Thứ Năm
23 Nov 2017
4:26 PM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » CHUYỆN PHẬT GIÁO » NHỮNG CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ (Tổng Hợp)
NHỮNG CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ
saigoneses Date: Thứ Ba, 22 Aug 2017, 8:05 AM | Message # 1
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng


Hành nghề sát sinh và nỗi oan nghiệt của cả gia đình



15 năm hành nghề buôn bán, giết mổ gia súc gia cầm, bà Nguyễn Thị Th. đã giết hàng vạn con gà, vịt, thỏ, chó… Vào mùa cưới hay dịp Tết, bà giết cả trăm con mỗi ngày, thu lãi hàng triệu đồng. Bà nhanh chóng trở nên giàu có. Cả làng ngưỡng mộ bà.

Thế nhưng, không ai có thể ngờ được, rồi đến một ngày, tai họa đã giáng liên tiếp xuống nhà bà. Chồng bà bị chết chết bất đắc kỳ tử trong một vụ tai nạn rùng rợn. Con trai cả của bà bị điện giật chết đúng đêm trước ngày đón dâu một hôm. Vài tháng sau, con trai út bị ung thư xương chân. Của nả lần lượt đội nón ra đi. Đến lúc nhà cửa sạch sành sanh cũng là lúc người con vĩnh biệt cõi đời.
Ngày hỏa táng con, bà xuống tóc đi tu. Bà muốn mượn tiếng mõ, lời kinh để quên đi nỗi đau tột cùng. Bà muốn nương nhờ cửa Phật để rửa bớt nghiệp ác mà bà đã gieo rắc suốt 15 năm


Phúc bất trùng lai, Họa vô đơn chí

Bà Nguyễn Thị Th. quê ở miền Trung, lên huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng lập nghiệp từ thập niên 1980. Chồng bà tên Tr., người cùng quê, gia cảnh của hai ông bà đều nghèo khó. Thời gian đầu, hai vợ chồng đi làm thuê cuốc mướn sống tằn tiện qua ngày. Sau, vay mượn tiền của anh em họ hàng, bà mở quầy bán gà, vịt tại chợ thị trấn.

Lúc đầu, ngày bà chỉ túc tắc bán được một vài con. Sau, khách đông dần, ngày bà thịt vài chục con. Những ngày giáp Tết hay mùa cưới, bà thịt cả trăm con, đủ loại: gà, vịt, thỏ, chó, vịt, ngỗng…

Bà kể, thu nhập trung bình mỗi ngày 500.000 VNĐ. Những ngày đông khách, bà kiếm vài triệu ngon ơ. Từ đó, kinh tế nhà bà phất lên như diều gặp gió. Cả làng ngưỡng mộ.

Một chiều nọ, có bà cụ già tay bị tay gậy đi ngang rồi ghé vào nhà bà xin ăn. Nhận xong chút đồ ăn và ít tiền từ tay bà, bỗng cụ già ăn xin bảo:

-“Cô ơi! Nhà cô sắp có đại họa rồi đấy. Cô nghe tôi, nên dừng lại nghề sát sinh, phát tâm ăn chay, niệm Phật để giải nghiệp kẻo sau này hối hận cũng chẳng kịp đâu!”

Nghe vậy, bà Th. tức giận, gắt gỏng:

-“Bà già ăn nói luyên thuyên vừa thôi chứ, xéo ngay ra khỏi nhà tôi. Từ rày, đừng có vác mồm đến đây xin ăn nữa nhé !”

Một tuần sau, có một gia đình ở thị trấn Liên Nghĩa tổ chức đám cưới cho đứa con trai, họ đặt nhà bà Th. làm một tạ thịt chó. Chồng bà phải mất 2 ngày xuôi ngược khắp nơi mới thu mua cả thảy được 9 con.

Buổi chiều, trong lúc ngồi đun nước sôi chuẩn bị làm thịt, nhìn vào cái lồng nhốt chó, bỗng dưng mắt bà bị thu hút vào con chó cái màu vàng. Nó đang có chửa, bụng khá to, nằm bệt dưới lồng vì mệt.

Chợt bắt gặp ánh mắt của bà Th. đang nhìn, con chó vàng liền nhỏm dậy. Nó dúi cái mõm qua ô lồng sắt, mắt nhìn bà như van lơn, ư ử kêu như van xin tội tình. Bà Th. chợt rùng mình. Bà hớt hải chạy lên nhà, bảo chồng:

- “Ông ơi! Con chó vàng nhốt ở lồng dưới gốc cây ngọc lan đang có chửa. Nó vừa van xin tôi đấy. Hay là mình để nuôi vài tuần, chờ nó đẻ xong rồi giết thịt sau ông nhé”.

Ông gắt gỏng:

-“Bà có điên không đấy? Con chó mà biết nói à? mà bà lại bảo là nó van xin bà ? Vớ vẩn !”. Nói đoạn, ông bước huỳnh huỵch ra sân, cầm cái chày bằng gỗ lim đen bóng đập cái “Đốp”.

Bà Th. chạy ra đến nơi thì đã nhìn thấy con chó vàng nằm chết không kịp tru lên một tiếng. Hai mắt nó ướt nhèm. Mổ bụng, lôi ra 5 con chó con còn chưa đủ hình hài. Bà Th. bỗng thấy sống lưng ớn lạnh.

6 giờ chiều mới làm thịt xong 9 con chó. Ông Tr. chồng bà phải huy động thằng Tuấn, đứa con trai lớn, đang học lớp 12, nghỉ lớp học thêm để phụ ông chở lên thị trấn. Hai bố con mỗi người đi một xe.

Buổi tối, bà Th.chờ mãi không thấy chồng và con về. Sốt ruột, điện thoại cho chồng thì nghe giọng ông gắt:

-“Tôi với thằng Tuấn đang uống rượu trên đám cưới. Khuya mới về. Bà cứ ngủ trước đi”.

11 giờ đêm chồng con vẫn chưa về. Ruột bà Th. nóng như lửa đốt.

Bỗng tiếng chuông điện thoại kêu reng. Giọng thằng Tuấn con trai bà hốt hoảng:

-“Mẹ ơi! Bố con bị tai nạn chết rồi !”

Sau này, thằng Tuấn kể, tan bữa tiệc cưới, hai bố con phóng xe về. Bố đi trước, con đi sau. Đột nhiên, xe ông Tr. đâm thẳng vào gốc cây bên đường. Xe máy đổ ầm. Ông Tr. ngã vật xuống đường, đầu đập vào tảng đá, vỡ toang.

Sau cái chết của chồng, nhớ lại lời dặn của bà cụ ăn xin hôm nào, bà Th. thấy chờn chợn. Lẽ nào lời nói tiên tri về đại họa giáng xuống nhà bà là có thật? Nhiều đêm không ngủ, nằm vắt tay lên trán, bà cũng định bụng dừng lại nghề giết mổ. Nhưng nghĩ đến khoản lãi tiền trăm, tiền triệu mỗi ngày, bà lại thấy tiếc. Vả lại, hai thằng con trai của bà đang tuổi ăn tuổi lớn. Bà không cố gắng ky cóp, sau này, lấy đâu ra tiền mà lo lắng tương lai cho chúng?

Lối thoát mập mờ

Cha chết, Tuấn theo nghiệp mẹ trở thành anh đồ tể sắc tay, nhưng đúng đêm làm đám cưới thì Tuấn bị điện giật chết. Bà Th. ngã ngửa người, khóc ngất lên ngất xuống…



Một hôm, bà Th. bảo Tuấn:

-“Con học xong lớp 12 thì ở nhà giúp mẹ. Học hành chi cho tốn kém. Ra trường, lương ba cọc ba đồng, sống sao nổi”.

Tuấn nghe lời mẹ. Vài tháng sau, Tuấn đã trở thành anh đồ tể sắc tay. Tiền kiếm như nước. Gái trong vùng mê Tuấn như điếu đổ. Nhiều gia đình muốn gả con cho Tuấn vì Tuấn vừa khỏe mạnh, chịu thương chịu khó lại kiếm được tiền. Cuối cùng, Tuấn quyết định lấy cô K., hoa khôi của thị trấn.

Đám cưới của đứa con trai đầu, bà Th. làm tiệc tưng bừng suốt 3 ngày 3 đêm. Khách mời dự đông nườm nượp. Gà, vịt giết không biết bao nhiêu mà kể. Bà Th. khan hết cả tiếng nhưng mặt vẫn ngời ngời như hoa.

Song niềm vui ngắn chẳng tày gang...

Trước hôm đón dâu một ngày, đêm muộn, khi khách về hết, chú rể lụi hụi mắc lại đèn chùm trong phòng ngủ. Chẳng hiểu hí hoáy thế nào bị điện giật chết. Ngày cưới trở thành ngày tang. Bà Th. ngã ngửa người, khóc ngất lên ngất xuống.

Gắng gượng lo xong đám tang cho con, bà Th. lăn đùng ra ốm. Suốt ngày nằm bệt trên giường. Mỗi bữa chỉ húp được vài thìa cháo loãng. Đúng 3 tháng 10 ngày, bà mới nhóc nhách ngồi dậy, lần thành giường tập đi.

Bà bắt đầu tin vào luật nhân quả, vào ác nghiệp sát sinh mà mình gieo rắc suốt mười mấy năm. Bà thỉnh mời các nhà sư đến nhà, lập đàn tế lễ giải nghiệp suốt 3 ngày 3 đêm. Rồi mua cả tạ lươn, ốc, cá phóng sinh…

Bà bảo thằng Công, con trai út của bà:

-“Mẹ cả đời vất vả hành nghề sát sinh cũng chỉ vì muốn tạo dựng tương lai tốt đẹp cho con. Con gắng học cho tốt, sau này, có công ăn việc làm đàng hoàng, tử tế, đỡ khổ con ạ”.

Công đang học lớp 12 trường huyện. Nó học rất giỏi, mơ ước thi vào trường Đại học An ninh. Một buổi chiều, đi đá bóng cùng đám bạn về, tự nhiên nó thấy đau đầu gối chân trái. Cứ nghĩ là do chạy nhiều nên nó cứ cắn răng chịu đau.

Mấy tuần sau, đầu gối sưng to, nhức nhối suốt đêm không ngủ, bà Th. đưa nó đến Bệnh viện tỉnh Lâm Đồng khám.

Xét nghiệm khối u to như quả trứng gà, bác sĩ kết luận nó bị ung thư xương. Nó khóc ầm lên. Bà Th. thì chết lặng.

Nghe bác sĩ khuyên, bà đưa thằng Công xuống Bệnh viện Chợ Rẫy điều trị. 5 tháng sau, khối u càng to, bà chuyển nó qua Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn ở đường Lê Lợi, điều trị thêm 5 tháng nữa.

Bác sĩ khuyên nên cắt chân nhưng thằng Công giãy nảy. Nó mới 18 tuổi đầu. Cắt chân đến tận đùi thì đâu còn ước mơ trở thành chiến sĩ an ninh? Bà Th. vuốt nước mắt đưa con về nhà, chữa trị bằng Đông y.

Cứ nghe đồn ở đâu có Thuốc hay, Thầy giỏi là bà lần mò tìm đến. Của nả trong nhà lần lượt đội nón ra đi. Cho đến lúc sạch sành sanh cũng là lúc khối u ở chân Công to như cái cối đá lỗ. Da căng mọng, tím tái, gân xanh nổi chằng chịt.

Một ngày, khối u vỡ ra. Máu mủ chảy lênh láng khắp giường. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Ruồi nhặng từ đâu bay đến ào ào. Bà Th. phải giăng mùng kín mít suốt ngày. Chốc chốc, bà cầm cái quạt, đập đánh “độp” vào thành màn, xác ruồi rơi rào rào. Thế mà một lúc sau, cả cái màn lại đen kịt ruồi bâu.



Mùi hôi thối bốc sang cả những nhà xung quanh. Hàng xóm phải đóng cửa nhà kín mít. Công người gầy guộc, chỉ còn da bọc xương. Khối u ở chân trông càng to, càng khủng khiếp. Vết loét ngày càng ngoác rộng, trông như miệng con chó thui. Công kêu la rền rĩ suốt ngày đêm vì đau đớn.

Nghe người trong thôn mách dùng nhựa con cóc nhỏ lên vết loét, khối u sẽ khỏi, bà Th. đi bắt liền 5 con, dùng dao chặt đứt đôi thân rồi quẹt lên thành miệng vết loét. Tiếc rẻ, bà dùng vải xô, bó chặt thân 5 con cóc lên trên. Thằng Công hét toáng lên như con lợn bị chọc tiết.

-“Xót quá mẹ ơi! Con không chịu được nữa đâu. Mẹ giết con đi. Con đau đớn lắm”.

Một buổi chiều. Một nhà sư già bộ hành ghé vào nhà bà xin hớp nước. Biết hoàn cảnh éo le của bà, nhà sư bảo:

-“Cháu nó bị thế này là do gánh nghiệp sát sinh của chị. Mệnh của cháu hết rồi. không cứu được đâu. Chi bằng chị đưa cháu đến Tịnh thất Quán Thế Âm ở xã Hiệp Đức, huyện An Đức, tỉnh Lâm Đồng. Ở đó có Ban hộ niệm Phật A Di Đà. Chị nhờ Sư trụ trì và các Phật tử trong Ban hộ niệm tụng kinh niệm Phật, trợ niệm, trợ duyên, giải nghiệp cho cháu bớt đau đớn để được ra đi thanh thản, vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc”.

Sự vi diệu của Phật pháp nhiệm màu

Bà Th. cất công đưa con trai đến chùa Quán Thế Âm xin các sư thầy niệm tụng kinh Phật, trợ niệm, trợ duyên giải nghiệp cho Công bớt đớn đau. Cửa Phật từ bi quả tình luôn giang rộng cánh tay với mẹ con bà…

Sư chú Hiền ở chùa Quán Thế Âm kể:

-“Lúc ra mở cửa, vừa nhìn thấy cái chân voi với khối u khủng khiếp bốc mùi hôi thối nồng nặc, máu mủ chảy tong tỏng, tôi muốn buồn nôn, sởn hết cả da gà...

Đã nhận hàng trăm ca hộ niệm nhưng chưa bao giờ tôi thấy có người bệnh nào lại trong tình trạng kinh khiếp đến như vậy. Nhưng nhìn vào khuôn mặt xác xơ, khổ đau tột cùng của người mẹ cùng lời van xin đến tội tình: “Xin sư chú rủ lòng thương cứu vớt. Mẹ con con đã hết đường sống rồi”, nhìn cảnh cháu Công còn da bọc xương nằm rên rỉ, tôi không đành lòng chối từ.

Tôi liền thưa chuyện với sư thầy trụ trì, đại đức Thích Giác Nhàn. Thầy bảo: “Cửa Phật từ bi che chở mọi khổ đau của kiếp người. Con cứ nhận họ vào”.

Từ hôm đó, hàng ngày, vào mỗi buổi sáng và chiều, sư chú Hiền, sư chú Sơn và 40 Phật tử trong Ban hộ niệm đã ngồi xếp bằng thành vòng tròn, tụng kinh niệm Phật cho Công. Mùi hôi thối bốc ra nồng nặc khắp căn phòng. Một số người không chịu đựng được đã chạy ra ngoài nôn thốc nôn tháo.



Tiếng kêu la của Công nhiều khi át cả tiếng mõ, tiếng chuông. Hai sư chú và các Phật tử vẫn dốc lòng nhất tâm hộ niệm suốt 2 tiếng. Máu mủ từ vết loét to ngoạc nhỏ tỏng tỏng xuống tấm mền lót bên dưới. Một lúc, lại phải thay tấm mền khác. Ngày 3 lần, sư chú Sơn mang găng tay y tế, luồn qua miệng khối u, thọc sâu vào bên trong đến tận khuỷu tay, móc dần những cục thịt thối ra để cho Công bớt đau. Chú làm ân cần, dịu dàng.

Khuôn mặt chú hiền từ. Vừa làm, chú vừa nói với Công:

-“Sư chú biết con đau lắm. Nhưng nếu con cứ kêu rên như thế sẽ khiến con càng đau, càng mệt. Con hãy nương vào lời tụng niệm A Di Đà Phật mà các bác, các cô chú ở đây đang tụng cho con. Và con hãy tụng theo. Sư chú tin, con sẽ bớt đau”. Công làm theo. Từ đó, nó thấy bớt đau nhiều.

Sư chú Sơn kể:

-“Mấy ngày sau, Công không kêu rên nữa. Cậu thành tâm niệm Phật. Điều kỳ lạ là mùi hôi thối bớt dần. Ai cũng ngạc nhiên và càng tin vào sự vi diệu của đạo Phật. Vì thế, càng hết lòng hộ niệm cho cậu ấy”.



Một tháng sau, vào buổi sáng, khi sư chú Sơn đang lựa tay khẽ khàng móc từng mảng thịt thối trong khối u khổng lồ, Công khẽ khàng bảo:

-“Chú Sơn ơi! Tối qua con nằm mơ thấy Phật Di Đà về đón con đi. Ngài mặc áo vàng rực, tay cầm đóa sen vàng. Ngài mỉm cười với con chú ạ”.

“Thế con có sợ chết không?” – Chú Sơn hỏi.

-“Con chỉ sợ đau chứ không sợ chết. Chú vẫn bảo con: Nếu con thành tâm niệm Phật hàng ngày, con sẽ được vãng sanh về cõi Tây Phương cực lạc còn gì”.

Sư chú Sơn mỉm cười gật đầu.

Hàng ngày, sư chú Sơn đều nhẹ nhàng, ân cần chăm sóc, thay rửa khối u cho Công bớt đạu Đến một hôm Công bảo:

-“Con muốn gặp mẹ con”

Khi mẹ ngồi bên, Công nói, giọng nhẹ nhàng nhưng rành rọt:

-“Mẹ ơi! Con bị bệnh thế này là do mẹ tạo nghiệp sát sinh suốt 15 năm đó. Mẹ đừng làm nghề giết mổ gà vịt nữa nhé. Dù cho phải đi ăn xin mẹ cũng không được làm. Mà mẹ chuyển hẳn sang ăn chay trường đi. Còn ăn mặn là còn cộng nghiệp cho những người hành nghề giết mổ”.

Buổi chiều hôm ấy, Công trút hơi thở cuối cùng trong tiếng mõ, lời kinh của Ban hộ niệm chùa Quán Thế Âm. Công ra đi nhẹ nhàng, thanh thản. Không rên la, không đau đớn. Khuôn mặt hồng hào như người đang ngủ.



Điều kỳ lạ là toàn thân tỏa mùi thơm như hương trầm và mềm mại. Mềm đến độ sư chú Sơn nhấc cả hai tay của nó lên, lắc lư. Cổ tay, những ngón tay trắng hồng của Công lắc lư theo như múa. Cả khán phòng bỗng vang lên “A Di Đà Phật” như tiếng reo vui của niềm tin của những người con Phật vào Phật pháp nhiệm màu. Cũng ngay buổi chiều hôm ấy, mẹ cậu đã xin sư trụ trì xuống tóc đi tu.

Trong lễ hỏa táng Công tại thành phố Đà Lạt, Đại đức Thích Giác Nhàn đã kể một tích trong Kinh Pháp cú: “Lúc Đức Thế Tôn cùng các Tỳ kheo ở tại tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana). Cách đó không xa, có người đồ tể tên Cunda sống bằng nghề mổ heo.

Mỗi lần giết heo, ông ta trói heo thật chặt vào cột và nện nó bằng một cây chày vuông rồi banh hàm và rót nước sôi vào họng, đổ nước sôi lên lưng heo, làm tuột lớp da đen và thui lớp lông cứng bằng một bó đuốc. Cuối cùng, ông cắt đầu heo bằng một thanh kiếm nhọn rồi xẻ thịt, lột da.

Cunda hành nghề như thế gần hai mươi năm. Dù Đức Thế Tôn ở tịnh xá cách đó không xa mà chẳng khi nào Cunda cúng dường Ngài, dù là một cành hoa hay một nắm cơm. Y cũng không làm một việc công đức nào cả.

Cho đến một ngày, ông ta mắc bệnh và dù ông ta vẫn còn sống nhưng lửa của địa ngục A-tỳ đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình địa ngục giáng xuống đồ tể Cunda, ông ta bắt đầu kêu eng éc, bò bằng tay và đầu gối.

Người nhà rất kinh khiếp, tìm mọi cách bịt miệng ông ta, chặn các cửa và nhốt ông ở trong nhà. Suốt bảy ngày, chịu sự đau khổ cùng cực của địa ngục, ông luôn mồm rống eng éc như heo.

Vài Tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng kêu eng éc ồn ào, khi về tịnh xá, bạch với Đức Thế Tôn:

-“Bạch Thế Tôn! Suốt bảy ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông ấy vẫn tiếp tục giết heo. Thế Tôn nghĩ xem, biết bao nhiêu heo bị giết. Thật từ trước tới nay chưa thấy ai độc ác và dã man như thế”.

Đức Thế Tôn nói:

-“Này các Tỳ kheo! Ông ta không giết heo trong bảy ngày qua. Sự trừng phạt phù hợp với việc làm ác đã xảy đến đối với ông ta. Ngay khi ông ta còn sống, cực hình của địa ngục A-tỳ đã hiển hiện. Vì cực hình này, ông ta bò tới bò lui trong nhà, kêu la eng éc như một con heo suốt bảy ngày. Hôm nay ông ta đã chết và bị đọa vào địa ngục A-tỳ”.

Nói xong, đức Thế Tôn đọc Pháp Cú:

(15) Nay sầu, đời sau sầu,
Kẻ ác hai đời sầu,
Nó sầu, nó ưu não,
Thấy nghiệp uế mình làm


Thầy Thích Giác Nhàn bảo:

“Chuyện đồ tể Cunda bị quả báo, chịu cực hình suốt bảy ngày lúc cuối đời, được ghi lại trong Kinh tạng là một điển hình của quả báo nhãn tiền. Không chỉ chuyện ngày xưa, ngay hiện tại đây, hãy bình tâm nhìn ra xung quanh chúng ta để nhận thấy kết cục thảm hại của những người, những gia đình sống ác, làm các điều bất thiện. Không kể họ là ai, nếu không biết phục thiện, chạy theo cái ác thì chắc chắn sẽ bị quả báo xấu. Và không cần đợi xem những quả báo ở kiếp sau, ngay trong đời kiếp này thì chúng ta cũng có thể thấy quả báo nhãn tiền của nhiều người. Chính những cái thấy về nhân quả một cách chân xác, xảy ra ngay trước mắt ấy sẽ thức tỉnh chúng ta hướng về điều thiện, bỏ ác làm lành để bản thân, gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn”.

Phóng viên Hoàng Anh Sướng
Báo Tuổi Trẻ và Đời Sống
 
saigoneses Date: Thứ Ba, 22 Aug 2017, 8:13 AM | Message # 2
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng


NGƯỜI SÁNG LẬP HÃNG MÁY BAY EVA AIR CỦA ĐÀI LOAN



Ông Trương Vinh Phát (Yung-Fa Chang) là người sáng lập đồng thời là chủ tịch tập đoàn của 2 hãng nổi tiếng là hãng Tàu Vận tải Evergreen và hãng Hàng Không EVA Air của Đài Loan. Ông qua đời ngày 20/1/2016, thọ 90 tuổi. Sinh thời, ông đã có những chia sẻ sâu sắc như sau

Rất nhiều người tin vào phong thủy, bói toán, xem số mệnh vv... nhưng thực ra vấn đề này không tuyệt đối. Theo tôi thấy, toán mệnh hay tướng số chỉ có thể là tham khảo mà thôi. Nếu như xem số mệnh tốt bạn sẽ vui vẻ, xem ra số mệnh xấu làm bạn buồn rầu lo âu, vậy xem bói có cần thiết hay không?

Cho nên tôi không khuyến khích đi xem. Nếu bạn muốn hiểu rõ cuộc đời của mình thì chỉ có một cách: đó là bạn cần hiểu rõ nhân quả của bản thân. Nếu bạn đang trải qua những ngày tháng tốt đẹp trong đời này, điều đó cho thấy đời trước của bạn đã gieo được nhân tốt. Còn nếu như đời này bạn luôn gặp khó khăn, hay phải trải qua những ngày tháng khổ cực, vậy chắc chắn đời trước bạn đã hành thiện chưa đủ.

Có rất nhiều người đi xem tướng số, đương nhiên đó là vì cuộc sống gặp khó khăn, trong lòng bất an, luôn thấy mơ mơ màng màng nên họ mới đi cầu Trời khấn Phật, cầu được bình an, đây là điều có thể hiểu được.

Nhưng nếu chỉ cầu Trời khấn Phật mà mọi chuyện đều được thuận buồm xuôi gió, vậy thì bạn xem thường Trời Phật quá chăng?

Cầu Trời khấn Phật sẽ không có tác dụng, mà điều cốt lõi nhất là bạn phải tích đức hành thiện. Đây mới chính là điều có thể bảo đảm cho bạn có một tương lai tươi sáng, và cũng chỉ có cách này mới có thể thay đổi được vận mệnh của bạn trong đời này.

Cầu cứu Trời Phật cũng không bằng cầu cứu chính mình, đó mới là chính đạo.

Nhân quả là việc chính xác phi thường, là một tấm phiếu nợ vô cùng minh bạch, không một ai có thể tính toán thiệt hơn, chiếm phần ưu thế. Nếu như bản thân bạn không cố gắng nỗ lực làm việc, chỉ dựa vào cầu khấn Trời Phật để có phước lành, vậy thì điều đó là tuyệt đối không thể!



Chỉ có một cách, đó chính là hành thiện và làm việc công đức để bù đắp. Nếu bạn làm nhiều việc tâm đức, khi gặp chuyện khó khăn, nguy hiểm, sẽ được gặp dữ hóa lành, chuyển nguy thành an, trời quang mưa tạnh. Nhân-quả thiện-ác, đó là quy luật trời định, dù sớm hay muộn, nhất định đều phải trả, không thể trốn tránh. Làm người, tuyệt đối đừng xem nhẹ việc này.

Có người hỏi tôi: Làm sao để biết được nhân quả đời trước của họ?

Thật ra… nhân quả kiếp trước của bạn, ngoài bạn ra, trên đời này không có ai rõ hơn bạn cả ! Hơn nữa, chúng ta không ai thoát được sự ảnh hưởng của nhân quả. Đời trước bạn làm tốt, đời này bạn sẽ được hưởng cuộc sống tốt đẹp, nếu như đời trước bạn không tích đức hành thiện, làm việc vô lương, đời này bạn sẽ gặp quả báo, sống đời khổ cực mà trả nghiệp nợ.

Mỗi người khi sinh ra đều mang trên mình một dấu tích vô hình, đó chính là nhân quả, nó quyết định vận mệnh đời này của họ sướng hay khổ, tốt hay xấu. Con người không có cách nào lựa chọn, chỉ có thể đối diện, tiếp nhận nó, đồng thời dựa vào năng lực cố gắng của mình mà thay đổi nó.

Rất nhiều người thấy tôi hay làm những công việc phúc lợi công cộng, xem nhẹ tiền bạc, có tâm từ bi. Điểm này tôi giống mẹ tôi, nhưng kỳ thực “tâm từ bi” cũng là từ nhân quả đời trước mang đến. Nếu như không phải là nhân quả đời trước, sao tôi có thể phát tâm như vậy? Tại sao tôi lại có nguyện vọng như vậy? Có lẽ tôi kiếm được nhiều tiền, nhưng đối với việc hành thiện lại không có hứng thú làm, dù có làm cũng không có được quy mô như thế này. Bởi vì tôi tin nhân quả, cũng nhìn thấu rõ được nhân quả, và cũng là có thể nghiệm sâu sắc về hai vấn đề nhân duyên và quả báo.

Nếu như bạn đến thế giới này với nhân quả tốt, vậy thì bạn lại càng cần phải tu tâm tích đức, không được ỷ lại, không được làm hỏng nó, không thể vì bản thân có tiền có thể lực mà coi thường đạo đức, thích thể hiện, như vậy nhất định sẽ gặp thất bại.



Nếu như đời trước của bạn sống không tốt, nhưng đời này may mắn được thành công, kiếm được nhiều tiền, vậy bạn lại càng phải cố gắng làm nhiều việc tốt, như vậy mới có thể tiếp tục duy trì. Nếu như đời trước bạn sống không tốt, đời này lại tiếp tục như vậy, thế thì vận mệnh chờ đợi bạn chỉ là những điều tệ hại.

Biết được nhân quả mà cầu đạo vẫn là xuất phát từ nội tâm lương thiện.

Đối với nhân quả, con người thường có hai thái độ: một là hoàn toàn phủ định, hoàn toàn không thừa nhận; hai là cho rằng cuộc đời sớm đã được định trước, con người chỉ có thể chấp nhận một cách thụ động. Trong mắt tôi, hai cách nhìn nhận này đều không đúng, đều không hoàn thiện.

Nhân quả của đời trước quyết định vận mệnh của đời này. Nhưng nếu từng thời từng khắc luôn làm việc thiện, luôn nghĩ việc tốt, năng lượng của bạn sẽ chuyển đổi vận mệnh. Nhân quả không phải là cố định không thay đổi, mà ngược lại, vì nhân quả, bạn có thể tích cực bố cục lại cuộc đời của bạn, làm trợ duyên cho bạn ngay tại cuộc đời này.

Daikynguyenvn
 
saigoneses Date: Thứ Ba, 22 Aug 2017, 8:23 AM | Message # 3
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng

Phong thủy giúp đổi vận mệnh, giúp mọi sự hanh thông, hưng thịnh hoặc lụi tàn. Nhưng Phong thủy đối với luật nhân quả thì sẽ ra sao?

Có hai câu chuyện kể về Phong thủy: Một người muốn nhờ phong thủy để thay đổi vận mệnh, khiến cho gia tộc hưng thịnh. Một người muốn dùng phong thủy để hủy hoại vận mệnh của người khác


Câu chuyện thứ nhất

Có một danh sư phong thủy, xem mộ trạch cho thiên hạ vô cùng chuẩn xác, nhiều người sau khi được ông xem cho xong, về thay đổi lại mộ trạch đều đã trở nên giàu có. Tuy nhiên, con cái của vị Phong thủy này lại không thể giàu có, cũng không có một người nào làm quan.

Một ngày kia, con trai út của ông nói:
“Thưa cha, cha là một bậc Thầy Phong thủy, nhưng tại sao nhà ta lại không có lấy một người nào làm quan? Cha không thể dùng phong thủy một chút, để cả nhà chúng ta cũng giàu sang, cũng ra làm quan được sao?”

Vị Thầy Phong thủy nói:

-“Được chứ, nhưng con cần phải làm theo lời ta dặn. Vào giờ ngọ ngày mai là giờ tốt, ba anh em các con đi ra mộ của Ông nội tế bái một chút, sau đó đem vật mà ta đã bọc sẵn chôn ở hướng Đông Nam – Tây Bắc. Chẳng đến mấy năm sau, nhà ta sẽ có người làm Quan. Nhưng nhớ kỹ, sau khi chôn xuống, suốt đường quay về nhà không được nói bất cứ một lời không may nào”.

Thế là, giờ ngọ ngày hôm sau, ba anh em làm theo lời căn dặn của người cha đi ra mộ Ông nội. Hoàn tất mọi việc, trên đường về nhà bỗng nhiên gặp một gã ăn xin đi đến nói:

-“Xin hãy rủ lòng thương cho tôi chút thức ăn hay một chút tiền lẻ với!”

Người anh cả giơ một chân đá ngang, và nói rằng:

-“Xúi quẩy quá! Không ngờ lại gặp phải một kẻ ăn xin”.

Sau khi trở về nhà, người cha hỏi:

-“Trên đường đã gặp những ai? Các con không nói lời xui xẻo nào chứ ?”

Ba anh em đành phải kể lại sự cố. Người cha nghe xong thở dài nói:

-“Các con thật không có số làm quan, bản thân ta tuy tinh thông thuật số phong thủy, nhưng cũng không thể làm trái ý trời được. Người mà các con đã gặp khi nãy chính là linh hồn của Ông Nội các con đấy! Các con đối xử với Tổ tiên như vậy, làm sao có phúc phận làm Quan được đây!”.

Câu chuyện thứ hai

Câu chuyện xảy ra vào triều đại nhà Minh, có một gia đình khá nghèo khổ, tuy nói là gia cảnh túng quẫn, nhưng khi có những người chạy nạn lưu lạc đến nơi này, đi ngang qua đều sẽ luôn ghé lại nhà này xin chút cơm ăn, chút nước cháo uống lót dạ.

Một hôm có một người bởi quê nhà bị lũ nên phải chạy nạn, vừa khéo đi ngang qua đây, nhìn thấy có gian nhà lụp xụp liền gõ cửa muốn xin chút gì vào bụng. Nữ chủ nhân ngôi nhà ấy thấy có người chạy nạn đến, rất lấy làm tội nghiệp, liền cho ông ta hai cái bánh ngô. Người chạy nạn sau khi ăn xong, trong lòng vô cùng cảm kích, liền nói với nữ chủ nhân rằng:

-“Tôi thật ra là Thầy Phong thủy, bây giờ sa cơ thất thế, tìm đến nơi đây, vô cùng cảm tạ bà đã giúp đỡ. Tôi không có tiền để báo đáp bà, vậy hãy để tôi xem mộ trạch cho gia đình của bà vậy”.

Nữ chủ nhân này nghe ông ta nói như vậy, cũng rát lấy làm vui mừng, bèn làm phiền Thầy Phong thủy chọn một nghĩa trang có phong thủy tốt cho gia đình mình. Thầy phong thủy nói, tương lai sau khi người thân nhà bà qua đời hãy an táng ở mảnh đất như này, phía trước có núi âm u, phía sau lại có núi dựa, trái có Thanh Long, phải có Bạch Hổ, phía trước còn có hồ nước, thật đúng là mảnh đất có phong thủy tốt. Nữ chủ nhân vô cùng cảm tạ, sau đó thầy phong thủy xin cáo từ.


Tranh phong thủy đẹp


Tuy nhiên, vị Thầy phong thủy này vẫn là có ý định không lành. Chọn huyệt mộ cho gia đình này, ông tính ra mười năm sau nhất định họ sẽ giàu sang tột bậc, đến lúc đó ông sẽ đến gặp để họ trả ơn cho mình.

Sau đó không được mấy năm, bà cụ nhà này qua đời, chủ nhà theo chỉ điểm của thầy phong thủy liền chôn cất bà cụ ở nơi mảnh đất quý đó.

Khoảng 10 năm sau, quả thật con trai nhà này thi đỗ Trạng Nguyên, được phong làm Quan phụ mẫu, gia cảnh đã trở nên giàu sang, gia tộc cũng nhờ vậy mà vẻ vang hẳn lên.

Lúc này, vị Thầy phong thủy kia bấm ngón tay tính thử, thấy đã đến lúc phải đến nhà nọ để xin tiền rồi. Ông ta nghĩ: “Người của nhà đó tâm địa rất thiện lương, sau khi giàu sang rồi hẳn sẽ trả ơn cho mình”. Trong lòng tính toán như vậy, rồi quay trở lại nơi đó.

Nữ chủ nhà sau khi nhìn thấy thầy phong thủy thì vô cùng kinh ngạc:

-“À! Ông chẳng phải chính là Thầy phong thủy đã chọn mộ huyệt cho nhà tôi đó sao, cuối cùng đã được gặp lại ông rồi! Đại ân nhân ơi, nhờ ông đã chọn cho nhà tôi cái huyệt này, con trai nhà tôi bây giờ quả thật đã là trạng nguyên rồi, lại làm quan phụ mẫu, bổng lộc mỗi năm 500 thạch, bây giờ tôi phải báo đáp ông mới được”.

Sau đó bà ấy liền lấy ra một vạn lạng bạc trắng trả ơn cho Thầy phong thủy

Nhưng ông thầy Phong thủy này lại vô cùng tức giận, ông nghĩ nhà này hiện giờ giàu có như thế, vậy mà chỉ đưa cho mình có một vạn lạng bạc.

Thật ra, một vạn lạng bạc thời bấy giờ đã đủ để cho Thầy phong thủy sống đến mấy đời rồi, nhưng ông ta lại không thỏa mãn, ông dự đoán phải là 50 vạn lạng hoàng kim.

50 vạn lạng hoàng kim chính là một phần năm quốc khố của Triều đại nhà Minh khi đó, ông ta cho rằng trạng nguyên lang có khả năng lấy ra số tiền nhiều như vậy để báo đáp cho mình. Nhưng ông ta không biết rằng, gia đình này làm quan thanh liêm, số tiền tài mà triều đình ban cho là để con trai bà dùng vào việc giúp đỡ người dân hoặc trị lý thiên tai. Bây giờ lấy ra 1 vạn lạng bạc đối với gia đình bà mà nói đã là con số quá lớn, tính ra cũng là đã lấy ra một nửa tài sản của nhà bà để trả ơn cho thầy phong thủy rồi.

Vị thầy phong thủy này không rõ sự thật, lại cho rằng nhà họ keo kiệt. Ông ta vô cùng tức giận, liền muốn nghĩ cách làm chuyện xấu với nhà này.

Vào một đêm tối không có trăng sao, ông ta đi đến mồ mả của nhà này, chôn một chút thủy ngân và đồng, loại kim loại mà đạo gia trước đây dùng để luyện đan ngay bên cạnh mộ huyệt. Bởi ông ta là thầy phong thủy trình độ cũng vào hàng bậc Thầy, biết rằng đã chôn những thứ này rồi, trạng nguyên lang của nhà đó trong vòng nửa năm sẽ gây chuyện và bị Triều đình giáng chức. Trong lòng ông ta nghĩ nhà họ đã tiếc tiền tiếc của chỉ đưa cho mình 1 vạn lạng bạc, lần này phải dạy cho họ một bài học thích đáng.

Kết quả thời gian nửa năm đã đến, trạng nguyên lang của nhà kia không những không xảy ra chuyện, trái lại còn vô cùng tốt đẹp. Triều đình lại thăng quan tiến chức, ban đầu là Quan phụ mẫu địa phương, sau đó được điều lên Kinh thành làm đến chức Tam phẩm Quan văn, người mẹ cũng được phong chức.

Vị Thầy phong thủy rất tức tối: “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, không thể như vậy được, trình độ phong thủy của mình cao thâm như vậy, tại sao lại không linh nghiệm?”.

Sau đó ông ta lại nhân đêm tối thanh vắng len lén đến mồ mả của nhà đó tìm hiểu xem rốt cuộc là chuyện thế nào. Kết quả phát hiện những thứ mà ông đã từng chôn xuống không biết đã biến đâu mất. Lần này khiến cho ông ta càng không hiểu rốt cuộc là chuyện gì. Ông ta thầm nghĩ, lúc đó mình chôn những thứ này rất kín đáo, không có người thứ hai biết được, hơn nữa xung quanh cũng không có dấu vết bị người khác lấy đi, những thứ này làm sao mà tự biến mất được chứ? Ông ta nghĩ mãi cũng nghĩ không ra được. Cuối cùng vị Thầy phong thủy này bởi chuyện này mà buồn bực sầu não mà chết.

Tuy nhiên trước khi ông ta chết, ông ta đã trải qua khoảnh khắc hồi quang phản chiếu và nhìn thấy một khung cảnh. Hồi quang phản chiếu chính là thời điểm con người ta trước lúc chết có thể nhìn thấy được một số chuyện mà bản thân khi sống không nhìn thấy. Lúc đó ông ta nhìn thấy khung cảnh trong lúc ông ta chôn mấy miếng kim loại đó, hóa ra có vị Thổ thần cũng đang đứng bên cạnh quan sát tất cả.

Vị Thổ thần này ngày thường được mẹ con nhà kia rất thành tâm cúng dường, ngày ngày nhang đèn lễ bái vô cùng thành kính. Vị Thổ địa nghĩ: “Gia đình các ngươi đã thành tâm cúng dường cho ta, thì ta không thể xử tệ với các ngươi được, bởi vậy thường che chở gia đình họ bình an. Mồ mả của gia đinh họ cũng là trong phạm vi cai quản của ông Thổ địa. Chính ngay lúc ông Thầy phong thủy đó giở chiêu thuật, vị Thổ địa nhìn thấy và vô cùng tức giận, liền đem hai miếng kim loại đó tiêu hủy sạch. Khi đó vị Thầy phong thủy mới thấu suốt, thì ra là cát nhân thiên tướng, tự có Trời bảo hộ.

Ông ta trước lúc chết, được nghe Thổ địa nói một câu:

-“Những người tích đức hành thiện ắt tự có trời phù hộ, dù cho nhà ngươi có giở chiêu thuật hại người cũng không có tác dụng gì đâu!”.

Thầy phong thủy nghe xong câu nói này liền gục đầu mà chết.

Một người muốn thông qua phong thủy để thay đổi vận mệnh, khiến cho gia tộc hưng thịnh, một người muốn dùng phong thủy để làm hại vận mệnh của người khác, kết quả đều không được như mong muốn. Từ đây có thể thấy được rằng, sức mạnh của luật nhân quả lớn hơn rất nhiều so với sức mạnh của phong thủy. Phàm là chuyện gì đều cần phải tuân theo thiên lý; vạn sự đều có nhân duyên, có nhân trước ắt có quả sau.

Người xưa nói: “Chu Dịch là kế sách của người quân tử chứ không phải là mưu sách của kẻ tiểu nhân”, “người có phúc ở nơi phúc địa”, người mà không có phúc đức, thì có cố ở nơi phúc địa, cũng sẽ gặp phải tai ương.

Vậy nên, người sống ở đời, nên làm nhiều việc tích đức hành thiện, chớ thấy việc ác nhỏ mà làm, chớ thấy việc thiện nhỏ mà bỏ qua, có “nhân” tích đức hành thiện này, còn lo không kết được “quả” phúc báo hay sao!



Message edited by saigoneses - Thứ Ba, 22 Aug 2017, 8:26 AM
 
atoanmt Date: Thứ Ba, 22 Aug 2017, 9:16 AM | Message # 4
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5695
Status: Hiện-diện
Quote saigoneses-Trương Vinh Phát ()
Cầu cứu Trời Phật cũng không bằng cầu cứu chính mình, đó mới là chính đạo.

Nhân quả là việc chính xác phi thường, là một tấm phiếu nợ vô cùng minh bạch, không một ai có thể tính toán thiệt hơn, chiếm phần ưu thế.

Nếu như bản thân bạn không cố gắng nỗ lực làm việc, chỉ dựa vào cầu khấn Trời Phật để có phước lành, vậy thì điều đó là tuyệt đối không thể!







AToanMT
 
saigoneses Date: Thứ Ba, 22 Aug 2017, 9:18 AM | Message # 5
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng


Hậu vận bi thương của gia đình 3 đời làm nghề đồ tể

Chuyện chúng tôi sắp kể xảy ra cách đây đã ngót 10 năm. Tất cả những nhân vật chính trong câu chuyện này đều đã trở thành người thiên cổ. Nhưng những sự việc rùng rợn, bi thương của cả gia đình hành nghề đồ tể có truyền thống ba đời ấy vẫn còn lưu truyền, ám ảnh người dân làng P.T đến tận bây giờ. Và vào những lúc trà dư tửu hậu, người ta vẫn kể về nó như một minh chứng sống động cho luật nhân quả mà người dân lành lẽ miền quê ấy đã tin tự bao đời.



Kỹ năng giết mổ thượng thặng

Làng P.T có nhiều người hành nghề đồ tể. Nhưng nổi đình nổi đám nhất vẫn là gia đình anh Tr. có truyền thống 3 đời làm nghề sát sinh. Ông nội Tr. vốn là người chuyên giết mổ gia súc, chế biến thức ăn cho binh lính Pháp tại các doanh trại thời Pháp thuộc. Thừa hưởng tài hoa của ông nội, bố Tr. nấu nướng rất ngon.

Quán lòng lợn tiết canh của ông trên con đê đầu làng lúc nào khách cũng đông nườm nượp. Quán không chỉ thu hút đám thực khách trong làng mà dân mê nhậu khắp vùng cũng “phải lòng” mê mẩn. Vì lòng lợn của quán ông vừa tươi, vừa giòn, vừa ngon, vừa ngọt.

Lợn vừa mổ xong, cỗ lòng nào ngon nhất là ông giữ lại cho quán. Xơi miếng lòng thơm nức ngâm trong bát nước dùng nhúng mấy cọng hành bốc hơi nghi ngút, thực khách vừa nhai vừa xuýt xoa mà ban tặng những mỹ từ: Thiên hạ đệ nhất lòng lợn.



Có một nhà thơ nổi tiếng ở Hà Nội, một lần ghé quán ăn, hùng hồn tuyên bố:

-“Tôi đã ăn lòng lợn khắp Bắc chí Nam nhưng chưa bao giờ, ở đâu, lại có lòng lợn ngon như ở đây. Phàm đã ăn lòng lợn ở đây thì không thể ăn ở đâu khác được nữa”.

Từ đó, cứ chủ nhật hàng tuần, ông thi sĩ sành ăn ấy lại phóng xe máy từ Hà Nội vào để thưởng thức “Thiên hạ đệ nhất lòng lợn”

Nổi tiếng thế nhưng phải đến đời Tr., cơ nghiệp của gia đình ấy mới thực sự phất. 6 tuổi đầu, Tr. đã được bố tẩm bổ mỗi sáng một bát tiết tươi và quả mật lợn nóng hổi.

Khi con dao bầu sáng lóa vừa chọc vào yết hầu con lợn, máu xối ra như thác, bố Tr. vội hứng đầy bát con, ngửa cổ uống ực một hơi cạn. Bát thứ hai, ông dành cho Tr.

Quả mật vừa bứng khỏi bụng con lợn còn bốc hơi, ông ngửa cổ, phùng mang trợn mặt nuốt. Ông cười khà bảo: “Thiên hạ ngu lắm. Chỉ biết đến mật gấu, mật hùm, mật rắn mà không biết chi đến mật lợn”

Trong các bài thuốc cổ phương trị viêm xoang, viêm mũi, hiếm có loại mật nào sánh bằng mật lợn. Nó có vị đắng, mùi tanh, tính lạnh, có tác dụng giảm đau, tiêu sưng, sát khuẩn, thông đại tiện, kích thích tiêu hóa và bài tiết mật, chống viêm, kháng khuẩn, bổ tỳ vị rất tốt.

Theo Y học cổ truyền, tỳ vị thuộc hành “Thổ”, có chức năng hấp thu, vận chuyển chất dinh dưỡng để nuôi các bộ phận khác trong cơ thể. Tập trung “ôn bổ tỳ vị” chính là giúp giải quyết nguyên nhân sâu xa của mọi loại bệnh tật”.

Chính vì sùng bái công năng của mật lợn nên ngày nào, ông cũng ép thằng con giai mới 6 tuổi đầu nuốt một quả. Và lần nào, Tr. cũng khóc ngất vì nghẹn và đắng. Sau, dùng riết thành quen. Tr. nghiện nuốt mật lớn sống từ lúc nào không hay.

Không biết có phải nhờ công dụng của cả núi mật lợn khổng lồ ấy không mà Tr. lớn nhanh như thổi, khỏe như trâu. 17 tuổi, Tr. đã cao 1,8 mét, cơ bắp cuồn cuộn. Từ bé đến lớn chẳng bao giờ hắt hơi, sổ mũi, ốm đau gọi là. Và nghiễm nhiên, Tr. trở thành người kế thừa nghiệp đồ tể gia truyền.

Kỹ năng giết mổ lợn của Tr. đạt đến trình độ thượng thừa. Các tay đồ tể khác, khi giết mổ lợn, thường cần 2-3 người hỗ trợ giữ chân trước, chân sau. Riêng Tr., dù lợn to, nặng đến mấy, cũng chỉ làm một mình và rất nhanh.

Tay lăm lăm chiếc chày gỗ lim đen bóng dài một thước trao truyền từ đời ông nội, áo xắn quá khuỷu, cơ bắp cuồn cuộn rắn đanh như lực sĩ, chân đi ủng cao đến gần đầu gối, Tr. rón rén bước gần đến con lợn đang lùi dần vào góc chuồng.

“Đốp”. Nhanh như chớp. Một nhát chày ngang gáy. Con lợn lăn quay lơ, không kịp kêu một tiếng.

“Đốp”. Con thứ hai đổ gục...

Cứ thế, chỉ trong vài tích tắc, cả đàn lợn nằm lăn quay. Tr. khom mình, túm hai chân sau lôi xềnh xệch con lợn lên bệ xi măng lạnh ngắt.

“Phập”.Con dao bầu sáng loáng đâm một nhát trúng yết hầu. Máu tuôn xối xả xuống cái chậu nhôm to. Không giãy đành đạch. Không một tiếng kêu eng éc. Chọc tiết xong, Tr. liếc con dao bầu vào hòn đá mài to tổ chảng bên cạnh cho sắc lẹm, rồi cạo lông sồn sột, chẳng cần đến chảo nước nóng để nhúng lợn.

Bì lợn trắng bệch nhưng chân lông vẫn còn nguyên. “Chẳng sao. Bây giờ mấy ai còn ăn bì lợn”. Tr. giải thích. Nhẹ nhàng, nhàn nhã, thong dong, im ắng. Thế mà đến 5 giờ sáng, mấy con lợn đã làm xong. Thịt đã ra thịt, xương đã ra xương để các lái buôn chở đi.

Kỹ nghệ giết mổ ngựa bạch thượng thừa



Các bậc cao niên trong làng ngồi uống trà với nhau rủ rỉ: “Cái nghề sát sinh là bạc phúc lắm. Ở cái làng này, phần lớn những gia đình làm nghề đồ tể đều có hậu vận không tốt, gặp họa đến nhiều đời sau, nhà Tr. mổ ngựa bạch thượng thừa cũng không ngoại lệ được đâu”

Dân làng đều xì xào bảo nhau rằng phần lớn những gia đình làm nghề đồ tể đều có hậu vận không tốt, chết bất đắc kỳ tử, gặp họa đến nhiều đời sau

19 tuổi, Tr. đã đòi cưới vợ. Tr. bảo: “Nóng máy bỏ xừ. Nhịn thế nào được”. Vợ Tr., tên H., 18 tuổi, đảm đang, tháo vát, con ông chủ tiệm thịt chó nổi tiếng làng bên.

Lấy H., Tr. như hổ mọc thêm cánh. Kinh doanh càng phát đạt. Các quầy đại lý bán thịt mở rộng ra tận Hà Nội. Mỗi ngày thịt 5-6 con. Dịp áp Tết, mỗi ngày thịt cả chục con. Tr. kiếm tiền như nước.

Năm 2000, vợ chồng Tr. xây cất ngôi biệt thự 3 tầng lộng lẫy với lối kiến trúc nửa Tây nửa Tàu vênh vênh vươn khỏi lũy tre làng. Ở trên nóc tòa biệt thự, Tr. đắp hình 4 con chim đại bàng bằng xi măng vẽ màu sắc sặc sỡ đang giang rộng đôi cánh.

Tr. bảo:

-“Bốn thằng con giai tôi đó. Tôi muốn sau này chúng nó phải có sức mạnh, phải thành công, phải có danh với đời như vị chúa tể bầu trời kia chứ cứ như tôi, sống ở vùng ao tù nước đọng này, dẫu có là đại gia, cũng chỉ là đại gia xứ mù”.

Với một làng thuần nông như P.T, ngôi biệt thự đó hoành tráng, rực rỡ, xa xỉ như cung vua, phủ chúa. Ai đi qua cũng phải dừng chân ngắm nghía, trầm trồ.

Có điều, trầm trồ với vẻ lạ mắt của ngôi biệt thự hoành tráng thế thôi chứ nói về gia đình Tr., người dân P.T vốn nổi tiếng về truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa, nhiều người thành danh trong xã hội, vẫn có gì đó khinh miệt: “Ôi dào! Dân đồ tể ý mà. Nhiều tiền thật đấy nhưng thất học thì cũng chẳng vẻ vang gì”.

Các bậc cao niên trong làng thì ngồi uống trà với nhau rủ rỉ: “Cái nghề sát sinh là bạc phúc lắm. Tôi cứ ngấm ngầm theo dõi suốt mấy chục năm nay, ở cái làng này, phần lớn những gia đình làm nghề đồ tể đều có hậu vận không tốt, gặp họa đến nhiều đời sau”

Như vợ chồng ông L. mổ lợn ở đầu thôn. Hai vợ chồng ở với nhau suốt mấy chục năm mà không có nổi mụn con. Về già, cả hai vợ chồng đều bị tai biến nằm liệt giường liệt chiếu, thối da thối thịt. Đến lúc chết, chính quyền xã phải đứng ra lo tổ chức ma chay.

Rồi anh Ch., chủ cửa hàng thịt chó gần chùa làng. 39 tuổi đã mắc bệnh ung thư gan. Bụng trương to như cái trống. Nằm kêu rên ư ử suốt ngày đêm. Đau đớn vật vã đến tận lúc chết.

Mà nói đâu xa, ông nội tay Tr. kia, sáng sớm tinh mơ ngồi đun chảo nước sôi làm lợn. Chả biết trúng phong hay ngủ gật, ngã vật xuống đất, đầu vùi vào chảo lửa. Đến lúc vợ con phát hiện, nhấc dậy thì cả cái mặt bị lột da, trắng bệnh như thủ lợn vừa cạo lông. Cả nhà chết khiếp.

Ông bố Tr., khi đó mới ngoài 50 tuổi. Buổi trưa, ra đình làng uống nước với cụ thủ từ. Vừa rít điếu thuốc lào, ông kêu tức ngực, khó chịu trong người. Ông lững thững đi về nhà nằm nghỉ. Lát sau, đã nghe tiếng kêu cứu thất thanh của bà vợ: “Ối làng nước ơi! Ông nhà tôi bị làm sao thế này”.

Hàng xóm chạy đến, thấy ông nằm bất động trên giường, lay không cựa, gọi chẳng thưa. Khi bác sĩ đến kiểm tra mạch, đo huyết áp, bỗng dưng toàn thân ông co giật đùng đùng, rồi hộc ra một đống máu.
Ông chết một lúc rồi mà dòng máu tươi vẫn rỉ ra từ miệng. Nhìn cảnh ấy, ai cũng hãi. Cho nên, mọi thứ trên đời đều rất vô thường và đều có nhân, có quả. Sung túc như vợ chồng tay Tr. đấy nhưng chẳng biết hiểm họa ập đến lúc nào đâu”.

Những lời bình phẩm ấy nhiều lần đến tai vợ chồng Tr. Tr. cười khẩy:

-“Mẹ sư chúng nó. Nghèo, lười, không chịu lao động nên rỗi hơi ngồi săm soi, bàn tán chuyện nhà ông. Cứ ngồi đấy mà hóng chờ xem ngày bố mày chết. Có mà trăm tuổi bố mày mới chịu chết cho nhé”.

49 tuổi, người rừng rực cơ bắp, Tr. lao vào hết cuộc giăng gió này đến vụ mây mưa nọ. Quay cuồng trong nhịp sống phóng đãng, Tr. không biết đến mệt, ngưng nghỉ. Nghe thấy ở đâu có gái đẹp là Tr. mò đến. Tán tỉnh, vần vò chán chê, Tr. lại đá phốc.

Một lần, biết chồng xí xớn với cô chủ quán karaoke ngoài thị trấn, cô vợ tìm đến tận nơi. Móng vuốt chưa kịp cào cấu kẻ tình địch, thị đã bị ăn một cái tát nảy đom đóm mắt. “Cút về ngay, mày muốn chết phải không? Đồ con lợn”. Tr. rít lên qua kẽ răng.

Khổ thân cô vợ quê mùa, lủi thủi quay về, vừa đi vừa tấm tức khóc. Tr. tâm sự: “Nghĩ thương hại, tháng tao cũng vào ngủ với nó một đôi lần. Gái già, người gầy đét, sung sướng quái gì”. Thở dài, cúi mặt, Tr. chậm rãi nói như một nhà hiền triết:“Đời người ngắn lắm, phù du lắm! Tiền tài. Địa vị. Công danh... Phù du tất. Chỉ duy có đàn bà là cái khiến người ta đáng sống thôi”.

Đam mê nhục dục, Tr. không tiếc tiền cho việc bồi bổ sức khỏe. Kết thân với mấy tay lái buôn ngựa ở Bắc Giang, Sơn La, nghe họ quảng cáo về công dụng của cao ngựa bạch, Tr. đâm mê, chuyển sang sưu tầm loại cao này. Cứ chủ nhật cuối cùng của tháng, Tr. lại mua cả con về, giết mổ tại nhà. Thịt đem ra chợ bán. Xương nấu cao. Một phần để dùng. Một phần bán.

Một hôm, tay lái buôn từ Sơn La dắt xuống cho Tr. một con ngựa trắng. Mắt thau đồng, móng trắng, môi trắng hồng, không có đốm đen, buổi tối soi trước bóng đèn thì thấy hai mắt ngựa đỏ rực như than lửa. Bộ phận sinh dục, mũi, mõm có màu hồng đỏ, bốn chân có móng sừng, màu cước ánh bạc. Đây là giống ngựa rất quý hiếm.

Tr. sướng rơn như bắt được vàng. Tay lái buôn dặn:

-“Con này đang có chửa. Nếu bác sợ thì hãy chờ khi nó đẻ xong hãy thịt”.

Ngót 30 năm làm nghề giết mổ, lại vốn vô thần, vô thánh, Tr. đâu biết sợ là gì.

Buổi tối hôm đó, vợ Tr. đi xuống nhà dưới, cạnh chuồng nhốt ngựa. Nghé qua ô cửa sổ, bỗng chị hét toáng lên. Tr. hớt hải chạy xuống, quát lớn: “Cái gì thế? Có sao không?”.

Chị vợ mặt cắt không còn giọt máu, nói hổn hển qua hơi thở đứt quãng:

-“Mình ơi! Tôi vừa nhìn xuống chuồng, thấy có người đàn bà đang nằm ôm con khóc. Rướn mắt nhìn kỹ lần nữa, tôi vẫn thấy họ. Người mẹ ấy nhìn tôi ánh mắt như van lơn. Trông tội nghiệp lắm. Sợ quá, tôi mới hét lên. Mình ơi! Tôi nghĩ đó là điềm xấu. Mình đừng giết con ngựa bạch ấy nhé”.

Tr. ngửa cổ cười ha hả:

-“Bà xem phim ma cho lắm vào rồi nhìn người tưởng ngựa, nhìn ngựa tưởng người. Chưa biết chừng, có ngày, bà nhìn tôi lại tưởng là chó, cho một nhát dao thì toi đời. Thôi! Lên giường đi ngủ. Bà bị điên đến nơi rồi”.

Tờ mờ sáng, mọi người đã tụ tập đông đủ sân nhà Tr. Dụng cụ giết mổ đã chuẩn bị xong. Chảo nước sôi reo ùng ục. Thằng K., con trai út của Tr. 16 tuổi, sức vóc lực lưỡng như bố, hăm hở vào chuồng dắt ngựa. Nó kéo mũi, rồi đánh, chửi, con ngựa vẫn nằm im, không chịu đứng lên.

Thấy vậy, Tr. và mấy người bạn huỳnh huỵch chạy vào. Vừa nhìn thấy Tr., con ngựa bỗng nhổm dậy, hai chân trước quỳ xuống như van xin. Từ trong đôi mắt màu thau đồng của nó, hai dòng nước mắt ứa ra.

Chứng kiến cảnh con ngựa ứa nước mắt, quỳ xuống van xin, cả vợ và bạn Tr. đều can ngăn anh đừng xuống tay nhưng Tr. bỏ ngoài tai, cho đó là chuyện nhảm nhí

Anh Ch., bạn của Tr. thấy vậy liền khuyên Tr. không nên thịt, nhưng Tr. phủi tay, không tin vào chuyện nhảm nhí.

“Đốp”. Cánh tay lực sĩ cuồn cuộn cơ bắp của Tr. vung chiếc vồ thép nhanh như một tia chớp giáng thẳng xuống đầu ngựa. Con ngựa ngã khuỵu xuống nền gạch.



Nhanh như cắt, Tr. rút con dao nhỏ xíu, cỡ hai đầu ngón tay, xiên một nhát thật ngọt ở cổ. Máu ồng ộc chảy ra, ngập 2 chiếc chậu lớn, tràn cả ra nền sân. Cảnh tượng vô cùng rùng rợn. Cũng vẫn con dao nhỏ đó, Tr. rạch một đường ở cổ. Cứ một tay kéo da, một tay lướt con dao nhỏ rất điệu nghệ, bộ da ngựa rất lớn tuột khỏi thân, lồ lộ một đống thịt.

Những đường dao thoăn thoắt như múa, từng tảng thịt được lóc ra. Đầu, chân, xương lần lượt được tách rời. Tính ra, mất 15 phút, con ngựa to tướng chỉ còn lại đống bầy nhầy lòng phèo nằm giữa sân, thịt xương đã thành đống riêng biệt. Tội nghiệp chú ngựa con chưa thành hình. Tr. sai vợ đem rửa sạch với nước gừng rồi cho vào chiếc bình ngâm rượu.

Dồn dập những sự việc rùng rợn, thương tâm

Tr. đi xem bói kể lại việc giết con ngựa bạch mang thai nọ cho thầy nghe. Thầy phán rằng gia đình bị oan hồn con ngựa chửa đó báo oán nên liên tiếp xảy ra những sự việc rùng rợn thương tâm. Vợ con lần lượt bỏ hắn mà ra đi, họ chết tức tưởi, đau đớn và bất ngờ vô cùng, đúng như lời ông thầy bói nói nên gã đồ tể tên Tr. hoàn toàn suy sụp

Buổi chiều hôm ấy, như thường lệ, vợ Tr. sai thằng con thứ chở xe máy đi đến các đại lý thu gom tiền. Tr. ở nhà mở tiệc linh đình. Rượu cao ngựa bạch, uống với thịt bắp ngựa bạch trần, vừa ngọt, vừa thơm, vừa bùi, rượu vào không biết bao nhiêu mà kể. Cạn bình rượu này lại lôi hũ rượu khác.

Đúng lúc Tr. mặt đỏ phừng phừng như gà trọi, phùng mang trợn mắt, huơ chân múa tay quảng cáo về công năng huyền diệu của cao ngựa bạch:

-“Thú thực với các bác, trước đây tinh của em nó cứ loãng tềnh tệch. Em chỉ lo nhà em mất giống. Thế mà chơi 5 lạng nó bỗng sánh sành sạnh. Mới quệt ngang quệt dọc vài cái, vợ em đã uễnh bụng rồi. Thánh thế chứ lỵ. Năm nay em ngót nghét 50 mà lúc nào cũng sẵn sàng xung trận, đêm bảy ngày ba vào ra không kể, bà xã nhà em sướng đứ đừ đừ”,

Bỗng nghe tiếng ngoài ngõ lao xao. Tiếng ai đó gào to:

-“Ông Tr. ra ngoài đường quốc lộ mà nhận xác vợ con về”

Tr. vội vã buông bát, lao lên xe, phóng như điên. Ra đến đầu làng, giáp đường quốc lộ, đã thấy đám đông xúm đen xúm đỏ. Cố hết sức chen, lách, vừa vào đến bờ mương, Tr. đứng chết lặng....

Dưới lòng mương, xác hai mẹ con nằm bẹp. Hai bánh trước xe ô tô tải đè ngang ngực. Máu mũi, máu mồm, máu tai chảy lênh láng. Giữa lòng xe, chiếc xe Lead nát vụn. Tr. kêu hộc lên một tiếng rồi đổ gục.

Sau này, người tài xế xe tải trình báo với Công an Huyện: Đang lái xe với tốc độ 50km/h, đột nhiên, anh nhìn thấy con ngựa trắng cao lớn đứng ngay đầu xe. Anh hốt hoảng đánh vô lăng sang trái, đúng lúc chiếc xe Lead chở vợ con Tr. vừa trờ tới. Xe lao đầu xuống mương. Lái xe may mắn thoát chết. Run run mở cửa xe bước xuống, tài xế rợn người khi nhìn thấy xác hai người bị bánh trước của xe ô tô đè lên. Hắn vội vã bỏ chạy.

Vụ tai nạn giao thông rùng rợn với cái chết thương tâm của hai vợ con Tr. xảy ra vào cuối tháng 9 thì đến đầu tháng 11, người con trai cả của Tr. sinh năm 1974 tự dưng lăn đùng ra chết.

Cậu này không làm nghề mổ. Được ăn học tử tế, làm giám đốc một doanh nghiệp ở Quảng Ninh. Đang tuổi sung sức làm ăn, người vâm váp, khỏe mạnh, không bệnh tật gì. Thế mà một đêm, đang ngồi xem ti vi, anh đột nhiên kêu mệt, đau đầu nên vào buồng ngủ. Nửa đêm, anh lên cơn co giật. Máu mũi, máu mồm ộc ra. Gia đình vội vàng đưa đến bệnh viện nhưng anh đã chết trên đường đi cấp cứu.

Cái chết của cậu giai cả khiến Tr. hoang mang. Tr. đi xem bói. Thầy phán rằng gia đình bị một oan hồn báo oán. Tr. kể lại việc giết con ngựa bạch mang thai nọ cho thầy nghe. Thầy bảo, đó là do linh hồn con ngựa báo oán. Từ hôm đó, Tr. bắt đầu sì sụp cúng bái. Sắm đủ lễ lạt, rước các thầy chùa về lập đàn giải nghiệp oán, cầu siêu cho linh hồn con ngựa, tốn kém hàng trăm triệu đồng. Thầy phán rằng, cả gia đình Tr. bị oan hồn con ngựa bạch mang thai ám, vì Tr. giết nó nên cả gia đình phải đền mạng

Mọi thứ tạm yên được một thời gian. Ăn Tết xong, người con trai thứ 3 của Tr. đột nhiên lăn đùng ra ốm. Cậu này đô con như lực sĩ, mổ lợn nhanh thoăn thoắt, tương lai kế thừa ngôi vị đồ tể của Tr.

Đêm cậu kêu mất ngủ. Ngày chán ăn. Người cứ mệt rũ ra. Thỉnh thoảng, chợp mắt được một tý thì toàn nằm mơ thấy ác mộng ngựa đá, chó cắn, xe đâm, la hét ầm ĩ. Gia đình đưa đi khắp các bệnh viện Tây y, Đông yđiều trị nhưng các bác sĩ chẳng phát hiện ra bệnh gì. Người càng gầy yếu.

Mùa hè năm đó, cậu trút hơi thở cuối cùng. Cái chết của cậu khiến Tr. sợ hãi. Tr. bắt đầu nghĩ đến những lời đồn thổi của dân làng về hậu vận của mình, bắt đầu tin vào luật nhân quả. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, gia đình Tr. mất 4 mạng người: Vợ và ba thằng con giai.

Bây giờ, chỉ còn mỗi thằng con giai út, 17 tuổi, đang học lớp 11 trường Huyện. Tạm gác lại chuyện mổ xẻ, giết thịt, Tr. chăm sóc con từng bước. Đích thân ngày hai buổi đưa đón con đi học. Về nhà, Tr. giữ rịt nó ở nhà. Không bóng đá, không đi bơi.

Thế rồi, buổi trưa nọ, trong lúc Tr. ngủ say, cậu út lẻn ra ngoài, đi bơi cùng đám bạn. Trước cửa đình làng có hồ ba mẫu rất rộng, nước trong. Mùa hè, đám thanh niên và trẻ con trong làng ra hồ bơi ì ùm suốt ngày. Cậu con út của Tr. bơi rất giỏi. Vậy mà hôm ấy, chẳng hiểu sao, nó lại bị chết đuối. Mãi chiều muộn mới vớt được xác nó lên bờ.

Vừa nhìn thấy xác con bụng trương phềnh, da trắng bợt như con lợn vừa cạo lông, Tr. hộc lên một tiếng: “Ối con ơi!”. Đột nhiên, máu đen từ mũi, từ miệng xác con ộc ra như tháo cống. Ai chứng kiến cảnh đó cũng phải khiếp đảm.



Cái chết tang thương của đứa con cuối cùng khiến Tr. hoàn toàn suy sụp. Tr. suốt ngày ngập chìm trong rượu. Rượu vào là khóc, là chửi, là than.

Cho đến một buổi sáng, không thấy tiếng khóc, tiếng chửi, tiếng kêu than của Tr., hàng xóm kề bên chạy sang nhòm qua cửa sổ. Họ hốt hoảng khi nhìn thấy Tr. nằm sõng soài trên nền gạch, máu chảy lênh láng. Phá cửa vào, mọi người rùng mình khi nhìn thấy trên yết hầu Tr. một vết cắt ngọt, sâu, máu vẫn còn đang đùn ra. Tay phải Tr. vẫn nắm chặt con dao nhỏ, sắc nhọn bằng 2 ngón tay, con dao mà chủ nhật cuối tuần hàng tháng, Tr. vẫn dùng để xỉa thật ngọt vào yết hầu những con ngựa bạch.

Phóng viên Hoàng Anh Sướng
Báo Tuổi Trẻ và Đời Sống
 
atoanmt Date: Thứ Năm, 24 Aug 2017, 2:47 PM | Message # 6
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5695
Status: Hiện-diện



AToanMT
 
hailove Date: Thứ Năm, 24 Aug 2017, 8:47 PM | Message # 7
Major general
Group: Disciples
Messages: 489
Status: Tạm vắng
anh saiegoneses

NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
 
saigoneses Date: Thứ Sáu, 22 Sep 2017, 9:46 PM | Message # 8
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng



Bé Nam đi chơi về, hỏi ông Năm Lèo:

- Nội ơi! Sao người ta nói nghề chài lưới của nội là nghề “hạ bạc”? Bộ nó bạc bẽo lắm hả nội?

- Con nghe ai nói? Ông Năm hỏi lại.

- Dạ, bạn con.

Ông Năm vuốt đầu cháu vừa khen vừa giải thích:

- Con ngoan lắm! Cái gì hổng biết thì hỏi người lớn chớ đừng nói ẩu tả bậy bạ nghe con. Hổng phải vậy đâu con. “Hạ” là xuống; “Bạc” là bến nước. Do người chài lưới phải xuống bến nước mới bắt được cá tôm mới có tên gọi đó. Con hiểu chưa?

- Dạ hiểu!

Được ông nội trả lời rành rẽ và đã hiểu thông suốt nhưng Nam vẫn không chịu đi chơi mà quanh quẩn bên ông. Biết ý cháu còn thắc mắc gi nữa đây, ông Năm mở lời:

- Con còn muốn hỏi ông điều gì nữa, phải không?

- Dạ phải! Nam nhanh nhẩu. Cái miếu ngoài vàm Rạch Nứa thờ ai vậy nội?

- Thờ “Bà Cậu”. Bà là “bà Thủy”, cậu là “cậu Tài cậu Quý”. Đó là ba vị thủy thần hộ mệnh dân chài lưới làm ăn thuận lợi, tai qua nạn khỏi. Dân chài lưới rất tin tưởng và kính trọng ba vị. Ở bất cứ làng chài, xóm lưới lớn nhỏ nào cũng đểu có miếu thờ, mỏi năm cúng tế hai lần vào mùa xuân và mùa thu rất trang nghiêm thành kính, không dám khinh suất, xúc phạm.

- Con cám ơn nội.

Thỏa mãn, Nam chạy vụt đi. Ông Năm đưa mắt nhìn theo. Hai câu hỏi ngây thơ của Nam khiến ông nhớ về dĩ vãng xa xưa.

Từ vàm Rạch Nứa vể phía Đông nam có một xóm gọi là Xóm Chài do người dân ở đây chuyên sống bằng nghề chài lưới. Xóm nằm cặp bờ sông Hậu, con sông đã được giới văn nghệ sĩ ca ngợi là dòng sông hiền hòa thơ mộng và ví như dòng sữa mẹ ngọt ngào mang phù sa về vun bồi ruộng vườn phì nhiêu màu mỡ, mang nhiều loại cá tôm vể nuôi dưỡng người dân hạnh phúc ấm no.

Xóm Chài được hình thành từ xa xưa, đến nay đã qua mấy thế hệ. Lúc bấy giờ người dân chỉ làm một vụ lúa mỗi năm, sau khi thu hoạch xong, bà con chẳng còn việc gì làm, ở không chan chát. Một số bà con nghèo bèn làm thêm nghề chài lưới để cải thiện cuộc sống. Hổi đó tôm cá thiếu gì, “cầm chài mà vãi xuống sông, không tôm thì cá, chẳng không chài nào”. Mỗi ngày bỏ công chừng vài tiếng đồng hồ đi vãi chài, kéo lưới không chỉ có cá tôm ăn khỏi phải tốn tiền mua mà còn dư ra đem bán tăng thêm thu nhập cho gia đình. Thấy nghề này có đổng ra đồng vô hàng ngày nên người tham gia ngày càng nhiều, Xóm Chài được hình thành như thế đó và truyền từ đời này sang đời khác. Về sau có thêm người đóng đáy, đăng mé, chất chà.

Ông Năm Lèo là hậu duệ đời thứ ba của ông Tư Trị, một trong số những người khai sinh Xóm Chài. Dù đã gần sáu mươi nhưng ông vẫn theo cái nghề truyền thống của ông cha. Tuy nhiên, những người trạc tuổi ông theo nghề này không nhiều, còn đám trẻ tỏ ra thờ ơ, không mặn mà cho lắm.

Nguyên nhân thứ nhất là do số lượng cá tôm ngày càng ít đi bởi vì đồng ruộng nằm trong đê bao khép kín, chi được xả nước theo mùa vụ chứ không còn ngập tràn lan như trước kia làm hạn chế môi trường sinh sản của cá tôm. Hơn nữa, bởi vì nông dân dùng quá nhiều thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, hai thứ đó đã hủy diệt tôm cá ngay từ trong trứng nước.

Nguyên nhân thứ hai là phương tiện đánh bắt tôm cá của dân chài lưới thường nhỏ bé, thô sơ và cách đánh bắt thủ công lạc hậu, chỉ xẩn bấn trong sông rạch chứ không có khả năng vươn ra biển lớn nên thu nhập không cao mà còn khá vất vả.

Nguyên nhân thứ ba là đất nước ngày càng phát ưiển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên rất nhiều nhà máy, công ty, xí nghiệp hình thành tạo nhiều công ăn việc làm cho nam nữ thanh niên thành thị lẫn nông thôn. Xã hội lại từ từ chuyển dịch sang thương mại, dịch vụ tạo ra nhiều ngành nghề mới khỏe hơn, thu nhập cao hơn chài lưới. Đó là những dấu hiệu báo trước cho một tương lai ảm đạm của cái nghề truyền thống ở Xóm Chài nhỏ nhoi này. Ông Năm thở dài thườn thượt.

Bà Năm từ nhà sau bước lên hỏi chồng:

- Ông chưa đi đám làm tuần trăm ngày của Tư Rớt sao ? Người ta mời hai giờ chiểu đó!

Ông Năm ngước nhìn đồng hồ, hai giờ kém mười lăm chiều.

- Chết cha! Bà không nhắc tui quên mất.

Bà Năm trêu:

- Nghĩ gì mà ngồi chình ình như ông thần thừ, như người mất hổn mất vía vậy? Gần tới giờ vô đám rồi nghen.

Ông Năm Lèo đến nhà Tư Rớt thì gia đình ông ấy đã làm lễ cúng, thầy Nghĩa đang tụng kinh cùng vài Phật tử. Thầy Nghĩa không phải tu sĩ hay thầy cúng mà chỉ là cư sĩ.

Thầy hiền lành, có đạo đức, nhã nhặn, ôn hòa, ăn ở rất được lòng hàng xóm. Am hiểu giáo lý, kinh điển Phật giáo và rành nghi thức tụng niệm. Thường xuyên tụng kinh đám tang và đám làm tuần cho bà con nhưng không bao giờ nhận thù lao bằng tiền hay lễ vật. Trâu cột ghét trâu ăn, nhiều tay thầy cúng mất miếng ăn lộn gan lên đầu tung tin bậy bạ, nói xấu thầy Nghĩa đủ điểu nhưng “dù ai nói ngả nói nghiêng, mà ta vẫn vững như kiểng ba chân”, chứng tỏ chính đạo luôn luôn chiến thắng tà đạo.

Tụng kinh xong, thầy Nghĩa ra ngồi uống trà cùng bàn với Năm Lèo và nhiều bà con khác. Năm Lèo hỏi thầy Nghĩa:

- Anh vừa tụng kinh gì nghe lạ quá vậy?

- Kinh Địa Tạng. Thầy Nghĩa đáp.

- Kinh đó ý nghĩa ra sao ?

Thầy Nghĩa nhìn Năm Lèo, khen:

- Anh có ý phân biệt và tìm hiểu ý nghĩa kinh điển chứng tỏ anh có căn tu. Tuy nhiên, ý nghĩa kinh Địa Tạng sâu rộng lắm, ở đây lại ồn ào và không có thì giờ nên tui không thể giải thích cho anh nghe được. Để mai mốt tui tặng anh một cuốn cho anh coi và sẵn sàng giảng cho anh những chỗ anh chưa rõ nghĩa. Được không?

Năm Lèo mừng rỡ:

- Vậy là tốt quá rồi còn gì. Nhưng mà, tui xin hỏi anh thêm chút xíu thôi. Hồi nãy tui nghe loáng thoáng trong kinh có nói đến cá trành cá trạnh gì đó là nghĩa làm sao?

Thầy Nghĩa hoan hỷ:

- Đây là đoạn kinh nói về nàng Quang Mục cứu mẹ nhưng tui chỉ kể đại khái, anh sẽ hiểu rõ chi tiết hơn sau khi xem kinh. Lúc sinh thời, mẹ nàng Quang Mục rất thích ăn cá trành (hay trạnh), ăn rất nhiều, nhiều như hằng hà sa số vậy đó, nhất là cá con và trành con. Sau khi mất, bà bị đọa địa ngục rất khổ sở. Nàng Quang Mục bèn làm theo lời của vị La-hán chỉ dạy, đem lòng chí thành niệm Đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và xuất tiền vẽ tranh đắp hình tượng Đức Phật ấy thờ cúng. Chẳng bao lâu sau mẹ nàng QuangMục được tái sinh làm một người con trai.

Qua lời thầy Nghĩa, ông Năm Lèo chợt nhớ đến cái chết của ông Tư Rớt, ông Hai Chạy và bà Chín Hường.

Tư Rớt và Hai Chạy đểu là thợ chài lưới chuyên nghiệp, lặn lội như rái cá, có tay nghề trên ba mươi năm, giàủ kinh nghiệm đánh bắt và khả năng ứng phó hiểm nguy sông nước.

Hơn hai năm trước, Hai Chạy đi chài cùng vợ, chài mắc gốc, ông ta lặn xuống gỡ, lâu quá không thấy ông ta trổi lên, vợ ông ta hô hoán, nhiều người lặn xuống mò thấy ống ta nằm chết trong miệng chài.

Cách đây đúng ba tháng mười ngày, lúc nước ròng gẩn hơn nửa sông, vừa bày bãi, Tư Rớt cùng vài người rủ nhau mò tôm. Mò một hổi không thấy ông ta đâu, cả bọn bèn đi kiếm thì gặp ông ta chết ngồi dưới bến trước miều “Bà Thủy”.

Bà Chín Hường là con gái dân chài lưới chuyên nghiệp. Sau khi lấy chồng, bà tiếp tục chèo tam bản cho chồng chài. Sau vài năm sắm lưới mua ghe đi đăng mé rồi vài năm sau nữa lại đổi sang đóng đáy nhưng cuộc sống vẫn không khá mấy nên vợ chồng bỏ nghề, đi buôn bán hàng bông. Năm ngoái, lúc nước ròng, bà cùng nhiều phụ nữ khác đi xúc cá, cào hến dưới rạch. Nước giữa lòng rạch chi ngang ngực, bà lại bơi lội giỏi nhưng không biết làm sao lại chết đuối một cách im lìm mà cả bọn không ai thấy biết, đến khi phát hiện cái nón lá và cái nồi đựng cá của bà trôi phập phều, mọi người đổ xô đi tìm, vớt được thì bà đã ra người thiên cổ.

Cả ba cái chết đều có thể do bệnh tật gây ra, nhiều nhất là bị vọp bẻ (chuột rút) nhưng người ta cứ thêu dệt nhiều chuyện thần bí, hoang đường kỳ quái, chẳng hạn như tại ba người đó xúc phạm, có lỗi với “Bà Cậu” nên bị “Bà Cậu” trừng phạt ! Ồng Năm Lèo lại nghĩ khác. Họ đã tạo nghiệp quá nặng, giết hại quá nhiều cá tôm, gấp năm gấp mười lần mẹ nàng Quang Mục. Bà ấy chỉ ăn một loại cá, mỗi ngày hai lần, mỗi lần cao lắm nửa ký là cùng, còn họ vãi chài, kéo lưới một ngày mấy chục lần thì có biết bao loại tôm cá bị giết hại, trong đó có những loại cá còn bé xíu bằng cây chân nhang, tăm xỉa răng như cá cơm mồm. Mà đã tạo nghiệp thì sau khi chết phải nhận quả háo như ữong kinh Địa Tạng đã nói.

Trông người rồi nghĩ đến ta. Ông Năm Lèo tự nhủ: mình cũng là dân chài lưới chuyên nghiệp, hành nghề gẩn bốn mươi năm, giết hại không biết bao nhiêu tôm cá. Nhưng, mình lại không có phước như mẹ nàng Quang Mục, không có con hiếu thảo cứu mình. Không có người cứu thì mình tự cứu và cứu luôn cha mẹ, ông bà bớt đi tội nghiệp được chút nào hay chút nấy.

Nghĩ là làm. Nhân mùa Vu lan Báo hiếu, ông Năm Lèo quyết định “rửa tay gác kiếm”, treo miệng chài và tấm lưới lên “bảo tàng giàn bếp” làm vật kỷ niệm cho con cháu mai sau. Ông phát tâm ăn chay trọn tháng Bảy, cúng dường trai tăng cầu nguyện cho vong linh cha mẹ, ông bà siêu sinh Tịnh độ, rồi nhờ thầy Nghĩa dẫn vô chùa quy y, thọ giới và theo thầy học kinh kệ, nghi thức tụng niệm để cùng thầy kiếm chút phước báu, duyên lành. •

Trương Hoàng Minh
Báo Giác Ngộ - Số 915 - 22/9/2017
 
saigoneses Date: Thứ Hai, 25 Sep 2017, 4:32 AM | Message # 9
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng
BI KỊCH BUỐT LÒNG CỦA NỮ BÁC SĨ NẠO PHÁ HÀNG TRĂM NGÀN THAI NHI


Vào một buổi chiều cuối năm 2015. Tôi đang ngồi uống trà cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa tại Hiên trà Trường Xuân thì nhận được cuộc điện thoại từ số máy lạ. Đầu dây bên kia, giọng miền Trung nằng nặng, đầy buồn tủi:

-“Thưa nhà báo Hoàng Anh Sướng! Tôi là một người đàn bà cực kỳ tội lỗi, khổ đau và bất hạnh. Đẻ ba đứa con thì cả ba đứa đều nghiện hút, cờ bạc. Hai đứa đã chết vì AIDS và phá thai. Đứa con trai còn lại cùng vợ thì đang ở tù vì tội tàng trữ, buôn bán ma túy. Chồng tôi, vì quá đau khổ và uất ức, đã uống thuốc độc rồi nhảy xuống sông tự vẫn. Tôi đang ở dưới đáy cùng của tuyệt vọng. Tôi đã từng muốn tự tử. Nhưng cách đây ít hôm, một người bạn thân đã gửi tặng tôi cuốn sách “Hạnh phúc đích thực” của anh trò chuyện cùng Thiền sư Thích Nhất Hạnh và đĩa DVD “Hoa mặt trời kỳ 8” anh giao lưu, chia sẻ với mấy ngàn Phật tử ở chùa Hoằng Pháp về vấn đề Hạnh phúc, làm thế nào để có được hạnh phúc đích thực?

Bạn tôi dặn: “Trước khi bà muốn chết, hãy xem hai bảo bối này”.

Sau khi đọc xong cuốn sách và xem đĩa DVD, tôi bỗng khởi ý muốn được gặp anh, tâm sự với anh. Mặc dầu chưa gặp anh ở ngoài đời bao giờ nhưng không hiểu sao, tôi thấy anh rất đáng tin cậy. Linh tính mách bảo tôi chỉ có anh mới giúp tôi thoát khỏi vực thẳm của tuyệt vọng, khổ đau này. Tôi biết công việc anh rất bận nhưng tôi tha thiết cầu xin anh hãy mở lòng từ bi cứu giúp tôi, người đàn bà khổ đau nhất, bất hạnh nhất dưới gầm trời này”. Lời nói khẩn khoản như van xin đến tội tình của người đàn bà nhiều đau khổ ấy khiến tôi không nỡ chối từ.

Ngay sáng sớm hôm sau, bà đã có mặt ở nhà tôi. Vừa nhìn thấy tôi, bà đã quỳ sụp xuống đất, lạy tôi như tế sao, vừa lạy và khóc nức nở. Thế là, suốt cả ngày hôm ấy, tôi đã mở tâm từ lắng nghe toàn bộ câu chuyện cuộc đời bà. Và mặc dầu tôi luôn cố gắng lắng nghe trong chánh niệm, của sự tỉnh thức, nhưng không ít lần, tôi đã rùng mình, sởn da gà, sống lưng ớn lạnh bởi những tình tiết câu chuyện quá rùng rợn và ám ảnh. Và chuyện kể, nhiều lần phải dừng lại giữa chừng vì những tiếng khóc nghẹn ngào, nức nở.


BÀN TAY "ĐAO PHỦ" MỖI NĂM NẠO PHÁ 3.000 CA

Bà là Nguyễn Thị H., bác sĩ phụ sản nổi tiếng ở miền Trung. Tốt nghiệp Đại học y năm 1978, bà về công tác tại khoa sản, Bệnh viện đa khoa tỉnh X. Chỉ sau vài năm hành nghề, bằng tài năng và tâm huyết, bà đã nổi danh khắp miền Trung, được người đời phong là bác sĩ có “đôi bàn tay vàng” vì bà có thể xử lý mọi ca nạo phá thai mà ít để lại di chứng trong khi nhiều bác sĩ khác không dám làm.

Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, nhận thấy nhu cầu nạo phá thai của người dân ngày càng lớn, trong khi thủ tục ở Bệnh viện thì phiền hà, nhất là phải kê khai đầy đủ các thông tin cá nhân khiến nhiều người ngại đến, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên, bác sĩ H. đã quyết định bỏ việc nhà nước, về mở phòng khám phụ sản tư nhân tại nhà.

Với thủ tục nhanh gọn, chỉ cần ghi họ tên và đo qua huyết áp, nộp phí (theo tuần thai) là được tiến hành luôn, thai to hay nhỏ chỉ liên quan đến vấn đề tiền công mà không cần có thêm thủ tục gì, cộng với danh tiếng sẵn có, phòng khám tư của bà nhanh chóng thu hút khách, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên. Các “em bé” không dám vào bệnh viện vì sợ các thủ tục phiền hà. Nhiều em khai vống lên trên 20 tuổi nhưng khi bác sĩ buộc phải trình chứng minh thư nhân dân thì sợ hãi khóc oà vì chỉ có... thẻ học sinh. Trong khi đó, ở phòng khám tư của bà, thủ tục thoáng hơn nhiều. Các em có thể bịa một cái tên, một địa chỉ, bịa ngày tháng năm sinh và nhất là, được bảo đảm bí mật tuyệt đối khi giải quyết “hậu thiên đường”. Bởi vậy, nhiều em mới ở lứa tuổi 15-16 đã trở thành khách hàng ruột của bà vì đi nạo phá thai quá nhiều lần.

Chỉ sau vài tháng mở cửa, khách đến phòng khám của bà nạo phá thai đông như trẩy hội. Đặc biệt, đông nhất là vào cữ thời gian sau Lễ tình nhân, Tết trung thu, Noel, Tết dương và Tết âm lịch..., khách đến ngồi chờ đông kìn kìn. Ngày nào bà cũng phải nạo phá quần quật từ sáng sớm đến nửa đêm. Nhiều hôm, khách chờ lâu quá, kêu ca ầm ĩ, bà bỏ cả ăn trưa, ăn tối.

Thậm chí, khi bà mang thai đứa con thứ 3, lúc đó 9 tháng tuổi, bụng to vượt mặt, bà phải kê chăn ở dưới mông vì không thể ngồi bình thường được, kỳ cạch phá thai cho khách. Sinh con được ba ngày, bà đã xắn tay áo, mướt mải nạo phá. Có lần, nửa đêm, mệt quá, bà gục mặt vào cả bụng sản phụ ngủ thiếp đi.

Làm việc vất vả nhưng bù lại, tiền chảy vào túi bà như nước. Tiền chảy vào càng nhiều, bà lại càng ham. Bà nạo phá không ngưng nghỉ. Một năm, bà chỉ nghỉ duy nhất vào mấy ngày Tết âm lịch. Thế mà, mồng 3 Tết, ngồi ăn cơm với chồng con, bà đã thở ngắn than dài: “Khổ. Kiếp này đúng là tôi mang thân con lừa ưa nặng. Ngồi chơi không có mấy hôm mà thấy chân tay nó cứ thừa thãi, buồn bã thế nào ấy”.

Mùng 5 Tết, khách đến nạo phá mở hàng, bà mừng ra mặt, hào phóng giảm giá luôn cho khách 50% để lấy may đầu năm. Tay thoăn thoắt nạo phá, miệng nói cười rổn rang, mặt ngời rạng rỡ như hoa.

Bà bảo:

-“Cái dân Việt mình nghèo là phải. Một năm nghỉ bao nhiêu ngày lễ, Tết. Tôi ước gì nhà nước mình bỏ luôn cái Tết âm lịch giống như Nhật bản ấy. Gớm. Nghỉ nhiều, chỉ tổ sinh hư. Rượu chè, cờ bạc, dâm dật gái trai, tai nạn xe cộ, chém giết… Tất cả từ đấy ra chứ đâu? Tôi mà làm lãnh đạo nhà nước hôm trước, hôm sau, tôi bỏ quách Tết. Với tôi, hạnh phúc lớn nhất là được nạo phá mỗi ngày. Nạo phá để ra xiền!”

Hứng lên, bà nói toang toác:

-“Người đời vì tin cậy và yêu quý tôi, phong tôi cái danh “bác sĩ phụ sản có đôi tay vàng”. Gớm! Tay vàng, tay bạc gì. Có bàn tay đao phủ thì có. Mỗi ngày trung bình tôi nạo phá hàng chục ca. Một tháng là 300 ca. Mỗi năm lên đến 3-4.000 ca thì chẳng quá đao phủ ư?”

Làm việc quần quật tối ngày nên chỉ sau 3 năm từ căn nhà bê-tông 1 tầng rộng 70m2, phòng khám tư của bà thành một tòa nhà 5 tầng to vật vã nằm ngay mặt đường trung tâm thành phố với đầy đủ phòng khám, phòng nạo phá, phòng nghỉ lại cho khách ở xa.

Các phương pháp nạo phá từ truyền thống cho đến hiện đại, bà đều áp dụng. từ hút thai, nạo thai, bỏ thai tự phát cho đến phá thai bằng thuốc, bà áp dụng một cách nhuần nhuyễn tùy vào từng trường hợp thai to hay thai nhỏ.

Bà tâm sự:

-“Nạo phá nhiều như thế mà tôi vẫn bị ám ảnh đấy! Ám ảnh kinh hãi nhất là khi phá những thai lớn bằng phương pháp ép sinh non. Những thai nhỏ 1 tháng tuổi, tôi chỉ việc đưa 1 ống nhỏ bằng nhựa qua cổ tử cung vào trong tử cung (ống này nối với máy bơm điện hoặc bơm tay) rồi hút phôi thai ra. Thủ thuật hút được thực hiện nhẹ nhàng, ít đau đớn và ít biến chứng. Với những thai 2-3 tháng tuổi, tôi nong rộng cổ tử cung rồi đưa dụng cụ giống như cái thìa vào để nạo phôi thai cùng rau thai. Nạo kiểu này thì gây đau, tỷ lệ biến chứng cao hơn so với hút, đòi hỏi kỹ thuật tay nghề vững. Nhưng với những bào thai lớn từ 4 tháng tuổi trở lên, nhiều trường hợp phá thai 7-8 tháng tuổi, tôi phải gây sẩy thai nhân tạo. Do dùng thuốc làm bong thai, cắt đi nguồn dinh dưỡng giữa mẹ và con nên phần lớn các thai nhi này đều đã chết trong bụng mẹ. Song cũng có những đứa do được đẻ ra nhanh quá nên vẫn còn thoi thóp thở, nhìn thương tâm lắm nhưng dẫu có muốn cứu thì cũng không cứu được vì bé mới chỉ nặng xấp xỉ 400gr! Là phụ nữ, tôi thấy chạnh lòng vô cùng cho những đứa trẻ xấu số này. Những đứa trẻ khác ra đời được nâng niu, được trân trọng được yêu thương còn những đứa trẻ này, 20 đến 22 tuần là đầy đủ hình hài, hoàn thiện rồi, là con búp bê nhỏ rồi mà vẫn phải chết. Cái chết này thực là oan nghiệt. Nếu như hút thai dưới 3 tháng, tôi chỉ phải chứng kiến những “mảnh vỡ” chưa thành hình hài thì việc đỡ cho các ca cho sẩy thai này, tôi phải chứng kiến những hài nhi đã hoàn thiện nhưng bé xíu và chịu cái chết oan nghiệt.

Tôi luôn có cảm giác bồng bềnh, buốt dọc sống lưng mỗi khi đỡ cho những hài nhi xấu số. Nhiều lúc, nghĩ lại, không hiểu nổi sao mình có thể làm được những việc kinh khủng như vậy? Nhưng tôi cố gắng không để trầm tư quá lâu, bởi cứ đắm đuối với những ý nghĩ như vậy thì chẳng bác sĩ sản khoa nào có thể tiếp tục làm nghề. Nạo phá thai chẳng những phải có trái tim lạnh mà phải thật lạnh, bỏ qua cảm xúc của mình và cảm xúc của bệnh nhân, chỉ nghĩ đến công việc thôi. Đêm về, tôi đặt lưng xuống giường là ngủ ngay, không cho phép mình có giây phút nào để suy nghĩ, phải ứt đi hết những cảm xúc của con người. Có như thế, tôi mới tồn tại và tiếp tục làm nghề được”

Nói đoạn, giọng bà H. chùng xuống:

“Nhiều đêm, nằm cạnh chồng, chồng tôi cũng hay hỏi: Hàng ngày, em nạo phá thai nhiều thế, em có bị ám ảnh không? Tôi thành thật trả lời: Ám ảnh chứ! Nhìn những đứa bé đủ hình hài, bị chối bỏ cơ hội làm người, sau ca phẫu thuật bị biến thành những cái xác không nguyên vẹn mà đau đớn. Đến tận bây giờ khi làm nghề nhiều năm, đã tự tay phá bỏ cả hàng trăm ngàn hài nhi, nhiều đêm em vẫn nằm mơ thấy tiếng khóc đau đớn của con trẻ. Vẫn biết nghiệp này có chướng, nhưng vì tương lai của các con, em vẫn phải cố thôi. Nhiều lúc, em có cảm giác như đây là định mệnh, là số phận khiến em không thể bỏ nghề. Những ai theo nghề này thì mới thấu hiểu, nói thì khó tin nhưng hoàn toàn là sự thật. Làm nghề này, lúc nào cũng thấy rùng mình, ớn lạnh, nhưng rồi công việc cứ đến, mỗi ca là một cảnh đời, một biến cố khác nhau. Có điều, em không muốn bất kỳ đứa con nào của mình sau này theo nghiệp mẹ”

QUẢ BÁO HIỆN TIỀN



Bà H. có 3 người con: 2 trai, 1 gái. Cả 3 đứa đều thông minh, học giỏi, ngoan ngoãn, đều đẹp như diễn viên điện ảnh. Thằng Hoàng, con rai lớn, học Đại học năm cuối chuyên ngành du lịch. Thằng Trung, thứ hai, học Quản trị Kinh doanh. Cô con gái út, tên Ngọc, học Đại học Ngoại thương năm thứ nhất. Nhìn gia cảnh ấm êm, hạnh phúc, sung túc của bà, ai cũng phải trầm trồ, ghen tỵ. Bạn bè bà thường trêu đùa: “Các cụ bảo: “Mỗi cây, mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” thế mà nhà bà H. đây cứ mười phân vẹn mười, chẳng khiếm khuyết, sứt mẻ gì. Đã thế, như nước cứ chảy vào chỗ trũng. Có cảm tưởng, bao nhiêu may mắn, tốt đẹp, giàu sang, hạnh phúc cứ chảy hết vào nhà bà. Ngẫm ra, ông Trời nhiều khi cũng thật bất công”

Hạnh phúc, sung sướng là thế, ấy vậy mà đùng một cái, cả ba đứa con mắc nghiện ma túy lúc nào bà cũng không biết. Mãi về sau, thấy tiền bạc, đồ đạc trong nhà không cánh mà bay, hai vợ chồng bà theo dõi, mới ngã ngửa người. Kẻ trộm trong nhà chứ đâu.

Thằng Hoàng nghiện trước rổi dẫn dụ thằng em. Hai anh em chích cho nhau, thắm thiết tình “huynh đệ”. Thằng Hoàng nghiện bởi mấy đứa cùng trường dụ dỗ: “Chỉ chơi 1 tép là đầu óc tỉnh tớm cả đêm, học bài vào ghê lắm”. Ngây thơ, Hoàng hít thử rồi nghiện lúc nào không biết. Cho đến khi số tiền đốt theo những cơn vã thuốc tăng từ vài chục ngàn lên 500.000 đồng một ngày thì Hoàng bị nhà trường phát hiện rồi đuổi học. Về nhà, mỗi lần đến cữ, Hoàng lại sai thằng em trai đi mua thuốc. Thế là, chỉ hơn 1 tháng sau, hai anh em cùng mắc nghiện. Mà toàn nghiện thứ thuốc trắng chết người, vắt kiệt tiền, kiệt sức của con nghiện vì nó phải buộc chúng tăng đô từng ngày.

Nghiến răng nuốt nước mắt, bà H. viết đơn xin cho 2 thằng con trai đi cai nghiện. Được một thời gian về, chúng vẫn chứng nào tật nấy. Mức độ hút chích lại còn tàn bạo hơn. Các mánh khóe moi trộm tiền cũng “sành điệu” hơn. Bà H. uất quá, dọa: “Các con không tu tỉnh, mẹ sẽ chết cho đỡ nhục”. Thế mà chũng vẫn trơ ra. Cứ chập tối là tụ tập đám con nghiện hút, chích. Đôi lúc “giang hồ chợt tỉnh”, hai đứa cũng quyết tâm cai nghiện thề làm lại cuộc đời, tự mua xích về khóa chân vào cột nhà. Chồng bà hàng ngày đút từng thìa cơm cho con mà lòng thấp thỏm hy vọng. Nhưng cũng chỉ được vài hôm, chúng lại phá xích đi lùng thuốc.

Âu cũng bởi nhà liền kề chợ X., đã từ lâu thành chợ ma túy. Bọn con nghiện ra đây mua thuốc dễ dàng như mua mớ rau vậy, trong số đó có rất nhiều trẻ vĩ thành niên. Đêm đêm, chúng công khai tụ tập ở chợ để tiêm chích cho nhau. Kim tiêm còn vương máu đỏ, chúng vứt tung tóe ra cả đường phố. Sau này, khi Công an phường lùng bắt gắt gao, chúng đã dạt xuống chân cầu thành phố, bên bờ sông để tiêm chích. Ở đấy, vừa là nơi khuất nẻo, lại rất lý tưởng cho con nghiện thực hiện cái “tín ngưỡng” rất… ma túy của mình. Đó là, khi tiêm chích xong, chúng sẽ ném xi lanh xuống dòng sông ngầu bọt cho nước cuốn đi. Và chúng tin rằng, nước sông sẽ làm cho con người chút … mát mẻ và khỏe mạnh (?). Còn nếu quăng xi lanh xuống đất, trong người sẽ bốc hỏa và rất dễ bị mắc bệnh. Bọn con nghiện nó túm năm tụm ba chích choác ở đấy suốt ngày, hai thằng con bà làm sao chịu đựng làm sao mà được?

Thế rồi đến một ngày, thẳng Hoàng đòi cưới vợ. Vợ nó làm Kế toán cho một công ty Du lịch nước ngoài, xinh đẹp, con nhà nề nếp, gia giáo. Cưới vợ được gần 1 tháng, được sự động viên của gia đình, nó làm đơn gửi lên chính quyền Phường xin được cai tại nhà. Nó thuê đóng môt chiếc lồng sắt, cao 2m, dài 2,2m hết hơn 4 triệu đồng rồi chui vào đó, tự tay khóa cửa, đưa chìa khóa cho vợ cầm. Tất tật mọi sinh hoạt ăn uống, ngủ nghỉ đến đại tiện, tiểu tiện… đều chỉ bó gọn trong chiếc cũi sắt ấy. Được hơn 2 tháng thì cắt cơn. Nhưng phải 1 tháng sau, nó mới chui ra khỏi lồng. Hành trình cai nghiện ngót 100 ngày ấy là biết bao giọt nước mắt đau đớn, xót cay của nó, của vợ nó, của vợ chồng bà.

Thế mà chỉ được một thời gian ngắn, nó lại tái nghiện. Nó bảo: “Cứ nhìn thấy bọn nghiện là cảm giác nhớ thuốc xông lên đến đỉnh các thùy não. Cái miệng chua loét phía ngoài, đắng ngắt phía trong gần họng. Thế là lại lao vào chích ngay” .

Thấy chồng hít, chích tàn bạo quá, khuyên can mãi không được, ức quá không chịu nổi, vợ nó cũng lao đầu vào hít cho “nát thì nát luôn một thể”. Để có đủ tiền hút chích, hai vợ chồng kiêm luôn buôn bán heroin. Nhà 3 tầng to vật mặt đường bà H. mua chó nó trở thành sới nghiện.

Đến một ngày, khi Công an ập vào, một cảnh tượng rùng rợn chưa từng thấy, ngay cả trên phim ảnh: trên thân cây chuối hột lừng lững góc vườn, hàng trăm chiếc xi lanh cắm chi chít, gió thổi rung bần bật. Đám con nghiện, thằng cởi trần, đứa cởi truồng, chạy tán loạn. Một cán bộ ngồi tẩn mẩn đếm được 108 cái rồi ngữa mặt lên trời cười: Đúng là “108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc”. Thế là cả hai vợ chồng rồng rắn vào tù. Ngôi nhà mặt đường to vật vã, là niềm ao ước của biết bao người, giờ lạnh ngắt, vắng tanh như chùa bà đanh.

Thằng Trung, đứa con thứ hai của bà, đời còn khốn nạn hơn. Hút chích chưa đủ, nó còn lao vào cờ bạc. Nó toàn đánh bạc xuyên Quốc gia. Cứ cuối tuần là cạc-táp tiền bay sang sòng bài ở Campuchia. Nướng hết tiền lại về hạch sách Bố Mẹ. Nhiều lần, nó đánh đập bà thâm tím hết mặt mày vì không chịu đưa tiền cho nó. Khủng khiếp hơn, có lần vã thuốc, nó cầm dao mổ, chạy đuổi bà khắp tầng trên xuống nhà dưới. Nó đòi cắt tiết bà. Nghiện sau thằng anh nhưng thằng Trung lại hít tàn bạo nhất. Tiền bà kiếm hàng trăm triệu mỗi ngày cũng không đủ thỏa những cơn nghiền cờ bạc, nghiện ma túy của nó. Có lần, không dọa được bà đưa tiền, nó phải đi nhặt nhạnh những ống xi lanh của các con nghiện khác, chắt chút ít nước cốt còn sót lại rồi bơm vào thân hình tiều tụy, xác ơ của mình. Cuối cùng, nó đã chết vì bệnh AIDS.

Cái chết của nó, cho đến tận bây giờ, vẫn là nỗi ám ảnh kinh hoàng trong tâm khảm bà H. Bà kể: “Những ngày cuối cùng, nó nằm bệt trên giường, người gầy đét, chân tay quắt queo, mắt lờ đờ như cùi nhãn, cái miệng ho hó nhe ra mấy cái răng bàn cuốc đen xỉn. Nước phân chảy ra thối um. Nó nói thều thào. Thế mà cứ 2-3 tiếng đồng hồ, bạn bè lại phải chích cho nó một liều. Liều cuối cùng, kim tiêm vừa rút ra, nó ngắc ngắc cổ mấy cái rồi chết. Hôm chôn nó xong, sáng hôm sau, người nhà ra đắp lại mộ, thấy chi chít toàn xi lanh. Đấy là cách “phúng viếng” của đám con nghiện với nó hồi nào. Chao ôi! Cho đến tận lúc chết, ma túy vẫn không chịu buông tha cho con tôi!”

Số phận của Ngọc, con gái út của bà, cũng thảm thương không kém. Điều trớ trêu, cay nghiệt, là cách đây 2 năm thôi, nó ngoan nức tiếng cả phố. Ai đời, 17 tuổi lớn phổng phao mà không hề biết đến một thỏi son, hộp phấn. Quần áo thì toàn phải mẹ mua cho. Suốt ngày chỉ vùi đầu vào học. Chẳng chơi bời, à ơi trai gái. Nhiều lúc thấy nó học nhiều quá, sợ nó mụ người, bà mắng thì nó cười “Con phải cố gắng học để sau này làm rạng danh cho Ba Mẹ chứ?”

Năm kia, nó chẳng những thi đậu Đại học Ngoại thương mà còn thừa điểm đi du học nước ngoài nhưng nó không đi. Nó bảo: “Học ở đâu chả được? Miễn là giỏi!”. Vào Đại học được nửa năm, nò về bá cổ bà, nũng nịu: “Mẹ! Mẹ đổi xe cho con gái rượu nhé, con xe tay ga Honda Spacy này… ghẻ lắm rồi, bọn bạn con nó bảo cho vào viện Bảo tàng” Bà cười tít mắt: “Ừ! Gớm! thế mà ngày trước bảo đổi xe SH thì cứ nguây nguẩy không chịu!” Nó dẩu môi: “Thì ngày xưa khác, bây giờ khác!”.

Một tuần sau, “Ba! Con gái đỗ Đại học thừa điểm mà chẳng thấy Ba thưởng gì?” Chồng bà cười hiền, mắt lấp lánh: “Thế con gái rượu của Ba thích gì nào?” “Iphone 5 được không Ba? Để thỉnh thoảng Ba đi công tác xa, con còn điện thoại hỏi thăm sức khỏe của Ba chứ!” “Được! Xin tuân lệnh!”

Những bữa cơm chiều dần vắng mặt. Những đêm khuya len lén về. Những lần ngửa tay xin tiền ngày một nhiều. Bố hỏi, nó phụng phịu: “Ba! Con học bù cả đầu lên đây. Tiếng Anh này. Tiếng Trung này. Tin học này. Ba chẳng thương con thì hôi!”. Bà lườm nguýt: “Cái ông này! Lúc nào cũng nghĩ xấu về con gái thôi!”.

Ngọc học gì, chỉ có ông trời với lũ bạn tóc xanh, tóc đỏ của nó là biết. Sáng nó uống cà phê sành điệu ở Khách sạn 5 sao. Chiều học làm đệ tử của Lưu linh ở bãi biển. Vừa nhâm nhi Bia rượu với mực nướng thơm lựng, vừ ngắm cả dãy dài các đôi trai gái ve vuốt, tự tình, đấu môi, đấu mỏ “húp cháo” soàn soạt. Để thấy đời bớt lạnh, thấy tình là cõi đê mê.

Đêm, biêng biêng, cả lũ kéo nhau đến vũ trường. Một thế giới hoàn toàn khác mà nó chưa từng thấy, chưa từng biết. Một thế giới không có nhọc nhằn, nước mắt, không có dằn vặt đớn đau chỉ tràn ngập niềm sung sướng. Nhạc đùng đùng. Đèn laser quét tóe loe. Hàng trăm cái đầu loang lổ, Tây có, Ta có, già có, trẻ có… gục mặt vào nhau mà giật, lắc, uốn éo, hú hét điên loạn… Trên bục, 2 gái mồi xinh như mộng, ăn mặc hở hang cũng uốn lượn những động tác cực kỳ khêu gợi. Đã quá! Kích động quá! Bia đi! Rượu đi! Nhưng phải chơi thêm viên hồng hồng, xanh xanh mới bốc.

Lần đầu tiên chơi viên HQ (thuốc lắc) màu hồng đỏ, nó nôn thốc nôn tháo vì mùi ngai ngái, đắng ngắt. Phải đến lần thứ 2, được con bạn cùng lớp chơi thuốc lắc vào dạng sớm nhất, chỉ dẫn tận tình. Nào là phải chiêu thuốc bằng bia, nếu chiêu bằng rượu thuốc sẽ “xìu” ngay lập tức. Nào là phải nhai singum để làm sạch thuốc ở chân răng cho khỏi đắng… Chỉ 4-5 phút sau, Ngọc thấy “phê” ngay, chân tay bủn rủn rã rời. Thế là lắc, là giật. Nhạc càng bốc, lắc càng tợn.

Nhiều đêm chưa thấy “đã”, 6 đứa (3 cặp) lại kéo nhau lên phòng Karaoke T.Đ. trên phố B. để lắc tiếp. Cả thành phố biển chỉ có 6 phòng lắc như thế này. Đây là điểm dừng chân cuối cùng của dân chơi thuốc lắc tiếp tục thác loạn khi mà vũ trường đã đóng cửa. An toàn tuyệt đối vì bên ngoài đã có đám bảo kê canh chừng. Muốn vào đây mèng cũng phải dắt lưng 5-6 triệu đồng, mà phải đặt trước mới còn chỗ. Trong ánh đèn đỏ quạch, âm thanh vặn hết cỡ, bọ Ngọc lại tiếp tục uống, tiếp tục nhai thuốc hồng. Lại giật, lại lắc. Những bàn tay khẳng khiu khua lên không trung loằng ngoằng như những bàn tay quỷ. Rồi hưng phấn lên đến cực điểm, chúng đè nhau ra mà rú rít, quằn quại… Từ một cô bé học giỏi, ngoan hiền, Ngọc đã rơi xuống vực của dòng thác loạn lúc nào không biết. Ngọc nghiện thuốc lắc. Ngọc mê con quỷ dâm tình.

Một lần, bắt gặp Ngọc đang ngửa cổ nốc bia như điên trong tiến hò reo của đám bạn choai choai ngoài bãi biển, chị hàng xóm về mách bà H. Ai dè, vừa dứt lời, bà đã chao chát:

-“Cô mắt cận nên nhìn nhầm thế nào ấy chứ. Con Ngọc nhà tôi giỏi giang, xinh đẹp như giời. Đừng có mà ghen ăn tức ở, đơm điều đặt chuyện, gắp lửa bỏ tay người rồi Trời đánh Thánh vật đấy!”

Chị hàng xóm tốt bụng tái mặt, quay lưng bỏ đi thở dài…

Chiều nọ, Ngọc về nhà trong dáng vẻ phờ phạc, lẳng lặng lên phòng thu gom đồ đạc, quần áo tống tất vào va-ly. Bà hỏi, nó lạnh lùng: “Con muốn ra ở riêng!”. “Với ai?”. “Với bạn!”. Bà H. hốt hoảng: “Con điên à? Nhà mình rộng thênh thênh thế này, ở không hết, lại bỏ đi đâu?” Chợt nhìn bầu ngực căng ních, núng nính như hai quả dừa của Ngọc, nước da lờn lợt, đôi lông mày tỉa tót mỏng như sợi chỉ, bà giật mình thảng thốt: “Ngọc, con có chuyện gì rồi phải không?” Ngọc cười khẩy: “Mẹ! Con lớn rồi, mẹ bận tâm nhiều làm gì? Thế hệ chúng con bây giờ là phải tự do và tự lo. Mẹ hiểu chưa? Ở bên Tây kia kìa, 18 tuổi là phải lao ra đời mà sống. Có chết ai đâu?” Nói đoạn, nó nguây nguẩy bước đi, mặc cho bà lu loa, kêu gào.

Tự do và tự lo. Ngọc cùng 3 con bạn chí cốt thuê một căn hộ ở phố với giá 10.000.000 đồng/tháng. Tự lo nhưng gia đình vẫn cứ là nhà tài trợ độc quyền. Có điều “miệng ăn núi lở” nên một tháng sau, bọn Ngọc đã nhận làm dịch vụ làm bồ hợp đồng để lấy tiền tiêu xài, đập phá.

Con Th., số đỏ, cặp với một ông tuổi “cụ” giàu nứt đố đổ vách, “xơi” 10 triệu đồng /tháng ngon ơ.

Con Nh. lẳng lơ, mắt lá răm, miệng ẽo ợt “chộp” được 3 cái hợp đồng mệnh giá 4 triệu, vị chi thu nhập hàng tháng 12 triệu.

Riêng Ngọc, tài sắc vẹn toàn, à ơi với tỷ phú khai thác khoáng sản Kh. Tay này tuy thô lậu, đã có vợ và một tá bồ nhí nhưng được cái tiền nhiều như quân Nguyên, lại chết mê chết mệt Ngọc, cung phụng, hầu hạ Ngọc như bà hoàng. Song cuộc tình khập khiễng chỉ kéo dài được gần một năm thì đứt gánh giữa đường. Vì hắn phát hiện ra Ngọc sí sớn với anh chàng sinh viên Đại học Mỹ thuật mặt non choẹt đáng tuổi con hắn. Đêm ấy, hắn nhổ nước bọt đánh toẹt vào mặt Ngọc rồi rít róng: “Đồ đĩ”. Ngọc ngồi thản nhiên, mặt không một nét xao động. Có gì đâu để mà tiếc. Tiền ư? Thiếu gì kẻ giàu có đang xúm xít, xun xoe quanh Ngọc để được cung phụng người đẹp. Tình ư? Có đâu. Mà dẫu có thì ngần ấy tháng trời cũng đủ nhạt, đủ trơ, đủ lỳ. Sống đơn giản là ái tình phải đổi mới liên tục. Phải thay người tình như thay áo.

Cái gì khởi đầu rồi cũng có kết thúc của nó. Kết quả của hàng ngàn cuộc dục tình mây mưa là Ngọc phải 8 lần đi nạo phá thai. Đương nhiên, nó không dám phá thai ở phòng khám của mẹ. Lần đầu, có thai với tỷ phú Kh. Do chưa có kinh nghiệm, thai quá lớn nên phải đẻ cô-vắc. Ngọc sợ lắm. Đau nữa. Nhìn đứa trẻ bị lấy ra xám ngoét, ướt sũng máu và nước, Ngọc khóc nghẹn. Bao đêm, hình ảnh ấy cứ xiết vào tâm can Ngọc. Cứ nhắm mắt lại là chân tay đứa trẻ lại quẫy đạp, cào cấu. Tỷ phú Kh. phải rước Thầy đến lập bàn thờ, làm lễ giải oan cho vong hồn, Ngọc mới thấy thanh thản.

Từ đấy, Ngọc rút kinh nghiệm. Cứ thấy chậm kinh nguyệt một hai tháng là đi hút ngay. Lần cuối cùng, Ngọc nạo ở một phòng khám tư mới mở. Do làm ẩu, tử cung bị rách, máu chảy ồ ạt. Ngọc chết. Hôm ấy, đúng vào ngày 20 tháng 10, ngày phụ nữ Việt Nam, Ngọc vừa tròn 19 tuổi.

Cho đến tận bây giờ, khi nấm mộ của Ngọc đã xanh rì cỏ mọc và những lời đồn thổi về cái chết còn non tơ ấy bớt xôn xao trên những con phố nhỏ, bà H. vẫn gầy sọp, xác xơ, bơ phờ như cành cây bị cháy. Má hóp, mắt thâm quầng, tóc xõa sượi, bà cứ gục đầu vào thành ghế mà nức nở: “Cuộc đời tôi đâu ngờ lại có cái kết thảm thương như thế này. Đời tôi coi như là hết. Tiền bạc, cửa rộng nhà cao mà làm gì???”

Rồi bất thần, bà chồm dậy, nắm cánh tay tôi, lắc mạnh, mặt bệch bạc như mất máu: “Anh Sướng ơi! Con Ngọc nhà tôi nó ngoan là thế, giỏi là thế, hiếu thảo là thế. Sao nó lại có thể đi chích choác, ngoại tình, phá thai? Tại sao? Tại sao hả anh?” Tôi giật mình. Không biết đây là lần thứ mấy, tôi được nghe câu hỏi này.

Vừa mới chiều qua thôi, một người mẹ trẻ có con gái chết vì sốc thuốc cũng đã níu lấy tôi mà gào lên thảm thiết như vậy. Thì chúng nó đều trẻ, đều xinh, đều ngoan như cô Tấm. Gia đình lại khá giả, sung túc, chiều chuộng. Chán ngán gì mà phải bỏ nhà đi bụi, đánh đu với bọn bụi đời? Tôi quay mặt gục đầu im lặng. Biết trả lời thế nào đây. Đời thì quá nhiều cạm bẫy. Các em thì bồng bột, thơ ngây. Lối sống phương Tây tràn ngập như nước vỡ bờ. Cha mẹ thì nuông chiều, tin tưởng vào những mầm non “ngoan từ trong trứng”... Tiền bạc, xe đẹp, điện thoại di động đời mới... Tiếc gì? Đời mình cực khổ quá nhiều. Giờ phải cho chúng nó ngẩng mặt lên chứ. Thế là cứ mặc sức đua đòi, đú đởn. Thuốc trắng. Mại dâm. “Ết”. Và... chết. Thế mà cha mẹ vẫn cứ ngơ ngác tự hỏi: Tại sao?

Nỗi đau chồng chất nỗi đau. Cái chết bất ngờ của Ngọc, đứa con vốn dĩ ngoan ngoãn, hiền như Ma-sơ ấy, khiến chồng bà lâm vào cảnh khốn cùng tuyệt vọng. Ông lao đầu vào rượu. Rượu vào là đập phá tanh bành, là đấm tát bà, rủa nguyền bà là “con đao phủ, đồ giết người dã man nhất quả đất nên giờ con cái phải chịu quả báo, giời mới bắt đền tội thế này đây”. Đánh chán, chửi chán, ông lại ngửa cổ nốc rượu rồi ngã vật ra giường lăn lộn kêu khóc.

Bà chẳng nói gì, chỉ bưng mặt khóc. Ôi chồng! Ôi con! Đời bà có còn gì nữa đâu. Phẫn chí, bà định uống thuốc tự tử. Ông anh trai tát cho mấy cái nảy đom đóm mắt, gầm lên: “Đồ hèn. Mày chết, cái nhà này để cho ai? Để chồng mày rước bồ nhí về ở à? Còn vợ chồng thằng Hoàng nữa. Chúng nó sắp mãn hạn tù rồi. Mày phải tự thương lấy mày chứ? Chỉ có mày mới cứu được mày thôi!”. Thế mà bà tỉnh, nghiến răng nuốt nước mắt sống.

Nhưng rồi, vào một buổi chiều mưa ảm đạm, trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, chồng bà đã dốc 2 ống thuốc bả chuột vào một lon nước ngọt, uống cạn rồi lết ra cầu, lao đầu xuống dòng sông ngầu đỏ. Ba ngày sau, xác ông mới nổi. Cái chết oan nghiệt ấy cứ ám ảnh, day dứt trong bà mãi không thôi.

Bà H. kể, sau cái chết của chồng, một mình bà sống đơn độc trong căn nhà 5 tầng rộng thênh thang. Từ bấy, cứ nửa đêm, tầm 3-4 giờ sáng là bà lại nằm mơ, những giấc mơ kinh khiếp. Hàng trăm ngàn đứa trẻ cụt chân, cụt tay, không đầu, máu me be bét đứng đầy trời, đầy đất. Chúng khóc lóc, hú hét, kêu gào như đàn mèo hoang. Rồi chúng thi nhau nhảy lên giường, leo lên đỉnh màn, hò nhau bóp cổ bà đến nghẹt thở. Bà càng giãy giụa, kêu la, chúng càng bóp chặt. Đêm nào bà cũng bị hành hạ như vậy.

Có đêm, quá kinh hãi, bà phải điện thoại cho anh trai, chị gái cầu cứu. Tưởng bà bị bọn cướp hãm hại, mọi người hớt hải chạy đến. Tới nơi, thấy bà đầu tóc rũ rượi, người run cầm cập, mắt dại đi trông rất kinh. Bà kể lại giấc mơ hãi hùng ấy nhưng chẳng ai tin. Anh trai bà bảo chắc là bị chấn thương tâm lý do gặp nhiều cú sốc nên đưa bà đến Bệnh viện tâm thần điều trị. Nhưng thuốc an thần, thuốc ngủ cũng không giúp bà thoát khỏi cơn ác mộng. Nhiều đêm thần kinh căng thẳng quá, bà nghĩ, có thể sáng mai mình sẽ bị điên.

Một nữ đồng nghiệp cũ ở Khoa sản, nghe tin bà ốm nặng nên đến thăm. Vị này cũng từng là Bác sĩ giỏi, nạo phá không biết bao nhiêu thai nhi. Cô từng mắc một chứng bệnh lạ. Bàn tay phải của cô, bàn tay mà cô thường dùng kìm, kéo cắt, gắp từng mẩu thai nhi ra khỏi tử cung của sản phụ, bỗng dưng sần sùi vẩy ốc, vẩy cá, nhăn nheo, tím tái như bàn tay người hủi. Trời nóng là nứt toác ra, máu mủ ri rỉ chảy. Lớp da cũ sùi lên, dày ra, rụng đi, lớp da vảy sừng khác lại mọc. Cô phải quấn xô màn chống ruồi nhặng suốt ngày. Mỗi lần bóc lớp vải xô ra để vệ sinh, da thịt cứ rớt xuống từng mảng, máu chảy tóe loe, mùi hôi tanh nồng nặc. Ai trông thấy đều kinh hãi. Người nhà đưa cô đi chữa khắp các bệnh viện trong Nam, ngoài Bắc, Đông y, Tây y nhưng các bác sĩ đều bó tay. Họ bảo chứng bệnh này kỳ lạ quá, chưa từng gặp bao giờ.

Về sau, nhờ một người bạn gieo duyên nên cô may mắn được tiếp xúc với Phật pháp. Người đó khuyên cô hãy bỏ nghề vì nạo phá thai là giết người, hãy học Phật, niệm Phật đi. Cô nghe theo. Ngày nào cũng chăm chỉ niệm Phật, thành tâm sám hỗi lỗi lầm. Một hôm, đang tụng kinh, cô bỗng thấy buồn nôn. Ậm ọe mãi, cô nôn ra một bãi máu đen kịt, bốc mùi hôi thối. Từ bấy, bàn tay cô da thịt không còn rơi rụng, vết thương đỡ từng ngày, da dẻ mịn màng, hồng hào trở lại. Chồng của cô, vốn là Sĩ quan An ninh, chưa bao giờ biết đến Phật pháp, nay chứng kiến cảnh tượng ấy đã tin vào sự nhiệm mầu của Phật Pháp nên đã cùng cô quy y Tam bảo, trở thành những Phật tử thuận thành.

Cô nói với bà H:

- “Đó chính là Báo ứng hiện đời đấy chị ạ. Nhờ chân thật sám hối nên mới hiển hiện cái Quả báo này để cho em và mọi người cùng được thấy. Cho nên chị đừng phá thai nữa. Chị nạo phá suốt hơn 40 năm rồi còn gì. Hàng trăm ngàn vong nhi bị chị nạo bỏ sẽ trở thành oan gia trái chủ đeo bám mãi những người kết oán với nó, chờ cơ hội để trả thù, chúng ta làm sao thoát được. Theo em, chị hãy thỉnh mời các nhà sư đến nhà lập đàn làm lễ cầu siêu cho chúng mới có thể tiêu trừ được nghiệp chướng”.

Nghe theo lời khuyên của vị nữ đồng nghiệp, bà H. đã vời nhiều nhà sư đến phòng khám của bà để lập đàn cầu siêu, giải nghiệp. Nhưng không hiểu sao, người thì cáo bận không đến. Người thì vừa bước đến cửa phòng khám đã kêu toáng lên: “Ôi! Ở đây sát khí, âm khí nặng quá. Nhiều vong hài nhi lắm, linh lắm, sợ lắm” rồi hốt hoảng bỏ về. Có nhà sư là Trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh, đang lúi húi bày lễ bỗng dưng lăn đùng ra đất, tay ôm chặt đầu, miệng kêu gào: “Ôi! Đau đầu quá. Đau quá”.

Bà H. kể: Suốt mấy chục năm hành nghề, bà biết, nhiều bác sĩ sau khi nạo phá xong đã vội vàng thắp một nén nhang cầu mong cho linh hồn bé bỏng được siêu thoát, đồng thời bày tỏ sự sám hối với đất trời, coi đó lá sự tự cứu rỗi bản thân. Riêng bà, vào rằm tháng 7, ngày xá tội vong nhân, thường mua rất nhiều tiền, vàng mã, cháo gạo trộn muối, bỏng ngô... bày xung quanh phòng khám cũng như nhà riêng để cầu xin thoát khỏi mọi tội lỗi, ám ảnh rợn người bởi những oan hồn bé nhỏ.

Nhưng không hiểu sao, vẫn còn nhiều vong đến thế ở phòng khám của bà khiến nhà sư nào đến đây cũng kinh hồn bạt vía. Trong khi đó, những giấc mơ hãi hùng về hàng vạn đứa trẻ què cụt, không đầu hàng đêm vẫn cứ hiện về, bóp cổ bà khiến bà không còn thiết sống nữa. Bà bảo: “Địa ngục là đây chứ đâu phải cõi sống”.

Mệt mỏi, chán chường, tuyệt vọng, bà điện thoại cho cô bạn đồng nghiệp, tâm sự về ý định tự vẫn của mình thì được người đó tặng cuốn sách “Hạnh phúc đích thực” của tôi và thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng đĩa DVD “Hoa mặt trời kỳ 8” quay cuộc trò chuyện của tôi với mấy ngàn Phật tử ở chùa Hoằng Pháp về chủ đề hạnh phúc. Người đó dặn: “Đây là hai bảo bối đã thay đổi cuộc đời em và rất nhiều người. Em muốn trước khi tự vẫn, chị hãy đọc, hãy xem”.

Xem xong, bà hết ý định tự tử và khởi ý muốn được gặp tôi, trò chuyện với tôi. Đó chính là khởi nguồn nhân duyên của buổi gặp gỡ giữa tôi và bà tại nhà riêng của tôi ở Hà Nội.

ĐỒ TỂ BUÔNG ĐAO, LẬP TỨC THÀNH PHẬT



Ngồi lắng nghe câu chuyện của bà H. suốt từ sáng đến chiều, tôi luôn thắp lên ý thức chánh niệm: hãy mở tâm từ bi, đừng cắt ngang câu chuyện, cũng đừng vội khuyên nhủ. Khi ai đó có những nỗi khổ, niềm đau, mình chỉ cần tập trung lắng nghe với năng lượng của thương yêu, thông cảm, tâm không bị xao nhãng, mệt mỏi hay buồn giận là đã giúp cho họ bớt khổ nhiều rồi.

Có điều, với bà H., chuyện đời bà có quá nhiều bi kịch nên nhiều khi đang kể, bà khóc nấc lên. Lúc ấy, tôi phải nắm chặt hai bàn tay bà, nhìn sâu vào mắt bà, hướng dẫn bà cách thở bụng bằng cách tập trung sự chú ý đến hơi thở phồng xẹp dưới đan điền. Nhờ thế, bà mới có thể vượt qua những cơn cảm xúc mạnh để trải hết chuyện đời mình.

Buổi tối hôm ấy, khi thấy tâm bà đã lắng dịu, tôi mới lựa lời khuyên. Tôi bảo: thành ngữ có câu “Buông đao đồ tể, lập tức thành Phật”. Dù ai có gây tội ác đến đâu, chỉ cần nhận thức được hành vi gây nghiệp xấu của mình, quyết tâm từ bỏ, đều có thể thành Phật. Kinh Phật có đề cập đến nhiều trường hợp phạm ác nghiệp nặng nề nhưng khi biết hối cải đều đạt được quả Thánh.

Chuyện rằng: Dưới thời Đức Phật, ở vương quốc Kosala, triều đại vua Pasenadi, có tên Angulimala chuyên giết người để chặt lấy ngón tay, sau đó xâu chuỗi các ngón tay ấy thành vòng đeo ở cổ. Dân chúng xứ Kosala vô cùng hoảng sợ, cầu xin nhà vua cho quan quân truy lùng để trừ họa hại. Quan quân đã mấy lần vây bắt mà không thành công.

Nghe tin, Đức Phật ngồi thiền, quán chiếu, biết tên này trong tiền kiếp từng có quan hệ thân tộc với Ngài. Hắn vốn là người có thiện tâm nhưng vì có tà kiến rằng, cần phải kiếm đủ 1.000 ngón tay để làm lễ vật dâng ông Thầy để dạy phép thần thông cho hắn thì thần thông ấy mới có hiệu nghiệm nên hắn mới trở nên tàn ác, giết người hàng loạt. Đức Phật quyết tâm thu phục Angulimala, vừa để giải thoát tà kiến cho hắn, vừa để tiêu trừ hậu họa cho dân.

Khi ấy, Angulimala đã thu thập đủ 999 ngón tay và đang bị truy bắt ráo riết. Lệnh truy bắt Angulimala đến tai phu nhân của một vị đại thần trong triều của Pasenadi. Tuy không biết Angulimala là ai nhưng vị phu nhân này đoán rằng đó chính là con trai của mình, vốn có tên là Ahimsaka (Kẻ không gây hại), cái tên đã được đặt nhằm giải trừ một điềm báo khi con bà mới sinh rằng, đứa trẻ lớn lên sẽ trở thành một kẻ giết người không ghê tay. Người con này đã được nuôi dạy rất cẩn thận để trở thành người hiền, nhưng khi trưởng thành, lại được gửi đến một người thầy nổi tiếng, cách nhà vài trăm dặm để theo học. Ngay sau khi rời khỏi nhà thầy, nó lập tức trở thành một tên sát nhân. Bà mẹ thương con, tin rằng Angulimala là con mình nên tức tốc lên đường tìm gặp con để báo cho Angulimala biết lệnh truy bắt của nhà vua. Lúc bấy giờ, Angulimala đang trốn tránh tại một khu rừng hẻo lánh.

Quyết định cứu giúp Angulimala, Đức Phật dùng thần thông tiến vào con đường nơi Angulimala đang rình rập chờ giết người thứ 1.000. Từ chỗ ẩn nấp, Angulimala thấy có một người đang đi trên đường. Hắn nhận ra đó chính là mẹ mình. Kẻ sát nhân vừa lóe lên ý định sát hại bà để thành tựu xâu chuỗi 1.000 ngón tay thì trông thấy Đức Phật cũng đang đi tới. Trong một thoáng, hắn chợt thay đổi ý định không giết mẹ mà hãy cố giết vị sa-môn kia. Hắn đuổi theo Đức Phật nhưng càng đuổi thì khoảng cách giữa hắn và Đức Phật càng xa, mặc dù Đức Phật vẫn đi thiền hành chậm rãi, thảnh thơi.



Thấy làm lạ, Angulimala gọi lớn: “Sa- môn, hãy đứng lại!”. Đức Phật trả lời: “Ta đã dừng lại từ lâu rồi. Này Angulimala! Ngươi cũng hãy đứng lại!”. Câu trả lời của Đức Phật làm Angulimala hoang mang. Và thiện tính trong người hắn bỗng bừng sáng. Những câu đối đáp tiếp theo giữa hắn và Đức Phật đã giúp hắn tỉnh ngộ. Angulimala xin được theo Phật, từ bỏ ác nghiệp. Từ đó, Angulimala tu tập tinh tấn, nhẫn nhục chịu nhiều quả báo đau khổ, rồi đạt thánh quả A-la-hán. Đấy là sự tích lấy từ trong kinh điển Phật giáo, cho thấy những người làm ác một khi nhận thức được ác nghiệp, quyết tâm từ bỏ, đều có thể đạt tới sự giác ngộ tối thượng.

Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ còn ghi nhận trường hợp vua A-dục, một vị vua nổi tiếng tàn bạo, giết ngay cả những người anh em cùng cha khác mẹ của mình để chiếm ngôi, mở rộng đế quốc của mình bằng những cuộc chinh phạt hung hãn. Nhưng cũng chính cảnh tang tóc của chiến tranh đã khiến nhà vua hối hận. Ông quay đầu về với lý tưởng hòa bình của Phật giáo, trở thành một Phật tử thuận thành, một vị hoàng đế của lòng từ, góp phần truyền bá Phật giáo ra ngoài đất Ấn Độ, được người đời ca tụng là bậc hộ pháp vĩ đại nhất của Phật giáo.

Với trường hợp của bà H., bà là một bác sĩ phụ sản, được đào tạo chính quy, từng làm việc ở Bệnh viện nhà nước. Việc bà hành nghề nạo phá thai, xét về góc độ pháp lý, không thể xem là hành động giết người. Thậm chí, xét ở góc độ đời, đó là một hành động nhân văn vì bà đã giúp biết bao người giải quyết được những hậu quả ngoài ý muốn.

Nhưng xét ở góc độ đạo, việc nhiều người có thai ngoài ý muốn, đến nhờ bà nạo bỏ, vô tình, đã tạo nghiệp xấu cho bà. Việc bà phải trả nghiệp là lẽ tất nhiên. Luật nhân quả, từ xưa đến nay, vốn công bằng với tất cả mọi người. Bây giờ, dẫu bà có dằn vặt, ân hận hay đổi cả mạng sống của mình thì hàng vạn thai nhi đã từng bị bà nạo bỏ cũng không sống lại được nữa.

Song bà vẫn có thể thoát được nghiệp chướng bằng nhiều cách. Bằng uy tín, kinh nghiệm nhiều năm của mình, bà có thể đi các nơi, nói về hậu quả của việc nạo phá thai, chỉ dạy những phương pháp phòng tránh thai ngoài ý muốn. Bà cũng có thể khuyên nhủ những phụ nữ có ý định phá thai hãy giữ lấy thai nhi lại, đừng tạo nghiệp xấu cho mình, cho người khác. Cứu được một thai nhi thoát khỏi nạo bỏ là bà đã giải nghiệp được rồi. Ngoài ra, bà có thể dùng tài vật, sức lực của mình, chăm sóc, giúp đỡ những đứa trẻ vô thừa nhận tại các cô nhi viện, những đứa trẻ đói khát, bệnh tật ở khắp mọi nơi. Chúng sẽ chết nếu không được cứu. Bà hãy mở tâm từ cứu chúng đi. Cứu được nhiều đứa, không những nghiệp chướng hết, bà còn trở thành vị Bồ Tát. Bất kỳ ai, dù là kẻ tội đồ, cũng có thể trở thành Bồ Tát nếu biết tỉnh thức, gieo yêu thương, làm điều thiện. Nghe tôi phân tích vậy, bà H. như được giải thoát khỏi địa ngục của sợ hãi, của ám ảnh kinh hoàng quả báo. Mặt bà tươi mát trở lại.



Một tháng sau, khi tôi tổ chức Đêm nhạc thiện nguyện “Huyền thoại mẹ”, quyên góp tiền tặng quà, tri ân cho các cựu nữ thanh niên xung phong ở Hà Nội và Hải Phòng nhân dịp Tết Bính Thân, bà đã bay ra Hà Nội, ủng hộ quỹ 5 triệu đồng. Bà kể, bà đã bán căn nhà 5 tầng từng là phòng khám, dùng toàn bộ số tiền ấy làm từ thiện. Bà ủng hộ cho các chùa, các trung tâm nuôi trẻ mồ côi. Bà cũng thành lập một trung tâm nuôi trẻ mồ côi tại nhà. Hàng ngày, bà đến các phòng khám phụ khoa, vận động những người đi nạo phá giữ lấy thai nhi. Bà đưa về nhà nuôi nấng, chăm sóc cho đến khi mẹ tròn con vuông, bà và các cộng sự sẽ nuôi nấng các bé. Hàng tuần, bà đến Hội phụ nữ các phường, các Câu lạc bộ, các Trung tâm văn hóa, nói chuyện về hậu quả của nạo phá thai và chỉ dạy các phương pháp phòng tránh thai.

Bà bảo, bà đã hết những ác mộng kinh hoàng lúc nửa đêm. Bà đã may mắn tìm được niềm vui sống, niềm hạnh phúc đích thực giữa đời bởi bà đã biết cách chế tác bùn thành hoa sen, chế tác khổ đau thành hạnh phúc.

Hoàng Anh Sướng
(Trích trong sách Những câu chuyện có thật về Nhân quả & Phật Pháp Nhiệm màu)



Message edited by saigoneses - Thứ Hai, 25 Sep 2017, 6:33 PM
 
atoanmt Date: Thứ Hai, 25 Sep 2017, 6:58 AM | Message # 10
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5695
Status: Hiện-diện



AToanMT
 
saigoneses Date: Thứ Bảy, 07 Oct 2017, 4:36 AM | Message # 11
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng


LÀM ĐẦU BẾP HẢI SẢN - NHIỀU BỆNH LẠ ĐAU KHỔ KÉO DÀI 25 NĂM




Tôi tên là Phạm Quang Bình, pháp danh Hữu Minh. Câu chuyện mà quý vị sẽ đọc dưới đây là một câu chuyện có thật đã xảy đến với tôi và gia đình tôi, trãi dài từ thời niên thiếu cho đến lúc tôi trưởng thành đến bây giờ đã hơn ba thập kỷ. Chỉ vì u minh không tin luật nhân quả nên từ bé tôi đã bắt đầu sát sinh nên sau này phải nhận chịu quả không lành.

Trong những lần tâm tình vào lúc rãnh rỗi giữa các anh em đồng đạo trong đó có các vị cư sĩ như Viên Trí, Diệu Âm Lệ Hiếu (TLPT), Tịnh Thái, Thiện Nhân, tôi đã kể các mẫu chuyện về nhân quả của tự thân để cùng nhau học hỏi trên bước đường tu tập. Nghe xong không ngờ các vị ấy đồng khuyên tôi nên phổ biến rộng khắp câu chuyện này như một bài học về gương nhân quả, hay quả báo hiện tiền.

Thú thật tôi có phần lưỡng lự khi nghe anh em nói vậy, bởi văn chương của tôi rất vụng về và chuyện được kể không trau chuốt ngôn từ, chỉ e làm người đọc cười chê. Nhưng nghĩ lại nếu câu chuyện của tôi có thể giúp người ngăn ác làm lành, tôi cũng chẳng ngại văn vẻ thô kệch làm người đọc phải cười, chỉ với ngưỡng mong người khác lấy đó làm gương mà suy nghĩ quả báo sẽ nhận được về sau, và cũng để tôi có dịp được xin sám hối cùng đại chúng tội lỗi sâu dày mà tôi đã gây ra cho các loài chúng sanh.

Kính Phật khuyên mọi người hãy dừng sát sanh, tập ăn chay, phóng sinh cứu vật, niệm Phật và hồi hướng công đức lành ấy đến cho mọi loài. Nếu làm được thế không những chúng ta có thể chuyển được nghiệp sát đoản mệnh của mình thành trường thọ khoẻ mạnh ít tật bệnh, mà thế giới sẽ không bao giờ xảy ra chiến tranh giết chóc lẫn nhau và hoà bình sẽ vĩnh viễn tồn tại nơi thế gian này.


Tôi sinh ra và lớn lên tại Nha Trang, nơi có bãi biển nổi tiếng dài và đẹp. Nhà tôi không cách xa biển là bao nên thuở bé tôi thường hay xuống biển bơi lội vẫy vùng mỗi ngày, vì thế nên tôi bơi lội rất giỏi. Cũng nhờ bơi giỏi nên tôi thường lặn ngụp dưới làn nước sâu để đâm cá hay cua ghẹ thường xuyên. Từ thói quen giết vật như thế đã huân tập cho tôi tập khí sát sanh từ thời niên thiếu mà chính tôi chẳng hay vì xung quanh tôi bạn bè hay người lớn ai cũng đều như thế.

Mỗi lần theo gia đình về quê tôi thấy các trẻ chăn trâu, câu cá vui quá nên rất ham thích và cũng vào nhập hội câu chung. Ở nhà mỗi khi thấy bầy kiến lửa ở góc sân là tôi đốt đèn cầy, kế đó nhỏ xuống khiến đàn kiến chết quăn chân cẳng. Nếu không đốt đèn cầy thì cũng lấy thau hứng nước cho đầy, rồi đổ cho ngập tổ kiến. Nhìn thấy đàn kiến lửa bị ngập nước mà vẫn bò qua lại dưới nước được tôi lại càng thấy thích thú. Có lẽ đó là cái nhân khiến giờ đây tôi phải trả quả báo về tim mạch, hơi thở của tôi hệt như người chết đuối hụt hơi, đang lặn ngụp vùng vẫy dưới nước.

Có một thời gian khoảng hơn một năm tôi ở Phi Luật Tân, nhà ở gần mép biển nên tôi hay theo đám bạn cùng lứa xuống biển bắt hải sản về cải thiện bữa ăn.

Lần sát sanh nhiều nhất là đi săn chình. Loài cá chình con chưa lớn nên không sống ở vùng nước sâu mà chỉ hay đào lỗ sống ở vùng nước cạn và đương nhiên đã trở thành món mồi ngon cho đám “sát thủ” tụi tôi lúc bấy giờ. Buổi trưa là lúc thủy triều hạ nên cả đám xách xô đi săn chình. Chúng tôi mỗi đứa xách 1 cái xô, cầm theo 1 cây xiên, trên đầu gắn cây sắt đã được mài nhọn dùng để đâm chình. Vì nước cạn chỉ cao đến đầu gối nên rất dễ thấy các lỗ cát nơi chình con ở. Thế là chúng tôi chỉ việc đâm xiên xuống lỗ là hầu như trúng con mồi. Chỉ một buổi trưa là xô đầy ắp chình, đem về nấu cháo chình ăn mấy ngày mới hết. Lúc ấy tôi đơn giản nghĩ đó chỉ là một bữa ăn ngon, chẳng ngờ sau này tôi phải bị quả báo.

Rời Phi Luật Tân tôi đến Mỹ định cư tại tiểu bang Washington khi tôi khoảng 14 – 15 tuổi không người thân và gia đình. Vì còn nhỏ ở lứa tuổi vị thành niên nên tôi được ở chung nhà với gia đình bảo trợ. Nhà ông bảo trợ có một chiếc tàu lớn gồm 3 phòng ngủ. Mùa hè ông ta hay kéo tàu ra hồ lớn để câu cá và mọi người cũng theo ông đi câu. Thế là sát cá từ bên quê nhà, sang Mỹ tôi lại tiếp tục sát cá.

Có một hôm đi câu cá trê, loài cá này có sở thích là ban đêm mới bơi ra đi tìm thức ăn, ban ngày thì đi đâu mất. Đêm ấy đang chờ câu tự dưng tôi buồn ngủ quá nên ngủ quên trên tàu đến sáng. Buổi sáng hôm sau lúc tôi thức dậy nhìn quanh sàn tàu thấy la liệt thùng nhựa đựng cá cỡ lớn, bên trong chứa rất nhiều cá trê. Nghe mọi người kể lại đêm hôm trước trúng lớn vì cá đi ăn đêm rất nhiều. Ai cũng được cá cắn câu nên giựt cần liên hồi. Nghe vậy tôi cứ chậc lưỡi hít hà vì tiếc rẻ không chịu ráng thức để câu. Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình vô cùng may mắn, nhờ bị ngủ quên chứ nếu không nghiệp sát của tôi cứ thế lại chồng chất nhiều thêm.

Vào Trung học, những lúc rảnh rỗi chúng bạn rủ tôi đi mua súng hơi bắn chim. Vậy là tôi cũng đi mua cây súng mạnh nhất hồi ấy để vào rừng bắn chim. Vì súng mạnh nên chim đậu cao và xa cách mấy cũng bị tôi bắn trúng. Vài tháng sau đứa bạn do thiếu tiền nên lén cầm cây súng đi bán khiến tôi cứ hậm hực vì tiếc cây súng tốt. Sau này tôi mới thấy đó lại là một điều may mắn, nếu không tôi đã tiếp tục sát sanh không biết đến bao giờ mới dừng lại.

Khi học hết Phổ thông, muốn học tiếp lên Đại học nhưng tôi không có tiền nên khi ấy nghe nói đi đánh bắt hải sản ở tiểu bang Alaska kiếm rất nhiều tiền, ước mộng muốn kiếm tiền nhanh để được học đại học đã thôi thúc tôi lên đường. Tôi được đưa lên một chiếc thuyền để làm và đóng gói cua nước mặn. Chiếc thuyền tôi làm rất lớn, họ chuyên đi vòng vòng trên biển Bearing Sea (giữa Liên Xô và tiểu bang Alaska của Mỹ) để mua lại cua từ những thuyền nhỏ hơn chuyên đánh bắt cua ngay trên biển.

Loài cua sống ở vùng nước mặn và lạnh này rất to, thịt rất ngon nên bán được rất nhiều tiền. Mỗi con cua trung bình ước lượng khoảng 1,5 kg trở lên. Con nào nhỏ không đủ cỡ là phải quăng lại xuống biển, và chỉ được bắt cua đực, không được bắt cua cái để còn sinh đẻ. Nếu làm trái luật sẽ bị phạt nặng. Người Nhật rất thích ăn loại cua này nên họ cử người từ bên Nhật sang để trông coi và mua ngay sau khi những nhân viên làm việc trên tàu như tôi đã làm thịt cua và sắp xếp ngăn nắp vào thùng. Mọi công việc từ mua cua, giết cua, sắp xếp vào thùng cho đến lúc bán đều xảy ra ngay trên biển.

Sau 1 năm làm việc tôi cầm hơn 20 nghìn đô-la trở về, mua 1 chiếc xe và đi học lại. Năm đó tôi tròn 20 tuổi. Khi ấy tôi nào có biết đến Phật pháp là gì, đức Phật A Di Đà là ai, Chùa chiền cũng không biết ở đâu để tìm đến nên cứ vô tư mà tạo nghiệp. Giờ nghĩ lại tôi mới thấy vô cùng hổ thẹn và tội lỗi ngập tràn. Đó là lần sát sanh nhiều nhất trong đời tôi và cũng là điều tôi ân hận nhất trong cuộc đời. Nếu ước tính có lẽ đã có cả nghìn chú cua không may bị tôi làm thịt để xuất khẩu sang Nhật.

Sau 1 năm làm việc tại tiểu bang Alaska, tôi về lại nơi cũ là tiểu bang Washington. Ban ngày đi học, buổi tối tôi đi làm thêm bán thời gian tại một nhà hàng ăn uống hải sản để trang trải chi phí ăn học và thuê nhà.

Nơi tôi làm việc là một nhà hàng sang trọng nằm bán phần trên biển. Phần lớn thực khách là giới thượng lưu. Tàu thuyền chạy trên biển có thể ghé sát nhà hàng rồi neo lại để vào ăn uống bên trong. Nhìn bãi đậu xe của nhà hàng là người ta có thể đoán ra những người ngồi bên trong nhà hàng thuộc tầng lớp nào. Xe nào cũng đẹp và đắt tiền từ những hãng chế tạo ô tô nổi tiếng như Mercedes, BMW, Lexus, Porche… Nhân viên bên trong nhà hàng là những người được tuyển chọn kỹ càng, có học vấn và kỹ năng giao tiếp khá, vô cùng lịch sự. Phần lớn họ là giáo viên đi làm thêm ngoài giờ để tăng thu nhập vì tiền tip (boa) mỗi đêm khá nhiều.

Tôi làm ở khâu hậu cần, tức nấu bếp nên có thêm nhiều cơ hội để tiếp tục sát sanh. Thực đơn nhà hàng đa số là hải sản trong đó có tôm hùm và cua vua Alaska (king crab). Ai muốn ăn thịt bò cũng có vì đã được nhà hàng nhập từ nơi khác về. Loại hảo hạng được cắt, cân từng miếng rất đẹp và hấp dẫn.

Là dân nấu bếp nên một trong các quyền lợi là được ăn miễn phí. Thích món nào là tôi lôi ra “chén”. Có khi muốn ăn những thứ không có trên menu thì cả đám thợ nấu chúng tôi tự chế, rồi lôi soong chảo ra tự biên tự diễn.

Một trong các món ăn của thực khách ở đây đòi hỏi sự tươi sống là món hào. Món này chỉ khi có khách gọi mới lấy hào ra làm chứ không được làm trước. Mỗi đĩa gồm có 7 con hào lớn, tôi phải dùng dao chuyên dụng nạy nửa vỏ hào ra bỏ đi, nửa còn lại dính vào con hào. Sau đó dùng dao mỏng cắt đi phần nối liền giữa thịt hào và vỏ hào để không bị dính. Giai đoạn cuối là vắt chanh vào phần thịt hào và khách cứ thế mà húp hào sống. Mỗi lần vắt chanh vào là tôi thấy con hào co rúm lại vì đau rát sau khi bị cắt lìa. Giờ đây nghĩ lại và tưởng tượng chính tôi là những chú hào đáng thương kia mà tôi cảm thấy xót xa tận cõi lòng. Tội nghiệp này không biết tôi phải chịu đầu thai làm thân súc sanh để bị bắt, bị giết không biết đến bao kiếp mới trả hết được món nợ sinh mạng?

Trong đời tôi tất cả loài vật sống ở trên trời, dưới nước, hay trên cạn tôi đều đã giết cả. Giả như lúc trước đưa số mạng của tôi cho nhà tướng số học, chắc chắn tôi sẽ được biết tôi là người yểu mệnh, sinh mạng chẳng thể trường thọ. May nhờ chút phước thừa từ tiền kiếp sót lại nên bây giờ tôi biết được đến Phật pháp, biết pháp môn Tịnh Độ để tu. Cũng nhờ biết Phật pháp mà tôi mới biết thương các loài vật, không ăn thịt và giữ giới sát. Có lẽ nhờ đó nên mạng sống của tôi mới kéo dài đến bây giờ, bằng không tôi đã phải ra đi từ lâu.

Từ nhỏ đến lớn tôi sát sanh quá nhiều, từ muỗi mòng, kiến, chuồn chuồn, thằn lằn, chim, cua, cá… tôi đều không từ nên bây giờ trong người đủ thứ bệnh. Tôi ra vào bệnh viện để mổ hết 2 lần vì căn bệnh hernia. Hernia là chứng bệnh tạm gọi là bị sa ruột, rách cơ thịt. Các nơi trên cơ thể có cơ mỏng như vùng bụng, rốn, háng có nguy cơ bị bệnh này nhiều hơn các nơi khác. Khi bị rách cơ thịt, ruột trong cơ thể bị đẩy ra ngoài, chạm vào da rất đau. Ngày nay nhờ ngành y khoa tiến bộ nên có thể điều trị căn bệnh đó một cách dễ dàng. Khi vào bệnh viện, bác sĩ sẽ mổ nơi bị hernia ra, sau đó bỏ một miếng vá đặc biệt bên dưới da và khâu lại tựa như chiếc áo rách phải dùng một miếng vải khác vá chồng lên để áo không bị rách thêm vậy.

Có 1 chứng bệnh này rất lạ, tôi bị từ năm lên 15 tuổi cho đến khi ngoài 40 mà các bác sĩ mãi không tìm ra bệnh. Mỗi lần vào nhà vệ sinh đại tiện là máu tươi đỏ ối cứ tuôn ra ngoài rất nhiều, mỗi tuần ít nhất một lần. Ở lứa tuổi thiếu niên mà đã bị như thế khiến tôi hoang mang vô cùng. Đi bác sĩ cho uống thuốc hay thoa thuốc gì cũng không hết. Cứ thế từ ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác bệnh lạ cứ kéo dài. Tôi “thăm” hết bác sĩ Ta đến bác sĩ Tây, dùng thuốc Tây sang thuốc Bắc mà không thấy “xi nhê” gì cả. Có bác sĩ bảo là mạch máu bị vỡ, có bác sĩ bảo do rách màng da, đọc báo thì nói rằng đó là triệu chứng đầu tiên của ung thư ruột vv…

Thời gian đầu tôi lo lắng nhiều lắm, nhưng sau nhiều năm như thế tôi cũng quen dần và tập “sống chung với lũ”. Cho đến thời gian gần đây tôi mới chợt nhận ra các triệu chứng ấy bỗng dưng không chữa được mà tự dưng lại lành một cách thần kỳ. Tôi nghĩ có lẽ một phần là nhờ công đức giữ giới sát, ăn chay, sám hối, niệm Phật, hồi hướng công đức cho hết thảy chúng sinh nên căn bệnh lạ tôi phải chịu đựng 25 năm qua bỗng dưng ra đi không nói lời từ biệt.

Cư sĩ Hữu Minh
Nguồn: duongvecoitinh.com


Message edited by saigoneses - Thứ Bảy, 07 Oct 2017, 4:38 AM
 
saigoneses Date: Thứ Bảy, 07 Oct 2017, 4:59 AM | Message # 12
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng


NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA CẢNH SÁT PHÁP Y


Tôi là một cảnh sát Y khoa tư pháp, thường được gọi là cảnh sát Pháp y. tôi cung cấp tư liệu giám định y học cho hai Pháp viện và bốn chi nhánh của Công an Tư pháp. Nói đơn giản một chút, nếu ở đâu xảy ra án mạng, thì chở xác đến chỗ chúng tôi để chúng tôi nghiệm thây kiểm tra, tìm ra nguyên nhân tử vong, rồi ghi lại báo cáo đầy đủ, giao lại cho Pháp viện hay Cục Công an.

Con người có sinh ắt có tử, nhưng nguyên nhân chết có đủ dạng đủ kiểu, khó mà tưởng tượng nổi. Khi chúng tôi lập biên bản báo cáo, hành sự rất nghiêm túc, kỹ lượng. Phải phân tích nguyên nhân chết, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết, nguyên nhân phụ, tổng kết nguyên nhân tử vong… Sở dĩ tôi giải thích nhiều về thuật ngữ chuyên môn, là muốn nói xã hội chúng ta đối với cái chết luôn có giải thích đúng đắn, hợp pháp.

Tôi làm ở Viện pháp y đã 26 năm, đối với những hiện tượng này luôn cảm thấy hoang mang khó hiểu. Bởi cũng đồng bị thương như thế, mà có người chết, có người sống? Nghĩa là có người bị thương rất nhẹ thì lại chết, còn người bị thương trầm trọng khiến ai cũng tưởng vong mạng thì lại phát sinh kỳ tích sống được. Sau này khi có cơ duyên tiếp xúc với Phật pháp, có được chút hiểu biết về đạo rồi, thì đối với các vấn đề này đều có thể lý giải.

Những năm gần đây, tôi đối với các vụ án mình thụ lý thường để tâm sâu hơn để nghiên cứu thấu đáo và ghi lại tỉ mỉ. Càng tìm hiểu sâu thì càng thấy rõ cái chết không hề phát sinh ngẫu nhiên, mà nó chứng minh hùng hồn xác thực về luật Nhân Quả.

Tôi thường gặp quyến thuộc người chết đau khổ khóc lóc, nhìn tôi kể lể:
- “Vì sao y lương thiện như thế mà lại lìa đời quá sớm?”

- “Vì sao ông kia làm nhiều việc xấu ác mà hưởng thọ lâu?”

- “Vì sao một người suốt đời cẩn thận lại hay gặp tai bay vạ gió?”

- “Vì sao người đi đường hay lơ đểnh sơ ý, dù có bị xe tông lại chẳng hề hấn gì?”

Tôi nghĩ, sở dĩ họ có những lời oán trách này, đó là đều do chính họ không minh bạch rõ về Nhân Quả.

Tôi sẽ trình tự kể từng vụ án cho mọi người được biết. Trước tiên, xin kể vụ án đầu tiên tôi chuyên sâu tìm hiểu và đã làm cho tôi nhức óc, ưu tư khốn đốn…. Cũng chính nhờ vụ án này đã đẩy tôi đến với Phật môn. Tuy vụ án không phức tạp, nhưng do thời gian điều tra kéo dài, nên tôi tương đối nhập tâm.


CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT: CẶP VỢ CHỒNG CHẾT THẢM

Năm 2002, một chàng trai 28 tuổi nửa đêm ra tay giết chết hai đấng sinh thành hơn sáu mươi tuổi của mình. Cặp vợ chồng già này đang say ngủ thì bị cậu con trai trói gô lại trên giường. Sau đó, y cắt cổ họ, máu văng trây dính tường, rơi vương vãi…

Hung thủ ngay trong đêm đó đã bỏ trốn, sau đó bị bắt tại một khu phố nhỏ ở miền Nam. Hung thủ đã kết hôn, có một cậu con trai.
Ngay đêm xảy ra án mạng, cô vợ do hôm trước đã nổ ra tranh cãi nên giận dỗi chồng nên bồng con về nhà cha mẹ đẻ, nhờ vậy mà tránh được ác mộng thảm sát.

Xem bề ngoài thì đây là một vụ án rõ ràng, có chứng cứ vô cùng xác thưc. Viện Kiểm sát đã lấy khẩu cung, toàn bộ chứng cứ hoàn chỉnh, có đủ nhân chứng, vật chứng, tất nhiên phải nghiêm trừng, phán quyết mau chóng.

Ngay lần xét xử đầu, án tử hình lập tức được tuyên, nhưng luật sư của bị cáo biện hộ nói: “Phạm nhân bị thần kinh nghiêm trọng!” và yêu cầu tiến hành giám định thần kinh để xét xử sau.

Thời gian điều tra kéo dài, do kết quả chưa rõ, vì vậy mà án cứ kéo dây dưa. Cuối cùng phải hoãn án tử hình lại để hai năm sau mới thi hành án. Luật sư của hung thủ lại khiếu nại tiếp nữa, nhưng lần này thì bị bác bỏ, xem như tới phiên xử chung thẩm thì phán quyết xong, vụ án này kết thúc.

Kể ra thì nghe có vẻ nhanh gọn vậy chứ thực tế tính ra án này kéo dài tổng cộng 4 năm. Tôi phải nhọc nhằn điều tra tỉ mỉ, lấy chứng cứ đến 7-8 lần, hồ sơ tư liệu tích lũy dày cộm.

Hung thủ là người con trai duy nhất trong gia đình, từ nhỏ đã được cha mẹ cưng chìu, tính tình cực kỳ hung dữ. Hung thủ kết hôn xong vẫn ở chung với cha mẹ, thường hay gây cãi. Mấy ngày trước khi xảy ra án, cha mẹ anh ta cùng con dâu đã nổ ra xung đột tranh chấp. Tiếp đó, hung thủ đòi cha mẹ cho tiền mua nhà, nhưng cha mẹ nói tạm thời không có tiền và chê trách con trai là bất tài vô dụng, không lo làm việc, khiến cho họ mất mặt với hàng xóm láng giềng. Điều này đã khơi gợi ác niệm giết người nơi hung thủ.

Thế nhưng, liệu bấy nhiêu có đủ để giải thích cho động cơ giết người của hắn chăng? Trên thế giới này, những đứa con được cưng chìu, biến thành ngỗ nghịch, nảy sinh tranh chấp cùng gia đình liệu có bao nhiêu? Vì sao hung thủ cứ khăng khăng muốn giết cha mẹ mình như thế?

Trong hồ sơ, tôi phát hiện một đoạn khẩu cung cực kỳ kinh tâm, hung thủ thành thật khai báo như vầy:

- “Tôi đã muốn giết họ từ lâu rồi, vì họ rất vô dụng. Bảo cho tôi tiền mua nhà mà họ cũng không chịu, thế thì giết quách, để làm chi?... Tôi đã thảo kế hoạch từ mấy tháng trước. Vì họ là cha mẹ tôi nên tôi cũng không muốn để họ chết quá đau đớn. Đầu tiên tôi nghĩ mình nên cho họ uống thuốc rầy, nhưng đi mới nửa đường, chưa ra tới tiệm thì tôi quay về vì nghĩ thuốc rầy sẽ thiêu đốt ruột gan. Sau đó, tôi hoạch định sẽ chở họ đến hồ nước chơi rồi dìm chết họ, nhưng tôi lại không thực hiện. Cuối cùng nghĩ tới nghĩ lui, tôi thấy chỉ còn cách… cắt cổ là hay nhất, không quá đau đớn, lại mau chết!”

Khi đọc xong đoạn khẩu cung này rồi thì tôi kinh hãi đến lạnh xương sống. Giết cha mẹ sinh thành ra mình mà hắn bày tỏ điềm nhiên như thể giết… gà vịt!

Điều tra tỉ mỉ xong, tôi càng hết hồn khi phát hiện thêm tình tiết này:
Cặp vợ chồng nạn nhân có một lò giết mổ gà, vịt từ mấy mươi năm trước. Họ làm ăn buôn bán trên thị trường rất phát đạt. Lúc tôi ra chợ điều tra, do chủ hàng gà bị giết, nên người ta cho là cửa hàng này bị xui, làm ăn không may nên ai cũng bỏ đi không thèm thuê.

Căn cứ theo lời những người bên cạnh thuật lại thì hai vợ chồng nạn nhân mấy mươi năm nay khi hành nghề thường đem gà sống trói lại hết, treo lên dây thép, sau đó họ kẹp chặt đầu gà rồi dùng dao cắt cổ chúng. Máu gà họ cũng không bỏ phí, bán được khá nhiều tiền. Cả đời, họ nhờ sống bằng nghề này mà trở nên giàu có. Nghe nói kỹ thuật cắt cổ gà kiểu này là do tổ tiên họ truyền lại. đặc biệt họ kinh doanh nghề này trước khi đẻ thằng con đó.

Sở dĩ tôi nhớ kỹ việc này là vì đây là vụ án đầu tiên tôi tìm hiểu sâu và khiến tôi bắt đầu có niềm tin đối với tôn giáo tâm linh. Khi mọi phân tích có được giải thích hợp lý, tôi càng tin sâu vào Luật Nhân Quả và khắc cốt ghi tâm khi hiểu rõ nguyên nhân sâu xa….

Tối đó hầu như suốt đêm tôi không ngủ được. Do người chết cả đời hành nghề cắt cổ gà vịt, nổi tiếng sát sinh có kỹ thuật…. Bởi họ cắt cổ con vật như thế nên mới bị đồng nghiệp (ác) chiêu cảm lẫn nhau và sinh ra đứa con như vậy và rồi chiêu ách nạn bị chính đứa con trai duy nhất của mình cắt cổ lại. Báo ứng này không khiến cho chúng ta kinh tâm động phách hay sao?

"Nhân": mở lò mổ giết gà vịt bằng cách trói và cắt cổ. "Quả": đồng nghiệp chiêu cảm lẫn nhau: bị đứa con trai duy nhất cắt cổ lại"

Nhân Quả Báo Ứng Tơ Hào Chẳng Sai - Quả tương ứng với Nhân, đến sớm hay chậm là do Duyên. Nếu như chẳng muốn Ác Quả thì tốt nhất đừng gieo Nhân Ác. Đừng đợi đến khi Quả đến thì có sợ hãi cách mấy thì cũng đã muộn màng.

(Trích từ sách Nhân Quả Giải Theo Phật Giáo – Dịch giả: Hạnh Đoan)

(còn tiếp...)



Message edited by saigoneses - Thứ Bảy, 07 Oct 2017, 5:06 AM
 
coc Date: Chủ Nhật, 08 Oct 2017, 4:40 AM | Message # 13
Lieutenant
Group: Users
Messages: 65
Status: Tạm vắng
 
saigoneses Date: Thứ Hai, 09 Oct 2017, 2:48 AM | Message # 14
Major general
Group: Moderators
Messages: 442
Status: Tạm vắng


CÚNG GIỖ MẸ

Sư cô pháp danh là Diệu Thanh, hiện giờ cô đang tu học tại Lâm Đồng, Đà Lạt. Sư cô kể lại rằng mẹ sư cô là bà Mười, cha thì hay sát sanh hại vật. Ông thích mời bạn bè về nhà chơi rồi giết vật để đãi khách nhậu, trong khi mẹ lại hết lời khuyên cha cô nên ăn chay niệm Phật nhưng ông không nghe theo.

Vào kỳ nghỉ hè, ông bà Mười cùng người cháu ngoại tên Hòa ra Vũng Tàu để nghỉ mát. Ngoài Vũng Tàu ông bà Mười lại có nhà người quen, là nhà của một đứa cháu bà con tên là Bê gọi bà Mười bằng dì.

Tối hôm đó khi ngủ ở khách sạn, bà Mười nằm chiêm bao thấy cậu Bê đến mời hai ông bà đến nhà ăn đám giỗ mẹ mình.

Trong giấc mơ, bà thấy hai người đến nhà cậu Bê dự tiệc giỗ, khi đó cậu Bê đem ra chén nước có in hình bông súng nói:

– "Dì với Dượng súc miệng đi rồi vô bàn ăn tiệc với tụi con, hôm nay đám giỗ mẹ con."

Bà Mười nhìn sau bếp mới nói:

–"Bữa nay tụi bây nấu gì để cúng giỗ cho mẹ tụi bây vậy?"

Vừa nhìn ra sau thì bà hết hồn khi thấy cảnh mẹ cậu Bê bị cắt cổ ngang và bị cắt đứt hết một cánh tay, còn một cánh tay treo ở xà ngang. Bà Mười mới hoảng hốt la lên:

–"Trời ơi, sao mày giết mẹ mày để cúng giỗ cho mẹ mày vậy Bê?"

Nói xong rồi bà la lên thất thanh. Mộng đến đây, do sợ quá nên bà tỉnh giấc.

Lúc tỉnh dậy, bà kể toàn bộ giấc mơ cho chồng nghe:

– “Ông ơi, sao tui nằm chiêm bao thấy kỳ lạ quá, thấy thằng Bê nó mời hai vợ chồng mình đi ăn đám giỗ. Nó đem chén nước có hình bông súng cho mình súc miệng. Tui ra bếp thấy vợ nó cắt cổ mẹ nó làm giỗ ông à, chỉ còn một cái tay, cái tay kia vợ nó xé làm gỏi rồi….”.

Ông Mười bảo:

– “Chỉ là mơ không có thật, thức dậy là tỉnh rồi còn gì phải sợ nữa, bà suốt ngày toàn chiêm bao bậy bạ”

Bà Mười kể thấy chồng vẫn không nghe, nên bà mới gọi cháu ngoại là Hòa kể cho nó nghe để bớt sợ.

Không ngờ đến 7 giờ sáng hôm sau thì cậu Bê đến khách sạn, thưa rằng:

–"Dì Mười ,dượng Mười ơi, bữa nay là đám giỗ mẹ con. Con mời Dì Dượng đến nhà con dự tiệc giỗ"

Bà Mười nghe qua mới giật mình vì sao mà giống trong mơ quá. Trong khi đó, hai ông bà chỉ vô tình đi Vũng Tàu nghỉ mát cùng cháu ngoại chơi mùa hè thôi, chớ không hề biết ngày giỗ kỵ của mẹ cậu Bê này.

Bà nói với ông Mười:

–"Đó, thấy chưa ông, thấy chưa, chiêm bao tui thấy hay chưa….."

Ông Mười quay sang khều bà:

–"Thôi bà, bà giữ dùm cái miệng bà lại đi, đừng có nói bậy nói bạ. Người ta nghèo khổ, đến ngày giỗ mẹ người ta. Người ta có lòng mời thì mình nghĩ tình nhín chút thời gian đến dự, chứ khước từ thì người ta tủi thân"

Ông quay sang nói với cậu Bê:

–"Không sao đâu con, con về đi. Khoảng 9-10 giờ dì dượng sẽ ghé qua dự giỗ"

Đến hơn 9 giờ sáng, ông Mười kéo bà Mười đi đến nhà cậu Bê thì bà bảo:

–"Thôi tui sợ lắm, rõ ràng tui thấy là đám giỗ má thằng Bê, tụi nó giết má nó để cúng giỗ cho má nó mà. Tui sợ lắm, tui không đi đâu, ông đi một mình đi"

Ông Mười nói:

–"Chiêm bao chỉ là mộng, đâu có thật đâu mà bà lo. Đi đi, có tui đây nè bà đừng có sợ gì cả"

Sau cùng thì ông cũng dẫn được bà Mười cùng cháu ngoại ghé sang nhà cậu Bê dự đám giỗ.

Vừa đến nhà, ngồi vào ghế thì cậu Bê mới rót nước vào hai cái tách:

–"Con mời dì dượng uống miếng nước xúc miệng rồi vô bàn ăn cơm với tụi con"

Nhìn vào tách nước, quả nhiên trên tách có in hình bông súng. Bà Mười lên tiếng:

–"Đó ông thấy chưa, hồi hôm tui nói rồi, y hệt như vậy luôn!"

Ông Mười khều nhẹ:

–"Bà làm ơn giữ cái miệng lại dùm tui đi"

Cứ bị chồng nói hoài nên bà hậm hực:

–"Vậy để tui ra đàng sau coi tụi nó làm cái gì để cúng má nó?"

Khi bà đi ra phía sau nhà bếp thì thấy ở cây xà ngang nhà bếp treo tòn ten một con gà đã bị cắt cổ, chỉ còn một cánh. Còn cánh gà kia thì bị cô vợ cậu Bê đem xé phay trộn gỏi rồi.

Bà la lên:

–"Ông Mười ơi, đúng rồi đó, con gà này chỉ còn có một cánh à. Trong chiêm bao tui thấy rõ ràng, nó làm thịt mẹ nó rồi nó cắt cổ treo ở trên xà ngang, chỉ còn một cánh tay, cánh tay kia bị vợ thằng Bê nó xé trộn gỏi rồi. Bây giờ xảy ra y hệt như vậy luôn!"

Bà vội kể hết sự tình trong giấc chiêm bao cho gia đình cậu Bê này nghe. Vừa nghe xong thì cậu này rùng mình toát mồ hôi lạnh, dẹp luôn, không ăn không uống gì nữa cả. Cậu chỉ bới ba chén cơm trắng lên cúng mẹ, còn lại thịt gà gì bỏ hết. Cũng từ ngày hôm đó thì cậu Bê cũng ăn chay niệm Phật luôn, vì không ngờ chính mình lại “giết mẹ để cúng giỗ cho mẹ”.

Sau này cả ông Mười cũng phát tâm ăn chay niệm Phật.

Đó là câu chuyện có thật của mẹ sư cô Diệu Thanh

Chắc Quý vị còn nhớ chúng ta đã từng xem gương Phật pháp nhiệm mầu kỳ 31 có Phật tử Nhật Trung – là người chuyên sát sinh phục vụ cho việc ăn nhậu của mình và khách hàng. Sau đó anh ta và gia đình bị quả báo ghê gớm.

Trong một duyên lành kỳ ngộ giúp cho anh ta chuyển tâm, cũng là nhờ chứng kiến cảnh gia đình của đồ tể chuyên làm thịt heo bò. Khi Phật tử Nhật Trung nhìn thấy con cháu họ giết chính cha, ông của họ để làm đám giỗ cho ông, thì hoảng kinh báo cho họ biết khiến họ sợ hãi mà đẩy luôn con heo đã chọc tiết xuống song, không dám làm thịt cúng nữa rồi sau đó nhờ Thầy lập đàn cầu siêu cho ông. Phật tử Nhật Trung cũng từ đây mà giác ngộ, sám hối, phát tâm ăn chay niệm Phật, tu hành để giảm trừ nghiệp chướng mà anh ta đã từng tạo tác.

Oan gia túc trái, oán thù sâu nặng. Đời này quý vị được may mắn có thân người, Quý vị ăn thịt heo, gà, vịt thì đời sau con heo, gà, vịt chúng nó tái sinh lại làm người, Quý vị do nghiệp sát mà đọa làm heo thì sẽ bị chúng nó ăn thịt lại. Nhân Quả báo ứng tơ hào không sai. Do đó, ngưỡng mong Quý vị hãy phát tâm Ăn chay, phóng sanh tức là đoạn giới sát, tu thiện. Vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều tham sống sợ chết, đều có tánh linh, bản thân chúng ta cũng vậy thôi. Tâm linh của ta và loài vật không khác nhau, chỉ khác nhau ở hình dáng bên ngoài. Chúng bị đọa nên mới làm súc sinh, còn ta may mắn kiếp trước có tu thiện nên được làm người. Kiếp này không cố gắng tu hành mà còn ăn thịt chúng sanh, không tin Nhân quả, không tích đức tu thiện, thử hỏi kiếp sống tương lai của ta sẽ đọa lạc thế nào đây?

Lời giả dối, hư ngụy khiến người ta dễ dàng tin tưởng hơn là sự thật. Phật là bậc đại thánh giác ngộ, Ngài dạy chúng ta không nên ăn thịt chúng sinh và nên phóng sinh mới khiến cho đời sống chúng ta an vui. Ngài dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây phương mới vĩnh viễn thoát khỏi lục đạo luân hồi đau khổ. Trong số chúng ta, nếu bạn đã đọc được bài này ắt là có thiện căn, thiện duyên. Kính mong bạn sớm phát Bồ-đề tâm, ăn chay niệm Phật cầu sanh Cực lạc, quyết một đời này liễu thoát sinh tử, thật là không oan uổng một kiếp sống này.

Nam Mô A Di Đà Phật.

(Diệu Âm Lệ Hiếu tổng hợp từ bài giảng của Sư cô Thích Nữ Như Lan và Phật pháp nhiệm mầu kỳ 31)

------------
Nguồn: Đường về Cõi Tịnh
 
atoanmt Date: Thứ Hai, 16 Oct 2017, 9:43 AM | Message # 15
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5695
Status: Hiện-diện



AToanMT
 
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » CHUYỆN PHẬT GIÁO » NHỮNG CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ (Tổng Hợp)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL