- ATOANMT
Thứ Bảy
10 Dec 2016
6:16 PM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn Bài xong bấm vào "CHỌN XEM":







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » VIỆT NAM - QUÊ HƯƠNG TA » ÔN CỐ TRI TÂN » HỮU LOAN (MỘT NHÂN CÁCH)
HỮU LOAN
atoanmt Date: Thứ Hai, 08 Oct 2012, 1:03 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng
THI-SĨ HỮU-LOAN



MỘT NHÂN CÁCH VUÔNG CHÀNH CHẠNH

Tác-Giả: Hoàng Tiến

Có người viết hàng trăm bài thơ, hàng nghìn bài thơ. Nhưng chẳng ai nhớ nổi một bài, nhớ nổi vài câu. Còn ngược lại, có người chỉ làm vài bài thơ, thậm chí một bài thơ, mà được lưu truyền đời này đời khác. Đọc lên, ai cũng tấm tắc khen hay

Lãnh vực của văn chương nghệ thuật là lãnh vực của cái hay, cái đẹp, cái tài. Nó không phụ thuộc vào số lượng. Như người xưa thường nói:
“Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”

Nhà thơ Hữu Loan làm thơ không nhiều. Vẻn vẹn cả đời ông mới in một tập thơ, nhan đề “Màu tím hoa sim”, với dung lượng hơn chục bài thơ. Một số bài được truyền tụng và đã trở thành bất tử, như bài Màu tím hoa sim, bài Đèo Cả, bài Hoa lúa …

Đọc thơ Hữu Loan cảm nhận ông là một nhà thơ lớn. Nhà thơ lớn, theo tôi, phải đáp ứng được hai tiêu chuẩn. Một là có nội dung tư tưởng chứa đựng những cảm xúc thời đại. Hai là có phương thức biểu cảm mới lạ. Thơ Hữu Loan được cả hai điều đó.

Dẫn chứng một:


Đèo Cả!

Đèo Cả!

Núi cao ngất

Mây trời Ai Lao sầu đại dương

Dặm về heo hút

Đá bia mù sương

Bên quán Hồng Quân

người ngựa mỏi

Nhìn dốc ngồi than

thương ai lên đường

Chày ngày lạc giữa núi

Sau chân lối vàng xanh tuôn

Dưới cây bên suối độc

Cheo leo

chòi canh

như biên cương……

(Trích ĐÈO CẢ - 1946)


Dẫn chứng hai:

Nàng có ba người anh

đi bộ đội

Những em nàng

có em chưa biết nói

Tóc nàng xanh xanh.

Tôi,

người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng,

như tình yêu em gái.

Ngày hợp hôn,

nàng không đòi may áo mới

Tôi vận đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

Bên anh chồng độc đáo……

(Trích MÀU TÍM HOA SIM – 1949)


Được biết bài “Đèo Cả”, khởi đầu tác giả viết bằng lục bát, rồi không ưng, bỏ đi. Hữu Loan nói về lối thơ xuống hàng (Ông không gọi thơ bậc thang, như những người nghiên cứu thơ Maiakovski đã gọi.
Thơ Maiakovski được giới thiệu vào ta khoảng năm 1955 – 1956.
Còn thơ xuống hàng của Hữu Loan có từ 1946 – 1949. Những cách tân lớn thường gặp nhau mà thôi):

- “Thơ xuống hàng làm người đọc sẽ phải đọc chậm, ngắt giọng, nhấn chữ, nó đập mạnh vào trực giác người ta hơn (Hữu Loan dùng tiếng Pháp intuitivement), nó làm nổi hình khối lên (en relief).
Thơ cần phối hợp cả âm nhạc, điêu khắc và hội họa.
Cái tối thiểu là người nghệ sĩ phải trả cho độc giả cái cảm xúc bằng thiên nhiên, mà nghệ thuật thì phải hơn thiên nhiên.
Bài “Đèo Cả” đầu tiên tôi viết bằng lục bát, đọc lại không ưng. Cuộc sống khác đi, cả dân tộc đi vào kháng chiến, nhiều tình cảm lớn, lạ, nảy sinh. Nhịp điệu thơ phải khác.
Cái quan trọng là nhịp điệu đúng chỗ, biểu hiện tình cảm đúng lúc, thì vẫn đi vào lòng người.
Bài “Màu tím hoa sim” viết lối thơ xuống hàng, mà nhiều các cụ các bà không biết chữ ở thôn quê vẫn thuộc.

Tôi hỏi:

- Tác giả có thể cho biết ông nghĩ gì khi viết các câu thơ:


Chiều hoang tím

có chiều hoang biết

Chiều hoang tím

tím màu da diết

Nhìn áo rách vai

tôi hát

trong màu hoa


Hữu Loan cười:

- Có người đã đổi đầu đề bài thơ của tôi là “Đồi sim màu tím”. Màu tím như vậy là thành cụ thể mất rồi.
Vì vợ tôi thích màu tím, màu tím với tôi lúc này là một ảo giác, một ảo ảnh, tôi hát trong màu hoa ấy.
Tôi mê, tôi tỉnh, tôi say, tôi phát cuồng, tôi …như thế nào nhỉ, tùy các nhà phê bình phán xét.


Tôi nói:

- Tác giả đã nhập thần vào câu thơ Tôi hát trong màu hoa, là một câu thơ trong chữ có quỷ (ngôn trung hữu quỷ).
Nó không có thực, mà lại rất thực về mặt tâm linh. Đọc lên thấy nổi gai người. Và chỉ còn biết đốt hương lên, tĩnh lặng, mới cảm nhận hết vẻ sắc lan tỏa ý nhị của ngôn ngữ nghệ thuật khi chúng được đặt xếp cạnh nhau.”


Trên đây là trích đoạn một bài viết về nhà thơ Hữu Loan cách nay 23 năm (1988), khi ông “tái xuất” trở ra Hà Nội sau 38 năm về Nga Sơn – Thanh Hóa làm ruộng và thồ đá nuôi con.
Ra Hà Nội, ông tá túc ở căn hầm là nhà ở của nhà thơ Tú Sót (tức Chu Thành, biên tập viên Nhà xuất bản Thanh Niên) 64 Bà Triệu. Căn hầm chật chội luôn phải bật đèn vì thiếu ánh sáng, nhưng nườm nượp người qua lại. Rất nhiều người muốn biết mặt nhà thơ Hữu Loan.

Tôi ghi lại một vài mẩu chuyện hồi ấy:

Một buổi, trong bữa rượu lạc thanh bần, Hữu Loan bỗng hỏi:

- Truyện Kiều có thằng bán tơ thật không?

Mọi người ngớ ra. Cái tai nạn của cuộc đời Kiều, khởi nguyên là ở thằng bán tơ.


Phải tên xưng xuất tại thằng bán tơ


(câu 588 – Đoạn trường tân thanh)

Hữu Loan tủm tỉm:

- Kiều lấy Từ Hải, hùng cứ một phương trời, có cảnh báo ân báo oán làm hả hê cuộc đời Kiều. Cảnh báo oán trừng phạt đầy đủ những người đã gây tai họa cho Kiều. Nhưng không thấy thằng bán tơ. Thế là sao?

Hữu Loan ngừng một lúc, nhấc chén rượu lên môi, rồi lại đặt xuống. Một khoảng im lặng đủ để mọi người suy nghĩ, rồi ông nói nhẹ nhàng:

- Tôi bị cái họa Nhân văn – Giai phẩm, bị vu cho là phản động, lật đổ chính quyền, về Nga Sơn nằm dài, nhân đọc lại Kiều, mới thấy cụ Nguyễn Du nhà ta thánh thật.
Thằng bán tơ là nhân vật bịa ra, nhân vật vu khống, không có thật, thì làm sao mang nó ra xét xử được.
Cụ Nguyễn Du giả vờ quên thằng bán tơ là cụ cao tay lắm trong nghệ thuật bút pháp.
Kẻ hậu sinh đọc Truyện Kiều, suy ngẫm để nhận ra điều ấy, là nhận ra cái xã hội thối nát truyện Kiều, đến công lý cũng vin vào một lời khai vu vơ làm tan nát cả một đời Kiều.

Cái xã hội thiếu nhân tính, thiếu tôn trọng con người, gây oan khuất cho những người lương thiện, đáng nguyền rủa biết bao!


Cái thâm thúy của cụ Nguyễn Du là ở đấy!


Chúng tôi cùng giật mình, thấy lạnh xương sống về nhận xét của Hữu Loan. Ngẫm ra, cụ Nguyễn Du thánh thật, và cụ Hữu Loan nhận ra được điều ấy trong bút pháp cụ Nguyễn Du, thì cụ Hữu Loan cũng thánh thật.

Mẩu chuyện thứ hai:
Hữu Loan về quê làm ruộng, thồ đá bán. Phòng thương nghiệp và dân quân được lệnh xét hỏi. Họ bắt nhà thơ đổ hai sọt đá xuống và nói:

- Ông không vào hợp tác. Làm ăn riêng lẻ, để phát triển con đường tư bản. Chúng tôi cấm.

Nhà thơ nói:

- Chúng tôi bị quy Nhân văn – Giai phẩm, nghĩa là phần tử nguy hiểm hơn cả địa chủ, tư sản.
Hợp tác các ông không cho tôi vào.
Ở đời này có hai việc tôi không thể làm được.
Một là đi ăn cắp, hai là đi làm cán bộ.
Nay, tôi lao động, kiếm sống nuôi con, mà các ông cũng cấm.
Từ cổ chí kim, tôi không thấy một nhà nước nào cấm người ta lao động cả.
Còn các ông cấm, không cho tôi lao động, thì tôi chỉ còn một cách là đi ăn xin. Ngày mai tôi sẽ khoác bị chống gậy đi ăn xin, đề một tấm biển trước ngực:
“Tú Loan, người ăn xin”.
Các ông đừng bảo là tôi bôi xấu chế độ nhé.


Mấy ông thương nghiệp và dân quân quay ra bàn nhau một lúc, rồi họ rút lui.

Mẩu chuyện thứ ba:
Cái họa Nhân văn – Giai phẩm đã lùi xa. Nhiều người đến thăm hỏi Hữu Loan. Người ta thấy ông ăn mặc mộc mạc, nhà cửa tuyềnh toàng.
Có người hỏi:
“Bấy lâu nay ông bận làm gì, mà không xây nhà cửa cho nó đàng hoàng, ở cho nó sướng cái thân”.

Nhà thơ Hữu Loan đáp:

“Tôi bận làm người”.


Sách xưa nói:
“Tố nhân bất khả hữu ngạo thái, nhiên, bất khả vô ngạo cốt”
(Làm người không nên có cái thái độ kiêu ngạo, tuy nhiên, không thể không có cái cốt cách kiêu ngạo).


Nhà thơ Hữu Loan đã có cái cốt cách của bậc sĩ quân tử:
“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”
(Giàu sang không cám dỗ, nghèo khó chẳng chuyển lay, uy vũ không khuất phục).


Ông tự ví mình như cây gỗ vuông chành chạnh, không để cho ai đẽo gọt tròn trịa có thể lăn đi bất cứ chỗ nào.

Chúng tôi là lớp hậu sinh yêu thơ ông, quý mến ông, cảm thương những hoạn nạn mà ông đã trải, kính phục trước nhân cách khí khái, ngang tàng, mà chúng tôi thường nói với nhau: một nhân cách vuông chành chạnh!

Cầu mong linh hồn ông siêu thoát lên từng trời tương ứng với tuệ giác của ông.

Nam mô A di đà Phật!

Nhân dịp giỗ đầu nhà thơ Hữu Loan tổ chức tại quê nhà Nga Sơn-Thanh hóa, ngày 2 tháng 2 năm Tân Mão tức chủ nhật 6 tháng 3 năm 2011.

Nhà văn Hoàng Tiến cẩn bút.

(Bài do nhà văn Hoàng Tiến gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-Blog. Xin chân thành cảm ơn tác giả!)



Nguồn:
http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011....an.html


Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
truclam2011 Date: Thứ Hai, 08 Oct 2012, 9:43 PM | Message # 2
Major
Group: Users
Messages: 91
Status: Tạm vắng
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Hai, 08 Oct 2012, 9:52 PM | Message # 3
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2568
Status: Hiện-diện
atoanmt
Chiều hành quân qua những đồi hoa sim những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa.
“Áo anh sút chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm
Mẹ già chưa khâu …”
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Ba, 08 Jul 2014, 10:49 AM | Message # 4
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2568
Status: Hiện-diện
Hữu Loan và Màu Tím Hoa Sim


Nguyễn Đức Hiệp


Tôi được đọc bài “Màu Tím Hoa Sim bản nào là đúng nhất?” của nhà thơ Nguyễn Minh Hùng trên mạng vanchuongviet (mạng văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long trước đây). Bài viết rất súc tích làm tôi chú ý vì ba lý do. Một là nội dung về bài thơ “màu tím hoa sim” mà hầu như người Việt nào cũng rung động và cảm xúc trước bi kịch đau đớn của nhà thơ, một người lính chinh chiến trong kháng chiến chống Pháp, vào “một chiều rừng mưa”, hay tin người vợ trẻ chết đuối ở hậu phương.

Bài thơ này được xem là bài thơ tình hay nhất thế kỷ 20, cuối năm 2004 công ty Vitek mua bản quyền với giá kỷ lục ở Việt Nam.

Lý do thứ hai, tôi có đọc trước đây bài của ông Trịnh Hưng đăng trên báo Khởi Hành, số 167 tháng 9, 1997 – do một người bạn gởi cho tôi – về bài thơ Màu Tím Hoa Sim mà nhà thơ Hữu Loan chép tặng cho Trịnh Hưng khi tác giả đến thăm ông ở Thanh Hóa.

Sau cùng, vì tôi cũng có may mắn gặp được nhà thơ Hữu Loan vào đầu năm 1988 ở Saigon khi ông ghé nơi này. Thật là dịp hiếm có, vì hầu như ông không đi đâu xa ngoài chốn quê hương Thanh Hóa trong những năm 80. Vì thế tôi đã đọc kỹ, xem có sự khác biệt hay không giữa bản của công ty Vitek với các bản mà vào những gặp gỡ tình cờ, Hữu Loan viết tặng cho những ai quý mến tài và hiểu biết sự gian nan của ông trong đời.

Các bản ông viết từ trước đến nay không khác gì nhiều, chỉ một vài chữ thêm bớt hay hơi khác (như “lớn lên” thay vì “nhớn lên”, “ví” thay vì “hát”). Với một bài thơ viết từ trong đau khổ và theo ông suốt cuộc đời, tôi tin ông khó quên, không chỉ lời thơ, mà cả trạng thái đau đớn yêu thương đầy tiếc nhớ ấy.

Họa chăng không loại bỏ trường hợp là chúng ta đã chép sai hoặc thay đổi để hợp với thể thơ, thể nhạc mình yêu thích. Vì thế dẫn đến nhiều dị bản cũng như đã có nhiều nhạc sĩ phổ thơ của ông một cách khác nhau mà thôi. So sánh với bản của công ty Vitek

(http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=59258&ChannelID=10) bài thơ anh Nguyễn Minh Hùng đăng trên mạng vanchuongviet, có thiếu một dòng (ghi trong ngoặc)



Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

(Những đồi hoa sim)

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt



Tôi cũng rất tâm đắc bài viết của anh Nguyễn Minh Hùng về những phân tách tình cảnh và sự rung động của người yêu bài thơ. Trước 1975, ở miền Nam bài “Màu tím hoa sim” được đưa vào chương trình học bậc trung học lớp đệ nhị (lớp 11) trong chương về thơ lãng mạng, như Vũ Đức Sao Biển đã đề cập. Thế hệ thanh niên thời đấy đều tiếp cận với bài thơ cũng như hoàn cảnh của Hữu Loan trong giai đoạn Nhân Văn Giai Phẩm.

Nhạc sĩ và nhà văn nhà thơ Vũ Đức Sao Biển, đầu năm 1997 viết một bài tựa đề “Một Đoạn Biên Tập Trong “Màu Tím Hoa Sim”, nói về một bản chép tay của nhà thơ Hữu Loan tặng cho cô Phương tại Đà Nẵng vào tháng 12, 1989 với lời đề tặng “Chép tặng cô Phuơng một tâm hồn, một vấn đề làm mất ngủ những luơng tri.” Bài “Màu Tím Hoa Sim” mà Vũ Đức Sao Biển ghi lại cũng giống như bản anh Trịnh Hưng và tôi có, chỉ thiếu 4 dòng cuối.

Một người bạn văn cho biết bản chị chép tay tặng nhau thời còn nhỏ ở miền Nam thiếu nhiều so với bản của Hữu Loan cho tôi. Dẫu vậy, Màu Tím Hoa Sim là môt bức tranh đẹp mơ màng, mang lại nhiều cảm xúc khác nhau, nhưng đại đa số người Việt đều có suy nghĩ và tình cảm nhất định đối với một số đề tài/nhân vật nhất định. Tôi tin tưởng Hữu Loan ở trong trường hợp này.

Đầu năm 1988, lúc tôi về Saigon, được gặp giáo sư Lê Văn Hảo. Qua một người bạn ở Úc, ông cho biết nhà thơ Hữu Loan đang có mặt ở Saigon tại nhà một người bạn và rủ tôi tới thăm. Thời gian ấy tôi còn phụ trách tờ báo Đất Nước của Hội người Việt Nam ở Úc.

Hôm ấy chúng tôi gặp nhà thơ Hữu Loan cùng một số anh chị em nghệ sĩ. Tôi nhớ, họa sĩ Đỗ Quang Em đang phác họa bằng bút chì chân dung của nhà thơ Hữu Loan.

Gặp tác giả của những bài thơ nổi tiếng trong thời kháng chiến chống Pháp như “Đèo Cả”, “Yên Mô “, Hoa Lúa”, “Màu Tím Hoa Sim”… là một vinh dự. Tôi thật xúc động lẫn cảm phục về tài năng và cuộc đời đầy gian truân của nhà thơ mà thế hệ chúng tôi đều biết. Hôm đó Hữu Loan đã viết trên mấy tờ giấy vẽ của hoạ sĩ Đỗ Quang Em bài thơ “Màu tím hoa sim” đề tặng kiều bào Úc. Toàn bài thơ ấy và lời ghi chép của ông, tôi đã đăng trong báo Đất Nước tháng 4, 1988.



Điều nhân bản trong Màu Tím Hoa Sim, dù đau xót trong bi cảnh trớ trêu, Hữu Loan không một lời oán hận định mệnh oái oăm. Ông lặng lẽ trút vào thơ nỗi đau đành đoạn. Biến nỗi đau của riêng mình thành nỗi đau chung của những người trai thời ly loạn. Nỗi đau ấy rất thật đến nỗi người yêu thơ ông cứ tưởng mình cũng đang mất người thân.

Có ai ngờ được ngày vui nhất của cuộc đời con gái chỉ có mỗi bình hoa, nàng không đòi may áo cưới, mặc dầu thuộc gia đình khá giả. “Chiếc bình hoa ngày cưới” sau đó được đặt ngay cạnh mộ người vợ trẻ, Ở chiến khu, được tin vợ mất, ông trở về làng quê, chỉ còn lại bình hoa. Bình hoa ấy ngày nay ông vẫn giữ trên bàn thờ. “Em ơi, giây phút cuối cùng không được nghe em nói, không được trông nhau một lần” . Ông và mẹ nàng cùng khóc. Những giọt nước mắt muộn màng, không xua nổi bóng tối vây quanh nấm mộ.

Trước khi lấy cô Lê Đỗ thị Ninh, Hữu Loan có dạy kèm cô Ninh và được gia đình ông bà Lê Hữu Kỳ yêu mến như con ruột. Vì thế tình cảm ban đầu với nàng như ngừơi anh với em gái “… yêu nàng như tình yêu em gái”.

Trong ba người anh của vợ ông, thì người anh cả, Lê Đỗ Khôi, mất trong trận đánh ác liệt gần đồi Him Lam ở chiến trường Điện Biên Phủ. Người anh trai thứ hai, Lê Đỗ Nguyên, cũng tham gia trong trận đánh Điện Biên và sau này chính là trung tướng Phạm Hồng Cư, và người anh thứ ba Lê Đỗ An có tham gia kháng chiến nhưng không phải bộ đội tham dự trận đánh Điện Biên.

Từ chiến trường, hai ông Khôi và ông Nguyên nhận được tin em gái mất qua một người bạn, trước khi biết tin em lấy chồng. Hai ông nén buồn tiếp tục tham gia chiến dịch và hẹn sẽ gặp nhau lại lúc hoà bình. Nhưng ông Khôi cũng một đi không trở lại, ông cũng nằm lại đâu đó nơi rừng núi Điện Biên.

Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, bài thơ nuôi sống nhiều thế hệ, nhờ ghi lại không chỉ nỗi đau khôn xiết của tử biệt sinh ly, còn vẽ lại hình ảnh đẹp của những người trai lao mình vào lửa đạn, súng trong tay và hình ảnh người yêu tràn ngập trong tim.



Phụ lục

Bài Màu Tím Hoa Sim Hữu Loan chép tặng kiều báo Úc (2/1988)



Màu tím hoa sim

(Khóc vợ Lê Đỗ-thị-Ninh)



Nàng có 3 người anh

đi bộ đội

những em nàng

có em chưa biết nói

Khi tóc nàng

xanh

xanh



* * *

Tôi người vệ quốc quân

xa gia đình

yêu nàng

như tình yêu em gái

ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giầy đinh bết

bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

cưới nhau xong là đi



* * *

Từ chiến khu xa

nhớ về ái ngại

lấy chồng đời chiến chinh

mấy người đi trở lại

nhở khi mình không về

thì thương người

vợ chờ

bé bỏng

chiều quê

* * *

Nhưng không chết

người trai khói lửa

mà chết người

gái nhỏ hậu phương

Tôi về không gặp nàng

má tôi ngồi bên mộ con

đầy bóng tối

chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương tàn lạnh

vây quanh

* * *

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi ! giây phút cuối

không được nghe nhau nói

Không được trông nhau một lần

* * *

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa đèn khuya

bóng nhỏ

nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa … !

* * *

Một chiều rừng mưa

ba người anh,

từ chiến trường Đông Bắc

biết tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về

rờn rợn nước sông

đứa em nhỏ nhớn lên

ngỡ ngàng

nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng

chân mộ chí



* * *



Chiều hành quân

qua những đồi hoa sim

những đồi hoa sim

những đồi hoa sim

dài

trong chiều không hết

màu tím hoa sim

tím

chiều hoang biền biệt



* * *

Có ai hát như từ chiều

ca dao nào

xưa xa

“Áo anh sứt chỉ đường tà

vợ anh chưa có

mẹ già chưa khâu”

* * *

Ai hát vô tình hay

ác ý với nhau

chiều hoang tím

có chiều hoang biết

chiều hoang tím

tím thêm màu da diết

nhìn áo rách vai

tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà,

vợ anh mất sớm..

* * *

Màu tím hoa sim

tím tình tang

lệ rớm…



* * *



Ráng vàng ma và

rừng rúc điệu quân hành

vang vọng chập chờn

theo bóng những binh đoàn

biền biệt hành binh

vào thăm thẳm

chiều hoang màu tím



* * *

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ

dù lâu …(Hữu Loan 1949)



 
LongTracAn Date: Thứ Hai, 14 Jul 2014, 0:02 AM | Message # 5
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Thứ Hai, 14 Jul 2014, 6:52 AM | Message # 6
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
kathy Date: Thứ Bảy, 19 Jul 2014, 1:32 PM | Message # 7
Colonel general
Group: Users
Messages: 1012
Status: Tạm vắng
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 14 Aug 2014, 6:39 PM | Message # 8
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2568
Status: Hiện-diện
Lời tự thuật của HỮU LOAN, tác giả “MÀU TÍM HOA SIM”


Tác giả: Hữu Loan


KD: Bạn bè yêu quí gửi cho bài viết này. Rất cảm động, vì sự chân thành, vì tình người, tính người. Và có thể hình dung cả bối cảnh một thời cuộc tao loạn. Mỗi số phận cá nhân đều chứa trong lòng nó những bi kịch của lịch sử.

————

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

Mời các bạn đọc lại bài thơ nổi tiếng của HỮU LOAN, do lời thuật thật cảm động của chính tác giả.

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.



Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…

Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
 
thaisaigon Date: Thứ Sáu, 15 Aug 2014, 10:35 AM | Message # 9
Sergeant
Group: Disciples
Messages: 30
Status: Tạm vắng
Hay quá
 
atoanmt Date: Thứ Sáu, 15 Aug 2014, 10:43 AM | Message # 10
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
Cường Date: Thứ Hai, 17 Aug 2015, 2:35 AM | Message # 11
Major general
Group: Disciples
Messages: 455
Status: Tạm vắng
Tuyệt vời !!!

Mời các bạn nghe nhé :



Message edited by Cường - Thứ Hai, 17 Aug 2015, 2:36 AM
 
FORUM » VIỆT NAM - QUÊ HƯƠNG TA » ÔN CỐ TRI TÂN » HỮU LOAN (MỘT NHÂN CÁCH)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL