Thứ Bảy
14 Dec 2019
9:29 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:









PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<> Realtime Website Traffic

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
  • Page 1 of 3
  • 1
  • 2
  • 3
  • »
FORUM » QUÁN BÊN ĐƯỜNG » CHUYỆN TÔN GIÁO » Những chuyện nhân quả (100 chuyện) (Dương Đình Hỷ lược dịch)
Những chuyện nhân quả (100 chuyện)
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 9:37 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Những câu chuyện nhân quả - Dương Đình Hỷ

1.- Thi Sĩ HOÀNG SƠN CỐC.

Trào Tống, Hoàng Đình Kiên tự Sơn Cốc, người tỉnh Giang Tây, huyện Tu Thủy. Trong Huyện chí có ghi chép truyện về ông. Ông có tài về thi, thư họa, nổi danh ngang với Tô Đông Pha, nên người ta thường nêu danh Tô Hoàng.
Hoàng Sơn Cốc sau khi đậu tiến sĩ rồi được triều đình bổ nhiệm làm tri châu ở Vu Hồ, Hoàng Châu. Khi ông nhậm chức mới 26 tuổi. Một hôm ông đang ngủ trưa, nằm mộng đi ra phố chơi tới một thôn, thấy có một bà cụ đầu tóc bạc phơ đứng trước hương án, trên có để một bát canh miến nấu với rau tần. Miệng không ngớt gọi tên người. Sơn Cốc đến gần xem, thấy bát miến tần tỏa ra mùi thơm ngon, không cưỡng lại được, bèn cầm lên ăn. Ăn xong trở về nhà, bất giác tỉnh dậy. Trong miệng mùi rau tần hãy còn.
Mộng cảnh rất rõ ràng nhưng Sơn Cốc cho là nằm mộng nên cũng không để ý. Ngày hôm sau, lại nằm mộng tương tự, tỉnh mộng, miệng vẫn còn thơm mùi rau tần. Do đó cảm thấy kỳ dị, Sơn Cốc bèn trở dậy lững thững đi ra ngoài tản bộ, tới một chỗ giống như trong mộng. Bèn gõ cửa thì một bà cụ tóc bạc phơ ra mở cửa mời vào. Sơn Cốc ngạc nhiên thấy chính là bà cụ trong mộng. Sơn Cốc hỏi :
-Hôm qua có phải là bà cụ ở trước cửa kêu người đến ăn miến tần không ?
-Dạ phải, hôm qua là ngày giỗ con gái tôi. Lúc sinh thời nó rất thích ăn miến tần, nên ngày giỗ nào tôi cũng nấu miến tần gọi nó về ăn.
-Con gái bà cụ mất bao lâu rồi ?
-Đã 26 năm rồi !
Sơn Cốc nghĩ bụng năm nay mình 26 tuổi, hôm qua là ngày sinh nhật của mình, lại hỏi:
-Ngoài con gái ra, cụ còn ai nữa không?
-Tôi chỉ có một gái, lúc sanh tiền nó thích đọc sách, tin Phật, ăn chay, rất có hiếu, không chịu lấy chồng. Năm 26 tuổi bị bệnh mà mất, lúc sắp mất có nói nó còn muốn trở lại.
-Tôi có thể vào xem phòng cô ấy không ?
Bà lão bèn chỉ phòng con gái:
-Ông cứ tự tiện vào xem, để tôi đi rót trà.
Sơn Cốc vào phòng xem thì ngoài cái giường và bàn ghế ra, ở góc tường có một cái rương lớn. Sơn Cốc hỏi:
-Trong này đựng gì ?
-Toàn là sách của cháu.
-Có thể mở xem được không ?
-Không biết nó để chìa khóa ở đâu nên không mở được.
Sơn Cốc bỗng nhớ ra chỗ để chìa khóa, bảo bà cụ đi tìm, quả nhiên tìm được. Mở rương ra trong đó toàn là vở chép văn thơ. Sơn Cốc giở ra đọc thì toàn là văn thơ của mình. Sơn Cốc lúc đó mới rõ mình đã tìm lại nhà mẹ kiếp trước. Sơn Cốc bèn quỳ xuống kêu mẹ, rồi rước bà lão về nhà phụng dưỡng suốt đời.
Ở vườn trúc sau nhà, Sơn Cốc có xây một cái đình trong đó có để bia, khắc một bài tán :
Giống Tăng có tóc
Giống tục thoát trần
Trong mộng nằm mộng
Ngộ thân ngoài thân.
Do bài tán này chúng ta có thể thấy chuyển thế là thật, không dối.

(Thiện Hữu Thiện Báo)


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Hai, 02 Apr 2012, 0:17 AM
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 9:37 PM | Message # 2
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
2.- NGẠN TRAI Tiên Sinh

Ngạn Trai tiên sinh người huyện Nghi Hưng, lúc thi đậu tú tài gia cảnh rất nghèo nhưng tính tình rất ngay thẳng, không tùy tiện lấy đồ vật của người, lại hay giúp đỡ người ta. Khi gập người có chuyện, nhất định cứu giúp dù có tổn hại danh tiết cũng không cần.
Ngạn Trai dạy học để kiếm sống. Một năm đêm trừ tịch, trên đường về nhà gập một người đàn bà trung niên vừa đi vừa khóc. Ông thấy lạ bèn hỏi chuyện nhưng bà ta không trả lời. Ông cứ hỏi đi hỏi lại mãi. Bà ta tức giận bảo :
-Người đi đường, mỗi người có tâm sự riêng, ai rỗi hơi mà kể cho người khác nghe !
Ngạn Trai nhìn sắc mặt bà ta buồn thảm bèn an ủi :
-Tôi không phải tùy tiện mà hỏi, nhưng nếu bà có chuyện gì hãy nói tôi biết, biết đâu tôi có thể nghĩ cách giúp bà giải quyết.
-Chồng tôi là lý trưởng làm hụt công quỹ 30 lạng, bị bắt bỏ ngục; mỗi ngày đều bị đánh đập rất khổ sở. Lần trước đi thăm ông nói nếu quá kỳ hạn không nộp đủ tiền nhất định bị xử tử. Chồng tôi dục tôi bán đứa con gái lấy tiền bồi hoàn. Tôi theo lời, nhưng người trung gian lấy cớ cuối năm khó tìm người mua để ép giá chỉ bán được 10 lạng. Đã mất con gái mà chồng cũng không được thoát tội, tôi thật không nghĩ ra biện pháp gì, chỉ định bán thân để thêm chút tiền cứu chồng. Chồng thì tù tội, con gái thì bị bán làm tỳ thiếp, thân mình cũng chẳng giữ được, chỉ chớp mắt cả nhà đã bị tan rã !
-Ba chục lạng cũng không phải là nhiều, chẳng lẽ không có thân thích bạn bè nào để vay mượn sao ?
Người đàn bà thở dài :
-Ông ơi ! Nói thì dễ lắm ! Bạn bè thân thiết thì nghèo nàn họ lo cho họ còn chửa xong làm sao lo cho mình. Những người có tiền nghe tin đều lánh xa, tưởng gập mặt cũng khó, nói gì nhờ cứu giúp ?
Nói rồi khóc lớn, định đi. Ngạn Trai ngăn lại :
-Chờ chút, tôi tuy không có tiền nhưng 30 lạng cũng có thể vay mượn được. Nhưng con gái bà đã bán rồi có tiền có thể chuộc lại được không ?
-Tôi tuy bán cháu nhưng chưa làm khế ước, nếu có tiền có thể chuộc lại được.
Ngạn Trai lấy ra 12 lạng trao cho bà ta :
-Bà hãy lấy tiền này đi chuộc con gái về, ngày mai tôi nhất định đem đủ tiền giúp bà.
Người đàn bà không ngờ Ngạn Trai lại nhiệt tâm giúp đỡ như thế, cúi đầu khóc lạy và xin hỏi tên và địa chỉ, còn nói :
-Ngày mai chuộc cháu gái về, nhất định đưa đến nhà ông làm tỳ thiếp.
-Xin bà đừng nói vậy ! Tôi chỉ thương hại mẹ con bà cốt nhục bị phân ly, chứ không muốn nhận con gái bà làm tỳ thiếp.
Do đó, không cho biết tên họ và địa chỉ, chỉ hẹn gập lại ở một địa chỉ khác. Khi đi rồi còn quay đầu lại dặn :
-Ngày mai nhớ đến sớm, đừng chậm trễ !
-Dạ !
Ngạn Trai về đến nhà, bà vợ hỏi tiền đong gạo.
-Thật là phí công dạy học ! Đường núi quanh co, vấp té mấy lần tưởng rơi xuống vực, may mà sống sót, làm sao giữ được túi tiền ?
Bà vợ biết ông thích giúp người, liền cười bảo :
-Nếu như ngã rơi mất tiền còn có thể tìm lại được, chỉ sợ ông lại đem đi giúp người thôi.
-Chính vậy đó, nhưng còn chưa đủ, biết làm sao ?
Bèn thuật cho vợ nghe. Bà vợ vốn là người hiền thục, nghe rồi không nửa lời trách oán, còn khen ngợi :
-Thật là một việc tốt ! Nhưng năm cùng tháng tận đi đâu mà mượn được 20 lạng đây ? Ông đã hứa với người ta thì phải lo cho trọn. Nhà mình hãy còn đủ dùng ông không phải lo cho nhà.
Tiên sinh rất cao hứng bèn đi mượn thân hữu được hơn 10 lạng, nhưng vẫn chưa đủ. Trong thành có một người cho vay, nhưng nếu không có đồ vật gì để cầm thì 1 xu cũng không cho dù là họ hàng hay bạn bè thân thiết. Trong nhà chẳng có vật gì quý để cầm; Ngạn Trai là người giữ chìa khóa nhà từ đường của tộc họ, chỉ còn cách lấy đồ đạc trong từ đường đem đi cầm. Ngày hôm sau đem tiền đến nơi ước hẹn, giao cho người đàn bà rồi trở về nhà. Người đàn bà bèn len lén đi theo thấy Ngạn Trai nói chuyện với một người trên đường, bèn gạn hỏi người đó để biết tên và địa chỉ. Vài ngày sau, bà ta dẫn chồng và con gái đến nhà lạy tạ ơn và thỉnh cầu cho con gái ở lại làm tỳ thiếp. Ngạn Trai thấy đứa bé gái chưa tới 10 tuổi nhưng dung mạo đẹp đẽ bèn nói :
-Hãy mang cháu về nhà, sau này kiếm nơi tốt mà gả chồng cho cháu. Đừng để tôi mang tội bất nghĩa !
Cả gia đình lạy tạ mà đi.
Đến ngày nguyên đán, mọi người trong họ đến từ đường để lễ tổ, thấy từ đường trống không. Mọi người đều hoảng sợ tưởng rằng bị trộm. Ngạn Trai nói :
-Tết đến vì không có tiền nên tạm mượn để cầm, khi nào có tiền sẽ xin chuộc lại.
Mọi người tức giận trách mắng, Ngạn Trai vẫn yên lặng, không giải thích cũng không mắc cỡ hay tức giận. Vị tộc trưởng biết ông là người trung hậu, lại hay giúp người, chắc phải có nguyên nhân bí ẩn gì đây, nên bảo mọi người tạm thời về nhà, 3 ngày sau sẽ lại thương nghị. Tộc trưởng đến nhà Ngạn Trai hỏi riêng bà vợ, biết chuyện rồi cao hứng, triệu tập người trong họ lại, nói rõ nguyên nhân và bảo :
-Đây là một chuyện rất tốt ! Kỳ thi năm nay Ngạn Trai nhất định sẽ trúng tuyển. Nhưng đem cầm đồ từ đường là một tội không thể tha. Vậy cấm Ngạn Trai không được vào từ đường, đợi trúng tuyển rồi mới cho vào.
Mọi người đều bằng lòng.
Khi ra bảng, Ngạn Trai quả nhiên đậu cử nhân hạng rất cao, được triều đình bổ làm Thông Chân học chính (hiệu trưởng một trường huyện).

(Thiện Hữu Thiện Báo)
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 9:38 PM | Message # 3
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
3.-Tiến Sĩ DƯƠNG TIỆN

Ông cử Dương Tiện là một người học hành rất xuất sắc, gia cảnh lại phong lưu. Mùa hạ năm đó cùng đồng bọn kết bạn tham dự kỳ thi Hội. Đã đỗ đầu kỳ thi Hương, trong túi lại có nhiều tiền, mỗi ngày ông đều cùng bạn bè nơi quán trọ uống rượu, ngâm thơ làm vui. Cùng trọ trong quán có một vị thuật sĩ, tướng thuật rất cao minh, nói đâu trúng đó. Dương Tiện thường chuyện trò với ông ta rất tâm đầu ý hợp. Một hôm, Dương Tiện sách một con cá vào phòng thuật sĩ cười bảo :
-Ông rất giỏi xem tướng, ông xem tôi có ăn được con cá này không ?
Vị thuật sĩ xem cá, xem ông Dương Tiện rồi nói :
-Không được !
Dương Tiện mang cá vào bếp chiên, sau đó mang về phòng để lên bàn, rồi đi mời thuật sĩ tới cùng ăn, chuẩn bị cười ông đoán sai.
-Tôi có ăn được cá không ?
-Không được !
Nói chưa dứt lời thì một con rắn từ trên trần nhà rớt xuống làm đổ đĩa cá. Mọi người kinh sợ hét lên. Con rắn bèn bò đi mất. Dương Tiện không ăn được cá rất thán phục thuật sĩ, ông ta khiêm nhượng :
-Tướng thuật của tôi có đáng gì ! Vì ông định ngạo tôi nên tôi cũng đùa một chút chơi chứ con cá này chẳng quan hệ gì đến tướng thuật cả.
-Tôi có đậu được tiến sĩ không ?
Thuật sĩ do dự :
-Tôi sợ ông giận.
-Cứ nói đi, có quan hệ gì ?
Thuật sĩ định nói lại thôi, Dương Tiện năn nỉ hai ba lần, thuật sĩ miễn cưỡng bảo :
-Ông không có hy vọng trúng tuyển, hơn nữa sắc mặt ông rất xấu, canh 3 ba hôm nữa ông sẽ chết không toàn thây. Ở đây không xa nhà ông mấy, ông mau trở về ngay.
-Có tránh được không ?
-Như tôi thấy thì không thể được.
Dương Tiện thấy ông ta nói chắc như thế, trong lòng hoảng sợ, sửa soạn hành lý đi về. Bạn bè trách thuật sĩ nói láo, giữ không cho Dương Tiện về. Dương Tiện đành lưu lại quán nhưng lòng riêng không an. Ba hôm sau, trời sáng trăng, bạn bè đều ngủ cả. Dương Tiện lo lắng nằm ngồi không yên, bèn trở dậy ra ngoài tản bộ. Bỗng nghe có tiếng khóc nức nở từ một căn nhà đổ nát. Dương Tiện đẩy cửa bước vào thì thấy một người đàn bà đang ôm hai đứa nhỏ khóc lóc rất ai oán. Dương Tiện gạn hỏi thì ra chồng của thiếu phụ thiếu nợ một phú ông 50 lạng bị đối phương thưa kiện, bị bắt bỏ tù, bị đánh đập khổ sở, chỉ còn cách bán vợ, đợ con để hoàn trả. Bà mẹ không nỡ xa con nên mới khóc thương tâm như thế. Dương Tiện
nghĩ bụng : tiền thì mình không thiếu, nhưng như thuật sĩ nói mình sắp chết, giữ tiền lại có ích gì chi bằng giúp cho gia đình này khỏi tan nát, bèn hỏi :
-Đã làm khế ước chưa ?
-Còn chưa.
-Nếu có tiền có thể giải quyết được không ?
-Được !
-Người môi giới ở đâu ?
-Ở gần đây thôi.
-Vậy hãy mời ông ta tới đây, tôi về nhà lấy tiền giúp bà.
Người thiếu phụ nghi ngờ Dương Tiện có dụng ý gì khác do dự không chịu đi. Dương Tiện cười nói :
-Tôi vì không nỡ thấy gia đình bà cốt nhục phân ly, do đó mới giúp. Bà hãy đi ngay đi, đừng chần chờ nữa.
Người đàn bà vui mừng ra đi, Dương Tiện cũng trở về quán trọ lấy 70 lạng bạc mang đến. Khi vào nhà thấy người đàn bà và một ông lão ngồi đó bèn hỏi ông là ai. Ông lão cho biết là người môi giới bán người. Dương Tiện trao tiền cho thiếu phụ và nói rõ nguyên nhân. Ông lão kinh ngạc :
-Thầy chỉ là một người qua đường mà trọng nghĩa như thế, huống hồ tôi là hàng xóm của bà đây. Nhờ hậu ân của thầy, việc bán thân không cần phải nói nữa. Bây giờ lão sẽ mang tiền nộp quan phủ để họ thả ông chồng bà này về.
Nói rồi mở túi tiền ra xem, thấy thừa 20 lạng.
-Tiền thừa là để giúp vợ chồng họ mưu sinh, tránh không bị thiếu tiền người khác nữa.
-Thầy thật là chu đáo, là cha mẹ tái sanh của vợ chồng họ.
Chuyện xong rồi, Dương Tiện trở về quán trọ nghĩ đến lời thuật sĩ không ngủ được, nghe trống báo canh ba nghĩ bụng :
-Đã tới lúc rồi !
Đương nghĩ ngợi bỗng nghe có tiếng gọi cổng bèn ra mở cửa thì ra là 2 vợ chồng thọ nạn đến cảm ơn. Dương Tiện an ủi 2 vợ chồng rồi tiễn họ ra cửa. Định trở về phòng ngủ thì bỗng nhiên nghe ầm một tiếng vội chạy vào xem thì ra bức tường bị đổ đè ụp xuống
giường ngủ gẫy nát. Nếu Dương Tiện nằm trên đó thì đã tan xương nát thịt.
Ngày hôm sau, Dương Tiện đến thăm thuật sĩ cười ông đoán bậy. Thuật sĩ ngắm nghía một lát rồi bảo :
-Ông đừng dối tôi. Nhất định hôm qua ông đã làm một việc gì đó ân đức rất lớn khiến mặt ông đầy vẻ tốt lành. Không những ông không chết mà còn thi đậu tiến sĩ nữa.
Dương Tiện rất khâm phục. Năm đó, quả nhiên đậu tiến sĩ rồi được triều đình bổ nhiệm vào Hàn Lâm Viện.

(Thiện Hữu Thiện Báo)


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 02 Apr 2012, 0:24 AM | Message # 4
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
4.-Thượng Thư TIỀN VĂN MẪN.

Thường Châu có nhiều dòng họ hiển quý như dòng họ Tể tướng Lã Cung, trạng nguyên Dương Đình Ích v . v . Con cháu đều liên tục thi đỗ, thư hương bất tuyệt; chỉ có con cháu Tiền công là suy bại. Đến nay không còn người nối dõi.
Tương truyền trong trận đánh với người Miêu, Tiền công là Hình bộ thượng thư, tham tán quân vụ. Khi người Miêu bị đánh bại rồi, thủ lãnh đã bị giết. Chủ soái định giết hết tráng đinh nhưng tha cho con trẻ, liền đến hỏi ý kiến Tiền công. Công bảo :
-Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc !
Do đó, già trẻ lớn bé đều bị giết sạch. Cả một giải Đồng Sơn của người Miêu bị tuyệt chủng. Tiền công ban sư hồi trào, không lâu đột ngột mà chết. Mấy đứa con sau đó cũng theo nhau mà chết. Các cháu phần lớn là tàn tật rồi dòng họ Tiền hương hỏa dứt tuyệt. Sát nhân thảm báo không thể không sợ !

(Thiện Hữu Thiện Báo)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Hai, 02 Apr 2012, 0:24 AM | Message # 5
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
5.-THẨM HỒNG PHI.

Ở Ngô Hưng có 3 anh em nhà họ Thẩm. Thẩm Hồng Phi là lão nhị, tâm địa không tốt, tánh tình hiểm ác. Anh cả ra ngoài buôn bán để vợ ở lại nhà. Vợ thấy lão tam còn nhỏ không sợ hiềm nghi, mỗi lần viết thư cho chồng đều vời lão tam vào phòng nhờ viết hộ. Lại thường mời ăn uống để tạ ơn. Hồng Phi bất hoà với chị dâu, vu cáo chị dâu với lão tam thông gian, gập ai cũng nói, khiến chị dâu bị mang tiếng xấu. Có kẻ khinh bạc còn làm thi từ để chế diễu. Chị dâu không có cách nào thanh minh, cuối cùng treo cổ tự tận. Hồng Phi cảm thấy rất đắc ý, hắn cho rằng sự việc ấy chứng minh lời nói của hắn là thực. Lão tam cũng không có cách nào tự thanh minh, ưu phiền thành bịnh, không lâu cũng chết. Một hôm, Hồng Phi từ ngoài trở về nhà bỗng kêu lên :
-Có quỷ ! Có quỷ !
Khi mọi người chạy đến, hắn bèn ra giữa đường tự mình vả vào mặt :
-Tên giặc ác tâm này ! Ngươi vu cáo ta và tiểu thúc thông gian khiến ta phải tự tử, ngươi lại còn liên tục phá hoại danh tiết ta khiến tiểu thúc ôm hận mà thác. Ta và tiểu thúc cáo ngươi với âm phủ, nay âm phủ cho người đến lấy mạng ngươi !
Tiếp đó lại đấm ngực :
-Ngươi và đại huynh bất hòa, ngươi vu cáo chị dâu và ta thông gian, lương tâm ngươi để đâu ?
Người đi đường đứng xem rất đông; mọi người đều biết oan hồn lão tam và chị dâu nhập xác Hồng Phi nói ra oan tình. Có một người lên tiếng hòa giải :
-Sự tình đã vậy, lấy mạng hắn có ích gì ? Chẳng bằng bảo hắn thỉnh cao tăng đến làm pháp sự siêu độ cho nhị vị có hơn không ?
-Ta vốn không làm ác, cần gì hòa thượng siêu độ, nếu chị dâu bằng lòng thì ta cũng bỏ qua.
-Phá hoại danh tiết người ta là một trọng tội há có thể nào hòa giải sao ?
Nói rồi Hồng Phi tự cắn lưỡi, lại lấy đá đập vào mồm, răng rụng hết, máu me đầm đìa, sau cùng đập đầu vào cột đá mà chết. Lời ác độc không gì bằng vu khống. Thiên đạo chí công, tự tác tự thọ.

(Thiện Hữu Thiện Báo)
 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 02 Apr 2012, 0:25 AM | Message # 6
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
6.-Cái Chết Của Thượng Tướng DIỆP KỲ.

Quế Lâm là một nơi có phong cảnh rất đẹp thuộc tỉnh Quảng Tây; chủ nhiệm tỉnh bộ là Lý Tông Nhân, phó chủ nhiệm là Bạch Sùng Hy, thượng tướng Diệp Kỳ là tham mưu trưởng.
Trong một căn nhà nhỏ thuộc khu bình dân ở gần thị tứ , bà Tô sống với 2 con nhỏ là Đại Oa và Nhị Oa. Bà Tô là một người đàn bà hiền thục, thích giúp đỡ mọi người; chồng bà là Tô Tiểu Võ là một binh sĩ thuộc ngành truyền tin, là một đệ tử của Lưu Linh.
Một trưa chủ nhật, bà Tô đang may vá, Đại Oa đang học bài, Nhị Oa đang chơi bóng, Tiểu Võ như cuồng cẳng đi đi lại lại trong phòng, bỗng bảo vợ :
-Anh ra ngoài phố chơi, thuận tiện sẽ mua óc heo về, mình cứ nấu cơm sẵn, đợi anh về sẽ làm món nhậu chơi.
-Hàng ngày anh ít về nhà, ngày chủ nhật hãy ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe. Bữa chiều đã có sẵn mấy món rau dưa và đậu phụ. Óc heo thì em và các con đều không dám ăn đâu, đừng mua.
-Mình đừng cố chấp. Đại Oa đã đi học, Nhị Oa cũng sắp đi học; ăn óc heo bổ óc, thông minh biết không ?
Đại Oa chen vào :
-Bố, đừng mua óc heo, mua bút chì cho con.
Nhị Oa cũng nói leo :
-Bố, con không muốn óc heo, con muốn ăn kẹo cơ.
-Đại Oa ! Con cố học đi bố sẽ mua bút chì cho con.; còn Nhị Oa, ăn óc heo ngon hơn ăn kẹo con ạ !
Tiểu Võ không nghe lời vợ con, cứ đi ra phố.
Tiểu Võ đi quanh quẩn 1 vòng, qua tiệm rượu bị mùi thơm quyến rũ bèn vào kêu 1 đĩa thịt nướng và 2 bình rượu. Nhậu nhẹt xong, dường như vẫn chưa thỏa còn mua thêm 2 bình rượu đem về, lại ghé qua hàng thịt để mua óc heo. Rượu bốc lên cảm thấy nóng, Tiểu Võ mũ đội lệch ra đằng sau, áo cởi khuy phanh ngực, tay trái cầm 2 bình rượu, tay phải chỉ đầu heo bảo đồ tể :
-Lão bản, bán cho ta một bộ óc heo !
Đồ tể ngửi thấy mùi rượu nồng nặc đã chán ghét, nhưng thấy là binh sĩ nên nói nhỏ nhẹ :
-Đồng chí, đầu heo, óc heo đều có người đặt mua rồi, muốn mua óc heo, ngày mai trở lại.
Thật làm mất hứng, Tô Tiểu Võ trợn mắt, giằng lấy dao chém phăng vào đầu heo :
-Lão tử hôm nay nhất định phải mua, ngươi thấy sao hả ?
Đồ tể cũng nổi giận, 2 người tranh cãi náo loạn. Bỗng một con tuấn mã phi tới, từ ngựa nhẩy xuống một vị tướng quân. Ai Vậy ? Đó chính là thượng tướng tham mưu trưởng Diệp Kỳ. Nguyên lai ông đi qua chợ thấy 1 binh sĩ đầu đội mũ không chỉnh tề, áo lại phanh ra, tay trái cầm bình rượu, tay phải giơ đồ đao tranh cãi với người dân. Do đó bèn xuống ngựa để hỏi chuyện. Tô Tiểu Võ dĩ nhiên là nhận ra ông tướng của mình, vội sửa lại mũ, bỏ rượu và đao xuống bàn, đứng ngây ra đó. Diệp Kỳ đưa mắt nhìn Tiểu Võ từ đầu đến chân, rồi lại nhìn đồ tể, trầm giọng hỏi :
-Chuyện gì vậy ?
Đồ tể bèn thuật lại đầu đuôi. Diệp Kỳ nghĩ bụng : cầm binh thì không thể hiền, giầu có thì khó mà giữ nghĩa. Đây chính là cơ hội ra oai quân kỷ; mặt lạnh như tiền bảo đồ tể :
-Ta là tham mưu trưởng đây, ngươi giám giết hắn không, ngươi cứ giết đi, ta hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Đồ tể giơ đồ đao lên. Tiểu Võ mắt hoa lên, quỳ xuống :
-Xin tham mưu trưởng thứ tội, vợ con tôi đang chờ tôi về ăn cơm, nào ngờ tôi . . .
Tiểu Võ nghẹn ngào không nói ra lời.
-Ngươi sợ chết sao ? Quân nhân như ngươi đánh trận gập địch quân lại quỳ đầu hàng ư ?
Diệp Kỳ nổi giận, hướng đồ tể hét lớn :
-Giết !
Đồ tể chửi thầm trong bụng : Con mẹ nó ! Uy phong của mày nãy giờ đâu, sao bây giờ hèn mạt thế ? Để ta thành toàn cho mày ! Bèn lia một nhát dao; đầu Tiểu Võ rớt xuống, máu chảy lênh láng. Con ngựa hý vang, Diệp Kỳ nhẩy lên lưng nó phóng đi, về tới dinh sai người tới thâu thi thể.
Lại nói về bà Tô nấu xong cơm chiều, đợi mãi không thấy chồng về. Các con kêu đói bụng, đành phải cho con ăn trước, trong bụng
không yên ra ngoài cửa nghe ngóng. Thấy nhiều người tụ họp, lại thấy lão Lý bán rau đang nói chuyện với vợ chồng Vương tiên sinh hàng xóm. Mọi người đều trợn tròn mắt, chăm chú nghe lão Lý nói. Bà Vương thấy bà Tô đến bèn đưa mắt cho lão Lý, lão Lý liền ngậm miệng lại. Mọi người đều nhìn bà Tô, khiến bà nghĩ chắc chồng mình có chuyện gì rồi.
Bà Vương lên tiếng :
-Bà Tô, bà đợi ông nhà về ăn cơm có phải không ?
Bà Tô gật đầu.
-Muộn quá rồi, chắc ông ấy phải vào trại, bà hãy về ăn cơm đi !
Bà Tô trở về nhà, bỗng có 2 binh sĩ khiêng 1 tấm ván trên đặt thi thể Tiểu Võ. Một vị sĩ quan tay cầm 2 bình rượu Tiểu Võ mua đi phía sau, do hàng xóm chỉ, dẫn đến nhà Tiểu Võ. Đại Oa và Nhị Oa đều khóc lớn. Vị sĩ quan hướng bà Tô nói rõ sự tình và đưa ra một phong bao.
-Đây là tiền để lo việc ma chay, chỗ còn lại để nuôi dưỡng 2 cháu.
Nói rồi dẫn 2 binh sĩ đi. Bà Tô nhận tiền không bi thương khóc lóc, đứng yên bất động. hàng xóm xúm lại an ủi nhưng bà như không nhìn, không nghe gì cả. Rất lâu, bà mang bao tiền giao cho Vương tiên sinh :
-Nhờ ông lo giùm.
Nói rồi ngất đi, mọi người dìu bà về phòng.
Vương tiên sinh thấy tình cảnh bi thảm như vậy không thể khoanh tay; hàng xóm cũng giúp vào, người lo mua quan tài, người sửa soạn tang phục v . v . Tất cả đều sẵng sàng đợi sáng hôm sau sẽ an táng.
Bà Vương kéo Đại Oa ra dặn riêng :
-Hôm nay con phải coi chừng mẹ, nếu thấy có gì lạ phải kêu ta và Vương bá bá, nghe không !
Đại Oa gật đầu.
Lúc gần sáng, bà Vương nghe tiếng Đại Oa và Nhị Oa khóc gọi mẹ, hai vợ chồng vội chạy sang thì thấy Đại Oa và Nhị Oa ôm nhau mà khóc nhưng không thấy bà Tô đâu cả. Hàng xóm đều thức dậy, chia nhau đi tìm khắp nơi, các giếng nước, bờ sông đều không thấy
tông tích bà Tô. Vương tiên sinh chỉ còn cách an táng Tiểu Võ và nuôi dưỡng hai đứa nhỏ.
Vài tháng sau, một sáng đồ tể sửa soạn đồ nghề chuẩn bị ra chợ sớm, bỗng nghe có tiếng mõ, rồi một ni cô đến khuyến hóa :
-Thí chủ, xin bố thí kết duyên !
Đồ tể đưa tiền, ni cô lắc đầu. Đồ tể đưa gạo ni cô cũng lắc đầu.
-Vậy cô muốn sao ?
-Xin thí chủ bố thí đồ đao .
-Người xuất gia không ăn thịt, cô dùng đồ đao làm chi ?
-Xin thí chủ buông đao, cải nghiệp đừng sát sanh nữa.
-Thịt tại trước mắt còn Phật ở Tây phương, cô muốn cả nhà tôi chết đói sao ?
-A Di Đà Phật ! Thịt ở trước mắt, Phật ở trong tâm.
Ni cô gõ mõ rồi đi. Ni cô đi rồi, người chung quanh bảo đồ tể :
-Vị ni cô vừa rồi là vợ của Tiểu Võ bị ông giết đó.
-Ái chà ! Chả trách cổ muốn đồ đao, thì ra muốn báo thù cho chồng.Nếu ta đưa đao cho cổ chắc mạng ta không còn.
Đồ tể nói rồi xoa đầu, ra chợ tiếp tục mua bán.
Đến trưa có một người đến mua giò heo. Đồ tể giơ đao lên chặt chân heo. Bỗng nghe tiếng ngựa hý, kinh tâm động phách. Ngẩng đầu lên coi thì thấy con tuấn mã dựng đứng 2 chân trước hất người cưỡi chân chổng lên trời, đầu chúc xuống đất. Người đó là ai ? Chính là Diệp Kỳ. Nguyên lai Diệp Kỳ cưỡi ngựa qua đó, con ngựa lần trước thấy đồ tể giết người làm cho sợ hãi, lần này lại thấy đồ tể vung đao lên nên hoảng kinh tưởng đồ tể lại giết người nên cất vó hý lên hất Diệp Kỳ xuống. Đồ tể thấy ngựa chồm tới vội vất dao xuống bàn chạy tránh, chẳng dè hấp tấp xô vào bàn, con dao văng vào cổ đứt lìa chết tốt. Diệp Kỳ ngã ngựa đầu bị chấn thương cũng mất mạng. Không lâu, báo chí đăng bộ tư lệnh bổ nhiệm Lý Tiên Châu thay thế Diệp Kỳ. Chuyện này ở Quế Lâm không ai không biết.

(Thiện Hữu Thiện Báo)


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Thứ Hai, 02 Apr 2012, 1:21 PM | Message # 7
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 4981
Status: Tạm vắng
LongTracAn Nhiều truyện trên đây có tính giáo dục lắm...Hay ghê, mong Bạn có thời giờ post tiếp...


AToanMT
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 0:21 AM | Message # 8
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
7.-TRƯƠNG QUÁN SÁT.

Trương lúc còn là tú tài, nhà rất nghèo; phẩm hạnh cũng không mấy tốt, người ta cũng sợ Trương vài phần. Tuy vậy tánh rất hào phóng, khi có tiền đều vung tán khắp, những người nghèo khổ đều được giúp đỡ. Có lẽ vì đó mà nhà Trương thường không có gạo nấu cơm.
Đêm trừ tịch năm nọ, nhà Trương hết gạo; Trương định đến nhà bạn bè để vay mượn. Nhưng bạn đa số có hiềm khích, hoặc là bọn tiểu nhân, chẳng lẽ muối mặt xin giúp đỡ. Chiều đã xuống rồi, không nghĩ ra cách gì cả, Trương chỉ đành lấy quần của vợ đi cầm, được ít tiền mua vài thứ, để vào giỏ sách về. Nhà Trương ở trong ngõ hẹp, lúc đó trời lại đang mưa, đường trơn tuột. Lúc gần tới nhà, Trương sơ ý bị ngã, các đồ trong giỏ bị văng ra đường, đêm tối chẳng biết đâu mà mò. Trương tức giận về nhà, sách đèn ra tìm. Lấy đèn soi đường, Trương bỗng thấy một cái túi, vội nhắc lên thấy rất nặng bèn mang về nhà. Khi mở túi ra xem thì thấy có 2 đồng nguyên bảo, khoảng trên 10 lạng bạc, hơn trăm đồng dương tiền, lại có một cuốn sách trước bạ ghi tên người nợ và số nợ. Trương rất cao hứng, nhận rằng có số tiền này thì sinh hoạt sẽ được cải thiện. Khi mang túi đi cất, Trương nghĩ bụng : đây chắc là người đi thâu tiền làm mất, nếu không giao nộp cho chủ thì chỉ có nước chết; chi bằng ta đợi họ đến tìm rồi giao lại. Trương bèn lấy một ít bạc lẻ đi đong gạo cho vợ thổi cơm. Sau đó cầm đèn ngồi ở cửa đợi. Ngoài trời, tuyết bắt đầu rơi, không lâu thấy có một ông lão và 2 đứa nhỏ mang đèn đi chiếu khắp nơi tìm kiếm gì đó. Trương biết ngay là người đánh mất túi. Đợi ông già lại gần, Trương hỏi :
-Ông tìm gì đó ?
Ông lão nhận ra Trương, biết anh ta không mấy tốt, không dám nói thật, chỉ ậm ừ không nói. Trương tức giận :
-Ông cầm đèn soi khắp nơi nếu không phải là tìm vật đánh mất, chẳng lẽ nhận đường đi chuẩn bị đánh cướp hay sao ? Không nói thật, ta chẳng để cho ông đi !
Ông lão bất đắc dĩ phải nói thật :
-Lão đi thâu tiền, tới đây ngồi nghỉ mệt, không ngờ trời mưa vội chạy về nhà quên mất túi vải nên trở lại tìm. Không thấy đâu cả; có lẽ bị người lấy đem đi rồi.
-Trong túi có đồ vật gì ?
-Tiền bạc và sổ ghi nợ.
Trương thấy đúng những gì mình thấy, bèn cười :
-Hãy vào nhà tôi ngồi chơi, tôi biết ai lấy túi vải.
-Nếu ông biết ai lấy xin chỉ cho tôi.
-Chỗ này không tiện nói chuyện, mời vào nhà.
Khi hai người vào nhà rồi ông lão năn nỉ :
-Nếu ông biết ai lấy, xin cho tôi hay, tôi vĩnh viễn không dám quên ơn.
Trương rót trà, hỏi :
-Ông làm gì ?
-Tôi là người đi thâu tiền.
-Nay đánh mất sổ thâu rồi thì sao ?
-Dẫu khuynh gia bại sản cũng không đủ tiền đền, chỉ còn nước chết, nếu ông biết ai lấy xin bảo cho biết.
Trương không đáp. Ông lão nghĩ Trương đùa mình bèn đứng dậy đi. Trương cười bảo :
-Ông hãy ngồi chờ một lát, tôi không biết ai lấy túi của ông, nhưng tôi có vật này trả ông.
Bèn mang túi vải đưa ra. Ông lão thất kinh, định nói lại không dám. Trương an ủi :
-Ông đừng nghi, nếu tôi tham lam thì giờ này đã ở trong quán nhậu nhẹt rồi, hà tất ngồi ngoài trời mưa tuyết chờ ông, tôi chỉ lấy chút bạc vụn mua gạo thôi, ông không phiền chứ ?
Ông lão vui mừng quỳ ngay xuống đất lạy tạ, khi đứng lên lấy một nửa số bạc trao cho Trương; nhưng Trương từ chối. Ông già năn nỉ :
-Nếu ông không nhận, thực tôi không dám đi !
-Nếu ông quả thật muốn đền ơn, cho tôi mượn 2 lạng ăn tết là đủ.
Ông lão thấy Trương thành ý, không dám nói thêm, trao cho Trương 2 lạng rồi lạy tạ mà đi. Trương mang 2 lạng bạc ra chợ mua rượu thịt về nhà cúng thần, rồi cùng vợ đối ẩm. Ăn uống xong đi ngủ, nằm mộng thấy bị bắt đưa đến trước mặt một người. Người đó mắng Trương :
-Ngươi làm nhiều điều bất nghĩa, nếu không chịu cải hối chỉ còn cách sa vào đường ngạ quỷ.
Trương đang lúc cầu xin bỗng có một người lại mang tờ bẩm tới, người đó xem rồi vui cười bảo :
-Đây là một việc rất tốt! Có thể trừ vào những việc xấu đã làm. Nên cho chút lộc thưởng, mùa thu này cho thi đậu.
Lại quay bảo Trương :
-Ngươi trở về, phải sửa đổi tánh hạnh !
Trương tỉnh dậy, biết việc mình giúp ông lão được thần nhân chấp nhận, bèn thề sửa đổi tánh tình.
Đến mùa thu, các tú tài đều đến Kim Lăng dự kỳ thi Hương; chỉ có Trương không tiền, đến bữa ăn hàng ngày còn lo không xong, dĩ nhiên là không đi thi được. Một hôm Trương bỗng gập ông lão ở ngoài đường. Ông lão hỏi Trương sao còn chưa đi thi, Trương nói nhà nghèo nên không đi. Ông lão bảo :
-Ông là người tốt, sao lại không đi? Ông hãy về nhà đợi tôi.
Trương về nhà đợi, không lâu ông lão đến đưa cho Trương 20 lạng :
-Đây là tiền để dành của lão, ông có thể dùng thuyền đến Kim Lăng mà dự thi.
Trương nhận tiền cảm tạ. Khi ông lão đi rồi Trương nghĩ bụng : Đem tiền này đi dự thi, nếu đỗ chẳng nói làm gì, nếu trượt thì sao? Chi bằng đem mua gạo cũng đủ sống nửa năm. Định không đi thi, nhưng lại nghĩ khó nhìn mặt ông lão. Đang lúc do dự lại nghe có tiếng gõ cửa. Ra mở cửa thì thấy ông lão và một người trẻ tuổi. Ông lão giới thiệu :
-Đây là thiếu chủ của lão, thiếu chủ thấy nghĩa cử của ông rất cảm động; nghe ông đi thi, sợ gia đình ông thiếu thốn nên mang tặng ông 20 lạng để ông chi dùng.
Trương vui mừng quá điều mong ước, bèn lên thuyền đi thi.
Khi ra bảng quả nhiên đậu hạng cao. Ông lão lại cùng chủ nhân đến giúp Trương tiền lên kinh thi Hội. sau cùng Trương quả nhiên đậu tiến sĩ, làm quan tới bực Quán Sát.

(Thiện Hữu Thiện Báo)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 0:22 AM | Message # 9
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
8.-LƯU ÔNG.

Lưu ông là người Hàng Châu, từ nhỏ tánh tình thành thực như đếm, không thích dối người. Nhà tuy nghèo nhưng thích giúp đỡ người. Năm 20 tuổi, cha mẹ đều mất không ai đốc thúc, hướng dẫn, chỉ tự mình mưu sinh. Lưu có một người họ hàng làm huyện lịnh tại tỉnh Quảng Đông. Lưu định đến nương cậy, bèn bán nhà được hơn 10 lạng, đi Quảng Đông. Đi tới Giang Tây thì gập một người bạn đồng hương. Người này muốn về quê nhưng trong túi chẳng còn một xu, không biết phải làm sao. Lưu bèn chia cho bạn 5 lượng để có tiền về quê. Khi đến Quảng Đông, Lưu mới hay tin người họ hàng mới mất, vợ con đều theo linh cữu về quê rồi. Lúc đó đang ở quán trọ, tiến thối lưỡng nan, không lâu ngã bệnh. Chủ quán thương ông còn trẻ, không người nương tựa, mời thầy thuốc trị bệnh cho ông. Bệnh khỏi rồi, Lưu trong mình không tiền, không thể về quê, cũng không có tiền trả chủ quán. Lưu nghĩ bụng : mình đã không có thân thích nào trên đời, cũng chẳng có gì lưu luyến, hay là kết thúc cho xong một kiếp ? Nghĩ rồi ra Ngũ Dương Thành, tìm chỗ vắng vẻ. Lưu cúi nhìn dòng nước chảy cuồn cuộn, chuẩn bị nhẩy xuống, bỗng nhiên thấy ở bờ sông có vật gì chiếu lóng lánh. Lại gần xem thì ra là 1 đồng tiền bạc. Lưu nghĩ sao ở bờ sông lại có người đánh mất bạc? Có lẽ ông trời cho ta một con đường sống chăng ? Lại tưởng đến vùng phụ cận có nơi đánh bạc, một đồng có thể ăn 30 đồng. Mấy hôm trước có dán giấy nói hôm nay có 3 sòng bạc; hãy thử coi nếu trúng thì có tiền về quê; nếu thua thì nhẩy sông cũng chưa muộn. Bèn trở lại, khéo đâu lại gập ngay chủ quán cũng định đi đánh bạc. Hai người cùng đi, không ngờ đánh đâu trúng đó, được một số tiền lớn. Về tới quán, Lưu bảo chủ quán :
-Tôi là người nghèo, tứ cố vô thân, tới chỗ này bệnh gần chết, nhờ ông tôi mới được số tiền này. Hiện tôi định ở đây thành gia, lập nghiệp. Nếu kiếm được nhiều tiền nguyện cùng ông chung hưởng, chỉ là không biết buôn bán gì ?
-Ông được số tiền này đều là do phúc phận của ông cả, tôi nào có công cán gì. Nếu ông muốn lập nghiệp ở đây thì tôi thấy có một tiệm tạp hóa bán đồ ngoại chuẩn bị sang lại. Ông đem tiền kinh doanh nhất định có lời lớn.
Lưu bằng lòng, lại giao cho chủ quán toàn quyền xử lý. Chủ quán là một người thành tín, có thể tin cậy được.
Lưu làm chủ tiệm tạp hóa, phàm buôn bán thứ gì cũng được lời nhiều. Không tới 10 năm, tư kim đã lên tới 10 vạn lạng, lại quen biết nhiều thương nhân ngoại quốc. Lưu vốn là một người thành tín, giao dịch với mọi người rất chân thành, khi đã nhận lời thì nhất định làm cho xong. Ai gập khó khăn gì xin giúp đỡ, không bao giờ từ chối. Do đó những thương gia ngoại quốc đều tín nhiệm. Lúc đó 1 ngân hàng ngoại quốc có 4 tầu chở hàng hóa chưa khui ra thì được lệnh từ mẫu quốc phải trở về gấp. Định cứ để hàng ở kho, nhưng lại sợ bị tổn thất. Bàn đi tính lại, chỉ có Lưu là người đáng tin cậy, bèn nhờ người trung gian để liên lạc. người trung gian là hàng xóm của Lưu, vì thiếu tiền quan nên bị bắt giam, định bán con gái để trả nợ. Lúc đó có người bảo cho Lưu biết con gái ông ấy rất đẹp. Lưu biết chuyện bèn giúp tiền. Khi ra khỏi ngục người ấy bèn làm khế ước mang con gái đến giao cho Lưu. Lưu không những xé khế ước, còn trả người con gái lại để cha con họ đoàn tụ. Người hàng xóm rất cảm kích, không biết lấy gì báo đáp, nghe được chuyện này vội đến nhà Lưu bảo cho Lưu biết. Lưu kinh ngạc nói :
-Giá trị hàng hóa của 4 tầu này rất lớn, mang cả tài sản của tôi ra cũng chưa bằng 1 phần mười. Vạn nhất có tổn thất tôi lấy gì mà đền ?
Thương gia ngoại quốc nói :
-Ông cứ nhận đi, 3 năm sau chúng tôi mới thâu tiền, có được không ?
Lúc đó Lưu tuy có nhiều tiền, nhưng chưa lập gia đình, nghe hẹn ước 3 năm, buồn rầu bảo :
-Tôi chưa có gia đình, tuy tôi làm việc không có gì phải thẹn với lương tâm; không dám hạnh phụ người. Nhưng việc đời khó lường. Giả sử 3 năm sau phát sinh biến cố, các ông đi đâu mà lấy tiền ?
Lưu nhất định cự tuyệt. Lúc đó quản lý của Lưu là ông chủ quán lúc trước, là người cũng được thương nhân ngoại quốc tín nhiệm, nhờ ông ta làm trung gian. Hàng hóa cộng tới 100 vạn lạng, chỉ cần đưa trước 10 vạn, 3 năm sau sẽ thanh toán nốt số còn lại. 2 bên thỏa thuận ký hợp đồng. Không tới 2 tháng sau, vì chiến tranh tầu buôn ngoại quốc đều không đến. Hàng hoá Tây phương khan hiếm, trở nên quý. Lưu đem hàng ra bán lời gấp 3 lần. Lưu cùng chủ quán thương nghị giữ lại tiền vốn, còn bao nhiêu đem kinh doanh, kết quả tiền đẻ ra tiền, càng lúc càng nhiều. Đương thời phú gia đại tộc đều tranh nhau gả con gái cho Lưu. Ông lập gia đình sinh hoạt không kém gì nhà vương hầu. Nhưng Lưu không vì giàu có mà kiêu ngạo, trái lại rất trung hậu, thận trọng và giúp đỡ mọi người. 5 năm sau, thương gia ngoại quốc trở lại. Lưu rất cao hứng mở tiệc khoản đãi có ca xướng giúp vui. Sau vài tuần rượu Lưu nâng ly :
-Tôi may mắn nhờ hàng hóa của các vị mà ngày nay tài sản có cả trăm vạn. Không có các vị tôi đâu có ngày nay. Nay tiền vốn và lời không thiếu một phân, nay xin giao trả.
-Đó là phúc khí của ông, đối với chúng tôi vô can. Chúng tôi chỉ xin lại vốn thôi.
Cuối cùng thương gia ngoại quốc nhận lại tiền vốn, cộng thêm tiền lời mỗi năm 1 phân. Các thương gia ngoại quốc đều ca tụng sự thành tín của Lưu.
Không lâu, ngân hàng ngoại thương có chuyện bê bối bị thương nhân ngoại quốc chỉ trích. Quan phủ định cử người tiếp tay, nhưng không tìm được ai. Các thương nhân ngoại quốc đều đề cử Lưu. Lưu không nhận :
-Ngân hàng phải dùng nhiều tiền mặt, tiền của tôi đều phân tán đi buôn bán cả, làm sao làm được ?
-Ông không phải lo.
Do đó họ xuất tiền mặt ra cho Lưu. Lưu đành phải nhận. Sau khi tiếp nhận ngân hàng, người ngoại quốc đều giao dịch với Lưu,
không quá 10 năm trở thành cự phú, giầu có nhất tỉnh. Lưu sống đến 90 tuổi, con cháu đầy nhà.

(Thiện Hữu Thiện Báo)
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 0:23 AM | Message # 10
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
9.-Trạng Nguyên LA HỒNG TIÊN.

Trào Minh, Niệm Am thiền sư tên tục là La Hồng Tiên, người tỉnh Giang Tây, huyện Cát Thủy; mới sinh được 2 tháng thì cha bất hạnh qua đời, do mẹ ngậm cay nuốt đắng nuôi nấng nên người. Hồng Tiên rất mẫn tuệ, sách chỉ đọc qua một lần là nhớ. Năm 20 tuổi thi trúng trạng nguyên, áo gấm về làng. Tuy còn trẻ đã làm quan to, nhưng ông không khoe khoang, kiêu ngạo; làm việc rất cẩn thận, liêm chánh. Lại nhân từ nhỏ cùng Phật có duyên ưa đọc kinh Phật nên thường nói :
-Phú quý ở nhân gian như sương ban mai; công danh như bọt nước !
Một hôm ông đọc bài Quy khứ lai từ của Đào Uyên Minh cảm khái làm một bài thơ đại ý : Cả ngày bận rộn biết lúc nào ngưng ? Chẳng bằng về hưu mặc áo vải, ăn cơm rau mà nhàn nhã. Chuyện đời như điện chớp, luân hồi như mây bay, sống ngày nay chẳng biết ngày mai; huống chi làm quan gập nhiều nguy hiểm, gần vua như gần cọp, lúc nào cũng lo lắng thắc thỏm. Một nhà no bụng thì trăm nhà oán than; nửa đời công danh thì trăm đời oan uổng.
Do đó, ông từ quan về quê, canh tác để mưu sinh, tiêu dao tự tại. Con ông lúc đó đã 10 tuổi. Ông rất yêu con, dậy dỗ mong nó nên người. Một hôm để khảo nghiệm xem có thông minh không, ông hỏi :
-Thiên (trời) đối với gì ?
Con hãy còn nhỏ không đáp được, bà mẹ đứng bên muốn giúp con, bèn chỉ xuống đất (địa). Thằng nhỏ nhìn xuống thấy có bãi cứt gà, bèn đáp :
-Kê phẩn.
La trạng nguyên thấy con ngu xuẩn, thất vọng. Lại hỏi :
-Phụ (bố) đối với gì ?
Bà mẹ chỉ vào ngực mình để gà cho con.
-Phụ đối với nhũ.
-Thật là oan gia ! Cho mày đọc sách có ích gì ?
Thất vọng với đứa con, ông lặng lẽ lên cổ sơn tự xuất gia. La trạng nguyên xuất gia rồi lấy pháp danh là Niệm Am; cả ngày ở trong bếp làm khổ hạnh tăng. Hàng ngày làm tạp dịch, lúc rảnh thì tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền, lễ Phật. Như thế trải 13 năm không ai biết ông là trạng nguyên. Ít lâu sau khi ông xuất gia, ông nghĩ mình bỏ đi mà không lời từ giã, bèn viết thư bảo cho vợ biết mình đã đi tu đừng chờ đợi, tìm kiếm làm gì. Phu nhân nhận được thư, không oán hận gì, ở nhà thờ Phật, hết lòng dạy con. Đứa con 13 năm sau cũng thi đỗ trạng nguyên. Phu nhân muốn báo tin con đỗ cho chồng hay nhưng không biết ông ở đâu. Hồng Tiên cũng nghe tin con đỗ trạng nguyên, bèn xuống núi về nhà thăm. Về đến nhà, đứng trước cổng. Gia nhân thấy một ông sư đứng trước cửa, nghĩ là đến hóa duyên bèn vào trình phu nhân rồi ra bảo ông :
-Phu nhân từ bi xin hóa duyên 1 đấu gạo.
-Ta không muốn gạo, chỉ cần gập chủ nhân.
Người nhà vào trình phu nhân, rồi bảo :
-Phu nhân xin cúng dường thêm 1 quan.
Ông lại lắc đầu, xin giấy bút viết 1 bài thơ bảo trình cho chủ nhân.
Đấu gạo, ngàn tiền ta chẳng thâu
Mười ba năm đâu có lâu !
Con cháu tự có phúc con cháu
Chẳng vì con cháu mà làm trâu.
Sau đó bỏ đi. Phu nhân đọc thư vội chạy ra ngoài thì không thấy đâu nữa; sai người đi tìm khắp nơi cũng không thấy. sau nhiều phen dò hỏi mới biết ông từ Cổ sơn tự, Phúc Châu tới. Do đó, phu nhân sai con đến Phúc Châu tìm cha. Mỗi khi gập tăng nhân đều tặng một đôi dép vì La Hồng Tiên có nốt ruồi ở chân có thể nhận ra được. Cuối cùng tìm ra được La Hồng Tiên ở Dõng Tuyền Tự, cầu xin khổ sở mới mời được ông về nhà phụng dưỡng. Ông không bị ăn
ngon, mặc đẹp mê hoặc, mà còn cảm thấy chán ghét. Một hôm nọ bảo con :
-Ta ở Cổ sơn tự đánh vỡ 7 cái bát. Theo lệ thì cứ đánh vỡ 1 cái phải bồi thường 10 cái. Ta còn thiếu chưa trả, ngươi có thể trả hộ ta không ?
-Dạ được !
Người con sai người chở 1 thuyền bát hảo hạng đến trả cho chùa. Ông ở nhà nửa năm, một ngày coi dài như một năm. Đợi lúc con vắng nhà bèn bỏ đi, không trở lại chốn cũ, sợ con tìm ra, bèn tới Phúc Kiến, tu học với Long quốc sư, cuối cùng chứng ngộ.
Theo tục truyền, cha của La Hồng Tiên đến 50 tuổi vẫn chưa có con. Một hôm nhân đến chùa ăn chay để cầu sinh con; gập một ông tăng bệnh, bèn tặng tiền thuốc men để chữa trị. Ông tăng đó cảm ơn nên đầu thai để trả ơn. Khi vợ lâm bồn, ông thấy một ông tăng đi vào phòng. Ông hét lên ngăn lại, khi mở cửa vào thì nghe tiếng trẻ khóc oa oa, còn ông tăng thì chẳng thấy đâu. Ông lấy làm lạ, cho người đi hỏi thăm tin tức mới biết ông tăng bệnh đã qua đời.

(Nhân Quả Luân Hồi Thực Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 0:23 AM | Message # 11
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
10.-LÝ QUẢNG.

Lý Quảng là một vị danh tướng đời Hán, rất giỏi bắn cung, đánh giặc Hung Nô hơn 70 trận đều thắng lợi. Người Hung Nô rất sợ ông, không dám xâm phạm nữa. Võ công hiển hách một thời, mọi người đều xưng tán là Phi Tướng Quân. Hán Văn Đế phong ông chức Tân Kỵ Thường Thị, Hán Võ Đế phong ông Bắc Bình Thái Thú. Bộ hạ của ông nhiều người lại được phong chức cao hơn ông. Ông không bao giờ được phong Hầu. Một hôm ông hỏi một vị thầy tướng rất giỏi là Vương Sóc :
-Ông xem tướng tôi có được phong Hầu không ?
-Tướng quân hãy nghĩ kỹ lại có làm chuyện gì trái với lương tâm không?
-Ta có chuyện ân hận là lừa giết 800 người Khương đã đầu hàng.
- Lừa giết người đã đầu hàng là tướng quân đã gieo ác nhân, cho nên không thể được phong Hầu.
Về sau, Lý Quảng đánh trận bị lạc đường bị vây phải tự vẫn, cháu là Lý Lăng vì đầu hàng Hung Nô, nên mẹ và vợ đều bị giết.

(Nhân Quả Báo Ứng)
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 0:23 AM | Message # 12
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
11.-VƯƠNG THIỆU.

Vương Thiệu là 1 vị võ tướng đời Tống, chinh phạt người Khương, đánh trận thắng lợi; mở mang bờ cõi rộng thêm một ngàn tám trăm dậm, chém giết hơn một vạn người. Về sau, ông trở nên thất thường, hành động như người cuồng điên. Ở ngực mọc lên một cái bướu lớn, sau vỡ ra mà chết.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 0:24 AM | Message # 13
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
12.-TRẦN ĐỘC TÚ.

Trần Độc Tú sáng lập viên đảng cộng sản Trung Quốc, là đầu não trong cuộc Ngũ Tứ vận động.
Lúc đó, Trần Độc Tú là giáo sư trường đại học Bắc Kinh. Ông chủ trương làm một cuộc cách mạng văn hóa, lật ngược chủ trương “Trong vạn ác, dâm là đầu mối” của nền đạo đức cũ. Không kể thân phận mình là giáo sư đại học, thường đến kỹ viện chơi. Có thầy ấy tất có trò ấy ! Các sinh viên Bắc đại cũng thường tới chơi; thầy trò gập nhau cho là chuyện thường. Một hôm Trần Độc Tú thấy một kỹ nữ mà mình yêu mến nhất lại thân mật với một sinh viên hơn mình, liền nổi ghen, kéo cô gái vào phòng đánh đập. Cô gái kêu ầm lên, các cô gái ở các phòng chung quanh đều xô lại mắng chửi :
-Đồ súc vật! Đường đường là một giáo sư đại học mà hành động vô lý, vô sỉ như vậy hả ?
Trần Độc Tú tự thấy mình quá đáng ôm đầu lủi mất.
Ngày hôm sau, các báo đều đăng tin. Thái Nguyên Bồi và Nhược Can phải triệu tập hội đồng giáo sư và quyết định bãi chức Trần Độc Tú.
Trần Độc Tú bị thất nghiệp. Khi đảng cộng sản nổi dậy, Trần Độc Tú không thuộc hệ phái Lê Nin nên cũng không được trọng dụng. Quốc Dân Đảng và Cộng sản đảng đều không dùng. Trong thời kháng chiến Trần Độc Tú sống nghèo khổ, tật bệnh, và rồi chết ở tỉnh Tứ Xuyên.

(Nhân Quả Báo Ứng)
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 0:24 AM | Message # 14
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
13.-TÀO CÁN.

Linh Ẩn thiền sư kể: Lưu Ngọc Thọ, người Tô Châu làm phòng khảo quan ở Quý Châu. Một lần đi thuyền qua Hồ Quảng, đêm nằm mộng thấy một người mặt dài bảo ông :
-Tôi là Tào Cán ở đời Tống, trước đó dười trào Đường là người buôn bán, ngẫu nhiên đi qua một ngôi chùa; có nghe pháp sư giảng kinh nửa buổi. Tôi có ra tiền biện trai cung dưỡng đại chúng. Vì có thiện duyên này nên vài đời sau đều được làm chức quan nhỏ. Đến đời Tống làm tướng biên phòng. Khi đánh Giang Châu vì dân trong thành chống cự không chịu hàng, nên rất tức giận. Khi chiếm được thành giết rất nhiều người. Vì sát nghiệp nặng, nên đời đời đều bị làm heo. Mấy năm trước làm heo ở nhà ông, nhờ ơn ông không giết. Ngày nay may lại gập ông, ngày mai là ngày tôi bị giết; xin ông thương mà giúp cho.
Lưu giật mình tỉnh mộng; nhìn xem thì nơi thuyền đậu quả có một lò sát sinh, bèn vào xem thấy có một con heo kêu rất lớn. Ông bỏ tiền ra mua và thả vào vườn phóng sinh. Hễ có người nào gọi Tào Cán, con heo đều vẫy đuôi như xác nhận. Chuyện này nhiều người thấy tận mắt.

(Quả Báo Kiến Văn Lục)


Đại Bi Chú
 
daohoanam Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 9:31 PM | Message # 15
Major
Group: Disciples
Messages: 88
Status: Tạm vắng
Long Trac An.
Đang chờ bạn post tiếp...
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:33 PM | Message # 16
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
14.-KIM CHÍ KHIÊN.

Giáo sư Kim Chí Khiên là hiệu trưởng trường trung học Kiến Quốc ở Thượng Hải. Thuở nhỏ do lao lực bị bệnh liên miên sau bị liệt, 2 chân không cử động được. Mỗi khi lên bục giảng đều phải có người nâng đỡ. Bệnh đã 4 năm đi khám các bác sĩ Đức, Nhật đều vô hiệu. Năm Dân quốc 24, giáo sư của ông là Tra Mãnh Tế tới Thượng Hải. Tra lão sư rất tin Phật, trong nhà bầy đầy tượng Phật, thường giảng Phật pháp cho Chí Khiên nghe. Chí Khiên đối với Phật giáo không tin tưởng chút nào, nhưng tình cảm đối với giáo sư rất thâm hậu nên không tiện cự tuyệt. Do đó theo lời thầy bắt đầu ăn chay. Phu nhân của giáo sư cũng rất quan tâm lại đem tặng Chí Khiên một pho tượng Dược Sư Phật và nói cho ông nghe bản nguyện và công đức của Lưu Ly Quang Phật. Ông nghe rồi càng tăng thêm niềm tin. Một đêm, ông nằm mộng thấy Phật Dược Sư toàn thân phát quang, trang nghiêm, đẹp đẽ vô tả, chính định mở miệng tán thán chợt tỉnh dậy, cảm thấy toàn thân thoải mái. Khi trời sáng xuống giường đi đứng như người bình thường. Mọi người biết chuyện, không ai là không ca ngợi Phật lực vô biên, không thể nghĩ bàn.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:34 PM | Message # 17
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
15.- TIỀN ÔNG.

Tiền Ông người Giang Tô, tuổi quá 50 còn chưa có con. Dân gian có câu:
30 tuổi không con, ngày bình đạm
40 tuổi không con, nhà vắng tanh
50 tuổi không con, không ai hỏi
60 tuổi không con, dứt lục thân.
Đó là ý kiến người đời, tả nỗi thống khổ của những người không có con. Tiền ông là vị trưởng giả trung hậu tuy nhiên không học Phật, nên cũng không tránh khỏi được nỗi buồn đó.
Cùng huyện có một ông họ Dụ, gia cảnh cực kỳ nghèo khổ, nhà lại đông con, nợ nần tứ tung. Chủ nợ thưa kiện, ông không có tiền trả nên bị bắt bỏ ngục. Vợ con Dụ cầu cứu Tiền ông. Tiền ông khẳng khái bỏ tiền ra trả nợ giúp.
Khi được tha Dụ đem cả nhà đến lạy tạ. Bà vợ Tiền ông thấy con gái ông Dụ mới 16 tuổi xinh đẹp, đoan trang, nghĩ mình không sinh được con khiến chồng buồn khổ, hay là mình nạp cô này làm thiếp, sinh con nối dõi cho chồng.
Bà bèn ngỏ lời với vợ chồng Dụ. Vợ chồng Dụ dĩ nhiên là đồng ý. Nhưng Tiền ông không đồng ý; ông bảo vợ :
-Thừa cơ người ta bị nạn, lấy con gái người ta làm thiếp là chuyện bất nhân. Tôi giúp đỡ họ chỉ là làm việc thiện. Hơn nữa tôi đã quá 50, sao có thể sánh với một cô gái 16 tuổi? Tôi thà không có con chứ không làm việc thiếu đạo đức như vậy.
Vợ chồng ông Dụ thấy Tiền ông cao nghĩa như vậy, cảm động đến rơi lệ, lạy tạ mà về.
Một đêm nọ, bà vợ ông Tiền nằm mộng thấy Quán Thế Âm bồ tát bảo bà :
-Chồng con âm đức rất lớn, đáng được tặng một quý tử.
Không lâu bà vợ thọ thai, sanh ra một đứa nhỏ bụ bẫm. Hai vợ chồng vui mừng quá điều mong ước, đặt tên con là Thiên Tặng (Trời cho). Đứa con rất thông minh, sau thi đậu tiến sĩ làm quan tới chức Ngự sử.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:34 PM | Message # 18
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
16.- Pháp Sư Phơi Nến..

Đế lão có một học tăng mà mọi người đều gọi là pháp sư phơi nến. Đây là ngoại hiệu mà người ta đặt ra để cười ông. Nguyên lai, ban đầu ông trú ở Thiền đường Kim Sơn làm Hương Đăng sư. Mỗi năm vào ngày mùng 6, tháng 6 thời tiết nắng ráo mọi người đều mang kinh tạng, quần áo ra phơi phóng. Có một thị giả biết ông tính phác thực, muốn đùa chơi bèn bảo :
-Hương đăng sư ! Hôm nay là ngày mùng 6, tháng 6 mọi người đều đem đồ ra phơi, ông không đem nến ra phơi, bị mốc thì sao ?
Thị giả vừa nói, vừa nháy mắt cho mọi người.
-Nến cũng phơi sao ?
-Đương nhiên rồi ! Nếu không phơi sẽ bị mốc.
-Được ! Tôi đem phơi ngay.
Nói xong đem nến ra sân phơi. Chiều lại ra lấy nến về thắp để cúng Phật thì nến đã chẩy hết ra sân.
Ngày hôm sau, Duy Na sư gọi ông đến, trước mặt đại chúng bảo :
-Trì luật sư! Với trí tuệ lớn lao như ông ở thiền đường làm Hương đăng sư thật uổng phí nhân tài.
-Thật vậy sao ?
Trì luật sư không đợi Duy Na sư nói hết, rất vui vẻ tưởng Duy Na sư nói thật.
-Đúng vậy! Ông ở đây rất uổng, mau đến Đầu Đà tự ở Ôn Châu. Ở đó có Đế Nhàn pháp sư chuyên đào luyện các pháp sư thông minh, tài trí đi hoằng pháp khắp nơi, lợi ích trời người. Khi thành tài tôi sẽ để ông làm Duy Na. Mọi người đều được hưởng lây vinh dự của ông, chứ giữ ông ở lại đây làm mai một tài trí ông thì thật là đáng tiếc.
-Được lắm ! Cám ơn Duy Na đã từ bi.
-Phàm làm việc gì cũng không nên chậm trễ, ông nên đi ngay hôm nay đi.
-Dạ, được!
Đến Đầu đà tự, mới đầu ông được giao làm vườn, hốt phân, bửa củi, gánh nước, quét chùa. Sau lại vào hành đường lau chùi bàn ghế, rửa chén bát. Sáng chiều đến Phật đường lễ Phật. Đế Nhàn sai người dạy ông Ngũ đường công khóa. Sau khi học xong lại dạy ông học kinh Lăng Nghiêm, Pháp Hoa. Mới đầu dạy ông vài câu, sau vài hàng.
Nước chảy đá mòn, sau 10 năm công phu, ông thuộc lầu lầu, không những hiểu mà còn có thể giảng giải cặn kẽ, giúp đỡ cho pháp sư rất nhiều. Sau thời giảng pháp ông lại vào hành đường làm đủ mọi việc. Pháp sư không cho ông làm, nhưng ông không nghe
vẫn làm đủ bổn phận như cũ. Khi pháp sư phải ra ngoài giảng pháp, đều giao ông thay thế pháp sư giảng pháp tại chùa.

(Ảnh Trần Hồi Ức Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:35 PM | Message # 19
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
17.- TÀO BÂN.

Tào Bân là một vị đại tướng đời Tống, giúp Tống Thái Tổ bình định thiên hạ, có nhiều công lao. Một hôm Tào Bân gập Trần Hi Di, xem tướng Tào Bân xong, Trần Hi Di bảo:
-Ấn đường ông rộng rãi, mắt dài, sáng chỉ sớm được phú quý, nhưng kỵ ở chỗ má hóp, miệng xệ, về già không có phúc. Khi đánh trận, đừng giết tận, nên để cho địch một con đường sống, họa may vãn hồi lại chút công đức.
-Dạ, xin tuân lời thầy.
Khi đánh Thục, ông hạ nghiêm lệnh không được loạn sát. Bắt được phụ nữ đều đưa về một nơi canh gác cẩn thận, tránh các hành vi gian dâm, phi lễ. Khi chiến tranh chấm dứt, các phụ nữ có nơi chốn để về đều được cấp chi phí để về nhà. Những người nào không còn ai nương tựa đều tìm cách gả bán, giúp đỡ. Do đó, dân chúng đều ca ngợi. Về sau Tào Bân phụng mạng chinh phục Giang Nam, vì không nhẫn tâm để sinh linh đồ thán, ông giả bệnh không chịu nhậm chức. Các võ quan đồng liêu lục tục đến hỏi thăm. Tào Bân bảo họ :
-Bệnh ta không thuốc nào trị được, chỉ cần các ông thề khi đánh Giang Nam không loạn sát thì bệnh ta lập tức khỏi ngay.
Các tướng đều đồng lòng thắp hương tuyên thệ.
Chính sách khoan hòa khiến khi đánh Giang Nam, dân chúng ra thành đón tiếp, bảo toàn được ngàn vạn nhân mạng. Về sau Tào Bân gập lại Trần Hi Di, Trần bảo :
-Lần trước tôi xem tướng cho ông nói ông không có hậu phúc, nay tướng ông đã thay đổi hẳn, hậu phúc vô lượng, không những tăng phúc, tăng thọ mà con cháu đều vinh hiển.
Quả nhiên về sau ông sống tới 69 tuổi, được truy phong làm Tề Vương Quận Công, con cái đều là bậc danh tướng.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:35 PM | Message # 20
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
18.- TỀ VĂN TUYÊN ĐẾ.

Tề Văn Tuyên Đế là con thứ hai của Cao Hoan, tên là Cao Dương. Khi phụ vương băng hà, huynh trưởng đã mất từ lâu, liền tức vị hoàng đế. Khi tại vị, đại hoằng hóa Phật giáo, bởi vì kiếp trước ông là một sa di. Một hôm ông ở Tấn Dương thành bảo một nội thị :
-Ngươi mau đến chùa lấy hộp kinh của ta mang về đây.
-Bẩm hoàng thượng chùa tên gì và ở đâu ?
-Ngươi cứ cỡi lạc đà, tự nó sẽ dẫn ngươi tới chỗ.
Ngay chiều đó nội thị vâng mạng ra thành. Lạc đà chạy rất nhanh, chạy hồi lâu nội thị cảm thấy buồn ngủ, chỉ nghe bên tai tiếng gió ù ù, bỗng nhiên đến một ngọn núi, ở khoảng lưng chừng núi có một ngôi chùa. Sa di ở chùa trông thấy lạc đà, kêu lớn :
-Lạc đà của Cao Dương đã tới !
Bèn dẫn nội thị vào chùa. Trong chùa có một lão tăng hỏi :
-Cao dương làm thiên tử thế nào ?
-Dạ, rất thánh minh.
-Hắn phái ngươi tới đây có chuyện gì ?
-Thiên tử sai tôi đến lấy hộp kinh.
Lão tăng cười :
-Cao Dương ở chùa lười đọc kinh, nay lấy kinh làm gì ?
Lại chỉ một căn phòng :
-Đó là phòng của hắn, ngươi cứ vào mà lấy kinh.
Nội thị vào phòng lấy kinh, cáo biệt lão tăng cỡi lên lạc đà, rồi lại như mê như mộng trở về Tấn Dương, đem kinh trình lên Tuyên Đế.
Một hôm, Tuyên Đế vào thăm một ngôi chùa có một người mặc áo lam nói những lời si ngốc chẳng ai hiểu. Ông ta thấy Tuyên Đế đến bèn chạy ra bảo :
-Tôi đi trước nhé, ông có thể theo sau !
Đêm đó, người mặc áo lam si ngốc qua đời. Không lâu, Tuyên Đế cũng băng hà ở Tấn Dương.

(Nhân Quả Luân Hồi Thực Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:35 PM | Message # 21
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
19.- DƯ Thái Thú.

Đời Minh, ở tỉnh Giang Tô có Dư thái thú chấp pháp cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng vì nghiêm quá biến thành tàn nhẫn. Các thuộc lại dưới trướng dù tội nhỏ thế nào cũng bị phạt đánh đòn cả. Có một sai dịch trễ hạn 6 ngày khiến thái thú nổi giận nọc đánh 30 gậy. Đánh đến rách da nát thịt; các người đứng bên đều xin tha cho nhưng ông cũng không nghe. Cuối cùng sai dịch bị đánh đến chết. Đáng thương cho gia đình sai dịch đó còn lại vợ yếu con thơ. Đứa nhỏ nghe bố bị đánh chết, sợ quá chết luôn. Người vợ cũng thắt cổ tự tử. Một nhà ba mạng đều ô hô dưới tay Dư thái thú. Về sau Dư thối quan về quê. Trong nhà chỉ có một đứa con cưng. Một hôm bị bệnh bảo bố :
-Bố ! Có người đến bắt con.
Sau đó lại tiếp :
-Tội ta nào có lớn lao gì mà ngươi nỡ sát hại ba mạng nhà ta ?
Nói rồi tắt thở. Dư trở thành người cô độc, không con, không cháu.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:36 PM | Message # 22
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
20.- CHƯƠNG THÁI VIÊM.

Dân quốc sơ niên, Chương Thái Viêm là quốc học đại sư từng mắng Viên Thế Khải, khiến Viên tức giận bắt ông bỏ tù một tháng mới tha.
Ra khỏi ngục, một đêm ông nằm mộng thấy hai tên tiểu quỷ khênh kiệu đến nói Đông Nhạc đế mời. Ông lên kiệu, hai tiểu quỷ chạy như bay, không lâu đến Đông Nhạc đế. Trung Quốc có ngũ Nhạc; Đông Nhạc cai quản năm tỉnh, có thể thấy đó là đại quỷ vương.
Đông Nhạc đế mời ông làm phán quan. Nhân vì ông là người sống, cho nên mời ông làm việc vào đêm, ban ngày lại đưa ông về. Ông nói Trung Quốc, Ngoại quốc đều có âm gian. Ngôn ngữ âm gian tương thông không có gì ngăn cách. Sinh hoạt cũng không khác nhân gian bao nhiêu, nhưng không bao giờ thấy ánh mặt trời. Không gian xám tro, mông lung như đi trong sương mù. Có lần ông nghĩ :
-Hình phạt ở âm gian sao quá tàn nhẫn, không bỏ được sao ?
Đông Nhạc đế cười cười sai hai tiểu quỷ dẫn ông đến hình trường coi. Đi một lúc, hai tiểu quỷ chỉ chỗ cho ông coi thì ông chẳng nhìn thấy gì cả. Ông là người học Phật, do đó hoảng nhiên đại ngộ. Nguyên lai, địa ngục là do tham, sân biến hóa sở hiện. Nếu là người không thọ tội, thì địa ngục ngay trước mắt cũng không thấy. Đây không phải là vấn đề tàn nhẫn hay không tàn nhẫn mà là do nghiệp lực biến hiện ra; Diêm Vương cũng chẳng làm gì được. Hơn một tháng sau Chương viết sớ xin từ chức, viết trên giấy vàng rồi đem đốt. Từ đó về sau không thấy hai tiểu quỷ đến đón nữa.

(Công ÁN)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:20 AM | Message # 23
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
21.- Làm Việc Dưới Âm.

Chu Kính Trụ có kể cho Tĩnh Không pháp sư nghe:
Năm 1931 ông làm quản lý ở một ngân hàng. Thông thường những ngày nghỉ đều cùng bạn bè đánh bài, gập nhau tán gẫu. Trong bọn có một người là Âm sai, mỗi tối đều xuống địa phủ làm việc. Chức vị ông không cao, chỉ phụ trách truyền đạt công văn giúp cho Thành Hoàng Tô Châu. Tại âm gian Thành Hoàng Thượng Hải thuộc quản hạt của Thành Hoàng Tô Châu. Một hôm Thành Hoàng Thượng Hải gởi đến một sinh tử bạ trình báo Thành Hoàng Tô Châu. Ông tiếp nhận sổ này háo kỳ mở ra coi thì thấy rất khó hiểu vì tên những người chết đều là 5, 6 chữ cả. Hôm sau cùng bạn bè bàn tán không ai hiểu gì cả vì tên người Trung Quốc tên dài lắm cũng chỉ có 4 chữ là cùng. Ba tháng sau, ngày 28/1/1932 Nhật Bản phát động chiến tranh ở Thượng Hải, lúc đó mọi người mới hoảng nhiên đại ngộ, thì ra sinh tử bạ đó là danh sách các binh sĩ Nhật bị mạng vong. Cho nên nói chết oan vì chiến tranh là không đúng. Đó là do mạng định, chết lúc nào và ở đâu đều đã được định trước cả rồi.

(Công ÁN)
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:20 AM | Message # 24
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
22.- Mỗ Sinh.

Mỗ sinh trước làm ăn mày, sau làm trộm, cuối cùng giầu có, con cháu có người làm quan, khiến ông cũng được gia phong.
Khi ông làm trộm, trong thành có một nhà giầu có, đàn ông trong nhà đều chết cả, chỉ còn lại ba chị em dâu. Hai chị lớn không con, chỉ có cô em dâu út đang mang thai. Mọi người đều hy vọng cô sinh một đứa con trai để nối dõi tông đường. Lễ thanh minh năm đó, hai chị dâu lớn đều về quê tảo mộ. Vì đường đi về mất ba ngày, em dâu út không tiện đi cùng, chỉ đành lưu lại một bà già ở lại hầu hạ. Mỗ sinh biết được tình hình, chiều tối leo tường vào thấy thiếu phụ và bà già cầm đèn đi soi cửa ngõ, bèn nấp vào phòng thiếu phụ. Thiếu phụ ngồi dưới đèn đọc sách, bà già đứng bên phục thị, coi bộ buồn ngủ lắm, giục thiếu phụ đi ngủ. Thiếu phụ bảo :
-Bà ra đóng cửa rồi đi ngủ, đừng làm phiền tôi xem sách.
Bà già bèn đi ra. Một lúc sau bỗng có một người xô cửa bước vào. Mỗ sinh nghĩ là đồng bọn ăn trộm, nhưng sao không chờ thiếu phụ ngủ rồi mới vào ? Hơn nữa hắn ăn mặc rất đẹp. Thiếu phụ thấy thanh niên vào thì kinh sợ, định kêu. Gã ôm chầm lấy thiếu phụ định giở trò. Thiếu phụ một mặt kháng cự, một mặt kêu bà già. Nhưng không nghe tiếng bà già lên tiếng. Gã thanh niên thấy thiếu phụ kháng cự, rút trong tay áo ra một con dao :
-Cô không nghe lời, ta sẽ giết chết.
-Nhà ta gia thế thanh bạch, không để ngươi làm ô uế đâu ! Muốn giết thì cứ giết, dẫu chết ta cũng không chịu nhục.
Thanh niên lại kề dao vào cổ thiếu phụ cưỡng ép. Mỗ sinh ở trong chỗ nấp, phẫn nộ xông ra đoạt lấy dao và đâm cho gã kia một nhát. Gã thanh niên ngã xuống đất. Thiếu phụ thấy một người nữa xuất hiện thì kinh hãi nói không ra lời. Mỗ sinh bèn ra mở cửa kêu lớn :
-Bắt trộm ! Bắt trộm !
Hàng xóm nghe kêu đều chạy đến :
-Trộm đâu ? Trộm đâu ? Ngươi là ai ?
Mỗ sinh trong lúc tức giận quên béng đi chính mình là trộm, bèn cười :
-Tôi là kẻ trộm, nhưng có kẻ trộm còn ác ôn hơn nữa ! Mọi người hãy theo tôi !
Bèn dẫn mọi người vào phòng thiếu phụ. Mọi người thấy một gã thanh niên bị thương nằm trên đất, bèn đem đèn lại xoi, thì ra là một gã trong xóm. Mọi người hỏi tại sao gã lại ở đó, gã không trả lời. Lại hỏi Mỗ sinh, chàng bèn kể lại đầu đuôi, mọi người bèn trói cả hai người dẫn lên quan phủ.
Khi quan phủ thẩm vấn, gã thanh niên lại vu cáo thiếu phụ và Mỗ sinh thông gian, gã đến để bắt gian. Mỗ sinh thưa :
-Mọi người đều biết tôi là kẻ trộm, dù thiếu phụ có bất trinh cũng không thèm thông gian với kẻ trộm.
Lại kể ra vanh vách các vụ mình đã trộm để chứng minh mình là kẻ trộm thật; sau đó tường thuật lại tường tận chuyện xảy ra ở nhà thiếu phụ. Quan phủ cho điều tra, rồi lại dùng nghiêm hình tra vấn gã thanh niên, cuối cùng gã đành phải khai thật. Từ lâu gã đã thèm thuồng nhan sắc của thiếu phụ, gã lại mua chuộc thông lưng với bà già. Bà già lén báo tin tức cho gã biết nhà không người nên gã định đến làm bậy. Quan phủ sau khi tra xét tường tận, y theo luật pháp trừng trị gã thanh niên và bà già đồng lõa, biểu dương trinh khiết của thiếu phụ và khen ngợi nghĩa cử của Mỗ sinh, thả hắn tự do.
Mỗ sinh được thả rồi vẫn tiếp tục ăn trộm. Một hôm bị sự chủ phát hiện bèn chạy trốn, sự chủ đuổi theo rất gấp. Mỗ sinh chạy thục mạng, lạc đường chẳng biết là mình ở đâu. Bỗng thấy một tòa miếu hoang, bèn vượt tường vào định trốn dưới gầm bàn thờ. Vì vội quá xô phải thần tượng bằng đất, vấp té xuống đất, hôn mê bất tỉnh. Mỗ sinh bỗng thấy vị thần mặt xanh, tóc đỏ lồm cồm bò dậy quát lớn :
-Ngươi lại dám xô ngã ta ?
Vừa hét, vừa định chém Mỗ sinh. Bỗng trên điện có tiếng mắng :
-Người này vừa bảo toàn tiết tháo và hương hỏa của người khác, âm đức rất lớn, trời đã ban cho hậu phúc, đồ tiểu quỷ ngươi sao dám làm phiền.
Liền sai người lôi thần mặt xanh ra đánh trăm roi. Lại gọi Mỗ sinh lại bảo :
-Dưới điện có nhiều vàng bạc ban cho ngươi hưởng dụng.
Mỗ sinh cảm tạ, đứng dậy xuống điện xem thấy vàng chất một đống, mừng rỡ vội chạy lại không ngờ bị vấp té, giật mình tỉnh mộng. Ngẩng đầu nhìn xem thấy vài vì sao còn lấp lánh, trời chưa sáng hẳn. Mỗ sinh nhớ lại lời thần vừa bảo, bèn đi quanh quẩn dưới điện tìm kiếm, chỉ kiếm được một đồng xu. Cho là thần đùa cợt mình, Mỗ sinh lên đường vào làng, thấy một quán bên đường có bán khoai từ bèn lấy đồng xu nhặt được mang ra mua một củ ngồi ăn. Không lâu có một cụ già cũng lại mua khoai từ, ngồi cạnh Mỗ sinh mà ăn. Ăn xong đứng dậy đi. Mỗ sinh cũng định đi, chợt thấy một cái túi vải, biết là ông lão bỏ quên. Bèn mở ra xem thì thấy trong túi có 2 đính vàng, hơn trăm lạng bạc và bốn cuốn sổ trước bạ. Mỗ sinh sợ chủ hàng trông thấy vội thắt túi lại. Lại nghĩ không lẽ đây là tiền thần nhân hứa cho sao ? Nhưng nếu ta lấy đi thì ông lão mất sổ không đòi tiền được. Dù là thần thánh có cho đi nữa, ta cũng không thể nhận. Nghĩ rồi bèn ngồi đợi ông lão trở lại.
Ngồi rất lâu người bán khoai khó chịu :
-Cậu chỉ bỏ ra một xu mà ngồi lâu vậy, chẳng lẽ muốn ngủ đêm ở đây ?
-Không, tôi còn muốn ăn thêm.
Bèn lấy trong túi ra vài xu mua vài củ khoai vừa ăn vừa đợi.
Không lâu, quả nhiên ông lão hấp tấp trở lại, mồ hôi nhễ nhại, thấy Mỗ sinh còn ngồi ăn bèn hỏi :
-Cậu còn chưa đi ? Vừa rồi lão bỏ quên một túi vải, cậu có thấy không ?
Mỗ sinh cười :
-Nếu không vì túi vải của cụ thì tôi đã đi lâu rồi !
Liền đưa túi vải ra trả.
-Hãy còn nguyên đây, tôi chỉ lấy vài xu mua khoai, hy vọng cụ không trách.
Ông cụ mở túi ra kiểm, cũng không tạ ơn chỉ nói :
-Nhà tôi cũng ở gần đây, cậu hãy đi với tôi.
Mỗ sinh đồng ý, hai người đi bộ vài dậm tới một nhà rất lớn, ngoài cửa gỗ xếp cao như núi. Hai người vào nhà, ông lão vào thay quần áo rồi ra cầm tay Mỗ sinh :
-Tôi là người nước Sở, sống ở đây bằng nghề buôn gỗ. các tiệm đồ gỗ trong tỉnh đều do nơi đây cung cấp. Tư kim gần mười vạn lạng. Một nửa là cho mượn, tất cả đều ghi trong các cuốn trước bạ trong túi, may mà cậu hoàn trả nếu không thì tài sản tôi đi đời. Để tôi đem ngàn vàng đáp tạ.
Mỗ sinh từ chối. Ông lão thấy chàng thành thật bèn hỏi :
-Cậu làm gì ?
Mỗ sinh mắc cỡ :
-Cháu chẳng có nghề ngỗng gì.
-Nhà cậu có mấy người ?
-Chỉ có mình cháu.
-Vậy làm sao sống?
-Thực không dám dấu cụ, cháu là tiểu tặc.
-Cậu tên gì ?
-Dạ, tên Mỗ.
Ông lão nhìn kỹ Mỗ rồi hỏi :
-Lúc trước lão có nghe trong thành có một nghĩa tặc, nguyên lai là cậu đây ?
-Dạ, chính là cháu.
-Cậu là người thấy lợi không lấy, quang minh lỗi lạc, ngay cả sĩ đại phu chưa chắc đã làm nổi. Nhà lão tiền của nhiều, nhưng chưa có người thân tín để giao phó. Nếu cậu không ngại có thể theo tôi. Ăn mặc, tiêu dùng tùy ý, làm lại một người lương thiện có được không ?
-Dạ, được !
Mỗ sinh vui mừng đồng ý ở lại giúp ông lão. Vì Mỗ sinh cũng biết dăm ba chữ nên ông lão cho chàng giữ sổ sách. Chàng làm việc rất cần cù, thận trọng, tỷ mỉ từng ly, từng tý không bao giờ cẩu thả. Được hai năm vì ông lão không con bèn nhận Mỗ sinh làm nghĩa tử. Cuối cùng dẫn chàng về quê. Vì ông lão xa quê lâu ngày nên mọi người đều tưởng chàng là con ruột. Khi ông lão qua đời, chàng kế thừa tài sản, lấy vợ , rồi con cháu đầy nhà. Con cái có người đậu cử nhân làm quan đến Quận thú, Quán sát.

(Thiện Hữu Thiện Báo)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:21 AM | Message # 25
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
23.- NGÔ SINH.

Ngô sinh ở Nghi Hưng học giỏi có tiếng, nhưng mấy lần đi thi đều bị trượt. Đêm trừ tịch anh rể nằm mộng thấy ở miếu Thành Hoàng có bảng đề năm tới Ngô sinh sẽ trúng giải nguyên nhưng không lâu lại bị xóa tên. Anh rể đang nghi hoặc thì nghe người tiểu lại đứng bên nói :
-Người này định năm mới làm một việc cực ác cho nên tên bị gạch.
-Còn cứu vãn được không?
-Cứ đi xin Thành Hoàng may ra được.
Tiểu lại bèn dẫn anh rể Ngô sinh vào trong miếu, xin yết kiến Thành Hoàng. Anh rể quỳ trước mặt Thành Hoàng thay Ngô sinh mà cầu xin. Thành Hoàng mở một cuốn sách ra xem trong có ghi Ngô sinh đáng nhẽ trúng giải nguyên, hội nguyên rồi trạng nguyên, nhưng vì khẩu nghiệp, bút nghiệp nên bị gạch tên.
Anh rể cố van nài:
-Chuyện quá khứ thì không đổi được, nhưng chuyện vị lai thì có thể ngăn ngừa được. Tôi nguyện đem tánh mạng cả nhà ra bảo đảm, năm mới Ngô sinh sẽ không làm ác sự.
Thành Hoàng gật đầu, bảo tiểu lại dẫn anh rể Ngô sinh ra.
Anh rể tỉnh dậy định đem chuyện nằm mộng kể cho vợ nghe thì lúc đó vợ ông cũng đang nằm mộng, bỗng hét lên như gập ma, chồng vội lay tỉnh hỏi :
-Nàng gập chuyện gì vậy ?
-Thiếp mộng thấy có một người đến báo tin Ngô sinh đậu giải nguyên, không lâu lại có một người khác đến bảo không phải, Ngô sinh đã bị gạch tên rồi, ngươi đừng báo tin sai. Do đó kinh hoảng kêu lên.
Anh rể cũng kể lại giấc mộng của mình. Hai người đều cảm thấy lạ lùng, bèn bàn biện pháp xử trí Ngô sinh. Vợ nói :
-Chuyện này cũng không khó. Em thiếp không vợ con, sống một mình, nay lừa nó đến đây, nhốt nó trong nhà bảo cho nó biết không được vọng động thì hết chuyện.
Sáng hôm sau, anh rể đến nhà Ngô sinh thăm nói dối vợ bị bệnh nặng muốn gập mặt. Nói rồi kéo Ngô sinh về nhà. Đến nơi, Ngô sinh thấy chị mình vẫn mạnh khỏe, Ngô định hỏi thì chị kéo vào mật thất khóa ngay cửa lại, rồi cách cửa kể cho Ngô sinh nghe chuyện giấc mộng của hai vợ chồng. Ngô sinh lấy làm lạ :
-Em quả có ý định đó, còn chưa làm, làm sao quỷ thần lại biết mà dự phạt như thế?
Hai vợ chồng chị khuyên :
-Trong buồng có đủ thứ cần dùng, em không được đi đâu, chỉ ở trong đó mà lo đọc sách.
Đến kỳ thi, anh rể mở cửa cho ra, lại cùng đi kèm đến Giang Lăng. Trừ lúc Ngô sinh vào trường thi ra, còn thì một bước không rời.
Đến ngày ra bảng, Ngô sinh quả nhiên đậu giải nguyên.

(Thiện Hữu Thiện Báo)
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:22 AM | Message # 26
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
24. Ác Báo.

Ngô Chí Minh tốt nghiệp trường đại học Quang Hoa hệ ngoại văn, làm việc ở bộ ngoại giao, làm quen được một thiếu nữ tên Mạnh Nhã Cầm. Nhã Cầm tốt nghiệp trường đại học Âm Nhạc, từng làm giáo sư âm nhạc trường sư phạm Hồ Nam. Quen nhau được ít lâu hai người thành hôn. Phu xướng, phụ tòng rất hạnh phúc. Về sau hai người sang Hương Cảng. Nơi đất lạ, quê người, không ai quen biết, tiền để dành tiêu gần hết; hai người đành ở nơi bình dân nghèo khổ, làm việc lao động qua ngày. Về sau Mạnh Nhã Cầm may gập được một ông cậu. Do ông giới thiệu Chí Minh được vào làm việc trong một công ty, và Nhã cầm trở thành ca sĩ ở đài phát thanh. Từ đó hai người trở lại những ngày sung túc cũ. Tục ngữ có câu : “Khi nghèo thì ở nơi đô thị nhộn nhịp cũng không ai thèm hỏi; lúc giàu có thì ở nơi núi sâu cũng có họ hàng xa đến thăm.” Họ càng khá thì bạn bè càng đông. Trong bọn bạn bè có một gã tên là Tiến Thọ, là tổng kinh lý trong công ty của Chí Minh. Một hôm vặn radio được nghe Nhã Cầm hát, hắn thốt lên :
-Thật hay quá, tưởng như trên trời mới có khúc hát này !
Sau đến đài phát thanh, xin gập Nhã Cầm. Nhã Cầm thấy có người ái mộ tiếng hát của mình rất cao hứng, tiếp đãi nồng hậu. Hai người trò chuyện rồi kể rõ gia thế, lúc đó Tiến Thọ mới biết người nữ ca sĩ mình hâm mộ là vợ của bạn đồng sự Chí Minh. Do đó, hắn thường đến nhà hai vợ chồng. Hắn không những chỉ hâm mộ giọng ca của Nhã Cầm, mà còn bị nhan sắc của nàng lôi cuốn, muốn tìm cơ hội chiếm đoạt.
Chí Minh không biết lòng dạ đen tối của hắn, tưởng hắn sùng bái tiếng ca của vợ mình nên thấy hắn ra vào nhà mình coi là chuyện thường. Một hôm, một chi nhánh ở Phi Luật Tân báo cáo cần có một người ở Tổng công ty sang giúp giải quyết. Tổng kinh lý Tiến Thọ gập dịp bèn vào gập Đổng sự trưởng đề nghị cử Chí Minh đi Phi Luật Tân. Đổng sự trưởng cũng nhận thấy Chí Minh là nhân tuyển thích hợp bèn đồng ý. Chí Minh đi rồi, Tiến Thọ thường đến nhà Nhã Cầm, có khi còn mời Nhã Cầm về nhà chơi. Tiến Thọ có đứa con gái thích học dương cầm, bèn mời Nhã Cầm đến nhà dạy. Nhã Cầm khó mở miệng từ chối, do đó sau khi hát ở đài phát thanh về là đến nhà Tiến Thọ dạy con hắn. Một hôm, Tiến Thọ dùng thuốc mê, gian dâm Nhã Cầm. Khi Nhã Cầm tỉnh dậy, đau khổ muốn chết. Muốn viết thư cho chồng kể chuyện thất thân của mình, lại sợ Chí Minh tâm tình bất an, ảnh hưởng đến sự nghiệp, chỉ đành khóc hận chờ chồng về. Hai tháng sau, Chí Minh về tới nơi. Vào nhà gập vợ, đáng nhẽ phải thấy vợ vui vẻ mới phải, nhưng chỉ thấy nàng buồn thảm, gạn hỏi nhưng nàng không nói. Chí Minh vì mới về, mệt mỏi liền đi ngủ, định mai đi làm về sẽ hỏi cho rõ. Ngày hôm sau Chí Minh vội đến công ty báo cáo, khi về nhà thấy vắng lặng. vào phòng ngủ thì lặng người đi : Nhã Cầm đã uống thuốc ngủ tự tử, bên cạnh để lại một bức thư. Chí Minh đọc xong thư chạy ngay đến nhà Tiến Thọ chất vấn. Tiến Thọ không những phủ nhận còn đòi Chí Minh đưa ra chứng cớ. Chí Minh chỉ đành về nhà lo tang sự.
Chí Minh bị đả kích lớn, từ chức về nhà ngồi trước quan tài Nhã Cầm hết khóc lại trách :
-Nhã Cầm ! Em sao có thể dung tha Tiến Thọ dễ dàng như vậy ? Em nghĩ xem hắn hại chết em, hại anh mất vợ, mất chức nghiệp, sao em không biến thành ma, thành quỷ bắt hắn đến âm phủ đối chất ?
Mỗi ngày đều ngồi trước quan tài khóc lóc trách cứ như vậy. Một hôm đang than van, khóc lóc như cuồng như điên thì người nhà của Tiến Thọ mời đến nhà. Chí Minh hận Tiến Thọ đến độ có thể ăn tươi nuốt sống, nên lập tức tới ngay.
Khi bước vào nhà thì thấy phòng đầy người, Tiến Thọ nằm dài trên ghế trường kỷ. Mặt không sắc người, mồm sùi bọt, thấy Chí Minh tới đột nhiên nói :
-Chí Minh ! Anh đến thật đúng lúc ! Anh chẳng muốn em biến thành quỷ đến bắt tên súc vật này sao ? Hôm nay em thừa lệnh Diêm Vương đến bắt tên này về đối chất. Bây giờ anh có thể tin là em thanh bạch, bất hạnh. Anh hãy đem di thư của em công bố cho mọi người biết tội ác của Tiến Thọ, đồng thời cảnh cáo người đời đừng xâm phạm vợ bạn; dù có thoát được luật pháp cõi đời, nhưng cõi âm không dung thứ đâu. Anh hãy bảo trọng. Chỉ thấy Tiến Thọ bị cục đờm đưa lên chẹn họng, nghẹt thở mà chết. Chí Minh theo lời vợ, trước mặt mọi người đem di thư của Nhã Cầm ra đọc. Lúc đó, mọi người mới rõ Tiến Thọ mặt người dạ thú. Hôm sau các báo đều đăng tải chuyện này làm chấn động cả Hương Cảng.

(Nhân Gian Kỳ Đàm)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:22 AM | Message # 27
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
25.- DIÊU KHANG MINH.

Diêu Khang Minh học rộng, đa tài, cả đời không làm một hành vi bất lương nào, chỉ là khi nói chuyện thường nói những lời khinh bạc. Lại thích dùng bút mực châm trích người ta; nhất là những chuyện xấu của phụ nữ dù chỉ là lời đồn ông cũng đón gió bắt hình, dặm thêm mắm muối tả thành thi từ. Vì từ ý mới mẻ, lôi cuốn khiến người ta ham chuộng thi nhau truyền tụng. Tuy ông có tài học nhưng thi hoài không đỗ, hơn nữa tính tình khinh bạc nên không ai dám mướn dậy học. Cuối cùng, ông chết trong nghèo khổ. Ông có một đứa con, tính tình phúc hậu, lúc sắp cưới vợ cũng bị bệnh mà chết, thành thử dòng họ Diêu bị tuyệt. Đó chẳng phải là khẩu nghiệp sao ?

(Thiện Hữu Thiện Báo)
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:23 AM | Message # 28
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
26.- HỒ ÔNG.

Thái thú Hồ Hướng Sơn từng làm chủ sự Hình Phòng ở huyện Kim Sơn, tỉnh Giang Tô, tính tình trung hậu, chưa từng ăn hối lộ bao giờ. Có một lần ở huyện Kim Sơn phát sinh một vụ ăn cướp, sự chủ bị chết, 30 người bị bắt. Lúc đó luật pháp rất nghiêm nếu có người chết thì bất luận là chính phạm, tòng phạm đều bị xử chém đầu. Vụ án này do Hồ Ông xử lý. Hồ Ông biết đa số phạm nhân là dân thất nghiệp nghèo nàn. Ông không nhẫn tâm thấy họ bị án tử hình, do đó lấy cớ ngộ sát chỉ xử tử hai người, còn lại tha tội chết, nhưng bắt xung quân. Quan huyện thấy là bản án quá nhẹ, Ông biện hộ :
-Tuy là vụ án có người chết, nhưng theo lời khai thì họ không cố ý sát hại, không dùng khí cụ giết sự chủ, chỉ là trong đêm tối xô đẩy, lỡ tay làm chết mà thôi; do đó tội nên giảm khinh.
-Sợ thượng cấp không đồng ý.
-Vậy, quan hãy giải tôi lên tỉnh vì tội nương tay cho phạm nhân.
Quan huyện nghiêm trang bảo :
-Ông chỉ là chức quan hình sự nho nhỏ mà còn dám vì bá tánh liều mạng, ta đường đường là quan huyện há lại bất nhân sao.
Bèn y lời phán quyết. Bản án gửi lên thượng cấp quả nhiên bị trả về. Hồ Ông lại viết tờ trình thuyết minh sự kiện.
Quan tuần vũ rất tức giận, cho đòi quan huyện đến Tô Châu lập tức. Quan huyện rất sợ, trách cứ Hồ Ông. Hồ Ông nguyện cùng đi:
-Lần này nếu được miễn tội thì đó là phúc khí của quan, còn không quan cứ quy trách cho tôi, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Quan huyện dẫn Hồ Ông lên tỉnh. Khi đến dinh Tuần vũ, quan huyện vào, còn Hồ Ông đứng đợi ở ngoài cửa.
Tuần vũ nghiêm trách quan huyện sao xử tội quá nhẹ, quan huyện khấu đầu tạ tội. Tuần vũ lại hỏi :
-Ông mới nhậm chức Tri huyện, ai dạy ông phán quyết như vậy ?
-Là Hồ ông chủ sự Hình phòng.
Tuần vũ cười :
-Ta đã nghi có quan sử ăn hối lộ, quả nhiên không sai, ta muốn gập hắn.
Liền sai quan huyện dẫn Hồ Ông vào.
Tuần vũ mắng :
-Ngươi thân là chủ sử Hình Phòng lại không biết có án mạng thì chính phạm và tòng phạm đều bị chém đầu sao ?
-Dạ biết ! Tuy luật qui định như vậy nhưng cũng có phân nặng nhẹ.
-Cũng là mạng án còn phân nặng nhẹ nỗi gì ?
-Luật pháp qui định phạm án là kẻ cầm khí cụ giết người. Trong án này các can phạm đều là dân nghèo khổ thất nghiệp. Họ bị đói rét bức bách mà sa lưới pháp luật. Nạn nhân bị chết là do bị xô đẩy chứ không phải bị giết. Do đó có thể khoan hồng.
-Ngươi ăn lễ của kẻ cướp bao nhiêu tiền mà ở đây xảo biện gỡ tội cho chúng ! Mau nói thật, nếu không ta sẽ đánh đòn.
-Nếu nói thuộc hạ vì kẻ cướp mà xin khoan thứ thì thuộc hạ xin nhận, còn nói ăn lễ thì một vụ tranh biện nho nhỏ thuộc hạ cũng không ty hào đừng nói đến một vụ lớn như vụ án này.
-Nếu không ăn hối lộ thì tại sao ngươi lại kiên trì xin khoan thứ ?
-Thuộc hạ không dám nói.
Tuần vũ ép phải nói, Hồ Ông thưa :
-Cũng chẳng có nguyên nhân nào khác, chỉ là “công môn là chỗ để tu hành.” Vả lại đời Tống, Âu Dương công có nói “Ta nỗ lực vì tù nhân tìm sinh lộ, nếu tìm không được, ta và tù nhân đều buồn bã”.
Tuần vũ nghe nói biết ông là người tốt, bèn gọi lại gần nhìn kỹ rồi vui vẻ bảo :
-Ông có mấy con ?
-Dạ ! Bốn đứa.
-Có học hành gì không ?
-Dạ, đứa lớn may trúng cử nhân, ba đứa còn lại đều đang đi học.
-Đây là quả báo tốt vì ông lấy công môn làm chỗ tu hành. Tôi sẽ theo ý ông mà tha mạng cho nhiều người. Đó cũng là điềm tốt, con ông thế nào sang năm cũng đậu tiến sĩ.
Rồi cho ông lui, quan huyện được giữ nguyên chức.
Bản án được công bố, chỉ có hai người bị chém đầu, còn đều được tha chết.
Năm sau, quả nhiên con cả ông thi đậu tiến sĩ, con thứ hai và thứ ba đều được tuyển làm cống sinh.

(Thiện Hữu Thiện Báo)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:23 AM | Message # 29
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
27.- Y Đức.

Nghề y có thể trị bệnh, làm giảm đi những thống khổ của cơ thể cũng như tinh thần, phục hồi lại sức khỏe, như tái tạo một đời sống mới cho bệnh nhân, là một cống hiến lớn cho đời. Vì vậy người ta thường ca tụng “lương y như từ mẫu”. Nếu như có tài chuyên môn nhưng thiếu y đức và lòng từ ái, thấy tiền thì sáng mắt ra, chẳng kể gì đến sống chết của bệnh nhân thì đó là một tội đại ác, báo ứng đến rất mau.
Bác sĩ X ở Đài Nam, y thuật rất giỏi, bệnh nhân bị các nơi từ chối ông đều trị lành. Do đó tiếng đồn vang dậy, phòng mạch rất đông. Người muốn khám, phải đến từ 5, 6 giờ sáng, xếp hàng rồng rắn để lấy số. Đáng nhẽ làm ăn hưng vượng như thế thì nên giúp đỡ những người quá nghèo mới phải. Nhưng bác sĩ X thì ngược lại, ông không hề nương tay, không tiền thì không thuốc. Có một bà cụ bị bệnh nặng, người con không đủ tiền lấy thuốc bèn năn nỉ :
-Bác sĩ ! Mẹ tôi bị bệnh như thế này nhưng chúng tôi không có đủ tiền để trả tiền thuốc, bác sĩ làm ơn bớt cho có được không ?
-Thật buồn cười ! Thuốc men đâu phải đồ tạp hóa mà mặc cả. Chỗ này cũng không phải là viện tế bần, không có tiền mà dám đi khám bệnh, không tiền thì không thuốc.
Mọi người nghe được đều bàn tán :
-Bác sĩ mà ác đức như vậy, tương lai chắc cũng không khá !
Quả nhiên sự hưng vượng cũng chỉ kéo dài vài năm. Bệnh nhân càng ngày càng ít. Bác sĩ X bèn bỏ tiền ra đầu tư, lập công xưởng. Nhưng vì thiếu kinh nghiệm nên đầu tư bị thất bại, công xưởng phải đóng cửa. Bà vợ lại sinh ra bài bạc. Vì bệnh nhân ngày càng thưa thớt, nên phòng mạch cũng phải đóng cửa. Nợ nần chồng chất không trả, bác sĩ X cuối cùng phải vào tù.

(Bất Khả Tư Nghị Đích Nhân Quả Hiện Tượng)
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:23 AM | Message # 30
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
28.- TRÌNH NGẠN TÂN.

Trình Ngạn Tân là một vị tướng đánh trận rất giỏi. Sau khi hạ được Ninh Huyện, thuộc hạ để chúc mừng thắng lợi, bèn bắt ba thiếu nữ xinh đẹp như tiên đem dâng cho chủ tướng. Lúc đó, ông đã uống say, nhưng không mất lý trí, không tà niệm, đối ba thiếu nữ bảo :
-Ta coi các cô như con gái ta, sao ta lại dám trái lương tâm mà xâm phạm ? Ngày mai ta sẽ sai người báo cho cha mẹ các cô đến dẫn các cô về.
Nói rồi sai bộ hạ thu xếp cho các cô qua đêm ở một nơi an toàn. Sáng sớm hôm sau, cho gọi cha mẹ các cô đến dẫn về nhà. Dân chúng bản địa đối với vị quân nhân cao thượng này rất hâm mộ, tán tụng khiến thượng cấp cũng trọng vọng. Không lâu ông được thăng đến chức Tuần sát Sứ. Ông sống đến 93 tuổi.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:24 AM | Message # 31
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
29.- GIẢ A NGỌC.

Giả A Ngọc người huyện Nghi Hưng, thuở nhỏ ở trong làng là kẻ ăn mày, ngủ ở trong một miếu thổ địa ở ngoài thành. Ngày cuối năm, một năm nọ vào khoảng 3, 4 giờ chiều, A Ngọc khi đi đường bỗng trông thấy một túi vải xanh. Mở ra xem thì là túi đựng quần áo đàn bà, đồng thời có khoảng 30 lượng bạc. A Ngọc rất cao hứng, nhưng lại nghĩ bụng : có tiền tiêu đương nhiên là sướng rồi, nhưng nếu người mất tiền có việc cần phải xử dụng, không tìm ra được thì chỉ có nước chết. Không ! Ta không thể dùng tiền này.
Do đó ngồi ở ven đường chờ người mất của. Đợi rất lâu bỗng thấy một người đàn bà trung niên đi tới, vừa tìm vừa khóc. A Ngọc nghi bà ta chính là người mất túi vải bèn kêu bà ta lại hỏi . Bà ta thấy A Ngọc là tên ăn mày thì không thèm để ý, càng khóc lớn. A Ngọc hỏi :
-Bà tìm kiếm gì ? Tôi ngồi đây đã lâu, có thể thấy vật bà đánh mất chăng ?
-Tôi đánh mất một túi vải xanh trong đựng mấy bộ quần áo và 30 lạng bạc. Chồng tôi vì thiếu quan lương 30 lạng nên bị bắt vào tù. Tôi phải bán hết tất cả tài sản, vay mượn tứ tung mới được đủ số tiền để bồi hoàn; nay lại đánh mất, chỉ còn cách chết.
A Ngọc thấy bà ta nói trúng những vật trong túi, bèn đưa túi ra trả. Bà ta nhận túi, kiểm điểm thấy đủ thì mừng rỡ đem ít bạc ra tặng A Ngọc để tạ ơn, nhưng A ngọc không nhận. Đêm đó A Ngọc ngủ trong miếu, mộng thấy trong miếu đèn đuốc sáng chưng, nghĩ bụng trời chưa sáng sao đã có người đến lễ ? Bỗng nghe trên điện có tiếng nói :
-Hôm nay có một gã ăn mày nhặt được tiền nhưng không dấu đi để tiêu nên đã cứu sống được hai mạng người. Công đức rất lớn, nên tặng hắn ít phúc.
Lại có người nói :
-Gã này chỉ thọ 30 tuổi.
-Hãy báo Đông Nhạc đế quân ban cho hắn lộc thọ, lại tặng cho vợ con để khuyến khích hành thiện.
Lại sai người mang bạc ra cho. Có hai người khiêng một rương bạc lớn để trước mặt A Ngọc.
-Đây là thần tặng !
A Ngọc khoái chí mở mắt ra thì thấy bốn phía tối om, bèn vươn vai trở dậy, chân đạp vật gì phát ra tiếng kêu, nhìn kỹ thì là một xâu tiền có 6 xu.
A Ngọc mỉm cười :
-Chẳng lẽ đây là tiền thần tặng ?
Ở Nghi Hưng có phong tục là ngày đầu năm, các nhà đều làm nhiều bánh bột để bố thí cho ăn mày, ở ngoại thành lại mở nhiều sòng bạc. Đánh được thì có thể chọn kẹo hay tiền tùy ý. Các sòng này đều tập trung ở Trường Kiều.
Ngày hôm sau, A Ngọc xin được nhiều bánh bột, ăn no rồi bèn vào sòng bạc đem 6 xu ra đánh. Đánh 10 lần được cả 10 lần. Lại đánh một lúc được hơn 1.000 đồng. Lại vào nơi đánh lớn, đánh từ sáng đến tối được cả vạn đồng. Lúc đó ở bên Trường Kiều có Giả ông mở một quán bán mì. A Ngọc mỗi khi xin được tiền đều đến quán này ăn mì. Giả ông bình thời đối đãi với A Ngọc rất tốt. Hôm
đó A Ngọc đem tiền đánh được đến nhờ Giả ông giữ. Hôm sau lại đi đánh, cũng thắng. 3, 4 hôm liền đều như vậy, ước được vài vạn. Bỗng A Ngọc nghĩ : tiền được bạc là tiền bất nghĩa. Tiền ta được tuy là do thần tặng, nhưng những người thua, chưa chắc đó đã là tiền dư của họ. Ta là ăn mày, có được số tiền này có thể thành gia lập nghiệp hà tất còn bài bạc ? Thắng thì tốt, nhưng nếu thua thì lại trở thành ăn mày. Do đó, thề không bài bạc nữa. Lúc đó Giả ông vì thiếu vốn định dẹp tiệm. A Ngọc thương lượng với ông xin hùn vốn, lại tự mình làm người chạy bàn. Giả ông vui vẻ chấp nhận. Khi khai trương, khách đến rất đông, kiếm được nhiều tiền gấp mấy lần khi trước. Làm ăn ngày càng phát đạt. Giả ông chỉ có một đứa con gái, lại thích A Ngọc trung hậu, bèn gả con gái cho. A Ngọc hết lòng phụng dưỡng Giả ông. Sau vợ sinh được hai con, vì không biết mình họ gì nên A Ngọc lấy họ của nhạc phụ để đặt tên cho mình và hai con.

(Thiện Hữu Thiện Báo)
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:24 AM | Message # 32
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
30.- DƯ ỨNG NAM Báo Mộng.

Tại huyện Thanh Phổ, Dư Địch Vinh cùng sống chung nhà với em là Dư Địch Phủ. Sau Địch Vinh lấy vợ là Trầm thị chỉ sanh được một gái là Dư Ứng Nam. Sau đó ít lâu Địch Vinh mắc bệnh, qua đời. Trầm thị đi lấy chồng khác giao Ứng Nam cho bà nội nuôi nấng nên người. Khi Địch Vinh chết thì tài sản hơn trăm mẫu do Ứng Nam thừa kế. Năm Ứng Nam 18 tuổi, bà nội gả cho Cường Tuyết Thuận. Hai năm sau bà nội qua đời, Cường Tuyết Thuận gạt lấy nửa tài sản của Ứng Nam rồi ly hôn. Ứng Nam đành trở về nhà ở với chú là Địch Phủ.
Vì hôn nhân không được mỹ mãn, Ứng Nam thường buồn rầu ít nói. Bá phụ là bác sĩ Đỗ Thiệu Hùng thương hại, giới thiệu Mã Quế Long cho quen biết. Hai người sau một thời gian tìm hiểu quyết định kết hôn. Ông chú Địch Phủ phản đối cuộc hôn nhân, vì nếu Ứng Nam lại đi lấy chồng thi di sản hơn mấy chục mẫu của Ứng
Nam ông ta chẳng chấm mút gì được nữa. Một hôm hai chú cháu cãi nhau, ông nóng tiết phang bình hoa vào đầu Ứng Nam. Ứng Nam bị chết ngay. Vì trong thôn toàn người họ Dư nên đang đêm Dư Địch Phủ lén đem chôn Dư Ứng Nam ở nghĩa địa gia tộc.
Hôm sau đi báo công an là Ứng Nam bỏ nhà đi biệt tích, lại vu cáo Đỗ Thiệu Hùng và Mã Quế Long có liên can vào việc này.
Công an tạm giam Quế Long, còn Thiệu Hùng được tại ngoại hầu tra. Lúc đó Giáp trưởng Chư Trọng Hoa thấy việc Ứng Nam mất tích có nhiều nghi vấn mà người đáng nghi nhất là Địch Phủ, nên cho người âm thầm theo rõi. Cứ lời Chư Trọng Hoa nói, ông là người theo Thiên Chúa giáo không tin có ma quỷ. Một hôm sau khi Mã Quế Long bị bắt ông nằm mộng thấy Ứng Nam người đầy máu me kêu khóc :
-Xin bá phụ minh oan cho con.
Khi tỉnh dậy, ông lấy làm lạ, bèn trình lên huyện xin điều tra lại cẩn thận.
Lúc đó Địch Phủ cũng nghe phong thanh, sợ người ta phát giác ra thi thể Ứng Nam, đang đêm lại đào thây Ứng Nam đem về chôn ở vườn nhà. Sau lại sợ người ta đến khám nhà, lại đào lên đem thiêu. Nhưng độ nóng không đủ để đốt xương thành tro, bèn chặt thành nhiều mảnh bỏ vào bao bố ném xuống sông để hủy diệt dấu tích. Không ngờ dân đánh cá lưới được bao bố, mở ra thấy là xương người, sợ quá lại ném trả xuống sông. Chư Trọng Hoa nghe được tin này bèn thuê người vớt bao bố lên, lại cấp báo về Huyện. Địch Phủ thấy chuyện sắp lộ, đang đêm cùng bọn hung đồ rình mọi người không để ý cướp lấy bao bố đem đi. May thay công an huyện có đề phòng, đã cho người mai phục 12 người ở ruộng đợi bọn ác đồ đi qua bèn bắt trọn gói.
Kết quả, Dư Địch Phủ bị kết án tử hình. Vụ án này xẩy ra vào năm Dân quốc thứ 24.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 6:50 AM | Message # 33
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 4981
Status: Tạm vắng


AToanMT
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:44 PM | Message # 34
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
31.- DƯ SINH.

Dư sinh sau khi tốt nghiệp cao trung, thi rớt đại học, năm Dân quốc 63 phải nhập ngũ. Nhập ngũ không lâu được phân phối ra phục vụ ở Kim Môn với chức vụ Liên đội trưởng. Một hôm nhân được một ngày nghỉ, khi trở lại trại, trông thấy ở sân trại dưới một gốc cây có buộc một con chó nhỏ. Ông háo kỳ lại gần xem thấy con chó nhỏ đương khóc, nước mắt chảy dòng dòng, tiếng khóc thảm thiết khiến chịu không nổi. Ông cảm thấy lạ vì trước giờ chỉ nghe nói con bò lúc sắp bị giết đều nhỏ lệ, chứ ông chưa nghe thấy hay nghe nói chó khóc bao giờ. Do đó ông đi hỏi mọi người xem con chó từ đâu tới ? Kết quả biết được một số anh em đến Kim Thành (nơi buôn bán sầm uất của Kim Môn) chơi, thấy có người bán chó bèn hùn tiền mua, định bữa sau sẽ làm một bữa hạ cờ tây (hạ cầy tơ) để chống lạnh và bổ thân vì lúc đó đang là mùa đông và ở Kim Môn thời tiết rất lạnh. Dư sinh bèn bỏ ra 300 đồng thương lượng, xin mua lại con chó để nuôi. Do vậy con chó thoát chết. Hơn nửa tháng sau dư sinh thấy bụng con chó càng ngày càng lớn. Lúc đó ông mới biết khi mua về nó đang mang thai. Ông rất mừng vì đã cứu được mẹ con nó. Một tháng sau, một hôm Dư sinh dẫn anh em đi làm việc ở một nơi xa, đến chiều việc mới xong. Khi trở về, mọi người đều di chuyển theo đội hình hàng dọc. Thường thường Dư sinh là đội trưởng đi dẫn đầu. Không hiểu sao hôm đó Dư sinh lại để người khác dẫn đầu, còn mình ở lại vị trí thứ hai. Khi mọi người phải vượt qua một quả đồi; người thứ nhất vừa nhô lên đỉnh đồi thì Cộng quân ở bên đối diện Kim Môn pháo kích trúng ngay người đi đầu, chết tươi. Mọi người vội nằm xuống tránh đạn. Thoát được nguy cơ này, Dư sinh tự hỏi không biết có phải là phúc báo do mình cứu được mẹ con, con chó không ?

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:44 PM | Message # 35
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
32.- Bác Sĩ DƯƠNG NHẬT TÙNG Kỳ Ngộ Ký.

Chuyện quỷ thần từ cổ đã có, nhưng ở đời này quả có quỷ không? Có người hỏi bác sĩ Dương Nhật Tùng, bác sĩ pháp y của Cục cảnh sát hình sự về vấn đề này. Ông nghiêm trang gật gù, sau nói thêm :
-Có lẽ có linh hồn.
Lời Dương pháp y tự nhiên là có căn cứ. 30 năm qua ông đã khám nghiệm qua hàng vạn xác, nên cũng có gập nhiều kỳ ngộ.

1. Thấy Quỷ.

Ở khoảng giữa Tam chi và Dã Liễu có một địa danh là Lão Mai. Vào khoảng 20 năm trước, có một phụ nữ bị bệnh, không cẩn thận ngã sông chết đuối. Phái đoàn của hình cảnh tổng bộ gồm bác sĩ Dương Nhật Tùng, bác sĩ Diệp Thiệu Cừ, kiểm sát quan, và một người thư ký cùng đi nghiệm thi. Nghiệm thi xong, mọi người tới Đạm Thủy ăn cơm tối, uống chút rượu, rồi dưới trời mưa lất phất, ra xe về Đài Bắc. Khi xe chạy, bác sĩ Dương Nhật Tùng thấy có một thiếu nữ ngồi trong xe. Ông nghĩ là một người nào đó trong phái đoàn dẫn cô theo, ông không nói gì chỉ huých tay cho người thư ký. Thư ký cũng mỉm cười hội ý.
Khi xe chạy được một khúc thì đường bị chắn ngang, cảnh sát đến hỏi giấy tờ, thấy là phái đoàn của Tổng bộ hình sự, bèn mời xuống xe nói có một xác chết ở ven sông nhờ phái đoàn kiểm thi. Lúc đó mọi người không để ý, thiếu nữ bỏ đi. Khi đến bờ sông hình cảnh dùng đèn bấm chiếu vào mặt tử thi. Mọi người đều kinh hãi, thì ra nạn nhân là thiếu nữ vừa ngồi cùng xe. Theo như cảnh sát điều tra thì chồng nạn nhân nói là khi qua cầu người vợ bỗng mở cửa xe lao đầu xuống sông, hắn cản lại không kịp. Nhưng theo khám nghiệm và tra vấn cuối cùng hắn đã nhận là sau khi xô sát hắn đã đẩy vợ xuống sông.

2. Điện thoại ma.

Có một đêm, hai vợ chồng một bác sĩ của cục pháp y, bỗng nghe tiếng điện thoại reo vang. Bà vợ chui ra khỏi chăn bốc điện thoại trao cho chồng nghe. Đầu kia báo cáo ở Tam Hiệp có án mạng mời bác sĩ sáng sau đến khám nghiệm.
Ngày hôm sau, khi khám nghiệm về, hai vợ chồng nói chuyện với nhau, bỗng lạnh xương sống bởi vì nhà họ không có lắp điện thoại.

3. Báo mộng.

Theo lời kể của bác sĩ Diệp Thiệu Cừ mấy chục năm trước khi chuyển ngành Nhi khoa sang Pháp y, lần kiểm thi đầu tiên của ông là một vụ hỏa hoạn, hai mẹ con đều bị chết cháy. Ngay tối đó ông mộng thấy một người đàn bà khóc lóc, kêu than bị người ta sát hại. Bác sĩ Diệp khám kỹ thì con bị thiêu chết, còn bà mẹ bị đánh rồi mới bị hỏa thiêu. Sau cảnh sát căn cứ vào khám nghiệm của bác sĩ Diệp, điều tra ra người đàn bà đó đã bị chồng đánh hôn mê rồi đốt luôn nhà. Một lần khác ông nằm mộng thấy một người đàn ông gật đầu chào ông, sau đó biến mất. Ba hôm sau, ông đi khám nghiệm một tử thi ở huyện Bình Đông. Người chết chính là người thấy trong mộng. Theo cảnh sát điều tra thì người chết là một vị giáo sư, mắc bệnh tâm thần, tự tử mà chết.

(Nhân Quả Dữ Luân Hồi)
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:44 PM | Message # 36
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
33.- LÝ NGUYÊN.

Đời Đường, ở thành Lạc Dương có một ngôi chùa là Huệ Lâm Tự, nguyên là phủ đệ của Lý Đăng, do con của Lý Đăng là Lý Nguyên hiến tặng.
Khi có loạn An Lộc sơn, Lý Đăng cố thủ trong phủ không chịu hàng giặc, bị giặc bắt giết. Lý Nguyên là người rất giỏi âm nhạc, ca xướng, giao du rất rộng. Khi phụ thân chết, Lý Nguyên bi phẫn thề không làm quan, không lấy vợ, ăn chay trường, trú ở Huệ Lâm tự 50 năm, là một vị cư sĩ. Trong chùa có Viên Trạch thiền sư cũng giỏi âm nhạc; hai người là bạn tri kỷ, rất tương đắc.
Một hôm hai người định đi thăm núi Nga Mi và núi Thanh Thành ở Tứ Xuyên. Viên Trạch muốn theo đường bộ vào Tứ Xuyên, còn Lý Nguyên lại muốn đi thuyền từ Hồ Bắc ngược dòng vào Tứ Xuyên. Hai người ý kiến bất đồng, Lý Nguyên nói ;
-Tôi đã thề không làm quan, không dính dáng gì đến quan trường, nay sao lại phải đi qua Trường An ?
Viên Trạch nghe rồi than thở :
-Hành động của một người, thật không do mình định mà được.
Do đó theo ý Lý Nguyên, hai người dùng thuyền tiến về Hồ bắc. Khi thuyền đến Nam Phổ, nhân trời tối bèn cập bến. Từ thuyền nhìn lên bờ, hai người thấy một phụ nữ mặc áo hoa, vai vác bình xuống sông lấy nước. Viên Trạch nhìn bà ta bỗng rơi lệ :
-Tôi vốn không muốn đi đường thủy là sợ gập bà này.
Lý Nguyên không hiểu :
-Chúng ta trên đường đi gập nhiều phụ nữ, nhưng sao ông lại sợ bà này ?
-Bà này họ Vương là mẹ của tôi kiếp tới, tôi đã cố tránh nhưng cũng không thoát khỏi, nay đã gập còn trốn đi đâu ? Ông hãy lưu lại đây vài ngày đợi bà ta sanh, 3 ngày sau đến thăm, tôi sẽ cười với ông để chứng minh là thật. 13 năm sau vào đúng đêm Trung Thu ông nhớ đến thành Hàng Châu ở trước chùa Thiên Trúc, chúng ta sẽ lại có cơ hội gập nhau.
Lý Nguyên hối hận không cùng, chỉ đành gạt lệ giúp Viên Trạch thay đổi quần áo. Chiều hôm đó quả nhiên Viên Trạch qua đời. 3 ngày sau, Lý Nguyên đến nhà bà Vương xin gập đứa bé. Khi bế trên tay, đứa bé nhìn Lý Nguyên mà cười.
Lý Nguyên rơi lệ, thuật lại cho nhà họ Vương hay. Nhà họ Vương xuất tiền mai táng Viên Trạch ở dưới núi.
Lý Nguyên cũng không đi Tứ Xuyên nữa, trở về Lạc Dương. Khi về tới Huệ Lâm Tự mới hay Viên Trạch để lại di thư giao đồ đệ
đưa cho Lý Nguyên.
13 năm sau, Lý Nguyên đến trước cửa chùa Thiên Trúc chờ, chờ đến khi trăng lên bỗng nghe có tiếng ca. Nhìn ra thì thấy một đứa mục đồng khoảng mười mấy tuổi ngồi trên lưng trâu, tay cầm gậy trúc gõ sừng mà hát .
Lý Nguyên gọi :
-Trạch công, ông khỏe không ?
-Lý công quả đúng hẹn. Khổ cho ông từ xa lại; đáng tiếc tục duyên của ông hãy còn. Ông và tôi chẳng cùng đường, không tiện gập. Nếu ông tinh tấn tu hành, chúng ta may ra còn có cơ hội gập lại. Ông hãy bảo trọng.
Mục đồng nói rồi đánh trâu đi lối khác, vừa đi vừa hát. Tiếng ca càng lúc càng xa, không biết mục đồng đi về đâu ?
Lý Nguyên trở về Lạc Dương, sống ở Huệ Lâm Tự. 2 năm sau, có một vị đại thần làm tấu chương trình vua, Lý Nguyên là con trung thần, rất có hiếu xin vua ban chức. Vua chuẩn tấu phong Lý Nguyên làm Gián nghị đại phu, nhưng Lý nguyên đã chán hồng trần nên không chịu nhận chức. Ông mất năm 80 tuổi ở Huệ Lâm Tự.

(Nhân Quả Dữ Luân Hồi)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:45 PM | Message # 37
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
34.- TÔ ĐÔNG PHA.

Trong sách Xuân Chữ Ký văn ở đời Tống có chép : Tô Đông Pha và hòa thượng Đạo Tiềm là bạn thơ, một hôm cùng đi thăm chùa Thọ Tinh ở Tây Hồ. Đây là lần đầu tiên Tô Đông Pha đến đây. Khi đến trước phòng phương trượng, ông bỗng nhiên bảo Đạo Tiềm :
-Bình sinh tôi chưa tới đây, nhưng tôi thấy rất quen thuộc với chỗ này, phảng phất như đã sống ở đây. Không tin thì ông đếm thử xem, từ đây đến sám hối đường có 92 bậc.
Đạo Tiềm cho người đếm, quả không sai. Do đó, Tô Đông Pha nói đời trước ông là Tăng ở chùa này. Trong một bài thơ, ông cũng từng viết :
Kiếp trước, ta đã tới Hàng Châu
Mới đến mà như đã ở lâu !
Em của Tô Đông Pha là Tô Triệt bị biếm đến Cao An. Ở đây Tô Triệt kết bạn với thiền sư Động Sơn và một người đồng hương Tứ Xuyên là hòa thượng Tổng. 3 người thường họp nhau bàn chuyện về Thiền học. Một hôm thiền sư Động Sơn mộng thấy cùng Tổng hòa thượng và Tô Triệt, 3 người cùng ra thành nghênh tiếp Ngũ Tổ Giới thiền sư. Lúc tỉnh dậy, ông rất ngạc nhiên vì Giới thiền sư đã mất lâu rồi. Khi ông đang kể chuyện này cho Tô Triệt, thì Tổng hòa thượng xăm xăm đi tới. Tô Triệt đứng dậy đón :
-Động Sơn vừa nói mộng, chẳng lẽ hòa thượng cũng đến nói mộng ?
Tổng hòa thượng kinh ngạc :
-Chính vậy ! Hôm qua tôi nằm mộng thấy chúng ta 3 người cùng ngênh đón Ngũ tổ Giới hòa thượng.
Tổ Triệt cười bảo :
-Không ngờ trên đời lại có chuyện 2 người cùng chung một giấc mộng.
Không lâu, Tô Triệt được thư Tô Đông Pha cho biết đã ở Phụng Tân, chỉ cách Cao An độ nửa ngày đường.
3 người rất cao hứng cùng ra thành, đi khoảng 20 dậm tới Kiến Sơn Tự gập Tô Đông Pha. 4 người gập nhau vui vẻ truyện trò. Động Sơn và Tổng hòa thượng đều kể giấc mộng của mình cho Tô Đông Pha nghe. Tô Đông Pha bảo :
-Từ nhỏ, tôi đã nằm mộng thấy mình là tăng qua lại vùng Thiểm Tây. Nhưng như mọi người đã biết tôi vốn sinh trưởng ở Tứ Xuyên. Khi mẹ tôi mang thai tôi, có mộng thấy một ông tăng cao lớn, lại chột một mắt, đến xin tá túc, không lâu thì sinh ra tôi.
Thiền sư Động Sơn xác nhận :
-Ngũ tổ Giới hòa thượng là người Thiểm Tây, lại hỏng một mắt, sau có đến Cao An học Đại Ngu. Tính đến nay Giới hòa thượng đã viên tịch được 50 năm, đồng thời Đông Pha hiện giờ cũng đã 49 tuổi. Tô Đông Pha chính là Giới hòa thượng. Vì vậy 3 người chúng ta đến gập Tô Đông Pha, chính là gập Giới hòa thượng vậy.

(Tô Thức Thiền Học)
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:45 PM | Message # 38
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
35.- VƯƠNG MÃ TỬ.

Đời Thanh, ở Giang Tô, Dương Châu có một thương nhân là Trình Bá Lân rất tin tưởng bồ tát Quán Thế Âm. Một năm nọ, ở Dương Châu có loạn. Trình Bá Lân hết lòng cầu nguyện xin bồ tát phù hộ. Một hôm mộng thấy bồ tát Quán Thế Âm bảo ông :
-Cả nhà ngươi 17 người, thì 16 người đều được thoát nạn; riêng ngươi thì kiếp nạn khó tránh !
Trình thức dậy rất sợ lại cầu khẩn. Đêm đó lại mộng thấy bồ tát nói :
-Người kiếp trước giết Vương Mã Tử, chém hắn 26 đao. Kiếp này phải trả. Ngươi nên bảo mọi người tránh đi, còn ngươi ở lại chờ, tránh cho người nhà bị liên lụy.
Trình đối với giấc mộng rất tin, làm y lời bồ tát dặn. Năm ngày sau, quả nhiên một loạn binh đến nhà. Trình ra đón :
-Ông có phải là Vương Mã Tử không ? Tôi kiếp trước thiếu ông 26 đao; kiếp này phải trả lại. Ông hãy giết tôi đi.
Loạn binh nghe rồi rất ngạc nhiên :
-Ông làm sao biết được tên tôi ?
Trình bèn kể lại 2 giấc mộng. Loạn binh nói :
-Kiếp trước ông giết tôi, kiếp này tôi lại giết ông, oan oan tương báo bao giờ mới dứt ? Thôi đi ! Tới đây là ngưng !
Nói rồi lấy sống dao khẻ vào người Trình 26 lần.

(Nhân Quả Dữ Luân Hồi)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:46 PM | Message # 39
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
36.- HÀM HUY Hòa Thượng.

Ở chùa Quán Âm tỉnh Chiết Giang có một hòa thượng pháp danh Hàm Huy vào khoảng 40 tuổi. Ông là một người giữ giới luật rất nghiêm. Một hôm đi tản bộ ngang qua một tiệm bán thịt chó. Nhà hàng đang làm món chả chìa, nướng thịt trên bếp than hồng. Mùi thịt nướng thơm lừng. Hòa thượng ngửi thấy thèm rỏ rãi, có cảm giác khoái cảm như ăn thật. Ông về chùa rồi, toàn thân nóng hổi, trên người mọc lên 18 cái nhọt đau không chịu được. Nếu có người nhìn vào nhọt thì cơn đau liền dứt. Nếu dấu không cho người xem thì đau buốt đến tận xương tủy, hình như sinh nhọt này ra để cảnh giới người đời vậy. Đã đi chữa chạy nhiều danh y, nhưng ai cũng lắc đầu chào thua. Tự biết kiếp trước đã tạo nên tội nghiệp, ông quỳ trước bàn thờ Phật tụng kinh, hết lòng sám hối. Một hôm nằm mộng thấy 18 binh sĩ cụt đầu bảo ông :
-Ông có nhận ra chúng tôi không ?
-Không nhận ra.
-Dưới trào Kim, ông là lãnh binh, chúng tôi là binh sĩ dưới quyền ông. Ông sai chúng tôi canh giữ một ngọn núi. Trong bọn có 2 người không giữ kỷ luật, cưỡng gian một thiếu phụ. Bà ta mách chồng, chồng bà thưa kiện lên ông. Đáng nhẽ ông điều tra, phạt 2 người phạm pháp là phải. Nhưng ông không hỏi han gì lập tức ra lệnh chém đầu cả 18 người chúng tôi. Mối oan đó không thể không báo. Chúng tôi tìm ông đã 200 năm rồi, đến giờ mới gập lại. Nhưng vì ông giữ giới nên có thần hộ pháp bảo vệ, không xâm phạm được. Nay ông thấy thịt chó động niệm muốn ăn là phá giới; không có thần bảo hộ nên chúng tôi mới xâm nhập được. Ngày nay ông tụng kinh cầu giải oan nên chúng tôi hoãn cho ông 3 năm, sau sẽ đến lấy mạng.
Từ đó các nhọt không làm đau nữa. Ba năm sau quả nhiên hòa thượng Hàm Huy qua đời.

(Nhân Quả Dữ Luân Hồi)
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:46 PM | Message # 40
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
37.- NHAN THÁI Phu Nhân.

Đời Thanh, Nhan Thái phu nhân là mẹ Nhan Tịnh Phủ, tánh tình nhân từ, dạy con nên người. Tịnh Phủ làm tri huyện Bình Độ, thanh liêm, chính trực. Nhan phu nhân ở cùng với con, thường dạy con phải thương yêu dân chúng.
Một năm nọ, Tịnh Phủ có việc phải lên tỉnh. Bỗng nhiên trong huyện có nạn lũ lụt, trời mưa như đổ nước, các nhà ngoài thành đều ngập nước. Dân chúng tràn vào thành cả vạn người, lương thực không có, kêu khóc vang trời. Tuy huyện có kho gạo dự trữ, nhưng muốn mở kho cứu tế thì phải xin phép cấp trên ở tỉnh. Quan huyện lại đi vắng, các viên chức không biết phải làm sao. Nhan phu nhân chủ trương mở kho để cứu tế, nhưng các viên chức sợ trách nhiệm không dám. Phu nhân bảo họ :
-Các ông cứ mở kho cứu tế, có gì tôi xin chịu trách nhiệm. Hơn nữa, nhà tôi cũng khá giả, nếu quan trên quy trách, tôi sẽ bán hết gia tài để bồi hoàn.
Các viên chức vẫn ngại lôi thôi, không nghe. Phu nhân lại nói :
-Kho dự trữ là dùng để cấp cứu những trường hợp khẩn cấp. Nay không dùng thì còn đợi đến bao giờ ? Nếu các ông chờ xin phép ở trên tỉnh thì dân chúng đã đói rã họng ra rồi. Nếu có chuyện, tôi một mình gánh chịu, các ông không sợ bị liên lụy.
Quan viên thấy Nhan phu nhân nói chắc như đinh đóng cột bèn phải theo, mở kho phát gạo cho dân chúng, tiếng hoan hô vang trời.
Các nhà giầu trong huyện cũng theo gương phu nhân mang gạo ra giúp. Quá 7 ngày, nước rút đi, kho gạo cũng đã phát hết. Lúc đó quan huyện trở về, nghe thuộc hạ báo cáo mặt đầy sắc vui :
-Mẫu thân ta bảo các ngươi làm đúng lắm.
Lại sai người về bán tài sản và viết tờ trình lên tỉnh. Trên tỉnh nhận được tin kinh sợ, bèn tâu lên vua xin giáng chức Tịnh Phủ để điều tra vì đã phạm luật. May nhờ vua Càn Long anh minh nên xuống chiếu Tịnh Phủ không phải bồi hoàn lại còn ban cho mẹ con Tịnh Phủ một tấm biển khen.
Nhờ ơn vua, Tịnh Phủ càng ra sức làm việc thiện. Con cháu về sau có nhiều người làm đến Tuần vũ, Án sát, Đô đốc, toàn là nhờ âm đức của Nhan phu nhân vậy.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:46 PM | Message # 41
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
38.- Cha Phóng Sinh, Con Thoát Nạn.

Lâm Tra Mỗ, chủ tiệm tạp hóa Ích Nguyên ở Kim Bao Lý là một người nhân từ, thích làm việc thiện. Một hôm thấy dân chài bắt được một con rùa nặng gần 500 cân, liền lại gần xem thấy nó vươn cổ, gục đầu 2 mắt nhỏ lệ như van xin thì động lòng trắc ẩn, bỏ tiền ra mua để phóng sinh. Lại sợ dân chài lại bắt làm thịt nữa, nên sai khắc hai chữ Ích Nguyên hiệu phóng sinh trên mai rồi mới thả xuống biển. Trước khi lặn xuống nước nó còn quay lại nhìn Lâm lão khấu đầu 3 lần. Dân chài cảm động vì lòng nhân của Lâm lão và linh tánh của con rùa này đều thề nếu có gập nó cũng sẽ không bắt làm thịt.
Chuyện xảy ra đã 16 năm rồi, Lâm Thanh Kỳ là con thứ của Lâm lão, là sinh viên đại học Đài Bắc nhân được nghỉ bèn đáp tầu về thăm nhà. Nào ngờ tai nạn xảy ra, tầu bị đắm. Lâm Thanh Kỳ khi rơi xuống nước, bị sóng nhận chìm trong lòng sợ hãi đến ngất đi. Một lúc sau tỉnh lại thấy mình nằm ngửa nhìn lên trời xanh, có vật gì đỡ lưng bèn xoay người lại thì thấy mình nằm trên lưng một con rùa to như một cái bàn, trên mai có khắc chữ Ích Nguyên hiệu phóng sinh. Liền nhớ lại chuyện cũ, bố mình có phóng sinh một con rùa lớn. Bèn vui mừng hai tay ôm chặt mai rùa, miệng không ngớt niệm Phật. Con rùa bơi vào bờ đến chỗ nước cạn, đợi Thanh Kỳ bò xuống. Thanh Kỳ chắp tay bái tạ, con rùa cũng gật đầu như đáp lễ rồi mới từ từ lặn xuống nước.

(Nhân Quả Báo Ứng Thực Lục)
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:47 PM | Message # 42
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
39.- Mượn Thây Hoàn Hồn.

Năm Dân quốc 50, nhân Tinh Vân pháp sư được mời đến Hổ Vĩ giảng kinh, chúng tôi (nữ ký giả Lý Ngọc của báo Kim Nhật Phật Giáo) cùng vài vị cư sĩ tháp tùng đến Hổ Vĩ. Khi pháp sư giảng kinh thì chúng tôi đến thăm ni sư Trí Hạo ở Mạch Liêu. Mạch Liêu là một địa phương ở ven biển, giao thông không tiện lợi, lại không có thắng cảnh nào để xem. Chúng tôi đến thăm ni sư Trí Đạo ở Tố Vân Tự rồi, định trở về Hổ Vĩ, thì vị trụ trì mời ở lại độ ngọ. Trong khi trò chuyện thì vị Hứa cư sĩ có kể cho nghe chuyện mượn xác hoàn hồn, xẩy ra vài năm trước ở Mạch Liêu. Những người trong chuyện không nói, thành ra chỉ có người ở Mạch Liêu biết mà thôi. Những người ở vùng khác có nghe cũng không tin cho là chuyện thần kỳ quái đản không thể tin được.
Nghe xong chuyện chúng tôi quyết định sau khi thọ trai sẽ đến phỏng vấn những người trong chuyện.
Nhân vật trong chuyện là ông Ngô Thu Đắc, ở số nhà 95 đường Trung Sơn, chủ một tiệm bán vật liệu xây cất. Khi mới gập ông có vẻ không vui, sau vài lần hỏi han, ông mới chịu thố lộ :
-Năm Dân quốc 48, tôi có tham gia việc xây cất ở Hải Phong Đảo, khi làm việc tôi ít về nhà. Khi tôi đi thì bệnh nhà tôi đã đỡ, nhưng rồi bệnh càng ngày càng nặng, tinh thần không bình thường. Chúng tôi định đưa bả đi Dưỡng trí viện. Hai ba người định lôi bà đi, nhưng bà kháng cự lại, và còn nói :
-Tôi không điên, đừng đưa tôi đến Dưỡng trí viện. Tôi là Chu Tú Hoa, người Kim Môn, mượn thây hoàn hồn đó.
Vợ tôi chính tên là Lâm Cương Yêu mà bà lại nói cái gì là Chu Tú Hoa. Tôi không tin là thân bà đã bị một hồn khác chiếm cứ. Nhưng khẩu âm của bà thì đổi khác. Khi ở Hải Phong đảo, mỗi khi đạp xe về nhà, tôi cảm thấy trên vai như nặng hơn, nhưng tôi nghĩ có lẽ là do đường không tốt, nên không để ý. Sau này tôi mới biết là do cô gái ở Kim Môn ngồi sau xe cùng tôi về nhà.
Nói tới đây, ông kết thúc và đi pha trà mời khách. Hứa cư sĩ là người kể chuyện và dẫn chúng tôi đến đây ra ngoài tìm Chu Tú Hoa. Khi ông Ngô đi pha trà thì cháu vợ ông, một thanh niên khoảng 20 tuổi bảo :
-Khi dì ba tôi bị bệnh, tôi giúp dượng ba săn sóc dì. Có lúc dì khóc, có lúc lại lẩm bẩm nhưng chúng tôi không hiểu dì nói gì ? Có lúc dì nhỏm dậy chúng tôi cố ghì dì xuống nhưng không thể được mà còn bị dì xô ra. Một người phụ nữ không thể nào khỏe như thế, có lẽ dì có bạn giúp sức. Khi chúng tôi biết dì là người khác thì chỉ đành để dì dưỡng bệnh. Mới đầu dì dường như không quen. Khi dượng ba tôi kêu dì là A Cương thì dì bảo :
-Tôi tên Chu Tú Hoa, không phải là A Cương.
Khi bà ngoại và dì hai tới, dì cũng không nhận ra.
-Tôi không biết các người, các người là ai ?
Dĩ nhiên là hàng xóm của chúng tôi dì cũng đều không nhận ra. Nói đến đây, cậu liếc mắt vào bên trong sợ ông cậu đi ra, hạ giọng kể :
-Dượng ba là một người có trách nhiệm với gia đình, nhưng với dì ba cũ (Lâm Cương Yêu) không hợp. Tuy nhiên ông không có lăng nhăng với bà nào khác. Khi ông làm việc ở Hải Phong Đảo có nhiều công nhân nói thấy bên cạnh ông luôn có người con gái. Lúc tán gẫu thường đem chuyện này ra nói, khen ông có số đào hoa. Mỗi lần dượng nghe nói, đều phủ nhận, nhưng chẳng ai tin.
Cậu lại thêm :
-Làm công việc xây cất thường hay xẩy ra tai nạn, không lớn thì nhỏ khiến công nhân bị thương. Nhưng lần làm việc ở Hải Phong đảo này thì rất thuận lợi, như là có người phù hộ.
Lúc đó ông Ngô bưng trà ra mời khách. Cậu cháu nói :
-Nói quý vị không tin, nhưng khi dì hơi khỏe, nói có khách đến chơi, bảo chúng tôi lấy ghế và đốt thuốc. Chúng tôi chỉ thấy dì cười cười, nói nói và ghế tre có tiếng cọt kẹt như có người ngồi trên di động vậy. Ít lâu sau thì không có khách nào tới thăm nữa. Khi dì hoàn toàn khỏe mạnh rồi thì dì thay đổi hẳn. Lúc trước, thịt cá gì dì cũng ăn, nhưng giờ thì hoàn toàn ăn chay. Lúc trước, thổi cơm, làm bếp là công việc của dì nay dì không làm nữa, nói là không biết. Nhưng những việc khác thì dì làm được cả. Lúc trước dì mù chữ, nay có thể coi việc sổ sách, làm ruộng, làm những việc nặng nhọc đều được cả.
Cậu lại chỉ lên bàn thờ Phật :
-Lúc trước, dượng tôi chỉ thờ cúng ông bà, nay dì mới xin thờ Phật.
Tới đây thì Hứa cư sĩ đi tìm Chu Tú Hoa về, ông nói :
-Cô ấy không chịu về, chỉ khóc.
Tôi cùng một chị bạn bèn ra ngoài mời; khi chúng tôi tìm đến thì cô đang đứng dựa vào cột, 2 mắt nhắm lại, 2 dòng lệ chẩy dài xuống má. Tôi nghĩ cô đứng đây khóc đã lâu. Chúng tôi đến an ủi và mời cô về nhà. Có lẽ chúng tôi đến phỏng vấn khiến cô nhớ đến
Kim Môn nên bị cảm xúc. Hôm đó cô chỉ cho chúng tôi biết sơ lược cô tên Chu Tú Hoa, sống ở Kim Môn, cha cô là Chu Hải Thanh, mẹ cô là Sái Diệp. Năm đó cô 18 tuổi, vì Kim Môn bị pháo kích, lúc hỗn loạn cùng nhiều người khác xuống thuyền đánh cá ra khơi lánh nạn. Về sau vì thuyền mất phương hướng, hết lương thực, nước uống, nhiều người chết đói, chết khát. Sau thuyền trôi đến Đài Tây, được lay tỉnh nhưng ngư phủ đoạt hết tiền bạc trên thuyền rồi xô cô xuống biển. Nói tới đây, cô ôm mặt khóc chạy vào trong nhà. Chúng tôi định hỏi thêm nhiều nữa nhưng không tiện, đành cáo từ ra về, hẹn lần sau sẽ đến tặng cô một chưỗi tràng hạt. Khi đưa chúng tôi ra bến xe, Hứa cư sĩ kể thêm :
-Gia đình ngư phủ cướp của giết người đó, không lâu theo nhau mà chết, chỉ còn lại một đứa con bị bệnh thần kinh. Khi Chu Tú Hoa khỏe mạnh rồi, có người dẫn đứa nhỏ bị bệnh thần kinh ấy đến gập Tú Hoa. Thực lạ, Chu Tú Hoa ngăn không cho vào nhà, lại mắng :
-Người nhà mày hại tao chưa đủ à ? Mày còn đến đây làm tao thương tâm nữa sao ?
Lúc trước Lâm Cương Yêu chưa bao giờ đến Đài Tây, và đứa trẻ điên đến nhà cũng không ai biết trước, vậy mà Tú Hoa lại biết.
Mấy tháng sau, nhân Năng cư sĩ đến Hổ Vĩ để dạy các liên hữu xướng Phật tán, chúng tôi lại theo cư sĩ đến Mạch Liêu. Năng cư sĩ đã từng ở Kim Môn một khoảng thời gian, cho nên ông biết nhiều về phong tục, tập quán, kiến trúc ở Kim Môn. Hôm đó trời mưa phùn nên khi đến nhà Chu Tú Hoa thì cô ở nhà không ra làm ruộng. Vì nhóm chúng tôi có vài người nên cô hơi do dự mãi mới chịu ra. Gập chúng tôi cô gật đầu mỉm cười. Chúng tôi đưa tặng cô sâu chuỗi rồi nói chuyện gẫu. Vì có kinh nghiệm lần trước nên chúng tôi chỉ nói về Phật sự. Chu Tú Hoa nói :
-Từ nhỏ tôi đã tin Phật, ăn trường chay. Bây giờ dù bận mấy, sớm chiều tôi đều lễ Phật. Tôi biết Phật nói không sai. Mọi người phải làm việc lành, đừng làm việc ác, làm ác sẽ bị ác báo.
Tôi đã nghe nhiều người nói cô chăm lễ Phật, có lẽ cô được sống trở lại cũng là do nguyên nhân này. Tôi nhân cơ hội hỏi :
-Cô nói cô tin Phật, vậy ở Kim Môn có niệm Phật đường không?
-Tôi không biết, nhưng nhà tôi có thờ Phật, tôi chỉ lễ Phật ở nhà.
-Bây giờ cô còn nhớ chuyện gì ở Kim Môn không ?
Cô thở dài :
-Nhớ thì nhớ được, nhưng chuyện qua rồi còn nhắc lại làm gì ?
-Nếu có người tìm giùm cha mẹ cô thì cô có chịu không ?
-Đương nhiên, nhưng mà ai giúp tôi, nhưng dù có giúp sợ rằng cha mẹ tôi cũng không nhìn ra tôi. Thân tôi bây giờ không phải là thân tôi khi lìa Kim Sơn.
Nói tới đó mắt cô đỏ lên, nhưng cô giữ không khóc. Tôi chỉ Năng cư sĩ ngồi bên cạnh :
-Đây là Năng cư sĩ, ông cũng tin Phật, đã từng ở Kim Môn, ông hãy còn nhiều bạn bè ở đấy, có thể giúp cô dò hỏi tin tức. Như quả tìm ra cha mẹ cô thì cô có nhận ra họ không ?
-Đương nhiên rồi ! Nhưng lúc đó cô có dám theo tôi tới Kim Môn không ?
Cô hỏi lại và đợi tôi trả lời.
-Dám chứ.
(Về sau, ông Ngô có nhờ bạn đến Kim Môn dò tìm tin tức song thân Chu Tú Hoa theo địa chỉ cô nói, người bạn về cho biết quả có gia đình Chu Thanh Hải thật, nhưng sau khi cộng quân pháo kích thì toàn gia đã thất tích. Do đó Chu Tú Hoa không cách gì về Kim Môn nhận người thân nữa).
Tôi lại nhân cơ hội hỏi cô khi lìa Kim Môn như thế nào ? Cô nói :
-Sự tình phát sinh năm đó, tôi không biết là năm nào. Lúc đó tôi 18 tuổi, có người nói quân đội định rút lui, do đó dân chúng đều đổ xô xuống thuyền đánh cá để trốn. Tôi cũng theo người ta xuống thuyền.
-Cha mẹ cô không đi cùng sao ?
-Không ! Vì lúc đó rất hỗn loạn, cộng quân pháo kích, nhà chúng tôi là nhà buôn bán, không có thuyền, tôi theo mọi người xô đẩy mà xuống thuyền, lạc cha mẹ không ngờ lại là vĩnh biệt. Bữa đó cộng quân pháo kích rất dữ, mọi người xuống thuyền cũng chẳng biết đi đâu. Bình thời dân chài cũng chỉ đánh cá ven bờ. Khi ra biển lớn chẳng biết phương hướng gì, về sau cứ mặc cho sóng biển đưa
đẩy. Qua bao ngày, nhiều người chết đói, chết khát. Một hôm thuyền trôi đến hải đảo, có một thuyền ngư dân cập vào. Có người phát hiện ra tôi, họ lay tôi tỉnh lúc đó tôi mới biết đã đến Đài Tây của Đài Loan. Họ hỏi tôi nguyên nhân ra biển. Tôi kể thật cho họ hay, về sau . . .
Nói tới đó cô thổn thức không ra lời. Tôi bèn góp lời :
-Nghe nói họ cướp tiền của cô, lại xô cô xuống biển. Về sau cả nhà họ bị chết, chỉ còn lại một đứa con dở điên, dở khùng có phải không ?
-A! thì ra cô đã nghe nói rồi ! Sự thực không phải vậy. Tiền của không phải hoàn toàn của tôi, tôi chỉ có một phần, còn là của tất cả những người trên thuyền. Họ cướp tiền và cả nhà họ chết là sự thực. Tôi tuy thấy họ không có lương tâm, nhưng tôi là người tin Phật, tôi không muốn kết oán thù. Đó là những người cùng thuyền bất bình mà thôi.
-Trước khi cô đến ở nhà ông Ngô thì cô ở đâu ?
-Tôi ở Hải Phong Đảo, chỗ đó cây xanh, biển xanh đẹp lắm.
-Cô có thích chỗ đó không ?
-Thích, tôi ở đó ít lâu. Khi bị ném xuống biển thì hồn du Hải Phong đảo, quanh quẩn ở đó chừng 10 ngày thì bị Trương Lý Mạc Tam Phủ Vương Bang thâu làm môn hạ. Vương Bang công cho biết thọ mạng của tôi chưa hết, có thể mượn thây của vợ Ngô Thu Đắc để hồi dương, hãy tạm trú ở Vương Bắc miếu. Không lâu, may gập Ngô Thu Đắc đến Hải Phong Đảo làm việc, liền theo Ngô Thu Đắc. Khi Ngô Thu Đắc làm xong việc về nhà nhà bèn về theo chờ cơ hội. Được vài hôm Lâm Cương Yêu bệnh tình trầm trọng, hồn về Ly hận thiên, tôi liền thừa cơ mượn thây hoàn hồn. Nhưng mượn thây không phải là dễ. Để vào nhục thể người khác là một việc rất khổ não, may có Vương bang công giúp đỡ, khoảng 20 ngày sau mới hoàn thành.
-Cảm giác cô lúc ấy thế nào ?
-Rất tự nhiên, nhưng không được quen mấy (ám chỉ lúc trước là một thiếu nữ, nay là phụ nữ có chồng).
-Mạch Liêu so với Kim Môn như thế nào ?
-Kim Môn toàn nhà gạch, đường xá ngay hàng thẳng lối, chứ không lộn xộn như ở đây, cái thò ra, cái thụt vào.
Năng cư sĩ đồng ý với những gì cô nói, theo như ông tính thì đó là năm Dân quốc 43. Nhiều người thấy quân đội vận chuyển súng đạn đi tưởng quân đội rút lui, nên xuống thuyền di tản.
Lần trước chúng tôi đã biết ông Ngô đối với vợ cũ (Cương Yêu) không hợp lắm, nay đối với Tú Hoa thì rất hợp. Cô săn sóc con của Cương Yêu như con mình vậy. Hơn nữa từ khi Tú Hoa đến nhà, gia cảnh càng ngày càng khá hơn. Cô vốn quen buôn bán nên cô bảo buôn bán thứ gì, không buôn bán thứ gì đều đúng cả.
-Cô ở Mạch Liêu gần 2 năm đã quen chưa ?
-Cô nghĩ coi, tôi ở căn nhà cũ có quen không ? Không những thế còn phải chăm sóc con cái, làm việc nhà . . . Lúc chưa đến đây tôi còn là con gái, nay là vợ là mẹ người ta. Tôi từng bảo ông Ngô để tôi ở Niệm Phật đường, nhưng ông không chịu.
-Nghe nói mẹ chồng và các con đều khen cô.
-Đúng rồi ! Họ đối xử tốt với tôi, làm sao tôi không tốt với họ cho được ?
Cô đỏ hồng đôi má. Nếu tính tuổi thì cô mới chừng mười mấy đôi mươi lại có con sấp sỉ cùng tuổi kêu mẹ, thật khó mà quen. Lúc từ biệt ra về, tôi cầm tay cô :
-Mọi người đối với cô tốt, cô cũng nên quên đi chuyện cũ. Phật giáo nói tất cả đều là nhân duyên. Cô và Ngô gia có duyên, vì vậy mới từ nơi xa xôi là Kim Môn mà tới đây chung sống.
Cô gật đầu.
-Hơn nữa, mỗi ngày cô đều niệm Phật. Dù ở đâu cũng thế thôi, cần gì phải ở Niệm Phật đường. Phật giáo chủ trương lợi tha rồi mới cầu tự lợi. Cô vì gia đình họ khó nhọc là làm công đức đấy.
Cô im lặng nghe. Tôi lại thêm :
-Nếu cô thích đến Niệm Phật đường thì khi nào rảnh tôi sẽ dẫn cô đến Hổ Vĩ. Hy vọng từ đây cô an tâm không còn thấy khổ não nữa.
Cô cảm kích nắm tay tôi cảm tạ.
Khi từ biệt thì Ngô Thắng Ngạn, con trai của ông Ngô Thu Đắc đưa chúng tôi ra bến xe. Vừa đi tôi vừa hỏi anh nghĩ gì về mẹ anh. Anh nói :
-Mẹ tôi sanh trưởng ở Mạch Liêu, chưa hề đi Đài Tây hay Kim Môn bao giờ. Khi khỏi bệnh trở thành một người khác. Sự thực tôi không tin. Tuy xác thân là mẹ nhưng bà cương quyết không nhận là Cương Yêu, thân bằng quyến thuộc bà đều không nhận biết. Tôi thật không biết sao.
-Bây giờ thì sao ?
-Dĩ nhiên tôi vẫn kêu bà là mẹ.
-Anh có tin chuyện mượn xác hoàn hồn không ?
-Lúc trước thì tôi không tin, nhưng khi tham dự trại họp bạn Hướng Đạo ở Phi Luật Tân, trong đoàn có một anh người Kim Môn, có giọng nói y hệt khi mẹ tôi khỏi bệnh. Do đó, tôi tin bà là người Kim Môn.

(Nhân Quả Dữ Luân Hồi)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:47 PM | Message # 43
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
40.- BẠCH KHỞI.

Đời Chiến quốc, Bạch Khởi là danh tướng nước Tần, đánh trận rất giỏi được Chiêu Tương Vương trọng dụng. Võ công hiển hách, đánh chiếm hơn 70 thành trì được phong là Võ An Quân. Một lần Bạch Khởi đánh với tướng nước Triệu là Triệu Quát ở Trường Bình. Ông trá bại rút lui, rồi dùng kỳ binh cắt đứt đường tiếp tế của địch, bắn chết Triệu Quát. Quân Triệu hơn 40 vạn người đều xin hàng. Bạch Khởi nhận định hàng binh có thể phản lại lúc nào không biết, bèn đem giết sạch. Cả nước Triêu rúng động, kinh hãi. Nhiều năm sau, Tần quốc lại sai tướng khác đi đánh Triệu nhưng bị thất bại. Vua Tần lại sai Bạch Khởi đi đánh. Bạch Khởi cáo bệnh kháng chỉ. Vua nổi giận lột tước Võ An Quân và ban cho một thanh gươm bắt tự sát. Bạch Khởi than :
-Ta phạm tội ác gì chớ ?
Sau một lúc ngẫm nghĩ lại nói :
-Trong trận đánh ở Trường Bình ta đã giết nhiều tù binh, quả thật tội đáng chết !
Nói rồi rút gươm tự tận !

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 06 Apr 2012, 5:47 PM | Message # 44
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
41.- LƯU HỶ.

Lưu Hỷ người tỉnh Giang Tô là con nhà giầu, chẳng có nghề ngỗng gì, nhưng vẫn sống phong lưu. Tuy đã có vợ, có con nhưng thấy gái đẹp thì vẫn muốn. Nhà hàng xóm có một cô người làm nhan sắc cũng mặn mà yểu điệu. Lưu Hỷ trông thấy động lòng, thường tìm cách thân cận tán tỉnh. Lâu rồi, hai người phát sinh tình cảm dẫn tới thân mật. Lưu Hỷ thường lén lút tới phòng cô ân ái. Một hôm sau cuộc mây mưa, ông mệt quá không về nhà mà ngủ lại. Nửa đêm, chuột làm đổ đèn dầu gây nên hỏa hoạn. Cô nhân tình lay ông tỉnh dậy :
-Chạy mau ! Chạy mau !
Ông còn ngái ngủ, nghe bảo chạy nghĩ rằng có người đến bắt gian, nên thay vì chạy ra ngoài cửa thì lại chạy ngược lại, trốn vào trong. Cuối cùng bị chết cháy.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 08 Apr 2012, 4:06 PM | Message # 45
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
42.- Ma Giả.

Một hôm Lệ Thư nghe tin báo mẹ bị bệnh nặng; chồng lại đang bận việc không thể đưa về thăm mẹ ở làng bên. Đêm đó không trăng, Lệ Thư một mình về nhà mẹ. Khi đi được nửa đường bỗng nhiên phát hiện đằng sau có người đàn ông đuổi theo, coi bộ định làm ẩu. Nhưng đang đêm ở nơi hoang vắng bốn phía không người, không thể kêu cứu, biết làm sao đây ?
Trong lúc thập phần nguy cấp Lệ Thư vội bỏ đường chính chạy ngang vào vùng mộ địa. Cô ẩn mình ở cây Bạch dương, lấy dây lưng buộc mình vào cành cây, thả tóc xõa xuống, 2 tay buông xuôi, mắt trợn tròn, lưỡi thè ra thật dài. Gã đàn ông đuổi theo Lệ Thư tới trước phần mộ nhìn thấy người đàn bà xõa tóc lủng lẳng trên cây, sợ quá xoay mình chạy mất. Lệ Thư cũng vội leo xuống, chạy thục mạng về nhà mẹ. Cha mẹ thấy Lệ Thư hớt hải chạy về bèn gạn hỏi. Lệ Thư thuật lại đầu đuôi câu chuyện.
Hôm sau, trong làng có tin đồn con trai một gia đình nọ gập ma phát cuồng, nói năng lảm nhảm, bảo bị ma nhát. Người nhà mời thầy chữa chạy, xin bùa, làm phép đủ cả chẳng ăn thua gì, gã bị điên luôn.

(Nhân Quả Báo Ứng)
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 08 Apr 2012, 4:07 PM | Message # 46
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
43.- Tri Huyện VƯƠNG BÁ DƯƠNG.

Đời Thanh, Vương Bá Dương là tri huyện Thượng Hải. Lúc đó giặc cướp nhiều như rươi. Vương triêu mộ tráng đinh lập một đoàn bắt cướp. Cầm đầu nhóm là hai cha con Chu mỗ, có võ nghệ lại dõng cảm. Một hôm, tuần tra bắt được 12 nghi phạm, trên thuyền có cả ngàn lạng; bèn giải về huyện. Nào ngờ 12 nghi phạm đều cương quyết phủ nhận. Họ khai là lái buôn muối, tiền bạc trên thuyền là tiền bán muối chứ không phải là tiền trộm cướp. Tri huyện thấy họ không chịu nhận tội, tức giận sai đánh đòn thật nặng bắt phải nhìn nhận. Ngày hôm sau, Chu mỗ lên thuyền các nghi phạm để mang tang vật về huyện, bỗng bị một luồng cuồng phong nổi lên thổi bay xuống nước, xoáy tròn rồi nhận chìm. Vương tri huyện vẫn chưa giác ngộ Chu mỗ vì bắt láo dân lành nên bị ác báo, vẫn phán 12 can phạm là có tội, xử chém đầu. Thượng cấp nhận định Vương Bá Dương bắt cướp có công, bèn cho thăng chức. Nào ngờ 2 ngày sau, Vương bị bạo bệnh mà qua đời. Lúc sắp chết còn thấy các oan hồn đến đòi mạng.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 08 Apr 2012, 4:07 PM | Message # 47
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
44.- Vợ TẦN Tiên Sinh.

Lưu Đạo Nguyên vốn là tri huyện Bồng Khê, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, sau từ quan về quê. Một hôm đến thăm bạn là Tần tiên sinh, ngủ lại ở nhà bạn một đêm. Đêm đó nằm mộng thấy một phụ nữ đến khóc lóc với ông :
-Tôi là vợ cả của Tần tiên sinh, lúc sanh tiền mưu sát vợ lẽ của chồng. Khi chết bị đọa làm dê cái. Hiện ở chuồng dê. Sáng mai Tần tiên sinh sẽ sai người làm thịt tôi để đãi ông. Tôi chết cũng không đáng tiếc, nhưng còn con dê con trong bụng vì tôi mà bị giết càng khiến cho tôi thêm tội. Xin ông giúp giùm .
Lưu Đại Nguyên tỉnh dậy, đem chuyện nằm mộng kể cho Tần tiên sinh hay, không may con dê đã bị làm thịt rồi. Tần tiên sinh bi thương, vỗ xác dê mà khóc thảm thiết. Cả nhà không ai nỡ ăn thịt dê, bèn đem chôn nơi đồng vắng.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 08 Apr 2012, 4:07 PM | Message # 48
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
45.- Thấy Chết Không Cứu.

Mùa xuân năm Dân quốc 15, ở tỉnh Chiết Giang có một phú ông, nhà hàng xóm bị cháy, cửa trước bị lửa cháy ngăn đường ra, phía sau có bức tường giáp vách với nhà phú ông. Cả nhà kêu cứu thảm thiết. Con cháu phú ông muốn mở cửa hông để cứu họ, nhưng phú ông không cho :
-Hiện nhà mình chỉ nhờ bức tường ngăn đám cháy. Nếu mở cửa ra thì lửa sẽ luồn sang, đốt luôn nhà mình thì sao ? Không được, không thể mở cửa được !
Do đó, mọi người chỉ ngồi nhìn, không cứu. Một lát sau, không còn nghe tiếng kêu cứu nữa. Cả nhà hàng xóm 7 mạng đều bị thiêu trong biển lửa.
Ngay mùa hè năm đó, phú ông bị ngã mà chết. Ít lâu sau, con cái trong nhà đều nằm mộng thấy phú ông về thảm thiết bảo :
-Ta vì thấy chết không cứu, bị âm ty bắt đầu thai làm heo. Trong một thôn của Lâm An, ở nhà Triệu A Bảo, có một con heo nái đẻ ra một bầy con trong đó có một con bị què chính là ta đó.
Con cái phú ông tìm đến nhà Triệu gia gập Triệu A Bảo, A Bảo nói :
-Tối qua, con heo nái nhà tôi có sinh ra một lứa 7 heo con, trong đó quả thật có một con bị què.
Bèn đem ra trao cho con phú ông mang về nuôi dưỡng. Chuyện này là do chính bạn của phú ông kể nên xin được dấu tên.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 08 Apr 2012, 4:08 PM | Message # 49
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
46.- SỬ Tiên Sinh.

Sử tiên sinh người Hiển huyện, Hà Bắc tánh tình hào hiệp ngay thẳng, không câu nệ tiểu tiết, được mọi người yêu mến, kính trọng. Một hôm Sử tiên sinh trên đường về nhà đi qua một thôn nọ, thấy hai vợ chồng nông dân còn trẻ ôm nhau khóc lóc rất thảm thiết. Sử hỏi :
-Các người có chuyện gì mà khóc lóc thương tâm như vậy ?
Nông phu đáp :
-Tôi thiếu tiền một nhà phú hộ, không có tiền trả, phải bán vợ cho người ta. Hai vợ chồng tôi rất thương yêu nhau, hơn nữa con còn nhỏ cần sữa mẹ. Hiện nay gia đình sắp phải ly tán. Vợ lìa chồng, mẹ xa con không thương tâm sao được ?
-Anh thiếu nợ bao nhiêu và bán vợ được bao nhiêu ?
-Tôi thiếu nợ 30 lạng và bán vợ được 50 lạng.
-Có tiền có thể mua lại vợ anh không ?
-Khế ước đã làm, nhưng tiền chưa trao, đương nhiên có thể chuộc lại.
Sử nghe xong không do dự lấy ra 70 lạng trao cho nông phu.
-Anh hãy lấy 30 lạng trả nợ, còn 40 lạng giữ lại làm vốn buôn bán không cần phải bán vợ nữa.
Hai vợ chồng nông phu cảm kích, mời Sử vào nhà làm cơm khoản đãi. Uống vài ly rượu rồi chàng nông phu ghé tai vợ nói nhỏ :
-Tôi bế con ra ngoài, mình ở lại ngủ với ông ta một đêm.
Nói rồi, mời Sử cứ ăn uống tự nhiên, mình có việc phải ra ngoài. Sử thấy nông phu đi ra, không tiện ở lại cũng đứng lên cáo từ. Thiếu phụ bèn nắm tay ông thỏ thẻ :
-Sử tiên sinh cứu giúp cả gia đình thiếp, đại ân đại đức không biết lấy gì báo đáp. Đêm nay hãy lưu lại đây, thiếp xin hầu hạ chăn gối.
Đối diện với thiếu phụ mơn mởn, gái một con trông mòn con mắt, Sử không hề động tâm, chính sắc bảo:
-Tôi bỏ tiền ra giúp 2 vợ chồng nàng là vì lòng thương sót, không cần báo đáp. Vợ chồng nàng mời tôi ăn cơm uống rượu, tôi đã tiếp nhận. Còn như cùng nàng chung chăn gối, tôi tuyệt đối không làm.
Nói rồi bỏ đi không ngoảnh cổ lại.
Nửa tháng sau, hàng xóm Sử phát sinh hỏa hoạn. Lúc đó mùa gặt đã xong nhà nào cũng chứa đầy đụn rơm rạ, do đó lửa lan ra rất mau, tiến gần tới nhà Sử. Nhà Sử tứ bề tường gạch khó bề chạy thoát. Bỗng nhiên có tiếng sấm nổ, sét đánh sạt một góc tường phía lửa chưa tới. Cả nhà Sử do đó thoát ra được biển lửa. Trận lửa làm chết 9 người, Sử vì làm lành nên cả nhà được thoát.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 08 Apr 2012, 4:08 PM | Message # 50
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
47.- Chị Em Thiền Sư HUỆ KHOAN.

Thiền sư Huệ Khoan người Miên Trúc, Tứ Xuyên. Phụ thân là Dương Vỹ, một nhân vật có danh trong đạo giáo. Nhân dân trong vùng từ các nơi mang thóc gạo đến nhà để đổi lấy chương phù (bùa), mục đích hy vọng bảo hộ bình an.
Vợ Dương Vỹ mang thai, tâm tánh thay đổi, ghét thịt cá, sinh ra 1 bé gái đặt tên là Tín Tướng. Đứa nhỏ này thích yên tĩnh, thường tự mình tĩnh tọa. Lần mang thai sau, sinh ra 1 bé trai chính là Huệ Khoan. Huệ Khoan khi được 6 tuổi thường cùng chị ngồi thiền. Cha mẹ lấy làm lạ, hỏi thì đáp :
-Phật đến dạy chúng con bát nhã trí, chúng con bàn luận về pháp tướng.
Phụ thân là 1 đạo sĩ, đối với Phật giáo không biết gì cả. Hai đứa nhỏ tuy là sanh trong nhà Đạo gia, nhưng lại không theo đạo giáo, mà tự nghiên cứu Phật pháp. Có 1 lần 2 đứa nhỏ tranh luận, phụ thân hiếu kỳ bèn lấy giấy ghi chép lời 2 đứa tranh luận cộng hơn trăm trang giấy. Lúc đó ở Long Hoài tự có Hội pháp sư nghe tiếng 2 đứa nhỏ lại thăm. Phụ thân mang tập giấy ghi chép ra cho Hội pháp sư xem. Hội pháp sư xem xong kinh dị bảo :
-Hoàn toàn phù hợp với kinh Phật.
Về sau có một dị tăng ở Tĩnh Tuệ tự nhập Hỏa Quang Tam Muội, phái người đến gọi Tín Tướng. Tín Tướng đến nói không lại gần được vì có lửa. Thiền sư bảo :
-Nếu đã thấy lửa, sao không lấy nước diệt đi ?
Tín Tướng bèn nhập thủy quán, bèn vào được. Thiền sư thấy cô có căn cơ bèn khuyên xuất gia. Tín Tướng muốn xuất gia, nhưng ở nhà đã hứa gả cho người và thông gia không chịu để cô xuất gia. Sau phải nhờ Đạo, tục, Tăng quan ra mặt mới được như nguyện. Huệ Khoan cũng cùng xuất gia một lượt với chị. Thục Vương Tú lúc đó ở Ích Châu mời Tín Tướng vào thành. Vương phi lại lập tịnh xá cung dưỡng. Tín Tướng xuất gia rồi, một lần khi ra đường, có người trông thấy nổi lòng tà niệm. Cô gọi người ấy lại bảo :
-Đừng có dị tâm đối với Tam bảo, sẽ tự thọ tội.
Người đó kinh hoảng, sam hối rồi đi. Điều này chứng tỏ Tín Tướng đã đắc tha tâm thông. Cô có khi cả tháng không ăn uống, khi muốn ăn thì không biết cơm từ đâu tới. Đương thời xưng tụng là thánh ni. Chùa cô cư ngụ sau được gọi là Thánh Ni tự.
Huệ Khoan năm 13 tuổi theo Hội thiền sư ở Long Hoài tự học tập kinh luận, chỉ liếc mắt xem qua là thuộc. Hội thiền sư có hơn hai trăm đồ đệ, có chuyện đều sai mọi người làm chỉ riêng Huệ Khoan là không bị sai bao giờ. Đại chúng cho rằng thiền sư thiên vị. Thiền sư bảo :
-Người này là bổn sư của ta, ta làm sao dám sai bảo ? Khi Chu Võ diệt pháp ta theo tùy tướng thiền sư ẩn ở Nam Sơn, đến khi Tùy Đế khôi phục Phật giáo, ta từ biệt về Thục. Thiền sư bảo ta khi về Thục sẽ có nhiều đồ đệ, trong đó có Huệ Khoan có thể thu nhận. Ta nhớ chuyện này, lại tính ngày tháng thì ngày sư phụ ta mất trùng với ngày sanh của Huệ Khoan.
Từ đó không ai còn thắc mắc với vị tiểu sư đệ là sư công tái sinh nữa.
Năm 30 tuổi Huệ Khoan về Miên Trúc tự hoằng dương Phật pháp. Trước hết ông độ cho phụ thân cải theo Phật giáo, sau lập nhiều chùa chiền khiến cả một vùng dân chúng đều tin theo Phật. Có một ông tăng tên là Sách, trì trú rất có hiệu nghiệm. Một hôm, bỗng chết đi đến gập Diêm vương. Diêm vương sai ông tụng chú cho tội nhân nghe, lại bảo ông mời Huệ Khoan giảng kinh Địa tạng cho tội nhân nghe. Khi sống lại một tháng rồi mà không thi hành. Bỗng lại chết đi bị Diêm Vương thạnh nộ bảo ngưu đầu đánh đòn :
-Ta bảo ngươi tụng chú, lại bảo ngươi mời người giảng kinh Địa Tạng để giúp chúng sanh, sao ngươi dám không tuân ?
Sách sống lại, vội đi mời Huệ Khoan. Huệ Khoan bảo ông tụng chú, rồi họp đại chúng lại giảng kinh Địa Tạng.
Quan địa phương ở Miên trúc là Tống Úy thường chống đối Phật giáo. Ông ta nói :
-Ta chỉ tin Khổng, không tin Phật. Tuy nhiên có nhờ Phật lực được 2 chuyện. :
Thứ nhất, ở bên hông nhà, thường có người tiểu tiện, ta cấm không được bèn đem tượng Phật đặt ở chỗ đó, không ai dám tiểu tiện nữa.
Thứ hai, có lần gặp mưa bị ướt như chuột lột, liền đem tượng Phật gỗ ra đốt sưởi ấm và hơ quần áo.
Huệ Khoan nghe được chuyện này bèn gửi kinh sách và thư khuyên bảo.
Tống Úy nhận được thư bảo :
-Ta nghe nói người này có nhiều linh dị, ta thử coi sao .
Bèn xé kinh làm giấy đi cầu.
Không lâu, hậu môn đau nhức, hai chân đứng dậy không nổi, kêu lên :
-Ta chết mất ! Ta chết mất !
Một tháng sau, quả nhiên qua đời.

(Nhân Quả Báo Ứng Lục)


Đại Bi Chú
 
FORUM » QUÁN BÊN ĐƯỜNG » CHUYỆN TÔN GIÁO » Những chuyện nhân quả (100 chuyện) (Dương Đình Hỷ lược dịch)
  • Page 1 of 3
  • 1
  • 2
  • 3
  • »
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO