| netbat4399 |
Date: Thứ Ba, 14 Jul 2026, 1:40 AM | Message # 1 |
 Sergeant
Group: Users
Messages: 32
Status: Tạm vắng
| Ngày xưa, ở Đồng Nai có một loại trăn to và rất dữ mà trong vùng thường được gọi là mãng xà vương. Người ta bảo có những con mãng xà to bằng cái cối xay lúa và dài đến hai, ba chục thước, có thể nuốt sống được tất cả các loại thú rừng, kể cả voi. Mãng xà bắt các loài thú khác bằng cách dùng thân quấn chặt đối phương rồi xiết cho đến chết. Đối với những con thú nhỏ không quấn được thì nó chỉ táp rồi nuốt sống, con vật đáng thương vùng vẫy kêu la trong bụng nó một hồi lâu rồi mới chết ngợp. Mỗi khi no say, mãng xà nằm ngủ luôn tại chỗ hàng tháng trời. Nó nằm ngủ im lìm như một thân gỗ mục, mặc trời mưa, trời nắng. Lá rụng đầy trên lưng nó, rêu mọc lên thân, lên đầu nó. Nếu có con thú nào vô ý dằn mạnh lên thân, lên đầu thì nó giật mình vùng dậy bắt ăn luôn rồi ngủ tiếp. Đồng bào Đồng Nai sợ mãng xà hơn sợ ma quỷ. Nó đến đâu thì thú rừng bị ăn hoặc trốn đi nơi khác hết. Thợ săn, thợ rừng phải chịu nghèo đói. Nó bò đến đâu thì nương rẫy ngã rạp đến đó như bị bão lụt. Có con mãng xà đã nuốt chửng một lần cả anh thợ săn và bầy chó. Nhiều làng ở ven rừng phải lập miếu thờ thần mãng xà như thờ thần hổ vậy. Nhiều người tinh thông võ nghệ đã từng đánh được hổ, nhưng khi nói đến mãng xà thì cũng đành thu mình lại, dấu roi mà chạy. Thuở ấy, có hai cha con ông Bảy Túc ở làng Mỹ Lộc cũng rất giỏi võ và đều làm nghề thợ rừng. Rừng là nguồn sống duy nhất của gia đình này. Ngoài việc đốn tre, thả gỗ, cắt tranh, thả bè, cha con ông Bảy Túc không còn biết làm nghề nào khác. Vì vậy có những lúc nghe nói có thú dữ về rừng, không ai dám đi rừng nữa, ông Bảy Túc cũng phải mạo hiểm đi kiếm miếng cơm, manh áo cho gia đình trong chốn rừng thiêng ấy. Người ta bảo “sanh nghề thì tử nghiệp”, sống nhờ rừng thì thế nào cũng chết vì rừng, nhưng ông Bảy vẫn không muốn bỏ cái nghề làm ăn quen thuộc của mình mà càng yêu nghề, yêu rừng tha thiết. Người con trai của ông tên là Mạnh, một thanh niên hai mươi tuổi, to khoẻ và nhanh nhẹn. Anh đã hỏi vợ đôi ba nơi rồi mà không được, chỉ vì anh làm cái nghề quá nguy hiểm. Cha mẹ cô Thoan, người yêu của Mạnh không ngần ngại mà nói với con gái của mình rằng: “Mày muốn lấy thằng Mạnh làm chồng thì nên để tang nó trước vì nó là miếng mồi ngon của mãng xà đó.”. Thoan khuyên Mạnh đi làm nghề khác để được cưới nhau, nhưng Mạnh không nỡ bỏ cha đi rừng một mình, rốt cuộc hai người vẫn không thành vợ chồng được.
Một hôm hai cha con ông Bảy Túc vào rừng bỗng gặp một con voi bị mãng xà quấn. Đầu con mãng xà bám chặt trên một cây cổ thụ rất cao. Nó chỉ dùng khúc đuôi quấn hai vòng quanh thân con voi to tướng. Sức voi có thể bứt đứt mãng xà ra làm đôi và giày xác nó. Nhưng không hiểu sao voi lại nhắm nghiền mắt, đứng yên như chết. Nhìn kĩ, ông Bảy Túc mới thấy rằng chót đuôi của mãng xà đang ngoáy vào rốn voi làm cho voi nhột quá chịu không nổi, đành chết đứng như vậy. Ông Bảy nghĩ thầm: “To, béo không phải là mạnh, một chỗ yếu bị chọc có thể làm cho sức mạnh đến mấy cũng trở thành vô dụng.”. Nghĩ vậy ông nói với con rằng: “Chúng ta phải cứu “ngài” (tức con voi), nếu không “ngài” sẽ bị mãng xà nuốt mất.”. Anh Mạnh lo sợ khuyên cha: “Nhưng nếu mãng xà trả thù thì cha con ta cự đương sao nổi? Chi bằng…”. “Không được, làm người không thể vì sợ chết mà làm ngơ trước sự bất công. Voi chỉ ăn cỏ, không làm hại ai, ta cứu voi, giết mãng xà là phải. Con cứ đứng đây, thủ thế sẵn sàng. Cha vào đánh trước, chừng nào cha mệt thì con vào thay.” – ông Bảy Túc căn dặn con. Anh Mạnh chưa kịp nói gì thì ông Bảy Túc đã xông đến gần con voi rồi. Ông dùng lưỡi rựa bén chém một phát thật mạnh lên lưng mãng xà. Con mãng xà bị đứt đuôi ngay, đầu nó buông ngọn cây, cả thân nó rơi xuống đất như một cây to vừa bị đốn. Thấy Bảy Túc múa rựa xông đến, nó hốt hoảng chạy trốn. Con voi cũng giật mình bỏ chạy, để lại một khúc đuôi mãng xà dài đến ba bốn sải tay. Cha con ông Bảy ra sức kéo đuôi mãng xà về làng. Đồng bào rủ nhau đến xem, ai cũng sợ và lo ngại cho gia đình ông. Người ta bảo: Đập rắn thì phải đập nát đầu, nếu không rắn sẽ trả thù trong nay mai. Thấy mình đánh được mãng xà một trận, ông Bảy Túc cũng bớt sợ nó rồi. Hôm sau, hai cha con lại vào rừng kéo gỗ, kéo tre như thường ngày. Không ngờ vừa đến nơi thì thấy gỗ, tre của ông đã được voi kéo giùm ra bờ sông hết. Ngoài ra, có một số gỗ, tre tốt khác cũng đã được voi nhổ cả gốc kéo ra tận bờ sông chất đống cho ông. Thực ra, lúc đánh mãng xà để cứu voi, cha con ông Bảy không nghĩ đến việc sẽ được voi đền ơn đáp nghĩa như vậy. Voi biết trả ơn thì mãng xà cũng biết trả thù. Ông Bảy và anh Mạnh đều hiểu rõ điều này, nên mỗi khi vào rừng, lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng để đối phó. Ngoài những dụng cụ thợ rừng như búa, rìu, cưa, rựa, hai người luôn mang theo những vũ khí để đánh mãng xà như roi cau rừng, độc ngạnh có hai đầu, đầu nào cũng có lưỡi ba chia, cán độc dài đến ba thước. Anh đề phòng trường hợp bị mãng xà quấn thì dùng cây độc ấy mà chống hai đầu để thoát. Quả nhiên, một hôm, hai cha con ông Bảy Túc vừa vào đến bìa rừng thì gặp mãng xà đón đường. Hai người nhận ra ngay con mãng xà bị đánh trước đây, vì nó cụt đuôi và cũng to bằng chiếc cối xay vậy. Vừa thấy hai người thì nó há mồm nom như một cái miếu mở và uốn mình, cất cao đầu lên gầm thét, định phóng tới vồ mồi. Ông Bảy vội bảo con núp sau một cây to thủ thế chờ, còn ông xách rựa bén xông tới giao chiến trước. Đánh chưa được một hiệp thì bỗng nhiên ông Bảy bị mãng xà táp nuốt sống luôn cả cái rựa vào bụng nó. Nuốt người cha xong, con mãng xà hung hãn tiến về phía gốc cây định nuốt luôn người con.
Nó vẫn há mồm to bằng cái cửa miếu và cặp mắt đỏ như hai ngọn đèn. Anh Mạnh sợ quá toan vứt cả độc hai đầu mà chạy. Bỗng anh nghe như có tiếng của lương tâm anh thét lớn: “Đồ hèn nhát, con thú còn biết trả thù. Mi không dám liều chết trả thù cho cha mi sao?”. Lòng thương cha và căm thù mãng xà bỗng bừng bừng nổi dậy, anh liền bước ra trước gốc cây, cầm độc ngạnh sẵn sàng nghênh chiến. Con mãng xà mừng rỡ, uốn mình phóng tới như trời sập bên cạnh anh, anh liền múa độc ngạnh, đầu mãng xà cứng như đá, lưỡi độc của anh chỉ chạm vào chớp lửa rồi dội trở ra chứ không ăn thua gì. Rút được bài học kinh nghiệm đau đớn của cha, anh đã tránh được mấy cái táp rất nguy hiểm của con mãng xà. Nhưng sức mãng xà to lắm, anh chỉ vì căm thù nó mà phải đánh, chứ hi vọng thắng được nó cũng rất mong manh. Qua quá trình chiến đấu thực tế, anh quyết định thay đổi cách đánh. Thừa lúc mãng xà há mồm định táp anh một lần nữa, anh bèn nhanh chân nhảy phóc vào trong mồm nó. Mãng xà tưởng ngon ăn vừa khép mồm lại để nuốt thì cây độc ngạnh hai đầu của anh đã khoá chặt hai hàm của nó, không thể nào ngậm lại được. Bị thương giữa họng, mãng xà đau đớn vùng vẫy như điên làm nát hàng chục mẫu rừng. Anh mạnh chạy thẳng vào bụng nó để tìm cha. Ông Bảy được anh cứu tỉnh lại ngay, rồi hai cha con cùng nhau dùng rựa, dao găm tha hồ đánh phá ngay trong lòng mãng xà. Tim, gan, phổi của nó đều bị bầm nát mà mãng xà vẫn còn vùng vẫy được. Nó cố bò ra sông để trầm mình xuống nước. Nhờ đồng bào cả làng Mỹ Lộc cùng nhau đón đánh tiếp, mãng xà chịu chết ở bờ sông. Hai cha con ông Bảy Túc từ trong bụng mãng xà bước ra, được đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt. Sau trận ấy, những con mãng xà khác đều phải bỏ vùng này mà đi hết, đồng bào ra rừng làm ăn thong thả như đi dạo vườn hoa. Lần đầu tiên đồng bào Đồng Nai được ăn thịt mãng xà trong tiệc cưới của Thoan và Mạnh. Ai cũng khen gan mãng xà rất ngon và không còn sợ mãng xà nữa. (Theo Bùi Quang Huy tuyển chọn và giới thiệu, Huỳnh Văn Nghệ – Tác giả và tác phẩm, tập 2, NXB Đồng Nai, 2008)
Chú thích * Tác giả Huỳnh Văn Nghệ: sinh ngày 02/02/1914 tại làng Tân Tịch (xã Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà; nay thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Ông xuất thân trong làng quê “nghèo sản vật mà giàu truyền thống cách mạng”. Được nuôi dưỡng trong một gia đình nền nếp, giàu nhân nghĩa, Huỳnh Văn Nghệ là hình ảnh kết tinh truyền thống của quê hương, nghĩa khí của cha, đức bao dung của mẹ, bản lĩnh của các anh chị em, sự hồn nhiên của bạn bè và thiên tư của chính mình. Ông theo học sơ học ở trường quận, học tiếp trường nội trú ở trường Petrus Ký Sài Gòn, ra làm công chức hoả xa. Ông tham gia cách mạng rất sớm, có nhiều đóng góp trong binh nghiệp và văn nghiệp của Đồng Nai. Ông mất năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh, an táng tại quê nhà. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân năm 2009.
Message edited by netbat4399 - Thứ Ba, 14 Jul 2026, 1:42 AM |
| |
| |