- ATOANMT
Thứ Năm
08 Dec 2016
8:09 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn Bài xong bấm vào "CHỌN XEM":







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 2 of 2«12
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » CHUYỆN PHẬT GIÁO » Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 27 Dec 2015, 10:10 PM | Message # 51
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
[1] “Lục chủng chấn động” có ba loại:

1. Lục chủng chấn động là trong sáu lúc đại thiên sẽ chấn động: Khi Phật nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết Bàn.

2. Lục chủng chấn động là sáu phương cùng chấn động, tức Đông phương trồi lên Tây phương hụp xuống, Nam phương trồi lên, Bắc phương hụp xuống v.v...

3. Lục chủng chấn động là sáu cách chấn động, tức: động (lay động), dũng (trồi lên), chấn (rung động), kích (va chạm), hống (rung động phát ra tiếng vang lớn), bộc (rung động, nứt tách ra). Khi xảy ra các thứ chấn động này, chúng sanh không thể nhận biết, kinh Phật ví phàm phu lúc ấy như đứa con nằm trong nôi, dù nôi đu đưa vẫn ngủ say sưa. Chỉ những ai đắc Thiên Nhãn Thông mới nhận biết được sự chấn động này.

[2] Thị Tích (còn gọi là Thùy Tích): Biến hóa nhằm hóa độ một hạng căn cơ nào đó, giống như vầng trăng in bóng trong dòng nước, thì bóng trăng gọi là Tích.

[3] Thập Phương Chư Phật Cứu Hộ Chúng Sanh Thần Chú: “Đa da tha, ô hô nị, mô hô nị, diêm bà nị, đam bà nị, an trà lỵ, bàn trà lỵ, thủ bì đế, bát bát trà trà ra ra, bà tư nị, đa điệt tha, y lê, mị lê, đề lê, thủ lê, gia ba lê, khư đê đoan kỳ, chiên đà lê, ma đắng kỳ, lặc xoa, lặc xoa, tát bà tát đỏa, tát bà bà da bì, sa ha đa trà tha già đế, già đế, nị già đế, tu lưu tỳ, tu lưu tỳ, lặc xoa, lặc xoa, tát bà bà da bì, sa ha”.

[4] Tiêu Phục Độc Hại Chú: “Đa điệt tha, đà hô nị, mô hô nị, diêm bà nị, đam bà nị, a bà hê, mô hô nị, an trà lê, bàn trà lê, thâu bệ đế, bàn trà ra, bà tư nị, hưu, hưu, lâu, lâu, an trà lê, đâu, đâu, lâu, lâu, bàn trà lê, chu chu, lâu lâu, nị bàn trà lê, đậu đậu, phú phú, bàn trà ra, bà tư nị thẩn trì, chẩn trì, nị chẩn trì, tát bà a bà da yết đa, tát bà niết bà bà đà già, a bà da, ty ly đà, bế điện, sa ha”.

[5] Tông là điều được một bộ kinh đề cao, tức pháp môn chánh yếu, cương lãnh tu hành của bộ kinh đó. Thú là kết quả sẽ đạt được do thực hiện tông chỉ được nêu ra bởi Tông.

[6] Không Hầu là một loại đàn của Tây Vực, số dây không nhất định, tối thiểu là năm dây, tối đa là hai mươi lăm dây. Đàn được chia làm hai loại đứng và nằm, thân đàn có hình dáng vòng cung, đầu đàn thường chạm thành hình chim phượng (Phượng Đầu Không Hầu), dây đàn căng dọc theo thân đàn giống như dây cung. Do cấu trúc của nó khá giống với đàn Harp (Thụ Cầm) hiện thời nên người Hoa cũng gọi đàn Harp là Không Hầu. Loại đàn này rất thịnh hành thời cổ nhất là trong các dàn Nhã Nhạc của cung đình do âm thanh của nó réo rắt, lan xa, tao nhã. Loại Tiểu Không Hầu (đây chính là loại đàn thường được vẽ trong các bức cổ họa mô tả cảnh chư thiên tấu nhạc cúng dường, nhất là trong các bích họa ở động Đôn Hoàng) thường được tấu bằng cách ôm vào lòng, dùng ngón tay gẩy, còn Thụ Không Hầu và Ngọa Không Hầu phải đặt trên giá.

[7] Bát-đầu-ma (Padma): Hoa sen hồng.

[8] Lục niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới, niệm Thiên.

[9] Ở chỗ này, Hòa Thượng Tịnh Không có một kiến giải hết sức độc đáo. Trong khi giảng kinh Vô Lượng Thọ, Ngài đã nhắc đến đoạn kinh văn này và nói: “Đã là đệ tử Phật, đương nhiên phải tin nhân quả. Nếu không tin nhân quả thì làm sao còn gọi là Phật tử cho được? Tin sâu nhân quả trong đoạn này chính là tin chắc dùng cái nhân niệm Phật để cầu sanh Tịnh Độ sẽ đắc quả thành Phật”.

[10] Bách Pháp Minh Môn chính là trí huệ môn của hàng Sơ Địa Bồ Tát. Minh là trí huệ, Môn nghĩa là tiến nhập. Trí huệ có thể hiểu thấu suốt chân tánh của trăm môn sai biệt nên gọi là Minh Môn. Chữ Bách Pháp có hai cách hiểu:

1. Bách pháp là một trăm pháp của hàng Thập Tín như trong kinh Bồ Tát Anh Lạc đã giảng.

2. Bách pháp là một trăm pháp thuộc về Ngũ Vị như trong Bách Pháp Minh Môn Luận đã giảng.

Nói chung, người ta thường hiểu theo cách thứ hai, tức là đối với hết thảy các pháp trong thế gian được quy nạp thành một trăm loại lớn (nên gọi là bách pháp). Hiểu theo cách nào thì đắc bách pháp minh môn cũng đều có nghĩa là đã thấu hiểu Thật Tướng của các pháp.

[11] Nguyên văn “trường quỵ”: Quỳ thẳng mình, chỉ có đầu gối và cẳng chân tỳ xuống đất, từ đầu đến đầu gối giữ cho nằm trên một đường thẳng.

[12] Sa Di (Śrāmanera) là danh xưng để gọi là những hàng xuất gia nam giới sơ cấp. Chữ Sa Di được dịch nghĩa là Cần Sách Nam (người nam siêng năng tinh tấn) ý nói sẽ siêng gắng cầu được thọ giới Sa Di. Chữ này còn dịch là Tức Từ, nghĩa là “dứt ác, hành từ”. Nữ nhân thì được gọi là Sa Di Ni. Người xuất gia, sau khi được Tăng đoàn chấp thuận, xét thấy tư cách phù hợp, thì phải được một vị tỳ-kheo tối thiểu đã thọ Cụ Túc Giới từ 10 năm trở lên thế độ, truyền thọ Ngũ Giới và Thập Giới. Sa Di lại được chia thành nhiều loại:

1. Khu Ô Sa Di (Sa Di đuổi quạ): từ 7 tuổi đến 13 tuổi.

2. Ứng Pháp Sa Di: Từ 14 đến 19 tuổi, do đã có thể thông hiểu, vâng giữ đúng pháp.

3. Danh Tự Sa Di: Những người từ 20 đến 70 tuổi, bởi lẽ, những người này đã có thể thọ giới Cụ Túc, nhưng do chưa thọ Đại Giới, nên tạm gọi là Sa Di.

Riêng đối với nữ nhân, trước khi được thọ đại giới thành tỳ-kheo-ni thì Sa Di Ni lại phải qua một giai đoạn nữa gọi là Thức Xoa Ma Na (Học Pháp Nữ).

[13] Cụ Túc Giới: Giới của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni. Thông thường, theo truyền thống Bắc Tông, Cụ Túc Giới được truyền thừa và tuân thủ theo như Tứ Phần Luật quy định. Tỳ-kheo thọ 250 giới, tỳ-kheo-ni thọ 348 giới. Người thọ Cụ Túc Giới tối thiểu phải tròn 20 tuổi, nhưng không được vượt quá 70 tuổi, đã từng thọ Sa Di Giới, không vi phạm lỗi, không có ác tướng, ẩn tật, và phải được sự chứng minh và truyền thọ giới pháp của Tam Sư Thất Chứng.

[14] Tăng Kỳ (Samghika): Có nghĩa là Đại Chúng. Tăng Kỳ vật là đồ vật thuộc chúng hiện tiền tăng, thường trụ tăng.

[15] Chữ “niệm Phật” ở đây chỉ chung các phép niệm Phật không phải là Trì Danh, đặc biệt chỉ cho cách Quán Tưởng Niệm Phật trong Quán Kinh. Chính từ câu này, Thiện Đạo đại sư đã nhấn mạnh Quán Kinh quy kết về Trì Danh Niệm Phật.

[16] Vô Ương Số (Asamkhyeyam hoặc Asankhya) là từ ngữ dịch nghĩa của chữ A-tăng-kỳ. Ương (央) ở đây là hết, cùng tận. Chữ A-tăng-kỳ vốn dùng để chỉ một thời gian rất dài, về sau được dùng để chỉ một con số rất lớn. Chữ này còn được dịch là Vô Lượng Số. Nếu hiểu là một con số lớn cụ thể thì một A-tăng-kỳ là một ngàn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn triệu (tám chữ vạn. Một vạn vạn là một ức, một vạn ức là một triệu). Đôi khi kinh điển dùng chữ này để phiếm chỉ con số rất lớn, chẳng thể đếm được. Theo ngu ý, trong kinh này, chữ Vô Ương Số dùng với ý nghĩa phiếm chỉ.

[17] Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh chép chữ này là “kiếp” (劫), còn những bản lưu hành thường chép là khê (佉, còn đọc là “khư”).

[18] Thập Nhất Diện Quán Thế Âm Bồ Tát Tâm Chú: “Kính lễ Tam Bảo, kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai, kính lễ Nhất Thiết Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi giả. Đát điệt tha, ám, đạt ra, đạt la. Địa rị, địa rị. Đỗ rô, đỗ rô. Nhất sái phạt sái. Chiết lệ, chiết lệ. Bát ra chiết lệ, bát ra chiết lệ. Câu tố mê. Câu tô ma phạt lệ. Nhất lý, di lý. Chỉ lý, chỉ trưng. Xã ma ba lệ da, tuất đà tát đỏa. Mạc ha ca rô ni ca, sa ha” (Namo ratna trayāya. Namah ārya jñāna sagāra vairochana vyuhā rājāya tathāgatāya arhate samyaksam buddhāya. Namah sarva tathāgatebhyah, arhadbhyah samyaksam buddhebhyah. Namah ārya Avalokiteshvarāya bodhisattvāya, mahāsattvāya mahākārunikāya. Tadyathā: Aum, dhara dhara. Dhiri, dhiri. Dhuru, dhuru. Itti, vatte. Chale, chale. Prachale, prachale. Kusume. Kusuma vare. Ili, mili. Citi jvalam. Apanaye, svāha). Phần phiên âm tiếng Hán dựa theo bản dịch của ngài Huyền Trang (Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, kinh số 1071, tập 20), phần tiếng Phạn dựa theo tác phẩm Nyung Na, The means of Achievement of the Eleven-faced Great Compassionate One, Avalokiteshvara (do Lama Thubten Zopa Rinpoche và George Churinoff biên dịch, Wisdom Publications, Boston, 1995, trang 105). So với bản tiếng Phạn, bản của ngài Huyền Trang dài hơn.

[19] Bốn tội căn bản chính là Sát, Đạo, Dâm, Vọng (giết, tội, dâm, nói dối).

[20] Bất Không Quyến Sách Thần Chú: “Đát điệt tha: Ám, chiết lạc, chiết lạc. Chỉ lý, chỉ lý. Chủ lỗ, chủ lỗ. Khể thủ cụ đại bi giả. Tát lạc, tát lạc. Tử lý, tử lý. Chỉ lý, chỉ lý. Tỵ lý, tỵ lý. Khể thủ đại liên hoa thủ. Yết la, yết la. Cát lợi, cát lợi. Khuất lộ, khuất lộ. Khể thủ đại tịnh hữu tình. Bột phược, bột phược. Tha bà, tha bà. Khẩn ni, khẩn ni. Khể thủ cực tịnh hữu tình. Yết lạc, yết lạc. Chỉ lợi, chỉ lợi. Củ lỗ, củ lỗ. Khể thủ đắc đại thế giả. Chiết la, chiết la. San chiết la, san chiết la. Tỳ chiết la, tỳ chiết la. Y chiết tra, y chiết tra. Bạt lạc, bạt lạc. Tỵ lợi, tỵ lợi. Bộ lỗ, bộ lỗ. Ế hế, ế hế. Khể thủ đại bi đại thú vương tướng. Đạt lạc, đạt lạc. Tát lạc, tát lạc. Chiết lạc, chiết lạc. Bát lạc, bát lạc. Hát lạc, hát lạc. Ha ha. Hế hế. Hô hô. Ông ca lạc. Khể thủ đại phạm vương tướng. Đạt lạc, đạt lạc. Địa rị, địa rị. Đỗ lỗ, đỗ lỗ. Đát lạc, đát lạc. Tát lạc, tát lạc. Bát lạc, bát lạc. Phiệt lạc, phiệt lạc. Khể thủ bách thiên quang trang nghiêm thân. Thập phiệt la, thập phiệt la. Đáp bá, đáp bá. Bạc già phạm. Khể thủ nhật nguyệt diêm ma phiệt lỗ noa cự phệ la thích phạm. Dữ tài đẳng thiên tiên chúng sở cúng dường chi. Mạt lạc, mạt lạc. Di lý, di lý. Mẫu lỗ, mẫu lỗ. Tốt lỗ, tốt lỗ. Chủ lỗ, chủ lỗ. Khể thủ tát nại đồng tử lỗ đạt la y, tỳ sắt nộ đạt nại đà, tiên na dược ca, tỳ na dược ca chúng đa hình tướng. Đạt lạc, đạt lạc. Địa lý, địa lý. Đỗ lỗ, đỗ lỗ. Thát lạc, thát lạc. Yết lạc, yết lạc. Bát lạc, bát lạc. Đỗ lạc, đỗ lạc. Lạt lạc, lạt lạc. Hát lạc, hát lạc. Mạt lạc, mạt lạc. Phiệt lạc, phiệt lạc. Khể thủ dữ nguyện phổ quán thắng quán thế tự tại, đại tự tại. Mẫu hô, mẫu hô. Mẫu lỗ, mẫu lỗ. Mẫu da, mẫu da. Muộn giá, muộn giá. Lạc xoa, lạc xoa. Khể thủ năng linh ngã cập nhất thiết hữu tình. Giải thoát nhất thiết bố úy. Giải thoát nhất thiết yểm cổ. Giải thoát nhất thiết tai hoạnh. Giải thoát nhất thiết tật bệnh. Giải thoát nhất thiết tà mị võng lượng. Giải thoát nhất thiết oán gia sát phược khủng hát đỏa đả. Giải thoát nhất thiết vương nạn, tặc nạn. Giải thoát nhất thiết thủy hỏa phong nạn. Giải thoát nhất thiết đao độc đẳng nạn giả. Yết noa, yết noa. Khẩn ni, khẩn ni. Khuất nữu, khuất nữu. Chiết lạc, chiết lạc. Khể thủ năng khai thị nhất thiết căn lực giác chi đạo chi tứ thánh đế giả. Đáp ma, đáp ma. Táp ma, táp ma. Mạt sa, mạt sa. Khể thủ năng trừ chư đại hắc ám. Sanh trưởng mãn túc lục ba la mật đa giả. Di lý, di lý. Trá trá trá trá, trá trá trá trá. Trí trí trí trí, chú chú chú chú. Khể thủ bị phục y nê da bì. Cụ đại từ bi, tự tại, đại tự tại. Năng phá nhất thiết ác quỷ thần giả. Tốc lai, tốc lai, cứu hộ ngã đẳng. Cự lô, cự lô. Bát lạc, bát lạc. Tát lạc, tát lạc. Yết lạc, yết lạc. Yết trá, yết trá. Mạt trá, mạt trá. Khể thủ trụ tịnh độ cụ đại bi giả. Thân bội bạch cát tường lũ. Cảnh đới chúng bảo anh lạc. Thủ quan hoa man bảo quan. Ư bảo quan trung đương ư đỉnh thượng hữu nhất thiết trí tượng. Thủ chấp hy hữu đại bảo liên hoa. Ư chư tĩnh lự đẳng trì giải thoát chúng diệu công đức, giai bất khuynh động, thiện năng thành thục nhất thiết hữu tình. Cụ đại từ bi, năng trừ nhất thiết nghiệp chướng. Năng cứu nhất thiết bệnh khổ. Phổ năng an ủy nhất thiết hữu tình. Ám, hiệt lợi đát lại lộ ca tỳ đồ da. Án, mộ già bát xa, hiệt rị đạt da. Án, bát lạt để hát đa. Án, bái, sa ha. Nạp mạc a mạc già da, sa ha. Nạp mạc a thị đa da, sa ha. Nạp mạc a bát la để đa da, sa ha. Nạp mộ phiệt lạc bát lạt đả da, sa ha. Nạp mộ tát bà yết ma tất đạt duệ, sa ha. Yểm xã da tráng, sa ha”.

[21] Bản kinh này do ngài Bất Không dịch vào đời Đường, được đánh số 1033, tập 20 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Bài chú căn bản do Quán Thế Âm Bồ Tát nói trong kinh này có tên là Tự Tâm Chân Ngôn (“Nẵng mô ra đát nẵng ra dạ dã. Nẵng mô a rị dạ phạ lộ chỉ đế thấp phạ ra dã. Mạo địa tát đát phạ dã, ma ha tát đát phạ dã. Ma ha ca rô ni ca dã. Đát nễ dã tha: Bả nạp ma bát nê. Sa ra, sa ra. Ê hệ, duệ hế. Bà nga vãm. Nẵng rị dạ phạ lộ chỉ đế thấp phạ ra, a rô lực”).

[22] Bài kinh này được đánh số 1103b trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường. Tùy Tâm Tự Tại Vương Chú: “Nẵng mô ra đát na đa ra dã da. Nẵng mô a rị da phạ lô chỉ đế thấp phạ ra da. Mạo địa tát phạ da. Ma ha đát phạ da. Ma ha ca rô ni ca da. Đát nễ dã tha: Án, đa rị, đa rị, đốt đa rị. Đốt đốt đa rị, đốt rị. Sa phạ ha”.

[23] Bản kinh này được đánh số 882 trong tập 18 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, gồm 3 quyển do ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống.

[24] Bản kinh này có tên gọi đầy đủ là A Rị Đa La Đà La Ni A Rô Lực Kinh, được đánh số 1039, xếp vào tập 20 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.

[25] Bản kinh này được đánh số 1116, xếp vào tập 20 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, do ngài Thi Hộ dịch vào đời Đường. Bài chú trong kinh này cũng có tên là Đại Bi Tâm Đà La Ni: “Nẵng mô ra đát nẵng đát ra dạ dã. Nẵng ma a rị dã phạ lộ kiết đế thấp phạ ra dã, mạo địa tát đát phạ dã. Ma hạ tát đát phạ dã. Ma hạ ca rô ni ca dã. Đát nễ dã tha. Bát nạp mi, bát nạp mi, bát nạp ma, bát ra để sắt sỉ đế, bát nạp mô na ra. Ma hạ mạn noa la dụ hế sa ra, sa ra. Ca ra, ca ra, chỉ rị, chỉ rị, câu rô, câu rô. Ma hạ bà dã tam ma để đỗ. Nẵng đỗ, nẵng vĩ, đỗ nẵng vĩ, đỗ nẵng, hế rị dựng. Ma hạ vĩ nễ duệ, thâu đà dã, thâu đà dã, tát rị phạ, nặc cảm ma ba lãm ba ra ni di. Một đà dã. Một đà dã. Ma hạ nặc noa, nẵng bát ra nĩ bế, sa phạ hạ”.

[26] Bản kinh này được đánh số 1100 trong tập 20 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, do ngài Bất Không dịch vào đời Đường. Diệp Y Quán Thế Âm Bồ Tát tâm chú: “Nẵng mô ra đát nẵng đát ra dạ dã. Nẵng mô a mi đá bà dã, đát tha nghiệt đá dạ, ra hạ đế tam miệu tam một đà dã. Nẵng mô a rị dã phạ lộ chỉ đế thấp phạ ra dã, mạo địa tát đát phạ dã. Ma ha tát đát phạ dã. Ma hạ ca rô ni ca dã. Nẵng mồ ma hạ sa tha ma bát ra bả đá dã. Mạo địa tát đát phạ dã. Ma hạ tát đát phạ dã. Ma hạ ca rô ni ca dã. Phạ ma ninh đát vãm nẵng ma tả mi. Đát vãm nẵng ma tả mi phạ ma ninh. Tỳ xá chỉ bát ra noa xả phạ rị. Bát ra noa xả phạ rị tỳ xá chỉ. Bà nga phạ để bả xả bả ra thâu bát xả đà rị nê. Dạ nĩnh ca, nĩnh chất. Bà dạ nĩnh duật đáp bả, nễ dã ma nẵng nĩnh duật đáp bả niên đế. Dạ ca thất chất nễ đa dữu, dạ ca thất chất đát ma rị dữu. Dạ ca thất chất, ma hạ ma rị dữu. Duệ kế chất nỗ bát nại ra phạ. Duệ kế chất nỗ bát dạ bà. Duệ kế chất nại địa dã bà phạ. Duệ kế chất nỗ bả tát ngược. Ô bả tát nga tam mãn đà phạ. Ốt bát niên đế. Tát phạ nĩnh đá nĩnh tát phạ sa đả. Tát phệ đế phạ ra. Y vũ bát niên đế nẵng. Bán ni đa sa đa na ninh nẵng tát để duệ. Tát để dã phạ kế nẵng. Nhạ nhạ nhạ nhạ. Y tỷ thất chỉ bán ni đá. Địa sắt sỉ đới mạn đát ra bát nãi. Ma ma tát phạ đát phược nan giả. Ra ca sảng củ rô. Ngu bất tỉnh củ rô. Bả rị đát ra nẫm củ rô. Bả rị nghiệt ra đát củ rô. Bả rị nghiệt ra đát củ rô. Bả rị bát ra nẵng củ rô. Phiến tỉnh củ rô. Sa rô sa để dã dã nẵng củ rô. Nan noa bả rị hạ lãng củ rô. Thiết sa đát ra bả rị hạ lãng củ rô. Sái nam củ rô. Vĩ sái nộ sái nam củ rô. Vỹ sái nẵng xả nẵng củ rô. Tỷ ma mãn đãng củ rô. Đà ra nễ mãn đảng tả củ rô. Đát nhĩ dã tha. A mật rị đế, a mật rị cấu nạp bà phệ. A thấp phạ sa đảng nghê. Ma ma ra, ma ma ra. Xả ma bát ra, xả ma. Đổ nô vĩ, đổ nô. Đổ lê, đổ mẫu lê, sa phạ hạ”.

[27] Bản kinh này được đánh số 1050, xếp vào tập 20 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, do ngài Thiên Tức Tai dịch vào đời Tống. Lục Tự Đại Minh Chú được coi là xuất phát từ kinh này.

[28] Kinh này do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào năm Cảnh Long thứ 3 (709), được xếp vào tập 20 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, được coi là một trong những kinh điển chuyên dùng để tiêu tai cầu phước trong Mật Giáo. Kinh này còn có ba bản dịch khác nữa:

1. Quán Thế Âm Bồ Tát Bí Mật Tạng Như Ý Luân Đà La Ni Thần Chú Kinh, do ngài Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường.

2. Quán Thế Âm Bồ Tát Như Ý Ma Ni Đà La Ni Kinh do ngài Bảo Tư Duy dịch vào đời Đường.

3. Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Tâm Đà La Ni Chú Kinh do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường.

So ra, bản của ngài Bồ Đề Lưu Chí đầy đủ nhất và lưu loát nhất. Bài căn bản chú trong kinh này được xếp vào trong Thập Chú của công phu sáng trong Thiền môn. Trong Đại Tạng Kinh còn có những bản niệm tụng nghi quỹ dành cho kinh này như Quán Thế Âm Bồ Tát Như Ý Ma Ni Luân Đà La Ni Niệm Tụng Pháp (do ngài Bảo Tư Duy dịch), Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Luân Niệm Tụng Nghi Quỹ (do ngài Bất Không dịch), Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Luân Du Già (do ngài Bất Không dịch), Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát Du Già Yếu Pháp (do ngài Kim Cang Trí dịch) v.v...

[29] Kinh này cũng do ngài Bất Không dịch vào đời Đường, được đánh số 1110 trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 20. Vị La Sát Vương này do có một búi tóc nên gọi là Nhất Kế (hoặc chỉ phiên âm là Ế Ca Nhạ Trá, Ekajata). Vị này được đặc biệt tôn sùng trong dòng Cổ Mật của Phật Giáo Tây Tạng. Tâm chân ngôn là: “Án, rô thất ra da, mẫu niết rị ninh duệ, nhạ tra, nhạ tra duệ, hồng, hồng, tra, sa phạ ha”. Tùy tâm chân ngôn: “Ế hế duệ hế. Ế ca nhạ tra, ma ma mục khư nhạ da, sa phạ ha”.

[30] Như tên gọi, đây là một tổng tập nhiều bài kinh nhỏ khác nhau (do nhiều người dịch) gồm 12 quyển, bao gồm nhiều chú pháp chia thành năm loại lớn (Phật Bộ, Bồ Tát Bộ, Kim Cang Bộ, Thiên Bộ, Phổ Tập Hội Đàn Pháp).

[31] Mã Đầu Quán Âm (Hayagriva) còn gọi là Mã Đầu Kim Cang, Mã Đầu Đại Lực Sĩ, hoặc Mã Đầu Minh Vương, đôi khi các nghi quỹ chỉ phiên âm danh hiệu Ngài là Ha Da Yết Rị Bà, hoặc Hạ Dã Ngật Lý Phạ, là một trong sáu thân quan trọng của Quán Thế Âm trong Mật Giáo. Do Ngài có hình đầu ngựa ở trên đỉnh nên gọi là Mã Đầu Quán Âm. Đây chính là thân hộ pháp minh vương chủ yếu nhằm hóa độ súc sanh đạo. Ngài thường được tạc tượng với sắc thân hồng, ba mặt, tám tay, mỗi mặt có ba mắt to tròn, nhe nanh, trợn mắt, tóc rối bồng dựng lên tua tủa. Truyền thống Mật Tông Tây Tạng thường vẽ hình Ngài có hai cánh. Hình dạng này thường được gọi là Sư Tử Vô Úy Tướng. Tám tay biểu thị bi trí song vận, ba mắt phẫn nộ biểu thị hàng phục ác ma trong tam giới, nanh nhọn chĩa ra ngoài biểu thị chấn nhiếp hết thảy ma chướng gây chướng ngại cho người tu học. Bổn thệ của Ngài là hàng phục La Sát, ác ma, ác thần, hết thảy ác chướng gây ra bởi tám bộ quỷ thần, tiêu trừ nghiệp chướng, ôn dịch, bệnh khổ, dẹp trừ hết thảy tà pháp do ác ma tạo ra.

[32] Trong bản kinh Thiên Chuyển Đà La Ni Quán Thế Âm Bồ Tát Chú Kinh có nói: “Nghiệp chướng tụ tập trong ngàn kiếp, hễ niệm tụng chú này một lúc sẽ đều tiêu diệt sạch, gieo thiện căn với một ngàn đức Phật, vượt khỏi sự lưu chuyển sanh lão bệnh tử trong một ngàn kiếp. Khi bỏ thân này liền thấy một ngàn vị Chuyển Luân Vương”. Dựa theo ý này, vào thời Đường - Tống, Mật giáo Trung Hoa đã chế ra Thiên Chuyển Quán Âm Chú Đồ gồm hình Quán Thế Âm ngồi giữa, chung quanh viết thành 5 tầng chú ngữ. Ba tầng đầu viết theo hình tròn xoay, hai tầng sau viết thành hình vuông, đều xoay theo chiều kim đồng hồ. Tầng thứ nhất là Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Thiên Chuyển Diệt Tội Đà La Ni, tầng thứ hai là Pháp Thân Duyên Sanh Kệ, tầng thứ ba là Đại Kim Cang Cát Tường Phật Nhãn Đà La Ni, tầng thứ tư là Nhất Thiết Như Lai Tùy Tâm Đà La Ni, và tầng ngoài cùng là Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát Ngũ Tự Đà La Ni. Xen vào giữa bốn góc của hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, tức là ở giữa tầng ba và tầng tư là chủng tự của Kim Cang Ca Bồ Tát, Kim Cang Vũ Bồ Tát, Kim Cang Hỷ Bồ Tát, và Kim Cang Man Bồ Tát.

[33] Bản kinh này có tên gọi đầy đủ là Thiên Nhãn Thiên Tý Quán Thế Âm Bồ Tát Đà La Ni Thần Chú Kinh do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường. Kinh này thường được coi là bản dịch khác của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (do ngài Già Phạm Đạt Ma dịch). Ngoài ra, kinh này còn có một bản dịch khác Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Mỗ Đà La Ni Thân Kinh (do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào đời Đường). Hỷ Kiến Chi Phần Đại Diệu Thân Bảo Tràng Thiên Tý Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Đại Bi Thân Đà La Ni (tức quyển 11 của bộ Thích Giáo Tối Thượng Thừa Mật Tạng Đà La Ni Tập) là một dị bản khác của bản dịch này. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng còn có những bản kinh liên quan đến chú Đại Bi như Kim Cang Đảnh Du Già Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Tu Hành Nghi Quỹ Kinh (do ngài Bất Không dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh (do ngài Già Phạm Đạt Ma dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú Bổn (do ngài Kim Cang Trí dịch), Thế Tôn Thánh Giả Thiên Nhãn Thiên Thủ Thiên Túc Thiên Thiệt Thiên Tý Quán Tự Tại Bồ Đề Tát Đỏa Đát Phạ Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni (mất tên người dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (do ngài Bất Không dịch), Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh (do ngài Tam Muội Tô Phạ La dịch vào đời Đường), Đại Bi Tâm Đà La Ni Tu Hành Niệm Lược Nghi (do ngài Bất Không dịch), Thiên Thủ Quán Âm Tạo Thứ Đệ Pháp Nghi Quỹ (do ngài Thiện Vô Úy dịch vào đời Đường) v.v...

[34] Kinh này cũng do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường (được đánh số 1038 và xếp vào tập 20 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh). Một bản dịch khác của kinh này là Quán Tự Tại Bồ Tát Thuyết Phổ Hiền Đà La Ni Kinh (do ngài Bất Không dịch vào đời Đường).

[35] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni Kinh, do ngài Pháp Hiền dịch vào đời Tống. Kinh này khá ngắn. Trước tiên, Quán Thế Âm Bồ Tát nêu lên danh hiệu của các đức Phật như: Bảo Sư Tử Tự Tại Như Lai, Bảo Vân Như Lai, Bảo Trang Nghiêm Tạng Như Lai, Sư Tử Đại Vân Như Lai, Vân Sư Tử Như Lai, Tu Di Như Lai, Sư Tử Hống Như Lai, Sư Tử Lợi Như Lai, Phạm Âm Như Lai, Thiện Ái Như Lai, Liên Hoa Thượng Như Lai, Nhiên Đăng Như Lai, Liên Hoa Sanh Như Lai, Tốn Na La Như Lai, Trì Hoa Như Lai, Trì Bảo Như Lai, Pháp Sanh Như Lai, Nhật Quang Như Lai, Nhật Chiếu Như Lai, Nguyệt Quang Như Lai, Vô Lượng Tạng Như Lai, Vô Lượng Trang Nghiêm Tạng Như Lai, Vô Lượng Quang Như Lai, Liên Hoa Tạng Như Lai, Thiên Diệu Âm Như Lai, Câu Chỉ La Âm Như Lai. Rồi nói bài chú như sau: “Đát nễ tha: Tát đổ ra thi đế du nhạ na thiết đa tát hạ tát ra ni. Nhạ sá bà ra mạt cô trá lãng hất rị đa. Đà ra ni sa hạ. Tát rị phạ, đát tha nga đa mẫu lý để đa. Đà ra ni sa hạ. A phạ lộ kiết đế thuyết ra dã sa hạ. Tát rị phạ đát tha nga đô ô sắt nị sa. Đà ra ni sa hạ. Tát rị phạ đát tha nga đa bà thỉ đa. Đạt rị ma tắc kiến đà. Đà ra ni sa hạ. Tát rị phạ đá tha nga đa bà thỉ đa. Táp bát đa đà ra ni sa hạ. Bát nạp ma a bà nhĩ ca dã sa hạ. A sắt trá ma hạ bạt dã đà ra ni sa hạ. Thuế đa phạ lan noa dã sa hạ. Tát rị phạ đát tha nga đa na ma đà ra ni sa hạ. A thi đế bát nạp ma thiết nhĩ ca dã đát tha nga đa đà ra ni sa hạ. Bát nạp ma hạ tất đa dã sa hạ. Tát rị phạ mãn đát ra đà ra ni sa hạ”.

[36] Bố tự pháp: Quán tưởng để đặt các chữ Phạn vào các vị trí tương ứng, chẳng hạn quán nơi tim mình có hoa sen, bên trên có vầng mặt trăng chồng lên tầng mặt trời, từ chính giữa mặt trăng xuất hiện chữ Aum có màu trắng v.v...

[37] Tam tâm: tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai.

[38] Nguyên văn ghi là “mùa Thu năm Dân Quốc thứ 10 (1921)”, nhưng trong đoạn trên ghi là cô Quân Can mất vào năm Dân Quốc 15 (1926). Chắc chắn đây là lỗi ấn loát. Do vậy, chúng tôi sửa thành năm Dân Quốc 20 cho phù hợp, tuy rất có thể là ông Thông Bạch trở về An Huy ngay trong năm ấy (tức năm Dân Quốc 15).

[39] Tứ Trí là do tám thức chuyển biến thành, chỉ có quả vị Phật mới trọn đủ Tứ Trí:

1. Từ năm thức đầu (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Thức) chuyển thành Thành Sở Tác Trí.

2. Ý Thức chuyển thành Diệu Quán Sát Trí.

3. Mạt Na Thức chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí.

4. A Lại Da Thức chuyển thành Đại Viên Kính Trí.

[40] Theo Kim Cang Đảnh Du Già Lược Xuất Niệm Tụng Kinh, Tứ Nhiếp Bồ Tát biểu thị sự nhiếp thọ chúng sanh phát xuất từ trí lực vô tận của Như Lai, gồm:

1. Kim Cang Câu (Vajrankusa): Lôi kéo, chiêu dụ chúng sanh hướng về Phật đạo.

2. Kim Cang Sách (Vajravesa): Trói buộc, giữ yên chúng sanh nơi chánh đạo, không thoái chuyển.

3. Kim Cang Tỏa (Vajrasphota): Giữ cho chúng sanh kiên định nơi pháp đã chứng, tiến hướng tăng tấn.

4. Kim Cang Linh (Vajravesa): Chúng sanh an trụ nơi pháp, hoàn thành sự nghiệp, hoan hỷ, hớn hở.

Nếu chiếu theo ý nghĩa của Hiển Giáo, bốn vị Bồ Tát này tương ứng với hạnh Tứ Nhiếp (Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự).

[41] Bát Cúng Dường Kim Cang Bồ Tát: Gồm có Nội Cúng Dường và Ngoại Cúng Dường. Nội Cúng Dường Bồ Tát biểu thị cho những Chánh Định Đức do Như Lai đã chứng được, từ trong chánh định Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Như Lai) lưu xuất ra bốn vị Nội Cúng Dường Bồ Tát: Kim Cang Hỷ (thân cận A Súc Như Lai), Kim Cang Man (thân cận Bảo Sanh Như Lai), Kim Cang Ca (thân cận A Di Đà Như Lai), Kim Cang Vũ (thân cận Bất Không Thành Tựu Như Lai). Ngoại Cúng Dường do bốn vị Như Lai mỗi vị lưu xuất nhằm cúng dường Đại Nhật Như Lai, tức là A Súc Như Lai lưu xuất Hương Cúng Dường Bồ Tát, Bảo Sanh Như Lai lưu xuất Hoa Cúng Dường Bồ Tát, A Di Đà Như Lai lưu xuất Đăng Cúng Dường Bồ Tát, Bất Không Thành Tựu lưu xuất Đồ Hương Bồ Tát.

[42] Trong sách Bát Thức Quy Củ Trực Giải, tổ Ngẫu Ích đã giảng câu này như sau: “Thức này có nhiều tên gọi. Tên thứ nhất là A Lại Da Thức, do nó bị thức thứ bảy chấp là Ngã. Cái tên gọi này mãi cho đến khi chứng được Bất Động Địa thì mới vĩnh viễn khuất phục Ngã Chấp, bỏ được danh xưng này. Tên thứ hai là Dị Thục Thức. Do thiện nghiệp, ác nghiệp, vô lậu nghiệp [được chứa trong thức ấy] khi chín muồi sẽ chiêu cảm lấy quả báo. Tên gọi này mãi cho đến khi viên mãn Phật quả nơi đạo Kim Cang rồi mới bỏ được. Tên thứ ba là Nhất Thiết Chủng Thức, được sử dụng cho các địa vị phàm thánh xét về nhân lẫn quả, mãi cho đến khi thành Phật rồi thì nó mới chỉ gìn giữ những hạt giống thiện vô lậu”.

[43] Nguyên văn: “Kim Cang nãi mộc cương chi thần”. Từ ngữ “mộc cương” xuất phát từ một câu trong Hán Thư: “Châu Xương, mộc cương nhân dã”. Nhan Sư Cổ chú giải: “Ý nói người tánh chất cứng cỏi như gỗ đá vậy”. Từ đó, từ ngữ “mộc cương” dùng để chỉ người tánh tình chất trực, cứng cỏi, đôi khi cũng dùng để chỉ người cứng cỏi đến mức ngoan cố. Trong các trước tác trước đó, do không xét kỹ, ông Đinh Phước Bảo đã hiểu lầm chữ Kim Cang trong tựa đề kinh Kim Cang chính là thần Kim Cang hộ pháp thay vì Kim Cang là một chất cứng rắn không có gì có thể phá hoại được nó. Khi bị phê bình, thay vì phục thiện sửa sang, qua tác phẩm Phật Học Chỉ Nam, ông Đinh lại dẫn lời của Ông Đàm Khê để lấp liếm sự thiếu sót của mình, chứ không chịu thừa nhận sai sót, cho nên mới bị ông Lưu Khế Tịnh chê trách.

[44] Xử (Vajra) gọi đủ là Kim Cang Xử (đôi khi thường được dịch là “chày Kim Cang”), vốn là vũ khí của Đế Thích làm bằng chất Kim Cang, không loài nào đương cự được. Kim Cang cứng rắn nhất, không gì có thể phá hủy hay tiêu hủy được. Kim Cang Xử thường bị người Tây Phương dịch thành “lưỡi tầm sét” (thunderbolt), khiến cho ý nghĩa sâu thẳm của Kim Cang Xử bị hiểu sai lệch khá nhiều!

[45] Vườn Tiêu Dao vốn là Thượng Uyển của vua Hậu Tần (Diêu Trành và Diêu Hưng), về sau được dành riêng cho ngài Cưu Ma La Thập ở để dịch kinh.

[46] Thanh Chỉ là một loại cỏ thơm, lá xanh non, có lông mịn, nở hoa màu trắng vào mùa Hạ, quả có hình thon tròn, thuộc họ Đương Quy, củ có thể dùng để làm thuốc, thường được chia thành nhiều loại như Hưng An Chỉ, Xuyên Bạch Chỉ, Hàng Bạch Chỉ v.v...

[47] Mộc Xích (còn gọi là Thủ Xích hay chỉ gọi gọn là Xích) là một khối gỗ nhỏ từ hai đến ba tấc, để trơn hoặc sơn đỏ, trên lưng khắc ba chữ Án Á Hồng. Trước khi tuyên pháp ngữ trong giảng tòa hay trong các pháp hội, vị chủ sám sẽ dùng Xích đập xuống bàn, tạo sự chú ý. Đôi khi trong các pháp hội, vị Sám Chủ còn dùng Xích để vỗ xuống bàn nhằm tạo hiệu lệnh cho các kinh sư hòa tiếng chuyển giọng khi đổi sang một thể điệu tán tụng mới.

[48] Quyển vàng trục đỏ (hoàng quyển xích trục) là thuật ngữ để chỉ kinh Phật. Do thời cổ, kinh thường được in trên giấy vàng (do tẩm hóa chất nên có màu vàng, thường là chất hoàng liên, để ngừa mối mọt) dài, cuộn thành quyển, chứ không xếp thành sách như sau này. Hai đầu tờ giấy lớn ấy phải gắn trục bằng gỗ sơn đỏ (vừa để trang trí, vừa dễ thấy để người đọc nắm hai trục từ từ mở ra, không làm rách kinh).

Vạch cân (định bàn tinh): Những vạch khắc trên đòn cân để người dùng cân biết được trọng lượng của vật đem cân.

[49] Thanh Long Sớ Sao chính là tác phẩm chú giải kinh Kim Cang của ngài Đức Sơn Tuyên Giám. Sư tinh thông kinh tạng, thường giảng kinh Kim Cang nên mới viết bộ Thanh Long Sớ Sao (một trăm quyển), nổi danh lừng lẫy thuở ấy, đến nỗi người ta thường gọi Sư là Châu Kim Cang (do họ ngoài đời của Sư là Châu). Nghe nói Thiền gia phương Nam chủ trương “chẳng lập văn tự, kiến tánh trực chỉ”, Sư cảm thấy bất bình, cho là lũ cuồng ma ở phương Nam hoại loạn Phật pháp, quyết đến cật vấn nhằm khuất phục họ, bèn gánh Thanh Long Sớ Sao rời đất Thục. Vừa mới đến Phong Dương thì gặp bà bán bánh, được điểm hóa, Sư mới dứt cuồng tâm, dốc lòng theo học với ngài Long Đàm thiền sư. Khi đã liễu ngộ, bèn đối trước Phật điện, đốt sạch bộ Thanh Long Sớ Sao.

[50] Tức du tăng, do những vị ấy thường du hóa, không ở nơi nào nhất định, giống như mây trôi nước chảy tùy duyên tự tại nên gọi là Vân Thủy Tăng.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 31 Dec 2015, 0:58 AM | Message # 52
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích

Cảm Ứng Tụng

Quyển 4

Phần 3

Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang


Hương lạ ngập thất, nha lại cõi âm răn dạy con cháu.

Chú thích: Theo sách Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Vu Sưởng giữ chức Lục Sự Tham Quân ở Tinh Châu dưới triều Võ Tắc Thiên. Cứ sau canh một là ông lại thở hổn hển, toát mồ hôi, qua canh hai thì hết. Vợ là Liễu Thị tính mời thầy thuốc. Ông Sưởng ngầm bảo vợ: “Không có nỗi khổ nào khác, chỉ là ban ngày phải lo việc công, đêm đến phải phán xử việc cõi âm, sức ta không kham nổi”. Ông thường biết trước tai nạn xảy đến, ngấm ngầm chuẩn bị. Suốt sáu năm như thế, sau khi mẹ mất, ông trì kinh Kim Cang bèn không còn phải làm nha lại cõi Âm nữa. Do vậy, cực lực khen ngợi sức công đức của kinh này, dạy con cháu phúng tụng. Năm tám mươi tuổi, khi sắp mất, chợt nghe mùi hương lạ, ông bảo người xung quanh: “Có thánh nhân đến đón ta về Tây Phương”. Nói xong thì mất.

Trích máu chép kinh, hiếu tử siêu độ cha mẹ.

Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, trong thời Vạn Lịch nhà Minh, Ngô Quân Bình ở Đồng Hương mồ côi cha mẹ từ nhỏ, bèn ăn chay bốn mươi chín ngày, trích máu từ ngực để chép kinh Kim Cang. Đêm mộng thấy cha mẹ đứng trên đám mây, bảo: “Nhờ công đức chép kinh của con, hai người bọn ta đã được sanh về Tịnh Độ”.

Mộng ngồi xếp bằng trên đỉnh núi, tượng báu phóng quang.

Chú thích: Theo Kiến Xương Chí, vào đời Minh, Hoàng Thái Nghi Nhân Lý Thị là mẹ của quan Nghi Chế Chủ Sự Nam Kinh là Hoàng Đoan Bá, người xứ Kiến Xương. Tuổi già, cụ tụng kinh Kim Cang, kinh Địa Tạng hằng ngày kiền thành. Một đêm mộng thấy ngồi xếp bằng trên đỉnh núi, Phật quang chiếu đến thân. Tỉnh giấc, cụ bảo Đoan Bá: “Kỳ hạn về Tây Phương đã đến”, không bệnh ngặt nghèo gì, thị hiện chút bệnh vặt, niệm Phật qua đời.

Dứt nỗi khổ địa ngục, giường vàng tụng chú.

Chú thích: Theo Kim Cang Chứng Quả, trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống, ông X... ở Minh Châu không có con, vợ là Vương Thị có thai cả hai mươi tám tháng vẫn chưa sanh. Gặp một vị Tăng bảo: “Ông bị ách nạn lớn. Chỉ có cách thí một ngàn quyển kinh Kim Cang mới thoát”. Ông làm đúng như lời, lại phát nguyện tụng một ngàn quyển, trai tăng một ngàn vị. Đêm mộng thấy thần Kim Cang cầm xử chỉ vào bụng [bà vợ]; tỉnh giấc sanh được hai trai. Đến năm ông sáu mươi mốt tuổi, chết đột ngột, vào cõi Âm. Diêm Vương bảo ngồi trên giường vàng, tụng kinh một biến. Sự khổ của các quỷ trong địa ngục đều nhanh chóng chấm dứt. Hỏi ông sao không tụng chú? Thưa: “Trong thế gian không có bản kinh nào có chú cả!” Diêm Vương liền trao cho bản kinh có ghi bài chú, lại bảo: “Ông trở về dương gian, hãy nên lần lượt lưu thông. Mai sau hết tuổi thọ sẽ sanh vào thế giới Cực Lạc”. Bèn sống lại. Sau này, đến năm chín mươi mốt tuổi, ông không bệnh, ngồi mất.

Tiền Bỉnh lâm chung đọc kệ, nước cũng thanh lương.

Chú thích: Theo Hiện Quả Tùy Lục, vào đời Minh, Tiền Bỉnh thoạt đầu làm quan tại huyện Phú Dương rồi từ quan để tu hành. Hằng ngày, ông tụng kinh Kim Cang. Lâm chung, đọc kệ xong, bảo lấy nước trong mát để uống. [Người nhà hỏi]: “Nước trong mát ở đâu?” Đáp: “Nước ở ao phóng sanh”. Nước đem đến, ông uống xong, chắp tay nói: “Ta do Phật lực sẽ nhanh chóng về cõi thanh tịnh”, vui vẻ, ngồi qua đời.

Trương Ái tăng thọ, trì kinh, chóng sanh An Dưỡng.

Chú thích: Theo Kim Cang Tân Dị Lục, vào thời Vạn Lịch nhà Minh, nội giám (thái giám) Trương Ái mỗi tối trì kinh Kim Cang suốt mấy năm. Bệnh gần chết, thấy hai người áo xanh đến nói: “Đưa ông qua Sơn Đông đầu thai”. Đi như bay, trong vòng một ngày đã tới, thấy núi sông nơi ấy và cha mẹ sẽ đầu thai vào. Trương Ái chỉ nhất tâm trì kinh, bị áp giải đến một ngôi điện, nghi là [cung điện của] Đông Nhạc. Trên điện có một vị vua, đầu đội mão đỉnh bằng[1], bảo: “Ông đáng nên đầu thai về nơi đây”. Đáp: “Ái trì kinh Kim Cang, nguyện sanh về Tịnh Độ, chẳng muốn thọ thai!” Vua nói: “Ông trì kinh công ít, biết làm sao được?” Trương Ái thưa: “Từng nghe nói mười niệm thành tựu liền được vãng sanh, huống hồ [tôi đã trì kinh Kim Cang] đã mấy năm rồi!” Vua bảo: “Cho ông trở về, trì kinh thêm!” Đã tỉnh lại, ông Ái bèn lìa nhà, trụ tại Bích Vân Tự ở Tây Sơn, chuyên tụng kinh Kim Cang. Mười một năm sau, một hôm nhóm chúng, bảo: “Hôm nay tôi về Tây”, ngồi ngay ngắn qua đời.

Khói hương thề nguyện dâng Phật, hiện vẻ trang nghiêm trên vách vôi.

Chú thích: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, vào đời Minh, vợ ông Trầm Xuân Giao ở trấn Song Lâm, Hồ Châu là Phí Thị, góa bụa từ trẻ, dệt vải để tự nuôi thân. Bà ăn chay mấy chục năm, thờ phụng tượng Phật và tượng Đại Sĩ bằng đàn hương, hằng ngày tụng một quyển kinh Kim Cang, niệm Phật một ngàn câu, dù [tiết trời] nóng hay lạnh chẳng bỏ sót. Trong trận dịch lớn dưới thời Sùng Trinh, bà dời sang sống trên ngôi lầu trong nhà người con rể là Trương Thế Mậu, chỉ đem tượng Đại Sĩ theo. Hằng ngày, bà hồi hướng hương này xông thẳng đến chỗ Phật. Ba năm như thế, chợt trên hư không có hương vờn quanh lầu mấy ngày. Trên vách tường vôi bỗng hiện ra tượng Phật, trang nghiêm tinh diệu, xa gần đồn đại, người đến chiêm lễ ngày càng đông. Nếu dùng khăn sạch để lau thì hình sắc càng rạng rỡ. Bốn năm sau, bà trở về chỗ cũ, vào cửa, liền quét dọn, thắp hương đèn, lễ Phật, tụng kinh. Đến sáng ngày thứ ba, tắm gội, thay áo, ngồi ngay ngắn niệm Phật. Đến Ngọ, kêu ầm lên: “Phật tới rồi, ta đi đây!” Từ biệt mọi người qua đời, thọ bảy mươi ba tuổi.

Cấm dân giết chóc, thấy đài bạc tiếp dẫn.

Chú thích: Theo Kim Cang Tân Dị Lục, vào đời Minh, Thái Thừa Thực đậu Tiến Sĩ thời Vạn Lịch, làm quan Thái Thủ ở Gia Hưng. Trong khi làm quan, ông hằng ngày tụng kinh Kim Cang, cấm dân gian sát sanh. Phàm tế thần chỉ đốt hương, bày cỗ chay, và bảo tụng kinh Kim Cang. Ông thường hỏi pháp nơi ngài Vân Thê Châu Hoằng (tổ Liên Trì), tu niệm Phật tam-muội. Lâm chung thấy đài bạc tiếp dẫn, liên tục niệm Quán Thế Âm Bồ Tát rồi qua đời.

Ông Châu dứt ăn mặn năm ngày, thân tỏa mùi thơm.

Chú thích: Theo Kim Cang Linh Ứng Lục, trong khoảng niên hiệu Chánh Đức - Gia Tĩnh đời Minh, ông Châu Đình Chương ở Vân Nam hễ sáng dậy ắt tụng các kinh Kim Cang, Di Đà, và Quán Âm. Năm tám mươi bảy tuổi, ông nói: “Ta sắp đi, Phật Di Đà đến đón ta. Quán Âm, Thế Chí đều đến”. Rồi lại nói: “Đức Quán Âm dạy ta thôi ăn mặn năm ngày thì sẽ về Tây được!” Ông bèn mỗi ngày ăn một bữa cháo, một bữa rau, đến kỳ hạn, tụng kinh, ngồi ngay ngắn qua đời. Thân bốc mùi thơm, diện mạo như còn sống.

Châu Thị uống nước bốn mươi ngày, nở hoa trong mộng.

Chú thích: Theo Phật Tổ Thống Kỷ, vào đời Tống, Châu Thị là người xứ Sáp Xuyên, niệm danh hiệu Phật ba mươi năm, kiêm trì kinh Kim Cang. Lúc mở quyển kinh ra, thường nói: “Các vị thánh ngự đến xem, chẳng dám ngồi xổm”. Bà chợt nhịn ăn, hằng ngày uống mấy chén nước. Sau bốn mươi ngày, mộng thấy ba vị tỳ-kheo tay cầm hoa sen, bảo: “Ta trước kia vì ngươi trồng hoa này, hôm nay sẽ nở nên đến đón ngươi”. Tỉnh giấc, bà bèn niệm Phật hiệu, ngồi ngay ngắn qua đời.

Đường Nghi Chi nhiều lần quán tướng lành.

Chú thích: Theo Tịnh Độ Thần Chung, vào đời Minh, Đường Thời tự là Nghi Chi, người xứ Hồ Châu, học pháp môn Niệm Phật nơi ngài Liên Trì. Ông cùng quyến thuộc đều thuộc lòng kinh Kim Cang và phẩm Phổ Môn. Nghi Chi đắc Quán Phật tam-muội, nhiều lần thấy Phật hiện tướng lành, chánh niệm qua đời.

Ni Huệ An đích thân thấy Phật quang.

Chú thích: Theo Phật Tổ Thống Kỷ, vào đời Tống, Huệ An là người Minh Châu, trụ tại am họ Dương ở Tiểu Khê, chuyên tu Tây Phương, tụng kinh Kim Cang, nóng lạnh chẳng bỏ sót. Bà thường ở trong thất thấy Phật quang chiếu đến. Một hôm thị hiện bị bệnh, ngồi ngay ngắn, răn đại chúng đừng ồn. Một lúc lâu sau, nói: “Phật đến rồi”, bảo đại chúng niệm danh hiệu Phật, nghiễm nhiên thoát trần, thọ chín mươi sáu tuổi.

Trầm Kính Phù ba quyển lệ thường, xua tay bảo vợ lánh đi.

Chú thích: Theo Nhị Lâm Cư Hậu Tập, vào đời Thanh, ông Trầm Bỉnh ở Trương Châu, tự là Kính Phù, năm 15 tuổi bị bệnh suyễn. Đến năm 30 bệnh nặng hơn, năm 50 tuổi bệnh càng nặng hơn nữa, bèn niệm Phật, ăn chay trường. Bạn ông ta là Dương Quảng Văn khuyên tụng kinh Kim Cang, ông Trầm bèn mỗi ngày tụng ba quyển. Vào mùa Đông năm Càn Long 46 (1781), ông thị hiện bị bệnh nhẹ. Đến ngày 30, dậy sớm, súc miệng, tắm gội xong, hướng về Tây, ngồi xếp bằng niệm Phật. Vợ ở bên cạnh, ông xua tay đuổi ra, sau đó ngồi nghiễm nhiên qua đời.

Vương Ngưỡng Tuyền đã trọn ba tạng, cãi lệnh phù sứ.

Chú thích: Theo Hiện Quả Tùy Lục, vào đời Thanh, Vương Ngưỡng Tuyền là người Hàng Châu, sống bằng nghề giết dê. Trong khi bị bệnh thấy dê kéo cả đàn đến đòi mạng, bèn đổi nghề, ăn chay trường, tụng kinh Kim Cang, đủ số ba tạng. Lại lạy Pháp Hoa. Năm 81 tuổi, chợt thấy phù sứ[2] đến bắt, bèn kháng cự rằng: “Ta đợi Phật đến mới đi”. Năm hôm sau, quả nhiên thấy Phật hiện đại thân, xòe tay tiếp dẫn. Ông vui vẻ qua đời.

Đài sen thị hiện, Trương Nguyên hồi hướng Tây Phương.

Chú thích: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, vào đời Minh, ngư phủ Trương Nguyên ở Hải Diêm và em trai là Trinh thấy trên mặt nước có ánh sáng lạ chiếu hắt lên, liền lặn xuống nước, mò được một hộp đá, bên trong hộp đựng bộ kinh Kim Cang viết bằng chữ vàng. Đêm mộng thấy thần kim giáp nói: “Ngươi đời trước là người hầu việc tại giảng đàn của pháp sư Trường Thủy[3], do không có lòng tin nên thoái đọa đến mức này; nhưng cái nhân nhỏ nhoi vẫn chưa mất, ban cho ngươi đại pháp, hãy nên tinh tấn trì tụng”. Ông Nguyên lấy cớ không biết chữ để từ tạ, thần bảo há miệng ra, nhét một hoàn thuốc vào. Sáng hôm sau, mở kinh ra tụng, đọc làu làu như quen tụng từ lâu. Trương Nguyên đem chuyện này kể với vị tăng chùa Chiêu Khánh là Truyền Như. Truyền Như khuyên hãy hồi hướng Tây Phương. Ba năm sau, Trương Nguyên bảo người thân và kẻ quen biết: “Đài sen đã hiện rồi!” ngồi ngay ngắn qua đời. Đó là chuyện nhằm tháng Bảy năm Đinh Sửu (1589) thời Vạn Lịch.

Bát Nhã công cao, Phòng Trứ sớm sanh Tịnh Độ.

Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, đời Đường, Phòng Trứ bình thời sùng tín đấng pháp vương, mỗi ngày niệm Phật, trì kinh Kim Cang. Một hôm, chết đột ngột, đến Diêm phủ. Diêm Vương nói: “Ông có công trì Bát Nhã, lại từng khuyên một người già niệm Phật, [người ấy] đã sanh về Tịnh Độ. Nhờ phước lực ấy, ông cũng đáng được vãng sanh!” Phòng Trứ thưa: “Tôi phát nguyện tụng kinh Kim Cang một vạn quyển, nay vẫn chưa xong, làm sao đây?” Vua nói: “Tụng kinh tròn nguyện cố nhiên là tốt, nhưng chẳng bằng sớm sanh về Tịnh Độ lại càng hay hơn!” Biết chí ông Trứ đã quyết, vua bèn sai nha lại đưa về.

Tạo kinh trăm quyển, thấy Phật đến đón.

Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, sa-môn Pháp Tạng chùa Bảo Thất ở Phu Châu, giới hạnh tinh thuần, sửa chữa, xây dựng chùa, tháp, tượng Phật thảy đều tinh xảo, đẹp đẽ. Năm Vũ Đức thứ 2 (619), Sư mắc bệnh, thấy một người tay cầm quyển kinh bảo: “Công đức của ông tuy lớn, chỉ vì lạm dùng vật của Tam Bảo nên mắc tội vô lượng. Nếu tạo kinh Kim Cang này thì tội sẽ diệt hết”. Tỉnh giấc, Sư bèn xả y bát, tạo kinh một trăm quyển. Lúc sắp mạng chung thấy A Di Đà Phật đến đón.

Lặng lẽ tham cứu bốn mươi năm, bay lượn trên không về Tây.

Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, vào đời Minh, vị tăng Phổ Tịnh ở Lô Sơn sáng tối kiền thành tụng kinh Kim Cang. Chợt mộng thấy thần nhân nói bài kệ như sau:

Hữu tướng, tướng phi chân,

Vô pháp, pháp diệc đọa,

Phiết khước cựu khỏa cữu,

Tức dĩ liễu đại nghĩa.

(Có tướng, tướng chẳng thật,

Không pháp, pháp cũng rơi,

Vứt sạch khuôn sáo cũ,

Đại nghĩa liền thấu triệt).

Sư đại ngộ, mỗi ngày chỉ tụng ra tiếng một biến vào lúc sáng tối, những lúc khác ngồi xếp bằng lặng lẽ tham cứu, bốn mươi năm chưa hề ngủ nghê. Thần lại đến bảo: “Làm như thế là đúng rồi”. Sư tuổi ngoài chín mươi bèn thị tịch, hương thơm đọng suốt đêm. Tăng chúng đều thấy tràng phan dẫn đường, Sư mặc ca-sa tía, cầm xâu chuỗi bằng hạt Mộc Hoạn[4], bay lên không trung về Tây. Chữ Tập (卌) đọc như chữ Tiết (薛)[5], có nghĩa là bốn mươi.

Trong mộng bà Hoàng giã biệt vị Tăng gần xóm, ráng đỏ chiếu rực nóc nhà.

Chú thích: Theo Phật Tổ Thống Kỷ, vào đời Tống, bà Hoàng là người Triều Sơn, chuyên trì danh hiệu Phật kiêm tụng hai kinh Pháp Hoa và Kim Cang. Bà ngẫu nhiên mắc bệnh lỵ, tự biết đã đến thời, liền nhịn ăn, hằng ngày uống mấy chén nước. Một hôm, vị Tăng pháp danh Thiện Tu ở cái am gần đó nằm mộng thấy bà ta đến từ biệt, bảo: “Tôi sắp qua Tây Phương”. Hai hôm sau, bà ta hướng về Tây niệm Phật, ngồi ngay ngắn qua đời. Ráng đỏ sáng ngời phủ trên nóc nhà, người làng ai cũng thấy.

Cô Vương thề thu máu mẹ, hoa sen hiện trong phòng.

Chú thích: Theo Phật Tổ Thống Kỷ, vào đời Tống, cô gái nhà họ Vương người xứ Cát An, hằng ngày tụng các kinh Di Đà, Quán Âm, Kim Cang. Mẹ chết, chảy máu đẫm thân. Cô thệ nguyện: “Nếu con có lòng hiếu chân thật thì nguyện thân mẹ con chẳng sanh hôi nhơ”. Thề xong, máu ngưng chảy. Một hôm, cô ngã bệnh, nằm trong dáng điệu cát tường, tay nắm lá tràng phan báu trước tượng Quán Âm, lặng lẽ thị tịch. Đem liệm, mẹ kế đặt tro của cô ta trong nhà, nẩy sanh mấy đóa hoa sen.

Tụng năm ngàn bốn mươi tám lượt, nằm bên hông phải qua đời.

Chú thích: Theo Phật Tổ Thống Kỷ, vào đời Tống, Trần Thị thọ trì trai giới, lấy Thiền tụng làm vui. Trì danh hiệu Phật suốt ba mươi năm, kiêm tụng năm ngàn bộ kinh Pháp Hoa, hai kinh Di Đà và Kim Cang mỗi kinh tụng được năm ngàn bốn mươi tám (5.048) bộ. Một hôm, không ăn, người nhà hỏi duyên cớ, nói: “Muốn cầu thấy Phật!” rồi nằm trên hông phải, qua đời.

Chỉ ngày Mười Ba tháng Năm, xâu chuỗi làm hạn.

Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm Ký, vào đời Minh, Lý Thị là mẹ Lưu Đạo Long, ăn chay trường thờ Phật, khắc kinh Kim Cang tặng cho người khác. Gặp dịp sinh nhật chỉ lễ sám. Một năm trước khi cụ sắp mất, mộng thấy Quán Âm Đại Sĩ trao cho xâu chuỗi, bảo: “Đây là kỳ hạn vãng sanh Tịnh Độ của ngươi”. Đếm xem thì được năm mươi ba hạt. Đến ngày Mười Ba tháng Năm năm sau, cụ bảo người nhà: “Hôm nay ta về Tây Phương”, ngồi ngay ngắn qua đời (trên đây là mười ba cặp, gồm hai mươi sáu điều).

Trì kinh giống như trì danh, tu Thiền có thể thông với tu Tịnh. Hai công đức này chẳng thể nghĩ bàn, đều là một.


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Chủ Nhật, 03 Jan 2016, 1:01 AM
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 03 Jan 2016, 9:30 PM | Message # 53
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
2. Lâm chung hiện tướng lành



Bèn có: Trinh Tường nhiều lượt thấy, Văn Đạt ở nơi đài Bát Nhã.




Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Trần Văn Đạt, người huyện Khích ở Tử Châu, thường trì kinh Kim Cang, nguyện niệm cho cha mẹ đã mất tám vạn bốn ngàn quyển, có nhiều điềm tốt lành. Ông tụng kinh cho người khác, người bệnh đều được lành. Trần Ước là người huyện Đồng Sơn từng bị cõi Âm bắt, thấy dưới đất dựng đài, hỏi thăm thì họ nói: “Đấy là Bát Nhã đài để đợi ông Trần Văn Đạt”. Ông Trần được cõi Âm kính trọng như vậy đó.



Ách nạn tự tiêu, Nguyên Tố thấy lọng rủ trên không.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Trương Nguyên Tố là người Lạc Dương, trì kinh Kim Cang từ bé. Đầu niên hiệu Thiên Thọ, ông làm quan đứng đầu xứ Hoàng Mai. Hễ trong nhà gặp ách nạn, niệm kinh liền hết. Năm bảy mươi tuổi, ông bị bệnh, chợt có lọng hoa rủ trên không, liền tắm gội, giã biệt người nhà, lặng lẽ qua đời.



Tuổi cao tuyệt thực, lưỡi gõ ra tiếng.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, người thợ da Nghiêm Giang ở Tương Thành tuổi trung niên bỏ nghề, lo nấu cơm chay ở chùa Phật. Trên đường đi, chuyên trì kinh Kim Cang và niệm A Di Đà Phật không ngớt tiếng. Năm sáu mươi mấy tuổi, ông chợt tuyệt thực, chỉ uống nước suốt một tháng, lại nói sẽ ra đi vào ngày đó, giờ đó. Đến kỳ hạn, tắm gội, thay áo, ngồi xếp bằng qua đời. Hỏa thiêu thu được mấy vốc xá-lợi, lưỡi cứng như kim thạch, gõ vào kêu ra tiếng. Lúc ấy nhằm năm Chánh Đức thứ 3 (1508).



Sáu tháng không có ruồi, ở gần xác không thấy mùi thối.



Chú thích: Theo Kính Trung Kính Hựu Kính Trưng Nghĩa, vào đầu niên hiệu Thiên Khải đời Minh, ngoài cửa Chánh Dương thành Bắc Kinh có một người lính già, hằng ngày thắp hương tụng kinh Kim Cang. Ông mất năm 73 tuổi, suốt sáu tháng xác chẳng bốc mùi hôi, ruồi chẳng bu tới, ai nấy đều lấy làm lạ.



Tiết Tư Mã siêu sanh cõi trời, nương bóng tràng bước trên không.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Trung Châu Tư Mã là Tiết Nghiêm ăn chay trường, hằng ngày niệm 30 biến kinh Kim Cang. Đến năm 72 tuổi, lúc sắp mất, thấy tràng, lọng, âm nhạc đến đón. Vợ ông ta là Thôi Thị, chính là cô của quan Ngự Sử An Nghiễm. Lúc lâm chung[6], [người nhà] thấy ông Nghiêm nương theo tràng, lọng thong dong bước lên trời, đi mất, gọi cũng chẳng nhìn lại, cả nhà đều ngửi thấy mùi hương lạ.



Châu Tiến Sĩ thoát khỏi thai chó, leo lên cành cây nói kệ.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Tống, ông Châu Tiến Sĩ ở Tô Châu vốn theo đòi cử nghiệp, chưa hề nghe Phật pháp. Ngẫu nhiên sang chơi chùa Hổ Khâu, nghe ngài Phật Ấn giảng kinh Kim Cang đến phần giảng về bốn câu “nhất thiết hữu vi pháp”, [tâm cảm thấy] vui vẻ chưa từng có. Do vậy, muốn tham cứu tông chỉ, ý nghĩa của toàn bộ cuốn kinh. Nhằm lúc ngủ trưa, ông mộng thấy một gã áo xanh áp tải năm người, ông Châu theo sau, đi chừng hai dặm, đến một phố lớn, rồi rẽ vào trong ngõ, vén tấm rèm bằng vải màu xanh vào nhà người ta. Đến nhà bếp, [thấy] trong thùng có canh, năm người đều uống. Ông Châu cũng muốn uống, nhưng người áo xanh, ngăn lại bảo: “Người nghe Phật pháp chẳng được uống”, liền giật mình tỉnh giấc. Ông Châu bèn đi theo lối đã nhớ, đến phố lớn, vào trong ngõ, quả nhiên có căn nhà của người ta giống hệt như trong mộng. Ông Châu gõ cửa, bước vào hỏi trong bếp có chuyện gì lạ không? Chủ nhân nói: “Trong bếp có sáu con chó mới sanh, một con đã chết”. Ông Châu kinh hãi đẫm mồ hôi, tự nhủ: “Nếu chẳng nghe Phật pháp thì đã vào thai chó rồi”. Do vậy, chuyên trì kinh Kim Cang, thọ tới 89 tuổi. Ngày Rằm tháng Tám, ông mời các đạo hữu khắp các chùa đến từ biệt, trèo lên cành cây ở sau vườn, nói kệ rằng:



Bát thập cửu niên Châu Công,

Lưỡng thủ phách phá hư không,

Cước đạp phù vân phấn toái,

Lập hóa Bồ Đề thụ đông.


(Ông Châu tuổi sắp chín mươi,

Chỉ còn thiếu một mùa Xuân vừa tròn,

Hai tay phá nát hư không,

Phù vân chân đạp vỡ cho tan tành,

Phía Đông cội gốc Bồ Đề,

Đứng yên sừng sững thoát vòng trần gian)



Gieo mình xuống, đứng sững trên mặt đất, qua đời.



Đắc sáu chữ vô tướng, ông Châu thấy đũa ngọc rủ xuống.



Chú thích: Theo Kim Cang Tân Dị Lục, vào đời Minh, Văn Khác Công Châu Quốc Tộ làm quan Tu Soạn thời Vạn Lịch. Ông được thăng chức Đại Học Sĩ thời Thiên Khải. Hằng ngày ắt đóng cửa tụng kinh Kim Cang một quyển, thường bảo con: “Ta vốn tươi héo chẳng đoái, thuận nghịch hệt như nhau, chỉ là nhờ sức của sáu chữ vô ngã tướng, vô nhân tướng”. Năm Thiên Khải thứ 4 (1624), ông biết trước lúc mất, ngồi ngay ngắn qua đời, từ trong mũi thò ra chiếc đũa ngọc.



Dặn lưu thân ba năm, bà Ngô chứng kim cang bất hoại.



Chú thích: Theo Hiện Quả Tùy Lục, vào đời Thanh, Đường Ngô Thị là người xứ Tế Ninh, ngụ cư tại Tùng Giang. Thoạt đầu tánh tình hung bạo, chẳng dung người khác. Năm bốn mươi ba tuổi mới bắt đầu ăn chay trường. Trong ngôi lầu nhỏ, hằng ngày tụng kinh Kim Cang suốt sáu năm. Đến năm bốn mươi chín tuổi, chợt bảo với mọi người: “Ta sẽ đi trong ngày đó. Kinh nói ‘kim cang bất hoại thân’, sau khi ta mất hãy giữ xác ba năm để chứng nghiệm kinh dạy chẳng dối”. Bà nói kệ qua đời. Ba năm sau, mở khám ra, quả nhiên thân chẳng hư, tóc trên đỉnh đầu mọc dài nửa tấc. Đề Đốc Lương công sai người dùng sơn phủ xác, dựng am.



Áo trời giáng xuống, dẫn Sư thượng thăng.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, Triệu Văn Tín ở Toại Châu chết đột ngột, đến chỗ Diêm Vương, đồng bạn mười người. Trong số ấy có một vị Tăng, vua hỏi lúc còn sống tu công đức gì. Tăng đáp: “Tụng kinh Kim Cang”. Vua giật mình, đứng dậy, chắp tay, khen ngợi: “Lành thay! Lành thay! Sư tụng Bát Nhã đáng sanh lên trời, sao lại đến lầm nơi này!” Nói chưa xong, có áo trời thòng xuống, dẫn Sư thăng lên trời. Văn Tín sống lại, thuật đầy đủ mọi chuyện.



Lưu thân nơi Địa Tạng, hoàn kinh, cười giã biệt.



Chú thích: Theo Tân Dị Lục, vào đời Minh, Thí Phong Dương ở phố Giác Lý, phủ Gia Hưng, quen thân với vị Tăng chùa Đông Tháp là Hữu Hằng. Phong Dương già bệnh, quỳ tụng kinh Kim Cang, hằng ngày ắt tụng mấy quyển. Ngày mồng Tám tháng Giêng năm Bính Tý (1636) đời Sùng Trinh, ông tụng kinh chưa xong đã mất. Ba ngày sau, lúc sắp đóng nắp hòm, chợt hoàn hồn, bảo: “Ta nhờ sức kinh nên không thuộc quyền cai quản của Diêm Vương, mà [lưu lại] ở chỗ Địa Tạng Bồ Tát. Bồ Tát do thấy tụng kinh chưa hết quyển nên cho về lễ tụng, chỉ vì hơi thở khò khè, chẳng thể tự tụng, phải thỉnh sư Hữu Hằng tụng thay, chứ người khác thì vô ích”. Nhằm đúng lúc thầy Hữu Hằng phải đi việc khác, bèn đợi một hôm. Khi sư Hữu Hằng đến, ông nghe tụng kinh xong, giơ tay cảm tạ Hữu Hằng, mỉm cười, ra đi.



Lý Nguyên Tông tắm gội, ngồi mất.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Tống, Lý Nguyên Tông ở huyện Giang Lăng, Kinh Châu có đứa con gái hằng ngày tụng kinh Kim Cang ba quyển. Cô ta bị bệnh, mất đi, Diêm Vương thấy đầu [cô ta] có Phật quang, bèn thả về, dặn rằng: “Cha ngươi ưa bắt cá sống, thái làm chả, đã ăn hơn bảy ngàn con cá. Chúng nó kêu oan, đòi mạng. Trở về hỏi cha ngươi: Đêm mộng thấy lọt vào lưới, sáng ra nhức đầu. Đấy chính là lũ cá đòi báo thù vậy”. Con gái tỉnh lại, kể với cha. Nguyên Tông hết sức sợ hãi, bèn trai tăng một trăm vị, dứt rượu thịt, chép bốn mươi chín quyển kinh Kim Cang. Mộng thấy mấy ngàn bé trai mặc áo xanh đến lạy, thưa: “Chúng tôi ôm lòng oán, nay nhờ công đức chép kinh mà lìa đường khổ, sanh vào đường lành”. Nguyên Tông từ đấy trì kinh càng thêm kiền thành, thọ đến một trăm hai mươi tuổi, không bệnh tật gì, tắm gội, ngồi qua đời.



Nhan Quang Dũ ngõ hẻm ngửi mùi hương.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, Nhan Quang Dũ nhiều đời theo Nho học. Một hôm, cùng với những vị hương thân kỳ lão vào hội Kim Cang nghe kinh, hớn hở, thán phục, muốn thấu suốt tông chỉ, nhưng do làm quan nên chưa rảnh rỗi. Về sau, trông coi huyện Thái Hoà, bị bệnh, mộng thấy hai người áo xanh lôi vào âm phủ, cảnh tượng tối tăm, thê thảm, nghiêm ngặt. Nha lại tâu với vua: “Quang Dũ hiếu sát, có vô số sanh linh đòi mạng”. Vua phán đem chiên dầu. Quỷ đầu trâu dùng chĩa xiên bỏ vào vạc [dầu] sôi, thấy [Quang Dũ] hoa sen phủ khắp thân, [dầu trong vạc đang] sôi trào bèn trong lặng. Vua chắp tay mời gặp, sai tra sổ ghi điều lành thì thấy có công trì tụng Bát Nhã một ngày, gieo được thân kim cang bất hoại này, liền tha về để khuyên người đời. Từ đấy trở đi, Quang Dũ khóa tụng chẳng thiếu sót, khắc thí kinh Kim Cang sáu ngàn quyển, làm quan đến chức Đại Tham, thọ tới bảy mươi tuổi. Lâm chung, mùi thơm tỏa ngát cả ngõ, dặn dò con cháu thọ trì kinh này. Cháu đời thứ sáu mươi sáu của ông Nhan là Bác Sĩ[7] Bá Khiêm ghi.



Nghe câu vô ngã, vô nhân, Vương Tiều chắp tay.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, vào đời Minh, Vương Tiều làm quan Hữu Đô Ngự Sử dưới thời Vạn Lịch, bị bệnh, con là Khẳng Đường xin cha nghe tụng kinh Kim Cang. Đến câu “vô ngã tướng, vô nhân tướng”, Vương Tiều mỉm cười bảo: “Phiền não vốn không, ngã tướng ở chỗ nào?” rồi ngồi dậy, chắp tay, qua đời.



Tụng đến câu “một Phật, hai Phật”, bà Tiền ngừng thoi.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, vợ ông Tiền Vĩnh Minh ở Tú Thủy là Trương Thị thờ Phật tinh thành, chuyên dốc. Hằng ngày dệt một tấm vải, vừa dệt vừa tụng kinh cả mười quyển, lấy đó làm thường khóa. Một hôm bà Trương mới dệt, tụng đến câu “nhất Phật, nhị Phật, tam, tứ, ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở, chủng chư thiện căn” ([chẳng phải] gieo thiện căn ở nơi một đức Phật, hai đức Phật, hay ba, bốn, năm đức Phật, mà là đã ở chỗ vô lượng ngàn vạn đức Phật gieo các căn lành), chợt ngừng thoi, chắp tay. Con dâu cảm thấy lạ, cất tiếng gọi thì bà đã nhắm mắt, ngồi qua đời. Khi ấy nhằm mồng Bốn tháng Bảy năm Canh Thân (1620) đời Vạn Lịch.



Thọ Bát Quan Trai Giới, đỉnh đầu nóng bừng.



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, đời Đường, vợ ông Hà Chẩn là Lưu Thị trì kinh Kim Cang từ nhỏ, nguyện chỉ sống bốn mươi lăm năm, biết trước lúc mất, nhất tâm bất loạn. Đến năm 45 tuổi, bỏ hết của cải để cúng dường Tăng chúng, giã biệt khắp mọi người thân thích. Hôm Ba Mươi Tết, thỉnh Tăng truyền Bát Quan Trai Giới, tắm gội thay áo, ở riêng một phòng, ngồi xếp bằng tụng kinh. Trong khoảnh khắc, lặng lẽ qua đời, đỉnh đầu nóng bừng cả tay [người sờ vào]. Ông Chẩn mời Tăng làm lễ tang, dựng tháp cạnh lớp tường phụ phía Bắc thành Kinh Châu. Khi ấy nhằm năm Thái Hòa thứ 4 (830).



Niệm danh hiệu bảy chữ, miệng tỏa sáng chói ngời.



Chú thích: Theo Kim Cang Tân Dị Lục, vào đời Minh, vợ ông Vương Đức Dụng là Đào Thị không tin Phật pháp. Bệnh ngặt, thấy quỷ tốt bảo: “Khi ngươi hết tuổi thọ sẽ đọa trong ác đạo”. Chợt địa ngục hiện tiền, bà Đào hết sức hoảng sợ, nhớ vị Tăng đã tụng bảy chữ “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh” bèn tận lực trì tụng đến mấy ngàn biến, địa ngục liền ẩn mất. Trong khoảnh khắc có quang minh năm màu từ miệng túa ra, bèn mất. Trên hư không có tiếng nói: “Đào Thị sanh vào đường lành”.



Hiện bệnh một hôm, người đầy tớ họ Phạm biết chỗ sanh về.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, cư sĩ Vương Tải Sanh lúc nhỏ thấy người đầy tớ họ Phạm ở phường Báo Trung phủ Gia Hưng gánh rau ra chợ, miệng lầm rầm không ngớt, mỗi sáng thức dậy, ắt quỳ tụng vài quyển kinh Kim Cang. Về sau, người ấy xuất gia, làm việc siêng nhọc, chưa từng than mệt. Chợt một hôm, thị hiện bị bệnh, bảo mọi người rằng: “Đời trước, tôi vì tụng kinh Kim Cang biếng nhác nên bị phạt làm đầy tớ của người ta, nay hạn đã mãn, sẽ sanh về nơi tốt lành”, rồi nhắm mắt [qua đời].



Nghe kinh mấy năm, ngỗng trắng đứng qua đời.



Chú thích: Theo Tân Dị Lục, đầu thời Vạn Lịch nhà Minh, các quan Thị Trung Chung Phục Tú và Từ Tôn Thọ cùng sống trong ngõ La Gia ở kinh thành. Biệt viện gồm mấy gian tịnh thất, hai ông xếp chỗ ngồi kế nhau để trì kinh Kim Cang. Có hai con ngỗng trắng đi đứng đều có đôi, nghển đầu nghe tiếng tụng kinh. Mấy năm sau, hai con ngỗng cùng đối trước án kinh, đứng qua đời (trên đây gồm chín cặp, mười tám điều).



Sự tuy kém Lạc Bang, nhưng ắt sanh về đường lành. Đây là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ hai vậy.



3. Được trường thọ



Bèn có: Hiện tượng quang minh, tài thầy bói chẳng linh.




Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, trong niên hiệu Thiên Giám (502-519) đời Lương, có Viêm pháp sư thuở bé có thầy tướng bảo: “Chỉ thọ được 18 tuổi”. Sư bèn ngày đêm tụng kinh Kim Cang. Một đêm, trong nhà hiện quang minh năm màu, thấy có Phạm tăng bảo: “Ông trì kinh được tăng thọ”. Nói xong, chẳng thấy nữa. Về sau, vào năm chín mươi hai tuổi, Sư ngồi mất.



Đuốc lửa chuyển trên không, em trai tiên đoán.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Đường, vợ ông Trần Quốc Bảo là Lô Thị, là chị của Nhuế Công Khoan, thường tụng kinh Kim Cang. Chưa hết quyển, bị nhức đầu, đến đêm càng đau dữ, sợ chết mà không tụng hết quyển, tìm lửa [để thắp đèn] thì lửa đã tắt. Chợt trong bếp có ngọn đuốc tự di chuyển, cách mặt đất ba thước, lên nhà, vào phòng, bà Lô kinh ngạc, vui mừng, tụng hết kinh. Từ đấy, hằng ngày tụng kinh năm lượt. Về sau, Nhuế Công sắp mất, bảo: “Chị nhờ sức kinh sẽ được trường thọ, sanh về chỗ tốt”. Về sau, năm tám mươi tuổi, bà Lô không bệnh tật mà mất.



Quỷ bày vẽ kế, tăng thọ, làm quan đến Tể Tướng.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Đậu Đức Nguyên làm quan lớn[8], được vua sai sang Dương Châu. Chiều tà, vượt sông Hoài, thuyền đã rời bờ, thấy trên bờ có một người không có thuyền để qua sông, bèn quay thuyền lại chở đi. Thấy người ấy đói, lại cho ăn. Hỏi đi đâu? Người ấy đáp: “Tôi là quỷ sứ, qua Dương Châu bắt Đậu Đức Nguyên”. Đức Nguyên hoảng sợ, lạy hỏi kế sách. Quỷ bảo hãy mau niệm kinh Kim Cang một ngàn quyển. Hơn một tháng đã đủ số. Quỷ mời cùng đi gặp Diêm Vương. Một người áo tía bước xuống bệ, chắp tay chào: “Ngài có công đức lớn, vẫn chưa phải đến đây”, bèn thả về, thì ra đã chết hơn một đêm rồi. Về sau, ông Đậu làm quan đến chức Tả Thừa Tướng, thọ sáu mươi bốn tuổi.



Vua hứa thả về, đuổi quỷ, thọ đến già lụn.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, đời Đường, Vương Đà hằng ngày tụng năm biến kinh Kim Cang. Bị bệnh, thấy quỷ đến, ông tụng kinh, quỷ lui bước, từ xa nói vọng lại: “Vua sai ta đến bắt ông, hãy ngưng tụng kinh”. Ông ngừng tụng bèn hôn mê sắp chết. Lại có một quỷ đến nói: “Vua truyền tạm tha người niệm kinh sáu tháng”. Ông bèn tỉnh lại, trì tụng không thiếu sót, thọ đến chín mươi.



Bà cụ nơi cầu sông Vị, pháp thí trọn khắp thân thích, xóm giềng.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, đời Đường, Ngô Tư Nguyên từng thấy ở cầu sông Vị một cụ già tuổi ngoài tám mươi đang chăm sóc mẹ đẻ. Ông lấy làm lạ, [hỏi thăm] thì cụ già đáp: “Có vị dị tăng dạy mẹ tôi tụng kinh Kim Cang sẽ được trường thọ. Mẹ hằng ngày niệm hai biến, thọ một trăm lẻ bảy tuổi. Dì và bà cụ hàng xóm tụng theo, đều sống hơn trăm tuổi”.



Giám môn tướng quân, được thiện thần ủng hộ.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, Ngụy Tuân làm Giám Môn Vệ Đại Tướng Quân, trì kinh Kim Cang. Khi ấy, có Thái Sách Giả chết đột ngột, mấy ngày mới sống lại, nói: “Diêm phủ do bắt người không được, bèn đánh đòn sứ giả. Sứ giả nói: ‘Ngụy Tuân trì kinh Kim Cang, thiện thần ủng hộ, bắt chẳng được’. Thay sứ giả khác thì họ cũng đều báo như vậy”. Ngụy Tuân nghe nói, càng thêm tinh tấn.



Kỳ Hoàn gởi văn thư, thưởng công hai mươi năm .



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, Tôn Minh ở Dương Vũ, Trịnh Châu hằng ngày trì kinh Kim Cang hai mươi biến. Về sau, bị nha lại cõi âm dẫn đến gặp Diêm Vương. Vua nói: “Hôm qua nhận được văn thư từ Kỳ Hoàn gởi tới, [cho biết ông] niệm kinh Kim Cang siêng năng, thành khẩn, tăng thọ hai mươi năm” bèn thả về. Chữ Nhập (廿) đọc là Nhập, nghĩa là hai mươi[9].



Sư viện Bát Nhã, tám mươi vẫn sống khỏe mạnh.



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, vào đời Đường, sư Pháp Chứng thuộc Bát Nhã Viện chùa Khai Nguyên tại Giang Lăng mỗi ngày trì kinh Kim Cang. Đầu niên hiệu Trường Khánh (821-824), bị bệnh chết, vào cõi âm, thấy có người giống như vua chắp tay, mời Sư ngồi nơi tòa thêu[10], niệm kinh bảy biến. Thị vệ chắp tay, dưới bệ ngưng hình phạt. Vua xuống bệ tiễn về, bảo: “Thượng nhân tăng thọ ba mươi năm”. Vị Tăng tên Thường Tĩnh ở Kinh Châu đích thân thấy Sư sống lại. Pháp Chứng đã tám mươi vẫn còn sống.



Tấn Triều chia sẻ công đức, rốt cuộc khiến đem mận thay đào.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Đổng Tấn Triều thường trì kinh Kim Cang, đem một phần công đức nguyện chia sẻ cho cõi âm. Một đêm, nhằm lúc trăng sáng, thấy ở dưới thành có bốn người bảo nhau: “Nhờ ơn Đổng Tấn Triều đã lâu, làm sao giết được? Bây giờ, trước cửa nhà ông ta có một người cùng họ, cùng tuổi, thọ mạng đã đến, có thể đem thay vào”. Chợt không thấy họ đâu nữa. Đến sáng, nghe nói con của người [hàng xóm] trước cửa đã chết bất ngờ.



Hồng Chánh ngẫu nhiên cùng tên họ, bèn khiến chim hồng vướng lưới cá.



Chú thích: Theo Tống Cao Tăng Truyện, vào đời Đường, vị Tăng tên Hồng Chánh ở một ngôi chùa nơi đất Thục, có họ ngoài đời là Thường, hằng ngày trì hai mươi biến kinh Kim Cang. Vị Tăng ở gần đó là Thủ Hiền ban đêm tịnh tọa, thấy hai con quỷ nói lén với nhau: “Sư Hồng Chánh thầm niệm Bát Nhã, đại thần bảo vệ, chẳng thể đến gần được. Hạn bị trách phạt đã quá gần, đành bắt Thường Hồng Chánh ở cửa Đông là kẻ cũng từng làm Tăng cho xong trách nhiệm”. Thủ Hiền cả kinh, ngày hôm sau hỏi thăm Thường Hồng Chánh thì ông ta đã chết. Chữ Ly (离) phải hiểu là lệ (麗: dính mắc). Kinh Thi có câu: “Ngư võng chi thiết, hồng tắc ly chi”[11].



Chẳng thẹn giường ngự, sa-môn khiến thầy tướng băn khoăn.



Chú thích: Theo Tục Cao Tăng Truyện, sư Trí Tạng là người đời Lương. Do Vũ Đế cấm sa-môn ngồi lên giường ngự. Sư bèn lên tòa, nói: “Ta trước kia là chàng họ Cố ở Ngô Trung còn chẳng thẹn ngồi giường ngự, huống chi nay là con nhà họ Thích có tổ tiên là Định Quang Kim Luân ư?” Vũ Đế cảm tạ, bãi bỏ chiếu lệnh. Có thầy tướng nói: “Sư chỉ thọ được ba mươi mốt tuổi”. Khi ấy, ngài Trí Tạng mới hai mươi chín tuổi, bèn tụng kinh Kim Cang không thiếu sót. Về sau, thầy tướng gặp lại, kinh hãi nói: “Yểu tướng hoàn toàn chẳng còn nữa, đến ngoài sáu mươi mới mất” (Chữ Tạp (卅) âm Tát[12], là ba mươi).



Ngẫu nhiên qua Hà Kiều, mừng vợ hiền trông đợi.



Chú thích: Theo Ký Văn Lục, trong niên hiệu Thiên Bảo đời Đường, Trương Vô Vi đi xa về. Nửa đêm, ngồi nghỉ mệt dưới chân cầu, có mấy chục kỵ sĩ phóng đến cầu liền dừng ngựa, truyền lệnh bắt vợ ông ta và mười mấy người cùng làng như ông Vương v.v... Chỉ có mình vợ Vô Vi đang tụng kinh Kim Cang, cát thần ủng hộ, nên bắt không được. Vô Vi trở về, thấy vợ còn đang tụng kinh, nói: “Anh chẳng thường ngủ lại ở bên ngoài nên em tụng kinh để đợi”. Trời sáng, nghe nhà hàng xóm ở phía Nam có tiếng khóc, ông Vương đã chết rồi! Vợ chồng bèn ăn chay, trì kinh, rốt cuộc được trường thọ.



Mười mấy năm công hạnh hoàn mãn, thọ quá bảy mươi.



Chú thích: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, trong năm Tân Hợi (1611) thời Vạn Lịch nhà Minh, đại thương gia Hồ Nhiên ở Hoài Bắc đã bốn mươi tuổi mà chưa có con. Có vị Tăng khuyên thí kinh Kim Cang một tạng và chôn cất xương người chết bị phơi bày. Ông làm như thế mười mấy năm, công hạnh hoàn mãn, mời bốn mươi chín vị Tăng cử hành đạo tràng suốt bảy ngày bảy đêm. Về sau, người thiếp sanh được ba con trai, vợ chồng thọ ngoài bảy mươi.



Ba ngàn biến, thiện quả viên thành, tăng thọ mười lăm năm.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, Tham Quân Điền X... ở Dịch Châu thích săn bắn, trì kinh Kim Cang mấy năm. Chết đột ngột, vào địa phủ, các loài chim, thú vây quanh kín cả mấy mẫu đất đòi mạng. Vua sai tra hỏi, mười người cùng đi đến nha sở. Nha lại truyền há miệng, dùng một hoàn sắt ném vào miệng, liền biến thành lửa nóng. Trong khoảnh khắc, cháy tan thành tro, thân hình lại khôi phục, sáu bảy lượt như thế. Đến phiên ông Điền, đã quăng liên tiếp ba viên mà chẳng cháy. Vua hỏi làm phước nghiệp gì, đáp: “Tụng kinh Kim Cang hơn hai ngàn biến”. Vua truyền hãy tụng, mới tụng được ba trang thì chim thú chẳng thấy đâu nữa. Vua nói: “Tụng đủ ba ngàn biến, thọ thêm mười lăm năm”, bèn tha về.



Tăng Sở Thạch chuyên trì, khuyến hóa, ngang hàng với Bạch Đằng, Vô Cực.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, trong niên hiệu Chánh Đức đời Minh, ở Nam Nhạc có vị Tăng tên Sở Thạch chuyên trì kinh Kim Cang. Có ai đến khất pháp, liền dạy trì kinh Kim Cang. Sư thọ 171 tuổi mới hóa. Cùng thời có hòa thượng Bạch Đằng, hòa thượng Vô Cực cũng chuyên khuyến hóa trì kinh Kim Cang. Ngài Bạch Đằng mất năm 130 tuổi, ngài Vô Cực tịch năm 124 tuổi.



Trần Nhập Huyền chóng đốn ngộ trường sanh, chỉ dặn dò gặp Phật bỏ tiên.



Chú thích: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, trong niên hiệu Tuyên Đức đời Minh, đạo sĩ Trần Nhập Huyền ở Hạc Minh Quán tại Xuyên Tây chí cầu trường sanh, cầu thần truyền pháp. Đêm thấy một người tự xưng là thần Kim Cang, bảo: “Ông hãy qua Mân Sơn, lễ hòa thượng Trí Dung, ngài sẽ truyền pháp cho ông”. Huyền theo đúng lời, đến đó hỏi. Ngài Trí Dung bảo: “Kinh Kim Cang dạy: ‘Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Huyền hỏi: “Đã như bọt, bóng, làm sao nói là trường sanh?” Ngài Trí Dung dạy: “Nếu thấy hết thảy tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy Như Lai”. Lại nói: “Tức chẳng phải Như Lai nên gọi là Như Lai”. Huyền đốn ngộ ngay nơi lời ấy, bèn trở về, ẩn trong Hổ Cứ Nham (rặng hổ ngồi) của Ngõa Ốc Sơn, sống đến 98 tuổi. Một hôm, nhóm họp bạn bè bảo: “Thoạt đầu ta dốc chí nơi đạo trường sanh của tiên gia, nay may mắn đạt được sự trường sanh nhà Phật, xin các ông hãy đạt được điều tôi đã đắc”. Nói xong, nhắm mắt, qua đời,



Thiếu Phong lắm con trai, tăng thọ.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, vào đời Minh, Đặng Thiếu Phong là người Giang Tây, các thầy bói đều bảo: “Ít con, yểu thọ”, bèn phát tâm tụng kinh Kim Cang cầu thọ, cầu con. Năm Nhâm Ngọ (1642) đời Sùng Trinh, ông mất, thọ 95 tuổi, mười ba đứa con trai, ba mươi sáu đứa cháu.



Phùng Cần tích đức, tăng thọ.



Chú thích: Theo Tân Dị Lục, trong niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh, người đầy tớ giữ cửa của ông Mao Lộc ở Quy An tên là Phùng Cần, bị đoán là yểu mạng. Một vị Tăng dạy anh ta niệm kinh Kim Cang để tăng thọ, nhặt giấy chữ đem thiêu để tích đức. Phùng Cần thọ trì chẳng biếng nhác. Năm 95 tuổi, không bệnh gì, qua đời, hai con, bốn cháu (trên đây tổng cộng 9 cặp, gồm 18 điều).



Tuy nói yểu, thọ chẳng hai, đủ biết thần cảm đưa tới. Đây chính là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ ba.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 06 Jan 2016, 1:08 AM | Message # 54
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
4. Được hồi sinh



Bèn có: Vung tích trượng mở thành, Văn Sách nâng chéo áo ca-sa.




Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Tùy, Mộ Dung Văn Sách ăn chay, tụng kinh Kim Cang. Một hôm, chết đột ngột, vào cõi Âm. Diêm Vương chắp tay, khen ngợi công đức rất lớn, sai thả về. Chợt thấy hai vị Tăng cầm đuốc dẫn đường cho Văn Sách, liền kéo chéo áo ca-sa hỏi. Vị Tăng nói: “Do ông trì kinh nên chúng tôi đến bảo vệ, hãy nên đi theo ánh đuốc”. Ra khỏi cửa thành, Tăng bèn chỉ một ngôi thành lớn, bảo: “Đấy là địa ngục”. Văn Sách chẳng nỡ nhìn, đến một con đường có bức tường ngang chắn lối. Vị Tăng dùng tích trượng gõ vào, tường liền tách ra, bảo: “Nên đi theo lối này” liền sống lại.



Nghe kinh trở về nhà, Nghĩa Phương vẽ tranh địa ngục.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Thứ Sử Quát Châu là Nhậm Nghĩa Phương người xứ Lạc An, chết trong niên hiệu Vũ Đức, mấy ngày sau, sống lại, tự kể: “Bị dẫn đến gặp Diêm Vương, vua truyền coi địa ngục, chẳng khác gì trong kinh Phật đã dạy. Dưới đất ngày hay đêm đều tối tăm, như đi trong sương mù. Người nhà do thấy Nghĩa Phương tim còn ấm nên mời tăng tụng kinh Kim Cang. Nghĩa Phương liền nghe tiếng, Diêm Vương thấy tuổi thọ chưa hết nên thả về. Người đưa về dặn: “Cứ theo tiếng tụng kinh sẽ về đến nhà”. Đã sống lại, do bàn đến chuyện địa ngục bèn vẽ tranh tả cảnh địa ngục.



Em gái Vương Tùng Quý đã đắp mộ, nghe tiếng rên rỉ bèn mở ra xem.



Chú thích: Theo Dậu Dương Tạp Trở, trong niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường, em gái Vương Tùng Quý ở thôn Sạn Lăng, huyện Công An, thường trì kinh Kim Cang. Đột nhiên bạo bệnh chết, chôn đã ba ngày, người nhà viếng mộ, nghe trong mộ có tiếng rên rỉ, mở hòm ra xem, quả nhiên còn thở. Chở về nhà mấy ngày mới nói được, kể: “Cõi Âm do thấy tôi trì kinh có công đức nên cho về”.



Con gái Lý Nguyên Nhất chết nơi biệt viện, nhờ chép, đọc mà nói được.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, trong niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường, quan Tư Mã xứ Nhiêu Châu là Lý Nguyên Nhất có đứa con gái sống ở biệt viện, chết đột ngột. Chồng cô ta là Nghiêm Nột thấy hồn vợ ở trên mặt nước Thương Hồ, nói năng như còn sống, dặn chồng hãy thay mình cầu khẩn Nghiêm phu tử ở thôn Nhạn Phố. Ông Nghiêm bèn dạy chép kinh Kim Cang, thỉnh Tăng tụng niệm bảy biến. Cô ta quả nhiên mở mắt, trong khoảnh khắc có thể nói được.



Săn bắn hại mạng, may rút kinh mà được hiệu nghiệm.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Lý Khưu Nhất làm quan tại huyện Cao Bưu, Dương Châu, thích đem chim ưng và chó đi săn. Một hôm, chết đột ngột, bị lôi đến gặp Diêm Vương. Các loài chim thú nói tiếng người đòi mạng. Ông Lý nói: “Tôi từng chép một quyển kinh Kim Cang”. Vua sai lục trong kinh tạng, quả nhiên là thật. Vua chắp tay nói: “Công đức ấy tối thượng”, bèn gọi những con vật đã bị giết lại để trình bày, xin [chúng cho ông Khưu Nhất] tạ lỗi, Khưu Nhất nguyện chép một trăm quyển kinh nữa, ai nấy đều hoan hỷ cho về. [Khưu Nhất] thân đã nằm trong quan tài, tung nắp hòm ngồi dậy. Thứ Sử Dương Châu tâu chuyện này lên. Vua hạ chỉ thăng Khưu Nhất lên Ngũ Phẩm, giữ chức Chiêu Thảo Sứ ở Gia Châu.



Người dê đổi lốt, hứa thôi ăn thịt được hồi sinh.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Diêu Đãi ở Tử Châu trì kinh Kim Cang, lại còn vì mẹ tạo một trăm bộ kinh. Có người giết dê, gọi Diêu Đãi đến ăn, [ăn xong] liền chết ngay, gặp Diêm Vương hỏi: “Sao lại ăn thịt?” Diêu Đãi thưa: “Tuy ăn thịt vẫn trì kinh”. Vua khen là lành, dạy hãy thôi ăn thịt, bèn cho sống lại.



Lô Thị lên tòa cao, cười gã áo vàng bắt lầm.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, trong niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, ở Hoạt Châu có Lô Thị trì kinh Kim Cang. Một hôm bị hai người mặc áo vàng bắt vào cõi âm, thấy mấy chục người đều mặc áo đội mão, phía sau họ quá nửa là nằm trong lưới, hoặc không có áo, hoặc đầu trần. Nha lại nói: “Người lành thì có áo mão, những kẻ ở trong lưới đều do mắc tội nặng. Nếu vì họ thuyết pháp, họ đều được lên cõi trời. Lô Thị liền ngồi trên tòa cao, tụng tên kinh Kim Cang, những kẻ ở trong lưới đã ngoi đầu ra, tụng đến nửa kinh, họ đều thoát ra ngoài đất. Tụng kinh xong, họ vãng sanh hết. Diêm Vương gọi Lô Thị là “pháp sư”, cho sống lại.



Đậu công ngẫu nhiên tạo thuyền từ, được người áo tía bước xuống bệ, vái lạy.



Chú thích: Xem lời chú thích trong câu thứ hai của phần số 3 “đắc trường thọ”, tức câu “quỷ vì tính kế”.





Ắt phải cấm ăn hạt Ý Dĩ, điều khai giá trong Luật càng nghiêm.



Chú thích: Theo Dậu Dương Tạp Trở, trong niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường, vị Tăng tên Trí Đăng ở chùa Thiên Sùng tại Kinh Châu trì kinh Kim Cang, bị bệnh chết. Bảy ngày sau sống lại, nói: “Do niệm kinh nên Diêm Vương bước xuống bệ chắp tay đón, nói: “Thượng nhân còn ở đời mười năm, hãy gắng thoát sanh tử”. Vua lại nói các vị Tăng trong nhân gian sau Ngọ ăn hạt Ý Dĩ[13] và dùng các thứ thuốc, điều này trái nghịch Phật giáo rất lớn. Trí Đăng thưa: “Trong Luật có những điều khai giá[14]”. Vua bảo: “Đấy là do người đời sau thêm vào, chẳng phải là ý Phật”. Hiện thời, chư Tăng ở Kinh Châu sau Ngọ không uống thuốc.



Lá sen làm thức ăn, công đức của kinh khôn sánh.



Chú thích: Theo Tống Cao Tăng Truyện, đầu thời Đường Chiêu Tông, sư Thích Ninh chết đột ngột, ba ngày sau sống lại, kể: “Vào cõi âm, phán quan nói: - Hòa thượng tuổi thọ hãy còn nhưng không có lộc, chỉ có ba thạch lá sen khô. Nay trở về dương gian, hãy nên tụng nhiều kinh Kim Cang, cứu vớt cõi âm, công đức khôn sánh”. Thích Ninh sau khi sống lại, hằng ngày chỉ uống canh lá sen.



Niệm trước đừng bỏ, Cao Thiệp may được trở về.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, mùa Đông năm Thái Hòa thứ 7 (833) đời Đường, Cấp Sự Trung Lý Công Thạch làm Hành Quân Tư Mã ở Thái Nguyên. [Thuộc hạ của Lý Công Thạch] là Khổng Mục[15] Cao Thiệp ban đêm bị một người chém, dẫn vào cõi âm. Thiệp hoảng sợ, chỉ niệm kinh Kim Cang, gặp quan Điển Sứ xưa kia là Đoàn Di Tiên, từng là anh em kết nghĩa với Thiệp, bảo: “Kinh Kim Cang đã niệm trước đây đừng để quên mất. Nay ngươi được trở về chính là do sức kinh”. Do vậy bèn đưa về tới nhà, thì đã chết qua một đêm rồi. Chỗ bị chém xanh bầm mấy ngày.



Đối diện tụng chẳng sót, Văn Xương được trở về.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, năm Khai Hoàng thứ 11 (591) đời Tùy, Đại Phủ Tự Thừa là Triệu Văn Xương chết đột ngột, đến chỗ vua Diêm La. Vua do thấy ông ta chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cang, khen ngợi: “Lành thay!” Sai lấy kinh Kim Cang từ trong kinh tạng mang đến chỗ vua. Một người cầm quyển kinh đứng ở phía Tây, Văn Xương đứng ở phía Đông, đối trước kinh đọc tụng, chẳng sót một chữ, bèn thả về. Vua sai dẫn Văn Xương đi theo cửa Nam ra, thấy Châu Vũ Đế[16] trong căn phòng ở bên cửa, đeo ba tầng gông xiềng, kêu Văn Xương bảo: “Ta diệt Phật pháp, tội nặng, xin hãy báo với hoàng đế nhà Tùy tạo một chút công đức cho ta ngõ hầu thoát được địa ngục”. Đến khi ra, thấy một hầm phân to, bên trong có đầu người nhô lên. Hỏi ra thì đấy là Bạch Khởi[17], tướng nhà Tần! Văn Xương về đến nhà, sống lại, liền tâu lên vua. Vua truyền trong thiên hạ mỗi người bỏ ra một đồng vì Châu Vũ Đế tụng kinh Kim Cang, lập đại trai đàn cúng dường ba ngày.



Nợ một ngàn năm trăm đồng, Phật Nhi suýt biến thành chó vá.



Chú thích: Theo Thọ Trì Linh Nghiệm Ký, con gái ông Trương Ngọc ở Sơn Tây tên là Phật Nhi thích tụng kinh điển. Một hôm, chết đột ngột, nửa ngày sau, sống lại, kể: “Bị hai con quỷ bắt qua Xoa Lãnh, trước hết thấy quỷ dùng mền đen bọc hai người bỏ vào nhà họ Trần. Lại dùng cái mền hoa bọc con và nói: ‘Mày nợ ông ta một ngàn năm trăm đồng, nay phải qua đó trả nợ’. Chợt một người áo xanh lục chặn đằng trước, bảo: ‘Người này niệm kinh Bát Nhã, hãy dung thứ’. Do vậy, trợt chân ngã xuống đất, bèn tỉnh lại”. Cha cô ta qua Xoa Lãnh hỏi thăm, quả nhiên trong nhà họ Trần sanh ra ba con chó, hai con đen, một con vá vừa rớt xuống đất liền chết.



Nghe kinh tới phần thứ mười lăm, nghé trắng trở lại thành Trâu Chẩn.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Minh, Trâu Ách ở Côn Sơn thỉnh tăng tụng kinh Kim Cang. Em trai là Chẩn nghe kinh tới phần thứ 15, khen hay, bảo: “Trong đạo Nho ta không có điều này”. Về sau, [Trâu Chẩn] mắc bệnh, bất tỉnh nhân sự nửa tháng, chỉ có trước ngực là còn chưa lạnh. Chợt tỉnh lại, ngồi dậy nói: “Em làm trâu trong nhà Lý Tác Phường ở ngoài Xương Môn, khắp thân trắng toát, thấy thần Kim Cang nói: ‘Người này từng nghe kinh Kim Cang, sao lại vào trong loài này?’ Dùng xử báu gõ vào đầu trâu, tôi liền tỉnh lại, tự cảm thấy đỉnh đầu còn hơi rêm”. Hỏi ra thì trong nhà họ Lý quả nhiên có con nghé trắng mới sanh ra liền chết.



Vạn Doanh ngẫu nhiên gặp bậc chí nhân, do ánh sáng biết đường.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, trong năm Nguyên Hòa thứ 7 (812) đời Đường, người ở thành phố Kinh Triệu là Du Vạn Doanh trong nhà có một con rắn độc to, đem giết ăn thịt, bèn bị đau phổi rồi chết. Bảy ngày sau sống lại, nói: “Thoạt đầu tôi bị sứ giả cõi âm bắt, đi trong bóng tối mười mấy dặm, thấy một người niệm kinh ánh sáng tỏa quanh thân, chiếu ra bốn phía tới mấy thước, kêu Doanh đi theo, bảo: - Tôi niệm kinh Kim Cang, ông đừng rời tôi thì sứ giả chẳng dám tới gần, dần dần chẳng thấy [sứ giả] đâu nữa”. Về đến nhà, Vạn Doanh bái tạ: “Chẳng gặp bậc chí nhân, quyết chẳng trở về được!” Do vậy, đoạn rượu thịt, hằng ngày tụng năm mươi biến kinh Kim Cang.



Vua ca ngợi, chánh kiến ban pháp trọn khắp, dưới bệ ngưng tra khảo.



Chú thích: Xin xem câu thứ tư trong phần thứ ba “được trường thọ” nơi đoạn trước, tức lời chú thích cho câu “vị tăng viện Bát Nhã”.



Tội nghiệt về nơi rừng kiếm, may gặp vị tăng chứng quả.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, trong niên hiệu Vũ Đức đời Đường, Tô Văn Trung ở Trường An giàu có, nhưng bất nhân. Tới già, té nhà cầu mà chết. Con là Nhân Khâm mặc sức nấu nướng, sát hại, âm phủ giam hồn hắn trong địa ngục nên bị bệnh nặng kinh niên, thấy chúng sanh đòi mạng rồi chết. Diêm Vương sai dẫn lên núi đao, rừng kiếm, chợt có vị Tăng tên là Thần Kính cầm kinh Kim Cang đến, bảo vua: “Kinh này do Nhân Khâm thí, Tăng tụng kinh bèn chứng quả, xin giảm tội cho hắn”. Vua khen tốt lành, cho trở về dương gian. [Nhân Khâm] liền in tặng ngàn quyển, mộng thấy cha nói: “Ta ở trong địa ngục, nhờ con thí kinh nên cùng với vong hồn tổ tiên bảy đời được siêu sanh thiên giới”.



Người vàng lay tích trượng, mừng nhớ lời nguyện thêu kinh.



Chú thích: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, đầu thời Sùng Trinh nhà Minh, cháu gái của Đường Thời gả cho Dương Vân, bị góa bụa, bèn ăn chay trường, phát nguyện thêu kinh Kim Cang. Chưa thỏa nguyện đã mất, cảm thấy ngã xuống đất, khắp thân tuôn máu. Chợt thần kim giáp rung tích trượng một tiếng, hỏi: “Ngươi có nhớ điều nguyện thêu kinh hay chăng?” Đáp: “Nhớ ạ!” Lại rung tích trượng, hỏi: “Có thêu được hay không?” Đáp: “Con muốn thêu”. Bèn thả về. Thêu xong, bệnh cũ bèn lành. (Trên đây tổng cộng chín cặp, gồm mười tám điều).



Đây là chiếc bè độ người, cũng chính là Phản Hồn Hương. Đây là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ tư vậy.



Chú thích: Mùi thơm của Phản Hồn Hương lan đến đâu, người chết đều sống lại.



5. Lành bệnh tật



Bèn có: Liếm mắt mẹ hiền, quáng lòa lại sáng.




Chú thích: Theo Kim Cang Chứng Quả, trong niên hiệu Vũ Đức đời Đường, Trần Chiếu ở Giang Lăng ăn chay, trì kinh Kim Cang. Mỗi ngày bên cạnh tòa có con rắn to đến nghe, người hàng xóm là Điêu Xương ngờ là yêu quái bèn giết chết. Rắn kiện dưới âm ty, bắt Xương đến cho rắn quấn quanh thân cắn mổ. Điêu Xương báo mộng với vợ: “Rắn phải nghe kinh đủ một trăm quyển thì sẽ có thể bay lên, chỉ còn thiếu bảy quyển thì ta lầm lẫn giết chết. Hãy mau thỉnh tăng chép bảy quyển kinh Kim Cang, sám hối cứu ta”. Vợ nghèo, bèn bán đứa con năm tuổi để làm [công đức ấy]. Từ đấy, [thương nhớ] khóc con mù mắt, hằng ngày tụng kinh Kim Cang đi xin ăn. Đứa con sang đất Thục (Tứ Xuyên) ba mươi năm, cha mẹ nuôi đều mất, do vậy, trở về Giang Lăng, liếm lên mắt mẹ, hai mắt đều sáng lại.



Quỷ thai tiêu giận, vĩnh viễn hết mộng thấy chung đụng.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, vợ ông Trần Huệ là Vương Thị lúc chưa xuất giá, anh họ[18] là Chử Kính cầu hôn, [gia đình] không chấp thuận. Kính giận dữ, nói: “Ta làm quỷ ắt sẽ đến khuấy”. Cô Vương xuất giá, Kính chết. Vương mộng thấy Kính, cấn thai, hơn một năm vẫn chưa sanh, bèn trì kinh Kim Cang, hồn Kính lẫn quỷ thai đều tiêu.



Long Nghĩa hủy kinh bị câm, rạch lưỡi lại nói được.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, trong niên hiệu Trường Khánh đời Đường, Câu Long Nghĩa ở Khai Châu thấy người khác chép kinh Kim Cang, vô cớ hủy mất, liền bị câm bặt. Năm sáu năm sau, nghe hàng xóm tụng kinh này, giật mình tự trách, nép sát vào vách để nghe. Hơn tháng sau, ngẫu nhiên vào chùa, gặp một vị Tăng bèn lễ, [Tăng] hỏi chuyện gì, [Long Nghĩa] chỉ vào miệng, Tăng dùng dao khứa vào lưỡi bèn nói được, lại còn niệm kinh tiếng giống hệt như người hàng xóm. Về sau, ông Câu đến thăm vị Tăng ấy chẳng thấy nữa, chỉ thấy có hình ngài Tu Bồ Đề vẽ trên vách. Do vậy, bèn chép kinh và vẽ hình ngài Tu Bồ Đề, suốt đời lễ bái.



Vương Xưng ăn thịt chó bị lòa, khoét tròng lại thấy.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, trong niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường, Vương Xưng ở Tấn Châu ăn thịt chó, mắt bèn lòa. Mấy năm sau, gặp một vị Tăng khuyên chép kinh Kim Cang. Nghe theo, chép bảy quyển, thỉnh Tăng dạy tụng mấy ngày, mộng thấy vị Tăng khi trước cầm dao khoét tròng mắt, hoảng sợ tỉnh giấc thì thấy được, mắt sáng lại.



Ngựa khó thể thay bước, nhờ vào mấy tờ kinh.



Chú thích: Theo Dậu Dương Tạp Trở, đầu niên hiệu Vĩnh Thái đời Đường, phong tử[19] ở Phong Châu buổi tối ra ngoài ải bị bọn Đảng Hạng[20] bắt đem về Tây Phiên nuôi ngựa. Sống ở đấy một năm, mộng thấy mẹ, muốn trở về, nhưng luật của người Phiên rất ngặt, không có lệ tha về. Tướng Phiên khá nhân từ, lén cho hai con ngựa, bảo hãy đi đi. Phong tử bắt ngựa chạy quá sức, cả hai con đều chết, bèn ngày núp, đêm đi. Chân lại bị [sỏi đá] đâm bị thương, gục ngã trong sa mạc, chợt có gió thổi vật gì lướt qua trước mặt, do vậy nắm lấy để buộc chân, trong khoảnh khắc không còn đau đớn nữa, bèn lên đường. Về được nhà gặp mẹ, mẹ nói: “Kể từ sau khi con bị mất tích, mẹ chỉ niệm kinh Kim Cang. Do thỉnh kinh để lạy, đường chỉ khâu các trang kinh bị đứt, mất mấy trang, chẳng biết vì lẽ nào?” Đến khi con kể với mẹ chuyện chân bị thương, tháo băng ra nhìn thì vật để buộc vết thương chính là mấy trang kinh vậy!



Cọp liếm vết thương, chỉ trì bốn câu kệ.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, trong niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường, Cường Bá Đạt ở Phòng Châu, dòng họ đời đời mắc ác tật cùi hủi đã hai trăm năm. Bá Đạt mắc bệnh năm 20 tuổi, tự biết chẳng khỏi được, bèn xin cha anh sắp đặt lương thực, đưa đến ẩn dưới gộp đá trong núi. Chợt có vị tăng đi qua, thương xót, dạy hãy niệm bốn câu kệ trong kinh Kim Cang. Niệm mấy ngày, có con cọp đi đến, Bá Đạt nhắm mắt chí thành niệm. Cọp bèn liếm quanh chỗ lở loét, [cảm thấy] mát mẻ như được đắp thuốc. Hồi lâu sau, cọp bỏ đi, vết thương đã khô miệng. Ngày hôm sau, vị Tăng lại đến trao cho một ôm cỏ xanh, bảo trở về nhà, nấu nước tắm. Trở về nhà tắm liền hết lở loét, ác tật vĩnh viễn chấm dứt.



Nhận nước sôi trong vạc chừng mấy giọt, xoa lưng lành vết loét.



Chú thích: Theo Chứng Quả Lục, vào đời Tống, huyện úy Vương Địch Công thích săn bắn, vợ trì kinh Kim Cang, gắng hết sức khuyên ông Vương tụng niệm, ông bèn tụng một biến. Về sau, bị bệnh chết, vào cõi âm, phải vào Hoạch Thang địa ngục (địa ngục vạc sôi). Do từng tụng kinh một biến, Diêm Vương phán: “Dẫu là điều lành bé tẹo, cũng đáng khen thưởng trọng hậu, phạt nhẹ rồi thả về”. Vua truyền đem một ít nước sôi từ trong vạc xối lên lưng, rồi thả, ông Vương bèn sống lại. Lưng nổi vết lở loét. Ông bèn thề ăn chay trường, trì kinh. Về sau mộng thấy thần tăng xoa lưng, ba ngày sau bèn lành.



Mửa con giun to, dài hơn khủy tay, mở họng khêu tóc.



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, trong niên hiệu Trường Khánh đời Đường, sư Hội Tông ở Công An, Kinh Châu, bị trúng cổ trùng gần chết, bèn niệm kinh Kim Cang đến năm mươi biến, mộng thấy có người bảo há miệng ra, từ trong họng lôi ra mười mấy cọng tóc, lại mộng thấy ói ra một con giun to dài hơn một khủy tay, bệnh liền khỏi.



Lớn tiếng tán dương, mắt Châu Chi Trình bị lộn tròng lại ngay ngắn.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Minh, Châu Chi Trình ở Côn Sơn bị mù lúc năm mươi tuổi, tròng mắt xoay ngược, đổi thành sắc biếc. Do vậy, hằng ngày tụng kinh Kim Cang ba quyển, lớn tiếng tán dương suốt mười lăm năm, tròng mắt xanh dần dần xoay lại, hai con mắt dần dần hết sắc xanh.



Chuyên tâm trì tụng, Bộc Vương Thị mắt mù lại sáng.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Minh, vợ tường sanh[21] Bộc Khả Trọng là Vương Thị do khóc con thành lòa, bèn chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cang mấy năm, chợt mắt trái chảy nước, đau như bị cắt xẻ, đột nhiên sáng lại, mấy hôm sau, mắt phải cũng thế.



Thừa Tín bị loét bao tử, thí ngàn quyển được viên thuốc thần.



Chú thích: Theo Kim Cang Chứng Quả, trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống, Tống Thừa Tín ở Hoa Đình bị loét bao tử đã lâu chẳng lành. Mộng thấy vị Tăng bảo: “Phàm ai tạo các ác nghiệp, nha lại cõi Âm bắt thần hồn họ khảo tra trong cõi âm nên thành bệnh tật như điên cuồng, bại liệt, lao, thọt chân, mù, điếc, câm, ngọng, thuốc men chữa chẳng lành, hết tuổi thọ bèn chết, nhân quả chẳng sai sót chừng mảy tóc! Ông do oán nghiệp nên phải hứng chịu bệnh khổ này. Ta với ông có túc duyên, nên đặc biệt đến báo cho biết. Nếu có thể trì kinh Kim Cang hoặc chép kinh, khuyên người khác niệm thì sẽ cảm âm quan thả hồn, bệnh sẽ có thể lành”. Tỉnh giấc liền in tặng một ngàn quyển, nguyện suốt đời kiền thành tụng niệm, bèn mộng thấy thần Kim Cang ban cho một viên thuốc, uống vào liền khỏi bệnh.



Tư Nguyên có công đuổi quỷ, tụng ba ngày bệnh anh được lành.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Ngô Tư Nguyên làm quan Thái Học Bác Sĩ[22] đời Võ Tắc Thiên. Ông trì kinh Kim Cang. Có gã đồng cốt tên là Chử Tế Nhi đoán sự việc như thần. Tư Nguyên bèn đến xem, Tế Nhi kinh hãi, nói: “Ông có thuật gì mà quỷ trông thấy đều bỏ đi hết?” Tư Nguyên biết là do sức của kinh, càng thêm tinh tấn gắng công. Anh ông bị bệnh, thuốc thang vô hiệu, Tư Nguyên chí tâm trì tụng, ba ngày sau liền lành. (Trên đây tổng cộng 6 cặp, gồm 12 điều).



Ấy là vì Như Lai vốn là vô thượng y vương, kinh này chính là diệu dược Già Đà. Đây là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ năm vậy.



Chú thích: Già Đà, nói đủ là A Già Đà (Agada), là tên một loại thuốc, dịch nghĩa là Phổ Khử, [hàm nghĩa] trừ được các thứ bệnh vậy.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 06 Jan 2016, 1:19 AM | Message # 55
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
6. Cứu khỏi bị giết chóc



Bèn có: Thứ sử Hoàng Châu không có tên trong danh sách.




Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Thứ Sử Hoàng Châu là Đỗ Chi Lượng trong niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy làm Tham Quân trong phủ của Hán Vương Lượng. Hán Vương Lượng[23] làm phản, đánh chiếm Tinh Châu, nhưng thất bại, liêu thuộc đều bị hạ ngục. Đỗ Chi Lượng mộng thấy một vị Tăng bảo: “Chỉ có tụng kinh Kim Cang thì mới thoát được tai ách này”. Chi Lượng bèn giữ lòng thành trì niệm. Đến khi sắp bị dẫn ra xử trảm, những người được gọi tên đều bị chết, chỉ có mình Chi Lượng không có tên trong danh sách ấy nên thoát chết. Không lâu sau lại được phóng thích.



Trung Thư nước Tùy trước điện được tha



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, Tiêu Vũ là chắt của Lương Vũ Đế, làm quan cho nhà Tùy đến chức Trung Thư Lệnh, tước phong là Tống Quốc Công. Do bàn luận chuyện chinh phạt Cao Ly[24] chẳng hợp ý vua nên cùng với Hạ Nhược Bật, Cao Quýnh đều bị tống giam, sắp đem ra chém. Trong tám hôm bị giam cầm, ông Vũ niệm kinh Kim Cang bảy trăm biến. Đến hôm sau, gông xiềng chợt tự tuột, kẻ canh giữ thất sắc, xiềng chặt lại. Đến trước điện, chỉ mình ông Vũ được tha. Do vậy, bèn soạn mười tám điều linh nghiệm của kinh Bát Nhã, và khắc bảo tháp bằng gỗ đàn hương để đựng kinh, tháp cao ba thước, cảm được một tượng bằng thâu thạch[25] chợt hiện trong sân, đem thờ trong tháp, thu được một trăm hạt xá-lợi. Năm Trinh Quán 11 (637), ông thấy Phổ Hiền Bồ Tát bèn thong dong đi về Tây.



Kiếm đâm xuống, hiện hoa ngũ sắc, giặc bảo là thánh nhân.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, Trần Triết người xứ Lâm An, sống ở Dư Hàng, trì kinh Kim Cang. Gã giặc cỏ Châu Đàm cướp phá Lâm An. Triết gặp phải bọn giặc chặn lối. Bọn giặc tranh nhau dùng gươm đâm. Cứ mỗi nhát kiếm đâm xuống liền có viên quang ngũ sắc chiếu xa năm sáu thước che chở thân ông Triết nên [lũ giặc] chẳng thể đâm trúng được. Bọn giặc kinh hãi, than thở, bảo [ông Triết] là thánh nhân, bỏ đi.



Thoát gông, phóng ánh sáng cả chục trượng, hoàng đế nghe danh.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, một tử tù ở huyện Trường An bị nhốt vào ngục hơn bốn mươi ngày, tụng kinh Kim Cang không ngớt. Lúc sắp bị xử tử, xiềng gãy, gông tuột, đầu gông phóng quang chiếu xa mấy chục trượng, sáng rực cả huyện. Huyện lệnh tâu lên Đường Huyền Tông, vua bèn tha tội.



Kim Cang bất hoại, trăm phát tên vô ích.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Đường, viên nha lại ở phủ Chiết Tây là Từ Kỷ nhà cực giàu, hằng ngày tụng kinh Kim Cang. Có một trăm tên giặc đến cướp nhà ông ta, trói ông Kỷ lại, đem bắn tên. Ông Kỷ nói: “Thân Kim Cang bất hoại thì nay sẽ như thế nào?” Trong khoảnh khắc thấy Phật hiện trên không trung, bắn cả trăm mũi tên mà chẳng trúng mũi nào. Bọn giặc kinh sợ, biết là do ông ta tụng kinh nên đều rút lui, bỏ nghề.



Đốt trúc có vết, chém xuống ba đao đều gãy.



Chú thích: Theo Tống Cao Tăng Truyện, vào đời Đường, ông Tào X... ở Lô Lăng trì kinh Kim Cang, thường dùng ống trúc đựng kinh để đem theo. Khi ấy, có loạn An Sử (An Lộc Sơn)[26], Thứ Sử Lưu Ninh bắt lính rất ngặt. Ông Tào bị bắt vào lính, giao cho làm tiểu tướng trong quân đội. Do trái lệnh nên bị bắt, đem xử tử. Đao chém xuống ba lần đều gãy, ông Lưu lấy làm lạ, tra hỏi. Ông Tào thưa: “Tôi trọn mang chí hướng xuất gia, thầm trì kinh pháp”. Hỏi: “Kinh ở đâu?” Đáp: “Khi bị bắt đã đánh mất”, bèn tìm được [ống trúc đựng kinh] ngoài trăm bước chân. Ống trúc có vết đao chém sâu xuống gần như đứt lìa. Ông bèn xuất gia làm Tăng, hiệu là Tam Đao pháp sư.



Mũi tên lọt vào bụng Quốc Anh, Hồ tăng cho thuốc.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, đời Đường, vào đầu thời Đại Lịch, lúc Thôi Ninh trấn giữ đất Tây Thục gặp phải Dương Lâm làm phản. Dũng sĩ Trương Quốc Anh thường trì kinh Kim Cang ra trận chiến đấu, bị tên bắn trúng bụng, đầu mũi tên ngập sâu, không lấy ra được. Thầy thuốc nói ắt sẽ chết. Đến đêm, Quốc Anh mộng thấy một vị Hồ tăng cho một viên thuốc, đến sáng, đi tiêu ra mũi tên, vết thương liền lành miệng.



Quân làm phản trong sân Tề Khâu, bị thần nhân trừng mắt.



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, đầu niên hiệu Vĩnh Thái đời Đường, Tiết Độ Sứ phương Bắc là Trương Tề Khâu, mỗi ngày trì kinh Kim Cang mười lăm biến, mấy chục năm chẳng biếng nhác. Một hôm, một viên tiểu tướng trong nha môn mắc tội, sợ sự việc lộ ra, bèn xúi giục mấy trăm quân nhân làm phản. Mười mấy tên lính tuốt đao bén vào dinh, đều đứng sững giữa sân, thõng tay, há hốc miệng, buông rơi binh khí xuống đất, đều bị bắt giữ. Năm sáu tên bị câm không nói được, những tên còn lại đều nói thấy có hai giáp sĩ cao mấy trượng, trừng mắt quát tháo, bọn chúng đều như bị trúng tà. Do đó, Tề Khâu bèn đoạn rượu thịt.



Bị giết, chìm nơi đáy biển, tiếng vọng đến tăng chúng trong chùa.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, đời Đường có một phú thương hằng tụng kinh Kim Cang, thường mang quyển kinh theo. Ông ta từng buôn bán ở ngoại quốc, đêm ngủ nơi hải đảo. Các lái buôn tham muốn tài sản của ông ta bèn cùng nhau sát hại bằng cách nhét ông ta vào một cái sọt lớn, bỏ thêm một tảng đá to, đem cả cuốn kinh cùng nhận chìm xuống đáy biển. Bình minh, lũ lái buôn nhổ neo, nhưng ở hòn đảo họ đậu thuyền hồi đêm có một ngôi chùa. Tăng chúng mỗi đêm nghe có tiếng người niệm kinh Kim Cang, tiếng vang lên từ đáy biển, lấy làm lạ, bèn sai người lặn giỏi xuống nước tìm, bèn lôi cái sọt lên. Anh lái buôn nói: “Bị giết dìm xuống đáy biển, chẳng biết là ở trong sọt, chỉ cảm thấy thân ở trong cung điện, thường có người đưa đồ ăn uống tới, an lạc tự tại”. Anh ta bèn xuống tóc làm tăng, xuất gia tại ngôi chùa trên hải đảo.



Bị chém lại trở về nhà, người nhà kinh hãi ngỡ là quỷ quái.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, trong niên hiệu Càn Phù đời Đường, Tiết Độ Sứ Duyện Châu là Thôi Thượng Thư, luật lệ nghiêm khắc. Một viên tướng không đến dinh đúng hạn, ông Thôi bèn hạ lệnh xử trảm ngoài cửa dinh. Vị tướng ấy bị chém xong, vẻ mặt chẳng đổi. Canh ba đêm ấy liền trở về nhà. Vợ con kinh hoảng tưởng là quỷ hiện. Viên tướng nói: “Thoạt tiên khi bị chém đầu, như say, như mê ngủ, chẳng đau đớn gì hết. Nửa đêm, nhận biết thân đi đến giữa đường, do gần nhà nên trở về”. Sáng sớm, viên tướng trở vào dinh tạ lỗi, ông Thôi kinh hãi, ngỡ là huyễn thuật. Viên tướng nói: “Trọn chẳng phải là huyễn thuật, tôi chỉ có đọc kinh Kim Cang từ nhỏ, mỗi ngày ba biến. Ngày hôm qua do tụng kinh nên đến trễ”. Họ Thôi ra lệnh lấy kinh tới. Đem kinh đến thì hộp kinh trông vẫn như cũ, nhưng cuốn kinh đã đứt làm hai đoạn. Ông Thôi hết sức kinh hãi, liền ban áo, sai chép một trăm quyển kinh để cúng dường. Hiện nay ở ngoài cửa chùa Diên Thọ tại Duyện Châu chính là chỗ viên tướng ấy bị xử trảm, hình tượng cuốn kinh bị chém đứt vẫn còn.



Thành Phi Hồ chẳng muốn bị giặc nhuộm máu, trên thành hiện người khổng lồ hùng mạnh.



Chú thích: Theo Tuyên Thất Chí, vào đời Đường, Ninh Miễn trì kinh Kim Cang, từng làm Nha Tướng ở Bắc Đô, đem bốn ngàn quân trấn thành Phi Hồ. Khi ấy, tướng chỉ huy Kế Môn làm phản, nửa đêm vây đánh thành Phi Hồ. Quân của ông Miễn chống không lại. Người dân Phi Hồ chẳng muốn cha con, anh em bị giặc tắm máu. Ông Miễn còn do dự chưa quyết, chợt có tin báo quân giặc tự vỡ, quăng giáp, lùi khỏi thành. Ông Miễn mở cửa thành đuổi theo, bắt sống mấy chục trên, tra hỏi. Tù binh thưa: “Trong đêm tối, từ xa thấy trên thành có bốn người khổng lồ, cao hơn hai trượng, hùng mạnh đáng sợ, trừng mắt, nhe răng, cởi trần, cầm gươm. Người đất Kế trông thấy hoảng hốt toát mồ hôi, liền chạy trốn. Ông Miễn biết đấy là thần Kim Cang.



Bị phạt thắt cổ, rốt cuộc thoát khỏi hành hình, thấy hai chữ Kim Cang trên đùi.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, Kế Trọng Vỹ ở làng Chí Đức thuộc Ngô Huyện trì kinh Kim Cang, từ nhỏ chẳng lấy vợ. Trong đời Thuận Trị nhà Thanh, bị người khác vu cáo sát nhân, quan huyện phán tội xử giảo, ai nghe chuyện cũng đều kêu oan uổng. Người ta hỏi: “Bị kìm kẹp, bị đánh có đau không?” Ông Kế hoàn toàn chẳng biết. Mọi người thấy đùi của ông chẳng bị thương tổn mảy may nào, chỉ có hai chữ Kim Cang lờ mờ. Về sau, giải lên Lý Sâm Tiên phán xử ở đất Tô, lời vu oan được sáng tỏ, kẻ vu khống bị họa. Kế Trọng Vỹ có soạn cuốn Kim Cang Kinh Giải.



Ba lượt hành hình được cứu, nhờ ơn tin đồn sứ giả.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Tống Vấn làm châu mục Hoàng Châu. Khi ấy, Tần Tông Quyền dấy binh làm loạn. Có người niệm kinh Kim Cang được họ Tần sai đi trinh sát, bị quân tuần tra của ông Tống bắt được, ông hạ lệnh giết. Chợt có tin báo sứ giả đến tăng chức quan cho ông đang tới; do vậy, bèn ngưng hành hình, giam kín. Hơn một tháng sau, sứ thần chẳng tới, lại ra lệnh hành hình. Vừa mới giải ra khỏi ngục, có tin báo sứ giả đã vào địa phận, lại đình chỉ. Sứ giả đã lên đường, bèn lôi ra hành hình, gặp đúng lúc đại tướng vào dinh thăm [Tống Vấn], nói: “Liếc trông gã gián điệp này vốn bị bức hiếp phải theo giặc, xin ông cho chuộc mạng, nhằm tỏ lòng khoan dung, tha thứ”. Họ Tống ưng thuận, sai gọt tóc, đeo gông, đi xin tiền bạc để xây chùa Khai Nguyên. Sắp xong, ông Tống mộng thấy tám vị Kim Cang[27] bảo: “Vị Tăng đeo gông khổ hạnh như thế, giao ước đã trọn, hãy nên tháo gông”. Ông Tống lấy làm lạ bèn tháo gông, đối đãi lễ độ khác hẳn. Mọi người gọi kẻ gián điệp ấy là Kim Cang Hòa Thượng.



Vừa vung đao liền ngầm trốn thoát, cừu nhân chẳng tổn.



Chú thích: Theo Đồ Thư Tập Thành, Trần Vy là người huyện Quảng Đô, từ bé thường tụng kinh Kim Cang, có hiềm khích với người con rể họ Mã. Một hôm, ông Trần có việc phải ẩn trốn, họ Mã bèn rêu rao muốn truy bắt. Ông Trần bèn mài một ngọn dao găm, đi hay ngồi đều mang theo, tính đâm chàng Mã. Một hôm, ông đi trên con đường cây cối rậm rạp, chàng rể họ Mã nấp sẵn để bắt. Ông Trần rút dao quơ một cái, chàng Mã ngã ngửa. Do vậy, [ông Trần] thoát thân. Nhìn lại thì vật đang cầm là bao đựng dao. Đến khi trở về chỗ ẩn nấp thì dao vẫn còn ở đó, vốn chẳng mang theo. Chàng rể họ Mã cũng chẳng bị thương tích gì, hết sức ngạc nhiên!



Khoét vách lén nhìn ánh sáng, bà cụ mới cắt tóc.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Tống, Tư Lý quận Thọ Xuân là Sài Chú phải xử một án mạng: Tù nhân cung khai là hắn mở quán trọ ở ngoài thành ba mươi dặm, đón khách kiếm sống. Gặp người khách đi một mình mang theo túi nặng, tới đêm hắn bèn giết đi. [Hôm ấy, trong quán trọ, ngoài người khách] chỉ có một bà lão ngủ lại, liền đợi đến canh khuya sẽ giết luôn, nhưng không mở cửa được, bèn khoét vách nhìn trộm, thấy trong ánh sáng hồng là một người to lớn cao bằng căn phòng, đứng dựa lưng vào cửa, kinh hãi gần ngã lăn ra. Trời sáng, cửa mở ra, bà cụ đang cắt tóc, tụng kinh không ngớt. Hỏi kinh gì, cụ nói kinh Kim Cang. Liền biết vị thần đã tới hồi đêm chính là thần Kim Cang vậy.



Ngã xuống hào như mộng, thần bèn đỡ lưng.



Chú thích: Theo Dậu Dương Tạp Trở, trong niên hiệu Nguyên Hòa thời Đường, Lưu Hựu thống lãnh quân Tế Đức đánh dẹp Lý Đồng Tiệp[28], vây hãm, tấn công Đức Châu. Một viên tướng là Vương Trung Can thường niệm kinh Kim Cang suốt hai mươi năm. Lúc công thành, họ Vương trèo lên thang dây, lúc sắp lên được mặt thành, thân bị trúng tên như con nhím, [bị địch quân] dùng sào dài gạt té, được hỏa tốt[29] lôi ra, đặt bên bờ hào nước. Trung Can đã chết, mơ màng thấy đến đồng hoang, muốn qua sông to mà chẳng có thuyền, ngửa mặt lên trời khóc lớn. Chợt thấy một người cao hơn một trượng, Trung Can vái xin chỉ dẫn. Cúi đầu chưa kịp ngẩng lên, người ấy đã nắm eo ném lên không trung. Một lúc lâu sau mới rớt xuống đất, chợt như mộng vừa tỉnh, nghe trên thành giặc [có hiệu lệnh báo hiệu] đã sang canh hai, giơ tay chùi mặt, máu thấm đến lông mi, mới biết là bị thương. Gượng đi hơn trăm bước, lại ngã xuống, lại thấy người [to lớn] trước kia cầm đao, quát: “Đứng dậy!” Bèn đi hơn một dặm nữa, ngồi nghỉ, mới nghe tiếng hô hiệu lệnh của quân mình, bèn đến được doanh trại của chính mình.



Lý Lập ở Yên Sơn, tặng quà trọng hậu kết nghĩa kim lan.



Chú thích: Theo Xuân Chử Ký Văn, vào đời Tống, Trầm Nhị Công ở huyện An Cát, Hồ Châu, khi giặc Kim[30] chưa đến, mộng thấy một vị Tăng nói: “Kẻ bị ngươi đã giết trong đời trước sẽ đến báo oán. Nay có một người cao cả trượng, dùng đao phá cửa để vào, hãy liền hỏi: ‘Ông là Lý Lập ở phủ Yên Sơn phải không?’ Chỉ duỗi cổ chờ chém, mong hắn khỏi giết thì oán trước mới cởi gỡ được”. Mấy hôm sau, giặc kéo tới, quả đúng như lời vị Tăng nói. Kẻ ấy hỏi: “Sao ngươi biết rành trên họ, quê quán ta?” Ông Trầm thuật lại giấc mộng. Họ Lý bèn than thở, thấy trên án có cuốn kinh Kim Cang, hỏi ra mới biết là ông Trầm đã tụng kinh hai mươi năm, liền cởi áo lấy ra một cái ống trúc, bên trong đựng kinh Kim Cang viết chữ nhỏ, nói: “Tôi cũng tụng kinh này năm năm”. Do vậy, kết làm anh em và đem vàng lụa, đồ dùng tặng cho rồi đi.



Vương Ân xứ Thục thoát cơn giận hàng gấm dệt bị chê.



Chú thích: Theo Dậu Dương Tạp Trở, vào đời Đường, người lính xứ Thục là Vương Ân ăn chay trường, niệm Kim Cang Kinh. Khi ấy, Quách Chiêu trấn giữ đất Thục, Vương Ân dâng hàng gấm dệt, Quách Chiêu chê hàng xấu, sai lột trần, đánh trượng đến chết. Quách Chiêu có nuôi một con chó giống Tây Vực, nó chợt sủa lên, ôm lấy lưng Vương Ân, đuổi người hầu không cho đánh. Quách Chiêu lấy làm lạ, do vậy hết giận.



Hiếu tử thăm cha, cũng hiện điều lạ ba đao.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, Trương Bá Anh do cha đang ở Dĩnh Châu bèn trộm ngựa nhà quan đi thăm, bị kẻ giữ ngựa bắt được. Thứ Sử Thôi Chiếu ra lệnh chém ngang lưng, chém một hai lần không được, bèn thay đao bén, vẫn chẳng bị thương tổn như cũ. Thôi Chiếu hỏi nguyên do, đáp: “Xưa kia, từ thuở 15 tuổi, tôi đã thôi ăn mặn, tụng kinh Kim Cang mười mấy năm. Khi ấy (lúc bị chém), tôi chỉ chí tâm tụng kinh mà thôi”. Quan bèn tha. [Trương Bá Anh] liền cạo tóc xuất gia. Người đời gọi là Tam Đao Sư, hoặc gọi là Khởi Kính Bồ Tát.



Trung thần chửi giặc, chẳng bị thương tổn giữa trăm thớt ngựa.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Lục Khang Thành nghe tụng kinh Kim Cang có thể thoát nạn bèn hằng ngày đọc mấy chục lượt. Khi ấy, Châu Thử[31] làm loạn, tự xưng là Ngự Sử. Khang Thành mắng: “Tặc thần dám lạm xưng quốc sĩ”. Châu Thử cả giận, sai mấy trăm kỵ binh vây quanh bắn tên. Khang Thành thầm niệm kinh Kim Cang, chẳng bị trúng mũi tên nào. Châu Thử bèn thả đi. Khang Thành ẩn tại Chung Nam Sơn.



Đô thuế họ Nhậm tên khó trúng thân.



Chú thích: Theo Xuân Chử Kỷ Văn, đời Tống, khi Phương Lạp[32] chiếm đóng Tiền Đường, truy bắt các quan lại rất gắt. Có viên Đô Thuế Viện họ Nhậm nhà ở phía Bắc chùa Tường Phù, cách phủ mười dặm. Mỗi sáng trên đường đi đến nha môn làm việc đều thầm tụng kinh Kim Cang, ước chừng năm quyển. Suốt hai mươi năm chẳng bỏ. Bọn giặc bắt giữ bảy người Phật tử, sai lũ bộ hạ bắn tên. Ông Nhậm chỉ tụng kinh, giặc bắn cả mấy trăm mũi, chẳng mũi nào trúng thân.



Trương Thủ Thành tên chẳng xuyên tim.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, Trương Thủ Thành ở Hàng Châu kiền thành tụng kinh Kim Cang. Dùng đãy đựng kinh đeo ở trước ngực. Năm Nhâm Ngọ (1630) đời Sùng Trinh, theo đồng bạn lên miền Bắc buôn bán. Giữa đường gặp cướp, đồng bạn bị thương. Thủ Thành trúng một mũi tên, đúng vào đãy kinh ở trước ngực, chẳng đến nỗi xuyên tim. Do vậy được toàn mạng (trên đây tổng cộng là 11 cặp, gồm 22 điều).



Phàm những chuyện binh khí như cắt vào nước này, há chẳng phải là lòng thành cảm thần ư? Đây là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ sáu vậy.



7. Thoát xử tử hình, gông cùm trói buộc



Bèn có Tống Công Tiêu Vũ, tụng tám ngày hình cụ tuột ra.




Chú thích: Xin xem câu ca tụng trong đoạn thứ sáu “cứu khỏi bị giết chóc” trong phần trước, tức lời chú cho câu “viên Trung Thư nước Tùy”.



Tư Mã Liễu Kiệm tụng hết hai trang, được triều đình ân xá.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Tùy, Tư Mã Liễu Kiệm ở Hình Châu mắc họa vu oan, bị nhốt trong Đại Lý Tự[33]. Ông Kiệm vững lòng tụng kinh Kim Cang, còn hai trang chưa xong thì không ngờ ngủ thiếp đi. Mộng thấy một vị Bà La Môn Tăng bảo: “Đàn-việt nên tụng kinh cho trọn sẽ được thoát”. Ông Kiệm chợt tỉnh giấc, liền siêng năng tụng kinh chẳng lười, hai ngày sau đột nhiên được gọi tên thả ra, đấy là do lệnh phóng thích của triều đình.



Ngự sử đời Võ Tắc Thiên may thoát gông sắt[34]; Địa Quan Thị Lang chẳng vướng lưới rập.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Bùi Tuyên Lễ làm Địa Quan Thị Lang[35] dưới triều Võ Tắc Thiên, thường trì kinh Kim Cang, gặp chuyện bị tù. Tuyên Lễ lo sợ, chỉ chí tâm niệm kinh Kim Cang. Một hôm, gông cùm tự gỡ, khiến viên quan chịu trách nhiệm thẩm vấn phải đích thân tra hỏi, liền được rửa oan. Ngự Sử Nhậm Thực cùng bị giam, cũng do niệm kinh mà được thoát.



Lô Bác Sĩ do liên lụy bị ngồi tù, được báo ứng thoát gông cùm.



Chú thích: Trong Bắc Sử, phần Tục Cao Tăng Báo Ứng Ký, [có chép chuyện] Lô Cảnh Dũ vào thời Ngụy Tiết Mẫn Đế giữ chức Quốc Tử Bác Sĩ[36]. Do anh họ là Lô Trọng mưu phản nên bị liên lụy, ngồi tù. Ông bèn chí tâm tụng kinh Kim Cang nên tự thoát gông xiềng.



Trầm Giảo Thư gặp chuyện bị đày đi biên địa, được tha trở về.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, Trầm Gia Hội trong niên hiệu Trinh Quán giữ chức Giảo Thư Lang, do gặp chuyện bị đày đi Lan Châu[37]. Mỗi sáng tối, ông Trầm hướng về phía Đông, lạy Thái Sơn, nguyện được sống sót trở về. Đêm ngày mồng Ba tháng Mười năm Vĩnh Huy thứ 6 (655) thấy đồng tử dáng điệu, quần áo đẹp đẽ, xưng là con trai của Thái Sơn Phủ Quân, bảo: “Cảm tạ ông lễ bái, nhưng nếu ông hằng ngày trì một biến kinh Kim Cang thì vạn tội tiêu diệt”. Từ đấy, Gia Hội trì kinh Kim Cang, được ân xá bèn quay về.



Thôi Công bị giặc bắt, đem giết mà xiềng tự tuột.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, đời Đường, Thôi Văn Giản bị Thổ Phiên[38] bắt, gông xiềng rất kỹ. Ông chí tâm niệm kinh ba ngày, xiềng chợt tự tuột. Giặc ngờ là có kẻ gian, đánh đập. Ông Thôi bảo là do niệm kinh Kim Cang, chúng nó xiềng lại. Niệm kinh chưa xong, xiềng lại tuột ra. Bọn chúng than lạ, bèn đưa ra khỏi xứ.



Họ Triệu nhặt vật thừa, bị vu cáo, hình cụ gãy thành ba đoạn.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, trong niên hiệu Thái Hòa đời Đường, người đất Thục là Triệu An thường trì kinh Kim Cang. Từ nơi gò mả ngoài đồng, nhặt được một tấm áo, bị hàng xóm vu là ăn cắp, bị bắt giải lên quan huyện. Quan bèn dùng kìm lớn kẹp đùi, kìm liền gãy thành ba đoạn. Lại truyền đánh trượng vào lưng, trượng vừa đập xuống liền gãy. Về sau, được quan cho về nhà. Vợ nói: “Ngày hôm nọ nghe trong hộp đựng kinh của ông có tiếng chấn động mạnh, sợ quá chẳng dám mở ra”. Ông An vội mở ra coi thì bìa đã đứt rời, giấy bị rách nát bét.



Ông Lưu gậy to mấy tấc, bàn tay lớn bằng cái bồ che lưng nên chẳng bị thương.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, lúc Lưu Dật Hoài ở đất Biện, có chế ra một cây gậy đỏ mới toanh, đường kính to tới mấy tấc, sơn đắp cho kiên cố, dựng đó chứ không dùng. Có Vương X... ở Ngu Hầu bị gièm siểm, ông Lưu bèn dùng chiếc gậy mới đánh ba mươi trượng, họ Vương rốt cuộc chẳng bị sao cả. Mọi người hỏi nguyên do. Ông Vương nói: “Tôi đọc kinh Kim Cang bốn mươi năm, nay mới đắc lực. Lúc mới đánh liền thấy có bàn tay to lớn như cái bồ che lên lưng”. Nhân đó, trật áo cho người ta xem, trọn chẳng có vết thương gì.



Chàng lính đất Thục tụng được đề kinh, thấy đĩnh vàng, tự gỡ được tóc.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, lúc Vĩ Nam Khang trấn đất Thục, trong doanh trại có chàng lính trơn học tụng kinh Kim Cang, vừa mới học được tựa đề kinh. Đêm ấy, anh ta đi ra ngoài đồn lũy nhặt củi, bị kỵ binh người Phiên bắt được. Đi hơn trăm dặm, bị xô té xuống đất, [quân Phiên] buộc tóc [anh ta] vào cột, lấy mền bằng lông lạc đà phủ lên trên, rồi nằm ngủ trên đó. Anh lính chỉ niệm tựa đề kinh, chợt thấy một đĩnh vàng phóng quang dừng ngay trước mắt. Thử giơ tay, động thân thì những thứ trói buộc đều tuột hết, bèn len lén đứng dậy, đi theo đĩnh vàng. Tính ra đi chưa hơn mười dặm, rạng sáng đã về đến nhà. Nhà anh ta ở tại chợ Đông của phủ, vợ con thoạt đầu ngỡ là quỷ. Anh ta kể rõ đầu đuôi, buồn vui chen lẫn. (Trên đây tổng cộng 5 cặp, gồm 10 điều).



Tin rằng giam cầm, gông xiềng chẳng thể dính mắc, quả thật là ứa lệ buồn khóc, chưa từng được nghe. Đây chính là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ bảy vậy.



Chú thích: Hai câu đầu là như kinh Lăng Nghiêm nói: “Có thể khiến cho giam cầm, gông xiềng chẳng thể trói buộc chúng sanh được”. Hai câu kế tiếp chính là nói về ngài Tu Bồ Đề trong kinh này (tức kinh Kim Cang)[39].



8. Cứu hiểm nạn, nước, lửa



Bèn có: Sông Hán đánh vỡ mái chèo, gieo kinh sóng lặng.




Chú thích: Theo Kim Cang Kinh Chứng Quả, vào đời Đường, Vương Đãi Chế[40] đi thuyền đến Hán giang, sóng gió ồ ạt, cột buồm nghiêng, mái chèo gãy, ai nấy đều sợ hãi. Bất đắc dĩ, ông Vương phải đem cuốn kinh Kim Cang mình thường trì tụng hằng ngày gieo xuống sông, ngay lập tức gió lặng, sóng êm. Họ Vương hết sức nhớ tiếc cuốn kinh ấy. Hai tháng sau, đến Trấn Giang, thấy đuôi thuyền có vật như quả cầu, dùng lưới vớt lên thì ra là lũ ốc bám quanh cuốn kinh đã gieo xuống sông vậy.



Biển Liêu dậy sóng, mộng thấy vị Tăng dẹp yên cuồng phong.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Bạch Nhân Tích chở gạo sang Liêu Đông, qua biển gặp trận gió, vội niệm kinh Kim Cang được ba trăm biến, chợt như nằm mộng, thấy một vị Phạm tăng bảo: “Ông niệm chân kinh, nên ta đến cứu ông”. Trong khoảng khắc gió lặng, tám mươi mấy người đều được cứu.



Cầu Hà Dương gãy, Hà Cảnh chợt gặp bụi lau gie.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, trong đời Đường, huyện lệnh Vũ Đức là Hà Cảnh trì kinh Kim Cang. Đến Hà Dương, nước dâng sập cầu. Trời đã tối, người ta tranh nhau lên thuyền, còn xa chưa tới được bờ thì thuyền đã chìm. Ông Cảnh vội niệm kinh, trong khoảnh khắc đã gần bờ, gặp được bụi lau gie ra liền nắm lấy trèo lên. Tám mươi mấy người khác đều chết đuối.



Thuyền lật bên bờ biển, Tống Khản nắm được bó rạ nổi.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Tống Khản là người xứ Giang Hoài, làm nghề biên chép mướn cho Diêm Thiết Viện, lương mỗi tháng là hai ngàn, cưới vợ, an cư, chẳng tính làm nghề khác. Được hơn một năm, có lái buôn gạo đi sang Tam Môn, mời Khản theo giữ sổ sách, trả lương mỗi tháng tám ngàn. Vợ Khản là Dương Thị rất hiền, thấy đường Tam Môn hiểm trở bèn can ngăn. Khản không nghe, cứ đi. Quả nhiên gặp gió thuyền chìm, Khản té xuống nước, nắm được một bó rạ, trôi nổi vào gần bờ, thoát nạn. Những người khác đều chết. Do vậy bèn biết ơn bó rạ, thề chẳng vứt bỏ. Đi mấy dặm, có một bà lão trơ trọi bán trà, có hai gian nhà tranh, bèn xin ngủ đêm ở đấy. Đến sáng phơi áo, lại tháo bó rạ để phơi, tìm được một ống tre. Mở ra thì là kinh Kim Cang [đựng trong ấy]. Bà cụ bảo: “Là do từ sau khi ông ra đi, vợ ông lễ niệm, chép kinh thành khẩn, thiết tha, nên cứu được ông!” Nhân đấy, cụ chỉ cho con đường tắt về phía Đông Nam, bảo: “Cứ đi theo đường ấy, ngày mốt sẽ về đến nhà”. Khản đi hai ngày về đến nhà, thấy vợ liền thẹn thùng cảm tạ. Lấy kinh ra, quả nhiên là do vợ chép. Do vậy, nhờ người đến cảm tạ bà lão. Đến nơi thì người lẫn nhà đều chẳng thấy, chính là thần biến hóa ra. Tướng Quốc Trịnh Công Nhân nghe chuyện, ban cho Khản chức quan võ, cho ăn lương mỗi tháng năm ngàn. Do đấy, thỉnh bản kinh ấy để họ Trịnh tôn thờ.



Hóa cành trúc tại Tra Than, Vương Miện toàn mạng.



Chú thích: Theo Kim Cang Cưu Dị, vào đời Đường, Vương Miện thường trì kinh Kim Cang. Do được vua sai sang Quy Châu để lo việc, trở về đến Tra Than, thuyền bị lủng, năm người cùng đi đều chết đuối. Ông Miện vừa té xuống nước thì dường như có người đưa cho một cây tre, nương theo sóng khỏi bị chìm, đến được trấn Hạ Lao, tấp vào bờ, thoát chết. Thấy vật đang cầm trong tay chính là kinh Kim Cang thường thọ trì. Từ Tra Than đến Hạ Lao xa hơn ba trăm dặm.



Huyễn hóa cỏ bồng hao trong Nam Hải, Huệ sư sống hết tuổi thọ.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, đời Đường, vị Tăng ở Quảng Châu là Kiền Huệ, thọ trì kinh Kim Cang từ bé. Do vượt biển sang Nam An, gặp trận sóng gió lớn, thuyền lật, người chết, ngẫu nhiên Sư gặp được một đám cỏ bồng hao, dùng tay nắm chặt, lênh đênh lướt sóng ba ngày. Đến bờ, tách cỏ ra xem, thấy trong cỏ bồng hao có một quyển kinh Kim Cang chẳng hề bị ướt. Về sau, sư Kiền Huệ sống đến 130 tuổi, ngồi ngay ngắn qua đời. Cuốn kinh ấy tự tỏa ra khói thơm, dần dần hóa thành đám mây năm sắc, từ từ bốc lên trời. Tăng chúng và Thái Thú, quan liêu, già trẻ xa gần đều cùng trông thấy.



Sấm rền nhổ cột, dùng túi mây gấm đựng về.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Khang Trọng Thích qua Hải Đông mấy năm chẳng về. Mẹ nhớ mong tha thiết, có vị Tăng bảo: “Chỉ trì kinh Kim Cang thì con sẽ về”. Bà mẹ không biết chữ, nhờ người chép kinh, khoét cột nhà đặt vào, quét sơn lên trên, sáng tối kính lễ. Một hôm trời nổi sấm ầm ĩ, đánh cái cột ấy văng mất đi. Hơn tháng sau, Trọng Thích trở về, dùng túi gấm đựng một khúc gỗ to, thưa với mẹ: “Con ở giữa biển gặp bão, thuyền thủng, té xuống nước, chợt có sấm rền gieo khối gỗ này xuống nước, nhờ đó con được nổi lên, vào bờ. Cho nên con tôn kính nó”. Mẹ bảo: “Đây chính là cây cột đựng kinh của ta!” Phá gỗ tìm được kinh, mẹ con suốt đời trì tụng.



Thần quỷ đục thuyền, mau chép kinh chữ vàng.



Chú thích: Theo Cảm Ứng Ký, vào đời Tống, Tham Quân Quách Thừa Ân ở Ôn Châu tận lực hành phương tiện, nghiêm cấm giết trâu, dùng bột vàng chép kinh Kim Cang, gởi sang chùa Phật để cúng dường. Về sau, đi coi thi đã xong, trở về Thiệu Hưng, ngồi cùng thuyền với đồng liêu là Tư Pháp Nguyên Chẩn. Tham Quân ở khoang trước, Tư Pháp ở khoang sau. Gặp trận sóng gió dữ dội, bốn mặt đen kịt, thấy trong biển có quỷ thần đục thuyền làm hai đoạn. Khoang trước thuận gió vào bờ, khoang sau chìm mất. Ấy là vì Tư Pháp ăn hối lộ làm chuyện riêng tư, Tham Quân theo lẽ công giữ pháp, lại còn cậy vào sức kinh Kim Cang vậy.



Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 4, phần 3 hết


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 06 Jan 2016, 1:19 AM | Message # 56
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
[1] Nguyên văn “bình đỉnh quan”, còn gọi là “bình thiên quan”, hoặc “thông thiên quan”, là một loại mão, thường gọi chung là Miện. Theo thiên Dư Phục Chí trong Hậu Hán Thư thì: “Mũ miện đều rộng bảy tấc, cao một thước hai tấc. Đằng trước tròn, đằng sau vuông, lót bên trong bằng vải màu đỏ và xanh, phía trên phủ bằng vải đen. [Mũ miện của hoàng đế] kết bạch ngọc làm 12 tua rủ xuống, [những tua ở] phía trước [dài] bốn tấc, [những tua ngọc ở] phía sau ba tấc. Dùng lụa màu kết làm giải buộc mão. Tam công, chư hầu dùng thanh ngọc để kết thành bảy tua, khanh đại phu năm tua kết bằng hắc ngọc, nhưng mũ các quan chỉ có tua đằng trước, không có tua đằng sau. Bên cạnh kết thêm hoa bằng sợi bông màu vàng. Khi tế trời đất, tế tổ tiên, hoặc hành lễ trong minh đường mới đội mão này”. Từ đời Tần trở đi, chỉ riêng hoàng đế mới đội miện giống như thời cổ, các quan, hoàng hậu, quý phi, nữ quan vẫn đội miện nhưng phần trên thay vì để thẳng như của vua thường bẻ cong xuống, chiều cao thấp hơn, màu sắc thay đổi tùy theo chức quan, chất liệu vải phủ cũng thay đổi thành gấm, lụa, the v.v... gắn thêm những vật trang trí như chim phụng (nhất là mão của hoàng hậu, thường gọi là “phụng quan”), hoa lá bằng vàng, bằng ngọc lấp lánh khiến cho người ta vừa thoạt nhìn không thể nhận ra đó là miện.

[2] Phù sứ: Sứ giả cầm lệnh phù.

[3] Trường Thủy Tử Duệ là người Bắc Tống, quê ở Thiệu Hưng, Tú Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). Thoạt đầu Sư theo học kinh Lăng Nghiêm với ngài Hồng Hải, sau theo ngài Huệ Giác, đổ công nghiên cứu tông chỉ Hoa Nghiêm, trụ tại Trường Thủy (nay là Sản Thủy, tỉnh Thiểm Tây), nên thường được gọi là Trường Thủy Tử Duệ. Học trò cả ngàn người, được coi là nhân vật bậc nhất trong tông Hoa Nghiêm thời Tống. Ngài còn để lại tác phẩm Lăng Nghiêm Kinh Sớ (thường gọi là Trường Thủy Sớ) là một trước thuật trọng yếu của tông Hoa Nghiêm.

[4] Mộc Hoạn: Còn gọi là Vô Hoạn. Thông thường, Mộc Hoạn Tử được coi là hạt của cây Bồ Đề, nhưng một số tự điển như Phật Quang Sơn Phật Học Từ Điển và Phật Học Đại Từ Điển của Đinh Phước Bảo chỉ nói chung chung: Mộc Hoạn là loại cây thân cao hơn một trượng, đầu mùa Hạ nở hoa nhỏ màu vàng, kết trái, khi khô trái nứt làm ba, bên trong có hạt giống như hạt châu màu đen, thường dùng kết thành chuỗi để niệm Phật. Từ điển Đinh Phước Bảo giải thích thêm Mộc Hoạn Tử là hạt cây Aristkaksa, và nói hạt cây này có tánh trừ quỷ, nên gọi là Vô Hoạn. Ông Đinh dẫn kinh Thiên Thủ Hợp Dược như sau: “Nếu có hành nhân muốn hàng phục các đại lực quỷ thì lấy gỗ cây A Sắt Ca Sài, tụng chú vào đó hai mươi mốt biến, đốt trong lửa”. Theo Bản Thảo Cương Mục thì có bảy loại Mộc Hoạn Tử khác nhau: Hoàn, Mộc Hoạn Tử, Cấm Lâu, Phi Châu Tử, Du Châu Tử, Bồ Đề Tử và Quỷ Kiến Sầu.

[5] Trong Quan Thoại, 卌 có âm là sé trong khi 薛 có âm là xie, gần tương tự nhau nên dùng chữ 薛 để hình dung cách đọc chữ 卌.

[6] Nguyên văn “thuộc khoáng thứ” (lúc lâm chung). “Thuộc Khoáng” là một nghi thức trong tang ma của Hán tộc thời cổ. Khi người bệnh sắp mất, người nhà đem sợi tơ hãy còn mới (thường gọi là Khoáng) đặt trước mũi để xem khi nào sợi tơ không còn động đậy thì biết là người ấy đã chết. Do vậy, chữ Thuộc Khoáng thường được dùng để chỉ lúc lâm chung, như sách Lễ Ký, thiên Táng Đại Ký chép: “Thuộc Khoáng dĩ hề tuyệt khí” (đặt sợi tơ để chờ lúc tắt hơi). Trịnh Huyền chú giải: “Khoáng, nay chính là sợi tơ còn mới, dễ bị lay động, đem đặt trước mũi, để thăm dò”.

[7] Bác Sĩ là một chức quan dành cho những người tinh thông một môn học nào đó, nhất là những người chuyên nghiên cứu một bộ kinh điển Nho gia. Thời Hán, lập ra chức Ngũ Kinh Bác Sĩ là những người thông thạo toàn bộ Ngũ Kinh của Nho Gia. Dần dần đối với các ngành khác, đều có các chức quan được coi là chuyên gia của một môn học ấy, chẳng hạn như thời Đường có Thái Học Bác Sĩ, Thái Y Bác Sĩ, Luật Học Bác Sĩ v.v... Những vị này đảm nhiệm vai trò dạy học là chính. Dần dần chữ Bác Sĩ bị dân gian lạm dụng để chỉ những người thông thạo, sành sõi bất cứ thứ nào đó, như Trà Bác Sĩ là người sành trà, giỏi chọn trà, khéo pha trà. Đến nỗi sau này, vào đời Minh, các anh bồi ở tiệm trà đều được gọi Trà Bác Sĩ tuy họ chỉ biết bưng bê, dọn dẹp, hầu hạ khách uống trà.

[8] Nguyên văn “khanh”. Thoạt đầu, Khanh vốn thường được dùng để chỉ sáu vị quan lớn đầu triều tức Thiên Quan Trủng Tể (Thượng Thư bộ Lại), Địa Quan Tư Đồ, Xuân Quan Tư Bá, Hạ Quan Tư Mã, Thu Quan Tư Khấu, Đông Quan Tư Không. Từ đời Bắc Ngụy trở đi, dưới các vị này (gọi là Chánh Khanh) còn đặt thêm chức phụ tá gọi là Thiếu Khanh. Quan của các chư hầu thì gọi là Khanh Đại Phu. Từ thời Đường, các quan lớn thường được gọi chung là Khanh nên chúng tôi không dám đoan chắc Khanh ở đây chỉ chức quan nào.

[9] Đây là lời chú thích ý nghĩa của chữ Nhập (hai mươi) trong nguyên văn lời ca tụng: “Kỳ Hoàn gia điệp, nhập tải thưởng công”.

[10] Nguyên văn “tú tòa” là tòa (ghế cao) phủ khăn bằng gấm thêu.

[11] Trong lời ca tụng, cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh đã viết như sau: “Hồng Chánh ngẫu đồng tánh danh, toại sử hồng ly ngư võng” (Sư Thích Hồng Chánh ngẫu nhiên có cùng họ tên với Thường Hồng Chánh, nên khiến cho chim hồng mắc lưới cá). “Hồng ly ngư võng” vốn là một thành ngữ dựa theo ý hai câu thơ trong bài Tân Đài của Kinh Thi: “Ngư võng chi thiết, hồng tắc ly chi”. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: “Hồng là chim hồng, ly là vướng mắc”, ý nói: “Giăng lưới để bắt cá, nào ngờ chim hồng vướng lưới”. Do vậy, từ ngữ “hồng ly ngư võng” hoặc “ngư võng hồng ly” được dùng để chỉ sự xảy ra bất ngờ ngoài dự liệu. Do thời cổ, những chữ đồng âm thường dùng theo lối giả tá, nên cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh mới nói chữ Ly (离: xa lìa) phải được hiểu là chữ Lệ (麗: dính bám, vướng mắc) do thời cổ, hai chữ này đọc giống nhau nên thường được dùng lẫn lộn.

[12] Đây là lời giải thích cho ý nghĩa chữ Tạp trong câu nói của thầy tướng: “Sư niên chỉ tạp nhất” (Sư chỉ sống được ba mươi mốt tuổi).

[13] Ý Dĩ (tên khoa học là Coix lacryma-jobi) chính là hạt Bo Bo, còn được gọi là Ý Nhân, Bạch Ý Nhân, Ý Mễ, là một loại thảo mộc thuộc họ Ý Dĩ. Rễ và hạt thường dùng để làm thuốc. Đông Y cho rằng hạt Ý Dĩ tánh hơi hàn, vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, kiện tỳ, chủ trị các căn bệnh thủy thũng, tê chân, phong thấp, tiêu chảy, đau ruột v.v... Do vậy, hạt Ý Dĩ thường được cho vào Sâm Bổ Lượng để giải nhiệt trong mùa hè.

[14] Khai là cho phép, Giá là ngăn cấm. Khai tức là những điều được ngăn cấm, nhưng cho phép làm trong một số điều kiện nào đó. Chẳng hạn, giới luật cấm uống rượu, nhưng nếu vì bịnh tật phải dùng thuốc có chất rượu, thì phải bạch với chúng Tăng để xin phép dùng. Khi hết bệnh, không được dùng nữa. Giá là những điều kiện quy định để ngăn ngừa sự tùy tiện phá giới viện cớ giới ấy đã được “khai”.

[15] Khổng Mục là chức nha lại giữ văn thư cho các quan chức cao cấp, có nhiệm vụ quản lý sổ sách, án từ, phân phái công sai v.v... được lập ra từ đời Đường. Theo Tư Trị Thông Giám, danh từ Khổng Mục có nghĩa là từ chuyện to tát đến chuyện vặt vãnh trong nha môn đều do chức vụ này quản thủ nên mới gọi là Khổng Mục. Đến đời Thanh, trong Hàn Lâm Viện lập ra chức Khổng Mục nhằm xử lý những việc lặt vặt hằng ngày.

[16] Châu Vũ Đế (543-578) thuộc sắc dân Tiên Ty, tên thật là Vũ Văn Ung, là hoàng đế thứ ba của nhà Bắc Châu thời Nam Bắc Triều, vốn là con trai thứ tư của quyền thần Vũ Văn Thái nhà Tây Ngụy. Năm Vũ Thành thứ 2 (560), quyền thần Vũ Văn Hộ hạ độc Châu Minh Đế (Vũ Văn Dục), tôn Lỗ Quốc Công Đại Tư Không Vũ Văn Ung lên làm vua. Vũ Văn Ung tích cực Hán hóa dân tộc Tiên Ty, đam mê quyền lực, thích gây chiến mở rộng lãnh thổ, thường đánh nhau với dân Đột Quyết. Nhằm tích cực vơ vét tài sản trong nước để phục vụ chiến tranh, ông ta chủ trương hủy diệt Phật giáo, tịch thâu chùa chiền, đoạt ruộng đất, bắt Tăng Ni hoàn tục để có thêm lính và sanh con đẻ cái cho dân số đông thêm.

[17] Bạch Khởi (?-257 trước Công Nguyên), còn gọi là Công Tôn Khởi, là một danh tướng của nước Tần thời Chiến Quốc. Nổi danh với tài thao lược và hiếu sát đến nỗi người thời ấy gọi Bạch Khởi là “nhân đồ” (gã đồ tể giết người). Thành tích đẫm máu nhất của Bạch Khởi là trong trận chiến Trường Bình (vào năm 260 trước Công Nguyên), Tần và Triệu đánh nhau, Triệu Quát thiếu lương tan vỡ. Bạch Khởi bắt được hơn 40 vạn quân Triệu. Sợ khó thể quản thúc quân Triệu, Bạch Khởi ngầm hạ lệnh đãi cho quân Triệu ăn uống say sưa, rồi đêm ấy, quân Tần cứ thấy ai đầu không quấn khăn trắng là chém, hơn 40 vạn quân Triệu trong một đêm chỉ còn 240 tên lính thoát chết. Sử đương thời chép: “Máu chảy vang tiếng tong tong nghe rõ mồn một, nước của dòng Dương Cốc biến thành đỏ thẫm, đến nay còn gọi là Đan Thủy”. Bạch Khởi lại sai chặt lấy đầu quân Triệu xếp thành núi Đầu Lâu, dựng một ngôi đài trên đó gọi là Bạch Khởi Đài.

[18] Biểu huynh: Anh họ bên ngoại. Ở Trung Hoa mãi cho đến đời Thanh, vẫn còn giữ hủ tục cho anh em bên ngoại được lấy nhau. Tức là con cô con cậu và con dì con già được lấy nhau.

[19] Phong tử: Người giữ nhiệm vụ đốt lửa báo động tại các trạm canh khi có địch quân tấn công.

[20] Đảng Hạng (Tangut, còn gọi là Đường Ngột) là một sắc dân du mục sống ở Tây Bắc Trung Hoa, thường được coi là một nhánh của người Khương (theo các nhà nghiên cứu, chữ Khương thường được người Hán thời Cổ dùng để phiếm chỉ các sắc dân pha trộn giữa người Tây Tạng, người Hán và Miêu, con cháu các vương quốc thuộc tộc Tam Miêu thời cổ bị vua Đại Vũ diệt quốc). Người Đảng Hạng sống chủ yếu tại Tứ Xuyên. Vào thời Đường, do bị người Thổ Phiên (Tây Tạng) truy bức, họ phải di cư đến Ninh Hạ, Cam Túc, Thiểm Tây. Trong tám bộ tộc di cư này, bộ tộc hùng mạnh nhất là bộ tộc Thác Bạt. Thủ lãnh Thác Bạt Tư Cung từng giữ chức Định Nạn Quân Tiết Độ Sứ và được ban quốc tánh là Lý. Dòng họ Thác Bạt đổi thành họ Lý kể từ đây. Đầu đời Tống, Lý Kế Thiên tự lập, xưng đế, lập ra nhà Tây Hạ, tồn tại 200 năm cho đến khi bị nhà Nguyên của Mông Cổ diệt vong. Tuy vậy, Lý Nguyên Hạo (cháu nội của Lý Kế Thiên) đề cao tinh thần dân tộc, chống lại sự Hán hóa nên đã đổi họ thành Ngôi Danh, sáng chế một loại văn tự dùng riêng cho người Tây Hạ gọi là Tây Hạ Văn, tận lực phát huy truyền thống văn hóa riêng biệt của Tây Hạ, nhưng con cháu Nguyên Hạo vẫn giữ họ Lý. Có thuyết cho rằng danh xưng Tangut là do người Mông Cổ đọc trại chữ Đảng Hạng mà ra. Sấm Vương Lý Tự Thành (người lật đổ nhà Minh) chính là hậu duệ của Lý Kế Thiên.

[21] Tường sanh: Thời cổ, những trường quốc lập ở huyện, phủ, quận đều gọi là Tường (庠). Theo quy chế đời Minh - Thanh, học sinh từ các nơi trúng tuyển vào học trường ấy đều gọi là Tường Sanh. Đôi khi, người đậu Tú Tài cũng được gọi là Tường Sanh hoặc Ấp Tường Sanh. Khi viết văn thư trình lên quan, những người đã đậu Tú Tài cũng thường tự xưng là Tường Sanh.

[22] Thái Học (còn gọi là Quốc Tử Học, Quốc Tử Giám) chính là trường đại học thời cổ, được lập ra dưới thời Tây Châu ở kinh đô. Vị quan đảm nhiệm chức vụ dạy học tại trường Thái Học gọi là Thái Học Bác Sĩ. Những vị này thường xuất thân từ Ngũ Kinh Bác Sĩ, tức là những vị thông thạo Ngũ Kinh của Nho Gia. Những người được tuyển vào học trường Thái Học phải đỗ kỳ thi do quan Thái Thường khảo hạch.

[23] Hán Vương Lượng tên thật là Dương Lượng (575-605), tự là Đức Chương, còn có tên là Kiệt, là con thứ năm của Tùy Văn Đế (Dương Kiên). Ông được cha phong làm Hán Vương vào năm Khai Hoàng thứ 5 (581), tước phong đến Thượng Trụ Quốc, Hữu Vệ Đại Tướng Quân, cai quản Tinh Châu, rất được Tùy Văn Đế thương yêu. Khi Tùy Văn Đế băng, Tùy Dạng Đế (Dương Quảng) lên ngôi, sai Xa Kỵ Tướng Quân Khuất Đột Thông ép Dương Lượng về triều, giải giao binh quyền. Biết anh có lòng nghi kỵ, Dương Lượng bèn dấy binh làm phản.

[24] Cao Ly nói ở đây chính là xứ Cao Cú Ly (Cao Câu Ly - Koguryo), một vương quốc cổ thời Tam Quốc ở Đại Hàn. Năm Khai Hoàng 18 (598), Anh Dương Vương xứ Cao Câu Ly là Cao Nguyên đem kỵ binh tấn công Liêu Tây, bị tổng quản Doanh Châu đánh lui. Tùy Văn Đế bèn sai Hán Vương Dương Lượng, Vương Thế Tích và Châu La Hầu đem 30 vạn quân sang đánh Cao Cú Ly, nhưng gặp phải mưa dầm lâu ngày, quân sĩ bị bệnh dịch chết rất nhiều, đành phải rút về.

[25] Thâu thạch là một loại đá có lẫn chất đồng thau, rất cứng chắc. Chữ này cũng dùng để chỉ một hợp kim đồng thau được chế bằng đồng nấu lẫn với Lô Cam Thạch (Lô Cam Thạch là cách người Hoa dịch chữ Calamine. Calamine có chứa hai chất carbonate kẽm (ZnCO3) và silicate kẽm - Zn4Si2O7. Ngoài ra còn có một lượng nhỏ những chất khác như oxyde sắt, manganese, đồng, cadmium v.v....

[26] Đây là cuộc biến loạn kéo dài suốt 8 năm từ năm 755 cho đến 763. Loạn quân do An Lộc Sơn và bộ tướng là Sử Tư Minh cầm đầu nên thường được gọi là “An Sử chi loạn”. Do chính sách sai lầm, Đường Huyền Tông lập ra mười binh trấn ở biên cương, giao toàn quyền cho Tiết Độ Sứ và Kinh Lược Sứ nắm giữ. Đã thế, ở một số vùng, Tiết Độ Sứ lại còn kiêm nhiệm luôn các chức vụ hành chánh như Án Sát Sứ, An Phủ Sứ, Chi Độ Sứ, tức là Tiết Độ Sứ trở thành một lãnh chúa lớn cả vùng. Đồng thời, vua còn cho rằng đã có các binh trấn bảo vệ bên ngoài, không cần phải có binh lực mạnh mẽ ở trong, nên quân đội trung ương rất yếu kém. Do sợ các quan người Hán quyền to chức trọng sẽ cướp ngôi, vua trọng dụng những người Hồ, hoặc gốc Hồ, giao trọng quyền trấn giữ các binh trấn vì tin rằng họ sẽ một dạ trung thành với chánh quyền trung ương. Vua tin dùng An Lộc Sơn đến nỗi cho ông ta kiêm nhiệm Tiết Độ Sứ cả ba trấn Bình Lô, Phạm Dương và Hà Đông, nắm tới gần 15 vạn quân, trong khi binh lực cả nước chỉ có 50 vạn, riêng lính của hoàng đế chỉ có 13 vạn. Vua lại lười nhác, chỉ lo hưởng lạc, triều chánh nằm hoàn toàn trong tay bọn tham quan như Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung v.v... Do thấy nhà Đường quá suy bại, An Lộc Sơn nảy lòng muốn chiếm đoạt ngai vàng bèn liên minh với các sắc tộc Đồng La, Hề, Khiết Đan, Thất Vỹ, Đột Quyết v.v... nổi loạn tại Kế Thành (nay là Bắc Kinh) vào năm Thiên Bảo 14 (755), lấy cớ thanh lý Đường thất, trừ gian thần Dương Quốc Trung. Quân Đường không giao chiến đã lâu, thua trận thảm hại, vua tôi phải chạy vào đất Thục lánh nạn. Đến Mã Ngôi Pha, quân lính không chịu chiến đấu. Để xoa dịu lòng quân, Đường Huyền Tông phải xử tử Dương Quốc Trung và buộc ái phi Dương Thái Chân (Dương Quý Phi, là em gái của Dương Quốc Trung) thắt cổ chết. Đến năm Chí Đức thứ 2 (757), con trai An Lộc Sơn là An Khánh Tự giết cha đoạt ngôi, xưng đế, sai Sử Tư Minh quay về giữ Phạm Dương. Sau đấy, An Khánh Tự bị quân Đường đánh bại, phải chạy về Phạm Dương. Thấy các sắc tộc Khiết Đan và Đồng La quy phục Sử Tư Minh, An Khánh Tự ngầm mưu sát Sử Tư Minh. Sử Tư Minh bèn đầu hàng nhà Đường, được phong là Quy Nghĩa Vương, đem quân tiễu trừ An Khánh Tự; nhờ đó, quân Đường mới dần dần dẹp tan được cơn biến loạn này.

[27] Đây là tám vị Kim Cang thường được phụng thỉnh lễ bái trước khi tụng kinh Kim Cang: Thanh Trừ Tai Kim Cang, Tích Độc Kim Cang, Hoàng Tùy Cầu Kim Cang, Bạch Tịnh Thủy Kim Cang, Xích Thanh Kim Cang, Định Trừ Tai Kim Cang, Tử Hiền Kim Cang và Đại Thần Kim Cang. Ngoài ra, còn có bốn vị Kim Cang Bồ Tát thường được phụng thỉnh là Kim Cang Quyền Bồ Tát, Kim Cang Sách Bồ Tát, Kim Cang Ái Bồ Tát và Kim Cang Ngữ Bồ Tát (bốn vị này tiêu biểu cho lực dụng của Tứ Phương Phật trong Mật giáo).

[28] Lý Đồng Tiệp (?-829) là con trai của Hoành Hải Tiết Độ Sứ Lý Toàn Lược. Khi Toàn Lược chết, Lý Đồng Tiệp tự cử mình làm người kế nhiệm, sai em là Lý Đồng Chí và Lý Đồng Tốn vào triều xin được sách phong. Nhưng Đường Văn Tông lại sai Ô Trọng Dận làm Hoành Hải Tiết Độ Sứ, đổi Lý Đồng Tiệp làm Tiết Độ Sứ Duyện Châu. Lý Đồng Tiệp bèn kháng chỉ, nên mới bị nhà Đường sai Vương Trí Hưng, Vương Diên Tấu và Lý Hựu đánh dẹp.

[29] Hỏa tốt: Lính có nhiệm vụ lo đốt đuốc, chuẩn bị tên lửa, cũng như các chất dễ cháy dùng để tấn công thành.

[30] Kim là một vương triều ở Bắc Trung Hoa do bộ tộc Hoàn Nhan (Wanyan) của người Nữ Chân (Jurchen, tổ tiên nhà Thanh sau này) sáng lập, tồn tại từ năm 1115 đến 1234. Vua khai quốc là Hoàn Nhan A Cốt Đả (Wanyan Aguda). Vốn bị nhà Liêu thống trị và đàn áp, người Nữ Chân dưới sự lãnh đạo của A Cốt Đả đã liên tục phản kháng, khôn khéo liên kết với nhà Tống và cuối cùng chiếm được toàn quyền cai quản vùng Liêu Đông. Sau khi A Cốt Đả mất, em trai A Cốt Đả là Hoàn Nhan Ngô Khất Mại (Wanyan Wuqimai) nối ngôi đã diệt được nhà Liêu, buộc nhà Tống phải xưng thần với nhà Kim và triều cống mỗi năm cả 200,000 quan tiền, 300 ngàn tấm lụa. Cuối cùng nhà Kim bị Mông Cổ diệt quốc vào năm Thiên Hưng thứ ba (1234) dưới đời vua Kim Ai Tông. Sau này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhachi) thống nhất 13 bộ tộc Nữ Chân, thành lập nhà Hậu Kim (1616-1636). Con trai Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Hoàng Thái Cực đổi tên dân tộc Nữ Chân thành Mãn Châu vào năm 1635 và đổi quốc hiệu Hậu Kim thành Đại Thanh vào năm sau.

[31] Châu Thử (742-784) là vũ tướng đời Đường, quê ở Bình Xương, U Châu (nay thuộc huyện Xương Bình, Bắc Kinh). Châu Thử và em là Châu Thao đều là bộ tướng của Lô Long Tiết Độ Sứ Lý Hoài Tiên. Khi Lý Hoài Tiên chết, Châu Hy Thái kế nhiệm làm Tiết Độ Sứ càng đặc biệt tín nhiệm Châu Thử. Khi Châu Hy Thái bị thủ hạ mưu sát, Châu Thao được đề cử làm Tiết Độ Sứ, sai anh về kinh chầu vua vào năm Đại Lịch thứ 9 (774). Do thời đó, các Tiết Độ Sứ không về chầu vua, nên vua nghi kỵ, giữ lại kinh đô, nói thác là để làm cố vấn, nhưng Châu Thử chỉ có hư vị. Bất ngờ, năm Kiến Trung thứ 3 (782), Châu Thao phản Đường, Châu Thử bị nghi ngờ, cấm rời khởi kinh đô. Năm sau, cuộc biến loạn ở Kính Nguyên nổ ra, Đường Đức Tông phải chạy vào Phụng Thiên (nay thuộc Càn Huyện, tỉnh Thiểm Tây) lánh nạn. Châu Thử thừa cơ nắm binh quyền, xưng là Ngự Sử. Sau đó, loạn quân đưa Châu Thử lên làm vua, đặt quốc hiệu là Tần, lấy niên hiệu là Ứng Thiên, rồi đổi quốc hiệu thành Hán, liên kết với Châu Thao. Về sau, Châu Thử bị Lý Thịnh đánh bại, phải chạy sang Kính Châu nương náu, nhưng Kính Châu Tiết Độ Sứ là Điền Hy Giám đóng chặt cửa thành không tiếp, lại phải chạy sang Mã Quan tính nương náu với Hạ Hầu Anh là Thứ Sử đất Bành Nguyên, nhưng họ Hạ không dung, phải chạy tiếp. Cuối cùng, Châu Thử bị bộ tướng là Lương Đình Phân bắn tên té ngựa, sau đấy bị Hàn Mân giết chết, chặt đầu gởi về Lương Châu, xin hàng nhà Đường.

[32] Phương Lạp (?-1121) là người huyện Hấp, tỉnh An Huy, là lãnh tụ nông dân dấy loạn. Phương Lạp xuất thân là bần cố nông, tánh tình hảo sảng, khéo biết thu phục lòng người, lại mạnh khỏe, giỏi võ, lắm tài vặt, hắn gia nhập Ma Ni Giáo (Minh Giáo, có thuyết nói Phương Lạp đã trở thành giáo chủ đạo này) để lợi dụng tín đồ làm loạn. Năm Tuyên Hòa thứ 2 (1120), họ Phương triệu tập giáo chúng khởi nghĩa tại thôn Thất Hiền, huyện Hấp, rồi tiến đánh Hàng Châu, lần lượt chiếm giữ 52 huyện thuộc Giang Tô, Chiết Giang, An Huy, nhưng chỉ đến năm sau (1121) đã bị tỳ tướng của Vương Uyên là Hàn Thế Trung bắt sống rồi bị Trung Châu Phòng Ngự Sứ là Tân Hưng Tông xử tử vào tháng Tám năm ấy.

[33] Đại Lý Tự tương đương với Tối Cao Pháp Viện hiện thời, quản trị việc thẩm tra, xét xử, phán án và giam giữ. Án do Đại Lý lập phải được Hình Bộ tái thẩm và phê chuẩn. Dưới thời Tùy - Đường, những vụ trọng án phải được Đại Lý Tự Khanh (người đứng đầu Đại Lý Tự), Thượng Thư và Thị Lang của Hình Bộ phối hợp với Ngự Sử Trung Thừa cùng xét án.

[34] Nguyên văn “kiềm” (鉗). Theo Thuyết Văn Giải Tự, Kiềm là hình cụ thời cổ, có hình tròn đúc bằng sắt để khóa chặt cổ tội nhân. Như vậy, Kiềm là một loại gông sắt.

[35] Địa Quan Thị Lang chính là Thị Lang của Hộ Bộ (Thị Lang giống như Thứ Trưởng hiện thời). Thời Võ Tắc Thiên, đã đổi một loạt danh xưng các quan chức, như Thừa Tướng được đổi thành Văn Xương Tả Hữu Tướng, Thiên Quan Thượng Thư chính là Lại Bộ Thượng Thư, Xuân Quan là bộ Lễ, Hạ Quan là bộ Binh v.v...

[36] Tức chức Thái Học Bác Sĩ, là giáo sư của trường Quốc Tử Giám.

[37] Lan Châu là thủ phủ của Cam Túc (tỉnh cực Tây của Trung Hoa).

[38] Thổ Phiên (Tǔbō) là cách phiên âm của người Hán thời Đường để gọi vương quốc cổ Tây Tạng. Người Tây Tạng thời cổ gọi đất nước của họ là Thubod (“vùng tuyết đọng”, và nhiều nhà nghiên cứu tin rằng danh xưng Tibet hiện thời trong các ngôn ngữ Tây Phương là do chữ này bị đọc trại ra). Vương quốc Thubod do vua Namri Songtsen sáng lập, có địa bàn quanh vùng Lhasa hiện thời, và vua Namri là người đầu tiên gởi sứ đoàn sang nhà Đường để tiến cống và giao hảo. Vương quốc này đạt đến mức cực thịnh dưới thời Songtsan Ganpo (604-650, sử Trung Hoa thường phiên âm thành Tông Tán Cam Bố). Songstan Ganpo bắt đầu phái quân quấy rối biên giới nhà Đường, đánh bại quân Thổ Dục Hồn (Tuyuhun, một tiểu vương quốc sống quanh hồ Koko Nur), tạo thành một mối đe dọa lớn cho nhà Đường. Để xoa dịu và ve vãn Thổ Phiên, Đường Thái Tông gả công chúa Văn Thành. Theo chân công chúa, đạo Phật được truyền vào Tây Tạng lần thứ nhất. Do vậy, Phật giáo Tây Tạng vẫn thường coi Songstan Ganpo là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, và công chúa Văn Thành là hóa thân của Bồ Tát Đa La (Tara, Độ Mẫu, một hóa thân khác của Quán Thế Âm Bồ Tát), còn thứ phi của Songstan Gampo là công chúa của một tiểu vương ở Nepal thì được coi là hóa thân của Tỳ Câu Chi Quán Âm Bồ Tát. Người Tây Tạng vẫn tin tượng Phật được thờ ở chùa Jokhang (ngôi đại quốc tự tại kinh đô Lhasa) là do công chúa Văn Thành đem từ Trung Hoa đến.

[39] Trong kinh Kim Cang có đoạn: “Nhĩ thời, Tu Bồ Đề văn thuyết thị kinh, thâm giải nghĩa thú, thế lệ bi khấp, nhi bạch Phật ngôn: ‘Hy hữu, Thế Tôn! Phật thuyết như thị thậm thâm kinh điển, ngã tùng tích lai sở đắc huệ nhãn, vị tằng đắc văn như thị chi kinh” (Khi ấy, Tu Bồ Đề nghe nói kinh này, hiểu ý nghĩa sâu xa, rơi lệ, buồn khóc, mà bạch Phật rằng: “Hiếm có thay, bạch đức Thế Tôn! Phật nói kinh điển rất sâu như thế này, con kể từ khi đắc huệ nhãn, từ trước đến nay chưa hề được nghe kinh như thế này”).

[40] Đãi Chế: Đãi Chế có nghĩa là đợi chờ chiếu chỉ, chế lệnh của nhà vua. Thoạt đầu, Đãi Chế không phải là một chức quan mà chỉ là danh xưng gọi vị quan trực nhật. Do đầu đời Đường, sau một thời gian dài chiến tranh giữa các quân phiệt cát cứ vào cuối đời Tùy, khi nhà Đường thành lập, rất nhiều việc phức tạp phải giải quyết nên Đường Thái Tông hạ lệnh các quan từ Ngũ Phẩm trở lên phải thay phiên nhau trực nhật tại Trung Thư Tỉnh và Môn Hạ Tỉnh để khi vua cần hỏi ý kiến hay sai phái sẽ luôn có người đủ kinh nghiệm đảm đương. Cuối cùng, phải lập hẳn ra một chức quan lo việc xử lý thường vụ, kiêm cố vấn thân cận của nhà vua. Về sau, mỗi cơ quan chính phủ cũng lập ra những chức Đãi Chế giữ vai trò xử lý thường vụ như Bảo Hòa Điện Đãi Chế, Long Đồ Các Đãi Chế, Thiên Chương Các Đãi Chế v.v...


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 06 Jan 2016, 10:28 PM | Message # 57
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích

Cảm Ứng Tụng

Quyển 4

Phần 4



Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn

Ấn Quang Đại Sư giám định

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang






Ngạn Thông vội gieo khe suối sâu, tay nhuốm mùi thơm phức.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, đời Tùy, Lục Ngạn Thông hằng ngày trì kinh Kim Cang mười biến, lúc làm quan ở Vũ Lao, người trong ấp muốn giết chết họ Lục để theo Lý Mật[1]. Ngạn Thông vội bỏ trốn, kẻ giặc cầm dao đuổi theo. Trước mặt là khe suối sâu, bí quá phải nhảy xuống. Chợt có người nắm lấy tay phải, đặt ông ta trên tảng đá, trọn chẳng bị thương tích gì! Trên hư không có tiếng nói: “Do ông niệm kinh mà ra”. Do vậy bèn trở về nhà, cánh tay có mùi hương lạ cả ngày không hết. Về sau, ông làm quan tới chức Phương Bá[2], thọ ngoài chín mươi.



Nguyên Sơ té giữa giòng, lưng tỏa ánh sáng.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Nguyên Sơ ở Cửu Giang bán củi ở chợ, tuổi đã 70, thường trì kinh Kim Cang. Đến chiều, trở về Giang Bắc, giữa giòng sóng to gió lớn nổi lên, những người cùng đi đều chết sạch. Chỉ mình Nguyên Sơ nổi trên mặt nước, liền giạt vào bờ Nam. Những thuyền đậu ở đó đều là thuyền của thương nhân lớn, thấy sau lưng Nguyên Sơ có ánh sáng tỏa cao đến mấy thước, cho là bậc quý nhân. Đến lúc nói chuyện mới biết là ông lão nhà quê. Do vậy, họ cật vấn ánh sáng từ đâu mà có, ông đáp: “Tôi đọc kinh Kim Cang năm mươi năm, đeo kinh trên lưng. Ách nạn từ trước tới nay, không gì chẳng được thoát!”



Lợi Tân được cứu, dường có thần long.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Trần Lợi Tân ở Cối Kê tụng kinh Kim Cang từ bé. Qua Đông Dương, gặp lúc trời mưa lâu ngày, nước lớn tràn ngập, thuyền của Lợi Tân nương gió bơi tới Giới Thạch Đậu, bị sóng gió vùi dập, hai mươi mấy người cùng thuyền đều bó tay. Lợi Tân vội tụng kinh Kim Cang, chợt có một vật giống như con rồng đỏ chặn ngang, nâng thuyền lên, do vậy được cứu.



Duy Ngọc sắp chìm, chợt mái chèo trôi tới.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, Biệt Giá[3] xứ Kiền Châu là Lý Duy Ngọc tụng kinh Kim Cang, thường ngồi thuyền vượt Tam Hiệp, nước chảy xiết, mái chèo gãy, thuyền sắp đắm, bèn dốc hết sức niệm kinh, chợt thấy một mái chèo theo giòng nước trôi tới, bèn được thoát.



Thần đi trên mặt nước, nâng cao thuyền bị chìm.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Minh, Trầm Tế Hoàn trì kinh Kim Cang, từng giữa giòng gặp gió lốc tại Thái Hồ, sóng to như cái nhà, mái chèo, bánh lái mất sạch. Thuyền đã chìm xuống đáy nước. Trong lúc hô hoán, cầu cứu, người trên bờ thấy có hai vị thần kim giáp đi trên mặt nước, ở hai bên nâng thuyền lên, kềm đi như bay. Trong khoảnh khắc đến được bờ. Người trong thuyền biết là thần Kim Cang, cùng cảm đức của họ Trầm.



Rồng đánh nhau trên không, ngầm giúp thuyền chở lương.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, vào đời Minh, Châu Thọ Tăng ở Tô Châu chở lương vào Hoàng Hà. Đồng cốt nói: “Ắt phải sát sanh để trám miệng thần sông”. Ông Châu chuyên trì kinh Kim Cang, cho rằng không thể làm chuyện ấy được, mỗi ngày chỉ tụng kinh hồi hướng cho thần sông mà thôi. Một hôm mưa to gió lớn, rồng đánh nhau trên không, cột buồm, mui thuyền, phên, liếp đều bị cuốn sạch. Hàng vạn con thuyền trôi giạt không điều khiển được! Ông Châu đốt hương tụng kinh càng thêm thành kính, trong khoảnh khắc gió lặng, thuyền chở lương không bị tổn hại gì.



Xóm thợ đào bạc gặp nạn, nhà tranh vẫn còn.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, trong niên hiệu Diên Hòa đời Đường, nhà của dân đào bạc ở Nhiêu Châu có hơn một vạn, toàn là nhà tranh cất san sát. Một hôm hỏa hoạn, một vạn căn nhà đều cháy sạch, chỉ riêng một căn vẫn còn. Hỏi ra thì nhà người ấy đời đời thờ Phật, trì kinh Kim Cang.



Lửa thiêu chốn săn bắn, đám cỏ tự xum xuê.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Tôn Thọ ở Bình Châu đi săn ở Hải Tân, đốt lửa giữa đồng, cỏ cây cháy sạch, chỉ có một đám cỏ không cháy. Lục tìm thì được một hộp kinh Kim Cang, bên cạnh đó có một vị Tăng đã chết nhưng vẻ mặt không thay đổi. Lửa chẳng cháy được là do lẽ ấy.



Lão Tử thành tro, riêng đề kinh Bát Nhã chỉ ám khói.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào năm Trinh Quán thứ 5 (631) đời Đường, tại huyện Ba Tây ở Long Châu, Lệnh Hồ Nguyên Quỹ kính tin Phật pháp, muốn chép các kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Niết Bàn v.v... nhưng không cách nào tự kiểm được, bèn cậy Kháng thiền sư ở nơi ấy kiểm giảo. Kháng thiền sư ở chùa theo đúng pháp khiết tịnh, chép xong cuốn cuối cùng, giao trả về trang trại [của Lệnh Hồ Nguyên Quỹ] tại Kỹ Châu. Trong trang trại, kinh được để cùng một chỗ với bài văn năm ngàn chữ của Lão Tử[4]. Chợt bị lửa từ bên ngoài cháy lan tới, nhà tranh cháy sạch. [Nguyên Quỹ] bèn sai bới tro để tìm tượng Phật bằng đồng mạ vàng và ống đựng kinh. Bới tro ra thì các kinh vẫn y hệt như cũ. Lại tìm kinh của Lão Tử thì đã bị lửa cháy rụi. Người trông thấy không ai chẳng than lạ! Một quyển kinh Kim Cang chỉ có tựa đề bị khói ám đen, hỏi tới nguyên do, thì ra lúc mới đề tựa kinh, có vị quan trong châu viết chữ đẹp, nhưng phải đi gấp nên chẳng thể khiết tịnh, cứ đề tựa ngay rồi đi. Do vậy, bị lửa hun đen. Khi ấy nhằm lúc Nguyên Quỹ làm huyện lệnh huyện Phùng Tường.



Trong thôn bốc lửa, thiêu tinh xá, kinh vẫn còn nguyên.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, tại làng Tây Nhập huyện Tế Âm, Tào Châu, có tinh xá. Tháng Mười nhằm mùa Đông năm Long Sóc thứ hai (662), lửa đốt đồng chợt bốc cháy hết sức mạnh mẽ, cháy lan đến tinh xá, rồi cháy tiếp sang nơi khác. Những tăng phòng nơi ấy toàn là nhà tranh đều cháy rụi, chỉ có kinh Kim Cang vẫn như cũ.



Hãm trong hang chẳng nhớ năm tháng, thần ban lương khô.



Chú thích: Theo Đông Pha Chí Lâm, vào đời Tống, Tưởng Trọng Phủ nghe Tôn Cảnh Tu kể: - Mấy năm gần đây có người đào núi để tìm mỏ bạc, đến chỗ núi sâu, nghe có tiếng tụng kinh, bèn bới ra được một người, nói: “Tôi cũng là thợ mỏ, do hang sụp nên không thoát ra được, bị vùi ở đây chẳng biết mấy năm, toàn là dõi theo kinh Kim Cang để tụng. Mỗi khi đói khát, liền dường như có người lấy lương khô từ dưới nách trao cho, ấy chắc là do kinh này biến hiện”.



Đi đường hiểm chẳng bị đói khát, trẻ tặng mâm cơm.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Chí Thông thường trì kinh Kim Cang. Năm hai mươi tuổi, bị bắt làm lính, thua trận chạy vào núi hiểm trở, suốt ngày không có gì ăn. Có hai đứa bé trai cầm bát cơm đầy đến trao cho. Chí Thông bái tạ, chợt chẳng thấy chúng đâu nữa. Ăn xong, nhiều ngày không đói. Sau này về được quê nhà. Năm Trinh Quán thứ 8 (634) bị bệnh chết hai ngày rồi sống lại, bảo: “Do trì kinh nên Diêm Vương cho về”.



Dẫn Thiện Xung ngầm trốn, chẳng đến nỗi thân vùi nơi xứ lạ.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Thôi Thiện Xung làm huyện thừa xứ Tử Châu, gặp nhằm lúc các sắc dân thiểu số nổi loạn. Thiện Xung ban đêm bôn tẩu, tính đến nương náu tại Côn Minh, nhưng tối tăm không biết đường, bèn kiền thành tụng kinh Bát Nhã. Chợt có ánh đuốc đằng trước, cứ đi theo đó, đến sáng bèn tới được Côn Minh.



Soi lối cho Khắc Cần trốn lánh trong đêm, khiến khỏi chết uổng xứ Liêu Đông.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Vỹ Khắc Cần trì kinh Kim Cang từ bé. Ông làm Trung Lang Tướng, theo quân đi đánh nước Liêu, bị lạc ở Cao Ly[5]. Trong niên hiệu Trinh Quán, Đường Thái Tông chinh phạt nước Liêu, trong đêm tối, Khắc Cần dò đường về với quân Đường, tối tăm chẳng biết đường, bèn chí tâm niệm kinh, trong khoảnh khắc thấy ánh đuốc dẫn lối đằng trước, bèn đến nơi.



Qua sông sóng dữ, chỉ riêng một thuyền tí tẹo vẫn còn.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Vương Lệnh Vọng trì kinh Kim Cang từ bé. Ông từng làm Phán Ty ở An Châu, qua sông Dương Tử, trong đêm sóng gió nổi lên, mấy trăm chiếc thuyền đều chìm, chỉ mình thuyền Lệnh Vọng vẹn toàn.



Ven biển cuồng phong, am lẻ sừng sững vô sự.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, trong niên hiệu Vĩnh Lạc đời Minh, cách huyện thành Như Cao của Dương Châu ba mươi dặm về phía Bắc, có Tôn Công từ năm hai mươi hai tuổi ăn chay trường, dựng am, sáng tối trang nghiêm tụng kinh Kim Cang ba mươi quyển, suốt bốn mươi năm như thế. Khi ấy am bị cỏ che lấp, ấp ở gần biển, chẳng có thành quách gì. Sài lang tàn hại dân, nghe tiếng tụng kinh liền cúi đầu bỏ đi. Ngẫu nhiên trời nổi bão lốc, những nhà gần đó đều đổ sạch. Ông cứ tụng kinh như thường, ngôi am sừng sững vô sự.



Nghê Cần gắng sức đọc tụng trong sảnh, sông trào nào ngại.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Nghê Cần trông nom kho trữ lúa ở Hưng Giáo thuộc Phù Châu, chuyên trì kinh Kim Cang. Kho trữ lúa ấy có sảnh thự nhìn ra sông, quang cảnh hết sức đẹp đẽ. Ông bèn bày tượng Phật, tụng kinh nơi đó. Ngày mồng Chín tháng Sáu, nước sông dâng to, nhưng nước chỉ ngập đến thềm tòa sảnh thự. Ông Cần tụng kinh càng thêm siêng năng, nước ngập tự rút. Nhìn quanh mấy dặm, nhà cửa đều bị nước nhấn chìm, chỉ có tòa sảnh thự ấy chẳng bị nước thấm ướt chút nào, kho lúa cũng không sao, mọi người đều lễ kính.



Hành Lập bỏ hàng hóa trốn trước, giặc đến không sao giở lên được.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, ở Thiểm Châu có Hình Hành Lập thường trì kinh Kim Cang, ngẫu nhiên do buôn bán phải sang Đồng Châu. Giữa đường gặp mười mấy tên giặc, Hành Lập bỏ hàng hóa lẩn trốn. Hàng hóa nặng không hơn năm sáu chục cân, nhưng bọn giặc giở lên, trọn chẳng thể giở lên được, nhìn nhau lấy làm lạ, kinh hãi, đuổi theo Hành Lập hỏi. Hành Lập mở bọc, chỉ kinh Kim Cang nói: “E là thần lực của kinh này”. Bọn cướp bỏ ra mấy ngàn đồng, thỉnh kinh đi, thề không làm giặc nữa, suốt đời thọ trì.



Thành Tương Dương cực loạn, Mạo Khởi Tông ngọa bệnh chống giữ.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, cuối đời Minh, Mạo Khởi Tông từ nhỏ đã thích trì kinh Kim Cang, được bổ làm quan tại Tương Dương. Tàn quân của Trương Lý [kéo về nương náu], hàng binh, kiêu soái không thể nào kiềm chế được, thư truyền lệnh[6] thúc hối hằng ngày, đêm không tháo đai. Khởi Tông cũng liều chết, vẫn soạn khắc kinh Kim Cang. Do vậy, bệnh ngầm thấu tận xương. Ông giữ thành ba trăm sáu mươi ngày đã chết ngất bốn lần, may mà thoát khỏi. Ông vừa từ quan được ba tháng thì thành Tương Dương lại bị vây hãm.



Mãnh thú chặn ngang, Vương Lệnh Vọng tụng kinh, thú bèn bỏ đi.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Vương Lệnh Vọng trở về Củng Châu, phải đi qua suối, đường sá cực hiểm trở. Chợt gặp phải mãnh thú, kinh sợ phi thường, vội niệm kinh Kim Cang, mãnh thú nhìn chán, vẫy đuôi bỏ đi, nhỏ dãi đầy đất.



Đạo Ấm trên đường về, hổ sát bên tai.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, một sa-di ở huyện Thạch Thủ là Đạo Ấm thường trì kinh Kim Cang. Do ra ngoài, trở về vào lúc ban đêm, giữa đường chợt gặp cọp rống, chồm lên trước mặt. Đạo Ấm biết chẳng thể tránh né, bèn ngồi yên nhắm mắt niệm kinh, tâm mong được cứu vớt, che chở. Cọp bèn nằm phục xuống cỏ, canh giữ. Đến sáng, người trong thôn qua lại, cọp bỏ đi. Nhìn chỗ cọp đã ngồi, rớt rãi đầy đất.



Tuyển nhân phó nhậm, yêu quái biến đổi thân hình.



Chú thích: Theo Bắc Mộng Tỏa Ngôn, nơi rặng Bạch Vệ trên đường vào xứ Thục có nhiều cọp, beo ăn thịt người. Có tuyển nhân[7] là Vỹ X... người xứ Kinh Triệu, trong niên hiệu Quang Hóa đời Đường được điều sang làm quan xứ Ba Nam. Ông ta thường niệm kinh Kim Cang, đi nhận nhiệm sở đến vùng Nê Khê, gặp một cô gái mặc áo lụa đào, dẫn hai đứa con cùng đi, cùng lên núi này. Người đi đằng trước níu nhau, xôn xao vì họ thấy một con hổ to vằn đỏ và hai con hổ con, cùng với ông Vỹ chia lối để đi mà ông Vỹ trọn chẳng hay biết.



Hai bó đuốc từ xa đến rồi lui, bờ đê vỡ, thuyền nổi.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, Tham Quân xứ Dư Diêu là Lý Duy Yến trì kinh Kim Cang từ nhỏ. Hết hạn, trở về phương Bắc, đi qua Ngũ Trượng Điếm, xưa kia là nơi có lắm trộm cắp. Thuyền ông Lý chở theo lụa xứ Ngô mấy trăm xấp. Khi ấy, do phía trong bờ đê cạn nước [thuyền không ra sông được]. Nửa đêm tối tăm, ông Lý bèn ra đầu thuyền tụng kinh. Canh ba, kẻ cướp đến, thấy trên bờ đê có hai cây đuốc, bèn rút đi. Ông Yến ngỡ là dân trong thôn bảo vệ, nhưng ở cách thuyền trăm bước chẳng nghe tiếng tăm gì, trong tâm lấy làm lạ. Khi ấy, ở ngoài bờ đê, nước đầy, Duy Yến mong bờ đê vỡ thì thuyền sẽ được nước nâng đỡ. Chợt nghe đầu thuyền có tiếng nước réo, hồi lâu, khẽ cảm thấy thuyền nổi lên. Đến sáng, nước sông đã đầy, liền biết là tụng kinh được ứng nghiệm.



Một bữa ngẫu nhiên ngủ chẳng được, nhà sụp, giường nát.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, vào đời Minh, Châu Thọ Tăng trì tụng kinh Kim Cang. Sau mỗi bữa cơm ắt phải nằm ngủ một khắc. Một hôm, ngẫu nhiên ngủ không được, vừa mới bước ra thì kèo hư, nhà sụp, giường cũng vỡ nát.



Nữ nhân nhẹ gót sen, gỡ chải tóc rồi liền trốn mất.



Chú thích: Theo Ly Biêm Hiên Chất Ngôn, Đới Cảnh Tây sang làm nha lại trong đại liêu thự[8] Quý Châu. Nửa đêm nghe ngoài cửa sổ có tiếng động, dường như tiếng gót sen của nữ nhân[9]. Trong khoảnh khắc, âm phong chợt dấy lên trong phòng, ông Đới vội tắt đèn, lên giường. Khi ấy, trăng sáng như vẽ, chợt thấy rõ cảnh vật ngoài trướng. Thấy một cô gái từ khe cửa uốn éo bò vào, ngồi trên ghế, giở xem chừng bốn trang trong quyển sách ghi chép án từ (hồ sơ xử án), rồi rút ra một cái lược, gỡ đầu của chính mình đặt lên bàn, tháo trâm, hoa tai, chải gỡ tóc xong, lại đặt đầu lên cổ. Cảnh Tây tay như bị trói, miệng dường câm, thầm tụng kinh Kim Cang. Vừa mới động niệm, dường như quỷ biết sợ, dần dần rút nhỏ. Cảnh Tây dần dần tỉnh táo hơn, bèn tụng rõ tiếng, chưa tụng hết quyển, quỷ đã biến mất.



Tham Quân thiền hành, gặp phải ách nạn ắt hóa giải.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, vào đời Minh, Tham Quân Hoàng Tâm Phù có hiệu là Định Thông Thiền Lão, tham cứu khắp ba giáo. Về già tu thiền hành, ông vốn trì tụng kinh Kim Cang. Nhiều lần gặp nạn lớn, mắc bệnh nguy ngập, nhưng đều được thoát nạn. (Trên đây tổng cộng 17 cặp, gồm 34 đôi).



Tai nạn trong nhà lửa chẳng phải chỉ có một, mây huệ nhuần thấm nhiều phương. Đây là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ tám vậy.



Chú thích: Pháp Hoa Kinh: “Kỳ trạch như thị, thậm khả bố úy, độc hại hỏa tai, chúng nạn phi nhất” (Nhà lửa như vậy, rất đáng sợ hãi, độc hại, hỏa tai, có nhiều tai nạn, chẳng phải chỉ một). Kinh còn nói: “Huệ vân hàm nhuận, kỳ vũ phổ đẳng, tứ phương câu hạ, lưu chú vô lượng, suất thổ sung hiệp” (Mây huệ nhuần khắp, mưa ấy bình đẳng tuôn khắp bốn phương, tưới xối vô lượng, cả cõi đất đều được thấm đẫm).



9. Tiêu tội báo



Bèn có: Vũ An hóa cọp, quy y bèn trở lại hình người.




Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Tùy, Khoái Vũ An là người Thái Châu thường bắn hổ ở phía Nam rặng Tung Sơn. Chợt có con vật lạ trông giống như lợn, nhưng tay người, trùm da hổ lên thân ông ta, rồi thừa dịp đẩy xuống khe suối. Đến khi ông ta đứng dậy được thì thân đã biến thành cọp, kinh hoảng chẳng biết làm sao! Chợt nghe có tiếng chuông chùa, biết là chỗ Tăng ở, bèn đến cầu cứu. Thấy Tăng đang niệm kinh Kim Cang, liền nhắm mắt phủ phục. Tăng lấy tay xoa đầu cọp, chợt có tiếng nổ lớn. Đầu cọp vỡ toác, ông Khoái bèn thò đầu ra được, thuật cặn kẽ chuyện trước. Sư lại vỗ vào lưng, tay đưa đến đâu da bèn tách ra đến đó. Vũ An bèn xuất gia, trì kinh Kim Cang.



Điêu Xương giết rắn, chép kinh trừ báo ứng cõi âm.



Chú thích: Xin coi lời chú thích cho câu thứ nhất trong phần thứ năm “cứu tật bệnh”, tức câu chú thích cho lời tụng “liếm mắt mẹ hiền”.



Cao Chỉ báng Phật, cày lưỡi chẳng thể gây tổn thương được.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Cao Chỉ là cháu nội của quan Bộc Xạ Cao Dĩnh đời Tùy. Năm Long Sóc thứ 2 (662), vừa ra khỏi cửa Thuận Nghĩa thành Trường An chợt gặp hai người cỡi ngựa chạy đến, bảo: “Vua truyền gặp ngươi”. Cao Chỉ không chịu đi, cũng chẳng biết họ là quỷ sứ, giục ngựa lẩn trốn, lại bị họ đuổi theo bắt. Cao Chỉ có người anh làm tăng ở chùa Hóa Độ, muốn chạy vào chùa nhưng quỷ chặn cửa ngăn trở. Cao Chỉ bèn đấm quỷ một quyền, quỷ tức giận lôi tuột xuống ngựa, liền hôn mê ngất đi. Tăng chúng khiêng vào nơi anh ông ta ở. Đến hôm sau mới tỉnh, kể:

- Thoạt đầu, theo hai sứ giả đi gặp vua, vua phán: ‘Ngươi chưa phải đến đây, nhưng do từng hủy báng Phật pháp, nên bắt chịu tội trong khi còn sống’. Vua sai tả hữu kéo lưỡi họ Cao để cày lên, nhưng ông Cao trọn chẳng bị thương tích gì! Vua hỏi người đứng đầu bọn nha lại là vì nguyên cớ nào. Nha lại thưa: ‘[Ông ta] từng niệm kinh Kim Cang’. Vua khen lành, liền truyền thả về.

Từ đấy, Cao Chỉ chuyên niệm kinh.



Hồi Nô làm đồ tể, tự thoát khỏi xiềng.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Diêu Đãi vì mẹ chép một trăm bộ kinh Kim Cang. Có gã đồ tể là Lý Hồi Nô thỉnh một bộ, đốt hương, cúng dường. Sau khi Hồi Nô chết, có người thấy trong cõi âm ông ta tự thoát gông xiềng, sanh vào đường lành.



Nghĩa Luân giết chó, thỏ, bồ câu, vẫn được tăng thọ.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Tống Nghĩa Luân chết đột ngột, ba ngày sau sống lại, kể:

- Bị bắt đến gặp Diêm Vương. Vua phán: “Ngươi từng giết chó, thỏ, bồ câu, tuổi thọ sắp hết, nhưng ngươi trì kinh Kim Cang chẳng những diệt tội mà còn được tăng thọ. Từ nay đừng ăn thịt, hãy nhất tâm trì kinh”, bèn tha về.



Khưu Nhất săn thú, bẫy chim, chuyển thành được phước.



Chú thích: Xem lời chú thích cho câu thứ ba trong phần thứ tư “được sống lại”, tức là lời chú thích của câu “săn bắn hại mạng”.



Chuyên niệm tựa đề kinh, diệt địa ngục, sanh vào đường lành.



Chú thích: Xem chú thích cho câu thứ tám trong phần thứ hai “lâm chung hiện tướng lành”, tức câu “niệm tựa đề kinh bảy chữ”.



Tuy vẽ tượng Phật, kết duyên vẫn thuộc đời sau.



Chú thích: Xem chú thích cho câu thứ hai trong phần thứ nhất “vãng sanh Tịnh Độ” ở phần trước, tức là câu “đồ tể tu hành”.



Thịt làm chả chất thành núi, trong mộng mở được lưới.



Chú thích: Xem chú thích cho câu thứ sáu trong phần thứ hai “lâm chung hiện tướng lành” ở phần trước, tức câu thuật chuyện Lý Nguyên Tông.



Mổ cua bôi ghẻ, đao trong thịt đều lấy ra.



Chú thích: Theo Minh Báo Ký, năm Long Sóc nguyên niên (661) đời Đường, có tỳ-kheo-ni tu hành tại chùa Cảnh Phước thuộc Lạc Châu. Trong nhà có đứa hầu tên là Ngũ Ngũ Nương bị chết liền lập linh tòa. Hơn một tháng sau, chị và em trai nó ban đêm chợt nghe trên linh tòa có tiếng rên siết, hỏi thì đáp: “Lúc tôi còn sống đã ăn thịt trong chùa, lại từng giết một con cua để bôi vết ghẻ. Nay vào trong địa ngục Đao Lâm (rừng gươm), trong thịt có bảy cây đao gãy, xin hãy đem y phục của chính tôi [bán đi để lấy tiền] làm công đức”. Đến giường nó coi thì cả đống máu mủ, bọc quần áo vẫn còn đó. Họ bèn vì nó chép kinh Kim Cang, cứ mỗi lần chép xong một quyển, nó liền báo rằng: “Đã rút ra được một đao”. Chép xong cả bảy quyển, nó báo: “Đã rút xong bảy đao, nay nhờ phước nghiệp, liền được đầu thai”.



Tiết Độ Sứ họ Ngô thẹn không trai giới, rốt cuộc thoát trói buộc.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Đường, Hà Nam Tiết Độ Sứ là Ngô Thiếu Dương thấy một người phu chạy trạm[10], chân không bén đất, bèn hỏi, người ấy thưa: “Tiểu nhân tên là Toàn Tín, ăn chay ba mươi năm. Hằng ngày tụng ba quyển kinh Kim Cang”. Ông Ngô bèn bỏ ra ba trăm sáu mươi lạng để mua lại quyển kinh của người ấy tụng. Toàn Tín nhận tiền xong, ông Ngô liền thấy chân anh ta không thể rời khỏi đất được nữa. Về sau, ông Ngô mắc bệnh, bị lính cõi âm đến bắt, một vị thần Kim Cang quát: “Người này có công mua kinh Bát Nhã, chẳng được trói buộc!” Quỷ tốt quỳ mọp vâng dạ. Ông Ngô tỉnh dậy, bảo vợ con: “Ta sống chẳng trì trai, tội nghiệp rất lớn, may nhờ năm xưa mua kinh của Toàn Tín, tội giảm một nửa. Các ngươi hãy nên cực lực phụng trì, đừng để sau này phải hối hận”.



Phùng Sát Viện lầm dâng tấu chương, tài lộc, tuổi thọ gần như trừ sạch.



Chú thích: Theo Chứng Quả Lục, vào đời Tống, viên Sát Viện[11] họ Phùng năm 28 tuổi từng dâng tờ sớ tâu trình. Đêm bị bắt vào cõi âm, Diêm Vương quở: “Ngươi chuyên trì kinh Kim Cang, đáng lẽ thọ chín mươi mấy tuổi, làm quan trong Khu Mật Viện[12]. Do tờ sớ tấu này gây bất lợi cho dân, sẽ bị tuyệt lộc, giảm thọ”. Ông Phùng xót xa xin được thả về, tụng kinh, làm lành để sám hối lỗi trước. Vua chấp thuận, nên sống lại. Về sau, quả nhiên làm Thừa Tướng, thọ đến chín mươi tám tuổi.



Nhà có vợ hiền, may được một phần tùy hỷ.



Chú thích: Xem lời chú thích cho câu thứ tư trong đoạn thứ năm “lành bệnh” trong phần trước, tức câu “vạc sôi chừng mấy giọt.”.



Trên đường đi gặp vợ đã khuất, chép kinh hai quyển để siêu sanh.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Tống, Triệu Bích ở Tứ Châu lên kinh đô thi cử. Vợ là Lý Thị mất, Bích thi đậu trở về, thấy người vợ đã khuất ở bên đường, xót xa bảo: “Lúc sống em giết hại sanh mạng loài vật, thường uống rượu say, ăn cua. Diêm phủ phạt em vào địa ngục Giải Sơn, bị lũ cua cắn rứt. Hơn nữa, khi em còn sống, coi rẻ cơm, cháo, canh, nước thuốc, trà, rượu, tích lại đến năm thạch, chín đấu, bảy thưng, năm vốc, khiến em bị giảm thọ một kỷ[13], lại còn chịu khổ trong hai mươi mốt đại địa ngục. Vua còn truyền ngục tốt tra xét thấy em bán rượu. Mỗi lần quỷ vô thường truy ra vong hồn nào [chết vì rượu], liền trích máu nơi thân em cho đủ số ấy rồi lại vào địa ngục khác. Cõi âm hết sức kính trọng kinh Kim Cang, xin chàng chép bảy quyển để diệt trừ nỗi khổ địa ngục của em”. Bích về đến nhà liền vì vợ chép kinh, mới chép xong hai quyển, đến thăm mộ vợ, một ông lão tự xưng là Sơn Thần bảo: “Họ Lý nương cậy sức kinh đã siêu sanh rồi”.



Nghe lời kệ sáu thứ ví dụ, con nhện làm lễ.



Chú thích: Theo Kim Cang Tân Dị Lục, vào đời Minh, mẹ ông Viên Hoằng Đạo là Cung Thị, một hôm tụng kinh vừa được một nửa thì trên xà nhà có một con nhện to hạ xuống, nhiễu kinh mấy vòng rồi nằm yên. Bà cụ tụng đến đoạn kệ Lục Như[14], nhện khẽ cử động như đang làm lễ. Tụng xong, nhìn lại thì nhện đã chết rồi.



Gọi hai trẻ sanh đôi, bồ câu quay đầu.



Chú thích: Theo Kim Cang Ứng Nghiệm, vào đời Đường, vị Tăng tên là Minh Độ luôn tụng kinh Kim Cang. Có tổ chim bồ câu ở chái nhà, sanh được hai con chim non. Sư Minh Độ thường dùng cháo thừa mớm cho, còn nói: “Nhờ vào sức kinh của ta, lông cánh chóng mọc”. Chợt hai con chim non cùng té xuống đất chết. Tới đêm, mộng thấy hai đứa nhỏ nói: “May nhờ sức của Sư, chúng con được chuyển vào nhân đạo, sanh trong nhà họ X... cách đây mười dặm”. Mười tháng sau đi hỏi thăm thì quả nhiên nhà ấy sanh đôi được hai trai, kêu: “Cáp nhi”[15] thì chúng nó cùng quay đầu lại, thưa “dạ”.



Giết chó ]oán sâu, uổng công chép chẳng cứu được.



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, trong năm Thái Hòa thứ 5 (831) đời Đường, Vương Hàn Lâm ở huyện Thập Phỏng thuộc Hán Châu chết đột ngột, ba hôm sau sống lại, nói:

- Viên quan trong cõi âm là anh của tôi, bảo: ‘Có con trâu kiện ngươi đốt đồng giết oan nó. Lại từng bán trúc cho người ta làm đàn không hầu, giết hai con chó, nên chó cũng kiện ngươi. Tên ngươi chưa ghi vào sổ tử, làm công đức nào để thoát được?” Lâm muốn làm chay và chép kinh Pháp Hoa, kinh Kim Quang Minh, nhưng người anh đều nói không được! Bèn xin hằng ngày trì kinh Kim Cang bảy biến, anh vui vẻ bảo: “Được đấy!”

Khi sống lại, bèn bỏ gia nghiệp, xuất gia.



Vì rắn gây oan nghiệt nặng nề, tà kiến nên trừ.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, trong năm Nguyên Hòa 15 (820) đời Đường, người đất Việt là Ngô Khả Cửu sống tại Trường An cùng với vợ là Vương Thị theo đạo Ma Ni[16]. Hơn một năm sau, vợ chết đột ngột, ba năm sau, báo mộng cho chồng: “Em do tà kiến đọa làm rắn ở dưới chân tháp tại Hoàng Tử Pha, sáng mai sẽ chết. Xin chàng thỉnh Tăng tới đó tụng kinh Kim Cang để em khỏi phải hứng chịu nỗi khổ khác!” Trong mộng, chồng chẳng tin, quát ầm lên. Vợ tức giận, nhổ vào mặt, chồng giật mình tỉnh dậy, mặt đã sưng phồng, đau đớn chẳng thể chịu được. Vợ lại báo mộng cho anh ông Cửu: “Lấy lá lưỡi rồng trong vườn giã nát, đắp lên sẽ lành ngay”. Làm thử, quả nhiên lành lặn. Tới sáng, anh em cùng đi thỉnh Tăng tụng kinh Kim Cang. Trong khoảnh khắc có con rắn to từ trong tháp bò ra, ngẩng đầu nhìn khắp nơi, tụng kinh xong nó liền chết. Khả Cửu bèn theo Phật, thường trì kinh này.



Năm sáu cô gái vui đùa trong thôn, tỏa ánh sáng lạ, lũ cáo kinh hãi tan chạy.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, trong niên hiệu Nguyên Hòa, Lý Hồi thi trượt, trở về, có vị Tăng khuyên niệm kinh Kim Cang, đã niệm được mấy chục biến. Đến nghỉ đêm tại Vương Kiều, do tản bộ dưới trăng, bị một mỹ nhân dụ vào căn nhà trong thôn, nghe tiếng vui cười hết sức ồn ào. Vào nhà, lại thấy năm sáu mỹ nữ, tâm ngờ là yêu quái, bèn thầm niệm kinh. Chợt có ánh sáng lạ từ miệng [Lý Hồi] tỏa ra, lũ con gái kinh hãi, chạy tứ tán, chỉ nghe mùi tanh hôi. Ấy là chỗ ở của bọn hồ ly vậy. Gai góc kín mắt, chẳng biết ra lối nào. Chợt có con chó trắng dẫn đường, trong miệng tỏa ánh sáng, bèn đi theo nó, về được chỗ của mình.



Mười hai người cùng lạy dưới thềm, nhờ tiếng tụng kinh trứng gà rỗng tuếch.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm Ký, trong thời Vạn Lịch nhà Minh, một cụ già ở trấn Hoa Lâm hằng ngày tụng kinh Kim Cang. Trong nhà có con gà mái nằm ổ, ấp mười hai cái trứng. Một hôm, cụ già mộng thấy mười hai người lạy dưới thềm, thưa: “Nhờ tiếng tụng kinh của ngài, chúng con đều được thoát khỏi kiếp chim, nên đến cảm tạ”. Tỉnh giấc, cụ kiểm xem thì mười hai cái trứng đều là vỏ không.



Đốm lửa xuất hiện từ đống kinh, núi thịt tiêu sạch.



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, vào đời Đường, Tôn Hàm bị bắt vào cõi âm, tỉnh dậy kể: Thấy một người bị khảo hạch tội phước. Người ấy thường trì kinh Kim Cang, nhưng lại ưa ăn thịt. Bên trái có mấy chục cuốn kinh, bên phải thịt chất thành núi. Do thịt nhiều nên bị ghép trọng tội. Trong khoảnh khắc, từ trong đống kinh có một đốm lửa bay vào núi thịt, trong khoảnh khắc [núi thịt] cháy sạch. Người ấy liền bước lên không đi mất.



Tay chép để sám hối tội chân giẫm kinh, liền được thi đậu.



Chú thích: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, vào đời Minh, người bác của Vương Phán ở Sơn Dương ẵm con đùa giỡn bên cạnh cha [Vương Phán], ngẫu nhiên bị mất chiếc vòng đeo tay, ngờ cha Vương Phán lấy cắp. Cha Vương Phán liền viện dẫn thần minh thề thốt, dùng chân đạp lên kinh Kim Cang. Phán được dự vào hạng Chư Sanh[17], nhưng thi nhiều lần chẳng đậu. Một sáng, ra ngoài thành, thấy hai cụ già râu bạc bảo: “Tú Tài Vương Phán lẽ ra thi đậu, nhưng bị cha hắn khinh nhờn làm bẩn kinh Kim Cang nên nay hắn bị gạt khỏi sổ”. Phán quay về hỏi cha, biết nguyên do, bèn sám hối trước Phật, chép một bộ kinh Kim Cang, liền thi đậu kỳ thi Hội. Muốn chép một bộ nữa, nhưng chưa xong thì gặp khóa thi mùa Xuân (tức thi Đình), bị trượt. Sau đó, tiếp tục chép kinh cho xong thì mới đậu Tiến Sĩ.



Ô nhục tớ gái, mất sạch tước lộc, rốt cuộc bảng vàng đề tên.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Minh, Hạng Mộng Nguyên thoạt đầu có tên là Đức Phân, mộng thấy đậu khoa thi Hương vào năm Tân Mão, nhưng do trót hại đời hai đứa tớ gái còn nhỏ, nên công danh mất sạch. Ông ta bèn tận lực làm chuyện âm đức, bỏ tiền của, thỉnh người bạn là Cao Tùng Thanh chép một bộ kinh Kim Cang cẩn thận theo lối chữ Khải để khắc ván, mỗi năm đem thí, làm suốt mười mấy năm như thế. Mộng thấy đến một chỗ, thấy tên thứ tám ghi trong tờ giấy vàng là họ Hạng, chữ ở giữa lờ mờ, chữ cuối là Nguyên. Bên cạnh đấy có người nói: “Đây chính là tên ngươi sắp theo thứ tự trên bảng trời”. Do vậy, đổi tên là Mộng Nguyên, bèn đậu cả khoa thi Hương lẫn thi Hội, nhưng thứ tự không phù hợp với giấc mộng. Đến khi vào thi Đình, đậu hàng thứ năm trong số Nhị Giáp Tiến Sĩ[18], mới hiểu là con số ấy phù hợp với số thứ tự trong hàng đỉnh giáp. Hơn nữa, bảng [đề tên người trúng tuyển trong] khoa thi Hương và thi Hội đều dùng giấy trắng, chỉ có thi Đình dùng giấy vàng. Quả thật đã ngầm định sẵn.



Thích săn bắn bị đuổi, may được ném hoàn sắt chẳng cháy.



Chú thích: Xem lời chú thích cho câu thứ bảy trong đoạn ba “được trường thọ” trong phần trước, tức lời chú thích cho câu “thiện quả viên thành”.



Đại tướng quân uống đồng, ăn sắt, căn dặn Lý Thượng Thư để mong thoát khỏi.



Chú thích: Theo Báo Ứng Ký, vào đời Đường, Binh Bộ Thượng Thư Lý Cang bị bệnh chết đột ngột, tim còn ấm, ba ngày sau sống lại, nói:

- Thấy một người dẫn đi gặp một vị đại tướng quân, cho phép ngồi, lôi án từ ra xem, bảo: “Đã bắt lầm ông!” Trong khoảnh khắc, ngục tốt bê một cái mâm tới, ở giữa đặt mấy viên sắt. Lại khiêng một cái vạc đặt giữa sân. Dưới vạc tự nhiên bốc lửa, nước đồng trong vạc sôi trào, nung hoàn sắt đỏ như lửa. Ngục tốt nâng mâm lên, tướng quân nhường cho Lý Cang. Lý Cang sợ hãi, chối đã no. Tướng quân nuốt hoàn sắt, đã nuốt vào miệng, toàn thân rỗng toang. Lại uống nước đồng, thân liền bốc lửa. Trong khoảnh khắc, khắp thân đều tan sạch, hồi lâu sau, khôi phục như cũ. Lý Cang hỏi thì tướng quân đáp: “Dưới đất chẳng có món ăn nào khác, chỉ có thứ này để ăn uống mà thôi. Nếu không ăn thì trong khoảnh khắc sẽ bị lửa dữ đốt, còn khổ nhiều hơn nữa! Chỉ mong ngài chép mười bộ kinh Phật, đọc tụng kinh Kim Cang một ngàn quyển thì ngài cũng chẳng tới đây mà tôi cũng thoát khỏi chốn này”. Lý Cang sống dậy, bèn làm đúng theo lời ước định.



Trương Thái Quân chuyển nữ thành nam, xin sư Huyền Minh cứu vớt.



Chú thích: Theo Dịch Nhược Trai Tục Tập, vào đời Minh, Thịnh Tại Đức ở Phong Kiều, Tô Châu, thọ lãnh kinh này từ giảng sư Huyền Minh. Đầu thời Vạn Lịch, ông Thịnh bị bệnh, đi vào cõi âm vì bị oan hồn Thịnh Chi Hóa kiện lên Quận Hoàng[19] bắt đến đối chất. Tại Đức dùng lý lẽ thẳng thắn [để biện luận, được thắng kiện, Quận Hoàng cho phép] thong dong đi coi khắp địa ngục, rồi thả về. Qua một đêm lại chết, thấy Quận Hoàng bước xuống bệ, khuyên: “Đời trước ta là người xứ Kinh Châu, họ Tào. Từ lúc làm thần, mẹ ta là Trương Thái Quân[20] chuyển thế đã ba lần, đều mang thân nữ không sanh nở được. Nếu như ông thay ta cầu sư Huyền Minh kiền thành tụng kinh Kim Cang và kinh Nguyệt Thượng Nữ[21], mỗi loại năm trăm bộ để cứu mẹ ta chuyển thành thân nam”. Khuyên nhủ hết sức thiết tha, Tại Đức sống lại bèn lễ thỉnh ngài Huyền Minh, tụng đủ số rồi viết điệp báo [với Quận Hoàng].



Vâng giữ di huấn họ Đoàn, quý ở chỗ chí thành.



Chú thích: Trong Tục Dậu Dương Tạp Trở, vào đời Đường, Đoàn Thành Thức đã chép: “Trong năm Trinh Nguyên 17 (801), tiên quân[22] từ đất Kinh (Hồ Bắc) vào đất Thục (Tứ Xuyên) theo lệnh đòi của Vỹ Nam Khang[23]. Về sau bị gã giặc là Lưu Tịch[24] sàm tấu, giáng xuống làm huyện úy huyện Linh Trì. Khi ông Vỹ vừa chết, giặc Tịch tạm tiếp nhận quyền hành[25]. Tiên quân vốn không hợp tính Tịch từ trước nên nghe tin bèn đi suốt đêm rời khỏi huyện. Đến cửa thành phía Đông, Tịch có đặt trạm canh tại đó, chẳng cho phép các huyện quan rời huyện. Đêm ấy gió lộng, tối tăm, bèn quay lại. Cách lớp ngoài tường thành[26] hai dặm, thấy ánh lửa của hai cây đuốc, kèm theo hai bên đường cách một trăm bước để dẫn lối. Thoạt đầu, tiên quân ngỡ là nha lại trong huyện nghênh đón, thấy lạ, chẳng dám bước tới. [Ánh đuốc] cao, thấp, xa, gần không sai, tới tường thành phía ngoài huyện, lửa mới tắt, bèn hỏi nha lại trong huyện, họ còn chẳng biết trên phủ đã đặt trạm canh. Khi ấy, tiên quân niệm kinh đã năm, sáu năm, nói chung chẳng bỏ sót ngày nào, tin tưởng hễ chí thành ắt sẽ cảm. Ánh lửa dẫn lối vừa nói trên đây chính là dấu vết rõ ràng [chứng tỏ sự linh ứng] của kinh vậy.

Về sau, Viên Tư làm Tiết Độ Sứ, Thành Thức lại theo chú, vào lính từ trẻ, chưởng quản tả doanh, dùng viên sáp bọc thư, âm mưu cùng với họ Viên dâng cáo trạng tố cáo tội phản nghịch của Lưu Tịch [lên triều đình]. Gã giặc Lưu Tịch cho là tiên quân biết âm mưu ấy [bèn giam chặt]. Tiên quân niệm kinh, chẳng ngờ đêm khuya ngủ quên, cửa rả đều đóng chặt, chợt [hình như có người] mở cửa mà vào, đôi ba lượt nói “đừng sợ”. Dường như có vật gì gieo xuống bàn, vang ra tiếng nổ lớn. Trong lúc [tiên quân] kinh hoảng đứng dậy, thì tiếng nói ấy vẫn còn thoảng bên tai. Cầm đuốc tìm kiếm bốn phía, thoạt đầu chẳng thấy gì, hướng tới chỗ chốt khóa thì đã mở toang. Tiên quân thọ trì kinh này mười mấy vạn biến, những sự ứng nghiệm để làm chứng rất nhiều. Thành Thức vâng theo di mạng, thu nhặt những mẫu chuyện sót lại, gộp thành sách, đặt tên là Kim Cang Kinh Cưu Dị”.



Bắt chước ông Thích thọ trì, đừng nói “chẳng dùng”.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, trong niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh, Thiếu Bảo[27] Thích Kế Quang trì kinh Kim Cang. Khi làm Phó Tổng, ông Thích mộng thấy một thân binh[28] đã chết trận nói: “Ngày mai tôi sẽ sai vợ đến chỗ ngài, xin hãy tụng cho tôi một quyển kinh Kim Cang để tôi được siêu thoát”. Đến sáng, quả nhiên vợ người lính ấy tìm đến đúng như lời nói trong mộng. Sáng hôm sau, ông Thích tụng kinh cho người lính ấy xong, đến đêm mộng thấy người lính đến nói: “Cảm tạ chủ soái tụng kinh, nhưng giữa chừng xen tạp hai chữ ‘bất dụng’ (chẳng dùng tới) nên tôi tuy được thoát khổ, vẫn chưa siêu sanh”. Ông Thích hết sức kinh ngạc, ấy là vì khi ông đang tụng kinh, phu nhân sai tỳ nữ bưng trà bánh đến, ông xua tay đuổi đi, miệng tuy chưa nói, nhưng trong lòng đã thầm nói “chẳng dùng tới” (bất dụng) rồi! Ông bèn đóng cửa tụng, lại mộng thấy người lính ấy đến cảm tạ, thưa đã được siêu sanh.



Do vậy, nói: “Cõi âm hết sức kính trọng kinh này. Các ngươi rất nên tụng kinh này”. Đây là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ chín vậy.



Chú thích: Theo Kim Cang Chứng Quả, vào đời Đường, Ngô Quỳ mỗi ngày, khi nghe trống báo đã sang canh năm bèn kiền thành tụng ba biến kinh Kim Cang. Năm ông chín mươi ba tuổi, không bệnh tật gì mà mất, báo mộng cho con cái: “Ta do tụng kinh đã đắc phước báo. Cõi âm hết sức kính trọng kinh này, các ngươi hãy nên gắng hết sức thọ trì” (Trên đây tổng cộng 14 đoạn rưỡi, gồm 29 điều).


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Thứ Năm, 07 Jan 2016, 3:54 PM | Message # 58
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 07 Jan 2016, 10:14 PM | Message # 59
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
10. Cảm thần linh



Bèn có: Trọng Yêm lễ sám, được Quán Thế Âm tụng kinh cho.




Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Tống, mẹ của Văn Chánh Công Phạm Trọng Yêm mất được 3 thất (21 ngày). Ông mộng thấy mẹ khóc lóc, bảo: “Ta do lúc sống tạo nghiệp, bị Thái Sơn Phủ Quân hành hạ, sáng tối chịu khổ khó thể kể được. Con ta một niềm hiếu thuận, xin hãy tụng Công Đức Kinh một tạng để cứu dẹp tội ta. Mong đừng do dự, nghi hoặc, đến nỗi ta vĩnh viễn đọa trong địa ngục”. Đã đi rồi lại ngó lại, dặn dò: “Công Đức Kinh chính là Kim Cang Kinh đấy”. Ông kinh hãi khóc lóc, tỉnh giấc, liền tắm gội, trai giới, cung kính đến Huyền Mộ Thiền Lâm, thỉnh tăng tụng kinh suốt bảy ngày. Đến tối hôm thứ sáu, lại mộng thấy mẹ nói: “Nhờ con chí thành lễ sám, cảm Bạch Y Đại Sĩ giáng phàm trì kinh nửa quyển. Mẹ nay chẳng những tiêu tội mà còn được sanh lên trời, đều là do Phật lực. Sáng mai, con nên vào điện tụng kinh để hỏi sẽ tự biết”. Ông đợi cho pháp sự hoàn tất, tạ lễ chư tăng trọng hậu. Do vậy, hỏi trong hôm thứ sáu có một vị tăng chỉ trì nửa quyển kinh là ai? Chúng tăng đều thất sắc, đáp: “Tụng kinh đủ số, há lẽ nào chỉ trì nửa quyển?” Bên cạnh đấy có một vị Tăng thong dong bảo: “Ngày hôm qua đại chúng tụng kinh, sơn tăng đứng ghé bên cạnh yên lặng nhìn, đến phần thứ 16[29], gặp lúc đại nhân đến dâng hương, liền trở về bếp làm việc. Nay được hỏi tới, dám xin thưa thẳng”. Ông liền dập đầu cúi lạy, vị tăng nói: “Mạc, mạc” (đừng, đừng). Chợt bay lên không chẳng thấy nữa. Tăng tục không ai chẳng chiêm ngưỡng; do đó, ông Phạm bèn lập thiền đường Mạc Mạc để kỷ niệm sự linh dị này.



Bá Ngọc tinh thành, Tu Bồ Đề khuyên nên bỏ thịt.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, năm Đại Lịch 11 (776) đời Đường, quan Biệt Giá xứ Vệ Châu là Châu Bá Ngọc, hằng ngày niệm kinh Kim Cang thường chẳng gián đoạn. Một hôm, chợt thấy một vị Phạm tăng đi đến, bèn hỏi: “Ngài là vị tôn giả nào?” Đáp: “Ta là Tu Bồ Đề trong hội Bát Nhã. Ông tụng kinh mấy năm, tiếc là chưa thôi ăn thịt. Nếu thật sự chí tâm cầu Phật, không ăn chay trường sẽ chẳng được”. Bá Ngọc từ đấy ăn chay, tụng kinh. Về sau, biết trước chuyện tương lai, đến năm chín mươi tuổi, ngồi mất.



Tuân Sinh cầm bút viết lên không, trên trời giăng lọng báu.



Chú thích: Theo Tam Bảo Cảm Thông Lục, đời Tùy, thôn Vương Lý cách huyện Tân Phồn của Ích Châu bốn mươi dặm về phía Tây, có thư sinh họ Tuân viết chữ đẹp, nhưng người khác không biết. Ông thường viết kinh Kim Cang khắp bốn phía trên không trung nơi phía Đông mong cho chư thiên đọc tụng. Thoạt đầu không ai biết. Về sau, gặp lúc mưa gió, sấm chớp, trẻ nhỏ chăn trâu đứng dưới chỗ ông viết kinh chẳng bị ướt mình. Chỗ ấy khô ráo đến hơn một trượng. Người trong thôn lấy làm lạ. Từ đấy, mỗi khi có mưa, trẻ nhỏ thường tụ họp ở đó, chẳng ướt quần áo. Đến giữa niên hiệu Vũ Đức đời Đường, có vị dị tăng bảo người trong thôn: “Trên không trung chỗ này có kinh Kim Cang Bát Nhã, chư thiên giăng lọng báu che trên ấy, chớ nên khinh phạm”. Từ đấy, bốn phía đều đặt lan can để ngăn người và súc vật giẫm đạp. Mỗi khi đến ngày ăn chay, thôn dân khắp bốn phía nhóm đến cúng Phật, thường nghe nhạc trời rộn rã đầy tai.



Tiêu tướng quốc khắc đàn hương làm tháp, tượng đá ứng hiện trong sân.



Chú thích: Xem lời chú thích cho câu thứ nhất trong phần thứ sáu “cứu khỏi bị giết chóc”, tức lời chú cho câu “Trung Thư nước Tùy”.



Nhìn viên quang của Tư Mã, hiện lớn, hiện nhỏ.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, đời Đường. Lý Diên Quang làm Tư Mã tại Đức Châu, ăn chay, tụng kinh Kim Cang. Mỗi khi tụng liền có viên quang ở trước mặt. Dùng tâm tột bậc thì viên quang dần dần to ra, hễ hơi giải đãi thì viên quang dần dần nhỏ lại, lu mờ. Do được khích lệ như vậy, ông càng thêm tinh tấn.



Thuận theo tâm nguyện của Thứ Sử, trời liền tạnh hay mưa.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, đời Đường, Lã Văn Triển trong niên hiệu Khai Nguyên làm Lang Trung Huyện Thừa, tụng kinh Kim Cang đến hơn ba vạn biến, linh ứng lạ thường. Tuổi già, ba chiếc răng cùng rụng, niệm kinh cầu thỉnh, răng lại mọc như cũ. Nhằm năm hạn hán, Thứ Sử Lưu Tuấn sai cầu mưa, chỉ tụng một biến liền được mưa đầm đìa. Lại khổ vì nạn mưa dầm, lụt lội, quan Biệt Giá sai cầu trời tạnh, ngay lập tức trời liền quang đãng.



Phạm tăng hiện thân, bèn tăng tuổi thọ.



Chú thích: Xem lời chú thích thứ nhất trong đoạn thứ ba “được trường thọ” ở phần trước, tức lời chú thích cho câu “quang minh hiện tướng”.



Huyền Diên ứng mộng, được gọi là thông minh.



Chú thích: Theo Tống Cao Tăng Truyện, ngài Thích Văn Chiếu đời Đường thường đến trước chỗ tượng vẽ của pháp sư Huyền Diên đảnh lễ xuất gia, tự bi phẫn nhận thấy tánh mình tối tăm, chẳng hiểu được lời thầy giảng giải. Một đêm, mộng thấy ngài Huyền Diên thân cao chừng một trượng, bảo Văn Chiếu rằng: “Ta có một quyển kinh thông minh, hãy nên kính cẩn thọ trì, cảm ứng không sai chạy”. Nhận lấy thì ra là kinh Kim Cang. Đọc bảy biến mới ngủ, từ đấy thông minh hơn người.



Giục thiện nữ sanh nở, Kim Cang chỉ bụng.



Chú thích: Xem lời chú thích cho câu thứ tư trong đoạn thứ nhất “vãng sanh Tịnh Độ” trong phần trước, tức lời chú thích cho câu “dứt sự khổ địa ngục”.



Ứng lời tỳ-kheo cầu đảo, ngọc nữ khoét suối.



Chú thích: Theo Kim Cang Linh Ứng, đời Đường, sư Thích Thanh Hư thường tụng kinh Kim Cang. Một hôm nhà hàng xóm bị cháy, nhà của ngài Thanh Hư chẳng bị lửa táp chút nào. Hiền Thủ Quốc Sư Pháp Tạng đặc biệt thỉnh Sư cầu có được con suối, Sư bèn tụng kinh ba ngày đêm, chợt thấy ba ngọc nữ ở trong lòng núi dùng đao khoét đất trổ mạch nước, ngài Thanh Hư bèn thầm ghi nhớ chỗ ấy, đào xuống thì được con suối ngọt.



Vợ ông Cung sanh Tịnh Độ, ngài Thiện Hiện huyễn hóa hơn một trăm thân.



Chú thích
: Xem lời chú thích cho câu thứ hai trong đoạn thứ nhất “vãng sanh Tịnh Độ”, tức lời chú thích cho câu “theo hộ vệ phu nhân” (Tu Bồ Đề, Hán dịch là Thiện Hiện).



Phật tử hàng ma, vượt trội chú Thập Nhất Diện Quán Âm.



Chú thích: Theo Kim Cang Linh Ứng, vào đời Đường, trên đỉnh núi Thiếu Lâm có Phật thất (gian nhà thờ Phật) rất rộng, nhưng không ai dám đến đấy. Thích Thanh Hư nghe tiếng, đi đến đấy tụng kinh Kim Cang. Ban đêm nghe có tiếng động rất lớn liền niệm chú Thập Nhất Diện Quán Âm, lại nghe có tiếng tợ như hai con trâu đánh nhau, tượng Phật đều chấn động. Tụng chú đã vô hiệu, Sư bèn quay lại trì kinh này. Vừa mới tụng đoạn đầu thì hình bóng, tiếng vang đều dứt. Từ đấy, người sống nơi đó không sao cả.



Thành Thức chép chuyện cha mình, hai ba lượt hô “đừng sợ”.



Chú thích: Xem lời chú cho câu thứ 14 trong đoạn 9 “tiêu tội báo” ở phần trước, tức lời chú thích cho câu “di huấn họ Đoàn”.



Dương Viêm mộng thấy cha mẹ, xưng tụng kinh này là tư lương bậc nhất trong cõi âm.



Chú thích: Theo Đồ Thư Tập Thành, vào đời Tống, Dương Viêm mộng thấy cha mẹ, bèn khóc, hỏi: “Công đức của Thích, Đạo, và vàng lụa dùng trong cõi âm quả thật có ích gì chăng?” Đáp: “Có ích, nhưng trong cõi âm, trọng kinh Kim Cang nhất. Hãy vì ta in tặng một ngàn quyển, ấy là bậc nhất”. Dương Viêm bèn in tặng.



Thiện căn đã gieo, được gặp vị Tăng vân thủy.



Chú thích: Xem lời chú thích của câu thứ hai trong đoạn thứ nhất “vãng sanh Tịnh Độ” trong phần trước, tức lời chú thích cho câu “đồ tể tu hành”.



Giữ được cái mạng nhỏ nhoi, liền gặp cụ già bên bờ biển.



Chú thích: Xem lời chú thích của câu thứ hai trong đoạn thứ tám “cứu hiểm nạn nước lửa” trong phần trước, tức lời chú thích cho câu “Tống Khản nắm được bó rạ”.



Ống trúc rớt vào ngục, chứa hai dòng kinh “pháp xả” .



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, trong niên hiệu Đại Lịch đời Đường, ở Thái Nguyên có gã giặc trộm ngựa, vu cáo Vương Hiếu Liêm đồng tình, [khiến Hiếu Liêm] bị tra khảo hết sức khổ sở. Hiếu Liêm chỉ niệm kinh Kim Cang, ngày đêm không ngơi. Chợt một hôm có hai lóng trúc rớt vào trong ngục, ngục tốt nghi là giấu dao [trong ấy] bèn chẻ ra xem thì thấy có hai hàng chữ ghi: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (Pháp còn nên bỏ, huống hồ phi pháp), nét chữ rất khéo. Gã cầm đầu bọn cướp buồn hối, thưa trình cặn kẽ để rửa oan cho ông Vương.



Liễu tạ[30] thắp hương, một quyển sách vàng giáng hạ.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, nội thần Dương X... là em của Phục Cung, bị hãm trong tặc đảng của Tần Tông Quyền[31]. Hai mươi mấy năm, chỉ niệm kinh Kim Cang. Về sau, con của Tông Quyền làm Tiết Độ Sứ tại Tương Dương, cử Dương làm Giám Quân Sứ, do vậy, dụ vị tướng dưới quyền [là Triệu Đức Ngôn] giết con Tông Quyền để thay thế, dân được sống yên như cũ[32]. Ông Dương từng thắp hương tụng kinh dưới gốc liễu ngoài nha môn, chợt có một quyển kinh Kim Cang viết chữ vàng từ trên không hạ xuống, ấy là do lòng tinh thành mà được như vậy.



Lưới vớt được kinh trên sông, ốc kết thành khối.



Chú thích: Xem chú thích cho câu thứ nhất trong đoạn thứ tám “cứu hiểm nạn lửa nước”, tức lời chú thích cho câu “Sông Hán đánh gẫy mái chèo”.



Chôn bà ăn mày bên sườn núi, quạ phủ đất giùm.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Đường, Liêu Đẳng Quán khi làm Tri Huyện huyện Thiện Hóa, có người đàn bà hằng ngày tụng kinh Kim Cang ăn xin ở chợ, tối về ngủ ở ven núi. Chợt mấy ngày chẳng thấy đâu, bầy quạ kêu ran, xúm xít trên chỗ bà ta nghỉ chân. Mọi người tranh nhau đến xem, thấy bà ta ôm kinh qua đời. Lũ quạ tha đất đắp lên, bèn gọi là “Nha Táng Bà” (bà cụ được quạ chôn). Chuyện này trích từ Hồ Quảng Thông Chí.



Đổi kinh lấy tiền vàng của Tiết Độ Sứ, chân lại dính đất.



Chú thích: Xem lời chú thích cho câu thứ sáu trong đoạn “tiêu tội báo” trong phần trước, tức lời chú thích cho câu “Tiết Độ Sứ họ Ngô”.



Được bảo châu chốn cung rồng, chân lướt trên sóng.



Chú thích: Theo Thái Bình Quảng Ký, vào đời Đường, Nhậm Tự Tín ở Gia Châu thường trì kinh Kim Cang. Năm Trinh Nguyên 15 (799), sang Hồ Nam đi qua hồ Động Đình. Trong hồ có vật giống như mây đội thuyền lên, Tự Tín rơi khỏi thuyền. Tự Tín bèn đạp sóng bước đi, đến long cung, yết kiến long vương. Vua sai lên điện niệm kinh Kim Cang, tặng mấy chục viên bảo châu. Hai vị tăng đưa Tự Tín ra khỏi cung. Một vị Tăng trao lá thư nhờ gởi cho sư Thiệu Chân tại Quán Âm Đường ở Hành Nhạc[33], dặn [nói với sư]: “Là do hòa thượng của ông gởi đến, dặn ông hãy tụng kinh Kim Cang”. Tự Tín đến Nam Nhạc hỏi thăm vị tăng ấy thì quả nhiên gặp Thiệu Chân, [Thiệu Chân] bảo: “Hòa thượng đã diệt độ năm sáu năm rồi!”



Trần Chiêu chắp tay trong cõi âm, rương vàng tự hạ xuống.



Chú thích: Theo Tục Dậu Dương Tạp Trở, đời Đường, viên Khổng Mục xứ Hán Châu là Trần Chiêu thấy một người đến trước giường nói: “Triệu phán quan gọi ông”. Chiêu đến cõi âm, họ Triệu nói: “Ngươi đã biết lỗi hay chưa? Đậu Huyền giết trâu, ngươi lấy một cái đầu trâu. Xét theo đúng lẽ, ngươi bị chém một trăm lần, tra khảo năm chục lần”. Do vậy hỏi Chiêu: “Ngươi có công đức gì?” Chiêu nói: “Từng mượn kinh Kim Cang từ nhà anh họ về trì tụng”. Phán quan bảo hãy chắp tay thỉnh, có kinh đựng trong rương bọc vải vàng từ trên trời hạ xuống, dừng trước mặt Chiêu. Xem ra thì là bản kinh mượn từ người anh họ, vẫn còn dấu bị cháy xém. Họ Triệu nói: “Điều này đủ để tha tội”, bèn thả về.



Kinh Châu Tấn trở về chốn cũ, vải đoạn hồng như mới.



Chú thích: Theo Hộ Pháp Lục, đời Nguyên, ở Hàng Châu có Châu Tấn hằng ngày tụng kinh Kim Cang. Có đứa bé đụng đổ ngọn đèn thờ Phật, kinh bị dầu lem. Do vậy, ông Tấn bèn dùng vải đoạn màu hồng buộc chặt kinh, gieo xuống sóng nước. Ba năm sau, kinh chợt trở về chỗ cũ, bên ngoài bị phù sa bao phủ, nhưng vải đoạn hồng vẫn như cũ. Châu Tấn mừng rỡ, thỉnh bậc Khai Sĩ trong tùng lâm ghi chép sự việc. Về sau, năm ông tám mươi mốt tuổi, nhằm năm Canh Thân (1380) niên hiệu Hồng Vũ nhà Minh, Văn Hiến Công Tống Liêm có soạn bài tán.



Thượng Tọa nổi sân, cột đè tay áo.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, chùa Long Hưng ở Nguyên Châu do mở đại trai hội, chủ chùa tuổi cao, đức trọng xứng đáng ngồi ngay dưới vị trí dành cho ngài Tân Đầu Lô[34]. Có tiểu tăng từ bên ngoài, đến sau, không có chỗ ngồi, bèn muốn đến ngồi ngay dưới chỗ dành cho vị chủ chùa. Vị chủ chùa quát [đuổi đi, nhưng tiểu tăng] vẫn cứ sấn đến. Hai lượt như thế, chủ chùa giận quá, tựa vào cột, dùng tay chụp [tiểu tăng]. Vừa mới muốn giơ tay thì ống tay áo rộng bị cột chặn lấy, chẳng hạ xuống được, cả chùa kinh hãi. Mọi người bàn luận e là do đạo đức của chú tăng trẻ tạo ra, chú tăng trẻ tuổi tự nói: “Tôi trọn chẳng có đạo hạnh gì cả! Từ nhỏ đến nay suốt hai mươi năm trì kinh Kim Cang”. Mọi người đều tán thán, bảo là do sức hộ trì của kinh Kim Cang, bèn đốt hương đảnh lễ nơi cây cột, áo liền tuột ra.



Người bơ vơ gặp nạn, không trung rơi hài.



Chú thích: Theo Quảng Dị Ký, vào đời Đường, Lý Duy Yến tụng kinh Kim Cang. Người trong họ bắt chước làm theo, gặp loạn An Lộc Sơn, ẩn nấp trong chỗ cỏ hoang. Giặc sắp đuổi đến, mong có một đôi giày mới để chạy. Chợt có vật rơi xuống lưng, giật mình nhìn thì chính là đôi giày mới.



Cha mất, trích máu, mùi hương lạ từ viện tỏa ra.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Lý Quán ở Lũng Tây gặp lúc cha mất bèn trích máu chép Kim Cang Bát Nhã, Tâm Kinh, Tùy Nguyện Vãng Sanh Kinh[35], mỗi thứ một quyển. Từ đấy, trong nhà thường có mùi hương lạ, hàng xóm đều ngửi thấy.



Chôn mẹ, chép kinh, cỏ chi sanh bên chòi tranh.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, quan Tư Hộ Tào xứ Dương Châu là Tư Mã Kiều Khanh trong niên hiệu Vĩnh Huy gặp tang mẹ, bèn trích huyết chép kinh Kim Cang hai quyển. Không lâu sau, ở cạnh chòi tranh mọc hai giò cỏ Chi. Chín ngày sau, cỏ đã dài một thước tám tấc, thân cỏ xanh, tỏa tròn như cái lọng đỏ, mỗi ngày tiết ra nước cả thưng. Uống vào, vị ngọt như mật, lấy đi lại tiết ra tiếp. Đồng liêu của Kiều Khanh tận mắt chứng kiến việc này.



Đổi thành tên thứ nhất bên giường ngự, mộng thấy con đỗ đầu.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, vào đời Đường, Dương Tuần trì kinh Kim Cang. Con ông ta đi thi, [Dương Tuần] đêm mộng thấy thần Kim Cang bảo: “Con ông là Xuân, đỗ thứ sáu”. [Con ông ta] lên tỉnh thi, ông Dương lại mộng thấy đề thi “vua hành vương đạo”, đỗ hạng chín mươi sáu. Thi Đình xong, lại mộng thấy [thần Kim Cang] nói: “Con ông làm bài chẳng trúng ý của chủ khảo ra đề thi, bị xếp vào Đệ Tam Giáp. Ta ở bên cạnh giường ngự bèn đổi thành tên thứ nhất[36]. Ấy là quả báo do ông tụng kinh, tích đức vậy”.



Dọa hai vị Tăng trước nơi đình bên sông, nghe kinh chắp tay.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Tấn, bên khúc sông tại Dương Châu có Đình Hồ, thần [cai quản hồ ấy] rất nghiêm, rất ác. Thầy trò sư Pháp Tạng người Tây Vực giỏi trì chú. Học trò vị ấy cố ý đến miếu thờ thần Đình Hồ nghỉ đêm, bị mất mạng. Thầy lại qua đó, cũng chết. Vị Tăng cùng chùa chỉ trì Bát Nhã, nghe thầy trò vị sư kia đều chết; do vậy, tới chỗ thần, đến đêm tụng kinh Kim Cang. Tới nửa đêm, nghe có tiếng gió, thấy một vật to lớn, cồng kềnh, ngất ngưởng, nanh dài, mắt sáng như tia chớp. Chợt vật ấy bỏ hết oai thế, đến trước vị Tăng, quỳ gối phải sát đất, chắp tay cung kính. Nghe kinh xong, Tăng hỏi là thần nào? Đáp: “Là thần coi hồ, tin kính sư tụng kinh”. Lại hỏi: “Vì sao đánh chết hai vị Tăng trước đây?” Đáp: “Bọn họ chẳng trì kinh điển Đại Thừa, dùng tâm sân tụng chú muốn hàng phục đệ tử. Đệ tử chẳng phục. Họ thấy hình dạng đệ tử dữ ác, tự nhiên hoảng sợ chết luôn, chứ không phải là do đệ tử cố ý giết”. Vị Tăng kể lại với người khác, người ta đa số thọ trì kinh này.



Vào trường thi, mèo đến, chợt thấy một cụ già tới xua tay.



Chú thích: Theo Kim Cang Kinh Kỷ Nghiệm, vào đời Thanh, Trương Bỉnh Liêm ở Đại Hưng thuở nhỏ hại một con mèo. Về sau, vào trường thi, hồn mèo đến quấy nhiều lần, họ Trương hoảng sợ, kiền thành trì kinh Kim Cang và Tâm Kinh. Trong khoa thi Hương năm Ất Dậu (1825) đời Đạo Quang, vừa làm bài nháp xong, đang chép lại cho rõ ràng thì mèo lại đến. Trương vội xếp quyển thi, tụng kinh không ngớt. Chợt có một cụ già đến, xua tay đuổi mèo đi, và khuyên Trương thi xong hãy mau thỉnh Tăng siêu độ. Nói xong, chẳng thấy cụ già đâu nữa. Trương bèn thi đậu.



Hương ngát khắp nhà, từ canh ba đến khi trời sáng.



Chú thích: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tùy, Liễu Kiệm ban đêm tụng kinh Kim Cang đến canh ba, bỗng có mùi hương lạ tỏa khắp nhà đến sáng chẳng tan.



Hàn Khôi chép kinh theo lối chữ Khải, trên kỷ hiện ánh sáng.



Chú thích: Theo Kim Cang Trì Nghiệm, trong thời Vạn Lịch nhà Minh, cao tăng đất Sở (Hồ Nam) là Hàn Khôi từng ở chùa Thiên Hoàng dùng nước thơm và bột vàng hòa thành mực để chép kinh Kim Cang. Đến phần thứ 16, trời đã tối quên thắp đèn, trên kỷ dường như có ánh sáng nhẹ để sư chép kinh theo lối chữ Khải mãi cho đến tận nửa đêm. Ngẫu nhiên đói bụng muốn ăn, đứng dậy nhớ tới đèn đuốc thì trước mắt đã tối om rồi, hoảng hồn kêu vị Tăng ở cùng nhà đem lửa sang soi thì trên từng trang giấy, nét chữ còn trang nghiêm hơn lúc bình thường.



Pháp Thiền kéo thuyền, giở chân bước trên không.



Chú thích: Theo Cân Ngự Thừa Tục Tập, vào đời Minh, vị Tăng ở đất Sở là Pháp Thiền muốn sang Lô Sơn dựng am tu hành. Đến Cửu Giang, gặp đúng lúc Vương Tây Khê ở ngoài Tây Thành thỉnh tụng kinh Kim Cang, mãn kỳ hạn là ba năm, sẽ cúng tạ ba trăm lượng. Về sau, tụng xong, Tây Khê chỉ đưa cho một trăm lượng, chẳng thể dựng am được. Số vàng kiếm được đã bố thí quá nửa, Sư chỉ đành ôm bát không. Có thuyền của phiên vương đi đến Cửu Giang, thuê Sư làm phu kéo thuyền. Khi ấy, các thuyền gặp trận gió ngược chẳng thể tiến được, chỉ riêng thuyền do Sư kéo là tiến vùn vụt, bàn chân lướt trên không chừng cả thước. Vương trông thấy kinh hãi, mà Sư cũng chẳng tự biết. Cật vấn mới biết là do Sư niệm kinh mà ra, vương liền ban ba trăm lượng bạc để dựng am.



Hai phen nổi gió, nguyên văn bản kinh do họ Bạch chép được hoàn trả nguyên vẹn.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, năm Gia Tĩnh 43 (1564) đời Minh, vùng Đông Nam mất mùa lớn. Chùa X... ở Động Đình Sơn tại Tô Châu có trọn vẹn quyển kinh Kim Cang do Bạch Lạc Thiên[37] đã chép vào đời Đường, được coi là vật chí bảo trấn tự. Năm ấy, đại chúng trong chùa đói khát, vị Tăng đứng đầu chùa do bất đắc dĩ, phải đem cuốn kinh ấy nhường cho Vương Hoạn ở Sơn Đường nhằm đổi lấy năm mươi thạch gạo để có cái ăn. Hoạn thí gạo, trả lại kinh. Tăng lãnh về, qua hồ, hết sức ca ngợi đức của ông Hoạn. Mọi người trong thuyền xin được xem kinh, vị tăng vừa mở kinh ra thì đột nhiên cơn gió lớn thổi tới xé đứt mấy trang đầu cuốn kinh, cuốn lên mây, bay đi mất. Tăng buồn bã hối hận không cùng.

Ba năm sau, chợt có vị thượng quan nghe danh cuốn kinh ấy, hãm Tăng vào ngục, ép phải hiến kinh. Thượng quan do thấy kinh chẳng trọn quyển, chẳng đẹp ý, thả Tăng, trả lại kinh. Tăng qua hồ, lại gặp gió to, trời đất tối đen, cắm thuyền lên bờ, vào một thôn hẻo lánh tránh gió. Đến trước nhà một ngư phủ già thì trên ván dán mấy trang kinh đã bị mất trước kia, trọn chẳng bị thương tổn gì. Hỏi thăm ngư phủ họ Diêu thì ra ba năm trước có tia lửa sáng bổ nhào xuống ruộng, kinh hãi ra coi thì là những tờ giấy có chữ; do vậy, bèn dán lên tường. Tăng buồn khóc, đảnh lễ, xưng tụng ngài Vy Đà, thuật đầy đủ đầu đuôi, bảo: “Nếu không có trận gió thần lần trước thì kinh đã lọt vào tay kẻ quyền quý, nếu không có trận gió thần lần này, kinh khó thể lại nguyên vẹn được!” Họ Diêu cũng cảm ngộ, đổi nghề. Sư đóng lại những trang ấy vào cuốn kinh, mang kinh trở về chùa.



Mộng nhờ một chữ, thần viết chữ Triệu cho biết lắm con trai.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Minh, Thí Chấn Vũ ở huyện Cẩn đã bốn mươi vẫn chưa có con, lễ hòa thượng Thiên Đồng Mật Vân, được đặt pháp danh là Thông Đẳng. Sư dạy: “Ông có thể trai tăng, trì kinh Kim Cang thì sẽ tự nhiên có con”. Ông Thí bèn theo đúng lời dạy, lễ Phật, phát nguyện, đêm mộng thấy thần Kim Cang viết một chữ Triệu trao cho. Trở về liền ăn chay, chép kinh, kiền thành tụng niệm, mỗi năm bày cỗ chay cúng, về sau sanh được năm đứa con trai.



Mây thành ngũ sắc, vợ bé sanh con.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Thanh, Đề Đốc Trương Kiệt ở Chiết Giang đã sáu mươi không có con, phu nhân họ Trần hằng ngày tụng kinh Kim Cang. Tháng Hai năm Khang Hy thứ 5 (1666), ông Thí sang chùa Thiên Đồng tu Hoa Nghiêm Sám Pháp. Trong núi hiện mây ngũ sắc bảy ngày. Mùa Thu, vào tháng Bảy, vợ lẽ sanh được một trai.



Khách mộng thấy một người, lang quân thi đỗ.



Chú thích: Theo Kim Cang Cảm Ứng, vào đời Minh, Trầm Quang Hoa ở Gia Hòa ngẫu nhiên nói với Ngô X... rằng: “Buổi sáng ăn chay, tụng kinh Kim Cang đã hai mươi năm”. Ông Ngô hờ hững đáp lời: “Thì sao?” [Hôm sau], ông Ngô dậy sớm, vội chạy đến chúc mừng ông Trầm: “Con trai ông thi đậu rồi!” Hỏi vì sao? Đáp: “Tôi mộng thấy một người nói một vị sĩ phu ở trong quận do công đức trì kinh nên con ông ta thi đỗ. Tôi đoán người ấy chính là ông”. Đến mùa Thu, con trai ông Trầm đi thi, quả nhiên đỗ kỳ thi Hương.



Từng quyển đề tên, cõi âm mở quyển của Văn Công.



Chú thích: Theo Thọ Trì Quả Báo, trong thời Vạn Lịch nhà Minh, quan Đồng Tri xứ Vệ Huy là Văn Nguyên Phát không tin đạo Phật. Do bị bệnh, mộng thấy vào cõi âm, mới biết địa ngục chẳng dối, bèn lưu tâm nơi kinh điển nhà Phật. Hằng ngày tụng kinh Kim Cang, hễ họp mặt với bạn già là Vương Hồng Cang bèn tụng thuộc lòng. Con cả là Chấn Mạnh đỗ đầu, cũng đã từng chính tay chép kinh Kim Cang theo kiểu chữ Lệ cho khắc vào đá. Có Ngô sinh mộng đi vào cõi âm, có người chỉ hãy bước vào một cái cửa nhỏ, thấy điện vũ trang nghiêm đẹp đẽ, bên trong xếp bày Long Tạng, bên cạnh có giáp sĩ thủ hộ. Mở ra xem, từng cuốn kinh trang nghiêm, từng quyển đều ghi tên họ Văn Nguyên Phát. Hỏi ra thì họ nói: “Đấy đều là kinh do ông Văn tụng hằng ngày”. Tỉnh giấc bèn kể lại với người cùng quê là Văn tiên sinh. Ông này chính là chú của Nguyên Phát. Từ đấy, chàng Ngô cũng trì tụng không thiếu sót.



Tầng tầng giấy xoay, chiếc hài của ông Cao Quý lượn lưng trời.



Chú thích: Theo Kim Cang Linh Ứng, vào đời Minh, Cao Quý ở Thái Thương mở tiệm giày. Tháng Sáu năm Thiên Khải thứ 5 (1625), từ nơi chiếc màn che những chiếc giày đã được bồi giấy[38], có tiếng động [nghe như vật gì bị] xé rách thật mạnh nghe xé lụa, nhìn xem thì như một bức vách lớn bay lơ lửng trên không, dần dần rớt xuống, còn mấy tấm thì bay la đà theo hướng Bắc đến tháp Phổ Đồng ở ngoài thành mới đáp xuống. Tăng nhặt lấy xem thì toàn là những trang kinh Kim Cang. Ấy là vì ông Quý không biết chữ, lấy những trang kinh [để độn giày] nên thiên thần mới thị hiện như thế (trên đây tổng cộng là 20 cặp, gồm 40 điều).



Đã trình kinh văn đủ để chứng minh, cảm ứng như tiếng vang. Đây là công đức chẳng thể nghĩ bàn thứ mười vậy.



III. Hồi Hướng




Chỉ Tịnh, thẹn học vấn hẹp hòi, hèn tệ, chưa khỏi bị chê lấy một để sót cả vạn, thiếu tánh tụng trì, thật tiếc phạm lỗi được sau sót trước.



Chú thích: Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài Châu Lợi Bàn Đặc Ca[39] nói: “Ngã khuyết tụng trì, vô đa văn tánh, ức trì Như Lai nhất cú già-đà, ư nhất bách nhật, đắc tiền di hậu, đắc hậu di tiền” (Tôi thiếu tụng trì, không có tánh đa văn. Nhớ, trì một câu kệ của đức Như Lai trong một trăm ngày, nhớ phần trước quên phần sau, nhớ phần sau quên phần trước).



Vào biển đếm cát, biết rõ tự khốn đốn.



Chú thích: Chứng Đạo Ca: “Nhập hải toán sa đồ tự khổn” (vào biển đếm cát uổng nhọc nhằn).



Do chỉ cho [người khác] thấy được mặt trăng, há dám nói là chẳng có ai?



Chú thích: Kinh Lăng Nghiêm: “Như nhân dĩ thủ chỉ nguyệt thị nhân, bỉ nhân nhân chỉ đương ưng khán nguyệt. Nhược phục quán chỉ dĩ vi nguyệt thể, thị nhân khởi duy vong thất nguyệt luân, diệc vong kỳ chỉ. Hà dĩ cố? Dĩ sở thị chỉ, vi minh nguyệt cố” (Như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác, người ấy hãy nên do ngón tay mà trông thấy mặt trăng. Nếu lại coi ngón tay là thực thể của mặt trăng thì người ấy chẳng những lầm mất vầng trăng mà còn lầm cả ngón tay. Vì sao vậy? Do coi cái dùng để chỉ bày chính là vầng trăng sáng vậy).



Nhờ vào bài văn tán thán này để vụng dại thay cho tung hương rải hoa, đếm của báu nơi nhà người, hòng mở cửa tòa nhà đẹp đẽ.



Chú thích: Kinh Hoa Nghiêm: “Như nhân sổ tha bảo, tự vô bán tiền phân” (Như người đếm của báu của kẻ khác, tự mình chẳng có được nửa phân tiền). Kinh Lăng Nghiêm: “Ngã kim do như lữ bạc chi nhân, hốt mông thiên vương tứ dữ hoa ốc, tuy hoạch đại trạch, yếu nhân môn nhập” (Ta nay giống như người lênh đênh, chợt được vua trời ban cho tòa nhà đẹp đẽ, tuy được căn nhà to lớn, cần phải do cửa mà vào).



Nguyện đem công đức chẳng thể kể, chẳng thể lường, chẳng thể nghĩ bàn này hồi hướng Bồ Đề, liền cùng với chúng sanh biết như thế, thấy như thế, tín giải như thế cùng sanh An Dưỡng.



Chú thích: Tiếng Phạn Bồ Đề (Bodhi), cõi này dịch là Giác Đạo, chính là Phật quả hết sạch vô minh, phước huệ viên mãn.

Tiếng Phạn “Tu Ma Đề”, cõi này dịch là An Dưỡng, còn dịch là An Lạc, Diệu Ý, Cực Lạc, Thanh Thái v.v... nằm ở phương Tây của thế giới Sa Bà này của chúng ta, chính là Tịnh Độ giáo hóa của A Di Đà Phật (Sa Bà, Hán dịch là Kham Nhẫn, nghĩa có thể cam chịu những thứ khổ). Thích Ca Mâu Ni thị hiện uế độ Sa Bà ngõ hầu chúng sanh biết chán cầu lìa, nên gọi là Chiết. A Di Đà Phật thị hiện Tịnh Độ Cực Lạc, ngõ hầu chúng sanh biết ưa thích, cầu sanh về đó, nên gọi là Nhiếp. Ý chỉ của hai môn Chiết và Nhiếp đều nhằm về một chỗ. Lại nữa, A Di Đà Phật trong khi tu nhân, đã phát bốn mươi tám đại nguyện độ thoát chúng sanh (xem trong Vô Lượng Thọ Kinh). Vì thế, có người niệm danh hiệu Phật thì khi lâm chung, Ngài liền đến tiếp dẫn sanh về An Dưỡng. Tùy theo công hạnh sâu hay cạn mà sanh trong chín phẩm hoa sen (xem Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh).

Niệm kinh Kim Cang nếu có thể chí thành khẩn thiết sẽ tự tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ, lại còn niệm Phật hồi hướng, quyết định vãng sanh Tây Phương. Hễ được vãng sanh sẽ siêu phàm nhập thánh, lên địa vị Bất Thoái, lại còn thân cận Di Đà, theo gót hải chúng, tự nhiên viên thành tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông, hết thảy công đức. Người đời nay thường chấp vào câu nói vô tướng trong kinh Kim Cang, bảo “niệm Phật là chấp tướng, chẳng bằng tham Thiền!” Chẳng biết từ ngay nơi tướng mà ly tướng, đấy là chân vô tướng! Lìa tướng chấp vô, hóa ra là chấp tướng! Vĩnh Minh đại sư nói: “Có Thiền, không Tịnh Độ, mười người chín chần chừ! Không Thiền, có Tịnh Độ, vạn tu, vạn người về”. Các vị Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thiên Thân, tổ sư như Trí Giả, Từ Ân, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích v.v... đều niệm Phật cầu vãng sanh, các vị ấy là hạng người nào? Người tụng kinh Kim Cang hãy nên kiêm niệm Phật hồi hướng vãng sanh, thì trong mười thứ lợi ích do trì kinh quyết định chứng cái quả thứ mười là “quyết định vãng sanh Tịnh Độ”, chứ chẳng phải chỉ đạt được chín thứ thiện nhân trước đó mà thôi! Những điều khác xin hãy coi trong kinh Kim Cang.



* Kính vì những người in, tặng, lưu truyền và những người đọc tụng trong hiện tại, những người in, tặng, lưu truyền và đọc tụng trong tương lai mà nói kệ hồi hướng rằng:



Lạ thay, Quán Thế Âm!

Thệ nguyện khó nghĩ bàn,

Thành Đẳng Chánh Giác đã lâu,

Lại hiện thân Bồ Tát,

Tùy loại hóa thân hình,

Theo tiếng kêu, cứu khổ,

Đáng tiếc người thế gian,

Phần nhiều chẳng hay biết,

Vì thế, soạn sách này,

Mong được lưu truyền rộng,

May được các thiện tín,

Nhận in đến mấy vạn,

Từ đó nhiều người biết,

Nhiều lượt đảm nhận in,

Đạt đến số mười vạn,

An ủi lòng Bồ Tát,

Lại còn khắc in rộng,

Lưu truyền rộng trong ngoài,

Hòng biết Quán Thế Âm,

Thật là bậc nương tựa

Cho hết thảy chúng sanh,

Ví như đuốc lửa lớn,

Chiếu khắp các nẻo tối,

Cũng như thiết luân to,

Chở khắp kẻ chìm đắm,

Dẫn đường cho người mù,

Thuốc thang cho kẻ bệnh,

Thành quách lánh trộm cướp,

Gạo thóc thuở đói kém,

Phải biết ơn Bồ Tát,

Hơn đất chở, trời che,

Dẫu hết kiếp tuyên dương,

Cũng chỉ nêu chút phần,

Nguyện những người đứng in,

Tiêu trừ hết nghiệp chướng,

Phước huệ đều tăng trưởng,

Mọi việc đều như ý,

Sống được hưởng ngũ phước,

Mất sẽ lên chín phẩm,

Các tổ tông quá khứ,

Nhờ đây sanh Tịnh Độ,

Cha mẹ trong hiện tại,

Đều trường thọ, khỏe mạnh,

Tất cả các con cháu,

Đều rạng danh gia đình,

Năm tháng thường sung túc,

Trộm cướp đều đổi dạ,

Nhà nhà trọng từ thiện,

Chốn chốn hành nhân nghĩa,

Ngõ hầu thói bạc bẽo,

Thành nồng hậu, chất phác,

Pháp giới chư hữu tình,

Cùng viên thành Chủng Trí.

Mùa Xuân năm Bính Dần, tức năm Dân Quốc 15 (1926), Thích Ấn Quang hòa-nam



Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 4 hết

Trọn Bộ

(hoàn tất cảo bản ngày mồng 07 tháng 07 năm 2010.

Tu chỉnh lần thứ nhất ngày 06 tháng 03 năm 2011)




Hồi Hướng




Cuốn sách nhỏ này được ra đời nhờ sự khuyến thỉnh của một đạo hữu sau khi đọc Ấn Quang Văn Sao Tam Biên, và sẽ không thể nào hoàn thành trọn vẹn nếu không có sự cổ vũ tích cực của đạo hữu Vạn Từ trong suốt quá trình chuyển ngữ cũng như các vị huynh trưởng Đức Phong và Chơn Phù đã phát Bồ Đề tâm tái giảo duyệt, trình bày và ấn tống. Chân thành cảm tạ các đạo hữu Minh Tiến, Đức Phong, Chơn Phù, Vạn Từ và Huệ Trang đã bỏ công giảo chánh, chỉ giáo, phủ chánh những chỗ sai lầm. Nếu việc làm liều lĩnh này vì tiếc pháp và tham pháp biết lượng sức mình của nhóm cư sĩ chúng con có chút phần công đức nào đều xin hồi hướng thế giới hòa bình, tai nạn tiêu diệt, tổ tiên, sư trưởng, phụ mẫu, quyến thuộc của chúng con và của tất cả liên hữu Tịnh tông đều được vãng sanh. Những ai dù thấy hay nghe, dù tùy hỷ hay hủy báng đều cùng kết duyên với Từ Phụ Quán Thế Âm Bồ Tát, đều cùng được vãng sanh An Dưỡng. Tất cả liên hữu do thấy nghe hạnh nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ càng tin sâu, nguyện thiết, chuyên niệm hồng danh từ phụ A Di Đà Phật và Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ cùng nhau hội ngộ nơi Liên Bang để mau chứng Vô Sanh Nhẫn, cùng trở lại tiếp độ chúng sanh trong nhà lửa Sa Bà cùng chứng chân thường, cùng sanh An Lạc quốc.


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 07 Jan 2016, 10:14 PM | Message # 60
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
[1] Lý Mật (582-619) là một tướng lãnh quân phiệt cuối thời Tùy. Ông ta là người xứ Liêu Dương (Liêu Đông), là chắt của Trụ Quốc Tướng Quân Lý Bật nhà Tây Ngụy, được tập tước, theo hầu Tùy Dượng Đế. Một hôm, Tùy Dượng Đế thấy Lý Mật tướng mạo phi phàm bèn cật vấn. Biết là Tùy Dượng Đế muốn giết hại, Lý Mật bỏ trốn về ẩn cư tại quê nhà. Về sau, Lý Mật theo phò con trai của Dương Tố là Dương Huyền Cảm (Dương Tố là một trong những công thần của nhà Tùy, bị Tùy Dượng Đế nghi ngờ sát hại), tùng chinh Cao Câu Ly để thừa dịp dấy loạn, hòng diệt nhà Tùy. Do chuẩn bị không kỹ càng, cuộc dấy loạn bất thành, Lý Mật phải bỏ trốn, rồi gia nhập loạn quân Ngõa Cương của Địch Nhượng, tạo nhiều công lao lớn, được Địch Nhượng phong làm Tư Đồ, thanh thế Ngõa Cương ngày càng lừng lẫy. Cuối cùng, Lý Mật sát hại Địch Nhượng chiếm binh quyền. Về sau, Lý Mật nghe lời chiêu dụ, toan xua quân thôn tính quyền thần nhà Tùy là Vũ Văn Hóa Cập, nhưng bị quan giữ thành Lạc Dương là Vương Thế Sung đánh úp Ngõa Cương, khiến Lý Mật đại bại phải chạy về Tây. Bộ hạ đắc ý của Lý Mật là Đơn Hùng Tín cũng theo về hàng Vương Thế Sung. Lý Mật đành phải theo phò Đường Cao Tổ (Lý Uyên). Sau đấy, Lý Mật ngầm phản Đường, chiếm cứ huyện Đào Lâm, xua quân chiếm núi Hùng Nhĩ, nhưng thất bại, cuối cùng bị quân nhà Đường giết chết.

[2] Phương Bá, còn gọi là Hầu Bá, vốn là một từ ngữ chỉ một chư hầu hùng mạnh, đứng đầu các chư hầu một vùng (chẳng hạn như Tề Hoàn Công thời Chiến Quốc). Về sau, các chức Thứ Sử đời Hán, chức Thái Phỏng Sứ, Quán Sát Sứ đời Đường và Bố Chánh Sứ đời Minh - Thanh đều được gọi là Phương Bá.

[3] Biệt Giá là chức quan đã có từ thời Hán, có nhiệm vụ phụ tá quan Thứ Sử một châu. Do khi theo quan Thứ Sử tuần hành, viên quan này được phép ngồi riêng một cỗ xe nên mới có danh xưng Biệt Giá. Thời Tùy - Đường có lúc chức quan này được đổi thành Trưởng Sử, rồi lại đổi thành Biệt Hạ như cũ.

[4] Tức là Đạo Đức Kinh.

[5] Đây là lần chinh phạt Cao Câu Ly (cổ Đại Hàn) của Dương Huyền Cảm dưới thời Tùy Dượng Đế. Khi Đường Thái Tông thống nhất sơn hà, do xứ Tân La (một vương quốc cổ của Đại Hàn ở phía Nam Cao Câu Ly, thuở ấy trên bán đảo Đại Hàn có ba vương quốc là Cao Câu Ly, Bách Tế và Tân La) cấu kết với nhà Đường để thôn tính Cao Câu Ly nên Đường Thái Tông lại xua quân đi đánh Cao Câu Ly lần nữa. Lãnh thổ Cao Câu Ly khi ấy bao gồm một phần tỉnh Liêu Đông của Trung Hoa hiện thời và gần như toàn bộ miền Bắc bán đảo Đại Hàn.

[6] Nguyên văn “vũ thư” (thư truyền tin, thời cổ có gắn lông chim, ngụ ý tin tức phải giao chuyển, thực hiện cấp bách). Tuy về sau không ai gắn lông chim nữa, nhưng các thư từ, mệnh lệnh khẩn cấp trong quân đội vẫn gọi là “vũ thư”.

[7] Tuyển nhân: Người thi đậu, được bổ đi làm quan.

[8] Chỉ dinh thự của vị quan đứng đầu một châu.

[9] Nguyên văn “liên câu” (蓮鉤), chỉ chân bó của phụ nữ Trung Hoa thuở xưa. Vào thời cổ, không rõ từ lúc nào, chỉ trừ con gái những gia đình quá nghèo, hầu như toàn bộ phụ nữ Trung Hoa bị bó chân từ bé (khoảng năm sáu tuổi), các ngón chân bị bẻ gập xuống lòng bàn chân rồi bó vải chặt, có rắc thuốc cho các ngón khỏi hư thối, đi giày thật nhỏ. Thân thể tiếp tục lớn lên nhưng xương bàn chân không dài ra được, sẽ bị cong vòng lên giống như cái móc, nên mới gọi là Câu. Khi di chuyển, người bị bó chân chỉ có thể đi loạng choạng từng bước ngắn dựa vào gót chân và đầu mũi chân, trông khập khiễng, chệch choạng, nhưng thi nhân Trung Hoa lại khen là “thướt tha, yểu điệu”. Nếu tháo vải bó chân ra, người nữ ấy sẽ không thể nào đứng được. Ngoài ra, Triệu Phi Yến đời Hán chân bó rất nhỏ, có thể đứng gọn trong hai bàn tay của vua. Vua say mê, bảo chân Phi Yến đẹp như cánh sen, cho người dùng vàng đúc thành hoa sen khảm trên mặt đất, bảo Triệu Phi Yến bước trên đó, gọi là “bộ bộ sanh liên” (từng bước nảy hoa sen). Do vậy, người Hoa thường gọi chân bó là “liên câu” (cái móc hoa sen). Khi người Mãn Châu chiếm được Trung Hoa cũng bắt chước người Hán bó chân, mãi cho đến khi Dân Quốc thành lập, chánh quyền nghiêm cấm thì tục lệ bó chân mới chấm dứt.

[10] Nguyên văn “dịch phu”, là lính chạy chân hoặc cưỡi ngựa để giao chuyển công văn, thư từ cho chánh quyền, giống như người giao thư hiện thời. Mỗi trạm chuyển tiếp được gọi là Dịch.

[11] Sát Viện là một phân viện của Ngự Sử Đài (hai viện kia là Đài Viện và Điện Viện). Các quan trực thuộc viện này được gọi là Giám Sát Ngự Sử hoặc gọi tắt là Thị Ngự. Viện này có trách nhiệm giám sát các quan, đàn hặc những kẻ lạm quyền, trái pháp, cũng như phối hợp với Hình Bộ và Đại Lý Tự để thẩm tra những vụ trọng án nhằm ngăn ngừa hai cơ quan ấy lạm quyền, ép cung tội nhân oan uổng. Ông Phùng được gọi là Sát Viện, tức là chỉ giữ một chức quan trong Sát Viện chứ không phải là người đứng đầu cơ quan này.

[12] Khu Mật Viện là cơ cấu quan trọng trong chánh quyền thời cổ. Cơ quan này được lập ra vào thời Đường Đại Tông với danh xưng Khu Mật Sứ, do các hoạn quan đảm nhiệm, với nhiệm vụ giúp vua phê duyệt tấu chương và truyền đạt mệnh lệnh. Về sau, Đường Trang Tông đổi Khu Mật Sứ thành Khu Mật Viện, và tăng quyền lực cho cơ quan này, nhằm phân chia bớt quyền uy của Tể Tướng, nhưng Khu Mật Viện thiên trọng việc binh bị và thành viên của Khu Mật Viện gồm toàn những vị đại thần tài năng, chứ không sử dụng thái giám nữa. Đến đời Liêu, Khu Mật Viện bị tách làm hai: Bắc Khu Mật Viện lo quân cơ, Nam Khu Mật Viện chưởng quản quan lại. Đến đời Tống, vai trò của Khu Mật Viện cực kỳ quan trọng, cơ cấu phức tạp hơn, chia thành 12 phòng, đóng vai trò thống lãnh mọi hoạt động của chánh quyền (can dự, điều động cả sáu bộ), có quyền dò xét các quan nếu cần thiết, ngay cả hoàng thân quốc thích cũng không thể tránh khỏi sự giám sát của Khu Mật Viện. Khu Mật Viện do một quan văn đứng đầu, quan võ làm phó. Thoạt đầu, để tránh chuyện tể tướng chuyên quyền, nhà Tống quy định Tể Tướng không được tham dự Khu Mật Viện. Khu Mật Viện thường do hoàng thân quốc thích hay đại thần uyên bác, tín cẩn nắm giữ. Kể từ đời Tống Ninh Tông, Khu Mật Viện thường do Tể Tướng kiêm nhiệm.

[13] Một kỷ là mười hai năm.

[14] Tức bài kệ: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ, diệc như điển. Ưng tác như thị quán”.

[15] “Cáp nhi” là bồ câu.

[16] Ma Ni Giáo (Manichaeism, còn gọi là Mâu Ni Giáo, Minh Giáo hoặc Ma Giáo), vốn là đạo thờ lửa do Mani sáng lập tại Ba Tư vào giữa thế kỷ thứ 3 tại vùng Asuristan thuộc lãnh thổ Babylon của vương triều Sassanid. Giáo nghĩa của Ma Ni Giáo có xen tạp một phần tư tưởng của Cơ Đốc giáo. Mani chủ trương từ thời nguyên thủy đã có hai thế giới đối lập là quang minh và tối tăm tồn tại độc lập. Dần dà thế giới hắc ám xâm lấn thế giới quang minh, phát sinh đại chiến, khiến cho thế giới rối loạn. Nói cách khác, trong thế giới luôn có sự đối kháng giữa hắc ám và quang minh. Do mâu thuẫn với các giáo sĩ Công giáo và Bái Hỏa Giáo (Zoroastrianism), Mani bị hạ ngục và chết trong tù. Tuy thế, đạo của Mani vẫn được lan truyền sang phương Đông và phương Tây. Từ phương Tây, đạo Ma Ni truyền sang tận La Mã và Ai Cập. Năm 354, sử gia Hilary xứ Poitiers cho biết tín đồ đạo Mani khá đông tại nước Pháp. Thánh phụ Augustine (Augustine of Hippo) của Công Giáo từng là tín đồ của Ma Ni giáo trước khi cải đạo sang Công Giáo. Đạo Mani được truyền vào Trung Hoa dưới thời Võ Tắc Thiên do Mihr-Ohrzmazd (sử Trung Hoa thường gọi ông ta là Phất Đa Đản). Để thích ứng với văn hóa Trung Hoa, họ dịch Thượng Đế trong đạo họ thành Minh Tôn, nên từ đó, đạo này được gọi là Minh Giáo. Thoạt đầu, chánh quyền Trung Hoa nghi kỵ Minh Giáo, Đường Huyền Tông hạ lệnh cấm truyền đạo này ngay trước khi loạn An Lộc Sơn xảy ra. Sau loạn An Lộc Sơn, do dân Hồi Hột đa số là tín đồ Ma Ni giúp nhà Đường dẹp loạn nên triều đình cho phép Minh Giáo được công khai truyền đạo. Đến năm Đại Lịch thứ 3 (768) đời Đường, chùa Đại Vân Quang Minh của Ma Ni Giáo được xây tại Trường An. Đến thời Đường Vũ Tông, do nước Hồi Hột bị suy yếu, không còn ích lợi cho nhà Đường, Vũ Tông bèn hạ lệnh cấm đạo Ma Ni rất gắt. Tuy thế, Minh Giáo vẫn lưu truyền trong dân gian, và những kẻ cơ hội thường dựa vào tín đồ Minh Giáo để làm loạn, chẳng hạn trong năm Trinh Minh thứ sáu (920), Vô Ất dùng cờ hiệu Minh Giáo khởi nghĩa tại Trần Châu (thuộc Hoài Dương, Hà Nam hiện thời). Từ đó, liên tục trong các triều đại kế tiếp, tín đồ Minh Giáo thường sách động quần chúng khởi nghĩa như Phương Lạp, Chung Tương thời Bắc Tống, Hàn Sơn Đồng, Lưu Phước Thông vào đời Nguyên. Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) cũng theo Minh giáo để dựa vào thế lực của phe đảng Hàn Sơn Đồng. Do vậy, mới đặt quốc hiệu là Đại Minh. Sau khi thành công, Châu Nguyên Chương trở mặt đàn áp Minh Giáo. Về sau, những giáo phái dân gian như Bạch Liên, Long Hoa Trai Hội v.v... cũng pha trộn lung tung các tín điều của Minh giáo với Phật giáo và các tín ngưỡng mê tín dân gian, thậm chí thành lập một đạo riêng mang danh xưng là Nhất Quán Đạo.

[17] Chư Sanh: Dưới thời Minh - Thanh, người đã đậu kỳ thi Hương (những triều đại trước gọi là Tú Tài) được gọi là Cống Sanh hay Sanh Đồ, tùy theo là học trò do huyện giới thiệu lên tỉnh hay tự đi thi. Do đều có chữ Sanh nên những người thi Hương được gọi là Chư Sanh. Phải là chư sanh rồi mới được đi thi Hội và thi Đình.

[18] Đây là quy định từ năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 (983) đời Tống Thái Tổ đối với thứ hạng đỗ đạt trong kỳ thi Đình. Thi Đình (Điện Thí) do Võ Tắc Thiên sáng lập vào đời Đường, người đi thi phải vào thi trong điện vua, do Hoàng Đế đích thân chủ trì trông thi. Về sau, các kỳ thi Đình do các đại thần uyên bác chủ trì. Vua chỉ duyệt đề thi, xem các quyển thi được chấm đỗ đầu, ban yến và dự lễ xướng danh tân khoa. Đến đời Tống, Tống Thái Tổ chia những người đậu thi Đình (gọi chung là Tiến Sĩ) thành ba hạng:

1. Hạng nhất (nhất giáp): Chỉ lấy ba người đậu, tức là Trạng Nguyên, Thám Hoa, Bảng Nhãn. Gọi chung là Tiến Sĩ Cập Đệ.

2. Hạng nhì (nhị giáp), gọi chung là Tiến Sĩ Xuất Thân.

3. Hạng ba (tam giáp), gọi chung là Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân.

Những người đỗ đầu trong hạng nhị giáp và tam giáp sẽ được gọi là Truyền Lô. Hạng Mộng Nguyên đỗ thứ năm trong hàng Nhị Giáp tức là dưới bốn người trong Nhị Giáp và ba người trong Nhất Giáp nên đúng là hàng thứ tám như trong bảng trời đã ghi.

[19] Quận Hoàng: Thành Hoàng của một quận.

[20] Theo quy chế đời Đường, vợ quan Tứ Phẩm gọi là Quận Quân, vợ quan Ngũ Phẩm gọi là Huyện Quân. Mẹ của các vị quan ấy được gọi chung là Thái Quân. Về sau, danh từ Thái Quân được dùng như một mỹ từ để gọi mẹ những người có chức tước đôi chút.

[21] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Nguyệt Thượng Nữ Kinh do ngài Xà Na Quật Đa dịch vào đời Tùy, được đánh số 480, xếp vào tập 14 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Nguyệt Thượng Nữ là con gái của người họ Ly Xa thành Tỳ Da Ly là Tỳ Ma La Cật. Cô gái sanh ra đã có phước tướng, khiến các kho báu xuất hiện, các báu đầy dẫy, thân có quang minh chói lấp ánh sáng mặt trăng nên được đặt tên là Nguyệt Thượng. Con trai của vương công, quý tộc, hào môn đều muốn cưới Nguyệt Thượng, tranh nhau đem tiền của săn đón khiến Tỳ Ma La Cật hết sức lo âu. Cô nói kệ khuyên cha đừng lo âu vì không ai có thể làm hại cô được, rồi truyền báo cho mọi người biết sau bảy ngày cô sẽ chọn chồng. Trong bảy ngày ấy, cô thọ Bát Quan Trai Giới. Vào ngày Rằm, Phật liền dùng thần lực hóa ra đóa sen báu trong tay Nguyệt Thượng rồi hiện hình tượng Như Lai trong đóa sen đó, nói kệ tán thán công đức của Như Lai, khiến cô sanh tâm hoan hỷ, và dạy cô pháp sâu. Khi mọi người tụ tập đầy đủ, cô liền bay lên không nói kệ đoạn trừ tham dục. Mọi người nghe xong, sanh tâm nhàm chán tham dục, dứt tham, sân, si. Sau đó, cô luận pháp với ngài Xá Lợi Phất và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, hiện các thần biến rồi xin quy y Phật và xuất gia.

[22] Tiên quân: Mỹ từ do con gọi cha đã khuất.

[23] Vỹ Nam Khang (746-806), tên thật là Vỹ Cao, là Thứ Sử Lũng Châu thời ấy. Ông này là người đất Kinh Triệu (Tây An), được Đường Đức Tông phong làm Điền Phán Quan (chức quan coi việc canh nông), kiêm Thứ Sử Lũng Châu. Về sau, do có công tổ chức quân Phụng Nghĩa nên được phong làm Lưu Nam Tây Xuyên Tiết Độ Sứ, rồi Tả Kim Ngô Vệ Tướng Quân. Ông cai quản đất Thục hơn hai mươi năm, được phong làm Nam Khang Quận Vương, nên thường được gọi là Vỹ Nam Khang.

[24] Lưu Tịch làm quan đến chức Ngự Sử Trung Thừa, vốn là bộ hạ của Vỹ Nam Khang. Khi Vỹ Nam Khang mất vào năm Vĩnh Trinh nguyên niên (805), Lưu Tịch dâng thư xin triều đình phong làm Tây Xuyên Tiết Độ Sứ, nhưng Đường Hiến Tông lại phong chức ấy cho Viên Tư, chỉ phong cho Lưu Tịch chức Cấp Sự Trung. Lưu Tịch liền dấy quân chống lại, ngăn cản Viên Tư vào đất Tây Xuyên. Do vừa lên ngôi, Đường Hiến Tông chưa rõ hư thực, đành phải phong hắn làm Công Bộ Thượng Thư kiêm lãnh Tây Xuyên Tiết Độ Sứ. Rồi hắn lại đòi làm Tiết Độ Sứ cả vùng Tam Xuyên, bị triều đình cự tuyệt, Lưu Tịch bèn đem binh đánh chiếm Tử Châu. Về sau, Lưu Tịch bị Cao Hà Ngụ bắt được, xử trảm.

[25] Nguyên văn “tri lưu hậu sự”. Đây là quy chế bắt đầu từ thời Đường Huyền Tông, nhằm ngăn ngừa chuyện tranh chấp quyền bính tại các biên trấn. Khi viên quan Tiết Độ Sứ hoặc Quan Sát Sứ chết, triều đình chưa kịp bổ người tới thay, hoặc họ có việc phải vào chầu vua thì sẽ cử một người tạm nắm giữ quyền hành gọi là “Tiết Độ Sứ Tri Lưu Hậu Sự”. Về sau, đặt hẳn thành một chức quan giữ nhiệm vụ xử lý thường vụ trong một châu quận. Khi Vỹ Nam Khang mất, Lưu Tịch tự xưng là Tri Lưu Hậu Sự.

[26] Thành ngày xưa có hai lớp tường lớp trong gọi là Thành, lớp ngoài gọi là Quách.

[27] Thiếu Bảo là một chức quan có trách nhiệm phò tá, cố vấn cho Thái Tử, làm phó cho quan Thái Bảo. Từ thời Bắc Châu trở đi, Thiếu Bảo cùng với Thiếu Sư và Thiếu Phó được gọi là Tam Cô, ngạch Tùng Nhất Phẩm, là cố vấn chủ yếu của Thái Tử trong việc tập luyện cai trị cũng như chịu trách nhiệm phụ giúp quan Thái Bảo bảo vệ an toàn cho Thái Tử trong khi các quan Thái Sư và Thiếu Sư dạy văn chương, Thái Phó và Thiếu Phó dạy võ nghệ và thao lược. Tuy thế, cũng có trường hợp, những chức vị này chỉ là tước hiệu được ban tặng nhằm tạo vinh dự cho các vị đại thần chứ không có thực quyền.

[28] Thân binh: Lính trực tiếp hầu cận, bảo vệ một chỉ huy.

[29] Thoạt đầu, kinh Kim Cang không chia thành từng phần, Chiêu Minh Thái Tử (Tiêu Thống, con cả của Lương Vũ Đế) đã chia kinh thành 32 phần, với mỗi phần, đặt một tiểu đề giúp người đọc dễ dàng lãnh hội ý nghĩa chánh yếu của kinh nên các bản kinh Kim Cang hiện thời đều tuân theo cách thức phân định này. Chẳng hạn, phần thứ nhất là Pháp Hội Nhân Do, phần thứ hai là Thiện Hiện Khải Thỉnh...

[30] “Liễu tạ” ở đây là cái nhà hóng mát, chung quanh có trồng liễu.

[31] Tần Tông Quyền (?-889) là một tướng lãnh quân phiệt cuối thời Đường. Thoạt đầu, hắn làm nha tướng ở Hứa Châu. Năm Quảng Minh nguyên niên (880), Hoàng Sào dấy loạn đánh chiếm Trường An, Đường Đức Tông phải chạy vào Tứ Xuyên, Tần Tông Quyền đem quân theo Dương Phục Quang đánh Hoàng Sào. Bị đánh bại, hắn bèn đầu hàng Hoàng Sào, tự xưng là Thái Châu Tiết Độ Sứ. Khi Hoàng Sào bị quân nhà Đường hợp sức với quân Sa Đà của Lý Khắc Dụng đánh bại, phải tự tử vào ngày Mười Bảy tháng Tám năm Trung Hòa thứ 4 (884), Tông Quyền bèn chiếm cứ vùng Thái Châu xưng đế, cướp bóc khắp nơi. Năm Quang Khải thứ 3 (887), Tông Quyền dốc toàn lực tấn công Biện Châu, bị Châu Ôn hợp sức với binh bốn trấn đánh bại. Thế lực của Tần Tông Quyền suy vi dần. Đến năm Long Kỷ nguyên niên (889), Tần Tông Quyền bị bộ tướng là Quách Phan bắt sống, nộp cho Châu Ôn.

[32] Sách Thái Bình Quảng Ký chép đoạn này rõ ràng hơn so với lời trích dẫn của ông Lưu Khế Tịnh, sách chép: “Họ Dương do thấy lòng người sợ hãi, bèn dụ vị tướng dưới quyền của con trai Tần Tông Quyền là Triệu Đức Ngôn như sau: ‘Nếu ông giết con trai Tông Quyền thì tôi sẽ khuyên mọi người cử ông làm Tiết Độ Sứ’. Triệu Đức Ngôn nghe theo. Do vậy, tình hình trong quân phủ mới yên, dân được sống yên vui như cũ”.

[33] Hành Nhạc chính là Hành Sơn, còn gọi là Nam Nhạc, là một trong Ngũ Nhạc (Ngũ Nhạc được coi là năm ngọn núi đánh dấu địa phận của Trung Nguyên thuở xưa). Theo truyền thuyết, ngay từ thời Nghiêu Thuấn, núi này đã được phong tặng làm nơi tế trời đất của lịch đại đế vương. Thời cổ, núi còn có tên là Thọ Nhạc. Núi nằm ở thành phố Hành Dương thuộc huyện Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam. Theo Đạo Giáo, Hành Sơn nằm trong địa vị sao Chẩn mà sao Chẩn là vị thần chủ quản thọ mạng nhân gian nên núi mới có tên là Thọ Sơn, được coi là một thánh địa trọng yếu của Đạo Giáo.

[34] Tân Đầu Lô (Pindola Bharadvaja), gọi đủ là Tân Đầu Lô Phả La Đọa, là một vị đại đệ tử của đức Phật. Do thi thố thần thông không đúng chỗ (thị hiện thần thông bay lên cao để lấy bát bằng gỗ trầm hương do nhà vua thách thức), Ngài bị đức Phật phạt không được nhập Niết Bàn mà phải thường trụ tại thế gian để làm phước điền cho nhân gian. Do vậy, mỗi khi cử hành trai tăng, trong văn tác bạch của Phật giáo Trung Hoa luôn cung thỉnh ngài Tân Đầu Lô đầu tiên rồi mới thỉnh chư sơn đại đức, cũng như ghế chủ tọa thường để trống để dành cho ngài Tân Đầu Lô. Tại Nhật Bản, Ngài được đặc biệt tôn sùng vì dân Nhật tin Ngài có khả năng trị bệnh, và thường dâng lên tượng Ngài những chiếc yếm đỏ và trắng với ước vọng Ngài sẽ che chở cho con cái họ được bình yên.

[35] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Quán Đảnh Tùy Nguyện Vãng Sanh Thập Phương Tịnh Độ Kinh, còn có tên là Phổ Quảng Bồ Tát Kinh, do ngài Bạch Thi Lê Mật Đa dịch dưới thời Đông Tấn. Đây chính là quyển thứ mười một trong bộ Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh.

[36] “Đổi thành tên thứ nhất” chính là đỗ Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp, tức một trong ba người đỗ đầu.

[37] Bạch Lạc Thiên chính là Bạch Cư Dị (772-846), là một thi sĩ trứ danh thời Thịnh Đường, tên tự là Lạc Thiên, hiệu là Hương Sơn Cư Sĩ, quê ở Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Ông làm quan đến chức Giảo Thư Lang, Tán Thiện Đại Phu, về sau bị tể tướng Vũ Nguyên Hành biếm làm Tư Mã Giang Châu, rồi làm Thứ Sử Hàng Châu, rồi Thứ Sử Tô Châu, thăng lên làm Thái Tử Thiếu Phó. Cuối đời quy hướng Tịnh Ðộ, hiện còn bài Phát Nguyện Văn, ý tứ rất chân thành. Chết già ở Hương Sơn (Lạc Dương). Ông nổi tiếng với những bài thơ làm theo lối Nhạc Phủ. Ông còn để lại tập thơ Bạch Thị Trường Khánh Tập.

[38] Thuở xưa để làm giày cho chắc, người ta thường dùng bện cỏ thành đế giày, lót thật nhiều lớp vải cũ hay giấy bản dầy cho chắc, trước khi khâu da hay phủ vải thô lên trên. Việc này thường được gọi là “cách bối” (袼褙), hay chỉ gọi gọn là “bối”.

[39] Châu Lợi Bàn Đặc Ca (Suddhipanthaka hoặc Ksudrapanthaka), còn phiên âm là Châu Lợi Bàn Đà Già, hoặc Châu Lợi Bàn Đặc, Châu Đồ Bán Thác Ca, dịch nghĩa là Kế Đạo hoặc Tiểu Lộ. Ngài có hai anh em, do mẹ khi mang thai trên đường trở về quê, chuyển bụng sanh bên đường nên đều đặt tên là Bàn Đặc (Bàn Đặc là con đường). Ngài sanh sau nên gọi là Châu Lợi Bàn Đặc (tức Tiểu Lộ). Anh cực thông minh, em cực ngu độn, Phật dạy bài kệ bốn chữ mà Ngài cứ đọc sau quên trước, mãi mới nhớ được. Khi đã liễu giải bèn chứng ngay quả A La Hán. Đây là quả báo do đời trước bỏn xẻn pháp mà ra.


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Thứ Sáu, 08 Jan 2016, 8:29 AM | Message # 61
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
atoanmt Date: Thứ Bảy, 09 Jan 2016, 9:50 AM | Message # 62
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » CHUYỆN PHẬT GIÁO » Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
Page 2 of 2«12
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL