Thứ Bảy
29 Apr 2017
9:30 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » NHÂN-TƯỚNG HỌC- PHONG THỦY & BÓI TOÁN » TỬ VI » Tử Vi Trung Quốc và Tử Vi Việt Nam (Đinh Công Phổ)
Tử Vi Trung Quốc và Tử Vi Việt Nam
thanhlongphapsu Date: Thứ Tư, 11 Dec 2013, 7:36 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2714
Status: Tạm vắng
Những dị biệt giữa TỬ-VI TRUNG QUỐC & TỬ VI VIỆT NAM



– Những dị biệt cần lưu ý.
– Đổi nguyên tắc Đại hạn nên phải mấy vòng sao ?


Tử-Vi Việt Nam xuất phát từ nguyên tắc Tử-Vi đẩu số Trung Quốc. Tuy phát xuất từ Trung Quốc, nhiều nguyên tắc của Tử-Vi Đẩu số Trung Quốc đã bị biến đổi khi áp dụng vào khoa Tử-Vi của Việt Nam.

Một trong những sự biến đổi quan hệ nhất này là sự biến đổi của nguyên tắc Đại Hạn

Phép an Đại Hạn của Tử Vi Trung Quốc khởi từ 1 trong hai cung Phụ hoặc Huynh.

Ở Việt Nam nguyên tắc này bị biến đổi, khởi từ 1 cung duy nhất là cung Mệnh. Sự biến đổi của phép an Đại-Hạn đã tạo nên giữa Khoa Tử-Vi Đẩu Số Trung Quốc và Khoa Tử-Vi Đẩu Số Việt Nam nhiều dị biệt. Nhiều vòng sao thay đổi, nhiều vòng sao không áp dụng, nhiều vòng sao mới.

I- Vòng sao thay đổi từ Tử-Vi Trung Quốc sang Tử-Vi Việt Nam


Những vòng sao thay đổi là Thiên Không, Thái Tuế. Vòng sao không áp dụng là Phi Thiên Tam Sát. Những vòng sao mới gồm :

– Đào Hoa, Thiên tài, Thiên Thọ
– Cô Thần, Qủa Tú, Lưu hà, Kiếp Sát, Phá Tóai.
– Thiên Y, Thiên Trù, Thiên Giải.
– Vòng Thiên Không - Địa Kiếp (khời từ Hợi) được thay thế bằng Địa Không – Địa Kiếp
– Vòng Thiên Không biến đổi, vị trí mới an ở trước vòng Thái-Tuế.
– Vòng Thái Tuế được an một lần 12 sao cho 12 cung.

Bởi sự thiếu sót, khoa Tử-Vi Đẩu Số Trung Quốc đã bị chấm dứt ở Trung Quốc để thay thế bằng khoa Tử-Bình.

Ở Việt Nam, sự thiếu xót được bổ túc bằng nguyên tắc biến đổi, những vòng sao mới đã làm cho khoa Tử-Vi trở nên một trong những khoa Vận-Mệnh Học tinh diệu nhất. Đồng thời với những nguyên tắc biến đổi, nhiều phú đóan cũng đã biến đổi.

II- Phụ giải

1/- Căn cứ vào những nguyên tắc biến đổi, Tam Không của ”Mệnh Vô chính diệu đắc Tam Không ... ” không phải chỉ là :

– Tuần Không
– Triệt Không
– Thiên Không

Hay :

– Tuần Không
– Thiên Không
– Địa Không

Mà phải là :

– Tuần, Triệt
– Thiên Không
– Địa Không

2/- Triệt : cũng như Tuần, tác dụng ở khắp 12 cung

– Riêng ở Dần, Thân, Mão, Dậu, Triệt và Tuần : Vượng
– Thân, Dậu thuộc Kim ; Dần, Mão thuộc Mộc
– Hành của Triệt : Kim đới Thủy
– Hành của Tuần : Hỏa đới Mộc.
– Triệt (và Tuần) Vượng ở Dần Thân, Mão Dậu, vì lẽ đó.
– Nếu Triệt không tác dụng ở Dần Mão thì Phú Ma-Thị đã không có câu :

”Tử-Phủ đồng cung tốt vi phúc hậu, thiết hiềm nội trở Triệt Tuần”

3/- Cung Mão : Theo Bát Quái Phục Hy, thuộc quẻ Chấn.

– Quẻ Chấn tượng Sấm, Sét
– Nguyên lý này đã cắt nghĩa nguyên nhân Vũ-Khúc, Thất-Sát (thuộc Kim) hãm ở Mão
– Phú ghi : ”Mão cư Vũ, Sát, phòng mộc áp lôi kinh”

Hạng-Vũ đã chết ở Đại-hạn này : Đại hạn 32-41 tuổi, cung Mão, Vũ-Khúc, Thất-Sát hãm. Và Lưu niên Đại-Tiểu hạn trùng phùng năm Mậu Tuất, cung Thân, Kiếp Không lậm hạn. Phú ghi : ”Kiếp Không lâm hạn, Sở Hạng Vương táng quốc, Lục Châu vong”

Hạng Võ sinh năm Đinh Mão, Tháng 8, ngày 12, Giờ Mão, Âm Nam, Hỏa Mệnh, Thủy Nhị Cục

Sở Hạng Vương tức Hạng Võ, Lục Châu tức thiếp của Thạch Sùng.

4/- ”Hạng Võ anh hùng, danh chấn chư bang” ở Đại Hạn 22-31 tuổi. Thái Dương nhập hạn ở cung Thìn .

– Thái Dương + Thiên Hình : Thanh Long Đao

Chính nhờ cây Thanh Long Đao này và con ngựa Ô Truy Thiên Mã ở Tỵ, đã giúp Hạng Võ dựng lên nghiệp bá.

Con Ngựa Ô-Truy,Thanh Long Đao sau này còn tái xuất giang hồ một lần nữa ở Thời Tam Quốc với Quan Vân Trường, rồi sau đó tuyệt tích luôn trong giòng luân hồi của nhân thế.

Ô-Truy Mã, Thanh Long Đao bây giờ ở đâu ?
Cả hồn Hạng Võ và Ngu-Cơ ?

Khoa đẩu số huyền diệu lắm, lý chỉ tuy có vẻ rõ ràng, nhưng dù có xem cả trăm pho sách cũng chưa hết .


Vì nhà Tần bạo ngược, chính sự hà khắc thiên về hình pháp bỏ cả Đạo Đức của Thánh hiền như đốt sách chôn nho, cho nên nhân dân cơ cực lầm than. Chư hầu liền nổi lên đánh đổ nhà Tần độc tài chuyên chế.

Hạng Võ và Lưu Bang mỗi người chỉ huy một đạo quân đi diệt kẻ thù chung. Sau khi nhà Tần bị diệt vong. Lưu Bang và Hạng Võ cùng nhau tranh ngôi bá chủ thiên hạ, thế là Hán Sở chiến trường bùng nổ. Hạng Võ sức khỏe khinh người, cầm thương lên ngựa xông pha ra bãi xa trường. Còn Lưu Bang sắc phong Hàn-Tín làm Đại Nguyên Sóai cầm quân chống cự Hạng Võ khi đó tự xưng là Tây Sở Bá Vương.

Tây Sở Bá Vương Hạng Võ tuy khỏe nhưng vô mưu, còn Hàn-Tín thì sức tuy yếu nhưng túc trí đa mưu. Rốt cuộc, Hạng Võ chết về tay Hàn-Tín và Hàn-Tín được phong là Hòai Âm Hầu còn Lưu Bang lên ngôi Hòang Đế làm Hán Cao Tổ, nhưng về sau Hàn-Tín lại chết về tay Lã-Hậu vợ vua Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Chúng tôi xin giải đóan Lá số của Tây Sở Bá Vương Hạng Võ.

Hạng Võ sinh năm Đinh Mão, Tháng 8, ngày 12, Giờ Mão, Âm Nam, Hỏa Mệnh, Thủy Nhị Cục

Lá số minh hoạ: Lá số Hạng Võ


Cung Mệnh đóng ở Ngọ và cung An Thân đóng Tý là cung Thiên Di. Cung Mệnh có Quan Đới, Bác Sỹ, Thiếu Âm: hai tốt một xấu. Số trên Trung Bình. Mệnh ở Ngọ, Hoa Cái ở Mùi, Thiên Mã ở Tị, là cách “Tiền Cái Hậu Mã ” nghĩa là trước lọng sau ngựa là số tốt ví như ông Quan cưỡi ngựa che tàn.

Bây giờ xem sao tọa thủ , chính tinh là Thiên Cơ, ở Ngọ là Đắc địa có óc cơ sảo quyền biến, thêm Hỏa Tinh và Thiếu Âm (Thái Âm hợp chiếu) tính nóng nảy và ác lắm. Lại có Lộc Tồn , Hóa Khoa là số giàu có và được học hành thi cử, thêm Hóa Lộc, Hóa Quyền hợp chiếu. Đây là cách Song Lộc, Khoa, Quyền hội họp thật là đại qúy. Lại còn có câu : “ Xuất thế vinh hoa, Quyền Lộc thủ tài quan chi vị “.

Nghĩa là :
Lộc Quyền đóng ở Tài Quan
Công danh xuất chúng, giàu sang hơn đời

Cung Mệnh có Khoa, Lộc Tồn mà Thiên Di xung chiếu có Hóa Kị, đó là cách “Lộc phùng xung phá”. Còn Hóa Khoa cũng bị Hóa Kị xung phá, thì ta phải đóan dù có học hành, nhưng chắc gì đã giỏi, đã đỗ đạt !.

Cung Thân cư Thiên Di ở Tý có Cự Môn tọa thủ đó là “Thạch Trung Ẩn Ngọc “ , tiếc rằng không ngộ Triệt hoặc Hóa Lộc thì viên đá qúy đó không được mài, được giũa, sao mà thành hòn ngọc được. Thêm nữa lại có Hóa Kị đồng cung là cách “Cát xứ tàng hung” nghĩa là ở nơi tốt lành nhưng trong tình cảnh đầy nguy hiểm, hung ác.

Cung Mệnh có Thiên Hỷ và được Đào Hoa, Hồng Loan xung chiếu. Cung Thân có Đào Hoa, Hồng Loan tọa thủ là số đa tình, đa dâm và bị lụy về tình. Theo chuyện xưa kể lại thì Hạng Võ là người đam mê tửu sắc, chẳng thế mà khi ở nơi cung cấm thì yến tiệc lu bù và khi xuất chinh bao giờ cũng có gái đẹp rượu ngon bên cạnh. Nàng Ngu Cơ đã ở bên cạnh Hạng Võ luôn luôn cho đến trận đánh cuối cùng, nàng phải tự sát để cho Hạng Võ khỏi phải bịn rịn đem bọn tàn quân phá vòng vây của Hàn Tín để tìm cái chết ở Ô Giang.

Cung Thân mà có Hóa Kị là suốt đời chẳng lúc nào xứng ý toại lòng

Cung Quan Lộc ở Tuất có Thái Âm ngộ Tuần là xấu quá, ví như mặt trăng ban đêm gặp mây đen bao phủ, giông tố phũ phàng, cho nên đường công danh gặp nhiều bước gian truân, suốt đời ôm hận. Chính tinh là Thái Âm lạc hãm thì dù cho có Khoa, Quyền, Song Lộc hội họp cũng chẳng đi đến đâu, bởi chúng không thể giải cứu cho có hữu hiệu. Thêm nữa đương số Hỏa Mệnh không hợp với Thái Âm (hành Thủy)

Cung Tài Bạch ở Dần có Địa Kiếp
Cung Phúc Đức ở Thân có Địa Không

– Xuất thế vinh hoa
Quyền Lộc thủ Tài Quan chi vị

– Sinh lai bần tiện
Kiếp Không lâm Tài Phúc chi hương.

Là một câu đối, vế trên đã tạm dịch trên đây, bây giờ xin tạm dịch vế dưới :

Tài Phúc mà gặp Kiếp Không
Chẳng phường bủn sỉn cũng quân nghèo hèn

Lại có câu : Không Kiếp Tài Phúc phi yểu tắc bần.

Tạm dịch :”Kiếp Không tọa thủ Phúc Tài. Giàu thì chết yểu, đói dài sống lâu …”

Cung Tài Bạch của Hạng Võ thật là tốt. Ở Dần có Thiên Đồng, Thiên Lương và Hóa Quyền, Hóa Khoa nhất là Song Lộc hội họp thì tốt, nhưng tiếc vì 2 cung Tài Bạch và Phúc Đức có hai sao Địa Kiếp, Địa Không nên thành ra xấu. Hạng Võ đâu phải là người nghèo hèn bủn xỉn, vậy thời phải nói đương số là người có óc hẹp hòi và vì giàu sang nên chết yểu.

Còn nếu không có Địa Kiếp ở Tài Bạch thì đương số là người “Mài Kim Tích Ngọc” là giàu có, nhiều vàng phải đem chôn vàng cho khỏi mất mát và trong nhà tích trữ châu báu ngọc ngà.

Về cung Phúc Đức tốt lắm. Có Tràng Sinh lại Giáp Tử-Vi, Thiên-Phủ lá qúy cách, chỉ vì có Địa Không, Địa Kiếp nên đành chết yểu đó thôi.

Cung Thê Thiếp ở Thìn có Thái Dương thật là tốt, vợ là người đẹp và vượng cho phu, ích cho tử.

Cung Phúc, Cung Thê và Cung Di có ba sao Tràng Sinh, Đế Vượng và Mộ là tốt lắm.

Để kết luận chúng tôi xin nói rằng đây là một lá số tốt vì cung Mệnh tốt hết sức, nhưng cung Thân lại quá xấu đối với cung Mệnh, cho nên lúc thiều thời oai chấn chư hầu, giàu sang tột bực, nhưng đến lúc trung niên, chẳng chịu tu thân tích đức còn làm biết bao nhiều điều tàn bạo cho nên đành chết yểu. Âu cũng là định mệnh, cho nên có câu :

Hạng Võ anh hùng
Hạn chí Địa Không nhi táng quốc.

VẬN HẠN : Đại hạn 10 năm

– Từ nhỏ đến 11 tuổi tại cung Ngọ : Sống trong cảnh giàu có nhưng không phải giàu có lớn. Cha mẹ cho đi học văn chương, nhưng không thành công vì có Hóa Khoa bị Hóa Kị xung chiếu, ví như cái mầm non bị thui.

– Từ 12 tuổi đến 21 tuổi (cung Tỵ) : được cách Phủ Tướng triều viên (Thiên Phủ ở Dậu và Thiên Tướng ở Sửu) và cách Giáp Âm Dương (Thiếu Âm ở Ngọ- Thiếu Dương ở Thìn) thêm nữa được con Thiên Mã ở Tị là Hỏa Mã tức con ngựa xích thố rất hợp với người Mệnh Hỏa như hạng Võ. Trong thời kỳ này đương số phát triển mạnh cũng như Ông Quan Vân Trường, từ khi có con ngựa xích thố nó chịu đựng sức nặng của Tướng Quân và Thanh Long Đao nặng 82 cân. Tướng Quân và Thanh long Đao nặng 82 cân được nổi tiếng anh hùng bởi miếng võ “Đà Đao”

– Từ 22 tuổi đến 31 tuổi tại cung Thìn : Có Thái Dương. Cung Thìn là cung mà khí Dương phát xuất mạnh nhất cũng như cung Tuất có Thái Âm là khí Âm phát xuất mạnh nhất. Đây là cách “Nhật Thìn, Nguyệt Tuất tịnh tranh quang , quyền lộc phi tàn” nghĩa là : Quyên và Lộc không bao giờ hết. Đây là Đại hạn 10 năm tốt nhất của Hạng Võ . Đánh Nam dẹp Bắc Chinh Đông, chiếm thành cướp ải, rồi tự xưng là Tây Sở Bá Vương, gồm thâu chiếm thiên hạ (Trung Hoa) chỉ trừ có Tây Xuyên một vùng ma thiêng nước độc , dân ít mà nghèo, là dành cho Lưu Bang lúc đó có danh hiệu Lưu Bái Công.

– Từ 32 đến 41 tuổi ở cung Mão, có Vũ Khúc, Thất Sát và được Phá Quân, Liêm Trinh hợp chiếu. Đó là cách “Vũ Sát Phá Liêm cư Mão địa, Mộc áp Lôi Kinh”, xin dịch là ở Mão có có Vũ Sát Phá Liêm là ví như gỗ bị áp lực sấm sét kinh khủng, và tôi cũng xin nói rõ thêm về Bát Quái, thì cung Mão ở hướng Đông thuộc quẻ Chấn là sấm, Vũ Khúc & Thất Sát đều là Kim, sát cọ vào gỗ tóe lửa cho nên gọi là sấm thêm nữa Mão là vị trí của quẻ Chấn cũng là sấm. Nói tóm lại gặp cách Mộc áp Lôi Kinh là xấu lắm rất nguy hiểm đến tính mệnh. Lại có Triệt Lộ Không Vong ở Dần-Mão gọi là Mộc Không, xấu lắm vì Mộc không có nghĩa là gỗ bị gãy. Thêm vào đấy có Thái Tuế, Quan Phù, Thiên Khốc, Thiên Hư, Đại Tiểu hao, Kình Dương, Bạch Hổ … nhiều sao xấu quá ! Cho nên trong hạn này Tây Sở Bá Vương tánh mạng ở Ô Giang cho đúng cách “ Không Kiếp Tài Phúc, phi yểu tắc bần “ Vì không nghèo hèn nên yểu tử .

* Tiểu Hạn (1 năm) Năm Mậu Tuất. Hạng Võ 32 tuổi bị Hàn Tín lập mưu phá tan quân đội, rồi vây hãm ở bến Ô Giang. Hạng Võ cùng binh tướng kiệt quệ, tự vẫn chết năm Tuất, đóng ở cung Thân, là cung Phúc-Đức, vô chính diệu, có Địa Không tọa thủ, Địa-Kiếp xung chiếu, Thiên Không hợp chiếu lại còn có Kiếp-Sát, Thiên Hình, Hóa Kị … hội họp cho nên nói là xấu lắm, do đó mới có câu :

Kiếp Không lâm hạn
Sở Vương táng quốc Duyên Châu.

* Lưu niên Đại Hạn ở cung Mão, cho nên là Đại Hạn và Lưu niên Đại Hạn đồng cung. Xem ra Tiểu hạn, Đại Hạn, Lưu niên Đại Hạn của Hạng Võ đều xấu cả thì cái chết của vị Đại Tướng Quân , Vương Đạo cũng dùng mà Bá Đạo cũng chẳng tha, lấy danh hiệu Tây Sở Bá Vương cái danh hiệu không tiền khóang hậu, thật là đúng số. Cung an Thân xấu hơn cung Mệnh nhiều, đã chẳng tu nhân tích đức lại còn đa sát thì thọ làm sao được ?.
 
atoanmt Date: Thứ Sáu, 13 Dec 2013, 7:26 AM | Message # 2
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5492
Status: Tạm vắng
Mấy bài sưu-tầm về Tử Vi của bạn thanhlongphapsu, bài nào cũng độc đáo và hay quá...



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
FORUM » NHÂN-TƯỚNG HỌC- PHONG THỦY & BÓI TOÁN » TỬ VI » Tử Vi Trung Quốc và Tử Vi Việt Nam (Đinh Công Phổ)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL