Thứ Ba
26 Sep 2017
8:43 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » VIỆT NAM - QUÊ HƯƠNG TA » ÔN CỐ TRI TÂN » Ca Nhạc Sai Gòn Trước 1975 (Nguyễn Việt)
Ca Nhạc Sai Gòn Trước 1975
thanhlongphapsu Date: Thứ Tư, 24 Dec 2014, 5:27 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2905
Status: Tạm vắng
CA NHẠC SÀI GÒN TRƯỚC 1975


Bài viết này trước đây tôi đã post trên trang web “Take2Tango” (trang web do Thế Phương chủ trương, đã đột tử ở California vào cuối năm 2010, nên nay trang web này đã ngưng hoạt động trên diễn đàn) và trang Blog “Văn Nghệ người Sài Gòn” vào tháng 5 và 6 năm 2009, sau đó nhiều trang web, blog ở hải ngoại lấy trích đăng (nhưng không ghi lại tên tác giả). Nhân đây tôi xin post lại nguyên văn bài viết :


Lời người viết :
Lâu rồi các bạn bè thân hữu mỗi khi gặp tôi cứ hỏi “Liệu ông có viết lại các mẫu chuyện về Ca Sĩ Sài Gòn trước năm 75 được không ?”. Bởi dù gì ngày trước ở Sài Gòn tôi viết chuyên mục về điện ảnh tân nhạc cho nhiều báo và tạp chí, mà nhật báo Trắng Đen với số bán chạy nhất thời đó là chủ chốt; đồng thời cũng là một trong các sáng lập viên “Nhóm thân hữu ký giả Điện ảnh Tân nhạc Việt Nam” (như Huy Vân TTK báo Tiền Tuyến, tức Binh Cà Gật trong tạp chí Chiến Sĩ Cộng Hòa, Nguyễn Toàn, Tương Giang, Phạm Hồng Vân, Phi Sơn….) thuộc “thiên lý nhãn”…. trăm tai ngàn mắt thời đó.

Viết về giới ca nhạc sĩ Sài Gòn thời trước 1975, là viết những chuyện đằng sau hậu trường, những chuyện dính dáng vào đời tư nhưng không đến nỗi phải bồi thường “một đồng danh dự”; có thể có những vụ việc đã từng được đăng hoặc chưa được đăng trên báo, viết về người còn ở lại và người đã xa quê hương, quả thật hết sức phức tạp !
Lý do “sự thật hay mích lòng”, nhưng đã hơn 30 năm xin cứ coi đây là kỷ niệm, thật hư thế nào chính người trong cuộc sẽ hiểu !…. Nhưng vì một lẽ giản đơn “không muốn vạch áo cho gười xem lưng” đó thôi !?
Cuối cùng, những phần hồi ký này chỉ trích đăng từng phần, nếu có dịp xin sẽ viết tiếp… và viết ra để những người về sau tham khảo và biết về các Nhạc Sĩ & Ca Sĩ trước 1975, đang ở VN, Hải ngoại đã thành danh như thế nào. (NV)


CA SĨ SAIGON – XUẤT HIỆN TỪ ĐÂU ?

Nói đến ca sĩ từ đâu đến hay nôm na từ đâu mà thành danh. Tôi chợt nhớ đến Chế Linh đầu tiên, nhớ ngay cái ngày một thanh niên gốc Chàm khúm núm đến gặp Tùng Lâm ở hậu trường rạp Olympic, một sân khấu đại nhạc hội do quái kiệt Tùng Lâm tổ chức song song với Duy Ngọc ở bên rạp Hưng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật.


Tôi nhớ buổi sáng chủ nhật hôm đó khi anh chàng da ngâm đen tóc quăn, ăn mặc nguyên bộ đồ jean. Đến Tùng Lâm cũng không hiểu tại sao anh ta, một người lạ mặt vào được tận bên trong hậu trường. Còn đang ngạc nhiên thì anh chàng người Chàm đã tới gặp ngay Tùng Lâm xin cho được hát vào những lúc ca sĩ còn chạy show chưa kịp đến.

Tùng Lâm quyết liệt từ chối, dù lúc đó phải đóng màn chờ ca sĩ cũng không dám cho anh chàng người Chàm này lên hát, một phần do anh ta là người dân tộc thiểu số và cũng chưa từng nghe anh ta hát bao giờ.

Nhưng kế tiếp những tuần sau, anh chàng người Chàm lì lợm vẫn đều đặn xuất hiện xin Tùng Lâm cho được hát, và rồi Tùng Lâm cũng đành chào thua sự lì lợm quá mức này, đành chấp nhận cho anh ta hát một bài để thử, với lời dặn chỉ hát một bài và không có tiền “cát sê”

Tôi chứng kiến các buổi anh chàng người Chàm đến và cả buổi đầu tiên được Tùng Lâm cho lên hát một nhạc phẩm của Duy Khánh, với tên được giới thiệu là Chế Linh. (nghệ danh này sau mới rõ nó có hai nghĩa, nghĩa thứ thứ nhất là họ Chế để khẳng định là”con cháu” của Chế Mân, Chế Bồng Nga. Nghĩa thứ hai có nghĩa là “lính chê” bởi người thiểu số được miễn hoãn quân dịch).

Không rõ Chế Linh có được học hát hay có thiên bẫm hát theo đĩa hay băng nhạc mà nhiều nam nữ mầm non ca sĩ thường hát nhái đến thuộc lòng, đến khi bài hát chấm dứt thì hàng loạt tiếng vỗ tay nổi lên tán thưởng kèm theo những tiếng gào “bis, bis” nổi lên ầm ỉ nơi hàng ghế khán giả.

Nhưng nhìn những người ái mộ vỗ tay gào thét kia lại chính là đồng hương của Chế Linh, do chính Chế Linh bỏ tiền ra mua vé cho họ vào xem và chờ đợi cái ngày hôm đó, để chỉ làm một động tác vỗ tay hoan hô và gào lên những tiếng bis, bis.

Do không được ai lăng xê, không được ai kèm cặp, Chế Linh thường hát nhái theo giọng ca Duy Khánh và cả những bài hát tủ của Duy Khánh từng thành đạt. Và nhờ những đồng hương hàng tuần đến vỗ tay, sau này Chế Linh được Tùng Lâm nhận làm “đệ tử” trong lò đào tạo ca sĩ của mình (?).
Từ lúc đó Chế Linh mới được uốn nắn rèn giũa lại chính giọng ca của mình.



Khi nói đến những lò “đào tạo ca sĩ” thường là những nơi có môi trường “lăng xê”, như nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên Đài truyền hình số 9 là Ban Thiếu nhi Sao Băng và chương trình Nguyễn Đức, cùng hai chương trình trên Đài phát thanh là Ban Việt Nhi, ban ABC. Còn quái kiệt Tùng Lâm có Đại nhạc Hội, và chương trình Tạp Lục trên truyền hình. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của TC/CTCT mà Song Ngọc đứng đầu tàu.

Đây là những lò nhạc giới thiệu nhiều ca sĩ nhất trong thời gian đó. Như lò Nguyễn Đức có một lô ca sĩ họ Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh có cả nghệ sĩ hài như Thanh Hoài, Trần Tỷ.

Lò Tùng Tâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử. Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; Hoàng Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi v.v…

Trở lại với Chế Linh, tuy quái kiệt Tùng Lâm có môi trường “lăng xê” nhưng về chuyên môn dạy thanh âm cho ca sĩ lại “mù tịt”; qua đó đã liên kết với nhạc sĩ Bảo Thu và Duy Khánh đào tạo hay lăng xê Chế Linh trở thành một danh ca như từng đào tạo lăng xê ra những Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến… Vì từ lò Bảo Thu (còn là ảo thuật gia Nguyễn Khuyến) cùng Duy Khánh (khi đó ở chung cư Trần Hưng Đạo) đã cho “ra lò” nhiều ca nhạc sĩ như Quốc Dũng, Thanh Mai, Thanh Tâm, Kim Loan…



Việc liên kết giữa Tùng Lâm – Bảo Thu – Duy Khánh làm cho nhiều lò đào tạo ca sĩ bấy giờ lên cơn sốt, bởi ở đây có đủ môi trường để các tài năng trẻ thi thố tài năng, Tùng Lâm có sân khấu đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình; dạy thanh âm và cung cách biểu diễn. Chế Linh nhờ vào “lò” Tùng Lâm mà thành danh cho đến ngày nay.

Tuy nhiên ngoài những lò “đào tạo ca sĩ” nói trên cũng có những ca sĩ thành danh từ những phòng trà khiêu vũ trường, trong phong trào văn nghệ học đường, đại hội nhạc trẻ, những đoàn văn nghệ do chính quyền thành lập. Như Vi Vân, Julie Quang, Carol Kim, Đức Huy, Ngọc Bích, Thúy Hà Tú (Khánh Hà – Anh Tú), Thanh Tuyền, hài có Khả Năng, Thanh Việt, Phi Thoàn, Xuân Phát…

Elvis Phương nổi danh từ 1972 thời gian vào lúc do Thanh Thúy đang khai thác phòng trà Queen Bee cùng với ông Tuất (sau thời kỳ Khánh Ly), nhưng Elvis Phương đã tạo cho mình một chỗ đứng lúc còn là học sinh cùng với ban nhạc trẻ học đường. Sau đó Elvis Phương đi hát cho nhiều phòng trà nhưng do không ai dìu dắt lăng xê đến nơi đến chốn nên vẫn chỉ là cái bóng của những đàn anh đàn chị.



Khi Thanh Thúy khai thác Queen Bee, có nhạc sĩ Ngọc Chánh làm trưởng ban nhạc Shotguns cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Hà; và hội nhập vào làng sản xuất băng nhạc 1972. Elvis Phương mới được biết đến từ đó (1969). Tuy vậy Ngọc Chánh không cho mình đã tạo ra tên tuổi Elvis Phương, anh chỉ có công “lăng xê” còn giọng hát của Elvis Phương là do thiên phú hay từ môi trường văn nghệ học đường mà thành công.

Các lò đào tạo ca sĩ ngoài những môi trường để dễ dàng “lăng xê” gà nhà, nhưng muốn lăng xê một ca sĩ còn phải qua nhiều cửa ải khác, như tìm một nhạc phẩm thích hợp với giọng ca để ca sĩ chọn làm bài hát tủ như người ta thường ví đo ni đóng giày.

Bài hát tủ như khi nghe Phương Dung hát chỉ có bài Nổi Buồn Gác Trọ là nổi bật, nghe Túy Hồng biết đang hát nhạc của Lam Phương (cũng là chồng của Túy Hồng), nghe Thanh Thúy lúc nào cũng có bản Ngăn Cách của Y Vân, Thanh Lan với các ca khúc Bài không tên cuối cùng của Vũ Thành An hay Tình khúc… của Từ Công Phụng, Lệ Thu với Nữa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, Thái Thanh thì chỉ có Dòng Sông Xanh nhạc Việt hóa của Phạm Duy, Khánh Ly ngoài những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, thường tìm cho mình con đường mới là hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Văn Cao. Phương Hồng Quế với Phố Đêm, Những chuyện tình không suy tư của Tâm Anh v.v…

Sau khi ca sĩ có những bài hát tủ, các lò còn phải nhờ báo chí viết bài ca tụng tán dương, bỏ tiền cho các tạp chí lên ảnh bìa hay nhờ báo chí cho đứng tên một mục thường xuyên nào đó như phụ trách trang nhi đồng, giải đáp tâm tình, trả lời thư tín, nhưng các ông bầu đào tạo thường trao đổi ca sĩ cho nhau giữa các show truyền hình truyền thanh, vì ít tốn kém và hiệu quả, tạo đến tai nghe mắt nhìn cho khán thính giả một cách thực tế, được chú ý hơn.


Một Phương Hồng Quế có thời gian chiếm lĩnh trọn vẹn trên truyền hình, từ show này đến show khác, được phong tặng ”Tivi Chi Bảo“, giữ trang Vườn Hồng, Họa Mi trên báo Tin Điển, Chuông Mai, Trắng Đen, Đồng Nai, Hòa Bình cùng Phương Hồng Hạnh.

Nhưng ai có biết Nguyễn Đức đã bỏ ra bao nhiêu tiền để Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh được như thế ? Chị em Thanh Thúy, Thanh Mỹ giữ mục Trả lời thư tín trên báo Tiếng Dân, sau này cô em út là Thanh Châu trên báo Trắng Đen v.v..

Tất cả chỉ là cái tên trên báo, vì đã có người làm giúp viết giúp và lãnh tiền giúp, đó là những ngón nghề lăng xê ca sĩ từ các lò ”đào tạo ca sĩ “.

Đa số các lò nhạc chỉ thích lăng xê ”nữ ca sĩ ” hơn nam vì có nhiều lý do, nhưng lý do dễ hiểu nhất đa số… các ông thầy đều có máu dê.

Có một giai thoại, người ta đồn một nhạc sĩ gốc mật vụ đệ tử Trần Kim Tuyến thời Ngô Đình Diệm, rất thích các nữ nghệ sĩ, muốn cô nào từ ca sĩ đến kịch sĩ là nhờ bọn đàn em mời về cơ quan hứa hẹn dành cho họ nhiều ưu đãi trong nghề nghiệp với điều kiện cho ông ta được ”thưởng thức“, sau đó giữ bí mật chuyện giữa ông ta với nàng.

Chuyện bí mật đó là gì ? Trước đó tức trước khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có lần ông nhạc sĩ mật vụ còn cao hứng đòi lấy một nữ kịch sĩ làm vợ, khiến cô nàng sợ quá vọt trốn ra nước ngoài sống mấy năm mới dám về Sài Gòn hoạt động kịch nghệ trở lại (cũng nhờ ra nước ngoài mà sau này được trọng vọng thành người thân cộng ).

Không phải người nữ nghệ sĩ này không khoái ông sĩ quan mật vụ, mà không khoái khi nghe ông bầu show là quái kiệt Trần Văn Trạch của “Đại nhạc hội một cây” nói đến tính bất lực của ông ta. Vậy mà sau này có những con thiêu thân “ca sĩ mầm non” đang bán phở hủ tíu, chấp nhận cho ông ta được “thưởng thức” để có môi trường trở thành nữ danh ca ..

TOÀN CẢNH TÂN NHẠC MIỀN NAM

Bước vào những năm 63 – 70 của thập kỷ trước, phong trào Kich Động Nhac và Nhạc trẻ bắt đầu xâm nhập mạnh, các ca khúc lãng mạn hay lá cải gần như chìm lắng nhường cho nhạc ngoại quốc được Việt hóa, lý do bộ thông tin & tâm lý chiến bấy giờ ra lệnh các nhạc phẩm VN phải có lời mang tính ca tụng người lính hay tính chiến đấu.
Những nhạc phẩm sặc mùi chiến tranh tâm lý chiến như Lính dù lên điểm, Người ở lại Charlie, Đám cưới nhà binh, Hoa biển, Anh không chết đâu em, Câu chuyện chiếc cầu đã gãy, Kỷ vật cho em, Mùa thu chết v.v.. ra đời.

Loại kích động nhạc, nhạc VN tâm lý chiến có Trần Trịnh viết cho Mai Lệ Huyền lúc đó đang còn sống chung (sau Mai Lệ Huyền lấy một đạo diễn trên Đài truyền hình số 9 rồi mới vượt biên), hát cặp với Hùng Cường thuộc loại ăn khách.

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh viết cho chính anh cùng với Thanh Lan. Còn Khánh Ly, Lệ Thu chỉ nỉ non hát những bài của Phạm Duy như Mùa Thu Chết, Kỷ vật cho Em, Giọt mưa trên lá… Các nhạc sĩ khác không có nhạc phẩm mới chỉ cho ca sĩ nhai đi nhai lại các bài hát cũ.



Vì vậy nhạc Pop Rock – Việt hóa ăn khách do không nằm trong lệnh của bộ thông tin & tâm lý chiến. Những ca khúc trữ tình như Hởi người tình La-ra nhạc phim Dr.Zivago, Roméo Juliette, Giàn thiên lý đã xa, Khi xưa ta bé, Lịch sử một chuyện tình… được ra đời.

Trước đó xuất hiện cùng những ca sĩ ban nhạc Black Caps, Les Vampires, Rockin Stars, The 46, Fanatiques, Spotlights, và phong trào Viet Hóa như Phượng Hoàng, Mây Trắng (Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Trung Hành, Elvis Phương), CBC (Bích Liên), Crazy Dog (Những đứa con của cặp nghệ sĩ Việt Hùng – Ngọc Nuôi với Ngọc Bích đầu đàn)

Ba Con Mèo (có Vi Vân, Julie và Mỹ Hòa), Tú Hà Thúy ( Anh Tú, Khánh Hà, Thuy’ Anh) và những ”thủ lãnh” phong trào lúc đó là
Nhac Trẻ: Trường Kỳ, Tùng Giang, Đức Huy, Kỳ Phát, Nam Lộc.



Nên phải nói rằng nền ca nhạc ở Sài Gòn từ những năm 60 đến 75 mới thực sự có nhiều điều để nói, vì trước đó thời TT Ngô Đình Diệm cấm mở khiêu vũ trường, nên sinh hoạt tân nhạc còn trong phạm vi thu hẹp chỉ có Đài phát thanh, Phòng trà và Đại Nhạc Hội.

Trong thời gian này có Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, nhạc hài hước có Trần Văn Trạch, song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hay Thúy Nga với tiếng đàn phong cầm (sau thành vợ Hoàng Thi Thơ ), Duy Trác, Bạch Yến, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Ánh Tuyết, Cao Thái…

Do thiếu hụt ca sĩ, các tay tổ chức Đai Nhạc Hội thường đưa vào các tiết mục múa của Lưu Bình, Lưu Hồng, Trịnh Toàn, kịch nói chưa phát hiện ra Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Vân Hùng… chỉ có những nghệ sĩ gần đứng tuổi như Phùng Há, Bảy Nam, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nhiêu, Hoàng Mai, Anh Lân, Kim Lan, Kim Cúc, Túy Hoa, Xuân Dung hay cua-rơ Phượng Hoàng Lê Thành Cát (một kịch sĩ nghiệp dư) chiếm lĩnh sân khấu cùng kịch sĩ đất Bắc như Lê Văn, Vũ Huân, Vũ Huyến…

Thời gian 1965 – 1975 giới thưởng thức tân nhạc bắt đầu chia khán giả cho từng loại ca sĩ :

- SVHS thì thích những giọng hát của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Paolo Tuan, Elvis Phương bởi khi hát có chọn lọc nhạc phẩm mang tính nghệ thuật cao cấp.

- Đại đa số quần chúng lại thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu hát những nhạc phẩm bậc trung nẳm giữa nghệ thuật và thị hiếu.

Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Thanh Hùng, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang hát các bài được soạn theo kiểu tiểu thuyết lá cải như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương … được giới bình dân ưa thích. (gọi là “nhạc sến”)



Cho nên giới sản xuất băng nhạc bấy giờ rất kén ca sĩ hát cho nhãn băng nhạc, nếu nhãn băng nhạc nào có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan v.v… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Khán thính giả đã phân chia hạng bậc ca sĩ nhạc phẩm để thưởng thức. Ông bầu Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng mong chiếm trọn thị trường, vì làm băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn do đã phân chia ra từng lớp :

- Shotguns dành cho lớp người có trình độ thưởng thức cao.
- Nhãn băng Thanh Thúy dành cho mọi tầng lớp khán thính giả.
- Nhãn băng Hồn Nước có Chế Linh, Duy Khánh, Trang Mỹ Dung, Phương Hồng Quế v.v…

– Phục vụ thành phần cao niên hoài cổ có băng nhạc Tơ Vàng của Văn Phụng Châu Hà, quy tụ những ca sĩ di cư từ đất Bắc như Duy Trác, Châu Hà, Kim Tước, Thái Thanh, Sĩ Phú qua những nhạc phẩm tiền chiến của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Nghiêm Phú Phi, Phạm Duy, Phạm Đình Chương… vừa có nhạc tiền chiến vừa có nhạc hiện đại của những nhạc sĩ tên tuổi.

- Tầng lớp SVHS có nhãn bang hiệu Shotguns, Khánh Ly, Jo Marcel để nghe nhạc phẩm Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Y Vân, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ánh 9.

- Giới bình dân có rất nhiều nhãn hiệu băng như Hoàng Thi Thơ, Họa Mi, Hồn Nước, Chế Linh, Âm Thanh, Trường Sơn, Nguồn Sống qua nhạc phẩm Châu Kỳ, Mạnh Phát, Anh Việt Thu, Đỗ Lễ, Trầm Tử Thiêng, Vinh Sử, Tú Nhi, Hàn Châu, Song Ngọc, Duy Khánh, Thanh Sơn, Y Vũ, Trần Trịnh, Tâm Anh, Đynh Trầm Ca…

- Nhạc trẻ có nhóm Trường Kỳ, Tùng Giang, Kỳ Phát đều có nhãn băng nhạc riêng, riêng kiosque của chị em Thúy Nga (không phải vợ Hoàng Thi Thơ) lúc đó chỉ chuyên sang nhạc đĩa nhac Ngoai Quốc nước ngoài mang nhãn Selection hay Anna / Hon Hoang .

Thế giới ca nhạc Saigon đã phân chia thứ bậc theo sự thưởng ngoạn, ca sĩ cũng được phân chia ngôi thứ rõ ràng, đó là đặc tính của tân nhạc miền Nam ngày trước… tháng 04 /1975.

CẶP TRỊNH CÔNG SƠN & KHÁNH LY

Từ ngày tôi viết báo và làm báo đến ngày Sài Gòn “đứt phim” nhiều lần tôi viết về Trịnh Công Sơn, dù đến bây giờ giữa tôi và họ Trịnh chưa một lần tiếp xúc, có lẽ vì Trịnh Công Sơn quá cao ngạo thường nghĩ mình là cái “rún” của nền âm nhạc Việt Nam từ trước và sau 1975, đồng thời họ Trịnh còn phân biệt địa phương chỉ thích giao tiếp với người gốc Huế hay gốc Bắc di cư 1954 sau này 1975, còn người làm báo miền Nam (ngày xưa có hai phe báo Nam báo Bắc, có cả 2 nghiệp đoàn ký giả Nam Bắc khác nhau), họ Trịnh tỏ ra không mặn mà để giao tế hay tiếp xúc.


Tôi nhớ vào khoảng năm 1964-65 phong trào Sinh Viên Học Sinh xuống đường đang bộc phát mạnh từng ngày. Ngày nào SVHS cũng xuống đường đòi xé Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, rồi một Quách Thị Trang nữ sinh trường Bồ Đề (Cầu Muối) ngã xuống do lạc đạn tại bồn binh chợ Bến Thành trong một đêm đầy biến động với lựu đạn cay và cả tiếng súng thị oai của cảnh sát bót Lê Văn Ken, và từ đó nổi lên phong trào hát du ca, toàn ca khúc phản chiến.

Cũng từ đó quán cà phê Văn được hình thành trên một bãi đất gò rộng lớn, bãi đất này từ thời Pháp từng được dùng làm khám lớn còn gọi bót Catinar bên hông pháp đình Sài Gòn.

Bãi đất được chính quyền Nguyễn Khánh mà mị ve vuốt cấp cho SVHS làm trụ sở Tổng Hội Sinh Viên do Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho đang lãnh đạo phong trào SVHS xuống đường, để đổi lấy sự yên tĩnh cho thủ đô.

Quán cà phê Văn nằm sau trường Đại Học Văn Khoa, lúc đó do nhóm sinh viên đang theo học tại đây dựng lên và đặt thành tên gọi, được đông đảo anh chị em SVHS ủng hộ hàng đêm cả ngàn người đứng ngồi trên bãi cỏ, mở đầu nghe phong trào hát du ca của cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly qua những Ca khúc Da Vàng.
Trịnh Công Sơn và Khánh Ly mới từ Đà Lạt vào Sài Gòn. Phong cách biểu diễn của Khánh Ly lúc đó rất bụi, chân đất, miệng phì phà điếu thuốc Salem và hát những bài do Trịnh Công Sơn sáng tác và đệm đàn. Bấy giờ người ta đã đặt cho Khánh Ly cái tên “ca sĩ cần sa”, “tiếng hát ma túy” v.v… vì giới SVHS thời đó, nhất là giới nữ chưa thấy một ai dám cầm điếu thuốc hút phì phèo nơi công cộng như thế, xem như một cuộc cách mạng trong giới trẻ.

Trước thời gian này họ Trịnh tuy đã có nhiều sáng tác nhưng chưa được ai biết đến như bài Ướt mi, Lời Buồn Thánh, Xin mặt trời ngủ yên (liên hoàn khúc) chưa hội nhập được vào giới ca sĩ phòng trà. Nên biết rằng, ca sĩ thời đó thường hát các nhạc phẩm của những nhạc sĩ đã thành danh như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Văn Phụng, Lê Dinh, Anh Bằng, Y Vân, Lan Đài… những nhạc phẩm mang tính đại chúng, còn nhạc và tên tuổi của họ Trịnh hãy còn quá xa lạ với mọi người; các ca sĩ không dám hát sợ rằng khán thính giả sẽ tẩy chay khi hát những nhạc phẩm của người không tên tuổi.

Lúc đó Khánh Ly cũng như Trịnh Công Sơn đều chưa có chỗ đứng trong sinh hoạt tân nhạc, khán thính giả chỉ biết đến những ca sĩ như Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Châu Hà, Duy Trác, Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, Hoài Trung, Hoài Bắc hoặc trẻ trung như Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung v.v…

Khi được giới SVHS chào đón trên bãi đất Văn, bấy giờ Trịnh Công Sơn – Khánh Ly mới được mọi người để ý, bởi lời nhạc và cung cách biểu diễn của cả hai đang cách tân truyền thống cũ; nhưng tiếp đó cặp Vũ Thành An – Thanh Lan rồi Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên tuy đi sau nhưng lại nổi đình nổi đám cũng từ phong trào hát du ca này. Các nhạc sĩ sau soạn nhạc cũng dành cho giới trẻ cho tầng lớp người mới có kiến thức. Lời nhạc không rên siết bởi tiếng bom đạn mà rất du dương tình tứ đến lãng mạn gieo đến tâm hồn người nghe ngọn gió mới.

Sau đó quán cà phê Văn đâm ra “hắt hủi” cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, vì tính theo tần suất ái mộ, giới SVHS bắt đầu thích nghe “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông” hơn “Gia tài của mẹ”, “Ca khúc da vàng” v.v…

Các nhạc sĩ trẻ Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên đã khai phá nguồn gió mới cho quán Văn, ngược với dòng nhạc và phong cách sáng tác nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn chống chiến tranh. Lúc này giới trẻ SVHS cảm thấy dòng nhạc của các nhạc sĩ trên có lời ca rất lãng mạn trữ tình luôn qua tiếng hát của Thanh Lan.

Chính vì vậy Thanh Lan có nhiều lợi thế hơn Khánh Ly vì được giới SVHS ủng hộ đông đảo hơn, một phần do Thanh Lan là sinh viên Văn Khoa và cà phê Văn như sân nhà. Sau đó còn có cặp ca nhạc sĩ Lê Uyên và Phương v…v…

Trịnh Công Sơn – Khánh Ly bắt buộc phải chuyển thể theo trào lưu, không hát nhạc phản chiến, cả hai muốn lấy lại tư thế “người của mọi người” nên chuyển đề tài qua tình ca như dòng nhạc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng hay Ngô Thụy Miên; và Diễm Xưa lại được Khánh Ly thể hiện xem như ca khúc lãng mạn của Trịnh Công Sơn nhằm đối kháng với “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông”, sau Diễm Xưa tiếp tục với Lời Buồn Thánh, Mưa hồng, Biển nhớ, Tình xa, Một ngày như mọi ngày…

Nói như vậy cho thấy Trịnh Công Sơn đi trước về sau qua những bản nhạc tình.


Cuối cùng tôi gặp Trịnh Công Sơn vào trưa ngày 30/4/75 tại Đài phát thanh Sài Gòn. Trưa hôm ấy có lẽ Trịnh Công Sơn muốn đến kêu gọi giới văn nghệ sĩ (vì vẫn coi mình là cái “rún” của nền âm nhạc miền Nam ?) bình tĩnh và ủng hộ chính quyền quân quản, còn tôi đến để lấy tin làm báo, vì tờ báo tôi được uỷ quyền còn ra đến số báo đề ngày 2/5/75. Và đúng như bài của Trịnh Cung viết về Trịnh Công Sơn, trưa đó họ Trịnh chẳng nói được lời nào sau micro, còn Tôn Thất Lập có nói gì với họ Trịnh không thì tôi “bó tay” do lúc này ở phòng thu người chật như nêm, ai cũng muốn chen vào muốn “có tiếng nói” làm “ông kẹ ba mươi tháng tư” kể cả tên mặt rô ở chợ Cầu Muối cũng có mặt muốn kêu gọi bạn hàng chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối hợp tác với ban quân quản.

Sau ngày 30/4 ai cũng thấy rõ chiến tuyến của họ Trịnh và Khánh Ly. Quả thật Trịnh Công Sơn phản chiến vì thân cộng, còn Khánh Ly lại thuộc thành phần chống cộng. Có người hỏi tại sao Khánh Ly lại ra đi không cùng họ Trịnh ở lại để hưởng phước lộc trong xã hội chủ nghĩa, khi cả hai từng có công trạng gián tiếp xúi giục mọi người phản chiến, thanh niên trốn quân dịch; vì cả hai như cặp bài trùng ?

Khi hỏi cũng đã có câu trả lời, vì khi phong trào du ca không còn tồn tại, chỉ còn nhóm “Hát cho đồng bào tôi nghe” của Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập “hát chui” ở đâu đó. Còn Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã tách ra thành hai, bởi cả hai đâu phải đôi “thanh mai trúc mã”, một người bị chứng bất lực còn một người đang tràn trề sinh lực của lứa tuổi thèm yêu.

Trước đó Khánh Ly đã ấy một đại úy biệt kích to con lực lưỡng làm chồng, còn là một bảo kê cho phòng trà khiêu vũ trường của vợ trên đường Nguyễn Huệ (Queen Bee) sau chuyển qua đường Tự Do (Khánh Ly). Do vậy Khánh Ly phải xa họ Trịnh để đến đất nước của Nữ thần tự do, còn nếu ở lại với lý lịch lấy chồng sĩ quan ngụy quân sẽ bị trù dập “ngóc đầu lên không nổi”.

Tuy vậy khi qua Mỹ, Khánh Ly không còn nhớ đến người chồng biệt kích còn đang học tập cải tạo ở quê hương, liền lấy ngay một ký giả từ Sài Gòn cũng vừa di tản để cả hai tiếp tục hô hào chống cộng.

Còn Trịnh Công Sơn, khoảng thời gian mười năm sau ngày Sài Gòn “đứt phim”, họ Trịnh lại bắt đầu nổi tiếng (?), còn tại sao nổi tiếng khi Trịnh Công Sơn chỉ có những bản nhạc “nhạt như nước ốc” sáng tác cổ động cho phong trào thanh niên xung phong hay học đường theo huấn thị của ông Sáu Dân, việc này mọi người đã biết tôi không nói thêm nữa.

Sự trở lại với nền âm nhạc sau nhiều năm vắng bóng để Xuân Hồng, Trần Long Ẩn… làm mưa làm gió, nên mọi người còn nhớ Trịnh Công Sơn và báo chí lại đưa tên tuổi họ Trịnh lên chín tầng mây. Và mặc dù bị chứng bất lực nhưng cũng có vài con thiêu thân chịu sa ngã để được “dựa hơi”, mong “hơi hám” của họ Trịnh sẽ cho mình chút hư danh, như cô ca sĩ Hồng Nhung vừa loé lên đã tắt lịm, bởi nhạc cũ họ Trịnh thì chưa được hát còn nhạc mới lại nhạt nhẻo chỉ dành cho thiếu nhi hay hát vào mỗi lúc hô “khẩu hiệu”mà thôi.

Biết rằng nhạc không còn hồn, không còn sôi nổi cuốn hút người nghe như thời trước 1975, Trịnh Công Sơn mở quán cà phê trên đường Phạm Ngọc Thạch tức đường Duy Tân cũ, rồi bắt đầu vẽ hươu vẽ nai rồi nhờ mấy tên ký giả cà phê “lăng-xê” nét vẽ không thua gì những Phạm Cung, Trịnh Cung… có người đòi mua cả vài ngàn đô ?!. Vậy là hết cuộc đời âm nhạc để rồi chết vì nghiện rượu, mà tác phẩm để lại được mọi người còn nhớ đến toàn nhạc phẩm của những ngày trước 30/4.


Nguyễn Việt
 
kathy Date: Thứ Tư, 24 Dec 2014, 8:33 PM | Message # 2
Colonel general
Group: Users
Messages: 1127
Status: Tạm vắng
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 25 Dec 2014, 0:26 AM | Message # 3
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2905
Status: Tạm vắng
TÀI DANH TÂN NHẠC CỦA SÀI GÒN MỘT THỜI… ĐỂ NHỚ

NV- Nguyễn Ngọc Chinh (tiếp theo và hết)


Một thời để nhớ có sự tái ngộ của diễn viên hài Xuân Phát, một “quái kiệt” trong làng hài kịch tại Sài Gòn trước năm 1975. Anh có lối chọc cười tưng tửng nhưng rất duyên dáng, ý nhị.

Xuân Phát cùng Mai Lệ Huyền góp vui trong một nhạc cảnh hát nhép theo đĩa ghi âm trước có tên là Bùn bò giò heo Mụ Rớt. Đây là loại kịch lipsing, ngày nay gọi là hát nhép, đã được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ áp dụng trên sân khấu đại nhạc hội hoặc phòng trà ca nhạc từ trước khi Sài Gòn đổi chủ.

Xuân Phát tâm sự với khán giả, đây cũng là thời điểm cần giã từ sân khấu sau bao năm chọc cười thiên hạ. Giờ cũng là lúc anh dành thì giờ cho gia đình nhiều hơn bên người vợ là diễn viên múa Mỹ Lệ của Sài Gòn gần 40 năm về trước. Có điều ít người biết là con trai anh ngày nay cũng đang hoạt động trong lãnh vực điện ảnh Hollywood mà khán giả Việt Nam được biết đến trong phim hành động Dòng máu anh hùng qua tên Dustin Nguyễn.

Lần đầu tiên gia đình Xuân Phát sẽ xuất hiện trong phim Lửa Phật (Monk on Fire) do Dustin Nguyễn biên kịch và đạo diễn, phim ra mắt khán giả trong năm 2013. Cùng thực hiện có sự hợp tác của Jimmy Phạm Nghiêm (nhà sản xuất phim Dòng máu anh hùng), hãng phim Chánh Phương và tài tử Johnny Trí Nguyễn.

Một giọng hát nam, khỏe ở tuổi gần 70, xuất hiện sau vở kịch không mấy thành công của Xuân Phát – Mai Lệ Huyền. Đó là người ca sĩ xưa khi vẫn hằng ái mộ Elvis Presley, vua nhạc rock-n-roll, đến độ ngay từ khi vào nghề đã lấy tên thần tượng để mang tên Elvis Phương cho đến ngày nay.


Elvis Phương có một cuộc đời ca hát khá thành công bên cạnh Kiều Nga, em của anh và cũng là ca sĩ nổi danh một thời tại Việt Nam và sau này tại hải ngoại.

Cuộc đời tình ái của Phương lại không thuận lợi như sự nghiệp. Elvis Phương kết hôn với một cô gái gốc từ Đà Lạt nhưng người vợ đầu tiên lại vắn số, qua đời sau một tai nạn giao thông năm 1970.
Ngày đó Phương đã để trên mộ vợ tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi một câu khá tình tứ : “Ngọc chết rồi Phương chơi với ai ?”.

Nhiều năm sau, khi định cư ở Hoa Kỳ, anh mới trả lời được câu hỏi ngày nào và tìm được người “chơi” chung: Phan Lệ Hoa. Trả lời một cuộc phỏng vấn của VnExpress về cuộc hôn nhân của mình, Elvis Phương tâm sự :
“Bạn có tin không, vợ chồng tôi suốt mấy chục năm nay chưa từng rời xa nhau. Chúng tôi nguyện được có nhau trọn đời. Vợ tôi không quản ngại khó khăn cùng chồng đi lưu diễn khắp nơi. Ngày trước Lệ Hoa là một doanh nhân nổi tiếng, chấp nhận gác bỏ công việc vì không muốn hai vợ chồng cách xa nhau quá lâu. Nhờ vậy mà gia đình hạnh phúc, cuộc sống bình yên và tinh thần yên ổn. Đó là những xúc cảm để tôi có thể hát mãi cho người và cho đời”.

Phạm Ngọc Phương sinh năm 1945 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Anh học trường Tây nên thường hát những bản nhạc rock nước ngoài theo phong cách Elvis Presley. Elvis Phương lần đầu xuất hiện trước khán giả năm 1962 tại trường dòng Regina Pacis với nhạc phẩm hoàn toàn Việt Nam: Nửa đêm ngoài phố của nhạc sĩ Trúc Phương.



Phương tham gia nhiều ban như Rockin’ Stars, Les Vampires… và là một trong những ca sĩ tiên phong trong phong trào nhạc trẻ cùng ban Phượng Hoàng với Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Khi tuổi đã lớn, anh chuyển sang nhạc tình, nhạc quê hương.

Elvis Phương có rất nhiều các bài hát nổi tiếng, gắn liền với tên tuổi của anh. Người yêu nhạc nhớ đến anh qua Vết thù trên lưng ngựa hoang (trong đó có màn biểu diễn huýt sáo tuyệt vời), Mười năm tình cũ, Bài thánh ca buồn, Trả lại em yêu… Nổi bật nhất phải kể đến những ca khúc của riêng nhóm Phượng Hoàng như Còn yêu em mãi, Yêu em, Tôi muốn… sáng tác bởi Nguyễn Trung Cang & Lê Hựu Hà luôn luôn được Elvis Phương trình diễn ra mắt lần đầu tiên trên sân khấu.


Trong cả hai phần 1 và 2 của live show Một thời để nhớ Elvis Phương đã chinh phục khán giả Melbourne với các nhạc phẩm Mười năm tình cũ, Đàn bà… xen lẫn nhạc ngoại quốc một thời được ưa thích như My Way, Si L’amour Existe Encore… Anh còn làm phần trình diễn sống động hơn khi bước xuống giao lưu ở hàng ghế khán giả khiến các nhân viên bảo vệ phải hoạt động cật lực. Elvis Phương đã chiếm trọn cảm tình của khán giả, những người nghe nhạc muốn tìm lại… một thời để nhớ.

Một trong những ca sĩ được mong đợi nhất trong đêm Một thời để nhớ là Thanh Thúy. Cô là người nữ ca sĩ miền sông Hương, núi Ngự có giọng hát một thời được giáo sư triết Nguyễn Văn Trung mệnh danh là “Tiếng hát Liêu trai” trong bài viết Ảo ảnh Thanh Thúy . Đối với nhà văn Mai Thảo, người được mệnh danh là “Ông vua phòng trà” thời đó, Thanh Thúy là “Tiếng hát lúc 0 giờ” và nhạc sĩ Tuấn Huy lại gọi là “Tiếng sầu ru khuya”.



Thanh Thúy bắt đầu đi hát từ năm 1959 khi mới tròn 16 tuổi. Giọng hát Thanh Thúy trầm ấm, hơi khàn và cô có lối phát âm nhả chữ rất đặc biệt. Tiếng hát Thanh Thúy có lúc nghẹn ngào, đôi khi lại như nức nở. Ngoại hình Thanh Thúy mảnh mai đến độ gầy guộc với mái tóc dài buông xõa trên đôi vai gầy. Thanh Thúy lúc nào cũng xuất hiện trên sân khấu với tà áo dài truyền thống giản dị màu trắng hoặc màu lam nhạt.


Ngày nay tại Việt Nam có những ca sĩ cũng mang tên Thanh Thúy nhưng đối với những người lớn tuổi thì chỉ có một Thanh Thúy của những thập niên 60-70 và một Thanh Thúy sau năm 1975 tại hải ngoại.

Người ta còn nhớ thời Thanh Thúy của phòng trà Đức Quỳnh, Anh Vũ rồi vũ trường Queen Bee, International với những bài hát trữ tình như Nửa Đêm Ngoài Phố, Kiếp Nghèo, Người Em Sầu Mộng, Ngăn Cách, Tàu Đêm Năm Cũ, Giọt Mưa Thu, Tiếng Còi Trong Sương Đêm…

Cũng không thể nào quên được tiếng hát Thanh Thúy qua làn sóng điện, đài truyền hình hoặc trên các sân khấu đại nhạc hội…

Thanh Thúy là “người yêu trong mộng” của rất nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, đó là chưa kể đến số đông những người “vô danh tiểu tốt”. Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay Ướt mi để dành tặng Thanh Thúy, nhạc sĩ Tôn Thất Lập có Tiếng hát về khuya cũng vì Thanh Thúy còn thi sĩ Hoàng Trúc Ly ca tụng Thanh Thúy qua những vần thơ:



“Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan thành hư vô.”


Năm 1961 khán giả Sài Gòn được xem phim Thúy đã đi rồi của tài tử điện ảnh kiêm đạo diễn Nguyễn Long, ca sĩ Minh Hiếu thủ vai Thanh Thúy. Trong phim khán giả còn được nghe bản nhạc cùng tên của Y Vân qua tiếng hát Hùng Cường. Y Vũ, em ruột của nhạc sỹ Y Vân, kể lại:
“…Anh Y Vân đã viết ca khúc này thay cho tâm sự của một người bạn rất thân, đó là tài tử điện ảnh Nguyễn Long, còn gọi là Long Đất. Vào đầu thập niên 60, Nguyễn Long yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy… Nguyễn Long âm thầm sống trong đau khổ, cay đắng một mình. Rồi một hôm, nhạc sĩ Y Vân bắt gặp anh chàng thất tình này trong quán cà phê với bộ dạng “ngó phát chán”, Y Vân hỏi han và Long Đất đã thổ lộ mối tình sâu kín.” (bởi thời gian này Thanh Thúy vừa lên xe hoa với Ôn Văn Tài trung tá binh chủng Phòng không của Quân lực VNCH – admin)

Thương cảm mối tình đơn phương của người bạn thân, Y Vân đã viết Thúy đã đi rồi. Bài hát được khá nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả ca sĩ Thanh Thúy. Hát thì cứ hát nhưng con tim chẳng chút lay động vì đã yêu Trung tá Ôn Văn Tài thuộc binh chủng Không quân vào giữa thập niên 1960, họ có một cậu con trai.


Trong lần hội ngộ ở Melbourne, khán giả đã tặng Thanh Thúy bó hoa tươi nhất, đẹp nhất để thể hiện lòng ngưỡng mộ một người ca sĩ tuy đã bước vào tuổi 70 nhưng vẫn còn giữ một chỗ đứng trong lòng người yêu nhạc.

Rất nhiều giấy của khán giả yêu cầu Thanh Thúy hát những bài hát mà họ ưa thích nhưng vì chương trình có hạn nên MC Nam Lộc phải lên tiếng cáo lỗi và hẹn vào một dịp khác.

Một sự tình cờ, người bước ra sân khấu tiếp theo Thanh Thúy lại là một ca sĩ tên cũng bắt đầu bằng chữ Thanh. Phải nói cô là người đã thành công trên cả 3 lãnh vực: âm nhạc, điện ảnh và kịch nghệ. Về âm nhạc, cô nổi tiếng với những bản nhạc tiếng Pháp, về điện ảnh cô đã xuất hiện trong rất nhiều bộ phim và về kịch nghệ cô là diễn viên trong ban kịch Vũ Đức Duy.

Người nghệ sĩ đa tài đó là Thanh Lan. Phạm Thái Thanh Lan có khiếu văn nghệ từ khi còn là nữ sinh Marie Curie và hát trên đài phát thanh Sài Gòn trong ban Việt Nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức.

Thanh Lan còn tham gia ban văn nghệ sinh viên học sinh Nguồn Sống và xuất hiện trên truyền hình khi Sài Gòn bắt đầu có TV vào năm 1967.

Thanh Lan bắt đầu trở thành một ca sĩ nổi tiếng khi cô học năm thứ nhất Đại học Văn khoa. Sở trường của cô là những ca khúc lời Pháp như La Plus Belle Pour Aller Danser (Phạm Duy chuyển sang lời Việt Em đẹp nhất đêm nay, bản nhạc này nổi tiếng một thời tại Pháp qua giọng ca Sylvie Vartan), Bang Bang (nguyên thủy Sheila hát, bài này cũng được Phạm Duy chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề Khi xưa ta bé), Come back to Sorrento (Trở về mái nhà xưa) và Mon amie la Rose do chính Thanh Lan soạn lời Việt với tựa đề Nụ Hồng Mong Manh.

Thanh Lan còn hát chung với Nhật Trường qua những tình khúc của Trần Thiện Thanh, họ là một trong những cặp song ca ăn khách nhất thời đó. Hai người còn đóng chung với nhau hai bộ phim truyền hình Trên đỉnh mùa đông và Mộng Thường do Nhật Trường viết kịch bản và đạo diễn, phát sóng trên đài truyền hình Sài Gòn.

Sự nghiệp điện ảnh của Thanh Lan bắt đầu vào năm 1970, khi cô đóng vai chính trong bộ phim Tiếng hát học trò của đạo diễn Thái Thúc Nha do hãng phim Alpha sản xuất. Với vai diễn này, Thanh Lan đã đoạt giải nữ diễn viên nhiều triển vọng nhất của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật. Cuối năm 1974, tại phòng khánh tiết khách sạn Continental, Thanh Lan đã nhận giải diễn viên đẹp nhất miền Nam Việt Nam do đạo diễn Lê Dân trao tặng.


Khi Sài Gòn “đứt phim”, thỉnh thoảng Thanh Lan cũng xuất hiện với các bài như Cô đi nuôi dạy trẻ, Đi qua vùng cỏ non, Phượng hồng, Em đi chùa Hương, Triệu đóa hoa hồng, Trưng Vương khung cửa mùa thu… Đến cuối năm 1993 thì cơ hội tới qua lần đến Mỹ tham dự buổi ra mắt cuốn phim Tình người do đạo diễn gốc Việt quay cảnh tại Việt Nam và cô thủ vai chính, Thanh Lan đã xin tỵ nạn.

Thoạt đầu, phát ngôn của Thanh Lan bị cộng đồng người Việt tại hải ngoại phản đối nhưng rồi với thời gian … dư luận nguôi ngoai, Thanh Lan chiếm dần lại cảm tình của khán thính giả để tiếp tục sự nghiệp.

Ở hải ngoại, Thanh Lan diễn kịch nhiều hơn đóng phim. Cô đóng vai chính trong các vở kịch như Lá sầu riêng, Lôi vũ, Lồng đèn đỏ, Đoạn tuyệt, Sân khấu về khuya, Phù dung tự… Những vở kịch này đã được lần lượt trình diễn tại các sân khấu Quận Cam, San Jose, Houston, Atlantic…


“Cô Bắc Kỳ nho nhỏ có nốt ruồi duyên trên môi” nay đã 65 tuổi nhưng vẫn còn trẻ trung trên sân khấu Melbourne trong đêm Một thời để nhớ. Cô hát với chất giọng như ngày nào cộng thêm với kinh nghiệm của một diễn viên từng trải khiến sân khấu sống động.

Vẫn những bài xưa: La Plus Belle Pour Aller Danser, Bang Bang rồi Bảy ngày đợi mong… nhưng phần trình diễn của Thanh Lan rất sống động. Để hát bài Bảy ngày đợi mong của Trần Thiện Thanh cô mời một khán giả tình nguyện lên làm… người yêu.

“Anh hẹn em cuối tuần. Chờ anh nơi cuối phố. Biết anh thích màu trời. Em đã bồi hồi chọn màu áo…” thay vì màu áo xanh như lời bài hát, Thanh Lan đã chỉ tay vào áo dài của mình rồi sửa lời… chọn màu áo… bông!!! Khán giả được dịp cười ồ vì tài ứng biến của một diễn viên kịch.

Ca sĩ cuối cùng trong đêm Một thời để nhớ và cũng là người lớn tuổi nhất xuất hiện trong chương trình. Sân khấu bỗng tối đèn và khán giả chỉ nghe tiếng hát cất lên…
“Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông, đôi cánh chim bâng khuâng rã rời, cùng mây xám về ngang lưng trời… .”

Sau đoạn đầu bài hát Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, khán giả nhận ra ngay bản nhạc đã một thời đưa tên tuổi của Bạch Yến đến với những người yêu nhạc.

Bạch Yến sinh năm 1942, mới 10 tuổi đã giành huy chương vàng cuộc thi tuyển lựa những giọng ca nhi đồng do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức, năm 15 tuổi, chị bắt đầu được khán giả chú ý với ca khúc Đêm đông. Năm 21 tuổi, Bạch Yến được mời qua Mỹ biểu diễn và trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình truyền hình Mỹ vào đầu năm 1965.

Chị là người đại diện cho Việt Nam tham gia Environment Show và biểu diễn cùng nhiều danh ca, ban nhạc nổi tiếng như Beatles, Bob Hoge, Bing Crosby, Pat Boone, Rolling Stones… Ngoài tiếng Việt, Bạch Yến có thể hát tốt các bản nhạc tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý và Do Thái.

Năm 1978, chị kết hôn với nhạc sĩ Trần Quang Hải, con trai của Giáo sư Trần Văn Khê. Cùng với chồng, trong 30 năm qua, chị đi hơn 70 nước trên thế giới để giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam. Trần Quang Hải lúc đó đã ly dị vợ, sống cùng con gái 5 tuổi, còn Bạch Yến ở cái tuổi 36, đang đứng trên đỉnh vinh quang của nghề hát, có nhiều người đàn ông ngưỡng mộ nhưng…vẫn cô đơn.


Bạch Yến kể về mối tình của mình trên VnExpress: “Gặp nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris, chưa đầy 24 giờ anh đã ngỏ lời cầu hôn tôi và sau đó gửi 400 thiệp cưới đến mọi người khiến tôi vừa xúc động, ngỡ ngàng, vừa buồn cười. Lúc đó, tôi còn một hợp đồng biểu diễn ở Mỹ, phải 3 tháng sau mới hết hạn, nhưng anh bảo tôi không đi nữa. Và thế là tôi theo chồng”.

Trong giờ nghỉ giải lao, Bạch Yến được khán giả hâm mộ của Melbourne vây quanh.


Họ là những người tuổi đời được thể hiện qua mái tóc, qua vóc dáng về chiều nhưng vẫn còn in rõ nét đam mê ca nhạc của một thời để nhớ và cũng là một thời vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Thời của tuổi trẻ ngày nào.

Duyên may đã đến với tôi qua lời mời đi dự Một thời để nhớ của Nguyễn Lương Năng, người bạn cùng dạy tại trường Sinh ngữ Quân đội ngày xưa. Duyên may cũng đến với tôi để có dịp sống lại suốt 5 tiếng rưỡi ngồi nghe những tiếng hát mà mình một thời hâm mộ tại một sân khấu không phải là Việt Nam.

Và còn một duyên may cuối cùng : tấm hình trên đã được gửi đến các bạn cựu đồng sự tại trường Sinh ngữ Quân đội. Một trong số những người đó, anh Nguyễn Phan Thanh, đã có nhã ý ghép hình 2 đứa chúng tôi vào tờ chương trình live show Một thời để nhớ. Thành ra chương trình có tới 16 nghệ sĩ, trong đó có 2 nghệ sĩ “dzỏm”. Đó là chuyện khó quên trong đêm Một thời để nhớ!!! (theo Nguyễn Ngọc Chinh)

Nguyễn Việt chuyển tiếp




Message edited by thanhlongphapsu - Thứ Năm, 25 Dec 2014, 0:32 AM
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 25 Dec 2014, 0:30 AM | Message # 4
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2905
Status: Tạm vắng
 
FORUM » VIỆT NAM - QUÊ HƯƠNG TA » ÔN CỐ TRI TÂN » Ca Nhạc Sai Gòn Trước 1975 (Nguyễn Việt)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL