Thứ Hai
29 May 2017
9:21 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » CHUYỆN PHẬT GIÁO » 18 VỊ LA HÁN VÀ VUA A DỤC (ATOANMT)
18 VỊ LA HÁN VÀ VUA A DỤC
atoanmt Date: Thứ Sáu, 10 Oct 2014, 4:42 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5529
Status: Tạm vắng


I.- TiỀN THÂN CỦA VUA A DỤC:
Vào một buổi sáng Đức Phật cùng hàng đệ tử khất thực tại thành Vương xá. Với dung mạo đẹp đẽ, sắc tướng oai nghiêm, đến đâu Ngài cũng được mọi người mến phục. Lúc ấy có hai đứa trẻ tên Java và Gijava đang dùng cát để xây dựng một đô thị giả, có đền đài dinh thự, kho tàng chứa đầy ngũ cốc. Khi Đức Phật đi qua, Java lật đật lấy một chén ngũ cốc giả, cung kính cúng dường Đức Phật. Phật rất vui vẽ tiếp nhận. Ngài A nan, rất ngạc nhiên trước thái độ của Phật, liền được Phật khai thị:
-"Này A nan, khi Như Lai nhập diệt lối 200 năm, đứa trẻ ấy (Ja va) sẽ được thọ sanh làm một Thánh quân đóng tại thành Patalitutra và lấy vương hiệu là A Dục".

II.- HÀNH VI HUNG BẠO CỦA VUA A DỤC:
Hoàng đế Asoka (Hán dịch âm A Dục) trị vì trên một nước Ấn Độ rộng lớn hơn bây giờ (trừ phần cực Nam của bán đảo), vào khoảng những năm 274-237 trước Tây lịch. Asoka là cháu nội của Chandragupta, người sáng lập ra triều đại Maurya (Hán dịch là Khổng Tước). Cha của Asoka là Bindusara, có 16 người vợ và 101 con. Asoka chỉ có một người em trai cùng mẹ là Tissa, về sau cũng xuất gia và chứng quả A la hán.

Người ta kể lại, được tin vua cha lâm bệnh nặng tại thủ đô Pataliputra, Asoka lúc bấy giờ đang làm phó vương tại vùng Tây Bắc Ấn, vội vã kéo quân về, và để kế nghiệp vua cha, A Dục đã dùng một số mưu kế hết sức tàn độc để hại người anh khác mẹ tên là Susima, cũng như giết sạch tất cả các anh em khác, trừ người em cùng mẹ là Tissa.

Sau khi diệt xong hoàng thân Susima, A Dục còn hành phạt các quan lại, trước đã khinh rẻ mình (vì vua A Dục tướng mạo xấu xí), A Dục lại tạo ra một địa ngục bồng lai: Bên trong là ngục thất mà bên ngoài thì kiến trúc chẳng khác nào bồng lai tiên cảnh, cai quản địa ngục bồng lai là một tên đại ác trứ danh Girika. Địa ngục bồng lai là một mồi câu, hễ ai đến đó dù chỉ để nghỉ mát cũng bị hành phạt. Vì quá hung bạo, nên A Dục được dân chúng tặng cho tên là Ác Vương (Candacoka).

Chính vì vậy, mặc dú A Dục lên ngôi vua, vào năm 329 trước TL, nhưng lễ đăng quang lại được tổ chức 4 năm sau, vào năm 325 trước TL. Sự chậm trễ này nói lên bầu không khí bẩt bình trong triều cũng như ở ngoài dân chúng, bởi hành động tàn bạo, làm mất nhân tâm của Asoka lúc bấy giờ.

Vào những năm đầu của triều đại, để củng cố thêm vương quốc, Asoka đã mở chiến dịch đánh chiếm xứ Kalinga (nay là Orissa). Trong cuộc chiến, 10 vạn người bị giết, 15 vạn bị bắt. Cảnh tang tóc của chiến tranh đã làm cho Asoka vô cùng hối hận, và từ đó về sau trở thành một Phật tử thuần thành, một vị hoàng đế của hòa bình, của một tình cảm nhân bản, sâu sắc bao gồm cả người và loài vật.

Sự nghiệp vĩ đại của Asoka được ghi lại bằng chính các cáo văn của ông, khắc trên các bia đá và trụ đá, do chính ông dựng lên rải rác tại khắp nhiều nơi trên vương quốc rộng lớn của ông, mà các nhà khảo cổ phương Tây và Ấn Độ đã dần dần phát hiện được từ nửa cuối thể kỷ 19 trở lại đây.

III.- A DỤC VƯƠNG TRỞ VỀ VỚI CHÁNH PHÁP:
Căn cứ vào những lời chính nhà vua cho khắc trên trụ đá, chúng ta thấy được sự diễn tiến tư tưởng của vua A Dục như sau:

Sau khi lên ngôi được tám năm, A Dục vương dùng vũ lực chiếm cứ vùng Kalinga (trên vịnh Bengale). Nơi đâu có dấu chân A Dục, nơi đó có máu chảy đầu rơi, hàng vạn sinh linh vô tội phải thây phơi chiến địa, làng mạc bị thiêu hủy. Một chiều kia trên chiến trường Kalinga sau một trận chiến thắng nhưng trước cảnh tàn phá, chết chóc điêu tàn, vua bỗng giựt mình cảnh tỉnh:
-"Dầu cho số người bị sát hại đọa đày trong việc xâm chiếm xứ Kalinga nhiều đến thế mấy cũng không bằng sự đau khổ của Trẩm hôm nay".

Từ đó vua A Dục trở về với chánh pháp và nhất tâm hộ trì hoằng dương giáo lý. Điều cho chúng ta kính phục là tuy A Dục là một Phật tử, nhưng Ngài là một vị quân vương công bình, không bao giờ dùng uy quyền mình bắt kẻ khác theo đạo của mình.
Một điều nữa là khi đã trở về với chánh pháp, Ngài đã thực hiện cuộc đời mình như chánh pháp và khuyến khích mọi người làm lành tránh dữ.

IV.-CÔNG NGHIỆP HÀNH PHÁP CỦA A DỤC VƯƠNG:
Công nghiệp hộ trì chánh pháp của A Dục vương nhiều và lớn lao không kể xiết. Sau đây chỉ là vài việc đơn cử:

- Thăm viếng các nơi có sự tích đức Phật, xây dựng lại những trụ đá hay tháp (nay vẫn còn). Chính những di tích này đã giúp không ít cho những nhà khảo cổ tìm hiểu đời sống của đức Phật.

- Chủ trương kiết tập kinh tạng lần thứ 3 tại thành Pataliputra.

- Dựng lên khắp xứ Ấn Độ 84.000 bửu tháp để thờ xá lợi Phật.

-Xây dựng nhiều đền thờ có chạm trỗ những sự tích về Phật giáo và xây nhiều bia đá có khắc nhiều chỉ dụ của nhà vua khuyên bảo dân chúng ăn ở theo chánh pháp.

- Sa thải những phần tử không xứng đáng làm hoen ố Phật giáo.

- Cho con Ngài là Đại đức Mahinda mang tam tạng truyền bá trên đảo Tích Lan (những tạng kinh điển này hiện nay vẫn còn lưu trữ tại Tích Lan).

- Thỉnh nhiều vị A La Hán đi truyền bá Phật pháp tại những xứ miền Tây Bắc Ấn Độ như Cachemire, Gandhara và nhiều nơi khác như Mahisamandala (Maisur hiện thời) Vainavasa.

- Gom góp Xá Lợi tại các Chư Hầu lại và chia ra 84.000 phần để thờ khắp nơi (nơi nào có 10 triệu dân trở lên thì được thờ 1 một xá lợi).
Các sự kiện trên đây chứng minh tinh thần hộ trì và hoằng dương chánh pháp của vua A Dục nhiều biết ngần nào.

A-Dục Vương ( 阿育王, aśoka, asoka) là Hoàng Đế Ấn Độ, trị vì Đế Quốc Khổng Tước ( 孔雀, Maurya, nghĩa là “Con Công”) từ năm 273 đến 232 trước CN.

Là một trong những Hoàng Đế Ấn Độ kiệt xuất, Vua A-Dục sau khi chiến thắng một loạt các cuộc chinh phạt và đã cai trị phần lớn vùng Nam Á, từ Afghanistan cho đến Bengal hiện nay và đi sâu đến miền Nam tận Mysore.
Theo “Truyền thuyết về A-dục vương” vào thế-kỷ thứ 2, sự ra đời của A-dục được tiên tri bởi Phật Thích-ca Mâu-mi, trong câu chuyện “Quà của Đất”:
“...Một trăm năm sau khi ta qua đời có một hoàng đế tên là A-dục tại xứ Pataliputra. Ông sẽ thống trị một trong bốn lục địa và trang trí Jambudvipa với tro xương của ta và xây tám mươi bốn ngàn stupa để đem lại công đức cho chúng sinh. Ông sẽ cho các nơi đó được kính trọng bởi thần linh cũng như con người. Tiếng tăm của ông sẽ lan đi khắp nơi...”

Là một quân vương ủng hộ Phật giáo, ông đã lập nhiều bia đá ghi lại những thánh tích trong cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni, và do đó, tên ông đã gắn liền với việc lưu truyền Phật giáo.

Tên ông cũng được gọi theo cách phiên âm Phạn-Hán khác là A-du-ca (zh. 阿輸迦), A-du-già (阿輸伽), A-thứ-già (阿恕伽), A-thú-khả (阿戍笴), A-thúc (阿儵), hoặc dịch ý là Vô Ưu (無憂), hoặc như ông tự khắc trên những cột trụ nổi danh được lưu đến ngày nay là Thiên Ái Hỉ Kiến ( 天愛喜見, devānaṃpriya priyadarśi), nghĩa là “Người được chư Thiên thương, Người nhìn sự vật với tấm lòng hoan hỉ”.

Ông là vị Vua đầu tiên của nước Ấn Độ cổ (sa. bhāratavarṣa) đã thống nhất được một lãnh thổ vĩ đại, lớn hơn ngay cả Ấn Độ ngày nay.

Năm 259 trước Công nguyên, vua A Dục thống nhất các nước láng giềng, và tuyên bố áp dụng Phật giáo là tôn giáo quốc gia. Ông đã triệu tập Hội đồng lần thứ ba trong lịch sử của Phật giáo để thu thập, chỉnh sửa và xuất bản tất cả các giáo lý của Đức Phật, tức là Tripataka.

Qua lòng Từ-Bi của Đức Phật, Ông hiểu mình không thể ích-kỷ mà giữ lại riêng trong nước 84 ngàn Xá-Lợi của Đức Phật, mà phải phân bố Xá-Lợi của Phật cũng như Phật Pháp ra khắp thế-giới. Nên Ông quyết định mở Đại Bát Niết Bàn Hall và đưa ra các di tích của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ông tin rằng Phật giáo là mang lại lợi ích cho tất cả con người cũng như động vật và thực vật, do đó, ông xây dựng 84.000 ngôi bảo tháp, Sangharama, tịnh xá, Chaitya, và nhà ở cho các tu sĩ Phật giáo trên khắp Nam Á và Trung Á.

Ông đã gửi Sanghamitta con gái duy nhất của mình và con trai Mahindra để truyền bá Phật giáo tại Sri Lanka (tên cổ Tamraparni).
Vua A Dục cũng gửi nhiều Cao Tăng (Tỳ kheo) Sthaviras như Madhyamik Sthavira (bây giờ là Kashmir và Afghanistan), Maharaskshit Sthavira Syria, Ba Tư / Iran, Ai Cập, Hy Lạp, Italy và Thổ Nhĩ Kỳ, Massim Sthavira Nepal, Bhutan, Trung Quốc và Mông Cổ, Sohn Uttar Sthavira ,Campuchia, Lào, Miến Điện (tên cũ Suvarnabhumi cho Miến Điện và Thái Lan), Thái Lan và Việt Nam; Mahadhhamarakhhita stahvira Maharashtra (tên cũ Maharatthha), Maharakhhit Sthavira và Yavandhammarakhhita Sthavira miền Nam Ấn Độ.

Ashoka cũng mời Phật tử và các Tu sĩ ngoại đạo cho các hội nghị tôn giáo. Ashoka truyền cảm hứng cho các nhà sư Phật giáo để soạn các văn bản tôn giáo thiêng liêng, cũng như ủng hộ mọi phương diện để hoàn thành Phật sự.

Vua A Dục cũng đã giúp phát triển tu viện (trung tâm trí tuệ) như Nalanda và Taxila. Ashoka đã giúp xây dựng Sanchi và Đền Mahabodhi. Ashoka không bao giờ cố gắng để làm hại hoặc tiêu diệt các tôn giáo phi-Phật giáo.

Ashoka giúp đỡ và tôn trọng cả hai Sramans (Phật tử tu sĩ) và Bà La Môn (các nhà sư Vệ Đà). Vua A Dục cũng đã giúp tổ chức Hội đồng Phật giáo thứ ba (khoảng 250 BC) tại Pataliputra (Patna ngày nay). Nó được thực hiện bởi các nhà sư Moggaliputta-Tissa giáo viên tinh thần của Hoàng đế Ashoka Mauryan.

(Mời đón đọc về 18 Vị La Hán mà ...hầu như hoàn toàn khác với 18 vị La hán đã được post trênwebsite của VN !!!...)


Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
LongTracAn Date: Thứ Sáu, 10 Oct 2014, 8:52 PM | Message # 2
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3289
Status: Tạm vắng


Đại Bi Chú
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Bảy, 11 Oct 2014, 4:35 AM | Message # 3
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2741
Status: Tạm vắng
 
saigoneses Date: Thứ Bảy, 11 Oct 2014, 9:00 AM | Message # 4
Major general
Group: Disciples
Messages: 389
Status: Tạm vắng

Anh Toàn!

Bữa trước có bài La Hán Quả bổ ích cho người đang có bệnh thì bây giờ sắp đọc được bài 18 vị La Hán "chính chủ" của Ấn Độ mà bao lâu nay sách báo truyền thống chỉ đề cập tới 18 vị La Hán tàu!


Message edited by saigoneses - Thứ Bảy, 11 Oct 2014, 9:04 AM
 
ThiệnTâm Date: Thứ Bảy, 11 Oct 2014, 9:20 PM | Message # 5
Major general
Group: Moderators
Messages: 406
Status: Tạm vắng
 
kathy Date: Thứ Hai, 13 Oct 2014, 3:21 PM | Message # 6
Colonel general
Group: Users
Messages: 1134
Status: Tạm vắng
 
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » CHUYỆN PHẬT GIÁO » 18 VỊ LA HÁN VÀ VUA A DỤC (ATOANMT)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL