) là vua thứ hai của xứ Ngô Việt (tức Ngô Việt Thế Tông Văn Mục Vương), ông là con trai của Tiền Liêu (tức Ngô Việt Thái Tổ Vũ Túc Vương).

[2] Tiền Thục (tên thoạt đầu là Tiền Hoằng Thục, 929-988) là vua cuối cùng của Ngô Việt. Ông là con Tiền Nguyên Quán, cháu nội của Tiền Liêu và là em của vua Tiền Hoằng Tá (Thành Tông Trung Hiến Vương) và Tiền Hoằng Tông (Trung Tốn Vương). Khi ấy, Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) đã thống nhất sơn hà, dẹp tan hậu duệ của các vua Ngũ Đại, chỉ còn xứ Ngô Việt là có thực lực. Vua cho người đến chiêu dụ, Trung Ý Vương Tiền Thục liền quy thuận.

[3] Hốt là một loại thẻ bằng ngà hoặc bằng gỗ dài chừng 35cm, trên to, dưới nhỏ, thường được cầm trong tay khi mặc triều phục. Thoạt đầu, hốt được dùng để ghi chép những điều định tâu bày cho khỏi quên, nhưng về sau chỉ là vật trang sức mỗi khi mặc triều phục. Các quan khi tâu bày thường cầm hốt bằng hai tay, giơ lên trước mặt khi có chuyện cần tâu trình trong buổi chầu. Ngay cả khi vua mặc hoàng bào ngồi trên ngai cho các quan vái lạy cũng cầm hốt ngà đặt trước bụng.

[4] “Đức xa” là danh từ chỉ chung các loại xe bằng gỗ khảm ngọc, khảm vàng của đế vương thời cổ. Do các loại xe này không dùng trong chiến trận nên gọi là “đức xa”. Đề thi trên đây được ra theo một câu nói trong thiên Khúc Lễ của sách Lễ Ký: “Binh xa bất thức, vũ xa tuy tinh, đức xa kết tinh” (Binh xa thì không trang hoàng, vũ xa thì buộc cờ tinh, còn đức xa thì cắm cờ tinh). Theo Khổng Dĩnh Đạt, “tinh” là một loại cờ hiệu kết bằng lông chim, về sau được dùng để chỉ chung các loại cờ hiệu nhằm biểu trưng quyền lực. Theo ông Khổng, chỉ cắm cờ tinh trên đức xa với một số lượng ít nhằm thể hiện mỹ đức của vua mà thôi. “Vũ xa” là xe bọc da trâu. Nếu trên xe ấy cắm gươm giáo thì gọi là “binh xa”. Do vũ xa nhằm biểu hiện oai quyền của đế vương nên buộc thật nhiều cờ tinh quanh xe, còn binh xa thì đã có gươm giáo để thị oai nên không cần buộc cờ tinh nữa.

[5] Giáo phỉ: Bọn phản loạn đội danh tôn giáo. Không rõ trong chuyện này xảy ra vào thời nào, nên khó thể phán đoán giáo phái nào gây loạn, nhưng tại Trung Hoa, loạn quân đội lốt tôn giáo chẳng ngoài giặc Hoàng Cân, Bạch Liên Giáo, Minh Giáo, Thái Bình Thiên Quốc, Quyền Phỉ v.v...

[6] Bức tranh vẽ theo lối xưa, hai đầu thường gắn trục gỗ để dễ cuộn lại, cũng như khi treo, sẽ kéo thẳng bức tranh, nên những bức tranh vẽ hay thư họa cũng thường gọi là “trục”.

[7] Sở là tên gọi chung hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc. Hồ Động Đình nằm giữa hai tỉnh này, Thái Vân lấy con trai Thân Đại Niên người đất Sở, ứng với lời đoán “sẽ gả cho Động Đình Quân”.

[8] Môn lại: Từ ngữ gọi chung thuộc hạ của một vị quan.

[9] Bà này họ Lâm, lấy chồng họ Lục nên thường gọi gộp cả họ chồng và họ của chính bà ta thành Lục Lâm Thị.

[10] Đề Khống là danh xưng thời Tống Nguyên để gọi thuộc hạ của các quan. Đề Khống còn có nghĩa là “hình cụ” (dụng cụ) để tra khảo, nên dân gian quen gọi những nha lại của các quan xử án là Đề Khống.

[11] Chủ Sự là một chức quan, trách nhiệm thay đổi tùy theo triều đại. Nói chung, vai trò của Chủ Sự giống như chức Chánh Văn Phòng của các bộ hiện thời, hoặc đối với một số bộ thì vai trò của Chủ Sự chỉ giới hạn trong nhiệm vụ Trưởng Phòng quản lý văn thư, hồ sơ, chẳng hạn như chức Chủ Sự của Tôn Nhân Phủ đời Thanh chỉ có trách nhiệm quản lý khai sanh, khai tử, phổ hệ của hoàng tộc, cũng như nhắc nhở các hoạn quan và ngự thiện chuẩn bị cỗ bàn cúng tế Thái Miếu trong các ngày kỵ lạp, chứ không có quyền hành gì khác.

[12] Danh y Biển Thước thời Chiến Quốc do sống ở nước Lô nên thường được gọi là Lô Biển. “Đắc Lô Biển chi diệu” là thành ngữ khen ngợi người đạt đến y thuật cao minh.

[13] Chư sanh: Thời Minh - Thanh, những người thi đậu vào trường học ở phủ, châu, huyện, chia ra nhiều cấp như Tăng Sanh, Phụ Sanh, Lẫm Sanh, Lệ Sanh vv.... Những người này được gọi là chung là “chư sanh”.

[14] Trung Thư Lệnh là chức quan đã có từ thời Đông Hán. Trung Thư vốn là một cơ cấu do hoạn quan điều hành, có trách nhiệm quản thủ thư phòng của hoàng đế và những văn kiện riêng tư trong cung. Trung Thư Lệnh là người đứng đầu cơ quan ấy. Do những quan chức thuộc cơ quan này thường xuyên gần gũi hoàng đế và thường được vua hỏi ý kiến, nhưng các hoạn quan thường không đủ kiến thức và tài sức để làm cố vấn, cũng như để tránh tình trạng hoạn quan lũng đoạn triều chánh như thời Hán Linh Đế, nên từ thời Ngụy - Tấn trở đi, nhân viên của Trung Thư phải là những vị đại khoa, kiến thức uyên bác. Đến đời Tùy - Đường, do tính chất trọng yếu của cơ cấu này, Trung Thư do Tể Tướng trực tiếp cai quản. Danh xưng Trung Thư đổi thành Trung Thư Tỉnh (hoặc Nội Sứ Tỉnh trong thời Tùy, do kiêng tên húy tể tướng Dương Trung) và chức vụ Trung Thư Lệnh do chính tể tướng đảm nhiệm. Do vậy, Trung Thư Lệnh thời Đường chính là Tể Tướng. Ông Sầm Văn Bổn làm Trung Thư Lệnh dưới thời Đường Thái Tông.

[15] Thiên Tổng là một chức quan của hải quân dưới đời Thanh. Hải quân nhà Thanh được chia thành Bắc Dương Thủy Sư (phụ trách vùng biển từ Sơn Đông trở lên), Nam Dương Thủy Sư (từ Sơn Đông trở xuống đến hết hải phận miền Nam Trung Hoa). Đứng đầu Thủy Sư là Đề Đốc, rồi đến các chức vụ Tổng Binh, Phó Tướng, Tham Tướng, Du Kích, Đô Ty, Thủ Bị, Thiên Tổng, Bả Tổng. Thiên Tổng cai quản từ một trăm quân cho đến tám trăm quân.

[16] “Cải bộ, cải ngọc” là một câu nói xuất xứ từ Tả Truyện: “Lục nguyệt, Quý Bình Tử hành Đông dã, hoàn, vị chí, Bính Thân, tốt vu phòng. Dương Hổ tương dĩ Dư Phan liệm, Trọng Lương hoàn, phất dữ, viết: Cải bộ, cải ngọc” (Tháng Sáu, Quý Bình Tử đi sang miền Đông, quay về, chưa tới nơi thì ngày Bính Thân chết trong phòng. Dương Hổ toan lấy ngọc Dư Phan để liệm theo, Trọng Lương giữ lại, không cho, nói: “Đổi bước thì đổi ngọc”). Theo các sách chú giải, chữ Bộ ở đây chỉ số bước chân tính từ vị trí của người đứng tế đến chỗ kê quan tài người chết. Tùy theo địa vị mà số bước chân quy định khác biệt. Dư Phan là một loại ngọc quý dành cho vua chúa đeo. Vì thế, “cải bộ, cải ngọc” nghĩa là khi địa vị thay đổi thì loại ngọc để táng theo cũng phải thay đổi, số bước chân giữa người đứng tế và quan tài cũng phải thay đổi. Do vậy, “cải bộ, cải ngọc” được dùng như một thành ngữ chỉ sự thay đổi thời thế, khiến cho mọi quy củ, phép tắc đều thay đổi theo.

[17] Trùng Cửu (còn gọi là Trùng Dương) là ngày mồng Chín tháng Chín âm lịch. Do trong Dịch Học, 9 là con số Dương, nên ngày mồng Chín tháng Chín được gọi là Trùng Dương. Người Trung Hoa cho rằng ngày hôm ấy cực Dương nên có lệ cúng tế tổ tiên, lên núi cao chơi, hái thuốc để dành, cũng như uống rượu cúc để cân bằng âm dương.

[18] Bạc non cân: Thuở xưa bạc đúc thành thoi (đĩnh) trên thường khắc chữ ghi trọng lượng như mấy chỉ, mấy lạng v.v... Có những tiệm kim hoàn hoặc tiền trang (cơ sở cho vay tiền) do tham lợi nên đúc những đĩnh bạc nhẹ hơn trọng lượng ghi trên đĩnh bạc, loại này được gọi là “bạc non cân”.

[19] Minh Kinh là một khoa thi nhằm tuyển người làm quan được mở ra từ thời Hán Vũ Đế, đến thời Tống Thần Tông thì bị bãi bỏ. Những người được dự khoa thi này phải thông thạo Kinh Học (tức thông hiểu các kinh điển trọng yếu của Nho Gia). Chương trình thi gồm viết văn giải thích một đoạn kinh sách theo đề đã ra, sau đó là thi vấn đáp mười câu hỏi về ý nghĩa của kinh điển. Tùy theo số lượng kinh điển thông thạo mà định thứ bậc cao thấp. Thông thường, Lễ Ký, Xuân Thu Tả Truyện... được gọi là Đại Kinh; Mao Thi, Châu Lễ, Nghi Lễ... gọi là Trung Kinh; Châu Dịch, Thượng Thư, Xuân Thu Công Dương Truyện, Xuân Thu Cốc Lương Truyện... được gọi là Tiểu Kinh. Tối thiểu, người dự thi phải thông thạo hai bộ kinh. Danh mục kinh điển do người dự thi tự nêu, nhưng bắt buộc phải thông hiểu hai bộ Hiếu Kinh và Luận Ngữ. Người thi đậu nếu thông hiểu năm bộ kinh sẽ được gọi là Minh Kinh Bác Sĩ. Do càng về sau này, người thi Minh Kinh chỉ lo nhai lại những chú giải của cổ nhân, viết văn chương cho bóng bẩy, không chú trọng tìm hiểu ý nghĩa thật sự cũng như dùng những lời nói, chuyện xưa trong các bộ sách ấy để răn mình sửa nết nên khoa thi Minh Kinh mất hẳn ý nghĩa tuyển chọn bậc hiền tài như thuở ban đầu.

[20] Nguyên văn “cảo y” nghĩa là loại vải để trơn, không nhuộm mầu, sợi to thô.

[21] Nguyên văn “mễ đoàn”, gọi đủ là Mễ Đoàn Thang, một loại bánh làm bằng bột mì vò lẫn với gạo nếp, bọc nhân cà-rốt, củ cải, bắp cải, ớt, thịt v.v... ăn với nước súp hoặc ăn chung với mì hay bún. Mễ Đoàn Thang không phải là mằn thắn (tức vân thốn (wonton), thường bị đọc trại thành vằn thắn, hoành thánh) vì vỏ mằn thắn làm bằng bột mì, cũng như không bỏ rau, ớt lẫn vào nhân. Do nó hơi giống với bánh ít trần của người Việt nên chúng tôi tạm dịch là “bánh ít trần” tuy không chính xác; bởi lẽ, bánh ít trần không thả trong nước súp mà cũng không ăn chung với bún.

[22] Theo Y Tông Kim Giám, chất đàm dơ trong cơ thể gặp phải hỏa vượng nung đúc tạo thành chứng Đàm Hỏa. Bệnh nhân thở khò khè, ho hen, lòng hay lo sợ vẩn vơ, chân tay tê lạnh, khí hay xông ngược, lưỡi cứng khó nói, dễ ngất. Do kiến thức quá kém, chúng tôi không biết tiếng Việt gọi là bệnh gì nên đành để nguyên chữ không dịch.

[23] Thoát Chứng là một thuật ngữ trong Đông Y, có thể hiểu theo hai cách:

1. Âm Dương, khí huyết, dịch thể bị hao tổn nghiêm trọng gây nên bệnh. Bệnh nhân toát mồ hôi đầm đìa, chân tay tê lạnh, mắt nhắm, miệng há, tay bắt chuồn chuồn, đái dầm, mạch nhảy rất nhẹ gần như sắp dứt v.v... Các chức năng của nội tạng suy kiệt, không chữa trị sẽ dần dần lả đi rồi chết. Nếu bị ói mửa dữ dội, tiêu chảy, mất máu, hoặc tiết tinh dầm dề thì gọi là Bạo Thoát.

2. Một trong hai chứng trạng trúng phong. Nếu bệnh là Thực thì gọi là Bế Chứng, nếu là Hư thì gọi là Thoát Chứng.

[24] Lương Thư là một bộ sử do Diêu Tư Khiêm soạn dưới đời Đường, hoàn thành vào năm Trinh Quán thứ 10 (636), gồm 46 quyển chép về lịch sử nhà Tiền Lương từ đời vua Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn, 464-549) đến khi Lương Kính Đế (Tiêu Phương Trí) mất vào năm 558.

[25] Tần điệp: Gián điệp nước Tần.

[26] Tục mạng thang: Nước hoặc thuốc giúp cho người đã chết được sống lại.

[27] Bà Viên Ngưng Cô lấy chồng họ Tiền nên gọi là “Tiền Viên Thị” (bà Viên nhà họ Tiền).

[28] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh (tám quyển, mười ba phẩm), do ngài Bát Nhã dịch vào đời Đường. Trong kinh này, đức Phật ngự tại núi Kỳ Xà Quật nơi thành Xá Vệ, giảng cho các vị đại Bồ Tát như Văn Thù v.v... người xuất gia trụ A Lan Nhã nên quán tâm địa, diệt vọng tưởng như thế nào để thành Phật đạo. Đây là một bộ kinh được Pháp Tướng Tông (Duy Thức Tông) đặc biệt coi trọng.

[29] Quách Hậu (184-235) là vợ của Tào Phi (Ngụy Văn Đế), con dâu của Tào Tháo. Bà là con của Nam Quận Thái Thú Quách Vĩnh và Đổng Thị. Lúc sanh ra có hiện tượng lạ, được người khác tán thán. Ông bố khen ngợi: “Đứa con gái này sẽ là vua trong nữ giới” nên đặt tên bà là Nữ Vương. Cha mẹ và anh em bà đều bị loạn quân Hoàng Cân giết chết, phải lênh đênh khổ sở, làm đầy tớ cho nhà Đồng Đề Hầu. Về sau, được Tào Phi mua về làm thiếp. Do thông minh, lanh lợi, thường có những ý kiến nhạy bén, tinh xác, bà giúp cho Tào Phi đoạt lấy địa vị Thái Tử từ Tào Thực (con trưởng Tào Tháo). Khi Tào Phi kế vị làm Ngụy Vương, đã phong cho bà là Phu Nhân. Khi Tào Phi cướp ngôi nhà Hán, xưng đế, bà được phong làm Quý Tân. Khi vợ cả của Tào Phi là Bình Lạc ghen tuông quá mức, Tào Phi đã ép Bình Lạc tự tử chết, rồi phong cho Quách Nữ Vương làm Hoàng Hậu; nhưng vẫn giữ con Bình Lạc là Tào Duệ làm Thái Tử, bắt Tào Duệ phải coi Quách Hậu như mẹ ruột. Tào Duệ phẫn hận, nhưng ẩn nhẫn chờ thời. Năm 221, Tào Phi chết, Tào Duệ lên ngôi, xưng là Ngụy Minh Đế, tôn Quách Hậu làm Hoàng Thái Hậu, nhưng đến năm 235, Tào Duệ kiếm cớ, ép Quách Hậu tự tử chết, không cho cung nhân được phép đại liệm bà ta, bắt họ để xác bà Quách xõa tóc che mặt, đổ cám vào miệng, mặc quần áo xoàng xĩnh, nhằm trả hờn cho mẹ.

[30] Hạc Động Tử là biệt hiệu của Từ Khiêm (1766-1864), tự Ích Khanh, hiệu Bạch Phảng. tác giả cuốn Hải Nam Nhất Chước. Ông từng làm Hàn Lâm Biên Tu, rồi thăng dần đến chức Triều Nghị Đại Phu, là một vị quan thanh liêm công minh, sống giản dị, thích nghiên cứu thơ văn, nhưng không chịu tìm hiểu đạo Phật đến nơi đến chốn. Do vậy, tác phẩm Hải Nam Nhất Chước của ông từng bị tổ Ấn Quang chê là ngoài công lao sưu tập rộng rãi những sự tích linh hiển trong Phật giáo, Từ Khiêm còn xen tạp vào đấy không ít những dị thuyết báng bổ Phật giáo của bọn Đạo Sĩ.

[31] Hình Khoa là một trong sáu khoa được lập ra đời Thanh, chuyên trách xử án, thụ lý hồ sơ điều tra các vụ án lớn. Ở đây, ông Cát Trường Niên giữ một chức vụ trong Hình Khoa nên gọi luôn là Hình Khoa, chứ Hình Khoa không phải là một chức quan.

[32] Hà Vô Kỵ (?-410) là cháu gọi Trấn Bắc Tướng Quân Lưu Lao Chi bằng cậu, tánh tình tàn khốc, đã có chí lớn từ nhỏ, rất hợp ý cậu về mặt mưu mẹo lẫn tánh tình. Đến khi Hoàn Huyền soán ngôi nhà Tấn, Vô Kỵ theo Lưu Lao Chi cùng với Lưu Dụ (cựu tướng của Lưu Lao Chi) khởi binh chống lại, đánh bại Hoàn Huyền. Do công khôi phục hoàng triều nên được phong làm Khai Quốc Công.

[33] Tấn Hiến Công muốn gả em gái là Bá Cơ cho vua Tần, sai Sử Tô bói quẻ. Sử Tô bảo: “Giữa Tần và Tấn sẽ có chiến tranh, hơn nữa, cháu sẽ làm bầy tôi cho cô”. Quả nhiên về sau, Tần đánh chiếm Tấn, Tấn Huệ Công (con trai Tấn Hiến Công) bị bắt làm tù binh, ứng nghiệm lời đoán “điệt tùng kỳ cô”. Ở đây cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh mượn hai điển tích này để ví von trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất là Văn Sản bắt chước cậu là Phí Vĩnh Niên trì kinh Cao Vương cầu sanh con trai, trường hợp thứ hai là do em gái của Long Tử Huy khuyên chị dâu trì kinh Bạch Y để sanh con, nên đứa cháu đó có thể nói là do cô của nó mà có, vì vậy mới nói “điệt tùng kỳ cô”. Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh chơi chữ vì thành ngữ “điệt tùng kỳ cô” trong Tả Truyện có ý nghĩa hoàn toàn khác biệt ý nghĩa được dùng trong lời tán dương này.

[34] Mộng hùng: Theo Thành Ngữ Từ Điển, đây là một từ ngữ phát sinh từ điển tích “phi hùng”. Sách ấy dẫn một câu chuyện trong Sử Ký để giải thích: Văn Vương sắp đi săn, sai quan Thái Sử coi bói; bói rằng: “Phi hổ, phi bi, thiên di nhữ soái dĩ tá xương” (Chẳng phải cọp, chẳng phải gấu, trời ban cho vua tướng soái để phù tá khiến nước nhà hưng thịnh). Chuyến đi ấy, quả nhiên Văn Vương gặp được Khương Tử Nha, rước về phong tướng, đánh bại Trụ Vương, lập ra nhà Châu. Do chữ Bi (羆) là một loài gấu nên người ta thường dùng điển tích Phi Hùng, với ý nghĩa gặp được bậc hiền tài ẩn sĩ chịu ra giúp đời. Chữ “phi” (非: chẳng phải) về sau bị viết sai thành “phi” (飛: bay) nên dân gian mới bịa chuyện Văn Vương mộng thấy một con gấu bay vào trướng, sáng ra gặp được Khương Tử Nha. Từ đó, mới có truyền thuyết ai nằm mơ thấy gấu thì sẽ sanh con trai.

[35] Đô Ty là gọi tắt của chức Đô Chỉ Huy Sứ Ty, ngạch Tứ Phẩm, tức chức quan nắm quyền chỉ huy quân sự cao nhất tại một địa phương từ cấp huyện trở lên. Chức quan này thuộc quyền quản trị của Ngũ Quân Đô Thống Phủ, chứ không nghe lệnh trực tiếp từ quan địa phương, để tránh tình trạng các quan địa phương có thế lực quá lớn. Đến đời Thanh, chức quan này ở dưới các chức Tham Tướng và Du Kích, nhưng trên chức Thủ Bị.

[36] Tế Tửu vốn là một chức quan đã có từ thời Hán, là người đứng đầu các quan Minh Kinh Bác Sĩ, nhưng từ thời Đông Tấn trở đi, chỉ có hiệu trưởng của Quốc Tử Giám mới gọi là Tế Tửu. Theo Triệu Dực người đời Thanh đã viết trong bộ Cai Dư Tùng Khảo thì: “Tế Tửu vốn không phải là một chức quan. Thời cổ khi ăn uống tụ họp, thường có lệ dâng rượu lên thần linh trước, gọi là Tế Tửu. Khi tế rượu thường cử người lớn tuổi hay có địa vị cao nhất trong đám tiến hành, nên về sau những người đứng đầu trong một hạng người cũng thường được gọi là Tế Tửu”. Do vậy, hiện thời, tại Trung Hoa, đôi khi người ta vẫn gọi lãnh tụ trong giới học thuật, nghệ thuật hay văn học là Tế Tửu.

[37] Tả Phiên là gọi tắt của Tả Phiên Đài, tức Tả Bố Chánh Sứ. Đời Minh, trừ Nam Kinh và Bắc Kinh ra, cả nước chia thành 13 Thừa Tuyên Bố Chánh Sứ Ty, mỗi ty có hai vị Tả Bố Chánh Sứ và Hữu Bố Chánh Sứ. Khu vực quản hạt của mỗi vị Bố Chánh Sứ gần bằng khu vực quản hạt