MI-TIÊN VẤN ĐÁP 41 - TRUYỆN PHẬT GIÁO - File Catalog - ATOANMT
Thứ Sáu
09 Dec 2016
10:57 PM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn Bài xong bấm vào "CHỌN XEM":







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics

ĐANG online: 1
KHÁCH: 1
THÀNH VIÊN: 0
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

File Catalog

TRANG CHÍNH » HỒ SƠ » TRUYỆN PHẬT GIÁO

MI-TIÊN VẤN ĐÁP 41
24 Apr 2015, 8:50 AM
208. Về Con Mối

- Tâu đại vương! Con Mối thường lấy đất làm tổ, bên trong trống bộng để ở. Khi đi kiếm vật thực, mối cũng làm một con đường bằng đất rỗng để bò phía bên trong. Vị tỳ khưu cũng phải nên như thế, bất cứ trú xứ nào, bất kỳ ở đâu cũng lấy giới mà bao che mình, mà ẩn bên trong; khi đi vào xóm làng để khất thực cũng ẩn trong sa môn pháp, thu thúc giới để giữ mình. Đúng như đại đức Upasena nói:
"Một hành giả tu tập sa môn hạnh, phải có đồ bao che, tức thu thúc giới để phòng tâm, để bảo vệ tâm thoát khỏi phiền não và thoát khỏi sợ hãi."

* * *


209. Về con Mèo

- Tâu đại vương! Con Mèo có hai điểm cần phải học hỏi như sau:

Thứ nhất, Mèo ở nhà hay Mèo Rừng, dù bất cứ đâu, trong hang, hóc núi, bộng cây hoặc ở chung với người cũng thường dễ dàng tìm bắt chuột. Bắt chuột là sở trường của Mèo. Một vị tỳ khưu ở trong am miếu, tịnh thất, khu rừng, dưới cội cây, ở chỗ trống hoặc trong nhà vắng vẻ; hằng tinh tấn trì bình nuôi mạng, phải biết quán tưởng, niệm thân. Vì quán tưởng, niệm thân là nhiệm vụ của tỳ khưu vậy.

Thứ hai, Mèo thường không đi đâu xa, chỉ kiếm ăn ở gần thôi; vị tỳ khưu cũng vậy, không cần thiết phải tưởng nghĩ những chuyện xa xôi hoặc khởi niệm đi tầm cầu chỗ này chỗ nọ, mà phải tu tập ngay chính ở đây, ở nơi thân tâm mình. Đấy là quán tưởng sự sanh diệt của ngũ uẩn, thấy rõ sự chấp thủ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức; nó sanh do nhân như vậy, diệt do nhân như vậy. Đúng như Đức Chánh Đẳng Giác thuyết:
"Đừng tìm kiếm đâu xa, ví như tầm cầu cảnh giới phạm thiên chẳng hạn. Chỉ nên tu tập ở ngay nơi ngũ uẩn này, hãy tinh tấn quán tưởng ngũ uẩn này cho đến lúc nhàm chán và xuất ly nó."

* * *


210. Về Con Chuột

- Tâu đại vương, về Con Chuột, thì khi nào nó rời khỏi hang để đi chỗ này chỗ kia, chỉ có một mục đích duy nhất là tìm kiếm vật thực. Vị tỳ khưu cũng nên như thế. Dù đi đâu, dù đến trú xứ nào, hoặc bộ hành chỗ này sang chỗ khác, vị tỳ khưu cũng chỉ với mục đích duy nhất là hướng trí tuệ đi đúng đường, là khởi tâm đúng với sự thật - là như lý tác ý (yonisomanasikàra) mà thôi! Ngài Upasena có nói: "Khi tiến tu quán minh, vị tỳ khưu có tâm tịch tịnh, có chánh niệm, luôn luôn biết rằng mình đang cầu pháp."

* * *


211. Về con Bò Cạp

- Tâu đại vương! Con Bò Cạp có cái đuôi làm khí giới, lúc đi đâu nó giở đuôi lên. Vị tỳ khưu có tuệ là khí giới, đi đâu cũng hằng lấy tuệ ấy lên để nhìn ngắm xem xét. Ngài Upasena có nói rằng:
"Hành giả tu tập quán minh, hằng có cây gươm là trí tuệ, đi đâu cũng mang cây gươm ấy đi theo, sẽ thoát khỏi tất cả nỗi sợ hãi, chẳng có sợ hãi nào dám bén mảng đến."

* * *


212. Về Con Chồn

- Tâu đại vương! Con Chồn khi vào hang, đánh được mùi rắn, cơ thể nó tự động toát ra một loại mồ hôi khiến rắn không thể xâm phạm được. Vị tỳ khưu khi đi vào giữa thế gian, dẫy đầy những người phức tạp như: ưa tranh cãi, gây sự, hiềm hại, áp bức nhau - nên xoa lên người một lớp tâm từ thì sẽ được bình yên vô sự. Đúng như đức Pháp chủ có thuyết:
"Vị tỳ khưu phải có tâm vô lượng, quảng đại, dù kẻ nghịch với ta đông đến số trăm, số ngàn cũng phải rải tâm từ đồng đều cả thảy. Đấy là lời giáo huấn của chư Phật."

* * *


213. Về Chó Rừng

- Về Chó Rừng thì có mấy điểm, thưa đại đức?

- Tâu, có hai điểm.

Thứ nhất, Chó Rừng hễ gặp được vật thực, cứ làm một bụng no, chẳng chê bai bao giờ. Vị tỳ khưu khi xin được vật thực, không nên khởi tâm chê bai, chỉ dùng để nuôi dưỡng thân thể, duy trì sanh mạng để tu tập. Đúng như lời đức Đại Ca-diếp kể lại câu chuyện của mình:
"Hôm ấy tôi rời khỏi chỗ ở, đi vào xóm để khất thực. Có một người đàn ông mắc bệnh cùi đang thọ dụng vật thực, thấy tôi, ông ta cung kính lấy phần ăn của mình đặt vào bát cho tôi. Một ngón tay cùi của ông rơi vào bát. Tôi ngồi xuống tại chỗ, quán tưởng, lấy ngón tay ra rồi thọ dụng vật thực một cách chánh niệm, chẳng nhờm gớm chút nào."

Thứ hai, Chó Rừng khi được vật thực rồi, chẳng phân biệt ngon hay dở đều ăn một cách tự nhiên. Hành giả tu tập cũng vậy, khi có vật thực chẳng lựa ngon hay dở, ít hay nhiều, tâm thường hoan hỷ để thọ dụng. Đúng như đại đức Upasena thuyết:
"Vị tỳ khưu phải tiết chế tâm mình, hằng tri túc và hoan hỷ khi thọ dụng vật thực dù là vật thực tầm thường. Người thích nhiều vật thực và vị ngon, người ấy sẽ khó an hỷ trong thiền, khó tiến bộ trong đời sống sa môn hạnh."

***


214. Về con Nai

- Con Nai cũng có ba chi điều cần học tập, tâu đại vương.

- Xin đại đức cứ giảng.

- Tâu, vâng.

Điều thứ nhất của Nai là, ban ngày thường ở trong rừng, đến tối thì tìm đến nơi những khoảng trống. Vị tỳ khưu cũng thường như thế, ban ngày ở trong rừng, đến tối tìm đến nơi khoảng trống để hành thiền. Đúng như lời của Đức Phật thuyết cho Đức Xá-lợi-phất nghe: "Này Xá-lợi-phất! Thời nửa đêm, nhằm trong khoảng mùa lạnh, là khi tuyết rơi; vì mùa ấy tuyết rơi đêm nên Như lai phải tìm đến nơi khoảng trống, ban ngày thì ở trong rừng. Đến tháng chót của mùa nóng, ban ngày Như lai ở trong nơi trống, ban đêm lại ở trong rừng."

Điều thứ hai, nếu Nai bị thợ săn bắn một mũi tên, dẫu né tránh được, Nai vẫn không bao giờ còn quay trở lại chỗ bị bắn ấy. Hành giả tu tập sa môn hạnh cũng như thế, đã tránh né được một loại phiền não nào rồi thì không dại gì trở lại chỗ phiền não ấy nữa.

Điều thứ ba, nai khi gặp người, thường tìm cách dấu mình ở chỗ nào đó để người khỏi trông thấy. Cũng vậy, vị tỳ khưu tu tập sa môn hạnh khi thấy chỗ nào có sự gây gỗ, cãi cọ, tranh chấp; nơi nào có người phá giới, lười biếng; hoặc chỗ chùa có sự hỗn tạp, não loạn - thì vị ấy cũng tránh đi với ý nghĩ rằng, sẽ không cho họ tìm thấy, y như con nai kia vậy.

Đúng như ngài Xá-lợi-phất có thuyết:
"Người nhiều tham dục, lắm lười biếng; kẻ buông thả, dễ duôi, không có tinh tấn; người không chịu nghe pháp, xa lìa hạnh kiểm, bỏ giới, không tàm quí; kẻ chỉ thích nơi huyên náo, không thích chỗ vắng lặng... với những người như thế xin họ đừng đến chỗ tôi, và cũng cho tôi đừng nhìn thấy họ dù chỉ một chốc, một thoáng, một lát."

* * *


215. Về con Bò

- Về con Bò thì có 3 chi điều, đại vương hãy nghe, bần tăng sẽ nói.

- Thưa vâng!

Thứ nhất, con Bò đã ở cái chuồng nào là nó không bao giờ bỏ cái chuồng ấy, dù dột nát hoặc hư hỏng. Bậc hành giả cũng tương tự thế. Khi đã thọ trì phạm hạnh và đã thực hành phạm hạnh thì cương quyết đi hết đoạn đường, dù vui dù khổ thế nào cũng không từ bỏ phạm hạnh của mình.

Thứ hai, con Bò mang cái ách trên cổ và kéo cày, không để ý đến chuyện vui hay khổ. Bậc hành giả thọ trì phạm hạnh và thực hành phạm hạnh hằng cố gắng thực hành phạm hạnh suốt cuộc đời cho trong sạch, cho viên mãn, không hề nghĩ đến sự vui hay khổ, y như Bò vậy.

Thứ ba, Bò thường ăn cỏ no rồi uống nước; ai cho Bò ăn cỏ, uống nước, Bò đều ăn no, uống nước không phân biệt. Bậc hành giả phạm hạnh cũng y như thế. Họ sẵn sàng thọ nhận sự giáo huấn, nhắc nhở, nghe pháp từ bất cứ ai; đấy là vị thượng tọa, tỳ khưu trung niên hoặc tỳ khưu mới tu, tại gia nam nữ cư sĩ hoặc chỉ là người thiện nhân ở ngoài đời... Họ đều cung kỉnh lắng nghe, học hỏi những lời hay ý đẹp với tâm trân trọng. Đúng như lời kể chuyện sau đây của Đức Pháp chủ:
"Ví dụ có vị sa di bảy tuổi mới tu nhưng có giới hạnh trong sạch, có tâm vắng lặng, có trí tuệ rạng ngời... đến bảo ban, nhắc nhở tôi, giáo huấn tôi, tôi sẵn sàng thọ nhận và ghi tâm khắc cốt lời vàng ngọc. Khi gặp người ấy, không những tôi khởi tâm thương mến mà còn đem lòng kính trọng. Tôi sẵn sàng đảnh lễ vị ấy và xem vị ấy như thầy a-xà-lê, như thầy hòa thượng của tôi vậy."

* * *


216. Về con Heo

- Con Heo thì có hai điều.

Thứ nhất, khi trời nắng nóng, Heo thường trầm mình trong nước. Vị hành giả tu tập cũng vậy, khi có các trạng thái tâm nóng nảy, bứt rứt, tức giận, cuồng nộ v.v... thiêu đốt; vị ấy bèn chìm mình xuống trong tâm từ mát mẻ để giải trừ cái nóng ấy.

Thứ hai, con Heo gặp khoảng nước không có bùn lầy thì dùng cái mũi húc ủi đất cho thành vũng rồi nằm xuống. Cũng vậy, vị hành giả khi gặp các dục tham bên ngoài lôi kéo, xáo động; vị ấy bèn trở về với cái thân của mình, húc cái thân của mình, quán xét cái thân của mình - tức là niệm thân - để chôn chặt tâm niệm của mình ở đấy, nằm ở đấy để ngăn các loại phiền não bên ngoài. Đại đức Pinadola bhàra Dvàja cũng có thuyết tương tự:
"Bậc hành giả là người tiến tu minh sát tuệ, đã thành thục về niệm thân, thì cứ làm cho thân được tiến bộ. Thời gian ấy nên ở một mình với đề mục niệm thân ấy, chẳng nên để cho người thứ hai, pháp thứ hai nào xen nằm ở trong cảnh giới ấy."

217. Về Con Voi

Đức vua Mi-lan-đà nói:

- Tất cả những ví dụ của đại đức rất hay mặc dầu có sự trùng lặp chỗ này chỗ kia; tuy nhiên, đại đức cũng chẳng ngại gì sự trùng lặp ấy. Trùng lặp thì dễ nhớ, dễ thuộc, không sao cả.

- Tâu, vâng. Cảm ơn đại vương đã khuyến khích. Thật ra, bần tăng cũng đã bỏ chút ít những chỗ trùng lặp rồi.

- Vâng, trẫm cũng biết thế.

- Ý đại vương là trong những câu hỏi còn lại, bần tăng chẳng nên bỏ bớt hay sao?

Đức vua Mi-lan-đà gật đầu:

- Đúng vậy.

- Thế thì bây giờ chúng ta sang chuyện con Voi!

- Vâng, con Voi, có năm chi điều, mong đại đức cứ tuần tự thứ lớp cho nghe.

- Tâu, vâng!

Thứ nhất, con Voi đi trên đường thường dùng chân của mình để đạp hoặc đá những đất cục. Tương tự thế, vị hành giả tiến tu chỉ tịnh và quán minh cũng hằng nên đạp và đá vỡ những phiền não lác đác nằm ở trên lộ trình, y như voi vậy.

Thứ hai, Voi đi - thì chỉ một mực nhìn thẳng, tùy thân mình mà đi chứ không nhìn ngang nhìn ngửa, trông hướng này hướng kia. Bậc hành giả cũng nên như thế, nên chăm chăm quán tưởng niệm thân mà đi; mắt luôn luôn thẳng ở phía trước, chỉ hơi cúi xuống chừng một đòn gánh, đừng láo liêng ngó đông ngó tây - như voi vậy.

Thứ ba, Voi thường không ở một trú xứ nào nhất định, không ở hoài một nơi; tùy thuộc nơi nào có vật thực, ăn no ở đấy rồi nghỉ luôn ở đấy. Cũng vậy, bậc hành giả nên không có chỗ ở, không lưu luyến chỗ ở; cũng không nên lưu luyến chỗ trì bình khất thực, hễ cứ gặp đâu thì kiếm vật thực ở đấy; gặp đâu nghỉ đấy, dù là cái chòi hoang, cội cây, hốc núi, nghĩa địa hoặc nơi đồng không mông quạnh; chẳng nên lựa tìm chỗ thích ý, vừa lòng!

Thứ tư, Voi thường tìm chỗ uống nước ở những nơi có hồ lớn, nước trong mát, có hoa sen hoa súng nở đầy, hương thơm ngát. Tại chỗ ấy, Voi uống nước, Voi tắm, Voi đùa giỡn và ăn luôn cả hoa sen, hoa súng, củ sen, củ súng. Cũng tương tự thế, bậc hành giả cũng thường tìm đến cái hồ "đại niệm xứ" của mình, có nước pháp trong sạch, mát mẻ không nhơ đục; có các loại hoa sen, hoa súng thơm ngát là các hỷ lạc và các loại giải thoát. Vị ấy uống các pháp ấy, nhởn nhơ bơi lội trong nước ấy, ăn luôn cả hỷ và các loại giải thoát ấy.

Thứ năm, khi đi, Voi dở chân lên thì biết mình đang dở chân lên, khi đạp xuống thì biết mình đang đạp chân xuống; nghĩa là luôn luôn chánh niệm, tỉnh giác trong mỗi oai nghi của mình. Bậc hành giả cũng phải như thế. Lúc nào cũng chánh niệm, tỉnh giác khi chân dở, chân đạp, đi lui, đi tới, co tay vào, duỗi tay ra v.v... không bỏ sót bất kỳ một động tác nào mà không được ghi nhận. Nói cách khác, mỗi sát na của thân hành, ý hành, khẩu hành cần phải được chánh niệm tỉnh giác. Tương tự như Đức Phật đã thuyết:
"Thu thúc thân khẩu ý là việc tốt. Thu thúc tất cả lại là điều tốt hơn. Ai là người biết hổ thẹn trong khi thấy mình chưa được thu thúc tất cả; bậc trí tuệ hằng khen ngợi kẻ ấy là người biết phòng hộ, biết bảo vệ và biết thương mình."

Đức vua Mi-lan-đà nghe xong, nói:

- Con Voi này thiệt là quá hay!

- Vâng, còn nhiều cái hay nữa, tâu đại vương!

* * *


218. Về Sư Tử

- Về Sư Tử thì có sáu chi điều, đại vương hãy nghe.

- Thưa vâng.

Thứ nhất, sắc lông Sư Tử thường có màu vàng nhưng rất mịn màng, sạch sẽ; nó không thích sự dơ dáy, thường tránh xa chỗ dơ dáy. Bậc hành giả phạm hạnh cũng hằng phải giữ tâm mịn màng và sạch sẽ như sư tử vậy; không thích cấu uế, trần lụy và hằng tránh xa chỗ cấu uế, trần lụy.

Điều thứ hai, Sư Tử có bốn chân uy mãnh, nó có sức khỏe, có thần lực, có thể chạy khắp rừng một cách mau lẹ. Bậc hành giả tu tập tứ thần túc cũng sẽ có uy lực, thần lực đi đây đi đó mau lẹ còn hơn thế nữa.

Điều thứ ba, Sư Tử kiếm được món ăn nơi nào thì dùng ngay tại chỗ ấy, dùng xong không cất để dành, không dùng lại thức ăn thừa. Bậc hành giả trì bình khất thực cũng y như thế, gặp món gì dùng món ấy, xin được nhiều ít, thọ dụng chỗ nhiều ít ấy, không lựa chọn, không cất đặt món ăn, không để dành món ăn. Luôn luôn sống đời tri túc, dễ nuôi, hằng quán tưởng rằng vật thực chỉ dùng để duy trì sanh mạng, sức khỏe để tu tập.

Thứ tư, Sư Tử có thân hình uy nghi, phương phi, đẹp đẽ; có vầng lông cổ rực rỡ, sáng sủa. Bậc hành giả cũng có thân hành xinh đẹp, tươi nhuận; cũng có giới hành rực rỡ, quang minh, đẹp đẽ - như Sư Tử vậy.

Thứ năm, Sư Tử dù có bị uy hiếp vì sự chết, vì sanh mạng, cũng không chịu hàng phục bất kỳ một mãnh thú nào. Bậc hành giả phạm hạnh cũng không hề chìu chuộng bất cứ ai để kiếm y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc men! Dù có mất mạng sống, bậc phạm hạnh vẫn giữ tư cách, giới học của mình, không chịu khuất phục trước bất kỳ một thế lực nào.

Thứ sáu, Sư Tử đi kiếm ăn bất kỳ ở đâu cũng không hề sợ hãi, không say mê món ăn. Bậc hành giả cũng không khởi tâm khiếp nhược khi đi trì bình khất thực, quán tưởng vật thực mới ăn, nhưng không say mê miếng ăn, không chịu nô lệ bởi cái ăn - tương tự như Sư Tử vậy. Đúng như đại đức Mahà Kassapa đã nói:
"Tôi là tỳ khưu, là người thọ trì giới, nâng đỡ giới trong sạch nên tôi hằng tri túc trong y phục và vật thực, dù có dù không; và tôi cũng hằng khen ngợi sự tri túc trong vật thực và y phục, dù có dù không. Là tỳ khưu, đừng nên thực hành hạnh thấp thỏi, hạ liệt, thật không xứng đáng phẩm hạnh của mình. Có, không cũng được, đừng sợ hãi, đừng khiếp nhược. Có, không cũng an hỷ và vắng lặng, phải thấy rõ tội trong khi thọ dụng tứ sự. Chính Đức Thế Tôn đã từng thuyết như thế, các thầy nên thọ trì."

* * *


219. Về Vịt Nước

- Về Vịt Nước thì có ba chi, tâu đại vương.

Thứ nhất là nó có tính thủy chung, không bao giờ bỏ vợ con mà đi, nó sống thành cặp thành đôi với vợ cho đến trọn đời. Bậc hành giả cũng trọn đời thủy chung với trí tuệ, bao giờ cũng chú tâm đúng, hướng tâm đúng. Không bao giờ rời xa trí tuệ, mà sống với trí tuệ cho đến khi lìa bỏ ngũ uẩn.

Thứ hai, Vịt Nước thường sinh sống bằng cách ăn ốc, rong rêu và lá cây, và suốt đời thỏa thích, sung sướng với loại thực phẩm ấy nhưng sức khỏe không giảm sút, sắc lông không nhạt phai. Cũng tương tự thế, bậc hành giả tri túc về tứ vật dụng, đầy đủ cũng vậy, có ít cũng vậy, không có cũng vậy... nhưng không bao giờ giảm sút giới định tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến cùng tất cả mọi thiện pháp khác.

Thứ ba, Vịt Nước không bao giờ sát sanh; bậc hành giả suốt đời cũng bỏ đao, bỏ gậy, không bao giờ sát hại sanh mạng của tất cả chúng sanh; ngoài ra, lại còn khởi tâm từ đồng đẳng đến mọi loài nữa. Đúng như Đức Chánh Đẳng Giác đã thuyết:
"Người nào không bức hiếp chúng sanh, không có hại tâm với chúng sanh, không làm khổ chúng sanh; lại không bảo kẻ khác bức hiếp, giết hại, làm khổ chúng sanh - thì kẻ ấy thật đã có lòng từ, không còn kết oan trái với chúng sanh nào nữa cả."

Vịt nước có ba điểm như vậy đó, tâu đại vương!

- Thưa, vâng. Trẫm thọ trì.

* * *


220. Về chim Venàhikà mái

- Về chim Venàhika mái, có hai điều cần phải được ghi nhận.

Thứ nhất: Chim Venàhika mái hằng ganh ghét chim trống - là chồng của nó - thường bắt chim trống ở trong tổ để giữ con, bít miệng tổ lại bằng vật dơ. Hằng ngày, chim Venàhika mái bằng sức lực của mình, đi kiếm thức ăn về nuôi cả chồng cả con. Cũng tương tự thế, bậc hành giả cũng bắt phiền não nhốt vào cái tổ là thu thúc giới, lấy niệm thân và ý môn để canh giữ.

Thứ hai: Chim Venàhikà mái đi kiếm ăn về muộn, gặp trời chiều, không đi một mình mà thường kiếm bầy đàn để nhập đoàn. Lý do là để tránh sự nguy hiểm. Bậc hành giả cũng nên như thế, khi ở nơi thanh vắng để tu tập, nhờ trú trong pháp, nhờ pháp bảo vệ nên được an hỷ. Tuy nhiên, nếu một lúc nào đó cảm thấy không được an vui - thì nên nhập Tăng chúng, sống với Tăng chúng, nhờ đức của Tăng để bảo vệ, che chở cho mình thoát khỏi sự bất an và sợ hãi. Đúng như đại phạm thiên Sahampati tâu với Bổn sư:
"Bậc hành giả mong thoát khỏi triền phược thì nên tìm đến nơi thanh vắng để thực hành chỉ, quán, dù mình không thỏa thích; sau đó, thỉnh thoảng trở lại với Tăng đoàn để tìm nơi nương tựa."

* * *


221. Về Chim Sẻ

- Tâu đại vương! về Chim Sẻ thì chỉ có một điểm mà thôi. Là khi nó làm tổ, nương nhà người, nó rất cẩn thận, chỉ chọn một hóc kín đáo nào đó thôi, không làm tác hại đến bất kỳ một vật dụng nào của người. Bậc hành giả cũng cần nên như thế. Khi có công việc đi đến nhà thí chủ, luôn luôn tâm niệm mình là một sa môn, thọ trì chánh mạng thanh tịnh giới; nên đừng bao giờ khởi tâm hoặc đụng đến chỗ ngồi, chỗ nằm, vật trang điểm, vải vóc, đồ dùng... ở nơi nhà của người. Đúng như Đức Thiện Thệ đã thuyết:
"Là tỳ khưu đi đến nhà thí chủ do có sự thỉnh mời, chỉ nên thọ dụng và tri túc những vật thực dâng cúng, chẳng nên đam luyến bất cứ cái gì khác."

* * *


222. Về chim Cu

- Chim cu có hai chi điều sau đây, tâu đại vương!

Thứ nhất, kẻ thù của chim Cu là con Quạ; nhất là vào lúc nửa đêm, gặp Quạ thì chim Cu đánh, cắn, xé rất dữ. Bậc hành giả ở nơi thanh vắng tu tập, cũng có một kẻ thù là vô minh; phải chiến đấu, phải đánh, phải cắn xé vô minh, hủy trừ vô minh cho đến tuyệt diệt, phải đoạn lìa vô minh từ ngọn đến tận gốc rễ.

Thứ hai, chim Cu thường ẩn mình rất kín đáo, trong rừng hoặc trong lùm cây rậm. Bậc hành giả cũng phải tìm ẩn kín đáo trong rừng hoặc nơi thanh vắng không ai tìm thấy, giống như chim cu vậy.

Hãy nghe lời Đức Phật thuyết trong bộ Samyuta Nikàya (Tương ưng bộ):
"Này các thầy! các thầy nên lựa tìm nơi thanh vắng mà tham thiền, thỏa thích tham thiền, an vui tham thiền. Nhờ vậy, đến một lúc nào đó, các thầy có thể thấy rõ đây là khổ, đây là nguyên nhân khổ, đây là khổ diệt, đây là khổ diệt đạo."

* * *


223. Về con Rít

- Tâu đại vương! Con Rít chỉ có một điều. Là nó rất ít kêu, nhưng khi nó kêu ở trong nhà ai - thì nó sẽ báo cho chủ nhân biết một trong hai điều sẽ xảy ra:
Đó là sự an vui tốt đẹp hay là điều rủi ro, tai hại. Bậc hành giả cũng nên làm như rít vậy, phải báo tin lành, tin dữ đến cho chúng sanh biết. Phải thường hay nói pháp, đây là quả báo của ác nghiệp, dẫn dắt chúng sanh vào bốn đường đau khổ; đây là quả báo của thiện nghiệp, hằng đưa chúng sanh đến cảnh giới hạnh phúc, an lạc trời, người v.v... Đúng như đại dức Pindola Bhàra đã thuyết:
"Bậc hành giả nên thuyết về phước và tội, lành và dữ đến cho chúng sanh nghe. Và sau rốt là nên thuyết con đường đến Niết bàn, đem đến nguồn hạnh phúc cao thượng cho chúng sanh. Đấy là hai điều lợi ích cần làm của hành giả."

* * *

Mời xem tiếp: 224-244

Duới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn Bài xem
xong bấm vào "CHỌN XONG, BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ XEM":





TRUYỆN PHẬT GIÁO

TRỞ VỀ DIỄN ĐÀN

THỂ LOẠI: TRUYỆN PHẬT GIÁO | CẬP NHẬT bởi: atoanmt
Xem: 209 | TẢI XUỐNG: 0 | ĐÁNH GIÁ: 0.0/0
Tổng-số Ý-kiến: 0
CHỈ CHO THÀNH VIÊN GÓP Ý
[ ĐĂNG-KÝ | ĐĂNG NHẬP ]
Click Here for Registration THWGLOBAL