Thứ Bảy
14 Dec 2019
10:35 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:









PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<> Realtime Website Traffic

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
FORUM » QUÁN BÊN ĐƯỜNG » CHUYỆN TÔN GIÁO » Tế Điên Hoà Thượng (240 Hồi) ("Đồ Khùng" dịch)
Tế Điên Hoà Thượng (240 Hồi)
LongTracAn Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:39 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Lời nhà xuất bản

Tế Ðiên Hòa thượng là tác phẩm văn học dân gian Trung Quốc, kể lại sự tích một vị Thiền sư thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế, sống vào đời Tống (khoảng 1150 – 1209) tại vùng Chiết Giang, Trung Quốc.

Cuộc sống của vị Thiền sư này có nhiều điều kỳ bí khác đời và cũng khác với đời sống tu hành của Tăng chúng đương thời. Tính tình ông cuồng phóng, thích rượu, thích thịt, người đời gọi ông là “Tế Ðiên”, nhưng ông lại là người rất “tỉnh”, từ bi và ưa giúp đời.

Chuyện về cuộc đời của Hòa thượng Tế Ðiên được dân chúng tô đắp thêm nhiều điều kỳ bí, sau được sưu tập, gọt giũa thành tác phẩm văn học “Tế Công Hoạt Phật” hay còn gọi là “Tế Ðiên Hòa thượng”. Tác phẩm nguyên bản tiếng Hán đã được dịch giả dịch sang tiếng Việt và đăng tải trên tuần báo Giác Ngộ từ số 24 ra ngày 15-12-1991 đến số 137 ra ngày 14-11-1998, với bút danh “Ðồ Khùng”.

Theo yêu cầu của báo Giác Ngộ và bạn đọc, Nhà Xuất bảnTôn giáo cho in lại tác phẩm “Tế Ðiên Hòa thượng”. thành bộ gồm 4 tập để bạn đọc tiện theo dõi.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp về bộ sách này.

Nhà Xuất bản Tôn Giáo

- o0o -

Lời giới thiệu - Tế Ðiên, Ông Là Ai?



Trong Phật Quang đại từ điển, trang 5661, ghi sơ lược như sau:

Ðạo Tế (1150-1209)

Ông là Thiền sư Trung Quốc thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế, sống vào đời Tống, người Lâm hải (Chiết Giang), họ Lý, tên Tâm Viễn, tự Hồ Ẩn, hiệu Phương Viên Tẩu.

Năm 18 tuổi, ông xuất gia ở chùa Linh Ẩn và lần lượt tham học với các vị: Pháp Không Nhất Bản ở chùa Quán Âm. Sau sư vào núi Hổ Khâu làm môn hạ ngài Hạt Ðường Huệ Viễn và nối dòng pháp này. Sư lại đến ở chùa Tịnh Từ, chùa này bị thiêu hủy vì hỏa tai, Sư đi hành hóa ở Lăng Nghiêm trùng tu lại. Cư dân ở vùng Tần Hồ ăn ốc thường chặt đuôi ốc để ăn. Sư xin những con ốc này thả lại trong nước, ốc phần lớn sống lại mà không có đuôi. Bình sanh, tánh tình sư cuồng phóng, thích rượu thịt, nên người đời gọi sư là Tế Ðiên.

Năm 1209, Sư thị tịch, thọ 60 tuổi, nhục thân của sư nhập vào tháp tại Hổ Bào. Tiểu sử của Ngài tóm tắt là thế. Tuy nhiên ta cũng thấy ở Ngài một vài điểm đặc biệt: tánh tình cuồng phóng, thích rượu thịt, có những hành động không giống ai nên có hỗn danh là Tế Ðiên.

Tuy “Ðiên” nhưng không phải là Ðiên quậy phá làm người kinh sợ, mà là đem lại cho kẻ ác một số báo ứng kinh sợ khiến phải chừa và người thiện sự vui mừng thích thú. Việc hiển lộng thần thông cứu sống một số lớn ốc bị chặt đuôi biểu hiện lòng từ bi vô lượng với chúng sanh của Ngài là một bằng chứng cụ thể. Cuộc sống lạ lẫm có nhiều cống hiến “Ðem lợi ích cho đời” của Ngài, dưới con mắt của người bình dân, trở thành một bậc siêu nhân. Siêu nhân đối với họ là một nhân vật bất tử đủ mọi quyền phép và tài năng làm được bất cứ việc gì mà vị ấy cần làm. Từ đó, họ tô đắp vào cuộc đời Tế Ðiên biết bao nhiêu hành tung kỳ bí với mục đích cứu người giúp đời. Một truyền mười, mười truyền trăm, khắp nơi kẻ chợ cũng như ngõ hẻm xóm làng, qua lời kể chuyện của người bán hàng và qua bao nhiêu sự chắt lọc thêm bớt theo trí tưởng tượng của từng nhóm người. Lâu dần, Tế Ðiên Hòa thượng hay Tế Công Hoạt Phật trở thành câu chuyện dân gian được lưu truyền qua cửa miệng mọi người.

Các văn sĩ, sưu tập sửa đổi lại, gọt đẽo thành tập truyện nhan đề là “Tế Công Hoạt Phật” – nhưng vẫn xếp vào loại văn học dân gian, với hình bìa: ông Hòa thượng đội mũ lệch, mắt láo liên, tay cầm chiếc quạt rách. Tác phẩm gồm hai phần: phần chánh truyện 240 hồi và phần tục biên 40 hồi.

Ðọc truyện Tế Ðiên, ta thấy thấp thoáng bóng hình đi mây về gió của Tây Du, đậm nét hơn là tính tình hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổn phò nguy của anh hùng Lương Sơn Bạc. Ðiều đó cũng dễ hiểu, vì Tế Ðiên sống vào thời nhà Tống với biết bao rối ren phát xuất từ lòng tham, hết cướp cạn đến cướp ngày, gây cho dân chúng khổ đau không ít. Trước nỗi khổ đau hằng gánh chịu, gặp được bậc siêu nhân luôn tế khổ phò nguy, qua đó gởi gắm những ước mơ của mình, dù là kể lại hay nghe kể, cũng giải tỏa chút nào phiền muộn, quên đi những thực tại trước mắt, âu cũng là một điều thống khoái. Vì thế, ta không lạ gì chuyện Tế Ðiên với chiếc quạt rách đã gần gũi và phổ biến trong mọi giới quần chúng.

Tuy nhhiên, đây là quần chúng viết để quần chúng đọc, và vì người viết không thông hiểu Phật lý, cho nên ta không thể bắt buộc tác phẩm phải thể hiện đúng theo tinh thần Phật giáo thuần túy. Quan niệm “Giết người ác là một việc làm tốt” không phải xuất phát từ lòng từ bi. Ðạo Phật chỉ có hóa giải chớ không có đối nghịch. Nhưng nhìn chung, tác phẩm cũng đem lại lợi ích “Tránh ác, làm lành” một cách xấu xa trong lòng dân chúng, được coi như là một thành tựu đáng kích lệ. Vui mà nghe, nghe mà nhớ, nhớ để làm điều tốt. Bấy nhiêu đó được thành tựu cũng là đạt yêu cầu rồi.

Truyện Tế Ðiên mấy năm gần đây đã dựng thành phim nhiều tập. Phim ảnh tuy sống động nhờ những động tác diễn đạt, mặc dù có thêm phần hư cấu sáng tạo nhưng lại không diễn hết nhhững tình tế nhị mà lời văn thể hiện. Ðể bổ túc những cái chưa đủ đó, dịch giả cố gắng khắc phục bệnh lười của mình, gắng dịch cho xong, để gọi là “Mua vui cũng được vài tí ti”, nhằm cung ứng cho người đọc thưởng thức thêm những điều mà phim ảnh đã lược bớt.

Tiếc rằng cái biết của mình chỉ là khung trời nhỏ hẹp của đáy giếng, không thể chuyển tải trọn vẹn ý tứ cũng như cái hay của ngôn từ được. Những chỗ sai sót được quý vị thức giả phủ chính cho lần tái bản sau là một điều “Xin chắp tay vạn tạ”.

Báo Giác Ngộ


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Sáu, 30 Mar 2012, 7:30 AM
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:40 PM | Message # 2
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ nhất

Tiết Ðại sứ lạy Phật xin con
Chân La Hán đầu thai cứu thế


Năm nhà Tống dời đô về đất Lâm An ở phía Nam, nhằm niên hiệu Kiến Viêm năm thứ tư, Cao Tông hoàng đế cải hiệu là Thiệu Hưng năm thứ nhất.

Thuở đó có một vị Kinh doanh Tiết đạt sứ tên là Lý Mậu Xuân, người Chiết Giang, vợ là Ứng thị rất hiền thục. Lý tướng quân vì tính nết hiền hòa, giữ quân lệnh không nghiêm nên bị bãi chức về làng. Trở về quên cũ sống đời nhàn nhã, Lý tướng quân càng ưa làm việc phước thiện, bắc cầu đắp lộ, giúp đỡ kẻ khốn cùng: mùa Ðông cho áo, mùa hè thuốc men. Người trong phố chợ đều ca ngợi là Lý thiện nhơn.Tuy nhiên cũng có người xầm xì: “Tiếng là Lý thiện nhơn nhưng chưa chắc là thiện nhơn đâu. Nếu quả là thiện nhơn sao lại không con nối dõi?”

Lời nói đó thấu tai Lý tướng quân làm ông dàu dàu kém vui. Lý phu nhân thấy thế liền hỏi nguyên nhân:

- Phu quân sao hôm nay mặt mày kém tươi thế?

Lý tướng nói:

Ta vừa đi ra ngoài phố, người người đều gọi ta là Lý thiện nhơn cả, duy có kẻ xầm xì ta là kẻ giả nhân giả nghĩa để che giấu những điều xấu xa khuất lấp. Họ lại nói ta làm lành không phải do thật lòng; nếu thật lòng sao lại không con. Ta nghĩ nếu hoàng thiên có mắt, thần Phật hiển linh, đáng lẽ cho chúng ta một đứa con mới phải.

Phu nhân nói:

- Thưa phu quân, phận thiếp hiếm hoi, trời bắt tội không có con để phu quân có người nối dõi, đó là lỗi của thiếp, xin phu quân hãy nạp thêm nàng hầu họa may có được đứa con để ẵm bồng.

Lý tướng quân nói:

- Phu nhân nói thế sai rồi, ta đâu có thể làm việc bậy bạ như thế. Hơn nữa, phu nhân tuổi chưa đầy bốn mươi, còn có thể sanh nuôi con cái, chưa đến nỗi tuyệt vọng. Chúng ta nên tắm gội sạch sẽ, trai giới ba ngày rồi cùng lên chùa Quốc Thanh ở phía Bắc núi Thiên Thai lễ Phật cầu con, biết đâu Trời Phật chẳng phụ lòng ta mà nhỏ phước ban cho một đứa bé để ẵm bồng.

Phu nhân nói: Ý kiến đó rất hay.

Sau khi chọn ngày lành tháng tốt, Lý tướng quân cưỡi ngựa, phu nhân ngồi kiệu cùng đám gia nhân nhắm hướng núi Thiên Thai tiến phát. Từ chân núi nhìn lên: Núi cao sừng sững, đá núi chập chồng, cỏ cây rậm rạp. Lưng chừng đồi, chùa Quốc Thanh cổ kính vươn mình bên tàng lá rậm. Ðàng sau cổng chùa uy nghiêm, hai lầu trống chuông cao vút. Sau năm tầng đại điện là trai đường, khách xá, kinh đường, giới đường và 25 gian Tàng kinh các.

Lý viên ngoại vừa xuống ngựa, bên trong mấy Tăngnhân ra tiếp rước đưa vào nhà khách đãi trà. Ðương kim phương trượng là Tánh Không trưởng lão nghe tin Lý viên ngoại đến chùa dâng hương cũng ra tiếp kiến và cho vị Tri khách đưa đi các điện dâng hương. Trước hết, viên ngoại đến Ðại hùng bửu điện lễ hương khấn vái:

- Cầu xin đức Phật phù hộ, ban cho đệ tử một đứa con, đệ tử nguyện trùng tu ngôi cổ sát, thếp lại kim thân để cúng dường Tam bảo.

Khấn xong lại lần lượt đến các điện khác. Khi đến điện La Hán thứ tư, bỗng nhiên thần tượng từ liên đài ngã xuống đất.

Tánh Không trưởng lão chắp tay niệm Phật:

- Lành thay, lành thay! Bần đạo xin mừng viên ngoại được sinh quý tử, chẳng bao lâu sẽ có tin mừng.

Ngày tháng như thoi đưa, Ðông qua Hạ tới, chẳng mấy chốc phu nhân đến kỳ nở nhụy khai hoa. đến khi sanh nở, hào quang sáng rực khắp phòng, hương thơm tỏa ra sực nức. Thấy lạ ai nấy đều lấy làm vui mừng. Có một điều kỳ quái làm viên ngoại lo âu không xiết. Số là đứa bé sau phút chào đời cứ khóc mãi không thôi. Ðến ngày thứ ba, đang lúc bè bạn hàng xóm đến chúc mừng có gia nhân vào báo tin:

Phượng trượng ở chùa Quốc Thanh là Tánh Không trưởng lão đích thân đưa một phần trọng lễ đến chúc mừng.

Viên ngoại vội vã ra cửa nghinh đón và mời vào khách sảnh.

Tánh Không trưởng lão nói:

- Bần đạo xin chúc mừng viên ngoại, chẳng hay lệnh công tử vẫn được an khang?

Viên ngoại nói:

- Ða tạ đại sư có lòng chiếu cố. Tệ nhi từ khi lọt lòng cứ khóc mãi, đến hôm nay cũng vẫn chưa nín. Ðệ tử đang lo lắng về việc này. Xin đại sư có phương cách gì chữa trị hộ cho cháu.

Tánh Không trưởng lão bảo:

- Ðược, được! Viên ngoại sai người bồng công tử ra cho bần đạo xem thử mới biết rõ nguyên cớ.

Viên ngoại nói:

- Tệ nhi mới sinh có mấy ngày còn mềm mại, bồng ra quá sớm sợ e không tiện.

Tánh Không Trưởng lão nói:

- Không hề chi, viên ngoại chỉ cần lấy khăn mềm bọc kín công tử lại tất khỏi sợ nắng gió phạm nhằm.

Viên ngoại nghe có lý, vội sai người bồng đứa bé ra cho mọi người xem. Thằng bé mặt mũi khôi ngô, phẩm chất thanh kỳ, khóc mãi không dứt. Thấy Tánh Không trưởng lão, đứa bé lập tức nín khóc và toét miệng cười.

Lão Hòa thượng lấy tay vỗ vỗ trên đầu đứa bé, nói:

“Thôi thôi chớ có vội cười

Lai lịch nhà ngươi ta biết hết

Chúng ta giao ước cùng trao đổi

Bớt được tựa nương ở thế gian”.

Ðứa bé nín khóc hẳn.

Tánh Không trưởng lão nói:

- Này viên ngoại, lệnh công tử có túc duyên với bần đạo, thôi để bần đạo thu nhận làm đệ tử ký danh và đặt tên là Lý Tu Duyên nhé.

Viên ngoại tỏ lòng cảm tạ, cho bồng đứa bé vào trong nhà và mời Hòa thượng dùng cơm chay. Thọ trai xong, Hòa thượng kiếu từ trở về, các thân hữu cũng nói lời từ biệt. Viên ngoại thuê một người vú khoẻ mạnh chăm nuôi săn sóc công tử. Ngày tháng qua nhanh, thoáng chốc Lý Tu Duyên đã được 7 tuổi, suốt ngày biếng nói biếng cười, không thích chơi đùa với bọn trẻ cùng trang lứa ở hàng xóm. Ðến tuổi đi học, viên ngoại mời một Tú tài già tên là Ðỗ Quân

Anh đến nhà kèm dạy. Ngoài ra, Lý Tu Duyên lại có hai bạn đồng song: Một là Hàn Văn Mỹ, 9 tuổi, con quan Võ Hiếu liêm Hàn Thành; và một là Vương Toàn, 8 tuổi, con quan Binh bộ Tư mã Vương An Sỹ, cháu ruột của Lý phu nhân. Ba anh em cùng chung học tập rất là vui vẻ. Riêng Lý Tu Duyên tuy nhỏ tuổi nhưng rất thông minh, học một biết mười, hễ qua mắt không quên. Ðỗ lão sư cho là kỳ tài, thường khoe với mọi người:

- Thằng bé này về sau sẽ nổi danh trong thiên hạ.

Ðến 14 tuổi, Lý Tu Duyên làu thông cả Tứ thư, Ngũ kinh, và các sách của Bách gia chư tử, hàng ngày cùng hai bạn Vương và Hàn thường ở thư phòng xướng họa thi thơ, khẩu khí rất là cao đẹp.

Năm đó Lý Tu Duyên sắp sửa vào trường luyện thi lấy bằng Văn Ðồng, không may Lý viên ngoại ngã bệnh nặng, mỗi lúc thêm nguy kịch. Viên ngoại cho mời người em vợ là Vương An Sỹ đến bên giường trăn trối:

- Hiền đệ ơi, ta không thể sống nổi được ở đời, từ nay xin hiền đệ thay ta săn sóc cho chị và cháu bé dại khờ. Lý Tu Duyên hãy còn nhỏ dại, hiền đệ đừng để cho nó ham chơi bỏ học. Về việc hôn nhân của cháu, ta cũng đính ước với con gái nhà Lưu Thiên Hộ đã xong. Sau khi ta mất rồi, nhà cửa không người coi ngó, việc nên hư cũng xin hiền đệ lưu ý quản nhiệm cho.

Vương An Sỹ nói:

-Xin anh cứ an lòng dưỡng bệnh, khỏi phải bận tâm, tôi xin hết sức giúp đỡ mọi việc.

Viên ngoại lại dặn Lý phu nhân rằng:

Hiền thê ơi, ta nay đã 55 tuổi, kể cũng là thọ rồi. Sau khi ta chết, hiền thê hãy cố gắng nuôi con, dạy dỗ cho nó nên người. Có như thế, ta mới yên lòng nơi chín suối.

Viên ngoại dặn Lý Tu Duyên mấy câu nữa rồi nhắm mắt đi xuôi.

Lý viên ngoại mất rồi, cả nhà khóc lóc vang đầy. Nhờ có Vương viên ngoại giúp đỡ, việc ma chay thập phần viên mãn. Lý Tu Duyên cư tang nên không đến trường khảo thí, Vương Toàn và Hàn Văn Mỹ đều thi đỗ tú tài.

Vợ chồng Vương viên ngoại có một tòa nhà tên là Vấn Tâm lầu, tất cả các việc làm trong năm đều nghi trên tấm trướng. Cuối năm theo đó, viết một bảng biểu chương tấu cáo đất trời, không một điều chi giấu giếm.

Lý Tu Duyên rất ham học đạo, mỗi khi gặp được quyển kinh nào ưa thích nghiền ngẫm không rời.

Hai năm sau, Lý phu nhân cũng qua đời, Lý Tu Duyên càng thích xem kinh sách hơn nữa. Ðến 18 tuổi, cư tang báo hiếu đã xong, Lý Tu Duyên nhìn thấy cõi hồng trần mộng ảo, quyết chí xuất gia đầu Phật. Mọi việc trong nhà đều nhờ Vương viên ngoại coi sóc giùm. Ðến trước phần mộ song thân đốt hương khấn nguyện xong, Lý Tu Duyên lẻn ra đi, để lại một phong thư nhỏ. Vương viên ngoại đã hai ngày không thấy cháu trở về, sai người đi dọ hỏi các chỗ cũng không thấy tăm hơi. . ., bèn mở thư ra xem. Trên thư chỉ để lại mấy chữ vắn tắt:

“Tu Duyên đã đi,

Ðừng tìm làm chi,

Sau này gặp lại,

Sẽ rõ sự nghì”.

Vương viên ngoại biết cháu mình ưa đọc sách Tiên Phật, bèn cho người đi tìm kiếm ở các chùa miếu lân cận, cũng không được dấu vết gì. Lại viết bản báo cáo dán khắp nơi:

Ai đưa Lý Tu Duyên về nhà sẽ được thưởng 100 lượng bạc.

Ai đưa tin chắc chắn Tu Duyên ở đâu sẽ hậu tạ 50 lượng bạc.

Liên tiếp ba tháng trời tìm kiếm, tin tức vắng không, những tấm bố cáo ố màu rơi lả tả.

Về phần Lý Tu Duyên, sau khi bỏ nhà ra đi, vui chân đi mãi, du sơn ngoạn cảnh tìm chưa được chỗ nào xứng ý xuất gia. Ðến Hàng Châu, tiền bạc mang theo hết sạch, Lý Tu Duyên đến một ngôi chùa xin xuất gia nhưng không được nhận, chàng bèn đến chùa Linh Ẩn trên ngọn Phi Lai nơi Tây Hồ ra mắt lão phương trượng xin xuất gia. Hòa thượng lão phương trượng chính là kế vị đời thứ 9 bổn tự tên là Nguyên Không trưởng lão, hiện là Viên Hạc Ðường, khi thấy Lý Tu Duyên liền biết chàng là kim thân La Hán đầu thai vâng lệnh Ðức Phật giáng thế độ đời.

Thấy chàng còn mơ hồ chưa tỉnh, Hòa thượng bèn dùng tay vỗ huyệt thiên môn của chàng ba cái. Bao nhiêu căn nguyên nguồn cội sau ba cái vỗ tức hồi phục hồi như cũ. Lý Tu Duyên sụp xuống lễ Nguyên Không trưởng lão cầu xin xuất gia và được đặt pháp hiệu là Ðạo Tế. Ðạo tế tọa thiền có vẻ điên điên lại có vẻ ba trợn, đạo chúng trong chùa bảo nhau kêu ông ta là Hòa thượng điên (Ðiên hòa thượng), lại có người gọi ông ta là ông thầy ba trợn (Phung Hòa thượng), thêm đi bớt lại rút cục thành Tế Ðiên tăng. Thực ra ông ta vốn là người vâng lệnh Phật Tổ xuống độ đời, mượn việc cứu khốn phò nguy để khuyến hóa chúng sanh qui về Phật pháp. Trong chùa, bất cứ ông tăng nào hễ có tiền dư đều bị trộm lấy, có y phục đẹp đẽ cũng bị đánh cắp chuồn vào tiệm cầm đồ để đổi làm đồ nhắm cho Ðạo Tế cả. Rượu là món ông ta ưa thích nhất. Có người nói:

- Hễ làm Hòa thượng lẽ ra phải ăn chay, cớ sao ông lại rượu thịt tối ngày như thế?

Ðạo Tế nói:

Cổ thi Phật Tổ để một phong,

Dạy khuyên tu miệng lẫn tu lòng,

Người nay tu miệng, lòng không sửa.

Bần tăng lòng sửa, miệng thì không.

Việc rượu thịt suốt ngày của Ðạo Tế làm cho vị Giám tự là Quảng Lượng bất bình không ít. Ðịa vị của vị Giám tự chỉ dưới vị Phương trượng chủ trì một bậc mà thôi. Tế Ðiên bất chấp điều đó. Một hôm, Quảng Lượng vừa sắm một bộ tăng bào mới trị giá 40 quan, Tế Ðiên chụp lấy đem cầm nhậu rượu rồi đem giấy cầm đồ dán ở cổng chùa. Vị Giám tự thấy áo không cánh mà bay vội vã cho người tìm kiếm khắp nơi, mới biết áo mình nằm gọn trong tiệm cầm đồ và giấy cầm hiện dán trước cửa. Lạ một điều là gỡ mãi chẳng ra, không biết làm sao, Quảng Lượng đành hạ cổng gỡ xuống và cho bốn người khiêng đến tiệm chuộc áo.

Chuộc áo áo xong, Quảng Lượng trở về bạch cùng Phương trượng:

- Bạch Thầy, Ðạo Tế ở chùa cứ giở chứng điên khùng không giữ thanh quy. Bao nhiêu áo quần, tiền bạc của Tăng chúng để hở ra đều bị ông ấy chộp lấy, xin Thầy y chiếu thanh quy mà sửa trị để răn chúng.

Nguyên Không trưởng lão nói:

- Không thấy Ðạo Tế lấy trộm, làm sao xử trị ông ấy được. Các ông từ nay cứ ngầm theo dõi, nếu bắt được quả tang ông ấy lấy trộm, cứ đưa đến ta xử trị.

Quảng Lượng liền phái hai người đệ tử luôn theo dõi Tế Ðiên. Về phần Tế Ðiên cứ ung dung gối đầu nằm ngủ ở góc đại điện. Hai chú tiểu tăng tên là Chí Thanh và Chí Minh hàng ngày để ý rình rập. Ngày kia, chợt thấy Tế Ðiên ló đầu ra nhìn bốn phía, lại đến mỗi bàn dừng lại một lúc rồi lại đến một bàn khác lén lén lút lút có vẻ khả nghi. Sau cùng rón rén đi ra, trước bụng gồ lên một cục, nhắm hướng chợ đi tới. Chí Thanh Chí Minh từ trong nhà lật đật kêu lớn:

- Này Tế Ðiên! Ông trộm cái gì đó, phen này hết đường chạy tội nhé!

Mỗi người một tay giữ Tế Ðiên lại, đưa thẳng vào Phương trượng.

Trong lúc đó, Giám tự vào trước bạch với Phương trượng rằng:

-Bạch thầy, Ðạo Tế ở trong chùa chúng ta không giữ thanh quy, lấy trộm đồ vật của chùa, xin thầy cứ y chiếu thanh quy mà trị tội ông ấy.

Nguyên Không trưởng lão nghe nói thế, than thở: “Ðạo Tế ơi, đạo Tế! Ông lấy trộm đồ vật của chùa làm chi cho chúng bắt được. Ta dù có ý che chở cho ông cũng không biết nói thế nào cho phải”. Bèn bảo mọi người:

- Thôi, hãy đưa ông ấy vào đây.

Tế Ðiên đến trước phòng Phương trượng, nói:

- Con xin vấn an lão phương trượng.

Nguyên Không trưởng lão nghiêm sắt hỏi: - Ðạo Tế không giữ thanh quy, lấy trộm đồ vật của chùa mắc phải tội gì?

Quảng Lượng vội thưa:

- Chiếu thanh quy, người mắc tội ấy bị thâu hủy y bát giới điệp, đuổi ra khỏi chùa không được làm Tăng nữa.

Phương trượng nói:

- Ta sẽ phạt nặng ông ấy mới được.

Ðoạn quay qua Tế Ðiên, Phương trượng nói:

- Này Ðạo Tế! Hãy trình vật ấy ra đây!

Tế Ðiên nói:

- Bạch sư phụ, các huynh đệ thật là khi dể và ăn hiếp con quá. Con ngũ ở chánh điện, thức dậy dọn quét, nhân tìm đồ đựng rác không ra, con mới túm trước bụng để đem bỏ. Các huynh đệ không tin, cứ lại đây xem.

Tế Ðiên nói rồi, lấy tay gỡ nút vạt áo ra, đất cát rơi xuống lả tả. Lão phương trượng cả giận, nói:

- Hay cho Quảng Lượng, ông dám vu khống cho người hiền là kẻ trộm. Tội đó phải phạt đòn mới được.

Chúng tăng sợ xanh cả mặt, không khỏi bàn tán xôn xao. Bỏ mặc tiếng ồn ào, Tế Diên nhắm hướng Tây Hồ đi tới. Thấy bên gốc cây có người thắt thòng lọng sắp treo mình, Tế Ðiên lật đật đến cứu người đó.

Thật là:

Người ngay mắc mạn gặp Thánh Tăng,

Thất lạc cha con hợp một nhà.


Message edited by NoiVoiDauGoi - Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:42 PM
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:41 PM | Message # 3
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 2



Ðổng Sĩ Hoằng đợ con chôn mẹ
Hoạt La Hán cứu nạn người hiền.



Thơ rằng:

Có công tìm tiên cảnh

Tiên cảnh nào đâu xa

Trước mắt không tham luyến

Trong lòng ắt thảnh thơi

đất trời thênh thang rộng

Ung dung ngày tháng dài

Suốt đời an bổn phận

Nào phải đắn đo chi.

Tế Ðiên Hòa thượng đi đến Tây Hồ thấy một người đang thắt thòng lọng định treo cổ, vội bấm linh quang biết rõ mọi việc. Nguyên người định treo cổ có tên là Ðổng Sĩ Hoằng ở huyện Tiền Ðường, tỉnh Chiết Giang, thờ mẹ rất hiếu thảo. Cha mất sớm, mẹ họ Tần cưới cho người vợ họ Ðỗ, chẳng may gãy gánh giữa đường, để lại một đứa con gái khá lanh lợi tên là Ngọc Thơ. Ðổng Sĩ Hoằng nhờ nghề thợ bạc sống qua ngày. Ðến năm Ngọc Thơ 8 tuổi, bà cụ họ Tần nhuốm bệnh nặng. Ðổng Sĩ Hoằng hết lòng chăm sóc, hiềm nổi nhà nghèo không đủ sức lo thuốc thang cho mẹ già. Túng cùng, ông ta đành đem đợ đứa con gái của mình cho nhà tiến sĩ họ Cố lấy 50 lượng bạc, với thời hạn là 10 năm chuộc lại. Bà cụ Tần nhân không thấy mặt cháu mới gạn hỏi lý do.

Ðổng Sĩ Hoằng đổ thừa:

- Con bé đã về chơi bên ngoại.

Vì nhớ cháu, bà cụ ốm liệt thêm, bảy ngày dây dưa rồi mất. Ðổng Sĩ Hoằng phát mãi hết những đồ vật có giá trị trong nhà để chôn cất mẹ già xong, cũng đến phủ Trấn Giang làm mướn qua ngày. Thấm thoát đã 10 năm, tính lại số tiền dành dụm cũng dễ đến 60 lượng bạc. Ðổng Sĩ Hoằng định trở lại làng cũ chuộc con về rồi tìm mua một ngôi nhà cũ để cha con ở. Ngày kia đến Lâm An, ngụ lại khách điếm ngoài cửa Tiền Ðường, chờ hôm sau về ngõ hẻm cũ hỏi thăm nhà Cố tiến sĩ. Nào ngờ, người lối xóm đều bảo: “Cố tiến sĩ đã đi nhận chức ở tỉnh nào xa lắm, bây giờ không biết đi phương nào. . .”. Ðổng Sĩ Hoằng nghe nói thế như sét nổ bên tai, như rơi tuột giữa vực thẳm, cố dọ hỏi khắp nơi lân cận cũng không biết Cố đại nhân trấn nhậm ở đâu và con gái mình xiêu dạt phương nào. Buồn bực, Ðổng Sĩ Hoằng vào quán rượu uống ít chén giải sầu. Uống vào mấy chén rượu say túy lúy, chân thấp chân cao bước ra khỏi quán, quên cả đường về nơi ngụ, cả đến gói bạc rơi rớt lúc nào cũng chả hay. đến khi tỉnh rượu, rờ lại gói bạc không còn. Ðổng Sĩ Hoằng chậm chạp đi về phía bờ rừng, càng nghĩ càng thêm rầu rĩ: “Muốn tìm con gái rốt cục chẳng thấy được mặt, gói tiền dành dụm bao năm vô ý trắng tay, chi bằng chết phứt cho xong”. Nghĩ thế rồi Ðổng Sĩ Hoằng đến bên rừng, lần mở thắt lưng buộc lên nhánh cây và làm một cái thòng lọng, sắp sửa đút đầu vào. Ngay lúc đó, có một vị Hòa thượng vừa đi vừa than thở: “Chết! Chết! Phải chết mới được, chết còn sướng hơn sống trên đời. Ta treo cổ quách cho xong”. Vừa nói vừa mở thắt lưng dòm lên trên cây định buộc. Hòa thượng ấy phục sức lôi thôi, bộ dạng nửa người nửa ngợm. Có thơ rằng:

Mặt chẳng lau, đầu chẳng cạo,

Mắt say hé mở nhắm liền vô,

Như điên như dại, như khờ khạo,

Gặp chỗ khôi hài thích giở trò,

Tăng y rách nát chẳng kín thân,

Trên dưới xun xoe tiền rủng rẻng,

Tơi tả quanh mình khiếu với chầm,

Giày dây đứt nối đỏ cùng đen,

Tăng hài mòn rách còn lại đế,

Sức mạnh cặp đùi tuy nhỏ thó,

Càn khôn bốn bể mặc tiêu dao,

Qua sông trèo núi nhanh như gió,

Kinh chẳng đọc, thiền bất biết,

Rượu thịt tối ngày, giở trò xiếc,

Thức mê khuyến thiện độ quần sinh,

Cứu vớt nhân gian bất bình diệt,

Ðổng Sĩ Hoằng liếc mắt theo dõi, nghe Hòa thượng nói: “Ta chết cho rảnh”, rồi thò vào thòng lọng. Ðổng Sĩ Hoằng lật đật chạy đến, nói:

- Này Hòa thượng ơi, ông vì cớ gì mà làm việc uổng đời như vậy?

Tế Ðiên nói:

- Ba năm nay, tôi theo sư phụ đi hóa duyên khắp nơi, cực khổ trăm điều, tính lại chỉ vừa năm lượng bạc. Hôm nay sư phụ sai tôi ra chợ sắm hai bộ tăng bào và tăng mão (mũ ni). Thèm rượu quá, tôi ghé vào quán uống chơi vài chén, ngờ đâu say quá đánh rơi mất 5 lượng bạc mang theo. Bây giờ tôi còn mặt mũi nào trở về gặp sư phụ nữa. Mất tiền này, sư phụ tôi thế nào chẳng nổi giận đánh mắng. Nghĩ tới nghĩ lui, thôi thà chết cho khoẻ.

Ðổng Sĩ Hoằng nghe nói thế, liền nói:

- Này Hòa thượng, 5 lượng bạc có xá gì mà ông lại muốn tìm cái chết. Tôi cũng làm người mắc nạn, sẳn trong túi có 5 – 6 lượng bạc vụn để cũng chả làm gì. Ông lại đây, tôi đem số tiền giúp đỡ ông.

Nói xong thò tay vào bọc lấy bạc đưa cho Tế Ðiên. Tế Ðiên cầm bạc 5 trong tay, cười ha hả nói:

- Bạc của ông không tốt bằng bạc của ta, lại vụn nát lấm chấm. Tuy vậy cầm tạm cũng được.

Ðổng Sĩ Hoằng nghe nói không vui, thầm nghĩ: “Mình đã biếu ông hết cả tiền mà ông còn chê là bạc xấu!”. Rồi nói:

- Hòa thượng ơi, có tiền rồi đó, ông mặc ý mà xoay xở đi.

Tế Ðiên nói: Tôi đi nhé.

Ðổng Sĩ Hoằng lẩm bẩm: “Ông Hòa thượng này thật chẳng biết điều chút nào cả, mình có bao nhiêu cho hết mà ông lại còn chê là bạc xấu. Lúc đi, họ tên mình ông cũng không hỏi, cả đến tiếng cám ơn cũng không. Thiệt là hạng hạ cấp. Ôi, để chết đi cho rảnh”. Ðang lúc đùng đùng nổi giận như thế, lại thấy Tế Ðiên từ đằng kia trở lại nói:

- Hòa thượng ta một khi thấy bạc là quên hết, cũng không hỏi ân công tên họ là gì? Tại sao ra nông nỗi thế?

Ðổng Sĩ Hoằng đem việc mình mang bạc đi bị mất ra sao lần lượt thuật lại.

Tế Ðiên nói:

- Té ra ông cũng là người mất bạc để cha con không được gặp mặt nhau. Như vậy ông chết là đáng lắm! Thôi ta đi nhé!

Ðổng Sĩ Hoằng nghe thế, giận nói:

- Ông Hòa thượng này thiệt mất lịch sự quá, mở miệng nói toàn những việc không đâu vào đâu.

Tế Ðiên đi được năm sáu bước, quay lại hỏi:

- Này Ðổng Sĩ Hoằng, ông muốn chết đó là muốn chết thiệt hay chết giả?

Ðổng Sĩ Hoằng nói:

- Tôi muốn chết thiệt thì sao?

Tế Ðiên nói:

- Ông muốn chết thiệt hử? Ta sẽ giúp ông trọn tình trọn nghĩa: Bộ quần áo ông đang mặc đáng giá năm sáu lượng bạc. Khi ông chết bị chồn xé, quạ rỉa rách nát cũng uổng, chi bằng cởi ra đưa cho ta. Cởi hết ra, cởi hết ra, chết chẳng là thoải mái lắm sao?

Ðổng Sĩ Hoằng nghe thế, giận run cả người, nói:

- Hay cho Hòa thượng, ông trọn tình trọn nghĩa quá! Tôi với ông bèo nước gặp nhau, tôi cho ông mấy lượng bạc, ông lại nói với tôi những lời khó nghe nhỉ?

Tế Ðiên vỗ tay cười ha hả nói:

- Lành thay, lành thay! Ông chưa muốn chết vội, ta hãy hỏi ông: số bạc ấy đã mất rồi, ông lại muốn chết. Số tiền 50 – 60 lượng kể có là bao, ta sẽ tìm giùm con gái ông có bằng lòng không?

Ðổng Sĩ Hoằng nói:

-Hòa thượng ơi, số tiền mang đi chuộc con tôi đã đánh mất rồi. Giả sử bây giờ có tìm gặp nó, tôi cũng không biết lấy gì để chuộc ra được.

Tế Ðiên nói:

- Ðược, được, ta sẽ có cách. Ông cùng đi với ta nhé!

Ðổng Sĩ Hoằng hỏi:

- Hòa thượng hiện tu ở chùa nào? Và quý hiệu là chi?

Tế Ðiên nói:

- Bần đạo tên là Ðạo Tế, tu ở chùa Linh Ẩn trên núi Phi Lai nơi Tây Hồ, người ta thường gọi là Tế Ðiên tăng.

Ðổng Sĩ Hoằng thấy Hòa thượng nói năng khác thường, lại có ý cứu vớt hoạn nạn cho mình, bèn nói:

- Thưa sư phụ, chúng ta sẽ đi đâu?

Tế Ðiên chỉ nói: Ði!

Ðoạn xoay mình cắp tay Ðổng Sĩ Hoằng đi tới trước, vừa đi vừa hát:

Ði đi đi, dạo dạo dạo.

Không thị, không phi suốt tháng năm.

Ngày nay mới biết xuất gia quý.

Ăn năn thuở trước kiếp ngựa trâu!

Ân với ái? Chỉ là mộng ảo.

Vợ cùng con? Chi khác ma đầu!

Chi bằng ta, tay trắng với một bầu.

Chi bằng ta, qua phố phủ, kinh châu.

Chi bằng ta thong thong thả thả.

Chi bằng ta lãng đãng giang hồ

Suốt ngày vui sống đời thư thả,

Cũng chẳng ưu tư cũng chẳng sầu.

Vẹt gót giày băng đồng trèo núi,

Rách tăng y vượt suốt qua sông

Ta cũng hát hè ca với xướng

Ta cũng cương hề lại cũng nhu.

Ngoài thân thể hợp cùng trời đất

Nào ngại chi đời chẳng chỗ dung.

Trời cũng thây, đất cũng thây.

Vui vui vẻ vẻ ngạo vương hầu.

Buồn ngủ khoanh tròn say một giấc,

Tỉnh lại sự đời chả đáng chi.

Ðến một ngõ hẻm, Tế Ðiên bảo Ðổng Sĩ Hoằng:

- Ông đứng ở ngoài này nhé, giây lát sẽ có người ra hỏi ngày tháng năm sinh của ông. Ông cứ thực mà nói, đừng đi đâu nhé. Hôm nay ta sẽ làm cho cha con ông được đoàn tụ.

Ðổng Sĩ Hoằng nói:

- Cúi xin Thánh Tăng từ bi thương xót.

Tế Ðiên ngước mắt nhìn thấy mười mấy tên gia đinh đang ngồi phía trong cổng một tòa nhà cao lớn với biển đề treo cao, biết rằng đây là nhà một vị quan nào, bèn xăm xăm đi tới hỏi:

- Kính chào chư vị, đây có phải là nhà Triệu lão gia không?

Gia nhân thấy vị Hòa thượng ăn mặc lôi thôi, trả lời:

- Phải đấy, chủ nhân chúng tôi họ Triệu, Hòa thượng hỏi có việc chi?

Tế Ðiên nói:

- Nghe người ta nói bà cụ ở nhà bệnh thế trầm trọng sợ e khó sống, ta muốn đến tìm chủ nhân của các người để trị bệnh cho bà cụ.

Gia nhân nói:

- Hòa thượng đến thật đúng lúc; bà cụ, nhân vì tiểu chủ bệnh, nặng lòng lo cho cháu, lo quá thành bệnh. Gia chủ đã rước khá nhiều thầy thuốc đến điều trị mà chưa thấy thuyên giảm. Gia chủ chúng tôi tên là Triệu Văn Hội rất có hiếu với mẹ, thấy bà cụ bị bệnh nặng, hễ có thầy thuốc nào tài giỏi đều cho người mời đến để trị bệnh. Gần đây có một vị viên ngoại họ Tô tên Bắc Sơn, cũng có bà cụ mắc bệnh. Bên đó mời được một vị lương y tên là Lý Hoài Xuân, trác hiệu là Trại thúc hòa, rất tinh thông y lý. Chủ nhân chúng tôi vừa sang nhà Tô viên ngoại để mời y sĩ về.

Vừa nói đến đó, bên ngoài có một đoàn người cưỡi ngựa về tới. Ba người đi trước, một người cưỡi ngựa bạch, tướng mạo đẹp đẽ, tuổi trạc 30, đầu đội khăn bốn góc, trên có cài phiến ngọc, mình mặc áo cừu viên ngoại, trên đó thêu hàng trăm con bướm nhỏ, chân mang đôi giày gấm, da mặt hơi trắng, dưới cằm không râu. Người này chính là Trại thúc hòa Lý Hòa Xuân.

Người thứ hai đội khăn lam chéo góc thêu khảm ngọc đẹp, mình mặc áo cừu lam, chân mang giày xanh, mặt như trăng rằm, đôi mắt hiền từ, râu ba chòm phất phơ trước ngực. Người này chính là Tô bắc Sơn viên ngoại.

Người thứ ba cũng có dáng dấp một phú ông viên ngoại, mặt trắng râu dài, ngũ quan thanh tú.

Tế Ðiên thấy rồi, ra trước đầu ngựa nói:

- Xin ba vị khoan đi đã, Hòa thượng ta chờ quý vị đã lâu rồi.

Triệu Văn Hội ở phía sau thấy một vị Hòa thượng khùng khùng cản lối, vượt lên trước nói:

- Này Hòa thượng, chúng tôi có việc gấp, rước thầy thuốc về trị bệnh cho mẹ già. Hòa thượng muốn hóa duyên thì để ngày khác, hôm nay không được đâu.

Tế Ðiên nói:

- Không phải đâu, Hòa thượng ta đâu có đi hóa duyên. Nghe nói trong quý phủ có bà cụ bệnh nặng, ta muốn đến thăm bệnh nhơn, phải đi cứu bệnh mới được. Ý của Hòa thượng ta chỉ cốt đến trị bệnh mà thôi.

Triệu Văn Hội nói:

Tôi đã mời thầy thuốc rồi, vị này là một danh y đương thời. Thôi, Hòa thượng đi đi, tôi không mời ông.

Tế Ðiên quay nhìn Lý Hoài Xuân với một mắt, nói:

- Ông là danh y đương thời hử? Tôi xin hỏi ông một vị thuốc này xem trị bệnh gì?

Lý Hoài Xuân nói:

- Xin Hòa thượng cứ hỏi.

Tế Ðiên nói:

- Bánh bao mới ra lò trị bệnh gì?

Lý Hoài Xuân nói:

- Sách bản thảo không có nói vị đó, tôi không biết.

Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Cả đến vìệc quan trọng dường ấy ông không biết mà lại dám xưng là danh y. Này nhé, bánh bao mới ra lò là trị bệnh đói, có phải không? Ông nói không trôi, Vậy ta sẽ vào nhà họ giúp đỡ ông một tay nhé!

Lý Hoài Xuân nói:

- Ðược, Hòa thượng muốn đi thì cứ đi.

Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn cũng không tiện ngăn trở, lấy mắt nhìn nhau rồi cùng nhau tiến vào cổng.

Ðến trước phòng của Triêu thái thái, gia nhân dâng trà xong, Lý tiên sinh chẩn mạch cho bà cụ, nói:

- Ðây là chứng đàm ứ uất kết bừng lên, Phải trị bằng cách cho mửa cục đàm đó ra mới lành bệnh. Bà cụ tuổi tác đã cao, khí hhuyết kém suy, không thể trị bằng cách đó được. Xin viên ngoại thỉnh một vị lương y khác cao minh hơn.

Triệu Văn Hội nói:

- Thưa tiên sinh, không ở trong y giới, làm sao tôi biết vị nào là cao minh để tôi mời, xin tiên sinh vui lòng tiến cử hộ.

Lý Hoài Xuân nói:

- Ở Lâm An này chỉ có tôi và Thang Vạn Phương mà thôi. Bệnh nào ông ấy trị được, tôi cũng trị được. Ngược lại, bệnh nào tôi trị không được, ông ấy cũng đành thúc thủ mà thôi. Chúng tôi tài học ngang nhau.

Câu chuyện đến đó bỗng nghe Tế Ðiên nói:

- Các ông đừng quá lo, để Hòa thượng ta chẩn mạch bà cụ thử xem.

Triệu Văn Hội là người con chí hiếu, nghe thế lật đật nói:

- Phải đấy, xin kính mời Hòa thượng.

Lý Hoài Xuân cũng muốn xem tài nghệ Hòa thượng ra sao. Chỉ thấy Tế Ðiên đến trước lão thái thái vỗ tay nói:

- Lão thái thái chưa chết được đâu, xương sọ còn cứng lắm mà.

Lý Hoài Xuân nói:

- Hòa thượng này khéo nói chuyện tầm ruồng không.

Tế Ðiên nói:

- Ðược rồi, để Hòa thượng ta đem cục đàm ra là xong.

Nói rồi, Tế Ðiên đến trước lão thái thái nói:

- Đàm a đàm, ra đây mau, ra đây mau! Mi ở trong đó tức chết lão thái thái ư?

Lý Hoài Xuân cười thầm: “Thực là đồ bá vơ ở đâu”.

Chỉ thấy lão thái thái ho ra một cụ đàm. Tế Ðiên thò tay vào mình lấy một viên thuốc vò vò, hô:

- Đem một chén nước âm dương ra đây!

Giây lát, gia nhân đem nước tới.

Triệu văn Hội vội hỏi:

- Thuốc đó tên là chi mà có thể trị bệnh cho mẫu thân của tôi được?

Tế Ðiên cười lớn, tay cầm hoàn thuốc, nói:

Thuốc này tùy thân dùng mãi mãi

Chẳng phải hoàn tán với cao đơn

Tạp bênh uốngvào liền hiệu nghiệm

Bát bửu tiên y Trừng nhãn hoàn.

Tế Ðiên nói xong, thà viên thuốc vào chén nước, nói:

- Lão thái thái vì lòng lo lắng nóng nảy, nên bị một cục đàm vọt lên lập tức hôn mê bất tỉnh. Quý vị nên khéo léo phò dưỡng lão bà và cho uống viên thuốc này, lập tức có công hiêu.

Triệu Văn Hội nghe nói như thế, biết Hòa thượng này lai lịch phi thường nên nói nguyên nhân gây bệnh rất đúng, vội nói:

- Bạch Thánh tăng, xin người từ bì cứu giúp cho. Mẹ cửa con nhân vì quá lo lắng cho bệnh tình của cháu nội, lòng dạ cấp bách mà ra nông nỗi. Con có một đứa bé mới lên 6 tuổi không biết bị chứng bệnh oan nghiệt gì mà cứ hôn mê bất tỉnh luôn. Mỗi lần như thế, mẹ con lo sợ cuống cồng mới bị đàm chặn nghẹt như thế. Sư phụ có ý trị bệnh cho mẹ con, luôn tiện xin rủ lòng thương chữa trị cho cháu.

Tế Ðiên bảo đem thuốc đổ cho bà cụ, giây lát đàm hạ bình phục như xưa.

Triêu Văn Hội đến thỉnh an lão thái thái rồi lại dập đầu cầu xin Hòa thượng trị bệnh cho con mình.

Tế Ðiên nói:

- Muốn Hòa thượng ta trị cho thằng bé hết bệnh không phải là chuyện khó, chỉ cần y theo những điều kiện sau đây.

Triệu văn Hội hỏi:

- Bạch Hòa thượng, điều kiện đó thế nào?

Tế Ðiên thông thả nói:

- Ðiều kiện ấy thế này. . . thế này. . !


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:45 PM | Message # 4
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 3



Ở Triệu gia thi thiền cơ trị bệnh
Ngầm cứu người nói Phật pháp linh cơ




Thơ rằng :

Cây cỏ hương hoa cũng hiếu thiền

Mấy người nấy ná thoát trần duyên

Ðạt Ma Tây trúc truyền Ðông độ

Ðạo Tế Tây Hồ cưỡi rượu thuyền

Mưa núi mịt mờ xiên lại thẳng

Giọt sen lác đác khẳm rồi nghiêng

Mây trắng la đà trôi tự tại

Bên rừng thong thả ấy thần tiên.

Tế Ðiên nói:

Bệng đó trị không khó, ngặt vị dẫn thuốc hơi khó tìm. Phải tìm cho được người đàn ông 52 tuổi, sanh ngày mồng 5 tháng 5 và đứa con gái 19 tuổi sanh ngày mồng 5 tháng 8. Lấy nước mắt của hai người đó hòa với thuốc uống mới hiệu nghiệm.

Tô Bắc Sơn và Lý Hoài Xuân thấy Hòa thượng có hành động khác thường như vậy, bèn hỏi Hòa thượng hiện ở đâu, pháp hiệu là chi? Tế Ðiên một mạch nói rõ.

Triệu Văn Hội sai gia nhân tìm một người đàn ông 52 tuổi sanh ngày mồng 5 tháng 5. Mọi người đổ xô đi tìm, sang đến các nhà kế cận cũng không có. Có người đúng tuổi mà ngày tháng sanh không đúng; có người ngày tháng đúng nhưng số tuổi không phải. Một gia nhân đi ra ngoài cổng thấy một người đàn ông đang đứng, tuổi trạc 50, liền chấp tay hỏi:

- Xin hỏi lão huynh họ tên chi?

Người kia đáp:

- Tôi họ Ðổng, tên Sĩ Hoằng, vốn người Tiền Ðường. đang ở đây đợi một người.

- L ão huynh có phải 52 tuổi không?

- Ðúng.

- Lão huynh sanh ngày mùng 5 tháng 5?

- Quả vậy.

Gia nhân vội bước tới nói:

- Xin mời Ðổng lão gia đi cùng tôi vào trong này, gia chủ tôi có lời mời.

Ðổng Sĩ Hoằng nói:

- Chủ nhân của ngươi làm sao biết ta mà mời? Ngươi phải nói rõ ta mới chịu đi.

Gia nhân bèn đem việc tìm vị dẫn thuốc kể lại, Ðổng Sĩ Hoằng mới chịu theo vào ra mắt Tế Ðiên và Triệu Văn Hội. Tế Ðiên nói:

- Mau đi tìm đứa con gái 19 tuổi sanh mồng 5 tháng 8 mới xong.

Ðổng Sĩ Hoằng nghe nói đến ngày tháng sanh của người con gái giống hệt ngày sanh của con gái mình, nên hồi hộp không an. Một lát, gia nhân vào thưa:

Cố nhưng nhưng, có một đứa a hoàn tên là Xuân Hương, 19 tuổi, ngày sanh đúng là mồng 5 tháng 8, tôi đã dẫn vào đây.

Dứt lời, từ bên ngoài một người con gái đi vào. Ðổng Sĩ Hoằng nhìn ra chính là con gái mình, động nối thương tâm, lệ tuôn lã chã. Cô gái thấy mặt cha mình, mừng vui lẫn lộn, sụt sùi rơi nước mắt. Tế Ðiên vỗ tay cười ha hả:

- Lành thay, lành thay! Hôm nay ta làm một việc lợi cả ba, hoàn toàn mỹ mãn.

Nói rồi thò tay vào túi lấy viên thuốc, bảo gia nhân lấy nước có trộn nước mắt vừa hứng hòa với thuốc đem đổ cho Triệu công tử. Giây lát, công tử tinh thần thanh sảng, lành mạnh như xưa. Tế Ðiên mới kể cho Triệu Văn Hội nghe việc Ðổng Sĩ Hoằng mất bạc định treo cổ và được mình đưa đến đây để cha con gặp nhau. Triệu Văn Hội giúp cho Ðổng Sĩ Hoằng 100 lượng bạc để cha con làm vốn sanh nhai và tìm mua cho Cố nhưng nhưng một đứa a hoàn khác.

Lý Hoài Xuân hỏi ra mới biết Hòa thượng là Tế Ðiên trưởng lão ở chùa Linh Ẩn. Tô Bắc Sơn tới trước Hòa thượng đảnh lễ cầu xin từ bi trị bệnh cho mẫu thân. Tế Ðiên đứng rột dậy, nói:

- Hòa thượng ta đến nhà ông nhé.

Tô Bắc Sơn nói: Thế thì quý lắm.

Triệu văn Hội biết không thể lưu lại được, bèn đem 100 lượng bạc tặng cho Tế Ðiên để sắm y phục.

Tế Ðiên nói:

- Ngươi muốn tạ ơn Hòa thượng ta, hãy kề tai nghe ta nói như vầy. . . như vầy. . .

Triệu Văn Hội thưa:

- Xin sư phụ chớ lo, ngày hôm nay con sẽ đến đó.

Dặn Triệu Văn Hội xong, Tế Ðiên và Tô Bắc Sơn cùng ra khỏi nhà họ Triệu. Vừa đến thư phòng, Hòa thượng hỏi:

- Lệnh đường lão thái thái mắc bệnh đến nay đã rước được mấy vị thầy thuốc chẩn trị?

Tô Bắc Sơn nói:

- Thật không dối chi Hòa thượng, từ trước tới nay cũng mời khá nhiều thầy thuốc nhưng bệnh chưa thấy thuyên giảm. Trước đây có mời một vị thần y là Thang Vạn Phương đến chẩn trị bệnh cũng không thấy bớt, kế đến mời Lý Hoài Xuân đến xem mạch, bệnh vẫn trơ trơ. Vị thầy thuốc nào đến xem mạch cũng bảo là do tuổi cao khí huyết suy kém không thể phò dưỡng được. Tôi chỉ biết cố hết sức mình, được từng nào hay từng ấy. Hôm nay gặp được Thánh Tăng, thật là tam sinh hữu hạnh, lão mẫu chắc sẽ lành bệnh.

Nói rồi dẫn Hòa thượng đi thăm bệnh. Qua hiên thanh trúc đi suốt năm gian nhà đến phòng lão thái thái. Thái thái đang nằm trên giường. Hai đứa a hoàn thấy Hòa thượng tăng bào rách nát bèn che miệng cười.

Tế Ðiên nói: Ðừng cười bộ y phục rách nát, hãy nghe ta nói:

Chớ nhạo không tiền y phục rách,

Bản lai diện mục có mới hách.

Gia nhân dâng trà lên. Thấy Tế Ðiên cầm một viên thuốc, Tô Bắc Sơn liền hỏi:

- Bạch sư phụ, thuốc đó tên chi?

Ðây là diệu dược của Hòa thượng ta, tên là “Yếu mạng đan”. Người sắp chết uống vào sẽ hồi sinh ngay, nó còn một tên khác là “Thần thối trừng nhản hoàn”.

Tô Bắc Sơn lấy thuốc hòa đổ cho mẹ . . . Giây lát thái thái bình phục như xưa. Tô Bắc Sơn dặn người dọn cơm rượu rồi mời Hòa thượng vào thư phòng dùng tiệc, đàm luận việc cổ kim. Tế Ðiên chữ nghĩa đầy mình, kinh luận gồm đủ, biện bác thao thao. Tô Bắc Sơn mới biết trước mặt mình là một ngoại thế cao nhân, bèn bái Hòa thượng làm thầy và thay y phục khác cho Tế Ðiên. Tế Ðiên một mực khước từ và nói:

- Ngươi muốn đền ơn ta chỉ cần làm như vầy. . . như vầy. Ta đi đây.

Tô Bắc Sơn nói:

- Bạch sư phụ, nhà này coi như là nhà của sư phụ, lúc nào thích đến xin sư phụ cứ đến ở đây.

- Tốt lắm, bây giờ ta phải về chùa.

Tế Ðiên nói rồi bước ra hè phố vừa đi vừa hát nghêu ngao:

Nào có ra chi chức tước hầu,

Ăn sang mặc đẹp quá phong lưu,

Ðến nay tính lại còn ai nhỉ,

Nắng quái gò hoang nắm cỏ rầu!

Như bọn ta suốt đời thư thả,

Xem việc đời nhẹ tựa giấc chiêm bao,

Dắt người mê trở về bến giác,

Phá tâm mê trực nhận bản lai.

Tế Ðiên về chùa ngủ ở lầu Ðại Bi suốt ngày. Quảng Lượng muốn hại Tế Ðiên cho bỏ ghét để trả mối thù ngày nọ, bèn sai tên đệ tử là Tâm Thanh lén phóng hỏa đốt lầu giết chết Tế Ðiên. Lần đầu Tâm Thanh mới vừa lum khum châm lửa, bị Tế Ðiên đái tưới trên đầu, nước văng tung tóe, lửa tắt ngấm. Lần thứ hai, lầu Ðại Bi bén lửa, khói bốc mù trời, tàn lửa bắt tứ tung. Chúng tăng trong chùa giật mình tỉnh giấc, hô:

- Cháy! Cháy! Tế Ðiên Hòa thượng ngủ trên lầu chắc bị lửa cháy chết rồi! Thật là họa kiếp.

Mọi người hò nhau dập tắc lửa. Giám tự tăng Quảng Lượng cho là phen này Hòa thượng điên thế nào cũng bị lửa đốt cháy chết. Còn đương mừng thầm, bỗng thấy Tế Ðiên từ chánh điện bước ra cười ha hả, nói:

Người nào bảo chết trời không nỡ,

Trời bắt người chết nào khó chi!

Quảng Lượng thấy Tế Ðiên còn sống nhăn, trong lòng không vui, trở vào bạch với Phương trượng:

Bạch Phương trượng, Ðạo Tế để lửa cháy lầu Ðại Bi, phải nên trị tội ông ấy mới được.

Lão Phương trượng nói:

- Lửa cháy lầu Ðại Bi, đó là ý trời. Ðạo Tế còn có can chi vào việc đó.

Quảng Lượng lại bạch Phương trượng:

- Trong nước có phép vua, ở chùa có thanh quy: Trong chùa chúng ta áng thời khắc mà nổi lửa, ăn cơm, ngủ nghỉ, Ðạo Tế để đèn chong suốt đêm, lửa phàm lẫn lửa thần mới ra cớ sự. Tội cháy lầu Ðại Bi thuộc về ông ấy. Cứ theo thanh quy thì tội ấy phải bị thâu hồi y bát, giới điệp, đuổi ra khỏi chùa không cho làm Tăng nữa.

Lão phương trượng nói:

Phạt như thế thì quá nặng, bắt ông ta đi khuyến hóa về trùng tu lại chùa là xong.

Bảo thị giả kêu Ðạo Tế vào dạy việc. Giây lát, Ðạo Tế từ bên ngoài bước vào thưa:

- Bạch phương trượng, Ðạo Tế ra mắt Ngài.

Lão phương trượng nói:

- Này Ðạo Tế, ông không giữ thanh quy, chong đèn cả đêm làm lầu Ðại Bi bị cháy rụi. Ta phạt ông bằng cách đi hóa duyên trùng tu lại ngôi lầu ấy. Công tác trùng tu cần đến muôn lượng bạc. Ông đến hỏi sư huynh ông xem cho thời hạn hóa duyên là bao lâu.

Tế Ðiên quay sang Quảng Lượng hỏi:

- Thưa sư huynh, sư huynh cho thời hạn tiểu đệ là bao nhiêu ngày?

Quảng Lượng nói:

- Ba năm được không?

Tế Ðiên nói:

- Không được, lâu quá! Xin rút ngắn lại một ít.

- Một năm được không?

- Không được, còn lâu lắm, Xin rút ngắn thêm nữa.

- Thôi nữa năm nhé?

Tế Ðiên lắc đầu nói còn lâu quá. Quảng Lượng đưa thời hạn một tháng, Tế Ðiên vẫn còn chê lâu quá. Quảng Lượng lại nói:

- Vậy trong một ngày ông có thể hóa duyên đủ một muôn lượng được không?

- Một ngày hóa duyên một muôn lượng hả? Thôi huynh đi đi, tôi không đi đâu.

Tế Ðiên nói rồi cười ha hả. Chúng tăng xôn xao cùng nhau nghị luận:

- Trong thời hạn một trăm ngày cho ông ấy đi hóa duyên, nếu được một muôn lượng bạc sẽ lấy công chuộc tội.

Tế Ðiên ưng chịu mỗi ngày đi hóa duyên, ở Lâm An cho thuốc cứu người phổ độ chúng sanh, thâu đồ dệ ký danh không xiết kể nhưng giả bộ khùng điên không lộ bản lai diện mục của mình. Một ngày kia, Tế Ðiên đang ở sườn núi phía sau ngọn Phi Lai, gặp hai người thợ săn vác thỏ, chồn, nai, hươu, bèn bước ra cản lối hỏi:

- Xin hỏi quý vị họ tên là chi? Và định đi đâu đó?

Người kia trả lời:

- Tên là Trần Hiếu, trác hiệu là Mỹ nhiệm công, còn người này là anh em kết nghĩa với tôi tên là Bệnh phục thần Dương Mãnh, chúng tôi từ trên núi trở về.

Chẳng hay sư phụ là ai?

Tế Ðiên nghe nói cười ha hả, hát:

Sáng ra ngoài hang núi

Suốt ngày bắn với săn

Vì muốn béo thân mình

Kẻ khác đành chịu chết.

Dương Mãnh, Trần Hiếu biết Hòa thượng là bậc cao nhân ẩn sĩ, lập tức quỳ xuống hành lễ, bái Tế Công làm thầy và nói:

- Anh em tôi từ nay xin đổi nghề, theo bèn bạn làm cho h ảng bảo tiêu để sinh sống, cải ác tùng thiện.

Tế Ðiên nói:

- Tốt lắm, các ngươi không bao lâu sẽ phát đạt.

Hai người từ tạ ra về. Tế Ðiên ở trong chùa suốt ngày chè chén lu bu, chẳng đi hóa duyên nơi nào hết. Quảng Lượng cũng không thèm hối thúc, nghĩ rằng cứ đến kỳ hạn y luật mà đuổi Tế Ðiên ra khỏi chùa là xong.

Thời gian qua mau, thấm thoát đã hơn ba tháng mà Tế Ðiên chẳng hóa duyên được một lượng bạc nào.

Ngày kia, Tế Ðiên thấy vị sư giữ cổng chùa đi vắng, bèn đến điện Hộ Pháp ngắm nhìn thần tượng uy nghi, tướng mạo đẹp đẽ rồi nói:

- Lão Vi Ðà này, ông đi chơi với ta nhé!

Nói rồi vác ông Hộ Pháp đi ra cổng. Kẻ qua lại hai bên đường xì xào: “Mấy vị coi kìa, từ đó tới giờ Hòa thượng đi hóa duyên rất nhiều, có vị chỉ cầm cái chìa khóa lớn, có vị gõ cái mõ thật to, chứ chưa có ai vác ông Hộ Pháp Vi Ðà đi khắp phố như thế này”.

Tế Ðiên cười hề hề nói:

- Các người không biết nói lung tung thế, chớ đây là người giúp việc đắc lực trong chùa chúng tôi đây.

Mọi người nghe thế đều cười rộ.

Tế Ðiên đang đi bỗng ngước nhìn thấy phía trước có một luồng đen xông thẳng lên trời, bèn bấm linh quang rồi vỗ tay nói:

- Lành thay, lành thay! Ta đâu bỏ qua được.

Bên đường là một quán rượu tên Túy Tiên lầu, với bài thơ viết đại tự phía trước:

Thái Bạch rượu vào thơ trăm thiên

Trường An phố thị ngát hơi men

Thiên tử cho vời trơ mắt ngó

Muôn tâu: thiên hạ, Tửu Trung Tiên.

Tế Ðiên bước vào nói:

- Ôi chao mệt quá, Chưởng quỹ đâu?

Bên trong nghe tiếng đi ra một chưởng quỹ, thấy khách đến chỉ là một Hòa thượng đi hóa duyên, bèn nói:

- Hòa thượng ơi, ở đây mồng một và ngày rằm chúng tôi mới thí tiền.

Tế Ðiên nói:

- Phải đó, ở đây ngày rằm và mồng một mới bán cơm.

Rồi ra đứng chặn ngoài cửa. Giây lát từ hướng Ðông có ba người đi lại. Phổ ky mời khách vào. Tế Ðiên đưa tay cản, nói:

- Ba vị muốn ăn cơm hử, ở đây ngày rằm và mồng một mới bán cơm.

Ba người khách nghe nói thế kéo nhau sang tiệm khác. Ba bốn mối như thế đều bị Tế điên xua đi hết.

Vị chưởng quỹ nổi giận, từ trong bước ra nói:

- Này Hòa thượng, ông đuổi khách của tôi đi chỗ khác hết là ý gì thế?

Tế Ðiên nói:

- Ta muốn ăn cơm, vừa bước vào cửa ông bảo cho biết là ngày mồng một và rằm, ta mới biết là ngày mồng một và ngày rằm các ông mới bán cơm chứ.

Chưởng quỹ nói:

- Tôi tưởng ông đi hóa duyên mới nói ngày mồng một và rằm chúng tôi mới thí tiền cho Tăng được.

Tế điên nói:

- Không phải đâu, ta đến ăn cơm mà.

- Vậy thì xin mời vào.

Tế Ðiên vác ông Hộ Pháp vào trong nhà, lựa một bàn sạch sẽ ngồi xuống, kêu mấy món ăn, bốn năm hồ rượu, ăn xong kêu tính tiền. Cộng tất cả tiền cơm rượu là một ngàn sáu trăm tám mươi tiền.

Tế Ðiên nói:

- Ghi sổ đi, hôm khác ta ăn nữa tính chung một thể.

Chưởng quỹ sớm lưu ý việc này, liền bước tới nói:

- Này Hòa thượng, ăn cơm thì phải trả tiền. Hôm nay Hòa thượng ăn cơm rồi không trả tiền không đi được đâu. Phải trả 1.680 đồng tiền đã.

Tế điên đang phân bua với phổ ky, bổng nghe bên ngoài có tiếng hét vang như sấm, hai người tướng mạo hùng vĩ bước vào.
 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:46 PM | Message # 5
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 4



Vác Hộ Pháp rượt yêu khắp trang viện
Bệnh phục thần giận đánh lão đại nhân




Có thơ rằng:

Cửa gỗ dựng rồi chửa muốn sang

Dõi nhìn chim chậu nhảy lan man

Nhà ngọc dễ chôn thiên cổ hận

Gác vàng khó đổi một thân nhàn

Mây giăng đầu núi soi lòng thác

Lá rụng rừng thu thấu viễn san

Thông già thở khói màu xanh biếc

Phải trái xem tuồng mây trắng ngang.

Nhắc lại Tế Ðiên đang cải lộn với phổ ky trong quán cơm, bỗng có hai người vén rèm đến trước Tế Ðiên vái chào. Người đi đầu thân hình cao lớn, đầu đội khăn lam kim tuyến có gắn hai hạt châu, mình mặc tiễn tụ bào màu lam, lưng thắt giây tơ, chân mang giày võ sinh, ngoài choàng áo lông thêu hoa, sắc mặt hơi vàng, mày dài mắt to, đôi mắt thần quang lóng lánh, mũi thẳng miệng rộng, dưới cằm vuông, bộ râu đen phất phơ trước ngực.

Người đi sau, tuổi ngoài hai mươi, đầu đội khăn đoạn thêu ngũ sắc, mình mặc áo đoạn tiễn tụ bào thêu ba đóa hoa lam, chân mang võ hài, choàng ngoài một áo cừu lam, mặt trắng bệch không huyết sắc như mùa giấy trắng. Vị đi trước chính là Mỹ nhiệm công Trần Hiếu, người đi sau là Bệnh phục thần Dương mãnh, hai người này từ hảng bảo tiêu trở về định lên Linh Ẩn tìm Tế Ðiên. Ðến ngang quán cơm nghe tiếng cãi cọ ồn ào liền vén rèm bước vào, thấy Tế Ðiên đang cải nhau với phổ ky vội bước tới chào và nói:

- Bạch sư phụ, sao sư phụ lại cãi nhau ở chỗ này? Mấy đứa này có khi dễ sư phụ không? Sư phụ nói cho chúng con biết để con đánh bọn nó một trận cho biết tay.

Trần Hiếu vội can:

- Này hiền đệ, chớ nên lỗ mãng vội, phải nói ra nguyên nhân đã.

Phổ ky trong quán thấy hai ngưòi ăn nói hung hổ như vậy, vội nói:

- Xin hai vị quan nhân chớ giận, nguyên do tại vị sư phụ đây vào ăn cơm không tiền trả lại nói những lời ngang bướng mới sinh cãi cọ như vậy.

Tế Ðiên nói:

- Phải đa, hai đồ đệ đến đây thật đúng lúc, tiệm cơm này làm khó dễ ta quá.

Trần Hiếu hỏi:

- Bạch sư phụ, tạo sao họ làm khó dễ sư phụ như vậy?

Tế Ðiên nói:

- Ta ăn cơm rồi, bọn họ không chịu cho đi cứ đòi tiền hoài.

Trần Hiếu nghe qua không nhịn được, tức cười nói:

- À, té ra là đòi tiền! Bèn quay qua nói: - Này chưởng quỹ, các nhười không biết vị Hòa thượng này ư? Đây là Tế Công trưởng lão, vị Phật sống ở chùa Linh Ẩn đó. Số tiền có là bao, Hòa thượng ăn uống hết bao nhiêu đừng đòi Hòa thượng, sau ba tháng anh em ta sẽ tính gộp một lần cho.

Chưởng quỹ nói: Chúng tôi xin tạ lễ thất kính!

Tế Ðiên hỏi: Các ngươi đã ăn cơm chưa?

- Chúng con ăn cơm rồi.

- Các ngươi vác tượng Hộ Pháp đi hóa duyên với ta nhé.

Trần Hiếu nói:

- Bạch sư phụ, đệ tử của sư phụ đều là danh giá phú hộ. Sư phụ cần nhiều nữa, chúng tôi chẳng dám thưa, chớ còn khoảng 9 – 10 lượng bạc, hiện chúng tôi có sẳn, cần chi sư phụ phải đi cho nhọc sức.

Tế Ðiên lắc đầu nói:

- Không được, không được! Hóa duyên là bổn phận của Hòa thhượng ta. Này Dương mãnh, người vác ông Hộ Pháp này cho Hòa thượng ta nhé.

Dương Mãnh vâng dạ rồi kê vai vác ngay. Ba người cùng ra khỏi quán cơm đi về hướng Ðông. Mấy người quen biết với Trần Hiếu và Dương Mãnh kề nhau xầm xì.

Trần Hiếu hổ thẹn đỏ mặt, đứng lại nói chuyện với nguời quen ở bên đường. Dương Mãnh hồn nhiên không biết mắc cỡ, cùng Tế Ðiên xăm xăm đi tới. Thấy bên đường có một tiệm trà mới khai trương, Tế Ðiên bảo Dương Mãnh để tượng Hộ Pháp xuống nghỉ. Ðoạn xăm xăm đến trước tiệm trà kêu lên: - Khổ dữ a! Khổ dữ a!

Mấy người làm công trong tiệm nghe Hòa thượng kêu khổ lật đật chạy ra hỏi:

- Hòa thượng đi mua trà hỉ?

- Không phải đâu! thấy tiệm mới khai trương ta đến chúc mừng đó chứ.

- À, té ra Hòa thượng đến chúc mừng. Xin mời vào, mời vào.

- Hòa thượng ta tới đây có hai việc: thứ nhất là đến chúc mừng, thứ hai là đến hóa chút duyên.

- Hòa thượng hóa duyên bao nhiêu?

- Không cần nhiều, 200 lượng thôi. Ðủ số ta mới đi.

- Tưởng chút ít, chứ còn số đó nhiều quá, tiệm tôi thứ xả không đủ. Thôi đi hóa duyên chỗ khác đi!

Tế Ðiên nghe thế, cười hà hà nói :

- Bây giờ ta xin 200 lượng, người cho thì thôi; tới chừng đứng bong không chỉ 200 đâu mà phải 400 lượng, qua xế phải 600 lượng, chiều tối phải 800 lượng; còn để giáp một ngày đêm thì cả tiệm trà nhà ngươi cũng tính chưa đủ số đó nhé!

Chưởng quỹ nghe nói biết là Hòa thượng khùng đến quấy rối. Có một người mua trà ưa xen việc tào lao, tới nói:

- Này Hòa thượng! Cửa hàng người ta mới khai trương, ông tới phá đám làm chi. Ông muốn xin vài ba tiền để mua hương đèn thì đây tôi cho ông; còn muốn vài ba điếu để có quần áo đổi thay thì hôm khác lại, cưỡi trên người tôi đây nè!

- Cưỡi trên người ông hả, ngươi cõng ta được à! Ha ha!

Người kia nghe những lời ngoắt ngoéo đó, nói:

- Này Hòa thượng, hóa duyên là hóa bao nhiêu tiền?

- Có 200 lượng bạc là ta đi ngay thôi, không lấy thêm một điếu nào hết.

Người ấy nghe Tế điên nói bắt quàng, bèn nghiêm sắc mặt, nói:

- Này Hòa thượng, ông đừng có đùa, tôi không chấp ông đâu. Thôi, ông đi hóa duyên cho đủ số đi!

- Không cần ông chấp với nê, ông cố mà xem ta hành sự sẽ biết.

Ðoạn kêu:

- Dương Mãnh, hãy để ý xem nhé! Hễ thấy có lão đạo sĩ nào từ phía Nam Hồ Ðồng đi tới, ngươi cứ nếu lại đập chết ngay trước tiệm trà, để cho chủ tiệm trà đến cửa quan đền mạng người ta chơi!

Dương Mãnh bản tính hồn nhiên, nghe Tế Ðiên bảo thế liền gật đầu vâng dạ, nhìn chăm chăm về phía Hồ Ðồng chờ đợi lão đạo sĩ. Quả nhiên không bao lâu, từ phía Hồ Ðồng đi lại một lão đạo sĩ mình cao tám thước, eo nhỏ lưng gù, đầu đội khăn đạo sĩ màu xanh, mình mặc đạo bào bằng đoạn màu lam thắt lưng tơ, chân mang giày thêu vớ trắng. Trên lưng lủng lẳng một cây bảo kiếm trong bao bằng da cá, đuôi gươm mấy tua màu vàng phất phơ theo gió. Vị đạo sĩ ấy mặt như trăng rằm, mắt mũi hiền từ, ngũ quan thanh tú, ba chòm râu thưa buông dài trước ngực, vừa đi vừa hát:

Huyền trong diệu, diệu trong huyền

Dưới điện Tam Thanh có chân truyền

Không phải Thánh cũng không Tiên

Mải miết động sâu khổ tu luyện

Miệng nuốt kim đan nguyên thần hiện

Chứng tỏ Tam Thanh thiệt có truyền.

Dương Mãnh ngó thấy, đùng đùng nổi giận, hét lớn:

- Hay a! yêu đạo chớ chạy, ông đợi ở đây đã lâu!

Nói rồi liền huơ quyền đánh tới.

Lão đạo sĩ này từ đâu đến? Tại sao Tế Ðiên lại bảo Dương Mãnh đón đánh ông ta?

Nguyên bởi ở đường Thái Bình trong thành Lâm An có một nhà tỷ phú họ Châu tên Cảnh, tự Vọng Liêm. Bởi ông ta giàu quá nên mọi người thường gọi là Châu Bán Thành, trong nhà của đến trăm muôn. Ông ta chỉ có một đứa con trai tên là Châu Chí Khôi, 21 tuổi, chưa lập gia đình. Chí Khôi cũng khá đẹp trai, nhưng hiềm nỗi quá kén chọn, cao với không tới, thấp chẳng để mắt nhìn, vì thế từng tuổi đó còn lẻ loi một bóng. Châu viên ngoại tuổi quá 70 lại dưới gối chỉ có Chí khôi nên rất mực cưng chiều. Ngày kia, Chí khôi bỗng nhiên ngọa bệnh và điều dưỡng ở thư phòng hoa viên. Mời rất nhiều thầy thuốc nổi danh chẩn trị mà bệnh thế vẫn không thuyên giảm, viên ngoại vì thế rất đỗi lo âu. Một hôm tối lại, viên ngoại tự tay xách đèn lồng ra thư phòng ở hoa viên thăm bệnh con. Vừa đến cửa thư phòng, bỗng nghe bên trong có tiếng trai gái cười đùa; viên ngoại động tâm nghĩ rằng: “Chắc đứa a hoàn nào của bà lén dẫn dụ con ta làm chuyện bại hoại gia phong đây. Ta phải đến xem mặt coi đứa nào cho biết”. Bèn đến bên cửa sổ thấm ướt một khoảng giấy, xoi lỗ nhìn vào. Bên trong, đồ đạc thiết trí vẫn như cũ. Trên chiếc bàn nhỏ ở trên sạp, ngọn bạch lạp đang tỏa chiếu bên mấy thức ăn. Chí Khôi đang ngồi ở một bên, còn ngồi đối diện bên kia là một cô gái sắc đẹp hoa nhường nguyệt thẹn. Lão viên ngoại nhìn kỹ, té ra cô gái ấy chính là Nguyệt Nga, con gái của Vương viên ngoại ở sát tường nhà. Lão viên ngoại cả kinh, thầm nghĩ: “Ta với viên ngoại là bạn hồi còn để chỏm. Sao hai đứa nhỏ này dám làm việc trăng hoa xấu hổ như vậy kìa?”. Chính ông cũng không dám bước vào nhà sợ hai người xấu hổ tự tận, bèn trở về phòng mình, thở dài, kêu phu nhân nói:

- Bà ơi, bà có biết thằng con mình mắc bệnh gì không? Tôi vừa thấy nó cùng Vương Nguyệt Nga, con gái của bác Vương Thành ở kế nhà mình, uống rượu vui đùa ở ngoài thư phòng đấy. Bà tính lẽ nào cho phải đây?

Phu nhân nói:

- Có gì mà viên ngoại phải lo! Ngày mai, ông sang nhà bác Vương thăm hỏi chuyện trò rồi nhân tiện hỏi thăm con gái bác đã có đôi bạn chưa. Nếu chưa đính ước ở đâu thì mình gấp rút cậy mai mối đến hỏi. Làm như thế, một là giữ vẹn được danh giá của hai nhà, hai là cho đôi trẻ được tâm nguyện, há không phải là kế lưỡng toàn sao?

Viên ngoại cho là có lý, bèn an lòng đi nghỉ. Sáng hôm sau, ăn điểm tâm xong, viên ngoại thay đổi y phục, cùng với gia nhân mang lễ sang thăm Vương viên ngoại. Vừa bước đến cổng, thấy từ xa bốc lên cát bụi mịt mù, một người cưỡi ngựa và hai chiếc kiệu đi lại, thì ra đó là Vương viên ngoại. Vương viên ngoại lật đật xuống ngựa, chào hỏi Châu viên ngoại rằng:

- Lâu nay huynh trưởng có mạnh giỏi chăng?

Hiền đệ đi đâu về thế? Người ngồi trong kiệu là ai vậy?

Vương viên ngoại nói:

- Ðó là cháu gái anh, Vương Nguyệt Nga chớ ai. Cháu đó hơn hai tháng nay ở bên nhà cậu. Nhân vì có mai mối đến hỏi, ngày mai đưa lễ đến nên sáng hôm nay tôi phải qua rước cháu về.

Châu viên ngoại nghe nói, thầm nghĩ: “Sao có chuyện lạ vậy kìa? Chính mắt mình thấy Vương Nguyệt Nga đang ngồi uống rượu với thằng con mình, làm sao nó lại ở nhà cậu nó hơn hai tháng được? Có phải mình hoa mắt, nhìn lầm người chăng? Chuyện đó đâu thể có được?”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Này hiền đệ, cho kiệu đến gần cửa cho ta thăm nhìn mặt cháu một chút.

Vương viên ngoại bảo khiêng kiệu lại gần, thị tỳ vén rèm, dìu Vương Nguyệt Nga xuống vái chào chúc phúc Châu viên ngoại. Châu viên ngoại nhìn kỹ, quả nhiên cùng với cô gái đã thấu ở thư phòng ngày hôm qua không sai một nét, trong lòng thầm nghĩ: “Không xong, không xong rồi! Con Nguyệt Nga này không yêu cũng là quái, chẳng phải quỷ cũng hồ ly!”. Ông quá lo sợ, cơ hồ muốn ngất đi, may có người ở một bên dìu đỡ mới khỏi ngã. Vương viên ngoại hỏi:

- Huynh trưởng thấy cháu gái ra sao mà có dáng điệu khác thường như thế?

Châu viên ngoại nói:

- Hiền đệ ơi, ta nhìn thấy cháu mà sực nghĩ đến con mình ở nhà, bây giờ không biết bệnh thể nhẹ nặng ra sao!

Vương viên ngoại nói:

- Tôi thiệt không rõ việc đó, để ngày mai tôi sẽ sang thăm cháu.

Nói rồi kiếu từ. Châu viên ngoại về đến nhà thở vắn than dài. Phu nhân hỏi nguyên cớ cũng lo lắng không an. Viên ngoại nói:

- Vợ chồng ta chắc không sống nổi vì việc này. Biết làm sao bây giờ?

Hai vợ chồng đang lo rầu, xảy thấy từ ngoài đi vào một đứa thơ tên là A Phước, Tên này khoảng 15, 16 tuổi, rất là lanh lợi, nói:

- Thưa viên ngoại, chớ lo. ở ngoài cửa Thanh Ba có tòa Tam Thanh quán, lão đạo sĩ ở miếu đó tên là Lưu Thái Chơn, có tài bắt yêu trấn trạch, lui quỷ trị bệnh rất tài. Viên ngoại đi mời ông ấy đến có thể trị bệnh cho công tử được.

Viên ngoại nghe nói có lý, liền hối gia nhân thắng ngựa cùng với bốn gia nhân do A Phước dẫn đường đi thỉnh thầy. Ðến cổng Tam Thánh quán ngoài cửa Thanh Ba, tớ thầy xuống ngựa gõ cửa. Bên trong có một đạo đồng đi ra, hỏi:

- Quý vị tìm ai?

Gia nhân đáp:

- Chúng tôi là người của Châu viên ngoại ở trong thành, đến đây mời đạo gia bắt yêu.

Ðạo đồng vào trong thông báo. Tòa miếu này có một tòa điện chính, hai bên có kèm Ðông Tây hai dãy. Lão viên ngoại đi đến nhà Ðông được lão đạo sĩ xuống thềm tiếp rước. Viên ngoại thấy lão đạo sĩ đầu đội khăn đạo sĩ cũ, mặc đạo bào bằng vải lam, ngũ quan rất thanh tú. Viên ngoại nói:

- Ðã lâu ngưỡng mộ đại danh tiên trưởng như sấm nổ bên tai. Hiện tại trong hoa viên nhà tôi có con yêu làm loạn, biến mình làm Vương Nguyệt Nga ở gần nhà để mê hoặc con trai tôi là Chí Khôi. Cầu xin tiên trưởng mở lòng từ bi đến bắt yêu an trạch, lui quỷ, trị bệnh giùm cho cháu

Lão đạo sĩ biết họ Châu là một nhà đại phú, liền vội vàng ưng thuận, nói:

- Xin viên ngoại cứ về trước, tiểu đạo giây lát sẽ đến sau.

Viên ngoại uống cạn chén trà rồi cáo từ. Lão đạo sĩ đưa khách ra cửa rồi trở vào miếu kêu đạo đồng hỏi:

- Này đạo đồng! Khăn đạo sĩ và đôi giày mới của ta, mi cầm bao nhiêu tiền?

- Hôm trước mua rượu cầm được hai điếu.

- Ðem cái khánh cùng chân đèn đổi về. Còn đạo bào cùng dây tơ buộc cầm bao nhiêu?

- Cầm năm điếu.

- Ðem chiếc tiền bàn và mấy tấm gương đổi lại. Ði chuyến này phải ăn mặt coi được một chút mới phát tài.

Ðồ vật đã chuộc về, lão đạo sĩ mặt áo đội mũ chỉnh tề mới đi về phía cửa Tam Ba. Ông lại đi vòng qua cửa Tiền Ðường cố ý kheo bộ cánh đẹp. Nào ngờ đang đi bỗng nghe trước mặt có tiếng hét và có người đưa tay đánh tới.



Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:46 PM | Message # 6
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 5



Châu viên ngoại nơi hoa viên gặp yêu
Quán Tam Thanh mời được lão đạo sĩ




Có thơ rằng:

Tháng năm vùn vụt nắng mưa thay

Khóa lợi đàm danh chớ miệt mài,

Xương trắngbuông tay chôn trũng rậm

Vàng ròng khó gìữ tóc khôn phai

Chết đi luống để thiên niên hận

Lúc sống nào ai chịu rảnh tay

Ra cửa hú dài trời đất rúng

Mây trắng bồng bềnh chim hạc bay.

Lão đạo sĩ bị Dương Mãnh lia mấy quyền, khăn đạo sĩ rách bươm, trâm vàng rơi xuống đất. Tế Ðiên lật đật chạy ra can. Trần Hiếu cũng nạt:

- Dương hiền đệ! Còn chưa chịu đi sao. Tiếp tay sư phụ đánh càn để đền nhơn mạng người ta à?

Nói rồi kéo Dương Mãnh đi mất. Lão đạo sĩ giận đến uất cả người, trợn mắt hét lớn:

- Phản rồi, phản rồi! Khi khổng khi không, níu người ta lại mà đánh. Ta phải lên huyện Tiền Ðường tố cáo ngươi mới được.

Tế Ðiên nói:

- Ðược rồi, đạo gia gặp ta ở đây hay quá! Vậy thì như thế này nhé. Ðạo gia cứ bỏ mấy cái khánh với mấy cặp chân đèn đem cầm ra đây, năm cái tiền bàn cũng đem ra nốt, rồi muốn làm gì mặc ý.

Lão đạo sĩ nghe nói ngạc nhiên thầm nghĩ: “Mình đem đồ đi cầm, sao ông thầy chùa này biết vậy cà!”

Ðịnh thần nhìn kỹ Hòa thượng trước mặt tướng mạo xấu xí, thân cao khoảng năm thước, trên đầu tóc dài gần một gang tay, mặt mũi tẻm lem, tăng bào rách nát, thiếu tay, rách bâu, lưng cột sợ dây tơ, khật khà khật khưỡng trên đôi giầy cỏ nát. Ðạo sĩ hỏi:

- Hòa thượng ở chùa nào vậy?

Tế Ðiên nói:

- Ta ở chùa Hoàng Liên nên bến cỏ Phổ Ðồng tên là Khổ Hạnh.

Lão đạo sĩ nói:

- Hòa thượng định đi đâu?

- Ta định vào thành Lâm An, có một nhà tài chủ ở đường Thái Bình tên Châu Vọng Liêm. Ông ấy giàu nhất trong thành Lâm An này, thiên hạ còn kêu ông là Châu Bán Thành nữa. Ông ấy mời ta đến nhà để bắt yêu an trạch, trừ quỷ, trị bệnh cho con .

Lưu Thái Chơn nghe nói trong lòng không vui, nghĩ rằng: “Châu viên ngoại thiệt không phải chút nào! Ðã thỉnh ta thì mời Hòa thượng, đã thỉnh Hòa thượng còn mời ta làm gì? Thôi ta cứ đến đó xem sao. Nếu cung kính ta thì ta bắt yêu cho, còn cung kính Hòa thượng thì ta rút lui vậy”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Này Hòa thượng! Ông với tôi cùng đi đến đó nhé.

Tế Ðiên vác tượng Vi Ðà lên vai vừa đi vừa hỏi:

- Này Lưu đạo gia, ông họ gì?

Lưu Thái Chơn giận nói:

- Ông đã kêu tôi là Lưu đạo gia rồi, lại còn hỏi tôi họ gì nữa. Bộ ông điên hả?

Tế Ðiên cười ha hả, chợt miệng hát:

Người bảo ta điên, ừ ta điên!

Khùng điên đất sợ quỷ thần kiêng.

Ví bằng muốn học khùng điên ấy,

Phải nộp bần tăng rượu mấy tiền.

Hai người đi vào cửa Tiền Ðường, đến cổng lớn nhà phía Bắc đường Thái Bình thấy có bốn cây hòe trước ngõ. Trong cửa treo lủng lẳng mấy tấm bảng “Nghĩa công là trọng - Việc thiện gắng công – Xóm làng nghĩ nặng - Gặp nghĩa cố thi”. Hai người đến cửa gọi. Quản gia từ trong chạy ra nói:

- Ðạo gia đến rồi!

Lão đạo sĩ nói:

- Xin phiền thưa lại có bần đạo vừa đến.

Thấy có vị Hòa thượng vác tượng Hộ Pháp Vi Ðà đứng lặng một bên, quản gia lấy mắt ngó một cái rồi trở vào. Viên ngoại đang ở thư phòng chờ đợi lão đạo sĩ, thấy gia nhân vào thưa là có Lưu Thái Chơn, đạo sĩ Tam Thanh Quán đến, lại cùng đi với một vị Hòa thượng. Châu viên ngoại ngạc nhiên nói:

- Ai thỉnh Hòa thượng vậy?

Châu Phước nói:

- Chắc là đạo sĩ mời thêm đó. Viên ngoại ra tiếp rước phải tỏ vẻ cung kính cho đạo sĩ vui lòng.

Chính ra ai nấy đều lầm cả. Viên ngoại ngỡ là đạo sĩ mời Hòa thượng đến, còn lão đạo sĩ lại đinh ninh là gia chủ đi mời Hòa thượng trước. Sự thật chính là Hòa thượng tự ý đến mà thôi. Viên ngoại từ bên trong đi ra, Tế Ðiên ngước mắt nhìn: Viên ngoại thân hình cao ráo, nét mặt phương phi, phục sức tao nhã, dưới cằm lưa thưa chòm râu bạc, dáng điệu thong dong. Viên ngoại hướng về phía Hòa thượng chắp tay nói:

- Xin kính mời Hòa thượng. Mời đạo gia vào trong nhà.

Lưu Thái Chơn thấy vậy hơi phật ý, nghĩ rằng: “Quả là viên ngoại cung kính Hòa thượng quá mức. Gặp Hòa thượng chắp tay xá lia lịa, còn gặp mình chỉ kêu đạo gia mà thôi. Về quách cho rồi”. Tuy nghĩ thế nhưng vẫn không trở bước. Lại nghĩ: “Mình đem năm bộ chân đèn mới chuộc ra bộ quần áo, hy vọng đi chuyến này có mấy mươi lạng bạc để chuộc đồ về. Nếu giận bỏ về không, lấy gì để chuộc lại”. Nghĩ thế đành theo viên ngoại đi vào. Thơ phòng đặt ở nhà ba gian phía Tây, ở giữa đặt bàn bát tiên, hai bên đặt hai hàng ghế dựa, trên tường treo tự thiếp của danh nhân rất tranh nhã. Hòa thượng và lão đạo sĩ vừa ngồi xuống, gian nhân lật đật dâng trà.

Hòa thượng nói: Dọn rượu đi.

Lão đạo sĩ thấy thế nghĩ rằng: “Hòa thượng này có vẽ quen thuộc quá, chắc là đến đây thường nên không kỵ hiềm kia đây gì hết”.

Lão viên ngoại lật đật bảo gia nhân dọn rượu. Giây lát gia nhân dọn chén bát, bày tiệc rượu lên. Hòa thượng chẳng tỵ hiềm chi, xề qua ngồi ngay giữa. Lão đạo sĩ trong lòng dẫu không vui cũng không tiện nói ra. Uống xong ba bốn chén rượu, thấy viên ngoại đối với Hòa thượng cung kính, lão đạo sĩ nhịn không được mới hỏi viên ngoại:

Vị Hòa thượng này có phải viên ngoại mời không?

Viên ngoại nghe nói lắc đầu lia lịa:

- Không phải tôi mời, tôi đâu có quen, ông ấy đi với đạo gia mà.

Lão đạo sĩ nói:

- Tôi cũng đâu có quen, ông ấy nói viên ngoại mời đến mà.

Hòa thượng nói:

- Cần chi nhắc chuyện đó, hãy uống thêm vài chén nữa đã nào.

Viên ngoại cả giận nói: Hay cho Hòa thượng, ông dám tới đây ăn bậy nói càng hả? Bay đâu, tống cổ Hòa thượng này cho mau.

Gia nhân chạy ra thấy hòa thượng đương bưng chén, kê lên miệng toan uống. Châu Phước nói:

- Nè Hòa thượng, ông làng chàng ở đâu lại đây. Thôi ra mau đi ông.

Vừa nói vừa kéo kéo xôi xôi lôi Hòa thượng tuốt ra khỏi cổng. Ðóng cửa trở vào, dòm lại thấy tượng Vi Ðà Hòa thượng còn bỏ quên lại đó liền vào thưa với viên ngoại:

- Hòa thượng bị tôi đẩy ra rồi, mà tượng Vi Ðà còn bỏ quên lại đó.

Viên ngoại nói:

- Mi đem trở ra cho ổng kẻo tội nghiệp.

Lão đạo sĩ nói:

- Thưa viên ngoại, bây giờ trong quý viện có yêu tinh ra làm sao, mê hoặc công tử như thế nào xin cho biết rõ để lát tôi đốt hương cầu đảo, họa bùa trấn trạch cho xong.

Thật ra lão đạo sĩ về việc đốt hương họa phù chẳng có chút bản lãnh chi, lâu nay núp bóng điện Tam Thanh lòe thiên hạ để sống nhờ lộc Thánh Tiên mà thôi. Viên ngoại nói:

- Con yêu tinh ấy biến hình cô gái giống hệt như Vương Nguyệt Nga ở kế bên nhà. Mỗi tối nó thường uống rượu với con trai tôi ở hoa viên.

Lão đạo sĩ nghe nói ngạc nhiên nghĩ thầm: “Ta đâu có biết đốt hương họa phù là chi. Yêu tinh có thể biến thành hình người được thì đâu phải là vừa. Ta bắt nó không được, nó bắt lại ta thì mang khốn!”. Trù trừ giây lát mới nói:

- Thưa viên ngoại, con yêu này dữ lắm, phải có thêm bảy người nữa hợp với tôi là tám. Tám người lập thành bát quái liên hoàn trận bao vây mới được.

Viên ngoại nói: Ðược, được. Bèn kêu Châu Phước:

- Ngươi đi bắt yêu với đạo sĩ nhé.

Châu Phước nói:

- Không được đâu, tôi nhát gan lắm, không cáng đáng nổi. Xin viên ngoại sai người khác đi.

Viên ngoại lại kêu Châu Lộc: Vậy ngươi đi nhé!

Châu Lộc nói:

- Không được đâu! Mắt tôi kém lắm.

Viên ngoại là người tinh tế, thấy không ai chịu đi đã hiểu phải có trọng thưởng mới có dõng phu. Người ta không có quyền lợi ai chịu ra sức! Viên ngoại mới nói:

- Có ai chịu đi với đạo gia không? Không phải đi không đâu. Mỗi đêm, một người ta cho mười lạng bạc. Cần số bảy người có ai đi không?

Châu Phước đứng kề bên vọt miệng nói:

- Tôi xin đi.

Viên ngoại hỏi:

- Ngươi không còn nhát gan nữa sao?

Châu Phước nói:

-Tôi vừa mới được thuốc tiên, mua được một củ thược dược to tổ bố.

Viên ngoại hỏi:

- Mua để làm gì vậy?

Châu Phước nói:

- Sắc uống hết sợ ngay.

Viên ngoại nói:

- Chà, đánh được hơi tiền, nó đổi nhát ra gan ngay.

Châu Lộc cũng nói:

- Tôi cũng xin đi nữa.

Viên ngoại hỏi:

- Bộ ngươi hết quáng mắt rồi sao?

- Không phải vậy đâu. Viên ngoại nghe nói chưa rõ, tôi chỉ quáng mắt trong nhà mà thôi.

Giây lát số bảy người đã đủ. Viên ngoại hỏi:

- Ðạo gia cần thêm những gì nữa, xin cho biết.

Lão đạo sĩ bảo đem giấy bút ra viết một cái toa gồm các vật dụng: một cái bàn cao, một ghế thái sư, một cái lư hương có nắm tay đèn, một hộp đèn trắng, một thẻ nhang dài, một xấp giấy tiền, một cây bút mới, một chỉ châu sa, một nghiên mực mới, một tờ giấy vàng, rau thơm một nắm, nước vô căn một chén, năm hộc đậu mè, một mớ bạch cập.

Viên ngoại chiếu theo toa cho mua sắm đầy đủ rồi hỏi:

- Thưa đạo gia, những thứ này bài trí ở đâu?

Lão đạo sĩ bảo:

- Ðem thiết trí ở thư phòng công tử nơi hậu viên, ta sẽ đến sau.

Chốc lát trời sụp tối, lão đạo sĩ cùng viên ngoại đem bảy tên tùy tùng, mỗi người trong tay đều cầm giáo nhọn đi ra hậu viên. Lão đạo sĩ đưa mắt nhìn một lượt. Hoa viên này thiết trí rất chỉnh tề, muôn hoa đua thơm, cỏ cây rậm rạp, nào lâu đài điện gác, nào thủy tạ lương đình thật là hoa cỏ bốn mùa tranh vẽ. Lão đạo sĩ đi đến phía trước, thấy căn nhà gồm có ba gian. Gian phía Bắc có ba căn, hai bên cũng đều có ba căn. Những đồ vật cần thiết đã dự bị đầy đủ. Mọi ngưòi kéo nhau vào nhà, bên trong công tử nghe thấy tiếng động, hỏi vọng ra:

- Ai làm gì bên ngoài đó, mau cút đi ra xa nghe.

Gia nhân nói:

- Xin công tử đừng la lớn. Viên ngoại mời được đạo gia đến bắt yêu an trạch lui quỷ trị bệnh cho công tử đó. Công tử chắc bị yêu tinh hớp hồn mất rồi.

Công tử giận quá hét lớn:

- Cút đi, đừng nói bậy.

Lão đạo sĩ không trả lời. Viên ngoại trở ra nhà trước, chờ đợi tin mừng do đạo sĩ đưa đến. Lão đạo sĩ dặn mọi người hãy ở cả nhà ngoài để sẵn sàng trợ oai. Lão đạo sĩ ngồi ở ghế thái sư chờ đến khi trống điểm canh hai mới đốt sáp lên, cung kính đốt một nén hương lâm râm khấn đảo: “Tam thanh giáo chủ, thần Phật ở trên, tín sĩ đệ tử là Lưu Thái Chơn làm đạo sĩ ở Tam Thanh quán. Hôm nay có nhà họ Châu bị yêu ma quấy phá, thỉnh đệ tử bắt yêu an trạch lui quỷ trị bệnh. Kính mong Thần Phật xót thương bảo hộ, xui đi yêu quái. Ðệ tử được mấy mươi lạng bạc trở về xin cúng tạ lễ hoàn nguyện”.

Khấn vái đã xong, đạo sĩ lột mũ đạo sĩ xuống, cả khăn bịt đầu cũng bỏ ra để tóc xõa, rút thanh bảo kiếm, dùng nước cốt bạch cập hòa với châu sa vẽ nên ba đạo linh phù. Lão đạo sĩ nói:

- Này Châu Phước, ngươi hãy xem đây! Ta đốt đạo linh phù thứ nhất thì cuồng phong nổi dậy, đến đạo thứ hai thì yêu quái bị thâu tóm, đạo thứ ba đốt đi thì bảo kiếm sẽ chém đầu yêu quái, bắt nó phải hiện nguyên hình. Nếu là người chết biến thành quỷ, quỷ chết biến thành tinh, tính mạng của nó bị kết túc ngay lập tức.

Bọn Châu Phước lặng lẽ theo dõi. Ðạo sĩ dán linh phù lên đầu kiếm, miệng đọc lô lô la la, chẳng nghe rõ tiếng gì. Ðọc xong đạo sĩ hô:

- Thái Thượng lão quân, cấp cấp như luật lịnh.

Bảo kiếm kèm theo đạo linh phù huơi lên, ánh sáng lấp loáng. Ðoạn đốt linh phù. Mọi người chờ mãi mà không thấy có tí gió nào nổi lên.

Châu Phước nói:

- Các anh thấy ông đạo sĩ nói dốc chưa?

Châu Lộc nói:

- Ðừng nóng, đợi đốt linh phù thứ hai xem sao!

Ðạo sĩ lại trong miệng lâm râm niệm chú, gắn đạo linh phù vào kiếm đốt lửa huơi lên, lại không thấy động tĩnh gì.

Lão đạo sĩ thấy thế, lật đật lấy đạo linh phù thứ ba gắn trên mũi kiếm đốt, miệng đọc lâm râm, vừa mới huơi ra, bỗng thấy cuồng phong nổi dậy, lão đạo sĩ nhướng mắt nhìn xem, sợ đến hồn bất phụ thể: một con yêu chờn vờn xô đến chụp lão đạo sĩ.

 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:47 PM | Message # 7
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 6



Châu viên ngoại thuật kỹ việc gặp yêu
Lưu Thái Chơn bắt yêu bị Yêu bắt




Có thơ rằng đời người như giấc chiêm bao đất trời quán trọ nơi nào quê cha đó đây lưu lạc ta bà, Nơi nào dừng bước, mai hoa thưởng nhàn.

Lão đạo sĩ đốt ba đạo linh phù xong thì một trận cuồng phong nổi dậy, ầm ầm có tiếng bước chân đi đến. Ðạo sĩ đinh ninh con yêu này mặt xanh tóc đỏ lông lá đầy mình trông dễ sợ lắm. Nào ngờ hé mắt nhìn ra là một cô gái mặt trắng môi son, tóc liễu lưng eo, thiên kiều bách mị, chưa từng thấy bao giờ. Có lời khen rằng:

Gió đưa hương lạ ngọt ngào

Dáng đi thiên kiều bách mị

Ðan thanh tay phàm khó tả

Vóc người lồ lộ ưa nhìn

Y phục càng tôn nét đẹp

Trâm vàng cài lỏng tóc mai

Môi hồng hé nở nụ cười.

Cô gái đó đi về phía lão sĩ, nói:

Hay cho lão tặc Thái Chơn, mi dám tính bắt bà cô mi hử?

Châu Phước mới nói với mọi người:

- Té ra có ai xa lạ đâu, bà con với ông đạo đó mà.

Lão đạo sĩ sợ đến hồn phi phách tán, nói:

- Xin tiên cô chớ giận, để nghe tiểu đạo nói đây. tiểu đạo dù có gan trời cũng nào dám bắt tiên cô được. Chỉ nhơn vì nhà họ Châu mời tiểu đạo đến trị bệnh cho công tử, mới phiền thỉnh tiên cô đến đó thôi. Xin tiên cô hãy nghe tiểu đạo lời này. Hà hà, tiên cô chắc đang tu luyện ở thâm sơn cùng cốc nào đó, đạo cao đức trọng, sá chi chút bụi hồng trần này. Tiểu đạo dám khuyên tiên cô nên trở về tiếp tục tu luyện kim thân muôn đời bất hủ. Như vậy có dược chăng?

Yêu tinh nghe nói thế, cả giận hét:

- Ðồ khỉ, lâu nay ta chưa ăn thịt người, sẵn mi đây, hôm nay ta chén một bữa cho sướng miệng! Nói rồi chạy xô đến, miệng phun ra một luồng khói đen. Ðạo sĩ la ối một tiếng, té lăn xuống đất, bảo kiếm cũng tuột khỏi tay. Bọn Châu Phước sợ đến hồn vía lên mây, lủi xuống sàn chui trốn. Chiếc giường nhỏ quá mà người lại đông, không thể nào đựng chứa hết. Châu Lộc mới kéo Châu Phước nói: Anh xê qua cho tôi chui vào tí. Châu Phước sợ quá mê đi, nên trông gà hóa cuốc, nói:

- Xin cô đừng kéo chân con tội nghiệp. Trong lúc mọi người đang giành nhau chui trốn, thì bên ngoài vang lên tiếng như trời long đất lở. Có kẻ lớn mật lén nhìn ra, thấy bên ngoài có một vầng hào quang đỏ rực, có một vị Kim giáp thiên thần đứng chắn ở cửa. Ðó chính là tượng Vi Ðà hiển thinh. Mọi người sợ quá chẳng dám ra, rúc dưới gầm giường cho đến trời sáng bạch. Bên ngoài, lão viên ngoại thức suốt đêm chờ đợi, sáng ra cùng với những người lớn gan ra huê viên xem đạo sĩ bắt yêu như thế nào.

Vào đến trong nhà xem lại thấy đạo sĩ té nằm trên đất, mặt mũi xanh dờn, bảo kiếm tuột khỏi tay nằm kế đó. Sờ tay xem thì thấy cả người ông ta đều lạnh. Ðến thư phòng xem thì thấy cả người đang chui trốn dưới giường, người chui dưới bàn cũng có. Kéo chân ra, mọi người nói:

- Xin cô cô nào ở đây, bay chưa chịu chui ra còn làm gì trong đó?

Bọn Châu Phước nhìn ra thấy viên ngoaị, nói:

- Viên ngoaị ơi, chúng con sợ bắt chết đi được!

Viên ngoại hỏi sự việc như thế nào, bọn Châu Phước đem sự tình hôm qua đạo sĩ bắt yêu ra sao thuật laị một lượt. Viên ngoại đằng hắng một tiếng rồi nói:

- Thiệt là phước bất trùng lai, họa vô đơn chí! Yêu quái đã không bắt được mà vị đạo sĩ còn nằm chết ở đây nữa. Phải đi báo quan khám nghiệm mới xong.

Phàm người có tiền rất sợ dây dưa đến cửa quan. Viên ngoại bảo gia nhân trước hết phải quét dọn cho nhanh chóng, rồi ra nhà trước thầm nghĩ: “Tượng Vi Ðà của vị Hoà thượng này hay quá, đang đứng ở nhà trước sao lại chạy ra nhà sau hiển thánh? Ðợi khi lão Hòa thượng đến lấy mình không cho, hỏi ông cần bao nhiêu tiền, mình mua lại để trấn nhà thì hợp cách quá”. Còn đang tính nhẩm như thế, xảy nghe có tiếng người đập cửa và tiếng của Hòa thượng vọng vào bảo mở lấy tượng Vi Ðà:

- Tượng Vi Ðà của tôi đã có chủ mua rồi, dù cho sáu trăm muôn lượng bạc cũng không bán.

Viên ngoại nghe nói, vội chạy ra trước xem. Bên ngoài không phải là Hòa thượng mà là một người mình cao tám thước, đầu đội khăn viên ngoại, mình mặc áo đoạn màu lam, mặt mũi phương phi hiền từ, râu ba chòm phất phơ trước ngực, sau lưng có một đứa tiểu đồng độ 14, 15 tuổi. Viên ngoại nhìn kỹ chính là Tô Bắc Sơn, em kết nghĩa của mình. Châu viên ngoại hỏi:

- Phải hiền đệ kêu cửa không? Tô Bắc Sơn nói:

- Phải đó, hôm nay tôi đến giới thiệu với anh một người, đó là Phật sống Tế Ðiên ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ mà tôi thường noí với anh đó. Tối hôm qua ông đến nhà tôi nhắc tôi việc vác tượng Vi Ðà đi hóa duyên.

- Ông nói trong nhà yêu tinh quấy phá, đến đây để bắt yêu bị anh đuổi ra, còn bỏ tượng Vi Ðà lại. Hôm qua ông ở đằng nhà tôi. Tôi nghĩ rằng chắc tại anh chưa biết, nếu biết là Tế Công, chắc anh đâu có xử tệ như vậy. Hôm nay tôi đưa ông đến, một là để bắt yêu, hai là để đem tượng Vi Ðà về.

Châu viên ngoại nói:

- Này hiền đệ, có như vậy sao? Hiện tại LưuThái Chơn ở Tam Thanh quán đến bắt yêu không xong lại bị yêu phun độc khí đến giờ vẫn còn bị hôn mê bất tỉnh. Tôi đang cho người một mặt báo tin cho đằng miếu của lão đạo hay, một mặt báo quan đến khám nghiệm, kế bên ngoài nghe Hòa thượng gọi cửa đó. Này hiền đệ mời giùm đại sư đó đến đây đi.

Tô Bắc Sơn quay lại thấy Hòa thượng đang ngồi chồm hổm bên tường, nói:

- Xin mời sư phụ đến đây cho viên ngoại ra mắt. Châu viên ngoại lật đật ra rước vào đại sảnh, gia nhân dâng trà. Châu viên ngoại nói:

- Bạch Thánh Tăng, việc hôm qua bọn tôi không hề biết kể như không mắc tội, xin Thánh Tăng hỷ xả cho, để bảo dọn rượu tạ tội với Hoà thượng.

Tế Ðiên nói:

- Bữa nay ta không uống rượu. Ði bắt yêu an trạch trước rồi uống rượu sau. Ông dẫn ta ra hậu viên nhé.

Châu viên ngoại nói:

- Phải đó!

Rồi lập tức dẫn đường. Ra đến hậu viên thấy đạo sĩ vẫn còn nằm ngay trên đất. Hòa thượng nói:

- Hôm qua đạo sĩ gặp bà con đây!

Châu phước nói:

- Phải đó, hôm qua chúng tôi nghe ông ta gọi là cô cô đấy.

Tế Ðiên nói:

- Trước hết ta hãy cứu trị cho lão đạo đã. Các ngươi đi lấy cho ta nửa chén nước nóng, nửa chén nước mát, ta cho ông ấy uống chút thuốc hòa với chút nước âm dương sẽ tỉnh ngay chớ gì.

Gia nhân đem nước đến, Hòa thượng lấy thuốc hòa vào đổ vô miệng đạo sĩ. Giây lát đạo sĩ mửa ra một thôi một hồi rồi từ từ mở mắt, thì ra trước mặt là Hòa thượng đến cùng với Châu, Tô hai vị viên ngoại. Lão đạo sĩ lật đật đứng dậy nói:

- Thiệt xấu hổ quá, xấu hổ quá!

Hòa thượng nói:

- Này viên ngoại, ông lấy cho lão đạo 50 lượng bạc để ông ấy về chuộc lại năm bộ đèn nhé.

Viên ngoại bảo gia nhân đem bạc đưa cho lão đạo. Lão đạo nhận bạc rồi tạ ơn hỏi viên ngoại:

- Xin hỏi chùa của vị Hòa thượng này ở đâu?

Châu viên ngoại đáp:

- Ðó chính là Phật sống Tế Công ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ đấy.

Lão đạo sĩ nghe nói lật đật sụp xuống đất dập đầu tạ lỗi:

- Thật tôi không biết Thánh tăng, hôm qua có nhiều điều xúc phạm.

Tế Ðiên nói:

- Ðạo gia chớ lạy lục làm chi. Từ nay có còn muốn bắt yêu giùm người nữa thôi?!

Lão đạo sĩ nói:

- Lần này suýt tiêu mạng tôi sợ quá rồi. Từ nay về sau không dám đi bắt yêu nữa.

Nói rồi đạo sĩ cáo từ về miếu. Về đến Tam Thanh quán, bảo đạo đồng đem bạc chuộc đồ về. Gỡ bảng đề “Bắt yêu trấn trạch” treo phía trước bỏ đi và dặn đạo đồng:

- Bất luận ai mời ta đi bắt yêu, mi cũng bảo ta vào núi hái thuốc rồi nhé.

Sau khi đạo sĩ đi rồi, Hòa thượng mới nói:

- Này viên ngoại, ta lui quỷ trị bệnh cho công tử rồi sau mới bắt yêu nhé!

Viên ngoại nói:

- Vâng, xin Thánh tăng đại phát từ bi xuống phước cho.

Nói rồi dẫn Tế Ðiên vào phòng Chí Khôi.

Trong phòng bàn ghế vẫn như trước. Công tử Châu Khôi đang nằm đầu day hướng Ðông, chân day hướng Tây, mặt mày vàng võ không có chút máu. Viên ngoại thấy thế rất làm đau đớn, liên tiếp kêu mất tiếng Chí Khôi ơi, Chí Khôi hỡi, nhưng công tử vẫn không một tiếng trả lời, nhướng nmắt nhìn viên ngoại rồi lại nhắm mắt như cũ.

Tô viên ngoại nói:

- Thằng bé này ngày thường vốn là nhân vật phong lưu, mấy hôm nay không gặp mà biến đổi quá chừng. Mặt mũi nhợt nhạt quá nên tiều tụy.

Tế Ðiên nói:

- Không hề chi, ta cho cậu ấy uống tí thuốc là hết ngay.

Nguyên nhân Chí Khôi mắc bệnh hư nhược, ban ngày hôn hôn mê mê, tối lại suốt đêm không ngủ, tinh thần hoảng hốt nhưng trong tâm vẫn còn nhận định rõ ràng. Thấy lão viên ngoại, Tô viên ngoại và Hòa thượng đến kế bên mà mắt mở không ra. Thấy Hòa thượng đưa tay vào trong áo móc ra một viên thuốc. Châu viên ngoại hỏi:

- Bạch Thánh tăng, đó là viên thuốc chi vậy?

Tế Ðiên đáp:

- Cái này kêu là Yếu mạng đơn. Con ông mạng sắp đứt rồi, nhờ viên thuốc của ta níu mạng lại.

Nói rồi bỏ thuốc vào miệng nhai ngỏm ngoẻm, đoạn lấy tay vạch miệng Chí Khôi nhổ toẹt vào. Châu Chí Khôi gớm quá, muốn nhổ mà nhổ chẳng ra, đành phải nuốt tuột xuống. Thuốc xuống tới bụng sôi lụp bụp tới đó. Thuốc dẫn máu chạy, máu dẫn khí đi, ngũ tạng lục phủ rất là dể chịu, trên mình nhẹ nhõm như cất đi gánh nặng ngàn cân.

Hòa thượng hỏi:

- Chí Khôi, cha mẹ ngươi được mấy người con?

Chí Khôi thưa:

- Chỉ có một mình tôi thôi.

Hòa thượng nói:

- Ðã biết như vậy ngươi há không biết câu: “Bất hiếu có ba tội, không con là lớn nhất” hay sao mà dám ở hoa viên khởi tà tâm chiêu lấy yêu tà mới gây ra cớ sự? Càng nói, Hòa thượng ta càng thêm nổi nóng.

Nói rồi xáng lên đầu Chí Khôi một cái bốp.

Nguyên Chí Khôi mắc bệnh đã lâu, trong người hư nhược lắm, bị cái tát đó té nhào, thở chẳng ra hơi. Châu viên ngoại thất kinh. Tế Ðiên day qua nói:

- Viên ngoại đừng có lo! Thằng nhỏ này không chết đâu. Ðể oan khí không tan chừng đó mới chết thiệt đấy. Nên đem tiền của cúng vào chùa ta để tiếp xây ba gian nhà bị cháy nhé.

Viên ngoại lòng lo mạng sống cho con, lật đật đáp ứng ngay.

Nguyên nhân Chí Khôi mắc bệnh là như thế này.

Một bữa nọ, Chí Khôi đứng tựa lan can ở Diễm Dương lầu, nơi hoa viên xem hoa, xảy nghe về phía Ðông cách tường có tiếng con gái nói chuyện. Chí Khôi nhìn lại, thì ra đó là hoa viên của Vương viên ngoại, tiểu thơ Vương Nguyệt Nga đang kêu a hoàn hái hoa lài. Chí Khôi nhìn kỹ thấy Vương Nguyệt Nga quả là trang quốc sắc, mới nghĩ thầm: “Mới mấy năm trước đây, mình với Vương Nguyệt Nga cùng chơi đùa thấy cô ta cũng thường, có chi lạ đâu! Chỉ mấy năm không gặp lại mà cô nàng trổ mã đẹp quá chừng. Thiệt là gái mười tám có khác. Chí Khôi ta nếu cưới được người như thế làm vợ không bỏ công kén chọn bấy lâu”. Lòng nghĩ như thế, hai mắt ngó chăm bẳm xuất thần. Bên kia Vương Nguyệt Nga đang kêu a hoàn hái hoa, ngước lên ngó thấy bên lầu phía Tây có một văn sinh công tử, tay mặt xách túi gấm thêu, tay trái cầm chiếc quạt nhỏ, đương giương mắt nhìn đăm đăm về phía bên này. Cô nương mắc cỡ mặt đỏ hồng, rồi hối a hoàn hái hoa mau xuống lầu. Chí Khôi nhìn theo cô nương xuống lầu hút bóng thở dài than rằng: “Ôi phải chi mình mọc đôi cánh bay qua bên đó cùng Nguyệt Nga hội hợp mới thỏa lòng này”.

Từ đó Chí Khôi như mê như dại, ở trong thư phòng nhắm suốt ngày. Tiểu đồng đưa trà đến, Chí Khôi nói: “Em Nguyệt Nga đến đó phải không?”, làm tiểu đồng sợ chạy vắt giò. Một tối nọ, Chí Khôi ngồi buồn, nhắm mắt lại, thấy phảng phất Nguyệt Nga trước mặt, mở mắt lại không. Ngày ngày cứ ra hoa viên kêu: “Nguyệt Nga em ơi, lại đây với anh”, làm cho tiểu đồng kinh sợ thêm.

Một tối kia, Chí Khôi ngồi buồn xo, nói: “Tính mạng của ta đã giao phó cho Nguyệt Nga rồi”, và không thiết ăn uống gì nữa. Bỗng thấy bức rèm lay động, rồi một người bước vào, chính là Vương Nguyệt Nga. Chí Khôi như người bắt được vàng, nhảy tới ôm chầm lấy.



Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:49 PM | Message # 8
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 7



Thấy giai nhân, chàng ngốc nổi lòng tà
Tưởng người đẹp, nào ngờ yêu nữ hiện




Thơ phù dung:

Phù dung nở, bến sông hồng

Mặt thiếp xinh hay phù dung rõ xinh!

Hôm qua đê dấu thiếp in

Cớ sao thiên hạ quên nhìn phù dung?

Chí Khôi đang ngồi tơ tưởng đến Nguyệt Nga. Trống đổ canh hai, bỗng tấm rèm lay động, một người con gái thiên kiều bách mị, phẩm mạo đẹp xinh, phong thư diễm lệ đi vào. Chí Khôi nhìn quả là Vương Nguyệt Nga, vội vàng nói:

- Hiền muội ơi, có phải em đến đó không? Anh đang tơ tưởng đến em như nắng hạn mong mưa. Em đến được, thiệt là anh thỏa dạ mơ ước bình sanh vô ngần.

Thực ra người đến không phải là Nguyệt Nga thiệt, mà chính là con hồ ly có hơn ba ngàn năm tu luyện ở núi Thiên Thai, mỗi ngày nó đến núi Thành Hoàng nghe kinh, trên đường đi ngang thấy Chí Khôi cứ ngày đêm tơ tưởng Nguyệt Nga gần như điên, bèn biến thành Nguyệt Nga với lòng tốt khuyên giải. Ðã gặp Nguyệt Nga một lần, nên vùng biến ra Nguyệt Nga giống hệt không sai một nét, đến phòng Chí Khôi nói:

- Này Châu đại ca, ngày nào anh cũng đứng trên lan can gọi tên em chi vậy, có phải là bại hoại danh tiết của em không? Nếu anh thật lòng thương em thì cậy mối mai đến hỏi, cha mẹ em chắc cũng không thể từ chối. Chừng đó danh chánh ngôn thuận, lại hợp với tâm nguyện của đôi ta nữa.

Chí Khôi nghe rồi nói:

- Hiền muội ơi, em đừng đi nữa nhé. Từ ngày anh gặp em tới nay, không phút giây nào anh không nghĩ tới em. Anh hận vì tường vách cách ngăn không được cùng nhau thành vợ thành chồng tức khắc. Hôm nay em tới đây rồi, anh đâu thể thả em về được.

Nói rồi ôm Nguyệt Nga chặt cứng.

Yêu tinh ban đầu lập tâm định khuyên giải, thấy Chí Khôi ôm cứng không chịu rời, lại thấy Châu công tử cũng đẹp trai mới tự nghĩ: “Sao không dịp này trộm lấy chơn dương của hắn để luyện bổ nội âm cho rồi”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Anh đã có lòng thương tưởng đến, em há chẳng mong được nâng khăn sửa túi anh sao? Hai ta âu cũng là nhân duyên tiền định, chỉ e mẹ cha anh biết được có điều bất tiện cho chăng!

Chí Khôi lúc đó tâm hồn mê mệt, tất cả đều thành bất kể, coi trời bằng vung, cùng con yêu dắt tay cụng chén cùng vào trướng loan. Ðến khi trống điểm canh tư, yêu quái nói:

- Em đi về nhé, ở trễ sợ người ta biết được.

Chí Khôi hỏi: Chừng nào em trở lại?

Yêu quái nói: Ngày mai em trở lại.

Từ đó trở đi, đêm nào đến đầu canh một, hai người cũng uống rượu chuyện trò, truy loan hưởng lạc, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường. Ngày nào cũng thế làm sao tinh thần không suy bại cho được. Tội nghiệp Chí Khôi, ba thứ quý báu của người ta là tinh khí thần bị hao tổn quá mức nên ăn uống không được, mặt như tờ giấy trắng. Viên ngoại không rõ nguyên do, cho là tại con mình dụng công học tập, lao thần quá độ, chớ biết đâu con ông đã đem sức lực phung phí thâu đêm mà ra. Nay bị một bạt tay của Hòa thượng, yêu khí tan mất, Chí Khôn lập tức đứt hơi luôn. Châu viên ngoại lòng đau như cắt lật đật nâng con dậy. Tô Bắc Sơn cũng có ý ăn năn, thiệt là tiến cử thầy bói dễ bằng mười thầy thuốc bây giờ biết phải làm sao. Ðúng lúc mọi người lo lắng bỗng thấy Chí Khôi lấy hơi thở nhè nhẹ.

Hòa thượng nói: Càng thấy ngươi, ta càng nổi giận.

Nói rồi đưa tay đánh luôn nữa, may có Tô Bắc Sơn tay cản kịp. Châu viên ngoại thấy con tỉnh mới tạm yên lòng. Chí Khôi lúc đó tinh thần mới định tĩnh lại, đòi nước uống đường, yêu khí cũng tan biến.

Hòa thượng bây giờ mới nói:

- Chúng ta đi bắt yêu nhé.

Rồi bảo Châu Phước, Châu Lộc hai đứa khiêng tượng Vi Ðà ra đây. Hai đứa đi ra, nhấc mãi không lên. Châu Phước nghĩ thầm: “Ngó Vi Ðà này không nặng gì lắm, mà sao hai đứa rinh không nổi vậy kìa?”.

Hòa thượng nói:

- Ta vốn biết tụi bây giở không nổi.

Nói rồi đi đến đưa tay nhấc tượng Vi Ðà lên. Một luồng khói đen bay vụt lên, té ra con yêu quái ấy chun nép dưới đáy tượng Vi Ðà. Luồng khói ấy mỗi lúc to rộng ra, con yêu quái thấy Hòa thượng tướng mạo tầm thường, muốn đem yêu khí chụp lấy Hòa thượng.

Tế Ðiên hà hà cười, nói lớn:

- Ðồ nghiệt súc, ngươi không biết ta là ai sao?

Nói rồi lấy tay vỗ lên thiên linh cái, thấu ra ba đạo hào quang: Phật quang, kim quang, linh quang. Người thường thì thấy Hòa thượng vẫn là thân xác phàm trần như cũ, còn yêu quái ngó thấy hồn bay ngàn dặm, Hòa thượng rành rành là một vị mình cao một trượng sáu, đầu to ba đấu, mặt sắt đen sì, mình mang giáp sắt, chính là Tri Giác La Hán. Yêu quái chạm phải kim quang này tiêu đi năm trăm năm đạo hạnh. Hòa thượng lột mũ xuống, hào quang muôn đạo, tử khí ngàn tia, rọi về phía yêu quái. Sau một cuồn phong nổi dậy, mọi người nhìn lại thấy một con hồ ly lớn đang quỳ dưới đất, cúi xin Hòa thượng dung tha tính mạng:

- Bạch sư phụ, xin người chớ giận, đệ tử vốn có ý khuyên thôi, nào ngờ công tử cứ níu chặt không chịu buông. Ðệ tử nếu không nghe theo y cũng đòi chết. Sư phụ ơi, xin người mở lượng từ bi tha cho đệ tử một lần thề không tái phạm nữa.

Tế Ðiên đội mũ lên đầu, nói:

- Hay cho mi dữ a! Lần này tha tính mạng cho ngươi, lần sau còn tái phạm, ta sẽ dùng chưởng tâm lôi đánh chết đấy nhé!

Yêu quái cúi đầu lạy tạ, hóa gió bay mất. Châu viên ngoại thấy con đã lành bệnh, bèn mời Hòa thượng lên thơ phòng thết rượu, sẵn mời cả Tô Bắc Sơn cùng ngồi. Uống được vài chén, Châu viên ngoại kéo Tô Bắc Sơn ra ngoài nói:

- Này hiền đệ, như hiền đệ thấy đó, Chí Khôi đã khỏi bệnh, yêu quái đã trừ xong, ta chỉ nhờ hiền đệ nói giúp cho ta một tiếng, ta ở trước mặt Hòa thượng bày tỏ chút lòng thành. Hiền đệ nói thế nào cũng được, ta không thay đổi đâu.

Tô Bắc Sơn nói:

- Này huynh trưởng, ý anh muốn đền ơn Tế Công bằng tiền phải không? Cái đó không được đâu! Thánh tăng tánh tình cổ quái lắm, nhất là không ưa tiền. Lần trước trị bệnh cho gia đình tôi và gia đình của Triệu Văn Hội, chúng tôi đền ơn bằng tiền mà Ngài một đồng cũng không lấy. Theo ý tôi thì nên làm theo như vầy. Anh đến cửa hàng cho thuê kiệu trang sức thật lộng lẫy rồi rước tượng Vi Ðà đưa về chùa Linh Ẩn. Làm như vậy chắc Thánh tăng sẽ vừa lòng. Ðừng nói chuyện tiền bạc làm chi, người ta có biết bao đệ tử thí chủ phú hộ.

Hai người thương lượng xong cùng trở về phòng. Hòa thượng hãy còn đang uống rượu. Tô Bắc Sơn nói:

- Bạch sư phụ, tôi biết sư phụ không ưa tiền, nên đã cản việc đem tiền đền ơn sư phụ rồi, tôi bảo thuê kiệu đưa tượng Vi Ðà trở về chùa.

Hòa thượng nói:

- Ðưa bạc hay không đưa bạc chẳng hề chi. Chớ dây dưa vào việc của ta! Lát nữa lấy kiệu đưa ông Vi Ðà về chùa, về sau ta có đi đâu ông ấy cứ theo đòi đi làm vướng chân cẳng ta không chịu được. Chốc nữa ta vác ổng đi ra đường coi chỗ nào cứng cứng va đầu ông vô cho bể một miếng, lần sau ông ấy sợ không dám đi với ta nữa.

Viên ngoại nói:

- Thế thì tôi xin đưa sư phụ một ít tiền để thay đổi xiêm y.

- Viên ngoại muốn đưa tiền hãy kề tai ta nói như vầy… như vầy. Hãy ghi vào lòng, đừng nên nhầm lẫn nhé!

Ai nấy gật đầu lãnh ý, Hòa thượng cáo từ vác tượng Vi Ðà đi ra. Ði được một quãng, Tế Ðiên tịnh khai huệ nhãn, thấy trước mặt oán khí ngất trời bèn gật gật đầu.

Thấy đường phía Bắc có quán rượu, Tế Ðiên đi về phía đó. Có người thấy hỏi:

- Hòa thượng đi hóa duyên hả?

- Phải đó.

- Hòa thượng vác tượng Vi Ðà đi đâu cùng đường vậy?

- Ta đi bán đây.

- Này Hòa thượng, tượng Vi Ðà này tại sao đem bán vậy? Mà bán bao nhiêu?

- Ta mua vốn là một trăm lượng, phải hai trăm mới bán. Ông Vi Ðà của ta đây thờ ở chùa nào thì chùa đó linh lắm, người ta đến thắp hương vô số.

Nói rồi kêu một bầu rượu để tượng Vi Ðà kế bên. Uống được vài chén, Tế Ðiên kêu phổ ky bảo:

- Coi chừng giùm, ta đi ra ngoài một lát.

Tế Ðiên vừa đi ra, thì ngoài cửa có tám chín vị Hòa thượng từ ngoài đi vào nói:

- Ở đây rồi. Trong chùa chúng tôi có ông thầy khùng vác tượng Vi Ðà, đi đến đâu nhậu đến đó. Vâng lệnh lão Hòa thượng, chúng tôi đi tìm.

- Chưởng quỹ nói:

- Vâng, các vị cứ khiêng về đi, cái tượng đất này chúng tôi không dùng làm gì được.

Chưởng quỹ chỉ nói tắt một câu cho xong chớ không hỏi các Hòa thượng ấy ở chùa nào lại. Các Hòa thượng ráp nhau mỗi người một tay khiêng tượng Vi Ðà đi mất. Một lát sau, Tế Ðiên trở lại, vừa vào đến cửa liền la lên:

- A, món hàng của ta đâu mất rồi!?

Chưởng quỹ nói:

- Các ông thầy đằng chùa ông khiêng về rồi.

Tế Ðiên hỏi:

- Chùa ta là chùa nào?

Chưởng quỹ tắc tị không trả lời được. Tế Ðiên nói:

- Ông bị người ta gạt lấy rồi, ông phải đền cho ta hai trăm lượng, nếu không ta sẽ kéo ông lên quan mới được.

Các thực khách đều nói với chưởng quỹ:

- Ðúng là lỗi tại ông, hồi nãy khi các Hòa thượng khiêng tượng Vi Ðà đi sao ông không hỏi ở chùa nào?

Rồi họ day qua Tế Ðiên nói:

- Xin Hòa thượng nể mặt chúng tôi mà bỏ qua cho. Ông ta vốn nghèo lắm, mỗi tháng chỉ kiếm được mấy điếu tiền lương thôi, làm sao ông ấy đền nổi hai trăm lượng. Ðây, chúng tôi xin góp nhặt mấy điếu lại cho ông.

Tế Ðiên nói:

Góp mấy điếu hả? Ta chẳng cần đâu. Ðã có các vị nói giúp, tiền ta chẳng cần. Thôi, ta đi đây.

Nói rồi bước ra khỏi quán.

 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:50 PM | Message # 9
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 8

Dạy pháp thuật, Tế Ðiên đùa đạo sĩ
Mất linh phù, Quốc Nguyên vội tìm thầy




Có thơ rằng:

Ðêm thanh gió mát trăng trong

Có người thiếu nữ bên sông mỉm cười

Nắn dây mượn phím gởi người

Ai tri âm đó đã mười năm qua.

Ra khỏi quán rượu, định đi đến Tam Thanh tìm Lưu Thái Chơn, thấy khí ngất trời, Tế Ðiên vội án linh quang xem rồi vỗ tay ba cái, gật gật đầu, nói:

- Hay quá! Hay quá! Ta đâu bỏ đi được!

Vừa đi vừa lẩm bẩm cho tới Tam Thanh quán.

Ðến nơi thấy tấm bảng đề bắt yêu trị bệnh đã bỏ, lạnh tanh lạnh ngắt. Lão đạo sĩ từ khi bắt yêu ở nhà Châu viên ngoại trở về, đem bạc chuộc đồ vật lại, bảo đạo đồng gỡ bỏ bảng bắt yêu xuống và dặn:

- Nếu có ai mời ta đi bắt yêu, ngươi nói là ta vào núi hái thuốc rồi nhé.

Tiểu đồng vâng dạ, lão đạo sĩ ngày ngày xem sách đỡ buồn!

Hôm nay tiểu đồng đang chơi đùa trong viện bỗng nghe có tiếng gõ cửa, tiểu đồng chạy ra xem thì thấy một vị Hòa thượng kiếc đang đứng đó. Tiểu đồng hỏi:

- Ông tìm ai?

Tế Ðiên nói:

- Tìm Lưu đạo gia của nhà ngươi, mời đến nhà ta bắt yêu, lui quỷ trị bệnh.

- Không được đâu. Thầy tôi đã vào núi hái thuốc rồi, không biết ngày nào mới về.

- Ngươi vào nói với lão đạo sĩ đang xem sách ở nhà trong là có ta là lão nhân gia đến, ông ấy sẽ ra gặp ta ngay!

Tiểu đồng nghe nói ngạc nhiên nghĩ thầm: “Chà! Sao ông ấy biết thầy mình đang xem sách kìa?”.

Lật đật nói:

- Xin Hòa thượng chờ cho một chút.

Rồi chạy vào trong thưa:

- Bạch sư phụ, bên ngoài có ông Hòa thượng kiếc nói mời sư phụ đi bắt yêu an trạch. Tôi nói sư phụ đi hái thuốc rồi. Ông ấy bảo tôi vào bên trong nói với lão đạo sĩ đang xem sách rằng có ông ấy đến là sư phụ sẽ ra ngay.

Lão đạo sĩ nghe, ngạc nhiên nói:

- Hay là ông ấy, lão nhân gia đến chăng?

Tiểu đồng nói:

- Ðúng rồi, ông Hòa thượng cũng có xưng là lão nhân gia nữa đấy.

Lão đạo sĩ vội chạy ra nhìn xem, quả nhiên là Tế Ðiên, vội nói:

- Bạch Thánh tăng, lão nhân gia từ đâu đến? Ðệ tử ở đây xin kính lễ Ngài.

Tế Ðiên nói:

- Ðược, được, ông hãy đi trước dẫn đường, ta vào miếu ông ngồi đã. Ta hỏi ông chuyện này nhé. Ông bây giờ không bắt yêu trị bệnh nữa rồi thầy trò ông lấy gì để sống chớ?

Lão đạo sĩ nói:

- Bạch sư phụ, chúng tôi ở đây thường chỉ nhờ vào việc bắt quỷ trị bệnh để có chén cơm qua ngày. Từ ngày hôm ở nhà Châu viên ngoại trở về, tôi sợ quá đâu dám bắt yêu nữa. Trong miếu hiện cũng không có chút lợi tức nào. Xin lão nhân gia chỉ điểm cho một phương cách để có thể sống qua ngày.

Tế Ðiên nói:

- Ta sẽ dạy phương pháp chuyển vận. Nếu ngươi học được, khi muốn có vàng bạc niệm câu chú này sẽ có ngay; muốn có quần áo, thức ăn ngon, hễ nghĩ đến là có ngay.

Lão đạo sĩ nói:

- Thế thì tôi xin học phép đó, còn cái khác thì không học đâu. Xin sư phụ lão nhân gia dạy tôi luyện đi.

Tế Ðiên nói:

- Ngươi luyện chưa được đâu. Muốn luyện phép này trước hết phải dập đầu một ngàn cái, dập đủ bốn mươi chín ngày và nhận ta làm thầy mới được. Ngươi quỳ trên đất niệm “Vô lượng Phật”, dập đầu một cái rồi đứng dậy niệm “A Di Ðà Phật”. Như thế mới kể là một lần.

Lão đạo sĩ nói:

- Tôi chịu luyện. Mỗi ngày dập đầu một ngàn cái, chỉ cần 49 ngày là xong, muốn gì có nấy, tôi quyết ý tập luyện.

Tế Ðiên nói:

- Còn chưa được, Hòa thượng ta uống rượu ai đi mua đây?

- Ðệ tử bảo đạo đồng đi mua.

- Mỗi bửa cơm ta muốn ăn thịt ai đi mua đây?

- Ðệ tử đi mua, sớm tối hai lần điểm tâm, hai bửa cơm toàn do đệ tử lo cả.

- Thế thì sáng sớm ngày mai bắt đầu luyện tập nhé. Ngươi trước hết bảo đạo đồng đi đong rượu mua thức ăn đi, ta uống rượu trước.

Lão đạo sĩ bảo đạo đồng đi mua thức ăn. Ngày kế, Tế Ðiên đề nghị dùng hai cái bình pha lê và mua một ngàn hạt đậu vàng. Hòa thượng ngồi trên bồ đoàn, lão đạo sĩ niệm một tiếng “Vô lượng Phật”, rồi dập đầu một cái, niệm “A Di Ðà Phật”. Ðoạn lấy một hạt đậu từ bình pha lê vàng bỏ qua bình pha lê đỏ, để đỡ phải ghi nhớ.

Lão đạo sĩ dập đầu được mấy mươi cái cảm thấy lưng ê đùi nhức. Dập được hai trăm cái, thấy Tế Ðiên nhắm mắt lim dim, lão đạo sĩ nghĩ thầm: “Mình hốt đại một nắm bỏ qua sẽ ít dập đầu một số”. Thấy Tế Ðiên ngủ say, lão đạo sĩ hốt vội một nắm đậu bỏ qua bình pha lê đỏ. Tế Ðiên mở mắt ra hỏi:

- Cái gì vậy? Luyện phép thuật mà còn gian dối à? Phải luyện lại.

Rồi đem số đậu trút vào bình pha lê kia lại! Thế là toi đi hơn ba trăm lần dập đầu trước. Lão đạo sĩ dập đầu được năm sáu ngày, số bạc còn lại đã tiêu sạch hết. Tế Ðiên bảo đong rượu mua thịt, lão đạo sĩ bảo đạo đồng đem đạo bào đi thế, trâm vàng đem đi cầm, đợi khi luyện pháp chuyển vận xong sẽ chuộc lại. Ðạo đồng đem đồ vật đi cầm, ăn được năm sáu ngày lại hết nhẵn. Lão đạo sĩ đem cầm mấy tấm tiền bàn, lần lượt các bàn ghế ở đại điện cũng bán hết. Cho đến khi luyện được một tháng sáu ngày, lão đạo sĩ chỉ còn lại một chiếc quần đang mặc, bốn tên đạo đồng đều trần truồng như nhộng. Lão đạo sĩ nói:

- Bạch sư phụ, đệ tử thiệt bây giờ hết nhẵn tiền rồi, sư phụ dạy phép chuyển vận, vậy xin chuyển vận vật thực đến để ăn chớ.

- Nếu ta biết phép chuyển vận, tại sao còn bảo ông mua rượu làm chi!

- Ðúng là sư phụ hại đệ tử rồi, bây giờ phải làm sao đây?

- Ông không tiền, Hòa thượng ta đi nhé!

- Thánh tăng mà đi ra rồi, thầy trò đệ tử treo cổ chết cho xong.

- Ta dạy ngươi niệm chú, ngươi có niệm không?

- Thưa chú gì vậy?

- Án ma ni bát mê hồng.

Lão đạo sĩ nghe không rõ, nói: Bát nì (ông) hoáng.

Tế Ðiên nói:

- Ðúng đó.

Dạy liên tiếp ba lần, lão đạo sĩ đã học thuộc. Tế Ðiên bảo ông ta quỳ trong điện niệm chú. Lão đạo sĩ vừa niệm: “Án ma ni bát mê hồng”, Tế Ðiên ở phía sau lấy tay chỉ xuống đất, tức thì một cục gạch nhỏ từ dưới đất bay lên trúng đầu lão đạo sĩ một cái “cốc” u lên một cục. Lão đạo sĩ hỏi:

- Thưa sư phụ, sao kỳ vậy?

Tế Ðiên nói:

- Ông niệm chú mà gạch ngói muốn phang ông thì ông niệm làm chi?

- Thế thì đệ tử không niệm nữa.

- Không hề chi, để ta dạy ngươi mấy câu này, ngươi gặp gạch ngói thì nói:

Ông gạch ngói ơi,

Con xin lạy ông,

Con không niệm chú,

Ông đừng phang con.

- Bạch sư phụ, thế thì con phải làm sao đây?

- Ông lấy tăng bào của ta mặc vào, tăng mạo của ta ông đội lên, rồi ta sẽ dạy ông mấy câu, ông đi lên Tô Ðê của Tây Hồ ở cửa Tiền Ðường, gặp Lãnh Tuyền đình sẽ đứng lại và nói lớn:

Lý Quốc Nguyên, Lý Quốc Nguyên!

Khỏi phải lên chùa tìm Tế Ðiên

Mười lạng bạc ròng đưa ta đủ

Trong lưng còn đúng 360 tiền.

Lão đạo sĩ muốn không đi, ngặt nổi trong miếu một đồng cũng không có, còn đi thì thật là khó coi. Mọi khi đạo sĩ đi ra ngoài áo quần chải chuốt lắm, hôm nay không còn cách nào khác hơn được đành phải mặc áo rách nát của Tế Ðiên vào rồi nói:

- Bạch sư phụ, con đến đó nói như vậy ba lần, rồi sẽ có việc gì xảy ra?

- Ông chỉ cần đi đến đó nói ba lần như vậy rồi sẽ có ngưòi đến hỏi. Hòa thượng ta thuyết pháp hóa chút duyên nhỏ sẽ đủ cho thầy trò ông chi dùng.

Lão đạo sĩ không còn cách nào khác để làm, đành phải ra khỏi Tam Thanh quán, mặt cúi gầm xuống sợ gặp phải người quen. Hai bên đường người quen biết với đạo sĩ không phải là ít. Có người nhìn thấy ông, nói:

- Ai như là Lưu đạo gia ở Tam Thanh quán vậy cà? Sao mà ra nông nổi thế? Bình thường ông ta có tiền lắm mà!

Có người nói:

- Chắc là nướng sạch rồi, đạo gia đó chớ ai. Thiệt là người mê bạc!

Lão đạo sĩ nghe thấy hết, nhưng không dám trả lời, cứ cắm đầu đi thẳng về phía Lãnh Tuyền đình ở Tô Ðề nơi Tây Hồ. Khúc này là con đường lớn, người qua lại nhộn nhịp, lão đạo sĩ đứng tại Lãnh Tuyền đình la lớn:

Lý Quốc Nguyên, Lý Quốc Nguyên!

Khỏi phải lên chùa tìm Tế Ðiên

Mười lạng bạc ròng đưa ta đủ

Trong lưng còn đúng 360 tiền.

Lão đạo sĩ hô to ba lần như vậy, người ta bu lại khá đông, ai nấy bàn bạc lăng xăng, có người cho ông ta là thằng điên, có người đoán chắc là muốn tìm Lý Quốc Nguyên. Ðang lúc mọi người bàn tán thì có hai người đi lại. Người kia nói:

- Này hiền đệ, ta nói Tế Công là bậc tiên tri mà.

Hai người đi lại gần, lão đạo sĩ nhìn thấy, người đi trước ăn mặc theo lối phú ông, còn người đi sau phục sức ra dáng nam sinh công tử. Khi hai người đến trước lão đạo sĩ, vị viên ngoại nói:

- Ông đạo sĩ này chắc hại Tế Công rồi mới lấy quần áo của người mặc vào đây chứ gì?

Lão đạo sĩ nói:

- Tôi đâu có hại Tế Công, trái lại Tế Công hại tôi thì có, ông ấy ăn uống sạch hết gia tài tôi, bây giờ tôi chỉ còn mỗi cái quần! Xin hỏi hai vị quý danh là chi?

Nguyên vị nam sinh công tử tên là Lý Quốc Nguyên, nhà ở Thanh Trúc Lâm nơi An Lâm, kế ngã tư Hồ Ðồng. Anh ta vốn là một nhà giàu, mới vừa đậu tú tài, cưới vợ là Lan thị rất là hiền thục. Bỗng nhiên Lan thị mắc bệnh điên, rước nhiều thầy chữa trị vẫn không khỏi. Lý Quốc Nguyên vì thế rất lo rầu, anh ta có một người bạn tên là Lý Xuân Sơn đang dạy học ở nhà quan họ Ðỗ.

Một ngày kia, Lý Quốc Nguyên đi tìm Lý Xuân Sơn than thở việc vợ mình mắc bệnh điên uống thuốc nhiều thầy không hết.

Lý Xuân Sơn nói:

- Trong từ đường của Ðỗ đại nhân của ta có một lá Ngũ lôi bát quái thiên sư phù. Ðó là món báu vật trấn gia. Ta hỏi mượn chắc ông ấy không cho, để ta lén lấy cho hiền đệ mượn treo ở trong nhà, hễ có yêu quái gì cũng bị xua đuổi đi hết.

- Phải đó, thẳng như mượn được trị bệnh cho vợ tiểu đệ xong sẽ hoàn trả lại cho anh ngay.

Lý Xuân Sơn bèn vào từ đường mở rương lấy Thiên sư phù đem ra. Ðó là chiếc hộp chạm trổ rất khéo.

Lý Xuân Sơn nói:

- Ðây là bảo vật truyền gia của Ðỗ đại nhân, ta lén mượn cho hiền đệ, ngàn muôn lần phải nên cẩn thận nhé! Hiền đệ đem về treo khoảng hai tiếng đồng hồ, tà ma đi rồi nên mau mau đem trả lại cho ta.

- Ngày mai tôi sẽ đưa lại.

Lý Quốc Nguyên nói xong, cáo từ đi vừa nghĩ: “A, sáng giờ mình chưa ăn gì hết định đến rủ anh Lý Xuân Sơn đi ăn sáng, nào dè mắc nói chuyện linh phù mà cơm nước gì quên ráo. Bây giờ phải kiếm cái gì ăn đã”. Nghĩ rồi ghé quán rượu trước mặt bên đường. Bên trong quả nhiên bạn hữu ngồi đầy. Ai nấy đều đứng dậy mời gọi:

- Lý tiên sanh, xin lại ngồi cùng bàn uống cho vui.

Lý Quốc Nguyên nói:

- Xin cảm ơn hai vị, tôi còn phải nói chuyện riêng với người bạn nữa.

Nói rồi vào bên trong tìm một cái bàn trống ngồi xuống kêu rượu. Uống được vài chén lại nghĩ: “Người ta đã mời mình, mình không mời lại người ta, vậy đâu phải lẽ”. Nghĩ thế bèn đứng dậy đi đến các bàn quen mời rượu. Mời xong trở lại bàn thì bỗng nhiên đứng đờ ra đó: Ngũ lôi thiên sư phù không cánh mà bay.



Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:50 PM | Message # 10
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 9

Triệu Văn Hội Tây Hồ mời Ðạo Tế
Túy Thiền sư khiển tướng trộm linh phù




Có thơ rằng:

Tiêu Tương bến nước đón xuân sang

Băng rã hoa mai se sẽ tàn

Mong chàng giữ mãi màu son trẻ

Mỗi năm một bận ghé huyên hàn.

Khi Lý Quốc Nguyên trở về bàn thấy mất bức họa linh phù, muốn uống cũng uống không vô, muốn nuốt cũng nuốt không trôi. Thầm nghĩ: “Khổ dữ a! Mất cái gì khác mình có thể thường lại cho người ta, còn thứ này dẫu có tiền cũng đành chịu. Ðây là vật báu truyền gia của nhà họ Ðỗ, thảng như việc này bị tiết lộ ra ngoài, há chẳng hại huynh trưởng sao!”. Nghĩ thế rồi vội kêu thính tiền. Tài phú nói:

- Ông tại sao không ăn cơm?

Lý Quốc Nguyên nói:

- Ta bận việc gấp.

Cũng không đòi tiền thối, lật đật trở về nhà. Về đến nhà kêu mấy đứa ở tâm phúc lại, nói:

- Ta vừa bị đánh cắp ở tiệm cơm một cuộn Ngũ lôi bát quái thiên sư phù, các ngươi ráng đi dò xét xem nó lọt vào tay tên trộm nào. Nếu gặp thì bỏ tiền ra chuộc về. Nó là báu vật người ta cho mượn đấy.

Bọn gia nhân vâng lời chia đi các ngả, không bao lâu Lý Bệ trở về nói:

- Tôi vừa mới dò nghe rõ là: Hồi nãy chủ gia đang uống rượu trong quán, linh phù bị tên Bạch tiên tặc trộm đi đem bán cho Lưu chưởng quỹ ở tiệm bán đồ cổ. Chưởng quỹ lại là chỗ quen biết với phủ Thừa tướng. Hiện tại Thừa tướng đã mua linh phù với giá 500 lượng đem treo trấn trạch ở Các Thiên lâu rồi. Lý Quốc Nguyên nghe nói, lắc đầu than thở:

- Nếu còn ở tiệm bán đồ cổ, ta còn có thể bỏ tiền ra mua về, chớ còn rơi vào phủ Thừa tướng, luận về nhân tình thế lợi ta đều kém xa ông ấy.

Còn đang than thở, bỗng nghe có tiếng gõ cửa, Quốc Nguyên bảo gia nhân ra xem, thì ra người đến là Lý Thiếu Chưởng, con trai của Lý Xuân Sơn. Lý Thiếu Chưởng nói:

Hồi nảy chú đi rồi, nghe bên nhà của Ðỗ đại nhân nói ngày mai có cúng tế, cha cháu bảo qua lấy Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về, đợi vài ngày sẽ cho chú mượn dùng.

Lý Quốc Nguyên nói:

- Cháu về trước đi, bức linh phù của ta mới vẽ có một quái, hãy còn một ít chưa xong, hiện để đằng tiệm vẽ, lát nữa ta sẽ đem tới, cháu khỏi phải lại lấy.

Lý Thiếu Chưởng đi rồi, Quốc Nguyên càng quýnh hơn nữa. Chính lúc khó khắn đó, người nhà lại báo có Triệu viên ngoại tới. Lý Quốc Nguyên chạy ra xem, quả là Triệu Văn Hội, bạn tri kỷ của mình, vội đến trước chào hỏi:

- Chào huynh trưởng, lâu quá mới ghé tiểu đệ.

Triệu Văn Hội nói:

- Hôm nay ta rủ hiền đệ lên núi Thành Hoàng chơi rồi trở về Vọng giang lâu ở đường Thiên Chu uống rượu nhìn khói sóng trên con sông bậc nhất trong thiên hạ.

Lý Quốc Nguyên nói:

- Xin đại ca thứ lỗi, hôm nay tiểu đệ có một việc bận tâm lắm không thể nào bồi tiếp đại ca được. Xin mời đại ca vào trong này ngồi.

Vào đến thư phòng, Quốc Nguyên mới đem việc bị mất thiên phù kể lại. Triệu Văn Hội nói:

- Không hề gì, việc đó để cho ta lo. Tế Công trưởng lão ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ là vị Phật sống thời nay đó. Chúng ta sẽ đi đến đó để cầu lão nhân gia giúp đỡ. Ta chắc chắn Thiên sư phù có thể thâu hồi mà bệnh của thím nó cũng lành mạnh được. Ngài thật là bậc thần thông quảng đại, Phật pháp vô biên.

Lý Quốc Nguyên nghĩ: “Ta có nghe danh mà chưa gặp mặt người. Thảng như mời Ngài được, ta phải mang tiền theo để đãi Ngài một bữa”. Nghĩ thế bèn đem theo mười lạng bạc và 400 tiền cùng Triệu Văn Hội ra đi. Mua một gói trà hết 40 đồng rồi cùng nhau đi tới trước. Thật là:

Mười dặm đê dài cầu sáu chiếc

Một cây liễu biếc tiếp cây đào.

Tại sao con đê này lấy tên là Tô Ðê Xuân Hiểu? Nguyên Hồi Tô Ðông Pha làm Thái thú đất này đã cho sửa sang con đường đê, tháng ba tiết xuân, đào liễu khoe tươi. Trong hồ có Hồ Tâm Ðình, nhìn về Nam có Lôi phong tháp ở Nam Bình Sơn, sườn núi Bắc có vườn mai của Lâm Hòa Tịnh, ngó sang Tây có mộ Nhạc Vương và mộ Tô Tiểu Tiểu. Thật là cảnh trí nên thơ. Hai người đi đến Lãnh Tuyền đình nghe trong đám người có tiếng hô:

Lý Quốc Nguyên, Lý Quốc Nguyên!

Khỏi phải lên chùa tìm Tế Ðiên

Mười lạng bạc ròng đưa ta đủ

Trong lưng còn đúng 360 tiền.

Triệu Văn Hội nghe hô, nói:

- Này hiền đệ, Thánh tăng Ngài biết trước hết, đang ở đây chờ chúng ta đó.

Ðến chừng vẹt mọi người ra nhìn thì thấy chỉ có y phục của Tế Ðiên mà người chẳng phải là Tế Ðiên, Triệu Văn Hội mới bước tới nắm áo đạo sĩ hỏi:

- Hay cho lão đạo này, ông đã làm hại Tế Công còn toan giở trò gạt gẫm gì nữa đây?

Lão đạo sĩ nói:

- Trái lại, tôi còn bị Tế Công hại nữa là đằng khác. Thầy trò chúng tôi nuôi người đến quần áo bán sạch chẳng còn. Người mới dạy tôi mấy câu này bảo ra đây nói to như vậy.

Triệu Văn Hội hỏi:

- Hiện giờ Tế Công ở đâu? Ông hãy đưa chúng tôi đến gặp mặt.

Lão đạo sĩ bèn đưa hai vị về Tam Thanh quán. Triệu Văn Hội nhìn thấy trong miếu xác xơ không còn thứ chi hết. Bốn tên đạo đồng trần truồng như nhộng. Tế Ðiên cũng đánh trần trên một chiếc ghế. Triệu Văn Hội nói:

- Bạch sư phụ, đệ tử là Triệu Văn Hội xin kính chào sư phụ.

Rồi kêu Lý Quốc Nguyên đến tham kiến Thánh tăng. Lý Quốc Nguyên nhìn thấy Tế Ðiên giống hệt như một tên ăn mày, ngặt nể mặt Triệu Văn Hội, bất đắc dĩ phải tới thi lễ. Tế Ðiên hỏi:

- Hai ông tới đây có việc gì?

Triệu Văn Hội mới đem tình tiết mất Ngũ lôi bát quái thiên sư phù thuật lại.

Tế Ðiên nói:-Không hề chi.

Rồi kêu lão đạo sĩ cởi quần áo ra đoạn mặc vào, lại lấy mười lạng bạc của Quốc Nguyên giao lão đạo sĩ để chuộc đồ về. Tế Ðiên cùng hai người rời khỏi Tam Thanh quán đến nhà Lý Quốc Nguyên. Tế Ðiên nói:

Ðể ta trị bệnh cho vợ ngươi trước rồi sẽ tìm Thiên sư phù sau. Mà điều này nữa là ta trị bệnh cho vợ ngươi, một lát nữa có níu nó lại hay vật nó ngã lăn, ngươi cũng đừng quan tâm đến nhé!

Lý Quốc Nguyên nghe nói lặng thinh giây lát.

Triệu Văn Hội nói:

- Này hiền đệ, chớ có nên nghi ngờ. Tế Ðiên là vị Phật sống đương thời quyết không có điều càn rỡ đâu. Nếu không phải là người có phẩm cách đáng tin cậy, ta cũng không mời đến đâu.

Lý Quốc Nguyên nói:

- Vậy thì được.

Bèn đưa Tế Ðiên thẳng lên phòng. Cửa phòng đã khóa chặt. Lan thị cột bằng sợi lòi tói, a hoàn vú em đều đã lánh xa, sợ con điên nổi lên bị đánh. Khóa vừa mở, Lan thị dòm ra thấy phía ngoài có một vị Hòa thượng kiếc, liền chạy ra rượt. Tế Ðiên chạy đến trong viện thấy có một cái bầu nuôi cá bèn đem trút cá ra, day về phía Lan thị hô:

- Hay dữ a, có mau ra không. Không ra thì mày chết với ta nhé!

Vừa la vừa chạy, Lan thị chạy xà quần ráng sức rượt theo, trong miệng vọt ra một cục đàm lớn, tức thì tâm thần định tỉnh lại, tự hỏi: “Tại sao ta lại ở đây?”. Lúc đó có người vú em gan dạ, lật đật lại dìu đỡ. Tế Ðiên móc một cục thuốc bảo người nhà đem nước lại hòa cho uống.

Nguyên bệnh của Lan thị là bởi đàm mê tâm khiếu, do gặp việc rối rắc gây nên. Nhân vì nàng ta vốn có một đứa em tên là Lan Ðình Ngọc, hay giao du với bọn người vô lại, đem một phần gia nghiệp tiêu sạch sanh rồi. Ngày kia y tìm đến Lan thị mượn tiền, bảo rằng để đi buôn bán. Cốt nhục tình thâm, không nỡ để em nghèo khổ, nàng mới lén chồng lấy cho em mượn mấy trăm lượng bạc. Có tiền trong tay, Lan Ðình Ngọc cùng lũ bạn bè du thủ du thực rủ nhau tiêu sạch. Một ngày kia lại tìm đến chị của hắn bảo đem tiền đi mua bán, giữa đường bị bọn cường đạo cướp hết, xin mượn thêm ít trăm lượng để buôn bán lại, tính gộp số tiền mượn trước và sau trả một lần. Lan thị lại lén lấy tiền cho em mượn lần nữa. Một hôm Lan thị đang ngồi trong hoa viên thấy Ðình Ngọc lại đến, trên thân quần áo rách te tua, trong lòng vừa buồn vừa giận, đàm dâng nghẹt làm mê đi, nhân đó phát điên. Hôm nay chạy rượt theo Hòa thượng, cục á đàm trong ngực trơn vọt ra được. Quốc Nguyên rất bội phục bèn mời Tế Ðiên về thư phòng đãi rượu. Ðương lúc uống rượu, bên ngoài có người nhà đi vào thưa có Lý Thiếu Chưởng đến thúc lấy Ngũ lôi bát quái thiên sư phù. Lý Quốc Nguyên bảo người nhà ra nói:-Một lát nữa ta sẽ đích thân đem sang.

Ðoạn thưa với Tế Ðiên:

- Bạch sư phụ, bây giờ phải làm sao?

- Lát nữa, ta trở về chùa mượn ông Vi Ðà đi trộm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về cho ngươi.

- Bạch sư phụ, ông Vi Ðà trong chùa bằng đất nặn làm sao có thể trộm đồ vật được?

- Ðược chớ, ông Vi Ðà trong chùa ta hay can thiệp đến chuyện tào lao lắm.

- Bạch sư phụ, bây giờ chúng ta đi thỉnh nhé.

- Ðể ta đi gặp ông ấy thương lượng xem, ông ấy muốn lấy công bao nhiêu tiền. Mượn ông ấy đi không chẳng được đâu. Các ngươi ở nhà uống rượu chờ ta, ta đi một lát rồi trở về uống rượu nữa.

Tế Ðiên nói rồi đứng dậy đi ra, hai người đưa ra cửa, trở vào, Quốc Nguyên hỏi:

- Triệu huynh nè, anh nghe lời Hòa thưọng nói có thiệt không?

Triệu Văn Hội nói:

- Ta cũng không biết thiệt hay là giả nữa. Lần trước ở nhà Châu Bán Thành vác tượng Vi Ðà bắt yêu quái, chuyện đó có thiệt rõ ràng.

Hai người bảo dọn dẹp tiệc rượu. Mãi đến khi đỏ đèn, hai người càng lo lắng thêm, sợ e cửa thành đóng lại bỏ Tế Ðiên kẹt lại bên ngoài. Ðang nói chuyện, thấy Tế Ðiên bước vào, hai người mừng quá cùng nói:

- A, có sư phụ về rồi.

Tế Ðiên nói: Thiệt tức chết đi thôi!

-Triệu Văn Hội hỏi: Ai làm sư phụ giận thế?

Tế Ðiên nói:

- Cái ông Vi Ðà Trong chùa ta thiệt đáng giận. Bình thường hễ ta đi đâu ông ấy nói Tế sư phụ, có việc gì sai bảo tôi với. Vậy mà bữa nay ta trở về, ông thấy mặt dương dương không thèm nhìn ta lấy một tí. Ta đấu dịu ông ấy:-Này lão Vi, ta kiếm được cho ông một việc đây. Ông ấy hỏi việc gì, ta mới đem việc nhờ ông ấy đến Các Thiên lâu ở hoa viên phủ Thừa tướng trộm giùm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về và hỏi ông ấy đòi bao nhiêu. Ông ấy một mực đòi giá cao.

Lý Quốc Nguyên và Triệu Văn Hội đều hỏi:

- Ông ấy đòi bao nhiêu tiền?

Tế Ðiên nói: Ông ấy đòi năm điếu tiền, ta tính công cho ông ấy 500 tiền.

Lý Quốc Nguyên nói: Năm điếu tiền đâu có đắt!

Tế Ðiên nói:

- Ban đầu ông ấy cứ giữ giá nhất định, nói chỉ có hai điếu tiền, ít quá đi không được. Ta mới nói, nếu ông chịu bớt ta thêm cho ông 500 tiền nữa, chớ nhiều quá không được. Ông ấy chê ít quá không đi, cho nên cuộc thương lượng bất thành. Ta ra khỏi chùa, ngang chùa Ðại Phật, gặp ông Vi Ðà ở chùa này. Thấy ta còn đằng xa, ông ấy lên tiếng hỏi ta đi đâu đấy? Ta nói kiếm cho ông một việc mà ông có đi không? Ông ấy hỏi là việc gì. Ta mới bảo ông ấy là đi lấy linh phù. Ông ấy nói:-Sao ông không bảo ông Vi Ðà ở chùa ông trước? Ta nói, đã có nói rồi mà ông ấy đòn tiền chuộc mắc quá. Ông ấy đòi ba điếu tiền mà ta chỉ trả 500 tiền, không thể hơn được. Ông ta nói:-Tôi không thể lấy ít hơn được, lấy ít hơn thì có lỗi với ông Vi Ðà ở chùa ông sao? Ta nói:-Ta cũng không thể chi nhiều hơn được. Cuộc thương lượng lại bất thành.

Lý Quốc Nguyên nghe nói giữ giá không đổi cũng không biết làm sao. Tế Ðiên nói:

- Ta lại đi nữa, đi đến chùa Tử Trúc. Ông Vi Ðà ở chùa này bị đói meo, thấy ta ở đằng xa vội kêu rối rít. Ta mới đem việc lấy linh phù ra nói, ông ấy chịu đi ngay. Ông ấy nói lát nữa sẽ đến, tiền công bao nhiêu cũng được.

Lý Quốc Nguyên hỏi: Chừng nào ông ấy đến?

Tế Ðiên nói: Chúng ta ăn cơm xong, bảo bầy trẻ dọn một cái bàn, ta kêu một tiếng thì ông ấy sẽ đến ngay.

Lý Quốc Nguyên hối dọn cơm xong, và bảo gia nhân chuẩn bị những thứ cần dùng để ở trong nhà.

Tế Ðiên nói: Các ông đừng nóng, chờ một lát sao mọc tỏ rạng đã.

Tế Ðiên bước ra sân, hô:

- Có ta đây, có ta đây! Tây Hồ Linh Ẩn Tế Ðiên tăng! Vi Ðà không đến còn đợi chừng nào?

Tức thì ở nửa tầng không có tiếng đáp lại:

- Ngô thần đã đến.

 
LongTracAn Date: Thứ Tư, 28 Mar 2012, 9:51 PM | Message # 11
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi thứ 10

Triệu Bân đêm dọ Các Thiên lâu
Anh hùng trượng nghĩa cứu công tử




Thơ rằng:

Bọt nước phù hoa bã lợi danh

Lửa hồng đốt rụi cả mày xanh

Sang hèn giàu có thay phúc chốc

Trí nhân tạng mắt chỉ cười lành.

Tế Ðiên đang ở trong nhà đốt hương thỉnh Vi Ðà, thì nghe trên nhà có tiếng hô to:-Ngô thần đã đến.

Thật ra người đến không phải là Vi Ðà thật mà là người ở huyện Ðơn Dương, phủ Trấn Giang, họ Triệu tên Cửu Châu cưới vợ là Mai thị sinh chỉ được một đứa con trai đặt tên là Triệu Bân, tánh tình lãng mạn, nhưng không kém phần cứng rắn, được cha truyền võ nghệ quyền bổng, kể ra cũng có hạng. Triệu lão anh hùng suốt đời chỉ dạy dỗ có hai đồ đệ. Ðại đồ đệ chính là Oai trấn bát phương Dương Minh ở huyện Ngọc Sơn, Giang Tây. Nhị đồ đệ chính là Y Sĩ Hùng làm cận tướng cho Ðông lộ tiêu đầu. Triệu Cửu Châu mắc bệnh nặng, kêu Mai thị lại bên giường nói:

- Sau khi ta chết rồi, ngàn muôn lần bà đừng cho Triệu Bân đi làm bảo tiêu nhé. Nó hẹp hòi tự đại cuồng ngạo không biết gì chỉ tổ làm mất chút hư danh của ta truyền lại cho đời sau mà thôi.

Nói rồi xuôi tay tắt nghỉ. Mẹ con Mai thị lo việc tang ma đã xong, của cải còn lại cũng đủ sống qua ngày. Triệu Bân nhờ có gia tư của cha để lại đủ sống nên không phải làm việc chi, rảnh tay giao du với mấy người bạn ở xóm, một người tên là Tần Nguyên Lượng, trác hiệu là Phi thiên hỏa tổ, còn một người nữa tên là Mã Dao Hùng, trác hiệu là Lập địa ôn thần. Hai người này trong giới lục lâm, cùng kết bạn với Triệu Bân. Một ngày kia ba người cùng nhau ăn cơm, Tần Nguyên Lượng nói:

- Này Triệu hiền đệ, hiền đệ có biết chúng ta đang làm gì không?

Triệu Bân nói:

- Em thực không biết hai anh đang buôn bán vật chi.

Tần Nguyên Lượng nói:

- Chúng ta đều làm nghề giặc cướp đây, không phải là làm những tên giặc hái hoa gian dâm tầm thường đâu mà là chuyên đi trộm của nhà giàu giúp đỡ nhà nghèo, giết tham quan, chém ác bá, trừ bạo an lương, chuyên can thiệp những chuyện bất bình thường. Nhân vì yêu hiền đệ là người có tài, muốn kéo hiền đệ nhập bọn để hành hiệp tác nghĩa đó thôi. Ta có đem theo một bộ đồ da hành dành cho hiền đệ đây.

Nói rồi, lấy đưa cho Triệu Bân một cái túi vải. Triệu Bân mở ra xem thấy bên trong những thứ đi đêm đều đầy đủ, và cũng từ hôm đó Triệu Bân cùng hai bạn đang đêm thường đi trộm của người giàu giúp kẻ nghèo. Một hôm Triệu Bân bỏ quên bọc đồ ở nhà, Mai thị mở ra xem thấy áo dạ hành. Vợ Triệu Cửu Châu có từng thấy qua đồ dùng luyện võ của chồng nên biết được. Lúc đang xem thì Triệu Bân từ ngoài đi vào. Mai thị thấy mặt con đùng đùng nổi giận mắng:

- Triệu Bân, cha mi thân danh làm bảo tiêu một đời anh hùng, danh tiếng vì mi mà tiêu hết, bây giờ mi lại đi làm giặc cướp hử? Con ơi là con! Ta đập đầu chết phức cho rồi, không sống làm chi nữa!

Triệu Bân vội thưa:

- Xin mẹ đừng giận, mẹ không muốn con làm giặc thì con xin thôi không làm giặc nữa.

Mai thị bảo:

- Mi đem đồ dạ hành đốt đi, ném dao đi nhé!

Rồi lại nghĩ: “Chỗ này ở không khá rồi, bắt nó đoạn tuyệt với đám bạn bè này rồi, tụi khác lại rủ rê nữa!”. Lão thái thái muốn bắt chước phương pháp Mạnh mẫu dời nhà để dạy con, bèn vội bán hết đồ đạc trong nhà, chỉ mang theo vàng bạc và đồ tế nhuyễn cùng con đến Lâm An phủ ở Kinh sư, mướn nhà của Vương Hùng bán trái cây ở hẻm Thanh Trúc, ngõ Hồ Ðồng. Ở đây Triệu Bân cũng không làm việc gì. Mẹ của Vương Hùng là Vương lão thái thái thấy vậy mới nói:

- Triệu lão thái nè, tại sao không bảo thằng bé đi buôn bán với người ta? Ở nhà lần khân ăn mãi núi cũng hết nữa là!

Mai thị nói:

- Cháu bé nó từ nhỏ đã chẳng làm việc gì, nên bây giờ chẳng biết việc chi để làm.

Vương lão thái nói:

- Thì bảo nó theo thằng nhỏ nhà tôi lên hàng trái cây mua về bán lại, tập riết rồi quen.

Mai thị nghĩ cũng phải, về bàn với con, Triệu Bân cũng đồng ý. Hôm sau Triệu Bân đem theo hai điếu tiền cùng Vương Hùng lên hàng trái cây tươi ngon. Vương Hùng nói:

- Anh mua chỗ trái cây này rẻ lắm đấy, tính ra lời cũng phải gấp đôi, người ta trả đúng bốn điếu mới bán nhé, anh liệu mà đi bán đi.

Triệu Bân ăn bánh xong, xách giỏ nhỏ ra đi, gặp người ta không dám mời rao, đi qua mấy con đường ở Hồ Ðồng, người ta cho là đưa lễ vật đi tặng vì bộ dáng không giống người đi buôn bán nên chẳng có ai mua hết. Triệu Bân đi đến ngõ Phụng Sơn, thấy mé Bắc có một tòa cổng lớn giống như nhà quan, trong cổng có treo một tấm bảng to, Triệu Bân xách giỏ trái cây để trên đất, rồi ngồi ngay trước cổng ngây người nhìn giỏ trái cây của mình. Một lát bên trong có một vị viên ngoại đi ra tiễn khách, vị viên ngoại đó mình cao tám thước, vai hổ lưng gấu, mặt như giấy ô kim, mày cong mắt lộ, họ Trịnh tên Hùng, người ta thường gọi là Thiết diện thiên vương. Vốn dòng dõi thế gia, lại đỗ Võ tiến sĩ, ông ta ở nhà thường thấy nghĩa quyết làm, ưa thích việc thiện. Hôm nay đưa khách ra cửa, thấy Triệu Bân tướng mạo khác người đang ngồi bơ phờ bèn đem lòng ái mộ, hỏi:

- Này bạn, bạn làm gì ngồi đây?

Triệu Bân đáp: Tôi bán trái cây.

Trịnh Hùng hỏi: Bạn bán bao nhiêu tiền giỏ trái cây này?

Triệu Bân đáp: Giỏ trái cây này tôi mua hai điếu vốn, phải bốn điếu mới bán được.

Trịnh quan nhân bảo người nhà xách giỏ trái cây vào và lấy bốn điếu tiền đem ra trả. Trịnh Hùng lại hỏi:

- Này bạn, chắc bạn chưa từng buôn bán phải không?

Triệu Bân nói:

- Hôm nay tôi mới bán lần đầu.

Nói rồi cầm bốn điếu và xách giỏ về, nói với mẹ là hôm nay lời được hai điếu. Hôm sau lại cùng với Vương Hùng ra chợ đếm hai điếu trái cây, trở về nhà ăn cơm xong, không đi chỗ nào khác lại xách giỏ trái cây đến đường Phụng Sơn nơi nhà Trịnh Hùng, để giỏ trái cây đó ngồi chờ. Chờ mãi đến xế trưa, Trịnh Hùng mới ra cửa. Vừa ra tới cửa, Triệu Bân kêu lại nói:

- Ông đừng đi, tôi đưa trái cây lại cho ông đây.

Trịnh Hùng hỏi: Ai bảo bạn đưa đến vậy?

Triệu Bân nói: Ông lấy đem vào nhà thì tôi khỏi đem chỗ khác bán nữa.

Trịnh Hùng nói: Cái này là bạn muốn chớ tôi đâu muốn. Chi bằng mỗi ngày tôi bỏ ra hai điếu cho không bạn có được không?

Triệu Bân nói: Ðược chớ.

Trịnh Hùng nghe vậy cũng vui, nói:

- Bữa nay để trái lại đây, ngày mai đừng đem tới nữa. Tôi không cần đâu.

Nói rồi kêu gia nhân lấy bốn điếu tiền ra đưa cho. Triệu Bân nghe nói cũng buồn, dễ gì bán được giá như đã liệu, lại mất một mối rồi! Triệu Bân cầm tiền trở về nhà và từ đó tập buôn bán lặt vặt, có khi được lời có khi lỗ vốn. Một hôm, nhân vì Hoa thái tuế Vương Thắng bắt cóc con gái người ta đi dạo Tây Hồ. Triệu Bân giữa đường gặp chuyện bất bình, đánh chết ba mạng người, may nhờ Tế Công cứu khỏi và nhận Tế Công làm sư phụ. Hôm nay Tế Ðiên ra khỏi nhà Lý Quốc Nguyên chính là đi tìm anh chàng bán trái cây Triệu Bân đó. Tế Ðiên nói:

- Này Triệu Bân, đi uống rượu với ta chơi.

Triệu Bân cùng với Tế Ðiên vào tửu quán uống rượu.

Tế Ðiên nói: Bữa nay ngươi giả làm Vi Ðà một lát nhé.

Triệu Bân hỏi: Tại sao phải giả làm Vi Ðà?

Tế Ðiên mới đem việc Lý Quốc Nguyên đánh mất Ngũ lôi bát quái thiên sư phù, nó lại rơi vào Các Thiên lâu nơi hoa viên ở phủ Thừa tướng, và bảo Triệu Bân đi lấy nơi trộm đem về. Ðến nhà họ Lý giả dạng Vi Ðà che mắt chúng nhân.

Triệu Bân nói: Tôi không biết nhà Lý Quốc Nguyên ở đâu.

Tế Ðiên nói: Ðể ta đưa ngươi tới đó.

Uống rượu xong, trả tiền rồi dẫn Triệu Bân đến cổng nhà họ Lý, Tế Ðiên nói:

- Tối nay ngươi đến nhà làm như vậy, như vậy nhé!

Triệu Bân gật đầu trở về nhà, nói với mẹ:

- Sư phụ Tế Công bảo con tối nay giả làm ông Vi Ðà!

Mai thị hỏi: Sao phải giả làm ông Vi Ðà?

Triệu Bân nói: Sư phụ bảo con giả làm ông Vi Ðà đến tướng phủ tìm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù.

Mai thị biết Tế Ðiên là ngươi tốt, nếu không phải là việc của Tế Ðiên sai bảo, tối nay cũng không cho con đi. Triệu Bân thay đổi y phục, giắt một con dao thái rau, trời vừa tối, để mẹ khỏi mở cửa, Bân vượt tường đi ra. Ðến nhà họ Lý, nằm mọp trên nóc nhà trong bóng tối chờ sẳn. Nghe Tế Ðiên gọi Vi Ðà sao không đến còn đợi chừng nào, Triệu Bân ứng tiếng đáp lại:-Ngô thần đã đến.

Tế Ðiên nói:

- Này lão Vi, ông hãy đến Các Thiên lâu ở hoa viên Tần tướng phủ lấy Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về cho ta nhé.

Triệu Bân nói:

- Xin tuân pháp chỉ.

Nói rồi vượt nhà nhảy tường đi về phía phườngTần Hợp. Ðến hoa viên tướng phủ thấy hoa viên quá lớn, không biết tòa nào là Các Thiên lâu! Thật là:

Thủy các lương đình,

Lâu đài san sát,

Hoa nở bốn mùa chẳng dứt,

Cỏ xuân tám tiết còn hoài.

Nhảy xuống bờ tường, Triệu Bân đi tìm khắp nơi, tìm đến Ðông bắc, riêng có một cái nhà đó là Bắc phòng, ánh sáng chập chờn, hai bên đều có nhà phụ. Trong Bắc phòng ánh đèn chập chờn, bóng người lay động, Triệu Bân đi đến phòng đó, ở bên ngoài lấy lưỡi thấm nước miếng xoi thủng giấy cửa sổ nhìn vào. Cách chõng tre trước mặt, một cái bàn bát tiên để sát vách với hai cái ghế. Trên tường, thanh đơn đao lấp lánh ánh bạch lạp để trên bàn. Hai người ngồi đối diện ở bàn uống trà. Người ngồi phía Ðông, tuổi độ ngoài 60, da mặt hơi trắng, hai đạo lông mày kiếm trên đôi mắt hình ba góc, với chùm râu ngà bạc, đầu đội khăn màu lam bốn góc, mình mặc áo bào lam hào hoa. Ðối diện là một vị chừng 30 tuổi, đầu đội mũ tráng sĩ màu xanh, mình mặc áo tiễn tụ bào màu xanh, lưng thắt dây tơ, quấn xà cạp rằn. Lúc đó, người già nói:

- Tráng sĩ nè, tôi đưa tráng sĩ về đây phò dưỡng lành mạnh rồi, bây giờ cũng muốn tráng sĩ giúp cho một việc, tôi chỉ mong việc này được kết quả tốt. Tôi xin đưa tặng tráng sĩ 100 lượng bạc, và đây tráng sĩ hãy cầm lấy. Dù ở chân trời góc bể nào, tráng sĩ cũng đừng tiết lộ để dây dưa đến cửa quan.

Nói rồi, ông già bèn rút trong bọc ra hai gói bạc để ở trên bàn, ánh bạc chói lấp lánh.

Vị tráng sĩ đó nói:

- Cảm tạ ơn đức tài bồi của lão trượng, nếu từ chối thì bất kính mà nhận lấy thật hổ thẹn trong lòng. Xin cho được mang tội bất kính.

Ông già nói:

- Tráng sĩ nè, cung kính không bằng nghe lời!

Bèn thấy vị tráng sĩ ấy bạc nhét vào túi rồi đứng dậy với lấy thanh đao trên vách, nói:

- Thưa lão trượng, lát nữa bất luận bên ngoài có động tịnh chi, người đừng quan tâm nhé. Lát sau sẽ có đầu người trình cho người.

Nói rồi mở cửa đi ra ngoài. Triệu Bân lật đật nép vào bóng tối, đợi người ấy đi qua khỏi, theo dõi ở phía sau, bụng nghĩ: “Chắc chắn là hắn ta đi giết người, ta phải nom theo mới được”.

Thấy người ấy đi qua nhà hai tầng ở phía Tây. Qua khỏi bốn bức lục bình phong có ba gian phòng, ánh đèn mờ tỏ, hình như có tiếng đọc sách. Triệu Bân thấm nước miếng dùi giấy cửa sổ nhìn vào, thấy bên trong có một cái bàn bát tiên và hai cái ghế. Một vị văn sanh công tử đang ngồi trên ghế đọc sách, kế bên là một lão bộc đang hầu hạ.

Người kia bước vào dằn dao trên bàn nói:

- Hai chủ tớ nhà ngươi hãy cung xưng lai lịch cho rõ ràng, hôm nay ta đến lấy tánh mạng các ngươi đây!

Công tử cùng gia nhân sợ bò lăn dưới đất, nói:

- Xin hảo hán gia tha mạng cho! Người muốn hỏi chúng tôi điều gì, chúng tôi sẽ từng phần từng đoạn giải bày hết cho người.

Triệu Bân nghe nói lửa giận phừng phừng, rút dao thái rau muốn xông vào nhà can thiệp.



Đại Bi Chú
 
daohoanam Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 1:45 PM | Message # 12
Major
Group: Disciples
Messages: 88
Status: Tạm vắng
Cám ơn Long Trac An nhiều nhiều...Truyện nào cũng có phần hay riêng.

Message edited by daohoanam - Thứ Năm, 29 Mar 2012, 1:48 PM
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:02 PM | Message # 13
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi thứ 11

Anh em nhận mặt cùng tỏ khúc nhôi ngày cũ
Tớ thầy lánh nạn tạm thời trốn ở Lý gia


Có thơ rằng:
Nhà tranh mé núi nước xanh trong

Tới lui chầy tháng hóa thêm nồng

Mấy hàng đào lý hoa hồng bạch

Một thảm đồng xanh lúa trổ bông

Chõng trúc đêm nằm mưa gõ nhịp

Bên song hé mở ngắm mây hồng

Nhân sinh vô sự thân nhàn cảnh

Ðược đến thanh nhàn há bổng không.

Lại nói Triệu Bân núp trong bóng tối, nhìn thấy người kia xách dao tiến vào muốn giết hai chủ tớ nọ. Vị công tử sợ run lập cập quỳ dưới đất cầu xin đại thái gia bớt trận lôi đình để tôi từ từ thưa bẩm. Vị lão bộc cũng quỳ dưới đất bên chủ. Kế nghe vị tráng sĩ kia nói:

- Hai chủ tớ nhà ngươi sự tình như thế nào hãy mau nói ra!

Vị lão quản gia nói:

- Lão nhân muốn biết, chúng tôi xin giải bày. Gia chủ tôi họ Từ tên Chí Bình, nguyên quán ở quận Kiến An. Lão thái gia nhà tôi tên là Từ Chiếm Khôi, cùng với vị tổng quản Hàn Ðiện Nguyên của hoa viên Tần tướng phủ đây là bạn chi giao. Hàn Ðiện Nguyên có một người con gái đồng một tuổi với con gái nhà tôi, ông ấy tình nguyện đem con gái gả cho công tử tôi và đã định hôn ước từ thuở nhỏ. Về sau lão gia tôi qua đời, trong nhà lại gặp trận hỏa hoạn, bao nhiêu gia tài của cải đều bị thiêu rụi. Tôi cùng công tử đến đây nương nhờ tình thân gia. Hàn Ðiện Nguyên thấy chủ tớ nhà tôi quần áo rách nát, bèn có ý ăn năn, khinh nghèo ưa giàu. Ngoài mặt ông ta lưu chủ tớ lại, bảo công tử tôi ở hoa viên này đọc sách, nào ngờ ông ấy lại kêu lão nhân gia đến hại chủ tớ tôi.

Tráng sĩ cầm dao nghe thế mới nói:

- À ra vậy, ta thật không biểt.

Nói rồi thò tay vào túi lấy 100 lượng bạc ra nói:

- Ðây ta tặng chủ tớ ngươi, nên kíp trốn khỏi chốn này tìm nơi khác ở, gắng công học tập đợi kỳ đại khoa vào thí trường tìm chút công danh. Các ngươi đừng ở đây nữa, e rằng ông ấy còn muốn gia hại các ngươi.

Triệu Bân vốn là người trực tính, quên mình đang nghe lén, trong lòng rất hào sảng, nghe tráng sĩ nói thế, buột miệng nói:

- Việc đó tính như vậy phải lắm.

Vị tráng sĩ nghe ngoài có tiếng nói, lập tức rút dao chém xuống đầu Triệu Bân. Triệu Bân lật đật lấy dao thái trả đòn. Hai người mấy phen đối diện. Triệu Bân kinh ngạc nghĩ thầm: “Sao đao pháp của người này giống ta thế?”. Vị tráng sĩ kia cũng lấy làm kỳ vội nhảy ra vòng chiến, lấy đao chỉ Triệu Bân hỏi:

- Chú kia khoan đánh nhau đã! Họ tên chú là gì? Ở đâu? Học nghề với ai và đến đây làm gì?

Triệu Bân đáp:

- Ta họ Triệu tên Bân, trác hiệu là Thám nan thủ vật, ngươi nếu biết ta lợi hại thì chẳng nên đâm đầu vào chỗ chết.

Vị tráng sĩ vừa nghe vội thu đao lại, nói:

- Té ra là hiền đệ, cái này thật là nước chầu về long vương miếu, anh em một nhà mà không nhìn nhau được.

Triệu Bân hỏi: Ngươi là ai?

Tráng sĩ nói: Ta họ Y tên Sĩ Hùng, hiền đệ quên ta rồi sao?

Triệu Bân nhớ lại hồi còn bảy tám tuổi, Y Sĩ Hùng đang học võ nghệ với cha mình, cách nay hơn mười năm rồi. Triệu Bân liền bỏ dao thái rau xuống bước tới thi lễ. Hai người cùng bày tỏ nỗi niềm ly biệt. Y Sĩ Hùng nói:

- Từ khi ta theo Ðông lộ bảo tiêu trở về, nghe nói sư mẫu cùng hiền đệ đã dọn đến kinh sư rồi. Ta dò la mãi mà cũng không ra. Kế ta bị bệnh ở Tam Thuận điếm, trên đùi bị một mụt ghẻ độc, gặp Hàn Ðại Nguyên, tổng đốc ở hoa viên này là chủ của Tam Thuận quán. Ông ấy thấy ta bị bệnh mới rước về hoa viên này trị thuốc dưỡng thương lành mạnh. Hôm nay ông ấy cho ta 100 lượng bạc bảo ta đi giết kẻ cựu thù. Ta đi đến đây mới biết rõ sự tình là thế. Còn hiền đệ đến đây để làm gì?

Triệu Bân đem việc sau ngày từ biệt thuật qua một lượt. Hôm nay vâng lệnh Tế Công đến để lấy trộm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về. Y Sĩ Hùng nói:

- Hiền đệ hôm nay may mắn được gặp ta, nếu không gặp ta, hiền đệ không làm sao trộm được linh phù đem về. Bây giờ hiền đệ cùng ta đưa chủ tớ Từ Chí Bình lánh đi trước, sau đó ta sẽ tiếp tay hiền đệ đi trộm linh phù.

Hai người vào nhà kêu Từ Chí Bình mau mau thu dọn đồ đạc đi lánh nạn, 100 lượng bạc đem theo để làm lộ phí. Từ Chí Bình hỏi họ tên Y Sĩ Hùng, lão gia nhân Từ Phước cũng dập đầu cảm tạ ân công, rồi vội vàng thu dọn cầm kiếm rương sách.

Từ Phước hỏi:

- Y ân công, đêm tối như thế này, thầy trò chúng tôi biết đi đâu bây giờ? Kinh đô là nơi trọng địa, tuần canh đi tra xét rất nhiều, rủi bị bọn họ bắt được, chúng tôi phải làm sao?

Y Sĩ Hùng nghe nói có lý, nói:

- Này Triệu hiền đệ, hiền đệ có chỗ nào yên không, tạm thời cho hai người đến đó, ngày mai lại tìm lữ điếm trú ngụ.

Triệu Bân nói:

- Y huynh trưởng hãy ở đây chờ giây lát, hai chủ tớ ngươi hãy theo ta.

Triệu Bân định đưa hai người ra góc vườn rồi dẫn về nhà mình, nào ngờ ra khỏi góc vườn không xa thấy có một người đứng thù lù ở đó, chính là Tế Ðiên.

Triệu Bân nói:

- Có sư phụ đây hay quá! Bây giờ chủ tớ ngươi phải làm như vậy, như vậy…

Tế Ðiên nói:

- Ðược, ta đến đây là gì việc này đó. Ta đang ở trong thơ phòng uống rượu với bọn họ, nói lời cáo lỗi rồi thẳng ra đây. Bây giờ ngươi giao bọn họ cho ta và đi lo làm việc ta nhờ đi.

Từ Chí Bình nhìn kỹ là một vị Hòa thượng liền hỏi:

- Vị Hòa thượng này tên họ là gì vậy?

Triệu Bân đáp:

- Ðây là Tế Công trưởng lão ở Linh Ẩn tự đấy.

Từ Chí Bình nghe nói vội vàng thi lễ. Tế Ðiên bèn đưa họ về nhà họ Lý, bảo Từ Phước bỏ đồ trong nhà rồi dẫn hai người vào thư phòng. Triệu Văn Hội và Lý Quốc Nguyên đang uống rượu thấy Tế Ðiên dẫn vào một vị văn sanh công tử và một người lão bộc, vội vàng đứng dậy hỏi:

- Bạch sư phụ, nãy giờ lão nhân gia đi đâu vậy? Và mang về hai người nào đây?

Tế Ðiên mới đem cội nguồn Từ Chí Bình kể lại. Chừng đó Lý Quốc Nguyên mới rõ. Kế nghe Tế Ðiên nói:

- Ngươi cho chú ấy mượn vài gian phòng để ở đọc sách, có điều gì lôi thôi, Hòa thượng ta bảo lãnh cho.

Lý Quốc Nguyên thấy Từ Chí Bình là người rất văn nhã, nói:

- Có sư phụ dự vào thì được.

Liền vội mời vào bàn cùng uống rượu.

Trống điểm canh ba, bỗng nghe bên ngoài có tiếng hô to:

- Ngô thần đã về, kính bạch Tế Công trưởng lão, Ngô thần đã trộm được Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về đây.

Tế Ðiên lật đật bước ra, thấy trên nóc nhà Triệu Bân và Y Sĩ Hùng. Nguyên khi Triệu Bân đem chủ tớ Từ Chí Bình giao cho Tế Ðiên xong liền trở vào hoa viên gặp Y Sĩ Hùng, hai người cùng thẳng đến Các Thiên lâu. Tòa Các Thiên lâu này có 25 căn, mặt đất lại rộng lớn, lấy giấy đốt lửa lên xem thì ở giữa có treo một cái khám thờ. Y Sĩ Hùng trèo lên xem thấy ở trên có một chiếc hộp cứng, mở ra xem, chính là Ngũ lôi bát quái thiên sư phù. Triệu Bân nói:

- Ðúng rồi! Sư huynh, chúng ta cùng đi về.

Y Sĩ Hùng nói:

- Chúng ta đi về bây giờ, bậy bạ dữ đa!

Triệu Bân hỏi: - Có gì mà bậy bạ?

Y Sĩ Hùng nói:

- Hiền đệ nghĩ xem, ông ấy hiện giờ là Tể tướng đương triều mà mất đi vật báu truyền gia há lại để yên hay sao? Lúc đó các quan phủ địa phương triệt để truy tầm, chưa khỏi kéo theo bao nhiêu chuyện thị phi! Chi bằng bây giờ chúng ta dùng cách trảm thảo trừ căn là yên việc.

Nói rồi móc vật dẫn hỏa kề bên cửa sổ của Các Thiên lâu mồi lên. Hai người chạy ra khỏi lầu nhìn lại thấy ngọn lửa bốc cao, như bầy rắn vàng lồng lộn, khói lửa ngất trời chưa từng thấy bao giờ. Có bài tán rằng:

Một đám lửa phàm dấy động

Kéo theo ly bộ vô tình

Theo gió hiển oai cuồn cuộn

Trên không lửa dữ bốc cao

Chỉ nghe ào ào vang động

Tầng mây khói cuốn mịt mù
Ðỏ hồng khắp trời đầy đất

Lầu son gác tía còn đâu.

Lúc đó hai người đã sớm vượt ra ngoài đường, trổ thuật phi thiềm tẩu bích thẳng đến nhà họ Lý và hô:

- Ngô thần đã về.

Tế Ðiên đi ra tiếp lấy linh phù rồi cầm một cái túi nhỏ bên trong để sẵn 500 tiền, một lư hương gạo, năm chén bột thơm, hô:

- Lão Vi hãy cầm lấy! Ðây là phần lễ tạ của gia chủ đó.

Bên trên, Triệu Bân tiếp nhận và hô: - Ngô thần xin kiếu từ. Rồi dắt Y Sĩ Hùng về nhà thăm mẹ.

Tế Ðiên sau khi tiếp nhận Ngũ lôi bát quái thiên sư phù đem vào, mở ra đúng là vật cũ. Lý Quốc Nguyên vội sai người nhà tin cậy đem sang cho Lý Xuân Sơn. Tiệc rượu kéo dài suốt đêm. Sáng ra Tế Ðiên cáo từ. Lý Quốc Nguyên muốn đưa tặng vàng bạc, Tế Ðiên nói:

- Ngươi nếu muốn tạ ơn ta hãy ghé tai ta nói như vầy… như vầy. Như thế Hòa thượng ta mới nhận lãnh. Ngươi nên chiếu cố giúp Từ Chí Bình học tập.

Lý Quốc Nguyên vâng dạ, Tế Ðiên từ biệt đi về phía trước, thấy có một tên gia đinh chờ sẵn ở đó và hỏi:

- Tế Công, Ngài đi đâu đó?

Tế Ðiên hỏi:

- Ai mời ta vậy?

Gia đinh đáp:

- Chủ khách điếm nhà tôi bị phạt 40 hèo, da thịt rách nát, thương thế trầm trọng, nghe nói lão tiên gia có tiên đơn diệu dược, xin Ngài chữa trị giúp cho.

Tế Ðiên hỏi:

- Chủ điếm của ngươi là ai?

Gia đinh đáp:

- Là Hàn Ðiện Nguyên, chủ Tam Thuận điếm và là tổng quản hoa viên của Tần tướng phủ. Nhân vì tối hôm qua Các Thiên lâu bị lửa cháy, Tần tướng nổi giận nói rằng Hàn Ðiện Nguyên không chịu kiểm điểm mới ra cớ sự, phạt lấy 40 hèo, hiện thời đau nhức khó tả.

Tế Ðiên nghe nói bèn cùng đi đến Tam Thuận điếm, vào phòng chưởng quỹ thấy Hàn Ðiện Nguyên nằm dài, rên rỉ không ngớt, mấy đứa hầu bàn đang ở một bên khuyên giải. Thấy Tế Ðìên vào, mọi người nói:

- A, được rồi, sư phụ đây có tiên đơn diệu dược xin người từ bi cứu giúp cho.

Tế Ðiên cười hà hà, lấy tay chỉ và nói:

“Diệu dược khó trị bệnh oan nghiệt,

Trời xanh khó ứng kẻ lang tâm”.

Hàn Ðiện Nguyên nghe nói giật mình, trong bụng nghĩ: “Ông Hòa thượng này không phải người thường. Hồi hôm mình sai Y Sĩ Hùng đi giết tớ thầy vị hôn phu của con gái mình là Từ Chí Bình, chưa thấy trở về mà tớ thầy nó đã trốn mất, vô cớ Các Thiên lâu lại phát hỏa nữa”. Nghĩ rồi liền nói:

- Bạch Thánh tăng, xin người cứu tôi với, tôi mê lú đi mất rồi!

Tế Ðiên hỏi:

- Ta trị bệnh cho ngươi rồi, ngươi có đem con gái gả cho Từ Chí Bình hay không?

Hàn Ðiện Nguyên nói:

- Khi lành mạnh rồi, tôi xin rước Từ Chí Bình về gả con gái cho nó, tôi không ăn năn gì hết. Hiện giờ Tần tướng đã đuổi tôi rồi, tôi quyết không đem lòng đây kia nữa. Nếu tôi có bụng đổi dời xin cho trời tru đất diệt.

Tế Ðiên lấy một viên thuốc ra cho uống, vết thương liền hết đau nhức. Tế Ðiên bảo Hàn Ðiện Nguyên đến nhà Lý Quốc Nguyên rước Từ Chí Bình. Hàn Ðiện Nguyên gật đầu. Ra khỏi Tam Thuận điếm thấy phía trước người ta bu lại hai ba lớp đen nghẹt, xo đẩy không nhúc nhích, oán khí ngất trời, Tế Ðiên án quẻ linh quang, nói:

- Chao ôi, A Di Ðà Phật! Hòa thượng ta đâu có thể nào không hỏi đến!

Thật là: Việc này chưa xong, tiếp theo một việc khác! Vội chen mọi người vào xem.* ^



Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:03 PM | Message # 14
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 12

Tế Công khéo độ Hàn Ðiện Nguyên
Hàn sĩ bỏ con gặp Phật sống




Có thơ rằng:

Ngọc đường hoa chúc với sanh ca

Trướng gấm đầu làng phú quý gia

Nào giống nhà tu tranh lá cũ

Một trời tuyết lạnh sáng mai hoa.

Tế Ðiên vẹt mọi người ra, vào xem thấy bên trong là một thầy đồ kiếc, đầu đội khăn nho sinh cũ, cháy lủng lỗ chỗ, mình mặc tấm áo nho sinh chắp vá bảy tám nơi, đang ôm một đứa trẻ trong lòng. Người này trạc hơn ba mươi tuổi, gương mặt khô gầy, đứng giữa dòng người nói:

- Thưa quý vị, đứa bé tôi đang ôm trong lòng đây được một năm hai tháng, mẹ nó mới mất cách đây ba ngày. Tôi lại không đủ sức mướn vú nuôi.

Người nói lời này là Mã Bái Nhiên, nguyên quán là người huyện Thuần Thục, phủ Thường Châu, từ nhỏ ở nhà đọc sách, ăn không ngồi rồi, chẳng biết kinh doanh thêm, núi vàng ăn mãi cũng hết. Tới chừng trên không còn mảnh ngói, dưới không tấc đất cấm dùi, lại thêm đứa con mọn, phải bồng bế vợ con đi lánh nạn. Bái Nhiên đến Lâm An ở nhà Ngô Bá Chu chuyên cho thuê thuyền ở Tây Hồ. Ông ta có dưới tay hơn trăm chiếc thuyền, khách du Tây Hồ phần lớn đều đến đó thuê. Bá Chu vốn là bạn cố giao với Bái Nhiên, biết Bái Nhiên là người có học bèn lưu lại làm việc quản lý thuê thuyền, mỗi ngày chia được hai, ba trăm đồng tiền cũng đủ vợ chồng qua bữa. Nào hay số phận không thông, Tây Hồ mọc lên bốn nhà ác bá luôn luôn cướp người ở Tây Hồ, náo loạn đến nổi Tây Hồ không có du khách nữa. Thuyền cũng không người thuê, Mã Bái Nhiên không còn cách nào hơn là bãi công nghỉ việc. Ðứng đầu bọn ác bá ở Tây Hồ chính là Hoa hoa thái tuế Vương Thắng Tiên, em của Thừa tướng Tần Hỷ. Bấy giờ là thời Cao Tôn hoàng đế. Ông ta vốn họ Vương, vì kế nghiệp họ Tần nên phải đổi họ là Tần. Vương Thắng Tiên là anh em chú bác với Tần tướng, ỷ thế lực của anh thường dắt thủ hạ dạo chơi trên hồ, hễ thấy phụ nữ xinh đẹp liền kêu thủ hạ cướp đi, không ai dám chống cự lại hắn, nhân đó mà không ai dám chơi hồ nữa, thuyền của Ngô Bá Chu không ai thuê, Mã Bái Nhiên thất nghiệp, Châu thị là người vợ hiền đức, nói:

- Vợ chồng chúng ta chả lẽ chịu chết đói sao? Chàng hãy ở nhà xem chừng đứa nhỏ để tôi đi ra tìm việc vá may, chúng ta còn có thể lây lất qua ngày.

Nghe vợ nói mấy câu đó, Mã Bái Nhiên lặng thinh không nói một lời. Châu thị bèn để đứa nhỏ ở nhà rồi ra đi. Mã Bái Nhiên ngồi lại trong nhà, tự nghĩ: “Thân trai đại trượng phu, không thể nuôi nấng được vợ con, lại để vợ con đi làm kiếm tiền mua gạo, sao cho phải lẽ!”. Càng nghĩ càng buồn, hiện tại không lối thoát, bồng đứa bé tính nhảy xuống Tây Hồ tìm cái chết. Rồi lại nghĩ: “Ðứa nhỏ lọt lòng mẹ đến nay đã được một năm, bây giờ lại phải chết thật là oan uổng biết bao. Chi bằng đem cho người ta rồi đi tìm cái chết sau”. Nghĩ rồi, ôm con đứng ở ngã tư đường, nói:

- Thưa chư vị, vị nào thích đứa nhỏ này, xin bồng nuôi giùm cháu!

Kêu mấy lượt như vậy, có một ông già đứng gần, thấy đứa bé khá xinh bèn nghĩ: “Mình không có con, nên nuôi nấng nó”. Vừa mới bồng đứa nhỏ thì có người nói:

- Ấy, ấy! Ông chớ nên rước nó. Nếu ông rước nó thì nó sẽ theo ông về nhà, vài hôm sau mẹ nó sẽ đến mượn tiền ông. Cách ít ngày đến lượt cha nó đến, ông có chịu nổi không?

Ông già kia nghe nói không có ý dám xin nữa. Tế Ðiên nói:

- Ngươi cho ta đứa bé này nhé.

Mã Bái Nhiên nói:

- Này Hòa thượng, ông là người xuất gia, xin đứa bé này làm gì?

Tế Ðiên nói: Ta thu nó làm đồ đệ.

Mã Bái Nhiên nói:

- Nó chưa dứt sữa, lại chưa biết ăn cơm, Hòa thượng nuôi nó sao được?

Tế Ðiên nói:

- Không được thì thôi ta không xin. Ngươi phải nói thiệt, mẹ đứa bé này chưa chết phải không? Chùa ta ở sát vách nhà ngươi ở trọ. Có phải ngươi ở trọ nhà của Ngô Bá Chu không nào?

Mã Bái Nhiên nói:

- Mẹ nó dù không chết thật, nhưng tôi không tìm được sinh kế nên muốn đem đứa bé gạt cho người.

Tế Ðiên nói:

- Ta biết rồi, ngươi đi theo ta nhé! Ta sẽ tìm ra vợ ngươi, để chồng vợ con cái thấy mặt rồi ta sẽ kiếm cho ngươi một việc làm.

Mã Bái Nhiên nghe nói thế, hỏi Hòa thượng ở chùa nào và tên hiệu thượng gì hạ gì? Tế Ðiên mỗi mỗi nói rõ rồi dắt Mã Bái Nhiên đi tới, vừa đi vừa hát:

Ai tài, ai chẳng tài?

Tài giỏi, ngũ hành thông
Ngũ hành nếu sai chạy
Tài giỏi cũng thành không

Ai nấy không tin, nghe ta kỹ

Hãy xem bọn phú ông

Lừa ngựa cỡi long nhong

Lại xem người nghèo khổ,

Cơm chẳng no lòng, áo quần lỗ chỗ

Ấy do đời trước định duyên số.

Tế Ðiên dẫn Mã Bái Nhiên tới trước tiệm tương, nói:

- Nè tài phú, bán cho ta ba xu củ cải lớn đi.

Bên trong có tiếng trả lời rồi mang củ cải ra. Tế Ðiên nói:

- Chà ít quá ta đưa hai xu nhé.

Tài phú đi ra nói:

- Hòa thượng ơi, tiệm của chúng tôi ở đây bán giá nhất định, trả giá thì không bán đâu.

Tế Ðiên nói:

- Nào ta có trả giá đâu, trong túi ta chỉ còn có hai xu thôi, ta xin ông một xu nhé.

Tài phú nói:

- Thôi được, tôi bán cho ông là người tu hành đó.

Tế Ðiên thò tay vào túi mò một lát, nói:

- Chao ôi, túi của ta lủng rồi, đồng xu rớt đi ngả nào mất. Thôi ta đưa trước cho ông một xu, còn một xu ngày mai ta trả cho ông nhé.

Nói rồi lại đi nữa, trước hàng bán rau cải, Tế Ðiên lại gần người bán:

- Tài phú nè, bán cho ta một xu tỏi đi.

Tài phú nói:

- Một xu một củ nhé, và lấy củ tỏi đưa ra.

Tế Ðiên trả một xu, cầm củ tỏi coi coi rồi nói:

- Tài phú ơi, một xu một củ tỏi, sao ông lại bán cho tôi củ tỏi thúi, cho đổi lại củ khác đi!

Tài phú lại rút một củ khác đưa ra. Tế Ðiên nhận lấy và cũng không giao lại củ kia, thành ra một xu mua được hai củ tỏi. Thật ra Tế Ðiên chỉ đem có hai xu thôi, lại muốn mua bốn món để làm lễ vật chúc thọ cho người. Mã Bái Nhiên thấy Hòa thượng nghèo quá! Ði với Tế Ðiên một thôi độ nửa dặm đường, thấy bên đường có gánh thịt chó. Tế Ðiên cà rà tới nói:

- Chà, thịt này béo thiệt, thiệt thơm, thiệt mềm năm hoa ba lớp, ăn được thịt này béo bổ ra phết! Tán dồi một hồi rồi nói:

- Bác lái nè, bác cắt cho ta một miếng thịt chó nhé!

Người bán thịt chưa mở hàng, nghe Hòa thượng kiếc khen dồi huyên thuyên rồi xin một miếng thịt, cũng cao hứng cầm dao cắt một miếng chừng hai lượng. Tế Ðiên đón lấy, dòm dòm nói:

- Bác cho thêm một miếng nữa đi.

Người bán thịt chó hỏi:

- Bao nhiêu đó bộ chưa đủ sao?

Tế Ðiên nói:

Không phải ta chưa đủ

Nếu ngươi thấy đủ chẳng cần thêm

Cả khối này nhân tình nào đáng

Ðã cho rồi xin hãy trót cho luôn.

Người bán thịt chó lại cắt thêm một miếng nữa. Tế Ðiên một xu cũng không trả, được không hai miếng thịt chó!

Lại đi một quảng nữa, nghe có tiếng rao bán bánh bao, Tế Ðiên kêu:

- Bánh bao! Ðem lại ta mua!

Người bán bánh bao đem tới. Tế Ðiên hỏi:

- Bánh có nóng không?

Người bán đáp:

- Bánh mới ra lò mà!

Nói rồi để gánh xuống mở nắp vung ra, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Tế Ðiên thò tay vào bánh bao, năm đầu ngón tay đen xì, cầm lấy đưa lên miệng cắn, lại lật đật bỏ ra nói:

- Ý chết! Ta quên mang tiền theo, thôi không dám ăn đâu!

Người bán bánh bao có ý giận. Cái bánh ấy chắc bán không được rồi, vừa có dấu răng, vừa có dấu tay đen rành rành, vừa dính nước miếng, lại nghĩ thầm: “Dầu có giận dữ trách móc, chuyện cũng đã rồi. Vả lại, ông ấy lại là người tu hành nữa”. Ngẫm nghĩ giây lát, nói:

- Thôi được rồi, cái bánh bao đó tôi coi như bỏ, cũng không giận ông làm gì.

Tế Ðiên nói:

- Bộ ngươi tính bỏ hả? Thôi đừng bỏ, để cho Hòa thượng ta đi. Ngài mai gặp ngươi, ta sẽ đem tiền trả cho ngươi nhé!

Người bán bánh bao nói:

- Thôi, ông cầm cái bánh đi đi.

Tế Ðiên cầm cái bánh bao dắt Mã Bái Nhiên đến đường Phụng Sơn, thấy cổng lớn phía bên kia đường treo đèn kết hoa, ngựa xe chật ních. Nhà đó đứng vào hạng giàu nhất ở Lâm An. Chủ nhà họ Trịnh tên Hùng. Hôm nay nhằm lễ thượng thọ của lão thái thái, các thân sĩ phú hào ở Lâm An đều đến chúc mừng. Tế Ðiên đến trước cổng kề tai dặn Mã Bái Nhiên nên làm như vầy, như vầy và đứng đợi giây lát, tự sẽ có cơ duyên đưa đến. Tế Ðiên bước lên thềm kêu:

- Ối chà, xin chào chư vị!

Bên trong có một gia nhân đi ra, mới nói:

- Này Hòa thượng! Ông tới sớm quá, khách còn chưa vào tiệc. Ông muốn xin cơm canh thừa thì lát nữa hãy trở lại.

Tế Ðiên nói:

- Ðừng nói bậy! Ta biết hôm nay là sinh nhật của lão thái thái nên mua bốn lễ vật đến chúc mừng đây.

Gia nhân nghe nói, nghĩ thầm: “Xưa nay đại quan nhà ta rất ưa bố thí, xem vàng như đất, trượng nghĩa sơ tài, gặp người nghèo khổ tất giúp đỡ ngay, cũng có thể quan nhân của ta đối đãi với ông ấy có phần đặc biệt, ông ấy biết hôm nay là ngày mừng thượng thọ, muốn mừng lễ đáp ơn đây chăng? Ta chớ nên xem thường ông ấy, người nghèo cũng có tấm lòng. Hoặc có thể ông ấy biết lão thái thái thích ăn món chi, rồi mua một ít món ấy đến cũng nên. Hoặc có thể ông ấy mang lại đào bún, rượu, điểm tâm chăng?”. Nghĩ thế liền hỏi:

- Hòa thượng ơi, ông ở chùa nào?

Tế Ðiên nói: Ta tu ở miếu nhỏ Linh Ẩn tự.

Quản gia hỏi: Lễ vật của ông là do chính ông mang tới hay có người mang tới sau?

Tế Ðiên đáp: Ta có mang theo đây.

Gia nhân nói: Ông đưa lễ vật ra đi, tôi đem thưa lại với gia chủ.

Tế Ðiên từ trong tay áo lấy ra một cái bánh bao, hai củ tỏi lớn, hai củ cải muối và hai miếng thịt chó, đưa cho quản gia. Tế Ðiên nói:

- Cái này cho lão thái thái ăn thịt chó với củ tỏi, ăn bánh bao với cải mặn.

Gia nhân nhìn thấy giận quá, đem quăng xuống đất, nói:

- Ông cút đi cho rảnh, đừng đến đây quấy rầy chúng tôi.

Vừa liệng lễ vật xuống đất, hai con chó ở đâu chạy lại muốn đớp. Tế Ðiên lật đật đuổi chó đi, nói:

- Hai đứa cổ bông này, tụi bây đớp mất ta lấy gì biếu lão thái thái?

Tế Ðiên lượm lên, nói:

- Ngươi không chịu thưa bẩm, ta cũng có thể đưa vào vậy.

Lớn tiếng hô:

- Lễ vật đưa tới đây. Rồi cầm lễ vật phăng phăng đi vào.

Mọi người thấy vậy nói:

- Ông Hòa thượng ấy điên rồi, thây kệ ổng.

Nguyên Trịnh Hùng là một vị thân sĩ ở Lâm An, lại đỗ Võ tiến sĩ, rất thích giao hữu, chú của ông ta làm chức tổng binh ở tỉnh ngoài. Hôm nay nhằm lễ thượng thọ của lão thái thái, ở thành Lâm An trên từ công hầu, dưới đến thứ dân đều đến chúc mừng. Trong số tân khách có Mỹ nhiệm công Trần Hiếu, Bệnh phục thần Dương Mãnh, Triệu Văn Hội, Tô Bắc Sơn, Khương Bá Vạn, Châu Bán Thành có mặt ở khách sảnh. Mẹ của Trịnh Hùng, năm nay vừa đúng 70 tuổi nhưng hai mắt đã không thấy đường trên một năm rồi, thỉnh rất nhiều thầy thuốc chữa trị vẫn không hiệu quả. Bữa nay Trịnh Hùng đang ở trên khách sảnh, gia nhân đưa vào một mâm lễ vật, nói:

- Của Quảng Huệ sư phụ ở Tam Thanh miếu đưa đến chúc thọ.

Trịnh Hùng nghe nói ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Xưa nay mình đâu có giao thiệp với ổng kìa!”. Tiếp nhận lễ đơn mở ra xem thấy đề: Một đôi đèn trắng, thọ đào một chục, thọ tửu một bầu, thọ miến một hộp, thọ trướng một cây, miên dương bốn cái. Trịnh Hùng lật đật ra rước vào. Mọi người nhìn ra, đó là một tăng nhân tuổi hơn 50, áo quần chải chuốt.

Quảng Huệ đưa lễ vật đến chúc mừng là có dụng ý tham, vì biết trong hoa viên của Trịnh Hùng có yêu tác quái, ông ta có thể bắt yêu trấn trạch bèn toan đưa lễ vật mừng thọ làm bước đầu, rồi sẽ bắt yêu lấy bạc lại sau. Khi vào trong khách sảnh, mọi người nhường nhau, đưa Quảng Huệ mãi đến chỗ bàn Dương Mãnh và Trần Hiếu ngồi. Dương Mãnh là người ưa bắt chuyện, mời:

- Ðại sư phụ, hãy lại đây.

- Vâng.

- Sư phụ làm ơn cho tôi hỏi thăm một lão Hòa thượng.

- Ai vậy?

- Tế Công trưởng lão ở Tây Hồ Linh Ẩn tự.

- Tế Ðiên Hòa thượng hả? Ông ấy điên điên khùng khùng mà kể số gì! Ta với sư phụ ông ấy qua lại rất thân, luận về vai vế thì ông ấy là hàng sư điệt của ta. Ông ấy thường theo ta xin học hoài mà ta không rảnh để dạy đó chứ.

Dương Mãnh nghe nói nổi giận, nghĩ thầm: “Ông này nói nghe mà phát giận. Ông ta nói sư phụ mình là sư điệt của ổng, vậy ra mình thuộc hàng cháu của ổng rồi. Ta phải đi kiếm sư phụ hỏi lại. Nếu phải như vậy thì thôi, còn như không phải thì ta đánh bể cái đầu trọc ông ấy cho rảnh”. Nghĩ rồi định bước ra ngoài, kế nghe bên ngoài có tiếng hô:

- Lễ vật đến đây.

Dương Mãnh nghe thấy tiếng của Tế Ðiên bèn nói:

- Có sư phụ ta đến rồi! Ðược, để ta hỏi thử xem.

 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:04 PM | Message # 15
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 13

Quảng Huệ tăng cuồng ngôn mắc họa
Tế Thiền sư diệu pháp kinh người




Có thơ rằng:

Mây chó vành trăng sắc bạc màu

Cũng không vinh nhục, cũng không sầu

Gặp nhau tâm sự quên năm tháng

Núi vẫn xanh rì nước chảy mau.

Dương Mãnh chạy ra ngoài. Trần Hiếu cũng đi theo. Hai người đi ra xem quả là Tế Ðiên, nói:

- Bạch sư phụ, lão nhân gia làm gì mà kêu to dữ vậy?

Tế Ðiên nói:

- Ta tới đây chúc thọ lão thái thái mà bọn nó chê ta rách rưới, chẳng chịu vào thưa bẩm.

Trần Hiếu, Dương Mãnh nói:

- Bọn nó chỉ nghĩ đến lợi thôi.

Trịnh Hùng cũng từ bên trong đi ra tới, thấy một vị Hòa thượng kiếc, nói:

- Hai vị hiền đệ không ở trên phòng khách uống trà, ra đây làm gì?

Dương Mãnh, Trần Hiếu nói:

- Chúng tôi hôm nay xin giới thiệu với huynh trưởng người mà chúng tôi thường đề cập đến. Ðây là Tế Công thiền sư ở chùa Linh Ẩn đó.

Trịnh Hùng nói:

- Thì ra là Thánh tăng đây, đã lâu ngưỡng mộ đại danh, hôm nay may mắn được gặp, thật là phúc đức ba đời.

Tế Ðiên nói:

- Hôm nay là lễ mừng đại thọ của lão thái thái, tôi đưa chút lễ vật đến thân tự chúc mừng người.

Trịnh Hùng thấy Hòa thượng áo quần lam lũ giống như kẻ ăn xin, làm sao có thể đưa vào khách sảnh được, đưa mắt ngó Dương Mãnh và Trần Hiếu, lại không tiện từ chối, trong lòng còn do dự chưa định. Kế nghe Tế Ðiên nói:

- Ta đến đưa chút lễ vật chúc thọ thôi chớ không vào ngồi ở phòng khách đâu. Quý phủ cao bằng quý hữu rất nhiều mà ta lại không có áo quần lành lặn.

Trịnh Hùng nghe nói thầm mừng, nhưng ngoài miệng nói vài lời giả lả:

- Hòa thượng đến đây thì có hề chi, xin mời vào.

Dương Mãnh cũng muốn Tế Ðiên đi vào để xem lời của Quảng Huệ nói có đúng không. Tế Ðiên nói:

- Trịnh đại nhân đã có lời mời, ta làm sao không đi chúc thọ lão thái thái?

Trịnh Hùng cũng không tiện cản ngăn, bèn cùng Tế Ðiên đi vào phòng khách. Tế Ðiên kêu người hầu đem bàn bát tiên ra để ngay chính giữa, trên trải thảm đỏ. Tế Ðiên móc thịt chó và các vật ra, rồi ngồi một bên. Trịnh Hùng mắt thấy giận tím mặt lại, ngặt có Trần Hiếu, Dương Mãnh không tiện phát tác, còn phải đến cám ơn Tế Ðiên rồi kêu gia nhân đem quẳng đi. Người trong phòng tiệc, Tế Ðiên quen biết phân nữa. Hầu bàn dọn cơm rượu lên, Tế Ðiên đứng dậy tới các bàn mời rượu, mời đến bàn Quảnq Huệ, Quảng Huệ ngạo nghễ ngồi cao, không thèm nói một lời. Mời xong, Tế Ðiên trở về bàn uống rượu.

Kế nghe Quảng Huệ nói:

- Thưa Trịnh đại quan nhân, hôm nay tôi tới đây, một là chúc thọ, hai là muốn ở trước mặt lão thái thái hiếu kính một trò mọn, biến một vật, trên trời biết bay, trong nước biết lội, trong cỏ lại nhảy. Xin người hãy ra sau thưa bẩm, tôi ở ngoài sẽ biến ra cho lão thái thái ở trong đó xem.

Trịnh Hùng nghe rồi nói: Ðược.

Rồi đi vào phía sau, thấy các bà vợ thân hữu đang vây quanh tiếp chuyện với lão thái thái. Trịnh Hùng nói:

- Thưa mẹ, hiện có Quảng Huệ tăng ở Tam Quan miếu muốn biến một pháp thuật cho mẹ xem đó.

Lão thái thái vừa nghe, giận đến xanh cả mặt, nói:

- Mày với Hòa thượng kia dám cười ta hả? Mau biểu thằng trọc đó đi cho rảnh. Mắt ta đã mù hai năm rồi, mày còn bảo xem coi pháp thuật gì nữa?

Trịnh Hùng nghe nói mới chợt hối hận, vội thưa:

- Xin mẹ bớt giận, con nhất thời quên lú mất!

Các vị nữ thân ở một bên đều nói:

- Nhưng nhưng ơi, xin bảo ông ấy biến cho tụi con xem.

Lão thái thái lúc đó mới bảo:

- Này Trịnh Hùng, con ra bảo ông ấy làm phép đi.

Trịnh Hùng trở ra phòng khách, nói:

- Xin đại sư phụ thi triển pháp thuật đi.

Hòa thượng bảo đem một cây kéo, một tờ giấy rồi cắt khá nhiều bươm bướm. Ông ta cũng có chút tài năng trong miệng râm râm đọc chú, thổi một hơi tiên khí vào, tức thì thấy một đôi bươm bướm bay thẳng vào nhà trong. Ai nấy đều hoan hô vang dậy.

Dương Mãnh và Trần Hiếu đồng nói với Tế Ðiên:

- Bạch sư phụ, người cũng nên tỏ cho mọi người biết chút thủ đoạn đi.

Tế Ðiên bèn đứng dậy nói lớn:

- Ta cũng muốn biến nữa.

Nói xong, niệm “Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích”, tức thì hơn ba mươi con cào cào bay nhảy lung tung khắp sảnh đường. Ai nấy ngạc nhiên, cúi đầu nhìn lại, chiếc đũa trên bàn đâu mất, cả sảnh đường cười rộ. Tế Ðiên lấy tay chỉ một cái, bầy cào cào biến mất, mọi người vẫn có đủ hai chiếc đũa. Mọi người đều xưng tụng lạ kỳ.

Quảng Huệ thấy mọi người đều khen ngợi Tế Ðiên, mặt tối sầm lạI không vui, nói:

- Thưa Trịnh đại nhân, tôi xin hiếu kính lão thái thái một chén canh.

Nói rồi đứng dậy lấy một cái túi vải để úp trên bàn, trong miệng đọc chú lâm râm, khi giở túi ra thấy có sẵn một tô canh ngon, giống hệt như vừa mới nấu còn sôi ục ục. Tế Ðiên lấy tay chỉ một cái, tô canh đó đang bưng úp đổ trên đầu Quảng Huệ. Cả người và đầu cổ của Quảng Huệ bị nóng đỏ hồng. Mọi người vỗ tay cười lớn. Quảng Huệ xấu hổ lấy tay lau lia lịa rồi nói:

- Thưa quý vị, hôm nay tôi muốn ở trước quý vị thi triển pháp thuật một phen, không ngờ bị kẻ tiểu nhân phá rối. Bây giờ tôi xin dốc hết tài nghệ thi triển pháp thuật, biến ra quả đào tiên, kính mời lão thái thái.

Mọi người đều nghĩ rằng, bây giờ đương tiết tháng tư, đào cũ đã hết lâu rồi, đào mới hãy còn non choẹt. Ðương lúc trái mùa này, có được mới tân kỳ! Quảng Huệ vừa niệm chú, Tế Ðiên đi tới nói:

- Ông biến rồi đừng giở ra nhé, để ta đoán thử xem!

Quảng Huệ nói: Cứ việc đoán thử.

Trong miệng lại đọc:

Thọ đào một giỏ hiến đường tiền
Dâng hiến đường tiền bất lão tiên

Hôm nay biến được phù dung quả

Tuổi thọ như đào bách vạn niên.

Ðọc xong, liền thấy trong bao nổi gồ lên.

Tế Ðiên nói: Ông đọc sai rồi.

Quảng Huệ nói: Ta đọc sai thì ông đọc đi!

Tế Ðiên đọc:

Quả đen một giỏ hiến đường tiền

Dâng hiến đường tiền bất lão tiên

Hôm nay biến được cà bốn quả

Thịt dê xào dấm tỏi thơm liền.

Quảng Huệ mở ra xem, thì là bốn trái cà dài. Cả phòng cười rộ. Quảng Huệ giận đến đỏ mặt tía tai! Trịnh Hùng sợ Quảng Huệ bẽ mặt, vội kêu gia nhân bưng vào. Gia nhân tên Triệu Phước bưng đến đầu đại sảnh nhìn lại đúng là bốn trái đào lớn, nói:

- Cái gì kỳ vậy, thiệt là đáng giận! Ta phải trở ra kêu mọi người xem lại.

Nói rồi quay trở ra khách sảnh, mọi người coi lại đúng là bốn trái cà. Trịnh Hùng nạt:

- Triệu Phước, bộ mi điên hả, còn đem trở ra làm chi vậy?

Triệu Phước tức giận quay quả đi vào, giở ra xem thì là đào thiệt. Bèn nghĩ: “Thôi, để ta ăn quách cho rảnh”. vừa muốn ăn, Tế Ðiên đuổi theo sau lưng, nói:

- Triệu Phước ngươi làm gì đó?

Triệu Phước nói:

- Người ta biến ra trái đào, còn ông dùng phép gì mà mắt thiên hạ vậy? Tôi muốn ăn trái đào đó.

Tế Ðiên lấy tay chỉ một cái, nói:

- Ngươi cứ ăn thử.

Triệu Phước cầm lên cắn một miếng, răng như muốn bể, coi lại là đào bằng gỗ. Tế Ðiên nói:

- Ngươi đem vào cho lão thái thái ăn đi.

Triệu Phước cầm đem vào, lão thái thái ăn vào, nước đào ứa ra miệng trông rất ngon lành. Triệu Phước bèn nghĩ thầm: “Kỳ lạ quá!”. Rồi quay quả đi ra. Ngoài kia, Quảng Huệ ngồi lặng thinh không nói lời nào.



Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:04 PM | Message # 16
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 14

Tế Ðiên hóa phép đùa Quảng Huệ
Trịnh Hùng vì mẹ cầu Thánh tăng




Có thơ rằng:
Lưu thủy cao sơn một khúc cầm

Bá kỳ thiên cổ vẫn tri âm

Chân tình đàn đến thông trời đất

Mới thấy u huyền thái có tâm.

Tế Ðiên nói:

- Thưa Trịnh đại quan nhân, hôm nay tôi biến một pháp thuật, xin mời lão thái thái ra nhìn tận mắt mới hay.

Trịnh Hùng nói:

- Không được đâu, mẹ tôi không thấy đường đã hai năm rồi, làm sao có thể thấy được?

Tế Ðiên nói:

- Cũng vì lão thái thái hai mắt không thấy đường, tôi mới mời ra xem, nếu là người thấy đường thì đâu cần phải mời.

Trịnh Hùng biết Hòa thượng là người không phải tầm thường, đi ra nhà sau mời lão thái thái ra, hai đứa a hoàn dìu đỡ đi ra bên ngoài. Các thân hữu đều đứng dậy, nói:

- Xin chúc mừng lão thái thái, kính mong lão nhân gia đa phúc đa thọ.

Lão thái thái ngồi xuống. Trịnh Hùng nói:

- Thưa mẹ, hiện có Tế Công trưởng lão ở chùa Linh Ẩn muốn biến một pháp thuật, có thể mời mẹ xem cho rõ ràng.

Lão thái thái gật đầu. Tế Ðiên đến trước lão thái thái, nói:

Tiệc thọ mở lời:

Ðào thọ sắc hồng tươi
Rượu thọ sánh chén ngời

Ngũ phúc thọ đầu tiên

Thọ miên miên-phúc trường viễn

Cầu mong:
Tuổi thọ thanh tòng

Chẳng sợ gió sương lay

Khác nào phúc như Ðông hải

Thọ tỷ Nam san.

Ðọc xong mấy câu, Tế Ðiên lấy tay vẽ trên tròng mắt của lão thái thái một vòng, thầm niệm lục tự chơn ngôn “Án ma ni bát mê hồng”. Lão thái thái quả nhiên mắt thấy được. Lão thái thái kêu:

- Trịnh Hùng à, mắt trái của mẹ đã thấy được rồi.

Trịnh Hùng hãy còn chưa tin, vẫy tay gọi một con a hoàn đến, hỏi:

- Má ơi, má có thấy ai đây không?

Lão thái thái nói:

- Ðây là con Xuân Mai chớ ai.

- Phải rồi. Xin chúc mừng lão thái thái. Thiệt thấy được rồi!

Trịnh Hùng nghe nói mừng quá, vội đi lại gần, hỏi:

- Thưa mẹ, mẹ có thấy con ra thế nào không?

Lão thái thái nói:

- Ngày tháng thoi đưa, mi cũng già đi nữa.

Trịnh Hùng vội đến trước Tế Ðiên thi lễ, nói:

- Bạch Thánh tăng, xin lão nhân gia từ bi cứu trị cho! Mắt bên trái đã thấy được rồi, còn mặt bên phải xin người trị luôn một thể.

Lão thái thái nói:

- Bây giờ, mắt bên trái của ta đã thấy được rồi.

Tế Ðiên nói:

- Ta không thể trị mắt bên phải được. Hiện giờ ở ngoài cổng nhà này có một người đang ẵm đứa nhỏ tên là Mã Bái Nhiên. Người ấy có thể trị bệnh này được.

Trịnh Hùng vội sai người ra cổng mời Mã Bái Nhiên vào. Trịnh Hùng đến thi lễ nói:

- Thưa tiên sinh, xin tiên sinh trị giùm mắt bên phải của mẹ tôi, tôi xin đền ơn trọng hậu.

Mã Bái Nhiên vừa định mở lời từ chối, Tế Ðiên bèn nói:

- Mã Bái Nhiên ơi, ông trị giùm bà ấy đi!

Nói rồi ngầm đưa cho Mã Bái Nhiên một viên thuốc. Ðương lúc đó, các vú em, a hoàn đều kéo ra đứng đầy ở cửa để xem trị mắt phải của lão thái thái, trong đó có một người đàn bà bước tới ẵm giùm em bé cho bú sữa, đứa bé ré lên khóc. Mã Bái Nhiên cũng chí phúc tâm linh, cầm viên thuốc nói:

- Thuốc này phải dùng vô căn thủy hòa tan. Ðây là tiên đơn diệu dược của nhà Phật ban truyền, bảo lão thái thái lấy nước này rửa mặt, mắt sẽ sáng lại như xưa.

Bảo gia nhân đem thuốc hòa tan với nước. Quả nhiên, lão thái thái rửa vào mắt phải, mắt sáng lại như thường.

Trịnh Hùng thấy người vú em mới đến bồng con Mã Bái Nhiên cho bú, chẳng biết nguyên cớ ra sao, liền đem hỏi Mã Bái Nhiên. Mã Bái Nhiên mới đem tình cảnh vợ chồng nghèo khổ, vợ phải đi kiếm việc, còn chính mình muốn đem con cho rồi nhảy xuống sông tự vận, may gặp được Tế Công, mỗi mỗi kể ra một mạch. Trịnh Hùng nghe thuật mới vỡ lẽ ra, nói:

- Ðược rồi, trong nhà tôi đang thiếu một người quản lý, ngươi nên ở lại đây, ta sẽ cấp riêng cho vợ chồng ngươi một căn nhà để ở.

Rồi day qua Tế Ðiên:

- Bạch Thánh tăng, xin người từ bi nhận cho, xin cho tôi đổi y phục đang mặc của người.

Tế Ðiên nói:

- Ngươi không cần thay đổi y phục của ta. Hòa thượng ta xin hóa ở ngươi chút duyên này thôi. Ngươi hãy đem hai khoảnh ruộng lúa ngoài cửa Thanh Ba cúng cho Lưu Thái Chơn ở Tam Thanh quán để làm đất hương hỏa cho miếu này. Như vậy chính là tạ ơn Hòa thượng ta đó.

Quảng Huệ đang ngồi một bên, thấy Tế Ðiên thi triển kỳ công vừa hổ vừa giận, bèn đứng dậy nói:

- Thưa Trịnh đại quan nhân, tôi biết phía sau nhà Ngài nơi hoa viên có một yêu quái làm lộng, tôi tình nguyện đến đó bắt yêu an trạch, không lấy một tơ hào nào hết. Tôi sở dĩ làm như thế là muốn so sánh pháp thuật với Tế Ðiên, xem thử ai hơn ai kém!

Tế Ðiên nói:

- Ðược rồi, ông đã nói thế thì ta cùng ông ra hoa viên bắt yêu an trạch, lui quỷ trị bệnh nhé! Nếu ông bắt được yêu tinh thì kể như Hòa thượng ta thua, còn như bắt yêu không được sẽ tới lượt Hòa thượng ta ra sức.

Quảng Huệ nói:

- Cũng được, bây giờ chúng ta đi!

Tế Ðiên nói:

- Vội chi, chúng ta hãy ăn cơm đã. Còn sớm quá, bắt yêu, yêu cũng không đến đâu!

Trịnh Hùng nói:

- Nơi hoa viên của tôi, không biết yêu quái hay là gia tiên ở đó? Thường thường bọn gia nhân nằm ngũ ở gác sau, bị ai đó quăng xuống lầu. Còn không như thế thì đồ vật trong nhà kêu lên loảng xoảng và bị ném xuống đất lung tung. Có khi trên lầu tự nhiên đèn thắp sáng, xem lại chẳng có người nào, cũng không biết là yêu hay quái? Tôi cũng chẳng biết sao. Tình trạng này đã nữa năm rồi!

Quảng Huệ nói:

- Không hề chi! Tối nay, ta không cần biết nó là yêu, là quái hay quỷ. Ta tóm lấy nó, lấy giới đao kết thúc tánh mạng là xong.

Mọi người cùng nhau trò chuyện, phút chốc trời đã tối, Trịnh Hùng hỏi hai vị Hòa thượng cần dùng những thức chi.

Quảng Huệ cầm viết ghi ra một toa, Trịnh Hùng bảo gia nhân chiếu theo đó sắm sẵn, để ở hoa viên. Khi tất cả đã sửa soạn xong, hai vị Hòa thượng mới ra hoa viên xem xét. Ðồ vật gồm có: một bàn bát tiên, một cái ghế, một bộ lư hương chân đèn, một thẻ nhang dài, một xấp giấy tiền, một nghiên mực, một mớ bạch cập, một gói chu sa, hai cây bút mới, một tờ giấy vàng, một bó rau thơm, một mâm ngũ cốc, một chén nước mưa.

Quảng Huệ xem xong, bèn trước hết đốt đèn hương, rồi mới đảo cáo với quá vãng thần kỳ, bảo hộ cho đệ tử là Quảng Huệ bắt được yêu quái, trở về chùa sẽ dâng hương, thiết trai đáp tạ. Ðảo cáo xong, Quảng Huệ dùng nước mưa hòa chu sa và bạch cập nghiền nát, lấy bút mới viết ba đạo thần phù, đốt lên sẽ hóa làm linh phù, trong miệng lâm râm đọc: “Ðốt đạo bùa thứ nhất, cuồng phong nổi dậy; đốt đạo bùa thứ hai, bắt yêu quái trói lại; đốt đạo bùa thứ ba, dùng giới đao kết thúc tánh mạng”. Trịnh Hùng cùng một tên gia nhân gan dạ đứng bên ngoài theo dõi. Tế Ðiên cũng ở tại đó, tay cầm hồ rượu uống tì tì không nói chi hết. Quảng Huệ miệng lâm râm đọc, tay cầm đạo linh phù thứ nhất đốt huơ lên mà không có động tĩnh chi, cũng không có chút gió. Mọi người thấy vậy đều cười rộ lên, nói:

- Quảng sư phụ nói dóc, chớ có tài cán chi.

Quảng Huệ lại đốt linh phù thứ hai huơ lên, cũng không có gì lạ xảy ra. Quảng Huệ lòng gấp như lửa đốt cầm luôn linh phù thứ ba đưa ra phía ngoài, tức thì bên ngoài có một luồng quái phong cuốn theo cát bụi mịt mù, mưa lớn lột độp, chưa từng thấy. Có bài tán rằng:

Vô ảnh lại vô tung

Cuốn dương hoa, Tây lại Ðông

Hút lá thả từng không

Sông ngòi thuyền nhỏ chao nghiêng ngửa

Mây bay nhanh quá đỉnh cung
Qua vườn rừng hoa lá lung tung

Vút thông xanh, xuyên cửa sổ

Ðuốc bạc lắc lư, bóng chập chùng.

Trận gió qua đi, bèn thấy ở ba gian lầu đối diện, một căn lầu tự mở ra, bên trong đi ra một lão già, mặt non như trẻ nít, đầu đội khăn bốn góc màu đồng xưa, mình mắc áo thụng cùng màu, vớ trắng giày xanh, tay cầm phất trần chỉ về phía Quảng Huệ, nói:

- Hay cho Quảng Huệ! Ta với ngươi ngày trước không oán, gần đây không cừu, tại sao ngươi lại tới làm kinh động ta? Tại làm sao thế hử?

Bèn lấy phất trần chỉ một cái, một đám khói trắng xông thẳng tới Quảng Huệ. Quảng Huệ cảm thấy đầu nặng, mắt hoa, té ngửa trên đất. Tế Ðiên tay cầm hồ lô rượu, cười hà hà nói:

- Ngươi vốn là người tu đạo, tại sao vô cớ đạp vào hồng trần, lại còn dám hiếp đáp đệ tử của ngôi Tam bảo nữa hử?

Nói rồi vỗ đầu một cái, lộ ra ba đạo hào quang. Vị tiên gia kia vốn là bậc tu đạo, ở trên lầu này, có mấy ngàn năm công hạnh. Nhân vì bọn gia nhân của Trịnh Hùng ăn ở không được tinh khiết, động chạm tới ông ta, ông ta mới náo loạn như thế. Hôm nay, thấy Tế Ðiên hiện ra ba đạo hào quang như thế, vị tiên gia vốn là người tu chẳng dám đến gần, sợ bị ba luồng ánh sáng đó rọi vào thì mất đi 500 năm công hạnh. Người có lời của người, thú có tiếng của thú, vị hồ tiên đó đã biến làm người được, đạo pháp cũng cao xa lắm, lật đật nói:

- Xin Thánh tăng chớ giận! Cũng đừng nên oán trách tôi. Chỉ nhân vì bọn gia nhân của Trịnh Hùng đánh đập bọn tiểu hồ không một chút thương tiếc, nên tôi làm như vậy để bọn nó biết tay.

Tế Ðiên nói:

- Ngươi phải mau mau rời khỏi chỗ này cho ta, nếu không đi ta kêu thiên lôi đánh chết đấy nhé!

Vị tiên gia ấy tức hóa làm trận gió bay mất.

Tế Ðiên lấy một viên thuốc cho Quảng Huệ uống giây lát tỉnh lại. Quảng Huệ hổ thẹn, mặt đỏ đến mang tai, nói lời cáo từ trở về Tam Thanh miếu. Tế Ðiên còn ở lại nhà Trịnh Hùng. Hôm sau trở dậy, Trịnh Hùng khoản đãi cơm rượu xong, nghĩ đến ơn Tế Ðiên trị bệnh mắt cho mẹ, trong lòng rất cảm kích, muốn thay đổi y phục cho Tế Ðiên để tạ ơn. Tế Ðiên nói:

- Lần này ngươi muốn tạ ơn ta thì hãy ghé tai lại nghe ta nói như vầy, như vầy…

Trịnh Hùng gật đầu ưng thuận. Tế Ðiên mới cáo từ ra khỏi nhà Trịnh Hùng đi về phía cửa Tiền Ðường .

Ðến bên ngoài cửa Tiền Ðường, Tế Ðiên thấy có một gánh thịt chó để đó, còn người bán thì đang ngồi xổm đại tiện ở chân tường đối diện với Ngọc Hoàng các. Tế Ðiên vỗ đầu ba cái, nhướng mắt huệ nhìn xem, nói: “Ðây thiệt là người con hiếu bậc nhất trên thế gian. Hòa thượng ta nếu không cứu hắn, ắt lôi thần sẽ đánh chết”. Nghĩ rồi bèn hỏi:

- Thịt chó này của ai đây?

Hỏi liên tiếp ba lần mà không có ai trả lời.

Nguyên người bán thịt chó này họ Ðổng tên Bình, nhà ở trong cửa Tiền Ðường, trong nhà có bà mẹ và vợ là Hàn thị. Ðổng Bình là người tánh tình rất đa nghi, thường hay trước mặt mẹ nói nhiều điều bất hiếu, dù mẹ không lỗi lầm chi, nhưng lời nói cũng tỏ ra ngang ngược. Sáng ra, Ðổng Bình cùng mẹ cải nhau một trận, Bình cho mẹ không biết gì hết. Vợ hắn là Hàn thị, là người vợ hiền lương, thường khuyên can hắn, nói:

- Mẹ đã lớn tuổi rồi, anh không nên vô cớ rầy rà như vậy để mẹ phải buồn lòng.

Ðổng Bình cũng không nói năng chi, ra cửa đi bán thịt. Hôm đó, Bình xào một chảo thịt chó, bảo Hàn thị xem chừng, còn mình đi mua chó. Triều nhà Tống cho phép người ta mua bán thịt chó tự do. Ðổng Bình đi đường Hồ Ðồng, thấy ở phía Bắc đường có một người đứng sẵn chờ, tuổi độ hơn 30, có dáng vẻ như người buôn bán. Người đó hỏi:

- Anh đi mua chó về bán thịt phải không?

Ðổng Bình đáp: Phải.

Người ấy nói:

- Tôi vốn không muốn nuôi chó, nhưng từ năm kia có một con chó hoang đến ở, đuổi nó, nó không đi. Tối lại đóng cửa nhốt chó ở trong nhà. Nửa đêm nghe tiếng chó sủa, tôi thức dậy xem, thì ra có kẻ trộm đang cạy cửa. Tôi nghĩ rằng con chó này cũng có chỗ dùng bèn để lại nuôi. Năm nay, nó lại sanh thêm một con chó nhỏ nữa, chúng nó cứ giành ăn cắn nhau mãi. Tôi sợ cắn phải đứa con tôi, nên cũng có ý bán nó, nhưng không lẽ đã có ơn nuôi dưỡng lại có cừu giết hại sao? Tôi cũng không cần tiền, anh nên bắt về đi.

Ðổng Bình nghĩ: “Thế thì hợp quá!”. Bèn lấy dây cột con chó lớn, ôm con chó nhỏ, cám ơn người ấy vài câu rồi kéo chó trở về nhà. Ðến nhà, cột chó lớn ở trong sân rồi vào nhà lấy dao ra định giết chó. Ðể dao ở ngoài sân, vào nhà lấy cái chậu trở ra thì con dao đâu mất. Ðổng Bình hỏi vợ:

- Bà có lấy dao không?

- Không có, người vợ trả lời.

Ðổng Bình đi tìm, thấy con chó nhỏ nằm ép lên lưỡi dao, cán ló ra ngoài. Ðổng Bình đi đến, lấy chân đá chó nhỏ một cái, lấy dao lại định giết chó lớn. Con chó nhỏ chạy tới nằm trườn trên bụng chó lớn, nhe răng nhìn Ðổng Bình, mà hai hàng nước mắt chảy ròng ròng.* ^



 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:04 PM | Message # 17
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 15

Chó độ Ðổng Bình cải ác làm lành
Rượu thịt về chùa cợt đùa Tăng chúng




Có Thơ rằng:

Sanh ở chỗ này chết ở đây

Mấy ai ngờ nghệch mấy ai hay

Nửa đêm mặt sắt tư duy lại

Bất tử trường sinh bỏ dạ này.

Ðổng Bình thấy con chó nhìn mình nước mắt chảy ròng, ngạc nhiên hồi lâu, tự nghĩ: “Con chó còn biết thân nó từ đâu sinh ra, huống chi ta là con người ư?”. Nghĩ thế rồi cắt dây mở thả hai con chó ra, nói:

- Thôi, tao không giết mày nữa, mẹ con mày có muốn ở lại đây thì tao sẵn lòng nuôi, còn không muốn ở thì đi đâu mặc ý.

Hắn vào trong nhà, quỳ trước mẹ, nói:

- Từ trước đến nay, con đối xử với mẹ có nhiều điều vô lễ, tội đáng muôn thác!

Người mẹ nói:

- Chỉ cần con đối với mẹ hết lòng hiếu thảo, vợ chồng con sẽ được nhiều phước lành!

Ðổng Bình nói:

Hôm nay con bán hết gánh thịt chó này, ngày mai xin đổi nghề khác buôn bán sanh nhai, còn nghề buôn bán máu tanh này thôi không làm nữa.

Nói rồi gánh thịt chó đi bán. Mọi hôm, gánh ra bán một loáng là hết. Hôm nay gánh đi qua hơn mười con đường lớn ở Tiền Ðường, trước bức vách tường đối diện với Ngọc Hoàng các, cảm thấy trong bụng quặn đau, bèn để gánh thịt chó bên đường, đi đại tiện. Ngồi thấy Hòa thượng từ bên kia đường đi lại hỏi: “Thịt chó này của ai?”. Ðổng Bình cũng không trả lời, nghĩ: “Hôm qua ông lấy không của mình hai miếng thịt rồi, hôm nay lại đến hỏi nữa, mình không trả lời, xem ông ấy làm sao?”

Tế điên thấy mặt Ðổng Bình lộ sắc đen, bèn án linh quang xét biết hắn ta là người con hiếu bậc nhất trên thế gian, nếu không cứu hắn thì lôi thần đánh chết.

Ðổng Bình tại sao được gọi là người con hiếu bậc nhất? Xét trong thiên thư có nói: Ví có người kia đã làm nửa đời người việc lành, bỗng một hôm đổi tánh, làm một việc ác, sách ấy ghi chú: Ấy là người ác bậc nhất, công lao nửa đời làm lành coi như không có. Trái lại, nếu người nửa đời làm việc ác, bỗng nhiên tự biết mình sai quấy, cần phải sửa đổi, nếu không sẽ gặp ác báo! Nhất định cải ác làm lành, thật tình ăn năn lỗi trước, nhờ đó cái ác trước được tiêu ma, trong sách ghi là người lành bậc nhất. Lư phụ thất tiết không bằng đĩ già hoàn lương là thế. Ðổng Bình tuy bất hiếu với mẹ, bỗng nhiên biết cải hối, hứa trước mẹ hết lòng hiếu thảo, tấc lòng chí thành không chút dối trá, chính là người con hiếu bậc nhất vậy.

Tế Ðiên bảo: Gánh thịt chó này của ai đây?

Hỏi liên tiếp hai lần không ai trả lời, bèn kê vai gánh thịt chó rảo bước.

Ðổng Bình ngó thấy, gấp quá, lật đật đứng dậy, tay xách quần chạy theo. Vừa chạy được mấy bước thì ở phía sau ầm lên một tiếng lớn, vách tường chỗ ngồi ban nãy đã sập quá nửa.

Ðổng Bình sợ quá, mắt mở trừng trừng, trong bụng nghĩ: “Nếu không có ông Hòa thượng đó gánh gánh thịt của ta thì giờ này ta bị tường đè chết rồi, thiệt là ghê quá, ghê quá!”.

Tế Ðiên nói: “Lôi thần đánh chết”, nhưng tại sao bị đất đè chết lại cho là bị lôi kiếp ư? Ngạn ngữ nói: “Trời gầm sấm chớp ngũ lôi đánh”. Như vậy có nghĩa là năm thứ sấm chớp ngũ lôi đánh xuống đâu. Thực sự kim, mộc, thủy, hỏa, thổ gọi là ngũ lôi. Dao chém chết gọi là kim lôi, cây gậy đánh chết gọi là mộc lôi, nước dìm chết gọi là thủy lôi, lửa đốt chết gọi là hỏa lôi, đất tường đè chết gọi là thổ lôi. Nếu bị thiên lôi đánh, đó là người cực đại ác mới xui nên.

Ðổng Bình nghĩ: “Ta phải đi tìm Hòa thượng đòi gánh lại và cám ơn ông ấy mới được”. Nghĩ rồi tiếp tục đi về phía trước. Nào ngờ Tế Ðiên gánh gánh thịt rồi đi về hướng đường đông người, thả gánh xuống, cầm dao cắt thịt chó. Cắt xong chỉ một cái, những miếng thịt chó ấy biến ra nặng mỗi miếng một cân.

Tế Ðiên rao: Một miếng sáu xu đây.

Người đi đường ở khoảng đó, còn đàng xa nghe mùi thịt chó bay nực mùi. Những người chưa ăn bao giờ nghe mùi thịt chó cũng muốn mua. Thấy chỗ thịt vừa lớn vừa thơm lại vừa rẻ, người này mua ba miếng, người nọ mua năm miếng, người kia mua mười miếng, kẻ tám miếng. Trong chớp mắt bán được một đống tiền. Thịt đã bán xong, còn chừa lại mấy miếng. Tế Ðiên không bán nữa. Người mua không được thịt chó, tiếc rẻ:

- Ðáng tiếc là thịt chó rẻ như vậy mà mình tới không kịp để mua, tiếc thật.

Có một người mua được bốn miếng thịt, trong bụng mừng lắm, mới nghĩ: - Ðúng như lời tục có nói: “Thịt rẻ mũi đánh mùi”. Trong bụng lại nghĩ: “Về nhà đưa cho mẹ con nó hai miếng, còn lại hai miếng rủ anh em lại chén một bữa bằng thích!”. Nghĩ rồi lại đưa lên ngửi nửa.

Ði vài bước lại giở ra xem, chỗ thịt đã mua mỗi miếng còn hơn nửa cân, lại nghĩ thầm: “Lạ vậy, mình đâu có hoa mắt, hồi nãy thấy mỗi miếng một cân mà”. Trong lòng lại sinh ra buồn buồn. Ði một vài bước lại giở ra coi lần nữa: bốn miếng thịt cũng không còn là bốn lượng nữa.

Người mua thịt chó nghĩ: “Hôm nay mình bị ông Hòa thượng hại rồi”, tức giận trở về nhà.

Tế Ðiên bán thịt chó vừa xong, được một đống tiền, vừa hay Ðổng Bình tìm đến nói:

- Này Hòa thượng, gánh thịt chó ấy là của tôi đó. Tôi tới đây nói cho ông rõ: Hôm nay nếu ông không cướp gánh thịt của tôi, thì tôi chắc bị tường sập đè chết rồi, tôi trái lại phải xin cám ơn ông nhiều lắm lắm!

Tế Ðiên nhướng một mắt, nói:

- Bữa nay sáng dậy, ngươi không cải lộn với má phải không?

Ðổng Bình nghe nói thế lấylàm ngạc nhiên, vội hỏi:

- Hòa thượng, ông ở chùa nào vậy?

Tế Ðiên như thế như thế nói rõ và bảo Ðổng Bình:

- Ngươi đem tiền bán được này về làm vốn buôn bán.

Ðổng Bình nói:

- Từ ngày mai tôi đổi nghề khác, không làm nghề buôn bán sát sanh nữa, tôi sẽ đi buôn bán trái cây.

Tế Ðiên nói:

- Ngươi đem gánh và tiền này về đi, để lại mấy miếng thịt chó này cho ta.

Ðổng Bình cám ơn Hòa thượng rồi đem gánh về. Tế Ðiên xách mấy miếng thịt chó thuận đường Tô Ðê ở Tây Hồ đi tới. Vừa đi vừa buột miệng ca:

Chăn đơn một mình đắp

Ngủ say giấc thêm nồng

Mộng thấy mình thi đỗ
Vua ban ân sủng nhiều

Làm quan đến cực phẩm

Cha mẹ được chiếu khen

Áo gấm về làng cũ

Mừng bạn, tế tổ tiên.

Nào hay sực tỉnh giấc hòe

Vẫn là màn cũ giường tre thuở nào

Tiếng gà văng vẳng lao xao

Bên cây từng cổ dế rào nỉ non.

Thế nhân quá rộn ràng

Ðâu biết mình trong mộng

Cũng mộng là hàn sĩ

Cũng mộng vai phú ông

Cũng mộng Ðào chu sang

Cũng mộng Phạm Thúc nghèo

Cũng mộng văn chương hiển đạt

Cũng mộng buôn bán kinh doanh

Cũng mộng ngôi cao tước cả

Cũng mộng chấp chưởng binh quyền
Ly hợp cùng bi hoan

Thọ yểu với cùng thông

Kỹ càng xem xét lại

Thảy đều tại mộng trung

Mới biết: mẹ cha cùng con, vợ

Cháu chắt với anh em

Ðều là hợp nhau trong cảnh mộng

Dù cho áo gấm đai vàng

Tán che lọng rước đầy đàng

Nam kha một giấc cũng dường ấy thôi.

Tế Ðiên vừa đi vừa hát bài cuồng ca, qua Lãnh Tuyền đình, đến ngọn Phi Lai, ngoài cổng chùa Linh Ẩn. Hòa thượng gác cổng là Tịnh Minh, Tịnh An hỏi:

- Tế sư phó, cầm cái gì trong tay đó?

Tế Ðiên đáp: ta cầm thịt chó đây, hai vị có ăn không?

Không được đâu! Hai chúng tôi ăn chay, sư phó cũng không thể đem vào chùa được vì chùa của chúng ta ăn chay, đồ rượu thịt chẳng được vào, rập chim lưới cá cũng không được mang vào, sư phó dù có gan bằng trời cũng không thể mang vào chùa được, mau liệng bỏ đi, sư phó đã phạm giới rồi đó!

- Ta đâu có biết, trên mình nghe ngứa ngáy, chắc là ghẻ (giới) lại mọc (phạm) rồi.

Nói rồi, Tế Ðiên cúi xuống tìm xem trên người.

- Không phải giới là ghẻ mọc trên người đâu, mà là phạm thanh quy giới luật của người tu hành chúng ta đó. Ðã xuất gia làm Hòa thượng phải học hiểu tam quy ngũ giới chớ.

- Thế nào là tam quy, sao gọi là ngũ giới, ngươi nói ta nghe thử!

- Ðáng tiếc sư phó là Hòa thượng mà cả tam quy ngũ giới lại không rành! Chúng ta xuất gia làm Hòa thượng thì tam quy là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ngũ giới là: kiêng sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và uống rượu. Sư phó mau mau liệng thịt chó đi. Ðem nó vào chùa, cả hai chúng tôi đều mắc tội không tra xét. Việc này bị bắt gặp, Giám thị tăng cũng mắc tội nữa.

- Hai ông mà biết cái gì? Ðừng ngăn trở cao hứng của ta, ta mang thịt chó vào chùa cho Giám tự ăn đây.

Hai ông tăng giữ cửa cũng không dám cản ngăn, để cho Tế Ðiên đi mặc tình. Tế Ðiên đi vào chùa, đến trước cửa Ðại Hùng bửu điện để xâu thịt chó xuống rồi ngồi kế bên nói:

- Ai mua thịt chó lại đây mua.

Chúng Tăng nhân có mười mấy vị đến, những vị Hòa thượng thiện tâm đều nói:

- Tế sư phó, đừng bán thứ này nữa, nếu lão Hòa thượng Giám tự biết được sẽ trị tội sư phó đấy.

Tế Ðiên nói: Các ông đừng có lo!

Có Hòa thượng vốn ghét Tế Ðiên, nói: Ông cứ bán đi, ai mà dám lo cho ông?

Tế Ðiên cũng không cần điếm xỉa tới.

Một lát, Giám tự Quảng Lượng từ đâu đi tới, nói:

- Tế Ðiên, ông bán thịt chó, ta cũng để thây kệ ông, ông giết một lúc hai con chó, ta cũng để thây kệ ông. Ta chỉ hỏi ông một câu: Hôm nay là ngày gì? Từ hôm lửa cháy lầu Ðại Bi, ta phái ông đi hóa duyên, ta thử hỏi ông, công trình hóa duyên một muôn lượng bạc chỉ có mấy miếng thịt chó này hay sao?

Tế Ðiên đáp:

- Một muôn tôi chẳng có, tôi chỉ có chín ngàn.

Quảng Lượng nói:

- Ta không nói chuyện tầm phào với ông đâu nhé, ta đưa ông vào ra mắt lão Hòa thượng mới được.

Tế Ðiên nói:

- Vội chi! Hồi cháy lầu Ðại Bi, tôi hẹn với sư huynh là đúng ngọ hôm nay bây giờ còn sớm, còn một giờ nữa mới đến mà. Lát nữa đúng ngọ không có một muôn lượng bạc, tôi với sư huynh vào ra mắt Phương trượng chớ vội gì.

Quảng Lượng nghe thế, nói:

- Ðược ông đợi thêm một giờ nữa, coi ông lấy đâu ra một muôn lượng bạc cho biết.

Quảng Lượng vừa định bỏ đi thì có hai ông Tăng gác cửa đi vào ra dấu ngăn lại, nói:

- Thưa Quảng sư phụ, bên ngoài xảy ra một việc rất là kỳ lạ. Hai chúng tôi đang ngồi trước cổng chùa, thấy từ đại lộ ở Tây Hồ có hơn một trăm người đi lại trong đó quan thân phú hộ cũng có, lái buôn cũng có. Dẫn đầu là hai vị viên ngoại cưỡi ngựa, áo quần rất sang trọng, một vị mặt trắng râu dài, một vị rất thân kỳ cổ quái, mỗi vị đều mang theo hai, ba mươi gia nhân. Ðến ngoài cổng chùa, họ kêu hai chúng tôi lạ hỏi Ðây có phảichùa Linh Ẩn không? Chúng tôi trả lời là phải. Hai vị ấy hỏi Có ngài Phật sống ở trong chùa không? Chúng tôi trả lời chùa chúng tôi không có Phật ống. Hai vị viên ngoại lại hỏi: Ðức La Hán có ở chùa không? Tôi nói: Trong chùa, nơi La Hán đường có 500 vị kim thân La Hán, không biết hai vị muốn đốt hương lễ vị La Hán nào? Hai vị viên ngoại nói: Không phải chúng tôi tìm tượng đất mà là tìm đức Phật La Hán sống kìa. Chúng tôi đáp là không có. Hai vị ấy nói: Rất tiếc là duyên lành không hợp, thôi chúng ta đi cúng chùa khác. Chúng tôi nói: Hai vị khoan đi đã! Vị Phật sống đó tên là gì? Hai vị ấy nói: Không được, nếu nói ra tên của vị Phật sống, phải tổn thọ hết mười năm sao? Chúng tôi nói: Viên ngoại cứ nói đi, hai chúng tôi xin chịu tổn thọ thay cho. Hai vị ấy chắp tay cúi đầu rồi sau mới nói. Hai đứa tôi tổn hết 30 tuổi thọ rồi đó. Quảng sư phụ thấy như thế có khổ không?

Giám tự nói:

- Phật sống là vị nào thế? Hai ông nói không rõ làm sao ta biết?

Tịnh Minh nói:

- Không được đâu, hai đứa tôi không thể nói được. Theo cách viết tám chữ để đoán số mạng thì tôi chỉ sống có 53 tuổi thôi. Năm nay tôi 22 tuổi rồi, vừa rồi bị tổn hết 30 tuổi, sớm chiều lật bật, sang năm phải chết rồi. Bây giờ nói nữa hết để giảm rồi chắc phải chết ngay quá.

Giám tự nói:

- Không hề chi, hai ông cứ nói đi, ta xin chịu tổn thọ thay hai ông 10 năm.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:05 PM | Message # 18
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 16

Tế Ðiên trong chùa bán thịt chó
Thân dân Linh Ẩn tìm Thánh tăng




Có thơ rằng:

Muôn duyên bặt dứt tâm không việc
Chỉ có rỗng tánh thản nhiên

Bên cửa nhìn đêm qua mấy độ

Sông dài trăng sáng chiếu ngoài hiên.

Giám tự tăng Quảng Lượng nghe Tịnh Minh nói thế vẫn muốn biết Phật sống là ai. Tịnh Minh nói:

- Nếu tôi nói ra, sư phụ phải chịu tổn thọ mười năm đa! Phật sống chính là Ðạo Tế trong chùa chúng ta đó. Sư phụ bị tổn thọ mười năm rồi đấy nhé!

Giám tự nghe thế hỏi:

- Ôi dào! Ðạo Tế hả?

Tịnh Minh nói:

- Bị tổn hai mươi năm rồi đấy!

Quảng Lượng nói:

- Cái ông Ðạo Tế đó mà ăn nhằm gì!

Tịnh Minh nói:

- Ðấy, đấy, sư phụ lại tổn ba mươi năm đấy nhé!

Quảng Lượng nạt:

- Ông đừng nói tầm ruồng! Hàng ngày ông ấy ở trong chùa đâu có bán thịt chó như vầy. Hôm nay có người đến tìm lại bày trò kỳ cục như vậy. Thôi, được rồi!

Mấy vị Hòa thượng y hậu chỉnh tề, đánh chuông trống Bát nhã, ra cổng chùa đón rước. Nhìn thấy trong đám Tăng nhân không có Tế Ðiên, hai vị viên ngoại giận nói;

- Thưa quý vị, các người lại đây xem, đám Tăng nhân này đều là dùng yêu ngôn hoặc chúng giả trang thiền tướng, chỗ này không hợp thiện duyên, thôi chúng ta đi cúng chùa khác.

Quảng Lượng bước ra nói:

- Quý vị đi theo tôi sẽ gặp Phật sống.

Hai vị viên ngoại cùng mọi người vào trong cửa chùa thì thấy Tế Ðiên đang ở trước Ðại Hùng bửu điện, ngồi lim dim, trong miệng còn nói: - Thịt có sáu xu một miếng đây! Hai vị viên ngoại thấy vậy mới nói:

- Quý vị hãy xem kìa, đó mới là khí tượng của Phật sống La Hán chớ, chúng ta hãy tới cúi đầu lễ chào Ngài đi.

Quảng Lượng nghe nói trong lòng không vui, nghĩ rằng: “Bọn mình đắp y, đánh chuông trống đón tiếp họ mà họ lại nói bọn mình là yêu ngôn hoặc ngữ, giả trang thiền tướng, còn Ðạo Tế bán thịt chó như vậy họ lại cho là Phật sống La Hán chớ!”

Thấy mọi người đều quỳ xuống, dập đầu đảnh lễ mà Tế Ðiên nét mặt hiu hiu không thèm để ý tới, Quảng Lượng sợ thí chủ không vui, vội bước tới nói:

- Ông Ðạo Tế này thiệt không biết điều chút nào hết, các vị thí chủ đến bái phỏng sao ông không thù tiếp?

Tế Ðiên còn chưa trả lời, hai vị viên ngoại lại nổi giận, đứng dậy nói:

- Ông Hòa thượng này vô lễ quá, sao dám rầy Phật sống hử?

Báo hại Quảng Lượng hết hồn, lui lại mấy bước, không dám trả lời.

Tế Ðiên từ từ mở mắt ra, hỏi:

- Các vị thí chủ đến đó hả, đến có việc gì thế?

Vị viên ngoại áo trắng nói:

- Ðệ tử đã lâu ngưỡng đại danh Thánh tăng, đặc biệt hôm nay xin đến hỏi về thiền.

Tế Ðiên nói:

- Ðói hả? Ăn một miếng thịt chó đi!

Vị viên ngoại ấy lắc đầu nói:

- Ðệ tử không ăn.

Vị viên ngoại mặc áo lam kia nói:

- Ðệ tử cũng đã lâu ngưỡng mộ đại danh Thánh tăng, đặc biệt hôm nay xin hỏi về thiền cơ.

Tế Ðiên đáp:

- Cơ đói. Ðói thì ăn miếng thịt chó đây.

Vị viên ngoại kia nói:

- Hai đệ tử nguyên là hỏi về thiền cơ diệu lý, chớ không phải tài cơ là đói khát, hai tiếng ấy âm tuy giống mà chữ khác nhau.

Tế Ðiên nói:

- À, té ra hai vị hỏi hai chữ tài cơ, Hòa thượng ta mới biết.

Hai vị viên ngoại nói: Chỉ cần sư phụ nói đúng, hai con tình nguyện sửa lợp lầu Ðại Bi, bằng nói không đúng thì thiện duyên nơi này không hợp, chúng con xin đi cúng chùa khác.

Tế Ðiên nói:

- Hai vị nghe đây:

Trong núi có nước,

Trong nước có cá,

Ba bảy cộng làm hăm mốt

Người có mặt, cây có da

Ðó, lọp, rọ, nơm chẳng rửa bùn

Người muốn qua Ðông, kẻ sang Tây

Không ăn hết nếp, xơi hết thóc

Con đó đúng tên là gà đói.

Hai vị viên ngoại nghe nói lắc đầu lia lịa:

- Cái mà chúng con muốn hỏi là lẽ áo diệu trong Phật môn, thiền của tham thiền, cơ của thiên cơ, sư phụ nói nãy giờ không trúng chỗ đó.

Tế Ðiên nói:

- Chà, hai ông này khẩu khí lớn dữ á, dám hỏi chỗ áo diệu trong Phật môn nữa! Thiền cơ hả? Ðược, được, được! Nếu Hòa thượng ta nói đúng thì sao?

Hai vị viên ngoại nói:

- Nếu sư phụ nói đúng thì hai đệ tử xin trợ giúp tiền bạc để lợp sửa lầu Ðại Bi lại.

Tế Ðiên nói:

- Vậy thì hai ông hãy nghe đây:

Phải biết tham thiền (đều) không phải thiền

Nếu hỏi thiên cơ nào có cơ?

Cơ chủ không hư, thiền chủ tịnh

Tịnh không, không tịnh ấy thiên cơ.

Hai vị viên ngoại nghe xong vỗ tay cười lớn, nói:

- Phật pháp của ngài La Hán mở hẳn chỗ tối tăm của đệ tử. Nè, ông Giám tự, cho tôi xem sổ hóa duyên đi.

Quảng Lượng lật đật lấy quyển sổ hóa duyên và văn phòng tứ bửu đem đến. Vị viên ngoại mặc áo trắng nói nhường:

- Hiền đệ hãy viết vào trước đi!

Vị viên ngoại kia nói:

- Nước to chảy chậm không nhanh bằng thuyền buồm, huynh trưởng nên viết trước đi.

Vị viên ngoại áo trắng cầm bút lên, lại hướng về phía hơn ba trăm người kia, nói:

- Xin mời quí vị viết vào sổ hóa duyên.

Mọi người đều nói:

- Nước to chậm hơn con vịt bơi, viên ngoại viết trước là phải.

Mọi người cười ha hả, nói:

- Sông dài con vịt nổi, câu đó càng đúng hơn.

Vị viên ngoại áo trắng bắt đầu viết: Trước hết, viết số một là vô danh thị cúng bạc một muôn lượng.

Vị viên ngoại áo lam cầm sổ hóa duyên lên xem, nghĩ: “Chúng ta đến đây cố ý giúp Tế Công một tay. Anh ấy đã viết một muôn lượng, ta không thể viết chín ngàn được”. Nghĩ rồi cầm bút viết: Thứ hai: Vô danh thị giúp bạc một muôn lượng.

Còn lại những người kia, có người viết 30 lượng, có người viết 50 lượng, viết bạc lấy bạc đưa, viết tiền lấy tiền đếm ngay. Những người này nguyên là thân hào phú hộ ở thành Lâm An, do Tế Ðiên bình thời khuyến hóa trước, hôm nay đặc biệt đến đương tràng. Viết xong, vị viên ngoại áo trắng vào phía trong ngồi và nói với Giám tự: “Mười sáu trại cưa lớn ở trong và ngoài thành, đem những cây gỗ cúng cho chùa Linh Ẩn dùng vào việc sửa lợp nóc lầu Ðại Bi, chừng nào lợp xong thì thôi, nhiều ít không kể”. Mọi người nói rồi cáo từ ra về.

Tế Ðiên mới hỏi Quảng Lượng:

- Này sư huynh, số bạc này đủ sửa lầu Ðại Bi chưa?

Giám tự Quảng Lượng nói:

- Giàu có dư dả là đằng khác.

Tế Ðiên nói:

- Vậy thì sư huynh kêu thợ động công đi, tôi tới nhà thí chủ chơi vài ngày nhé.

Nói rồi xách xâu thịt chó ra khỏi chùa Linh Ẩn đi mất. Giám tự Quảng Lượng tìm gỗ dá, chọn ngày hoàng đạo khai công động thổ, động nền cân tảng, dựng cột gác kèo, qua không bao ngày, gạch ngói đều đã có đủ, trộn hồ, tô vách, tất cả sửa sang hoàn hảo, chỉ còn sơn phết tô vẽ bề ngoài. Nào dè hảo sự gặp khó khăn, một hôm có người đến báo cáo, hiện có bốn vị quản gia ở Tần tướng phủ, mang theo bốn vị nhị gia hiện xuống ngựa ở ngoài cổng chùa. Giám tự Quảng Lượng xem thấy lật đật ra ngoài nghinh tiếp.

Các vị quản gia đến không phải là không việc gì, nhân vì 25 gian Các Thiên lâu ở hoa viên Tần Thừa tướng bị hỏa hoạn, dự định trùng tu lại ngôi lầu này, Thừa tướng kêu quản gia đến các trại cưa lớn mua gỗ to, hơn mười mấy trại cưa đều nói:

- Ông chủ tôi đã cúng cho chùa Linh Ẩn số cây gỗ này để sửa lầu Ðại Bi rồi.

Quản gia trở về bẩm báo lại, Tần Thừa tướng nói:

- Có một tòa lầu Ðại Bi ở chùa Linh Ẩn mà sao xử dụng nhiều cây gỗ thế?

Bèn phái Tần An, Tần Thuận, Tần Chí, Tần Minh bốn người lên chùa Linh Ẩn, nói:

- Cho ta mượn tạm số cây gỗ lớn để sửa lầu, sang năm chờ cây gỗ của triều đình về, ta sẽ y số phụng hoàn lại.

Bốn người vâng dạ ra đi. Tần Thừa tướng nói:

- Lát nữa, các ngươi tới chùa Linh Ẩn, nếu nhà chùa cho mượn thì thôi, nếu không cho mượn ấy là bổn phận của họ, phải trở về ngay, ngàn muôn lần chớ nên ỷ thế cậy quyền hiếp đáp nhà chùa nhé.

Bốn vị quản gia vâng dạ ra đi, đến ngoài cửa chùa, Tần Thuận nói:

- Nhè công việc khó nhọc này lại phái chúng ta, một xu tiền lót cũng không có, thiệt là vận đen.

Tần An nói:

- Này bạn, đừng có hồ đồ! Trong công việc này, bốn người chúng ta, mỗi người sẽ có hai ngàn lượng bạc tiền lót đấy.

Tần Thuận nói:

- Ðại ca, bộ anh khùng sao? Chúng ta mượn cây của nhà chùa, nếu được, chúng ta trình Thừa tướng sai người đến lấy, còn không được, chúng ta trở về trình lại, chớ có tiền bạc gì đâu?

Tần An nói:

- Chú mầy nói không đúng! Ăn chén cơm này phải kiếm mâm khác nhiều hơn chớ. Lần này đến chùa hỏi mượn gỗ lớn, họ cho mượn rồi chúng ta về không à? Ta phải đến đó đừng nói chuyện mượn gỗ trước mà nói Thừa tướng có dụ: “Dỡ lầu Ðại Bi để lợp Các Thiên lâu”. Nhà chùa chắc chắn không chịu dỡ, họ sẽ cho người gặp chúng ta, và chi cho chúng ta từ 3.000 lượng đến 5.000 lượng. Sau đó chúng ta mới nói đến chuyện mượn gỗ lớn, nhà chùa cho mượn rồi, chúng ta trở về trình với Thừa tướng là nhà chùa chịu bán số gỗ đó. Thừa tướng lại xuất ra mấy ngàn lượng, chúng ta bốn người giữa lại một phần, đó không phải là được bạc cả hai phía sao?

Tần Thuận nghe nói, khen:

- Huynh trưởng quả là người cao kiến!

Rồi dặn bên ngoài chuẩn bị yên cương, đem theo hơn hai mươi kẻ tùy tùng. Hai mươi cổ ngựa đi ra phường Tần Hòa, qua cửa Tiền Ðường, thẳng đến Phi Lai Phong, đến trước chùa Linh Ẩn xuống ngựa đứng chờ. Ông tăng giữ cổng ngó thấy nhóm quân gia của Tần tướng phủ lật đật ra thi lễ rồi vào thông báo. Quảng Lượng ra cửa nghinh tiếp, mời bốn vị quản gia vào trong thiền đường, dặn các tiểu Sa di bưng trà hiến mời.

Quảng Lượng nói:

- Các vị quản gia đại nhân, hôm nay chẳng hay quý vị đi du sơn chơi miếu?

Tần An nói:

- Chúng tôi không phải đi du sơn hay chơi miếu, mà vâng đường dụ của Thừa tướng nhà tôi đến đây dạy các ông phải dỡ lầu Ðại Bi lấy vật liệu đem lợp Các Thiên lâu nơi hoa viên tướng phủ.

Giám tự Quảng Lượng nghe nói, miệng niệm: “Nam mô A Di Ðà Phật”, nói:

- Tòa lầu Ðại Bi này công trình quá to tát, độc lực khó thành, biết bao quý quan trưởng giả, thiện nam tín nữ đóng góp của tiền, chung kết thiện duyên mới có thể sửa lợp lại được như thế này mà hãy còn chưa xong, hôm nay lại một lần tháo dỡ ra nữa, không biết năm nào tháng nào mới có thể trùng tu được? Cầu mong quý vị đại nhân ở trước mặt Thừa tướng lựa lời khéo léo nói giúp cho vài câu.

Tần An còn do dự chưa trả lời, Tần Thuận bèn nói:

- Ðường dụ của tướng gia cũng gần như thánh chỉ, ai dám trái cãi? Bất luận là ai, cãi lại một câu sẽ bị vào ngục ngay tức khắc.

Tần An dòm Tần Thuần một mắt, nghĩ đáng lẽ phải nói: “Ðể tôi trở về bẩm với tướng gia, nếu tướng gia chịu thì ông cũng được vui, nếu tướng gia không đồng ý thì ông cũng đừng phiền. Ðợi có người đem tiền đến cho chúng ta thì kể như tướng gia bằng lòng, nếu không đưa tiền thì ý tướng gia không chịu”. Hắn nói câu đó khác nào đóng cửa rút cầu. Tần An cũng không tiện cải chánh.

- Chư vị đại nhân đã muốn dỡ, để tôi vào trình với lão Hòa thượng đã.

Tần Thuận nói:

- Ông trình với Hòa thượng ta cũng dỡ, mà không trình ta cũng dỡ.

Quảng Lượng lật đật ra sau thiền đường ra mắt lão Hòa thượng Nguyên Không trưởng lão, nói:

- Khải bạch Hòa thượng, hiện có bốn vị quản gia đại nhân ở tần tướng phủ đến chùa chúng ta nói Thừa tướng có lịnh dụ bảo dỡ lầu Ðại Bi lợp sửa Các Thiên lâu của tướng phủ. Con không dám tự chuyên, phải vào bẩm bạch cho lão Hòa thượng rõ.

Lão phương trượng nghe nói, miệng niệm:

- Nam mô A Di Ðà Phật, này Quảng Lượng, lão Tăng năm nay niên kỷ đã cao, lầu Ðại Bi này là của Ðạo Tế khuyến hóa, ông nên thương lượng với ông ấy.

- Ðạo Tế đi đâu mất từ hôm động thổ sửa lầu rồi, Quảng Lượng nói, đến nay cũng chưa thấy về.

Lão Hòa thượng nói:

- Ông thử ra cổng chùa xem ông ấy về chưa?

Quảng Lượng nghe lời Lão phương trượng vội bước ra cổng chùa, xem thấy bốn vị quản gia phái các vị tam gia ở nơi đó truyền tướng dụ rằng:

Bọn thợ các ngươi hãy nghe cho kỹ đây! Tướng phủ có lệnh dụ bảo dỡ lầu Ðại Bi sửa lợp Các Thiên lâu của tướng phủ, ai dám nói lời ngăn cản lập tức sẽ bị giải giao cho quan huyện Tiền Ðường trị tội.

Những người thợ lợp ngói, thợ mộc, thợ nề, thợ sơn vẽ… làm sao dám chống lại đường dụ của tướng gia, tức thì, cuốc xẻng hươi động, cát đất bay tứ tung, trong chớp mắt tòa lầu Ðại Bi bị đập phá, ngói gạch rã rời. Giám tự tăng nhìn thấy, trong lòng rất lấy làm khó chịu, tự nghĩ: “May mắn ông Hòa thượng khùng đó không có trong chùa, nếu có ông ấy chắc là sinh họa lớn!”.
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:05 PM | Message # 19
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 17

Giả tướng dụ dỡ phá lầu Ðại Bi
Hiển thần thông giận đánh ác đô quản




Có thơ rằng:

Trong non chẳng thấy đối nga kinh

Kinh quốc luống còn bệnh hạc danh

Chơn tích đã theo rồng bay mất

Ðến nay còn lại tuyết Lan Ðình.

Giám tự tăng còn đương đứng than thở, thấy Tế Ðiên từ Tô Ðê ở phía Tây Hồ khật khưỡng đi về. Tế Ðiên từ hôm ra khỏi chùa Linh Ẩn đến ở nhà Tô Bắc Sơn và Triệu Văn Hội chơi ít ngày. Hôm nay Tế Ðiên đang đánh cờ với Tô Bắc Sơn ở trong phòng, bỗng hắt hơi một cái, bèn án linh quang rõ biết mọi việc, nói:

- Tô Bắc Sơn này, hôm nay ta phải đi, Tần thừa tướng sai người đến dỡ lầu Ðại Bi ở chùa ta, ta phải chống lại thằng cha Tần thừa tướng này mới được.

Tô Bắc Sơn nói:

- Thánh tăng không nên làm thế! Ông ấy là Tể tướng đương triều, vị hiển tước cao, còn sư phụ là người xuất gia đâu có chống nổi ông ấy.

Tế Ðiên cũng không thèm để ý tới, đứng dậy bước ra cửa. Tô Bắc Sơn lật đật chạy theo, thấy Tế Ðiên đã đi xa rồi. Tế Ðiên đi thẳng về phía cửa Tiền Ðường, thuận theo Tô Ðê đi tới vừa hát:

Người đời trăm tuổi có bao lâu

Mới khóc oe oe đã bạc đầu

Ngày tháng xuân xanh chừng bao nả
Ðắng cay nhàn tản lẫn lo âu

Trên đời tiền của bao người được?

Quan chức trong triều lắm kẻ cầu!

Quan to của lắm càng thêm bận

Chỉ tội tóc xanh sớm bạc đầu

Trăng quá Trung Thu trăng chẳng tỏ

Hoa trải ba thu hoa kém màu

Thung dung nhàn hạ bao nhiêu khắc?

Say tít cung thang dốc rượu bầu

Gò hoang cao thấp bao nhiêu nấm?

Mỗi độ xuân sang cỏ dãi dầu!

Tế Ðiên hát vừa xong cũng vừa đến trước cổng chùa. Quảng Lượng ngó thấy, nói:

- Sư đệ về đó hả? Không xong rồi! Chùa chúng ta hiện có đại họa kinh thiên.

Tế Ðiên nghe nói, tuy biết hết nhưng cố hỏi:

- Này sư huynh, đại họa kinh thiên gì thế? Không hề gì đâu, tất cả để Tế Ðiên tôi lo cho. Cái đó làm sao có thể dung thứ được? Sư huynh nghĩ xem tôi có thể nào để họ hiếp đáp các Hòa thượng chùa này hay sao?

Quảng Lượng nói:

- Sư đệ ơi, sư đệ không cản nổi việc này đâu! Việc này là Tần thừa tướng phái bốn vị quản đại nhân đến dỡ lầu Ðại Bi của chùa ta về lợp sửa Các Thiên lâu ở tướng phủ đó.

Tế Ðiên nói:

- A! Ông ấy là Tể tướng đương triều đường dụ muốn dỡ lầu Ðại Bi, thì được dỡ. Qua vài ngày sau, quan Kinh dinh viện sư truyền dụ dỡ Ðại Hùng bửu điện rồi cũng cho ông ấy dỡ. Cái đó hãy còn được! Cách vài hôm bên phủ Lâm An đưa thư đến dỡ Ðông lang, Tây lang cũng cho ông ấy dỡ. Lại mấy bữa nữa, huyện Tiền Ðường huyện Nhơn Hòa đưa thư đến muốn dỡ Tàng kinh các, cũng cho người dỡ nốt. Cái đó hãy còn được! Chớ lầu Ðại Bi này là do tôi hóa duyên, tôi không để cho họ dỡ đâu!

Giám tự Quảng Lượng nghe nói thế, nghĩ thầm: “Lâu nay ông ấy coi bọn ta chẳng ra gì, nhân cơ hội này cho ông ấy một trận cho bỏ ghét”, mới nói:

- Ờ sư đệ dám cản lại không cho dỡ thì sẵn có bốn vị quản gia đang ngồi uống trà bên trong thiền đường kia, sư đệ cứ tìm đến mà nói, ta chỉ sợ e sư đệ gặp họ rồi run lập cập nói không ra lời ấy.

Tế Ðiên hơi cười nhạt, nói:

- Sư huynh để mặc tôi, và đi thẳng về phía Thiền đường.

Trong viện rộng lớn gồm có ba phòng họp lại, có mười mấy vị tam gia đang đứng bên ngoài, có bốn vị quản gia đang ngồi uống trà bên phòng trong, thấy có một ông Hòa thượng kiếc, áo quần tả tơi từ ngơài đi vào, mấy vị tam gia liền ngăn lại hỏi: Ai đó?

Tế Ðiên đáp: Ta đây.

Tam gia nói:

- Ông là ai? Quý vị đại nhân đang nói chuyện, ông là một Hòa thượng kiếc đến đây có chuyện gì? Ông ở chùa nào thế?

Tế Ðiên nói: Ta ở Cô Tử am.

Vị tam gia kia nói:

- Ông nói giả ngộ sao chớ. Ông là Hòa thượng sao lại ở am ni cô? Nam nữ lộn xộn dữ vậy?

Tế Ðiên nói:

- Ông không biết đó chớ, vị lão ni cô ở am đó đã chết rồi, còn vị tiểu ni cô thì đi theo người ta mất, ta ở đó coi chùa thôi. Nghe nói các vị đại nhân cần cây gỗ lớn, trong chùa chúng tôi xà rường đòn tay chất như núi, cái nào cái nấy to quá là to! To đến nổi nếu đem cây xà nhà ở đây, hai người ngồi bên thì người bên này không nhìn thấy người bên kia được.

Các vị tam gia nghe nói, khen:

- Chà, cây xà nhà lớn quá!

Tế Ðiên nói:

- Còn cây kèo của chùa tôi nếu để ở đây thì hai người ngồi hai bên, chả ai thấy ai.

Các vị tam gia nghe thế đều vui vẻ nói:

- Này Hòa thượng, bây giờ ông tính sao? Có muốn bán không hay để tặng cho đại nhân chúng tôi.

Tế Ðiên nói:

- Ta lại không có ý bán cho đại nhân, chỉ kêu đại nhân thưởng cho ít xu mua cái quần thay là được rồi.

Bên trong Tần An nghe nói rõ ràng, lòng nghĩ: “Thế thì dễ lắm”. Vội sai người kêu Tế Ðiên vào.

Các vị tam gia nói:

- Này Hòa thượng, đại nhân chúng tôi kêu ông đó, ông gặp đại nhân chúng tôi thì đàng hoàng một tí nhé, đừng nói nhăng nói cuội như thế không được đâu!

Tế Ðiên không thèm trả lời, vén rèm bước thẳng vào trong. Tần An, Tần Thuận, Tần Chí, Tần Minh đồng nhìn lại, té ra là một ông Hòa thượng kiếc.

Tần An hỏi:

- Này ông Hòa thượng, nghe nói chùa ông có cây gỗ lớn phải không?

Tế Ðiên hai mắt liếc ngang một cái, hỏi:

- Bốn vị ở đâu đến đây?

Bốn vị quản gia nói:

- Chúng tôi ở phủ Tần thừa tướng phái đến, đường dụ của đại nhân là dỡ lầu Ðại Bi về sửa lợp lại Các Thiên lâu ở hoa viên tướng phủ.

Tế Ðiên hỏi:

- Bốn vị vâng đường dụ của đại nhân trong nhà các ông đến dỡ lầu Ðại Bi phải không?

Bốn vị quản gia nói:

- Trong nhà của chúng tôi làm gì có đại nhân?

Tế Ðiên nói:

- Ối chà, trong nhà của các ông, cả đến đại nhân (bà xã) cũng không có nữa, chả trách các ông không biết quái gì hết! Các ông về thưa lại với đại nhân các ông nhé. Cứ nói Hòa thượng ta nói như vầy: “Ông ấy làm đến Thủ tướng, vị ở Tam thai, điều hòa chức vị tam công, một đại thần giữ việc điều hòa lý âm dương, lý ưng phải làm lành, tích bồi phước đức, sao lại vô cớ đến đây hủy phá chùa chiền thế?”. Các ông cứ trở về bẩm báo đúng như lời ta nói nhé!

Các vị quản gia đời nào chịu nghe những lời dạy trịch thượng đó, nên không hẹn mà tất cả đều đỏ mặt tía tai, lửa giận bừng bừng. Tần An nói:

- Cha chả, hay cho ông Hòa thượng khùng khiệu này, ta hãy đánh ngươi trước đã.

Nói rồi giơ tay lên nhắm Tế Ðiên xáng một bạt tai.

Tế Ðiên bước tránh qua một bên, nói:

- Ông muốn đánh hả? Ta với ông ra ngoài kia đọ sức chơi.

Tần An liền đứng dậy bước theo Tế Ðiên, hét bảo gia nhân:

- Ðánh Hòa thượng này cho ta.

Mấy vị tam gia bước tới vây Tế Ðiên vào giữa, cung tay nhắm ngay miệng Hòa thượng đánh tới, tay thoi chân đá lia lịa, đánh đến nỗi thở chẳng ra hơi. Chỉ nghe có người la:

- Ðừng đánh! Ta đây mà!

Mấy vị tam gia nói:

- Ngươi bị đòn đáng lắm, không thể tha thứ được! rơi vào tay chúng ông là phải chết! Nhè hùm mà dám vuốt râu chớ!

Ðương lúc, mọi người đấm đá tưng bừng, bỗng Tân Thuận chạy lại nói:

- Ðừng đánh nữa! Ta nghe tiếng hình như không phải, coi kỹ lại rồi hãy đánh tiếp. Không xong rồi đa! Ông Hòa thượng còn đứng đằng kia kìa.

Mọi người dòm lại, quả nhiên thấy Tế Ðiên đang đứng cười hề hề. Cúi xuống nhìn kỹ, thì ra người bị đánh chính là Ðại đô quản Tần An, thương tích đầy mình.

Một vài gia nhân chạy lại hỏi:

- Thưa quản gia, tại sao lão gia lại bị đánh như thế này?

Tần An nói:

- Các ngươi mượn việc công báo thù riêng, ta bảo các ngươi đánh ông Hòa thượng, các ngươi lại nhè ta mà đánh. Ta nói: Ta đây mà. Các ngươi còn nói: Ngươi đáng đòn lắm. Ðược, được, được lắm!

Tần Chí, Tần Minh lật đật chạy lại xem, thấy thương thế Tần An rất nặng, nói:

- Chà, chuyện này chắc chắn là do yêu pháp tà thuật của Hòa thượng mà ra đây. Tụi bây phải đánh ông ấy cho ta.

Các vị tam gia nghe nói đều trợn mắt nổi giận chạy đến vây lấy Tế Công.

Tế Ðiên nói:

- Hay thay! Hay thay! Người lành có người khi, ngựa giỏi có người cưỡi.

Miệng niệm lục tự chơn ngôn: “Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích!”. Tức thì các vị tam gia đùng đùng nổi giận đánh nhau chí chết.

Trương Thắng nhìn Lý Lộc, nói:

- Thấy mặt mi ta chịu không được, muốn đánh cho bể đầu chó mi cho rảnh.

Lý Lộc nói:

- Ðược, lại đây ta cho mi biết mùi.

Bên kia cũng như vậy. Mười tám người chia làm chin cặp quyết sống mái.

Tần Minh nhìn Tần Ty nói:

- Tần Ty nè, mi ngoại hiệu là Tần Thúc, ta biết rằng đánh không lại mi, nhưng không đánh ta chịu không được.

Nói rồi hươ quyền đánh nhầu tới.

Tần Thuận thấy Tần An thương tích đầy mình, nói:

- Ta nói cho mi biết, hễ thấy mi là ta bắt giận rồi, mi bị tụi nó đánh mặt xanh môi tím như vậy mới vừa lòng ta.

Cãi cọ một lát, hai người xáp nhau đánh làm một cặp.

Tế Ðiên đứng ngoài cười hề hề, nói:

- Hà hà, ai bảo kêu đánh nhau chi?

Trong bọn có kẻ nói: Tôi đánh không lại nó.

Tế Ðiên nói:

- Ðể ta giúp sức ngươi đánh cho nó mấy quả.

Bèn giúp người đó lấy lại thăng bằng cuộc diện. Trong bọn đánh nhau, có người sưng môi ôm lỗ tai của người kia mà cắn, người nọ lật đật chộp mũi của đối phương mà cắn.

Trong lúc mọi người đang đấm đá nhau túi bụi, Giám tự đi ngang thấy vậy, nói:

- Này Ðạo Tế, ông thiệt gây họa chẳng nhỏ rồi. Nhè quản gia của Tần tướng phủ mà ông cho đánh nhau tơi tả như thế, không được đâu nghe. Mau mau thâu phép lại đi!

Tế Ðiên nói:

- Sư huynh nè, nếu không nể tình sư huynh, tôi nhất định sẽ cho bọn giặc này đánh nhau chí chết mới thôi. Hôm nay tha cho bọn họ. Thôi đừng đánh nhau nữa!

Một câu ấy vừa nói ra, mọi người tức thì dừng tay tỉnh lại, vẫn còn ấm ức trong lòng.

Có kẻ nói: Anh Thăng nè, tôi với anh vốn là bạn tri giao, tại sao anh lại đánh tôi đau quá vậy?

Liên Thăng nói: Tôi đâu có biết, anh xem xem lỗ tai tôi đây chẳng bị anh cắn đứt là gì?

Người kia nói: Thôi đừng nói nữa. Cái mũi tôi sứt mất vì ai đây?

Các vị tam gia đều oán hận Tần An vô cớ gây phiền. Tần An hỏi Giám tự tăng:

- Ông Hòa thượng điên kia ở chùa nào vậy? Ðừng để ông ta chạy đi nhé! Lát nữa không có ông ấy, ta bắt ông thế đa!

Nói rồi bảo một vị tam gia thay ngựa ra khỏi chùa Linh Ẩn. Trên đường thúc ngựa phi nước đại hãy còn chê chậm. Về đến tướng phủ, mới xuống ngựa, gặp một vị đồng sự, vị ấy hỏi:

- Các anh làm sao trở về với dáng điệu thất vọng thế?

Tần An mới đem câu chuyện đầu đuôi thuật lại. Người kia nói:

- Khi gặp Thừa tướng anh đừng nói thiệt, chỉ yêu cầu tướng gia làm chủ bắt bọn hung tăng ấy đi.

Tần An vào đến thư phòng, Tần thừa tướng đang xem sách, ngước lên hỏi:

- Bọn ngươi đến chùa Linh Ẩn mượn gỗ lớn, tại sao lại về tơi tả thế?

Tần An thưa:

Bọn nô tài vâng lệnh dụ của đại nhân đến chùa Linh Ẩn nơi Tây Hồ mượn gỗ lớn, các Hòa thượng trong chùa đều thuận ý cho đại nhân mượn, chỉ có một ông Hòa thượng điên chẳng những không cho mượn mà còn làm nhục chúng tôi nữa. Cầu xin tướng gia làm chủ cho việc này.

Tần Thừa tướng nói:

- Cha chả, chùa Linh Ẩn lại có Hòa thượng khùng cả gan dám đánh gia nhân của ta, thiệt là đáng giận!

Tức thì lấy bút son phê lên tiêu bài, truyền đến Kinh doanh soái phủ, điều động hai viên tướng, 500 binh, các huyện nha sở tại đều đem quan binh đến vây chùa Linh Ẩn, bắt Hòa thượng khùng.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:05 PM | Message # 20
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Tập Một

Hồi Thứ 18

Binh vây chùa Linh Ẩn bắt trói Tăng khùng
Giễu cợt Ban đầu nhậu say vào tướng phủ


Có thơ rằng:
Khói xa mù mịt giọt mưa bay

Bức họa không lời ít kẻ hay

Ngàn dặm núi sông xem chẳng chán

Khiến người nức nở gọi thiên tài.

Ðạo tiêu bài của Thừa tướng truyền ra, Kinh doanh soái liền phái hai viên tướng, 500 binh, phủ Lâm An phái 8 vị Ban đầu, huyện Nhơn Hòa phái 8 vị Ban đầu, mỗi vị đều dẫn theo một số sai dịch kéo đến bao vây chùa Linh Ẩn.

Các vị Ban đầu tiến vào chùa hỏi Lão phương trượng:

- Ông Hòa thượng khùng đâu rồi?

Lão Phương trượng nói: Tôi đâu có biết.

Các vị Ban đầu giơ roi sắt lên, bắt Nguyên Không lão phương trượng trói lại, nói:

- Trong chùa ông lớn mật thiệt, nhè quản gia của Tần tướng mà dám đánh chớ.

Thị giả chạy tới van xin đừng trói vị lão Hòa thượng, Ban đầu cũng bắt thị giả trói luôn. Tri khách chạy lại che chở cho thị giả cũng bị trói nốt. Cả Giám tự tăng cũng bị trói chung. Tất cả năm vị Hòa thượng bị áp giải đến Tần tướng phủ. Tần thừa tướng lập tức thăng tòa hoa sảnh, bên ngoài có 70 gia tướng đứng hầu hai bên.

Các vị đương sai đi vào bẩm báo: Hiện đã bắt được lão Phương trượng ở chùa Linh Ẩn giải về đây.

Tần thừa tướng căn dặn: Hãy đưa mấy vị tăng nhân vào ngay!

Lập tức tả hữu truyền lời: Tướng gia có lời dụ, đưa các tăng nhân vào hầu.

Các vị đương sai đưa năm vị Hòa thượng đến trước rèm. Lão phương trượng ngồi ở đó, còn các vị kia đều quỳ. Thừa tướng ở bên trong nhìn ra cách rèm thấy rõ hết, còn các tăng nhân bên ngoài nhìn vào chẳng thấy.

Thừa tướng bên trong hỏi ra:

- Trong mấy vị Hòa thượng đây, ai là Hòa thượng khùng? Hãy thông tên ra mau!

Bên dưới, các tăng nhân đều lần lượt xưng tên Lão phương trượng nói: - Tôi là Nguyên Không, Phương trượng chùa Linh Ẩn. Vị kia nói: - Tôi là Giám tự tăng Quảng Lượng. Vị kia nói: - Tôi là Tri khách Ðức Diệu. Vị kia nói: - Tôi là thị giả Tô Ðoan. Vị sau cùng nói: - Tôi là trai đầu Huệ Ðăng.

Tần thừa tướng hỏi:

- Trong nhóm các ông đây không có ông thầy khùng sao? Ta sai người đi bắt trói ông ấy vì tội dám đánh quản gia nhà ta đấy.

Quảng Lượng thưa:

- Kính bẩm đại nhân, ông Hòa thượng khùng Tế Ðiên ở trong chùa chúng tôi, chính là đồ đệ của Lão phương trượng. Các vị quản gia đến chùa bị ông ấy thi triển pháp thuật yêu tà đánh quản gia đại nhân, chúng tôi ngăn cản không được. Cầu xin đại nhân đặc biệt gia ân xét xử, chúng tôi thiệt vô can trong việc này.

Tần thừa tướng bên trong nghe rõ, bèn dặn thủ hạ gia nhân truyền dụ cho đầu dịch các phủ huyện đi bắt ông thầy khùng.

Riêng mấy vị Ban đầu ở huyện Tiền Ðường đang đi tùng tìm trong chùa, tìm đến chỗ lầu Ðại Bi đang dỡ thấy có một ông tăng đang nhìn lầu Ðại Bi bị dỡ phá mà lấy tay chỉ chỉ chỏ chỏ.

Các người thợ mộc thợ nề nghe nói lịnh dụ của Thừa tướng bảo dỡ lầu Ðại Bi về sửa Các Thiên lâu, đâu dám không tuân theo. Trong số thợ, có người tốt nghĩ rằng: “Các vị Hòa thượng trong chùa thiệt là chịu khó, bỏ ra biết bao công lao đi hóa duyên sửa lợp tòa lầu này, bỗng chốc bắt dỡ đi, tội ấy không phải là nhỏ! Ta đừng hùa theo gây tội, chỉ cầm lấy xẻng xúc gạch ngói để dồn đống lại, công việc đó cũng đáng hai trăm tiền mà không mắc tội phạm thượng gây tội nghiệp”.

Ðương lúc nghĩ như vậy, Tế Ðiên đứng dưới đất chỉ một cái, người kia từ trên lầu, cách mặt đất bảy tám trượng, tuột tay rơi xuống nhưng không hề chi. Người đó nghĩ thầm: “Thật hú vía! May mà mình chưa dỡ lầu, nếu mình dỡ lầu chắc bị té chết quá! Chùa này linh thiệt!”. Nghĩ thế lại đứng dậy đi như thường.

Có người quyết ý phá thiệt, lại có ý tính toán: “Dỡ lầu này xong lại đến sửa lợp lầu của Thừa tướng, nhờ đó ta sống cũng được hai tháng. Sau khi sửa lầu của Tần tướng phủ, ở đây bắt đầu động công, ta lại làm thêm hai tháng nữa, tính ra cũng sống được nửa năm”. Người ấy đang dỡ rui trên nóc, bị Tế Ðiên lấy tay chỉ một cái, tức thì trật tay rơi xuống, té ngồi trên cục đá nhọn ba cạnh, hậu môn bị rách toạc. Anh ta lếch về nhà thang thuốc nửa năm mới lành mạnh.

Tế Ðiên đang thi triển Phật pháp thần oai để báo ứng bọn thợ mộc thợ nề, gặp mấy người Ban đầu hươi roi vi vút, bắt Tế Ðiên trói chặt cổ lại, nói:

- Hay cho Hòa thượng! Ông mắc tội tày đình mà còn dám ở đây chỉ chỉ chỏ chỏ gây náo loạn chớ!

Tế Ðiên nhìn lại, thì ra tám vị Ban đầu: Triệu Ðầu, Vương Nhị, Trương Tam, Lý Tứ, Tôn Ngũ, Lưu Lục, Ðam Thất, Mã Bát. Mấy vị cùng nhau kéo Tế Ðiên đi.

Tế Ðiên hỏi: Vạ ta mắc phải bao lớn?

Triệu Ðầu nói: Khó mà so sánh cho ông thấy được, ông đi đến phủ Thừa tướng rồi sẽ biết, ở đó dành cho ông nhiều trò vui lắm.

Tế Ðiên nói: Các ngươi mời ta kiểu này ta không đi.

Triệu Ðầu nói: Ông khéo bày vẽ cho mất thì giờ của ta ư?

Tế Ðiên bèn ngồi trên đất, miệng niệm: “Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích”.

Triệu Ðầu ráng sức kéo cũng không nhúc nhích, mới kêu Vương Nhị lại giúp kéo phụ, Vương Nhị ráng hết sức bình sanh kéo cũng không nhúc nhích.

Vương Nhị nói: Các anh đứng đó ngó sao? Chúng ta ráp vô kéo ổng chớ.

Trương Tam, Lý Tứ, Tôn Ngũ, Lưu Lục, Ðam Thất, Mã Bát đồng hè nhau ráng sức kéo, Tế Ðiên vẫn ngồi trơ trơ như núi Thái Sơn.

Mấy vị Ban đầu đều nói: Cái này thiệt là lạ quá!

Bỗng nghe sau lưng có tiếng cười khà khà, Triệu Ðầu ngoái lại xem, thì ra hai vị Ban Ðầu ở huyện Nhơn Hòa, một vị họ Ðiền kêu là Ðiền Lai Báo, một vị họ Vạn gọi là Vạn Hồng Sơn. Hai vị này là đương sai ở huyện Nhơn Hòa và làm quan ở chức vụ giữ việc cơ mật, dáng người lanh lợi khỏe mạnh, là anh em liên minh với bọn Triệu Ban đầu. Thấy bọn Triệu Ban đầu kéo Tế Ðiên không nhúc nhích, hai anh em nín không được, cười ha hả nói:

- Các anh chỉ có tài ăn không, khi rảnh việc ngồi tại Ban phòng nói khoác cười đùa, hôm nay gặp chút việc làm không ra trò gì hết!

Triệu Ban đầu nghe thế, nói:

- Mấy anh đừng có nói lối, hai anh kéo được ông Hòa thượng này đi, chúng tôi chịu phục các anh là tài đó.

Ðiền Lai Báo nói:

- Nếu tôi không kéo được vị Hòa thượng này đi, thì tôi đảo ngược tên mình cho rồi.

Vạn Hồng Sơn nói:

- Nếu tôi không kéo được vị Hòa thượng này đi thì tôi thề không ăn của nhà quan nữa. Các anh tránh qua một bên xem nào!

Bọn Triệu Ban đầu vừa tránh qua thì thấy Ðiền Vạn hai người dùng tay trịnh trọng cột lại giải mũ, sửa lại y phục, thắt lại dây lưng, kéo vớ sửa giày ngay ngắn, đoạn bước tới trước vài bước rồi quỳ xuống trước mặt Tế Ðiên, nói:

- Bạch Thánh tăng, chúng tôi cùng lão nhân gia không oán không cừu, nhơn vì lão nhân gia chạm tới Tần thừa tướng, Thừa tướng phái lão gia của chúng tôi sai chúng tôi mời lão nhân gia về Tần phủ. Nếu lão nhân gia đã dám động đến Thừa tướng, thì cũng xin dám gặp mặt người một phen. Nếu lão nhân gia không chịu đi thì Tần thừa tướng sẽ nổi giận, xử trảm lão gia chúng tôi, chúng tôi là những người sai quan liên hệ cũng bị mất chức. Khi chúng tôi mất việc rồi thì cả gia đình lớn nhỏ đều bị đói khổ. Cầu xin lão nhân gia mở lượng đại từ đại bi xót thương cho.

Tế Ðiên nghe thế cười nhạt, nói:

- Nếu nói được như hai ông vậy thì Hòa thượng ta đây đi từ sớm rồi. Này Ðiền đầu, quý tánh ông là chi?

Ðiền đầu nghe hỏi cũng vui, nói: Hòa thượng đã biết tôi họ Ðiền còn hỏi chi nữa.

Tế Ðiên hỏi: Tên ông có phải là Lai Báo không?

Ðiều đầu đáp: Phải, tên tôi là Lai Báo.

Tế Ðiên lại hỏi: Vạn đầu nè, quý tánh ông là chi?

Vạn Hồng Sơn nói: Xin sư phụ đừng giận, xin người mở lượng từ bi đi theo bọn họ cho.

Tế Ðiên nói: Ừ, đi thì đi!

Ðiền Lai Báo lúc đó mới nói: Triệu đầu nè, việc sai sự này gặp chỗ rắc rối tôi đã giải quyết xong rồi đó, các anh đưa Hòa thượng cùng về đi.

Triệu đầu bước tới kéo Hòa thượng ra khỏi chùa Linh Ẩn. Ði được hai dặm, trước mặt là Tây Hồ, một dải Tô Ðê toàn là quán rượu, bèn ngồi bệt xuống đất không đi nữa.

Triệu đầu hỏi:

- Sư phụ, sao người không đi nữa? Muốn nghỉ ngơi chốc lát hả?

Tế Ðiên nói:

Ta không phải muốn nghỉ ngơi đâu, ta hỏi ông một câu này nhé! Các ông là đương sai, hẳn là rành rẽ việc dựa núi ăn núi, dựa nước uống nước, trồng hoàng thụ, dựng hoàng lăng, không nhiều cũng có ít, không lớn cũng có nhỏ, được bạn bè gặp gỡ cho Hòa thượng ta. Bây giờ ông đưa ta về nha phủ, kể ra các ông đã làm tròn sai sự tốt đẹp đấy, vậy thì các ông phải chi cho Hòa thượng ta một ít tiền chớ! Nếu không thì thôi, ta không thèm đi theo các ông đâu!

Triệu đầu nghe nói, nghĩ thầm: “Mình là việc sai sự này bao nhiêu năm trời rồi, hôm nay lần thứ nhất mới thấy nguyên sai làm tiền người canh giữ. Tréo cẳng ngỗng thiệt!”. Triệu đầu nói:

- Sư phụ là người xuất gia, cần tiền để làm chi?

Tế Ðiên nói: Ta cần tiền để uống rượu, bị sâu rượu rọ rạy trong bụng đi không được.

Triệu đầu hỏi: Uống rượu hả? Sư phụ uống rượu bao nhiêu?

Tế Ðiên nói: Ta cần 20 hồ ruợu.

Quán rượu mang ra đủ số. Tế Ðiên ngửa cổ tu một hơi cạn một hồ, vừa uống vừa ngâm:

Rượu uống bao nhiêu chả phải say

Răn ngừa sắc dục uống thêm dai

Thêm tài trọn nghĩa trời gia hộ

Nhẫn nhục lợi nhà khỏi họa tai.

Giây lát 20 hồ rượu đều cạn sạch. Triệu đầu đếm tiền vừa đúng số 20 hồ rượu chẵn, không dư thiếu xu nào. Triệu đầu nói:

- Nếu sư phụ uống thêm một hồ rượu nữa, tôi cũng không có tiền đâu để trả.

Tế Ðiên nói: Triệu đầu nè, có phải tiền trong túi là do vợ ngươi đưa cho hồi sáng này phải không?

Triệu đầu nói: Phải đó.

Tế Ðiên nói: Số tiền đó là của ta đưa nó hồi hôm đấy.

Triệu đầu nói: Sư phụ đừng nói giỡn, thôi chúng ta đi mau!

Nói rồi dẫn Tế Ðiên đi trước.

Ði được hai dặm, Tế Ðiên nói: Triệu đầu ơi, ngươi đổi người khác dẫn ta đi!

Triệu đầu hỏi: Chi vậy?

Tế Ðiên nói: Ngươi hết tiền rồi, thôi đổi người khác đi.

Triệu đầu kêu Vương đầu lại dẫn. Vương đầu nhận dây dắt nói:

- Sư phụ ơi, chúng ta cùng đi nhé!

Tế Ðiên nói: Không đi đâu. Ngươi có biết tại sao Triệu đầu không dẫn ta nữa không?

Vương đầu nói: Tôi không biết.

Tế Ðiên nói: Ông ấy dẫn Hòa thượng ta đi phải chi tiền cho ta đấy.

Vương đầu hỏi:

- Sư phụ cần tiền để làm gì?

Tế Ðiên nói: Ðể uống rượu.

Vương đầu nói: Ðược, sư phụ cứ uống.

Tế Ðiên nói: Kêu đem lại cho ta 10 hồ rượu nhé.

Vương đầu nói: Ðược, trong túi tôi chỉ đem theo có 100 tiền, vừa đủ trả 10 hồ rượu thôi, sư phụ uống thêm tôi không có tiền trả đâu.

Tế Ðiên lại nốc cạn 10 hồ rượu nữa. Ðây chính là chỗ trong sách ghi: “Nhậu say vào Tần tướng phủ” đó. Vương đầu dẫn Tế Ðiên đi được hai dặm, Tế Ðiên nói:

- Này Vương đầu, ngươi cũng nên thay người khác dẫn ta đi!

Vương đầu nói:

- Sư phụ nói nghe không hợp lý rồi đó. Triệu đầu dẫn ra khỏi chùa Linh Ẩn hai dặm, sư phụ mới uống rượu, uống xong lại đi hai dặm nữa, cộng tất cả bốn dặm mới thay cho tôi. Tới phiên tôi, chưa đi bước nào hết sư phụ lại đòi rượu. Mới đi có hai dặm, tại sao sư phu lại kêu đổi người khác?

Tế Ðiên nói: Phần Triệu đầu là 20 hồ rượu, còn phần ngươi chỉ có 10 hồ rượu thì đường phải ngắn hơn chứ.

Vương đầu nói: Thôi, tôi không cãi với sư phụ nữa, và kêu: - Trương đầu! Anh lại thay tôi nè.

Trương đầu nói: Sư phụ muốn uống rượu hả? Ở Túy Tiên lầu này tôi có sổ ghi, sư phụ muốn uống bao nhiêu cứ bảo.

Tế Ðiên nói: Ðem cho ta 30 hồ rượu nữa uống chơi.

Trương Tam nghe nói thầm le lưỡi, hỏi: Sư phụ một ngày uống bao nhiêu rượu?

Tế Ðiên nói: Có bao nhiêu đâu. Sáng ta giải nghể hai cân, trưa lại rai rai hai cân, cơm chiều thì đưa cay hai cân nữa. Rồi từ đó tới sáng ta có uống giọt nào nữa đâu.

Trương Tam nói: Tối lại sư phụ mắc ngủ hả?

Tế Ðiên nói: Ðâu có, ban đêm ta bơi trong lu rượu chớ. Không bơi nó bắt ngứa ngáy không chịu được.

Ba mươi hồ rượu của Trương đầu cũng cạn ráo. Tám vị Ban đầu thay phiên nhau dẫn và đãi rượu một lượt thì về đến Tần phủ. Khi đến cổng Tần phủ, lại đến phiên Triệu đầu cầm dây dẫn. Tế Ðiên lúc đó rượu đã say mèm.

Người giữ cổng hối thúc:

- Mấy ông làm việc công sai như vậy đó hả? Tướng gia bảo bắt điên tăng về. Mấy ông còn chờ gì, đợi lúc tướng gia đi tìm rồi mới chịu đưa đến ư?

Triệu đầu nói:

- Lại đây! Lại đây! Nhận Tế Công mà đưa vào Tần tướng phủ.

Tế Ðiên ngước mắt xem, bên trong tướng phủ rất oai nghiêm.

Có thơ rằng:

Thảm ngọc gác kỳ lân

Bình phong rèm phỉ thúy

Cửa rộng báu trân bày
Dao cầm vang nhã nhạc

Gấm thêu cổ ngoạn trưng

Châu ngọc liễn thi hàn

Sang giàu ngôi thiên tử

Tể tướng chỉ nhường qua.

Ngạn ngữ có câu:

Chén vàng dù bể giá không phai

Cân lượng nửa phần chẳng chút sai.
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:06 PM | Message # 21
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 19

Tần tướng chiêm bao thấy quỷ ma
Tế Công nửa đêm thi pháp Phật




Có thơ rằng:

Quyết ý cầu chơn, chơn cách xa

Si tâm đoạn hoặc, hoặc hà sa
Ðạo nhân chỉ giữ lòng thanh thản

Dáng núi trăng xưa bóng hiện ra.

Khi Tế Ðiên đến trước cửa phủ, bên trong có tiếng truyền ra:

- Thừa tướng dạy đưa Ðiên tăng vào ngay.

Kẻ tả hữu dạ ran một tiếng, vội đưa Triệu đầu dắt Tế Ðiên vào trong. Bên trong, Lão phương trượng, Giám tự tăng cùng thị giả đều có mặt. Bảy mươi hai tên gia nhân đứng giữ hàng. Tế Ðiên vào đến nơi đứng thẳng lưng chứ không quỳ. Tần thừa tướng bên trong nhìn ra thấy quả là ông thầy chùa kiếc, bèn vỗ án hét lớn:

- Hay cho Ðiên tăng dám cả gan! Ta sai bọn gia nhân đến chùa mượn gỗ lớn. Mượn là phần ta, không cho mượn là phần các ông, sao dám cả gan dùng yêu thuật tà pháp đánh quản gia của ta? Sự thật thế nào, mau khai cho bản chức rõ.

Ðáng lý Tế Ðiên chiếu theo tuần tự thuật lại là bọn quản gia đòi dỡ lầu Ðại Bi ra sao, mình không cho dỡ, bọn quản gia đánh đập mình ra làm sao v.v… mà lại không nói:

Lại nghe Tế Ðiên nói:

- Nè đại nhân, Ngài còn hỏi ta câu đó nữa sao? Ngài làm đến chức Thừa tướng, ngồi ở bậc Tam Thai, đáng lý phải làm lành làm phước, tích công bồi đức mới phải, cớ sao lại đi dỡ phá chùa chiền? Hòa thượng ta càng nói càng thêm tức giận, muốn lôi đại nhân ra phết cho ít chục bảng.

Tần Thừa tướng ở bên trên nghe nói mấy lời đó, tức giận đùng đùng hét lớn:

- Cha chả, hay cho Ðiên tăng dám cả gan khi dễ đại thần. Bây đâu, kéo ổng ra nện 40 hèo tre cho ta!

Nguyên thứ côn tre này là một loại gia pháp đặc chế của Tần tướng phủ, lợi hại vô kể. Bên trong ruột bọng đổ đầy cả thủy ngân, bất luận là người khỏe mạnh cách mấy, bị 40 hèo đó cũng phải bò lết vì tróc da nát thịt mà thôi. Tế Ðiên nghe nói sắp bị đánh, lật đật chạy vào hàng của Lão phương trượng, Giám tự tăng, năm vị đang ngồi. Ba tên gia nhân bước tới kéo Tế Ðiên ra, nói:

- Hay cho Hòa thượng, bộ tính trốn trong này chắc ăn hả?

Một tên đè ở đầu vai, một tên kìm chặt dưới chân. Hòa thượng đang day đầu về hướng Tây, người cầm roi đứng ở hướng Nam, để Thừa tướng bên trong nhìn cho rõ. Ðánh xong 40 hèo, Hòa thượng vẫn lặng thinh không hề than một tiếng. Ba tên đánh xong đứng qua một bên chờ lệnh.

Thừa tướng bên trong nhìn ra, nói:

- Bọn bây thiệt là một lũ hồ đồ. Ta bảo đánh Ðiên tăng, sao nhè Giám tự tăng mà đánh?

Ba tên gia nhân nhìn nhau thầm nghĩ: “Lạ thiệt! Hồi nãy rõ ràng mình kéo Ðiên tăng mà, sao lại hóa ra Giám tự tăng Quảng Lượng cho được”.

Quảng Lượng lúc đó mới mở miệng được: - A ôi! Ðánh chết tôi đi thôi.

Hồi nãy Quảng Lượng mở miệng mà nói chẳng ra lời. Chịu đánh 40 hèo, thịt da rách nát, máu me dầm dề. Thừa tướng ra lệnh thay bọn chưởng hình khác và dặn:

- Ðánh Ðiên tăng 40 hèo tre thiệt nặng cho ta. Bớ Ðiên tăng! Ta không đáng được ông, thề không làm người nữa.

Ba người chưởng hình khác lại đến. Một người níu Tế Ðiên nói: - Bận này chắc không lầm đâu.

Tế Ðiên nói: Kệ ta, để ta đi.

Ba người nói: Này Hòa thượng! bộ chờ bọn ta ra tay hả? Mau nằm xuống đi.

Tế Ðiên nói: Thì cứ trải nệm ra đi!

Bọn gia nhân nói: Thôi đừng giả ngộ! Bị đánh đòn mà đòi mền nệm gì!

Nói rồi kéo Tế Ðiên quật xuống. Một tên cỡi lên vai, hai tay níu cứng hai lỗ tai. Một tên cỡi lên đùi lấy tay trật quần Tế Ðiên ra, một tên cầm gậy hờm sẵn.

Tần Thừa tướng hô: Ðánh, đánh!

Chưởng hình lấy sức giơ gậy giáng xuống. Gậy cách mông Tế Ðiên chừng một thước, bất ngờ lệch hướng, trúng nhằm vai người cỡi trên lưng Tế Ðiên một cái bịch, mạnh đến nỗi người này văng long lóc ba bốn thước. Người kia ôm lấy vai la oái oái:

- Trời ơi, chết tôi rồi! Ðược, được lắm! Hồi sáng này mi mượn ta 200 tiền, ta không cho mượn, mi cừu oán, bây giờ mượn việc công báo thù riêng hả?

Tần Thừa tướng cả giận nạt lui bọn đó và ra lệnh:

- Hãy đổi bọn khác và lần này đánh Ðiên tăng 80 hèo cho ta. Lần này không đánh được Ðiên tăng, ta thề không làm quan nữa!

Tế Ðiên cũng nói: Ta thách ông đánh được ta đó. Ðánh được ta, ta thề không làm Hòa thượng!

Lại đổi ba người khác. Một người nói:

- Tôi cỡi lên đầu vai ổng, còn Tần Thăng đè dưới chân, anh là chưởng hình cầm roi đừng có đánh lung tung nhé.

Người chưởng hình nói:

- Tôi chỉ nhắm ngay đít Hòa thượng giáng xuống thôi.

- Nào dè chừng đánh, ngọn roi lạc hướng rơi bịch một tiếng trúng ngay trên sống lưng của người đè lên chân của Tế Ðiên, nặng đến nỗi người này té sấp tới trước.

Bên trong, Tần Thừa tướng trông thấy rấy rõ ràng. Lần đầu đánh nhầm Giám tự tăng, lần thứ hai đánh nhầm người cưỡi vai, lần này tới phiên người đè ở chân, phải chăng đó là yêu thuật tà pháp của Hòa thượng? Nghĩ thế bèn thét bảo gia nhân vén rèm lên, để tự mình đích thân dùng oai vệ của Tể tướng triều đình làm việc này họa may mới xua đuổi được yêu thuật đó.

Gia nhân cuốn rèm lên, Thừa tướng bước ra, mặt đầy sắc giận khiến người phải sợ, thét bảo gia nhân:

- Ðánh, đánh nó cho ta!

Bọn gia nhân đâu dám trễ đương. Người chưởng hình lật đật cầm gậy trúc, hầm hầm bước đến phía Tế Ðiên, giơ lên đánh xuống. Nào hay, bởi dùng quá sức mạnh, côn lại tuột tay văng về phía Tần thừa tướng. Tên gia nhân ấy sợ đà rớt mật. Trước quang cảnh đó, Thừa tướng còn nộ khí xung thiên hơn, cúi xuống lượm gậy lên, muốn chính tay mình đánh phạt Hòa thượng cho hả tức. Bỗng trong nhà có tiếng kiểng báo động vang lên, Thừa tướng thất kinh vội ngừng tay lại.

Nguyên lai Tần thừa tướng gia pháp rất nghiêm. Nội xá không có đàn ông mà chỉ toàn là vú già với bọn a hoàn. Bọn đồng tử nhỏ không có lệnh gọi không được vào nội xá. Khi có việc khẩn cấp mới được đánh kiểng lên. Hôm nay nghe kiểng báo động, Thừa tướng rất đổi ngạc nhiên!

Bên trong vú già chạy ra cấp báo:

- Thưa đại nhân, không xong rồi, phòng ngủ của đại nhân bỗng nhiên phát hỏa!

Nghe xong, Thừa tướng biết ngay đây là yêu thuật tà pháp do Tế Ðiên gây ra, vội dặn 20 gia nhân trói chặt Hòa thượng giam trong phòng trống, đến đêm nay canh ba, ta lại thẩm vấn.

Thừa tướng chỉ Tế Ðiên, nói:

- Này ông tăng khùng kia! Nếu ông đốt tiêu tướng phủ ta, ta sẽ giải ông đến Hữu ty nha môn, đánh ông 80 chục gậy trúc cho ông thịt nát xương tan mới hả giận ta!

Nói rồi dặn bọn Tần Thăng lãnh 20 tên gia nhân ở lại canh giữ Hòa thượng, Tần thừa tướng cùng với mấy mươi tên gia tướng đi vào trong xem xét. Vào đến nội xá thấy phu nhân đang đứng trong viện sợ hãi run lập cập, bọn vú già, a hoàn đang chạy lăng xăng dập lửa.

Phu nhân hỏi: Lửa cháy từ đâu thế?

Vú già thưa: Do những tàn lửa nhỏ từ trong lư trầm nổ tách ra, bắn vào màn cửa sổ gần đó.

Thừa tướng lập tức bảo bọn gia nhân mau mau dập tắt lửa, chính mình kéo ngã lư trầm xuống. Bọn vú già thất kinh chạy vội lại xem, may mắn chưa bị tổn hại vì là vàng ròng đúc lên.

Tần thừa tướng thấy lửa đã tắt bèn trở vào phòng, phu nhân hỏi:

- Hôm nay đại nhân gặp việc chi mà mặc có sắc giận thế?

Tần thừa tướng mới đem việc Tế Ðiên dùng pháp thuật đánh bọn gia nhân, binh vây chùa Linh Ẩn, bắt trói các vị Hòa thượng trong chùa kể lại một hồi và nói:

- Ta chỉ muốn đánh phạt ông tăng khùng kia thôi, nào ngờ liên tiếp cả ba lần ông ta đều dùng tà thuật tránh khỏi. Ta sắp sửa ra tay thân đánh thì ở hậu viện bỗng nhiên phát hỏa. Ta vẫn cho bọn nó trói các ông Hòa thượng nhốt lại trong phòng trống, chờ canh ba đêm nay, ta sẽ lại đánh phạt ông tăng khùng ấy.

Phu nhân nghe nói, can gián:

- Ðại nhân hà tất phải so đo với hạng vô tư đó làm gì cho nhọc thể.

Nói chuyện tới đó, kế vú già lên thưa:

- Cơm chiều đã xong, thỉnh ý tướng gia muốn dùng ở đâu?

Thừa tướng nói:

- Dọn ở đây cũng được.

Bọn a hoàn dọn chén đũa lên. Thừa tướng giận tức còn đầy hông, ăn nuốt không vô. Mệt mỏi quá, co tay kê đầu nằm gục trên án thư mà ngủ. Ðương lúc nửa tỉnh nửa mê, mơ mơ màng màng đó, bỗng nghe có một luồng gió lạnh kinh người thổi tới ào ào như rừng cây ngã đổ, ò ò như bò rống, rầm rầm rộ rộ như đất đá rung rinh, té ra là đoàn âm binh ở địa phủ, tướng mạo dữ dằn như yêu quái kéo đến. Ði đầu là một con quỷ dữ, mình cao tám thước, mặt như thoa lọ nồi, đầu đội mũ xanh, mặc quần vải xanh ngắn, thắt lưng màu xanh, mặc áo đỏ chót, chân mang giày nhẹ màu xanh, mày tròn mắt lộ, tay cầm chỉa ba ngạnh. Theo sau lại một con quỷ khác, đầu đội khăn như ý, gắn cặp lông chim dài thượt, mình mặc quần đoạn xanh, chân mang quan hài, nước da trắng tái, mặt vuông, trong tay cầm cây viết, một quyển sổ. Ðằng sau đó lại có một người nữa đi vào, đầu đội khắn lam nhiễu thêu hoa năm màu, mang giày vải màu xanh, da mặt hơi sậm tía, mày đôi mắt rộng, tay kéo một sợi dây xích bằng sắt, đầu kia xiềng chặt một người. Người ấy trên cổ đóng một cái gong, trên tay mang một cái cồng, dưới chân đóng một cái trăn lớn. Gương mặt khô cằn, đầu tóc rối bù như đám cỏ rối. Tần thừa tướng nhìn kỹ người bị xiềng xích chính là cha mình – lão Thái sư Tần Cối – áp tải phía sau lại có một tiểu quỷ, đầu đội khăn lụa xám, gương mặt xám xanh, đôi mắt vàng chóe dưới cặp lông mày đỏ loe, chiếc quần ngắn ngủn để lộ thân hình bóng lẫy như thoa sơn. Tay tiểu quỷ cầm một cây lang nha bổng gai to lởm chởm.

Tần thừa tướng nói:

- Cha ơi, con những tưởng cha đã sớm du thiên đường, nào ngờ cha còn kẹt lại nơi âm tào địa phủ, chịu biết bao khổ sở như thế này. Ngày mai con sẽ mời các vị đạo sĩ đức trọng cao tăng siêu độ cho cha sớm được về trời.

Tần Cối nói:

- Con ơi, lúc sanh tiền cha ở tại triều đường, bít lấp kẻ hiền tài. Tại Phong Ba đình hại chết cha con Nhạc Phi, khiến cho người giận trời thù. Chết xuống hắc địa ngục, chịu trăm cay nghìn khổ. Hôm nay cha vâng lệnh Diêm La thiên tử, vội gấp trở về để khuyên nhủ con của cha: Thân đã làm Tể tướng, lẽ phải tích đức tu nhân. Trái lại, con của cha không chịu làm lành, lại đi phá dỡ chùa chiền, tội nghiệt nặng biết bao! Việc dỡ lầu Ðại Bi của chùa Linh Ẩn, giam trói Hòa thượng đó, con hãy nghe lời cha mau thả các tăng nhân và trùng tu lầu Ðại Bi…

Nói vừa tới đó, Bỗng nghe con đại quỷ cầm thiết xoa nói: - Chúng ta đi thôi.

Nói rồi tay huơ thiết xoa loảng xoảng kéo Tần Cối đi như bay.

Tần thừa tướng lật đật nói: Cha ơi, nán lại một chút, con có lời trình thưa.

Bọn quỷ tốt không nói không rằng, cứ một mực lôi đi. Tần thừa tướng chạy tới đưa tay níu lại, chỉ nghe nổ đoàng một tiếng.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:06 PM | Message # 22
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 20

Triệu Bân đang đêm dò tướng phủ
Vương Hưng vô cớ bị nghiêm hình




Có thơ rằng:

Ðông lạnh nhà nhà cắm liễu xanh

Giữ xuân xuân cứ mãi trôi nhanh

Rượu ngon ta cứ tu bằng thích

Con cháu hòa vui cứ trưởng thành.

A hoàn túc trực bên ngoài, nghe tiếng động vội chạy vào lượm đèn đốt như cũ. Phu nhân cũng thức giấc bước vào, hỏi:

- Ðại nhân gặp việc gì có vẻ kinh hoàng thế?

Thừa tướng nói:

- Ta đang xem sách, bỗng nhiên tinh thần mỏi mệt, thiếp vào trong mộng, gặp một điềm lạ thường: Ta thấy lão Thái sư trở về nhà, tay chân bị xiềng trói, có quỷ tốt theo áp tải, quở ta ở dương gian làm ác quá nhiều. Ta định ngưng dỡ lầu Ðại Bi và thả các ông Tăng cho rồi. Phu nhân thấy việc đó như thế nào?

Phu nhân nghe rồi cười nói:

- Ðại nhân là người đọc sách thánh hiền, sao lại đi tin những chuyện dị đoan nhảm nhí như thế?

Thừa tướng nghe vợ nói như thế, bèn tạm gác ý định đó. Hỏi a hoàn:

- Ðã mấy canh rồi?

A hoàn thưa: Trống vừa đổi sang canh hai.

Thừa tướng dặn: Hãy truyền dụ là canh ba đêm nay ta sẽ ra thư phòng thẩm vấn Ðiên tăng. Không phạt nặng ông này không được!

Vừa nói câu đó, bỗng nghe từ ngọn đèn cầy trong nhà phát lên mấy tiếng hù hù, ngọn lửa phóng cao lên cả thước.

Thừa tướng ngạc nhiên hỏi:

- Cái gì thế?

Ngọn đèn bỗng nhỏ lại bằng hạt táo, chao đi chao lại, bỗng chốc lại lóe cao rồi trở lại như cũ, ba lần như vậy. Thừa tướng rút bảo kiếm trấn trạch nhắm ngay ngọn đèn chém xuống. Ngọn đèn bỗng chẻ thành hai ngọn. Thừa tướng chém thêm mấy chục kiếm nữa. Cả phòng nhấp nháy hàng trăm ngọn đèn. Lại nghe vú già kêu:

- Ngoài cửa có con quỷ lớn. Sợ chết đi được!

Một a hoàn la:

- Không xong, dưới ghế có một con quỷ ngồi xổm, nhe răng nhọn hoắt!

- Ối chà, bên rèm lại có một con quỷ, đầu lắc lư!

Thừa tướng bảo vú già đánh kiểng bảo bọn gia nhân vào đánh quỷ. Vú già, a hoàn chạy ra cửa hô hoán lên, bọn gia đinh bên ngoài chạy vào, nghe trong nhà quỷ loạn vội chạy đến trước Thừa tướng chờ dạy việc. Vừa chạy đến nội xá, bỗng nghe nhiều tiếng nhốn nháo:

- Không xong rồi, tướng công ơi! Có con quỷ bứt gong.

- Không xong rồi, tướng công ơi! Có con quỷ chết treo.

- Không xong rồi, tướng công ơi! Có con quỷ cụt đầu.

- Ô, ô, lại có con quỷ hút máu, rượt cắn người ta.

Ðó là Tế Công thi triển pháp Phật mà ra.

Nhơn vì Thừa tướng phái 20 tên gia nhân ở phòng ngoài canh chừng các Hòa thượng. Tần Thăng trong bọn nói:

- Công việc của chúng ta đây không phải dễ. Suốt đêm hôm qua ta không chợp mắt được tí nào, hôm nay lại lãnh việc này nữa. Ta có nghĩ như vầy: Bọn mình mỗi đứa bỏ ra 200 tiền, hùn nhau mua rượu thịt làm một bữa nhậu. Canh hai đêm nay, chúng ta cùng đánh chén, đến canh ba Thừa tướng thẩm vấn các Hòa thượng ở thư phòng, tưởng cũng chẳng nhỡ việc nào. Các chú nghĩ sao?

Mọi người đồng thanh: Tốt, tốt lắm! Thế thì tiến hành!

Cả bọn chung đậu được bốn điếu, phái một người đi mua rượu thịt đem về. Mới chưa hết canh một, trong bọn có kẻ nói:

- Thôi chúng ta nhậu đi!

Mọi người cùng dọn rượu thịt ra. Tế Ðiên nói:

- Xin các vị đại từ đại bi cho Hòa thượng ta một chén với.

Tần Thăng nói:

- Làm Hòa thương không được uống rượu, sao ông lại đòi rượu? Hòa thượng dạy người ta không được giết người, trộm cắp, dâm dật, nói láo, uống rượu là năm điều giới cấm. Ông đòi uống rượu, há không phạm giới hay sao?

Tế Ðiên nghe nói, cười khà khà đáp:

- Quản gia tuy biết một mà không biết hai. Trong đó còn có biết bao nhiêu điều hay lạ! Trời có sao rượu, đất có suối rượu, người có thánh rượu. Rượu hợp với muôn việc, rượu hòa tính tình. Thánh Trọng Ni lấy rượu làm đạo, để giữ điều hòa đấy.

Tần Thăng nói: Ông Hòa thượng biết nói hay như vậy, ta cho ông một chén đây.

Nói rồi rót một chén rượu đưa đến. Tế Ðiên tiếp lấy, cười lớn: - Ha ha ha!

Ngày dài tợ năm, nhàn mới biết

Việc lớn bằng trời, rượu cũng thôi.

Ngâm rồi, tợp một miếng cạn ráo, nói: Xin quý vị vui lòng cho một chén nữa.

Tần Thăng nói: Ðã được cho một chén rồi, lại còn đòi nữa, thiệt không biết xấu hổ chút nào?

Tế Ðiên nói: Ông không cho cũng được, cả đến một chén xã giao cũng không có nữa sao?

Tần Thăng lại rót thêm một chén nữa.

Tế Ðiên uống lại nói: Rót thêm một chén nữa cho đủ ba chén đi.

Tần Thăng nói: Không được đâu! Cái này đâu phải để cho ông, còn phần người khác nữa chớ!

Tế Ðiên cười hà hà, nói: Thôi được, không cho thì ta tự lấy uống vậy.

Ðoạn cầm chén rượu niệm liền mấy câu: “Án sắc hích, mau mau mau!”. Tức thì trong chén, rượu đầy tràn. Tế Ðiên uống liền mấy chén nữa, rồi để chén xuống. Mấy người trong bọn cũng muốn cũng muốn uống rượu, đưa chén giành nhau rót. Nào dè bình đã khô queo, một giọt cũng không.

Mọi người đều nói: Hồi sớm mua đồ ăn còn tiền mà, đem bình ra mua thêm đi.

Rượu mua rồi giây lát cũng hết sạch. Riêng Tần Thăng không nói một lời, buồn bực kiếm chỗ lánh mặt. Ai nấy say vùi, ngũ nằm la liệt.

Tế Ðiên thấy ai nấy ngủ vùi mới tháo xiềng sắt ra đi về phía nội viện báo ứng. Bọn ác nô của Thừa tướng hàng ngày cậy thế chủ nhân, ra ngoài tác ma tác quái bị Tế Ðiên hoá phép di đảo đánh cho một trận, lắc cho một hồi, chính là để báo ứng đó.

Ðang đi, Tế Ðiên thấy một người đang cắp dao từ phía Bắc xăm xăm đi tới. Nhìn kỹ lại thì chính là Thám nan thủ vật Triệu Bân…

Nhắc lại Triệu Bân từ ngày giúp Tế Ðiên giả làm thần Vi Ðà, trộm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù, vào phủ Thừa tướng gặp Y Sĩ Hùng và đưa về nhà ra mắt Triệu thái thái. Y Sĩ Hùng ở chơi mấy hôm rồi từ biệt ra đi. Triệu Bân vẫn bán lẽ trái cây ở Tây Hồ, thấy vô số quan binh kéo đi rầm rộ về phía chùa Linh Ẩn. Triệu Bân thấy có người quen trong quân ngũ, bèn chạy lại hỏi thăm, mới biết là Tế Ðiên đánh quản gia của Thừa tướng, Thừa tướng phát lịnh điều binh đến vây chùa, bắt trói ông Tăng khùng dẫn về Tướng phủ, định đánh cho chí chết.

Triệu Bân nghe rồi thất kinh, nghĩ thầm: “Tế Công có ơn cứu mạng ta. Bây giờ người bị nạn, làm sao ta không cứu được?” Lại nghĩ: “Hồi hôm mẹ ta há không nói với ta về đạo tu thân đó sao? Ðược rồi, để tối nay chờ lúc mẹ ta ngủ say, ta cắp dao thái rau đi giết quách tên Thừa tướng gian ác đi cho rồi, báo thù cho sư phụ Tế Công trưởng lão”. Nghĩ rồi, chậm chậm trở về nhà.

Lão thái thái hỏi: Hôm nay sao con không bán?

Triệu Bân nói: Bữa nay trong mình con không khỏe.

Thái thái nói: Không khỏe thì về nhà nghỉ.

Tối lại, đang lúc Triệu Bân thấp thỏm chờ mẹ ngủ say để ra đi, bỗng nghe có tiếng gõ cửa. Triệu Bân khó chịu nghĩ: “Chắc mẹ ta thức dậy quá”. Tiếng gõ cửa lại nổi lên gấp hơn. Triệu Bân chạy ra xem, thì ra là bà Vương ở đối diện.

Bà Vương nói:

- Này Triệu Bân, xin phiền cậu một chút! Nhơn vì thằng Vương Hưng nhà tôi sáng nay đi bán trái cây, ngang qua phủ thừa tướng bị giữ lại. Lúc giữa trưa lại có một chiếc kiệu nhỏ đưa đến bảo thằng bé nhà tôi bị chứng thổ tả, bảo vợ nó đi tiếp giúp. Mãi tới giờ này chưa thấy bọn nó trở về nhà, tôi thấy không an tâm chút nào! Nhà tôi lại không có ai, xin phiền cậu đi dọ hỏi giùm.

Triệu Bân dạ dạ nhận lời. Anh ta là người thật tâm làm việc nghĩa nên lật đật cho mẹ hay rồi thay đổi y phục, giắt theo con dao thái rau, đi ra cửa, nhắm hướng Tần phủ mà đi đến. Trời đã tối, gánh trái cây của Vương Hưng vẫn còn để đó, có anh chàng Quách Tứ gác lộ giữ giùm. Triệu Bân thấy có người quen bèn hỏi:

- Này Quách Tứ, chú Vương Hưng đâu rồi?

Quách Tứ đáp:

- Té ra là Triệu ca. Anh hỏi Vương Hưng ở đâu hả? Hồi sáng này nhị công tử của Thừa tướng kêu anh ta vào hầu. Anh ta nhờ tôi coi chừng giùm. Tôi bán giùm anh ta cũng bộn bộn. Tôi có việc bận, chờ anh ta hoài mà không thấy trở ra. Dọ hỏi tin tức, bọn gác cửa không thèm trả lời, tôi cũng không biết chuyện gì xảy ra cho anh ta nữa.

Từ biệt Quách Tứ, Triệu Bân lần dò hỏi thêm mấy chỗ nữa cũng chẳng được tin tức gì hơn. Trống điểm canh hai, lật đật trở lại tướng phủ, tìm một chỗ vắng người, rún mình nhảy thót lên mái nhà, định tìm giết Thừa tướng để trả thù cho Tế Ðiên. Nào ngờ đi vào bên trong, từ nóc nhà dòm xuống thấy đèn đuốc sáng lờ mờ phản chiếu gương mặt bọn gia nhân mờ mờ ảo ảo như bầy oan quỷ. Triệu Bân nhìn thấy phát khiếp, lật đật bỏ đi qua phía Tây. Ðến một hoa viên, từ nóc nhà nhìn ra tứ phía, Triệu Bân thầm nghĩ: “Hoa viên này chắc không phải nằm trong tướng phủ. Nhà ai ở sát vách tường vậy cà?”. Nhìn một hồi lâu thấy ở phía Ðông bắc có một tòa trang viện, đèn đuốc sáng lóa. Triệu Bân bèn nhảy xuống men lại gần xem, thì thấy chung quanh trồng cây quế thơm phức. Phía Bắc có một cái cửa thông, qua cửa là một dãi tường hoa, ở giữa có một bàn cờ tướng kẻ bằng vôi trắng. Tòa nhà này chính là ba gian Liêm Nguyệt đài ờ phía Bắc, Ðông Tây phối phòng cũng đều có ba gian như vậy. Triệu Bân để mắt nhìn vào: Sau bức rèm tre, ánh đèn chiếu sáng tỏa, mọi vật bên trong rõ ràng trước mắt. Trên chiếc bàn bát tiên chất đầy cả trái cây tươi ngon đủ loại, sơn hào hải vị chẳng thiếu thứ chi. Triệu Bân nghĩ thầm: “Chà, sẵn đây ta chén một bữa no say rồi đi kiếm giết chết thằng Thừa tướng chó đó cũng chưa muộn”. Hăm hở đi vào được mấy bước, bỗng lại sực tỉnh, tự trách: “Triệu Bân ơi Triệu Bân! Mi khùng quá! Nhỡ trong nhà có ai người ta bắt gặp rồi mày chui ngả nào? Chi bằng kiếm một viên đá ném vào thử xem!”. Nghĩ rồi, mò kiếm được viên gạch nhỏ, nhằm bức rèm ném tới. Ðó là phép ném đá dò đường của khách lục lâm thường dùng. Nếu trong nhà có người sẽ có tiếng hỏi, hoặc có chó, sẽ sủa gâu gâu vì có tiếng động.

Sau khi ném gạch vào bức rèm và chờ một lát, không thấy động tĩnh chi, Triệu Bân rất mừng vì biết trong nhà không có ai, mới mạnh dạn đi vào. Vừa bước lên thềm, bỗng nghe bên trên có tiếng kêu:

- Ái chà! Có đại ca tới! Mau cứu em với!

Triệu Bân cả kinh, ngước đầu nhìn kỹ, té ra là hai vợ chồng Vương Hưng, cả mình đầy máu, đang bị treo ngược ở xà nhà.
 
atoanmt Date: Thứ Năm, 29 Mar 2012, 11:23 PM | Message # 23
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 4981
Status: Tạm vắng
LongTracAn Theo thiển ý của mình, thì bộ Truyện Tế Điền Hoà Thượng, có lẽ Dịch-Giả Đồ Khùng là người dịch hay nhất !
Và mình hiện đang có trong tủ sách ở nhà, trọn bộ này... Thỉnh thoảng lấy ra đọc vẫn có nhiều đoạn mắc cừi dzui ác...


AToanMT
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:33 PM | Message # 24
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 21



Gây nghiệp chướng, nhị công tử bị to đầu
Xót thương con, Thừa tướng thỉnh Thánh tăng




Có thơ rằng:

Cảnh sầu nhiều lúc lại thêm hay

Ngoại vật thong dong rảnh tháng ngày

Thành bại việc đời lên xuống mãi

Ấm lạnh nhân tình gió thoảng bay

Giỏ cơm may mắn hơn Trần Thái

Áo ấm nào so với Tử Phòng

Mưu cầu danh lợi xoa tay trắng

Rốt cuộc phơ phơ mái tóc dày.

Nguyên hoa viên đó chính là hoa viên của Tần Hằng, công tử thứ hai của Tần thừa tướng. Ngày thường Tần Hằng không bao giờ chịu yên phận, ỷ thế cha mình là Tể tướng đương triều. Vả lại anh của Tần Hằng vắn số, Thừa tướng chỉ còn một mình hắn ta là con nên cưng chiều hết mực. Hắn ta mặc ý tung hoành, bọn thủ hạ của hắn rất nhiều tay có võ, thường lân la ra ngoài cướp lấy thiếu phụ, gái tơ nhà người đem về cho hắn cưỡng hiếp. Gia đình nạn nhân tìm đến cửa, hắn sai bọn thủ hạ vác gậy đánh chí chết. Có người đầu cáo ở phủ huyện, bọn nha môn ở đó không dám trình bẩm lên vì biết hắn là con Thừa tướng. Vì thế, mọi người đặt cho hắn một trác hiệu là Truy mạng quỷ.

Hôm đó hắn đang xem sách trong hoa viên, sách đó không phải loại đúng đắn, cũng không phải loại dâm thư, tà thuyết, mà là quyển sách nói về Ðường Minh Hoàng tin yêu Dương Quý Phi. Xem đến chỗ đắc ý bèn vỗ án ngạc nhiên đánh hét một cái. Quản gia Tần Ngọc là người được tin dùng lâu nay, đứng kế bên hỏi:

- Hôm nay công tử có vẻ vui thích, chắc xem sách gặp điều gì đắc ý thì phải?

Tần Hằng nói: Mi không biết chớ. Thảo nào Ðường thi có câu:

Quắc quốc phu nhân thừa chúa ân

Bình minh kỵ mã nhập cung môn.

Khước hiền chi phấn ô nhan sắc,

Ðạm tảo nga mi triều chí tôn.

Nghĩa là:

Người đẹp lừng danh thừa ơn chúa

Trời mai cỡi ngựa tiến cung môn

Son phấn chỉ hiềm thêm kém đẹp,

Nhạt màu mặt ngọc kiến long nhan.

- Ý thơ diễn tả nàng Dương Quý Phi quả nhiên đẹp tuyệt vời!

Tần Ngọc hỏi:

- Thưa công tử, bộ chính mắt công tử thấy phải không?

Tần Hằng nói:

- Thằng khùng này nói bậy bạ không. Dương Quý Phi người đời Ðường, còn chúng ta là người đời Tống, làm sao chính mắt ta thấy nàng được.

Tần Ngọc nói:

- Hiện nay có một người so với Dương Quý Phi còn đẹp hơn nhiều. Nàng thiệt là người đẹp trên đời ít có, dưới thế không hai. Tôi từ khi cha sanh mẹ đẻ tới giờ, chỉ thấy nàng này là người đẹp thứ nhất. Nàng thân hình không cao không thấp, mình vóc không béo không gầy, cho đến lông mi, tròng mắt, không chỗ nào chê được!

Tần Hằng vốn là kẻ hảo ngọt, nghe mấy câu đó, đôi mắt trợn ngược, lật đật hỏi:

- Nè Tần Ngọc, mi gặp nàng ta ở đâu?

Tần Ngọc nói:

- Ở cửa phủ chúng ta có tên Vương Hưng chưng bán trái cây, nhà va ở tại chợ bán đồ gỗ. Một bữa nọ tiểu nhân mua được hai chiếc ghế dựa bằng gỗ chò, định tìm người vác về nhà, nhưng tìm mãi không ra, tiểu nhân bèn đến nhà Vương Hưng. Tiểu nhân gặp nàng, nhìn sững. Nàng ta quả là trang quốc sắc thiên hương, giai nhân bậc nhất, ít có trên đời. Từ hôm gặp nàng rồi tiểu nhân định mách với công tử từ lâu, nhưng chưa có dịp đó thôi.

Tần Hằng nói:

- Không được đâu! Chuyện đó có được hay không, chớ trong nhà Vương Hưng…, còn phải đem người nhà của ta nữa, phiền lắm! Mi có cách nào khéo đem người đẹp về cho ta, ta sẽ trọng thưởng!

Tần Ngọc nói:

- Công tử muốn được người đẹp có khó chi, chỉ cần chi ra 200 lượng bạc, nô tài này sẽ mách cho một diệu kế, bảo đảm chỉ nội ngày nay thôi, người đẹp sẽ vào tay công tử gấp, Chỉ cần công tử chịu bỏ ra 200 lượng bạc thưởng, kẻ nô tài sẽ lo việc đó chu tất ngay.

Tần Hằng nói: Vô phòng lấy tiền đi.

Có bạc trong tay, Tần Ngọc kề tai chủ, nói: Chỉ cần làm như vầy… như vầy…

Tần Hằng nghe rồi cười ha hả, nói: Thôi, đi kêu hắn mau đi!

Tần Ngọc đi ra ngoài một lát gặp Vương Hưng đang quảy gánh trái cây đầu kia đi lại, bèn nói:

- Này Vương Hưng, nhị công tử bảo mi vào hầu đấy!

Vương Hưng lật đật gởi gánh trái cây cho Quách Tứ trông giùm rồi theo Tần Ngọc vào trong. Vương Hưng cười hề hề, trong bụng tính thế nào cũng bán được hai lượng bạc. Bữa nay chắc là công tử thèm trái cây ngon đây!

Tần Hằng lúc đó đang ngồi ở hiên Quế Ðan trong hoa viên hai bên có mấy tên gia nhân đứng hầu.

Vương Hưng vội vàng bước tới thi lễ, hỏi:

- Thưa công tử, kêu tiểu nhân đến dạy bảo điều chi?

Tần Hằng nói:

- Này Vương Hưng, trong nhà mi có bao nhiêu người, mỗi người bao nhiêu tuổi? Nói thiệt ta nghe coi!

Vương Hưng chẳng hiểu duyên cớ tại sao, cũng vội vàng thưa:

- Dạ thưa công tử, nhà ở chính là của tiểu nhân, gồm có: Mẹ tiểu nhân năm nay 50 tuổi, tiểu nhân 22 tuổi, vợ tiểu nhân 19 tuổi. Trong nhà chỉ có ba miệng ăn, sống qua ngày.

Tần Hằng nghe thưa cười dài, nói:

- Này Vương Hưng, nghe nói vợ mi dễ coi lắm hả. Nè, ta cho mi 200 lượng bạc để mi cưới vợ khác, còn vợ mi đưa đến hầu hạ ta nhé!

Vương Hưng nghe nói, không lạnh mà run, trong bụng nghĩ thầm: “Nếu ta trả lời không bằng lòng, chắc sẽ bị loạn côn mà chết quá!”. Nghĩ đi nghĩ lại bèn thưa:

- Xin công tử xét lại, tiểu nhân có sự tình xin thưa: Thực ra, vợ tiểu nhân ở nhà cũng chẳng làm chi, chỉ giữ việc phụng dưỡng mẹ già thôi. Chờ khi mẹ tiểu nhân qua đời rồi, tiểu nhân sẽ đưa nó đến hầu hạ công tử. Tiểu nhân thực tình chẳng dám lấy 200 lương bạc của công tử đâu.

Tần Hằng nghe Vương Hưng nói thế, dợm muốn nói:

- Ừ, thôi mi về đi!

Nào dè Tần Ngọc ở một bên hớt nói:

- Thưa công tử, công tử đừng thèm nghe lời nó! Rõ ràng nó gạt công tử đấy! Mẹ nó năm nay mới 50 tuổi. Bà sống 30 năm nay mới chết, vợ nó lúc đó đã 50 tuổi rồi, nó đưa đến cho công tử nuôi dưỡng già ư?

Tần Hằng nghe nói đùng đùng nổi giận hét:

- Hay cho thằng chó này! Trước mặt công tử, mi dám bày trò gạt gẫm hả, không trị mi không được! Bây đâu, rút ngược nó lên cho ta.

Bọn ác nô dạ rân, áp tới trói rút ngược Vương Hưng lên xà nhà. Tần Hằng nói:

- Này Tần Ngọc, ngươi có kế gì bắt vợ nó đem về đây cho ta, để ta cho nó chống mắt lên coi ta mùi mẫn với vợ nó!

Tần Ngọc chớp mắt mấy cái, nghĩ ra một kế rồi ra bên ngoài kêu tên tam gia lại nói mấu câu. Tên tam gia liền thuê một cỗ kiệu hai người khiêng thẳng đến nhà Vương Hưng kêu cửa. Mẹ Vương Hưng từ trong nhà đi ra hỏi:

- Ai kêu cửa đó?

Tên tam gia đáp:

- Lão thái thái không nhớ ra tôi sao? Tôi đây là họ Trương, làm việc trong hoa viên của phủ Thừa tướng. Tôi với anh Vương Hưng thân nhau lắm. Sáng nay Vương đại ca gánh gánh ra một quãng đường, bỗng anh lắc lắc mấy cái, miệng sùi bọt mép, bất tỉnh nhân sự. Bọn tôi dìu anh vào hoa viên rồi mời thầy thuốc đến xem mạch. Thầy thuốc bảo bệnh anh ấy nặng lắm, phải có người nhà ở bên để săn sóc, mới có thể trị được. Vương đại ca bảo tôi về đây rước chị nhà đến săn sóc cho anh ấy.

Lão thái thái nói: Cũng được, để tôi đi xem sao.

Tên tam gia nói: Lão thái thái già cả vào trong ấy gặp cảnh như thế này càng rối rắm thêm. Hơn nữa để chị là người ít tuổi ở giữ nhà có điều bất tiện chăng?

Lão thái thái nghe mấy lời nói đó cho là hợp lý, bèn vào trong nhà bàn bạc với con dâu là Ngô thị. Nàng Ngô thị cũng là người hiền thục, nghe tin chồng bệnh nặng, lòng rối lên, lật đật thay áo, nói:

- Ðể con đi coi thử.

Rồi ra bên ngoài nói mấy câu khách sáo đoạn lên ngồi kiệu thẳng đến Thừa tướng phủ. Khi vào hoa viên, kiệu được đặt xuống, vén rèm ra xem, Ngô thị thấy một vị công tử đang ngồi một mình nơi thềm cửa sảnh đường, còn chồng nàng là Vương Hưng đang bị trói gô ở bên đó. Ngô thị chẳng biết là do nguyên cớ gì, chỉ thấy vị công tử trang phục rất sang trọng chỉnh tề: Ðầu đội khăn như ý châu nạm ngọc, mình mặc áo rộng rập rờn hoa kim tuyến. Chân mang vớ trắng, lộ ra đôi giày nhẹ. Nhìn lên tướng mạo lại càng khó coi: đầu vồ, mắt miệng bình, tròng lộ, nhìn thấy rất ngoại kê.

Ngô thị nhìn xong mới hỏi:

- Dám hỏi công tử đây là ai? Tại sao lại bắt trói chồng tôi như vậy?

Bọn gia nhân đứng kề bên nói:

Ðây là công tử nhà ta, người là con của Tần Thừa tướng đó. Nàng hãy mau đến chào người đi.

Ngô thị hãy còn chưa tin thật, lại nghe Tần Hằng nói:

- Nàng ơi nàng đừng có sợ. Ta đây muốn làm việc nhất cử lưỡng tiện, ba tô vô một giạ đấy. Ngờ đâu thằng chó Vương Hưng này chẳng chịu nghe theo. Số là từ lâu ngưỡng mộ phương dung sắc nước hương trời của nàng, ta nghĩ rằng nàng ở với Vương Hưng, ăn uống kham khổ, phục sức vải to thưa, thật là uổng biết bao! Ta mới kêu Vương Hưng lại thương nghị là: Ta sẽ cho hắn 200 lượng bạc để về cưới vợ khác, há chẳng phải là nhất cử lưỡng tiện, tam toàn kỳ mỹ hay sao? Hai trăm lượng bạc đó cưới được con vợ khác mà còn lời chán, vừa được phát tài vừa khỏi mắc tội đày đọa thân nàng. Ðưa nàng đến hầu hạ ta, ta lại có thêm được một người hợp ý. Ðem việc đó ra thương lượng mà hắn một mực không khứng nghe theo, nên ta giận bắt trói nó như thế.

Ngô thị nghe xong, mày ngài dựng ngược, mắt hạnh tròn xoe, nói:

- Thưa công tử, theo tôi nghĩ, công tư nên thả vợ chồng tôi ra, thì muôn việc coi như không có việc gì. Công tử là con quan Tể tướng đương triều, thê thiếp đầy nhà, cần gì phải làm khó dễ bọn tôi như vậy. Công tử đáng lẽ nên làm việc phước đức mới phải, chớ những việc như thế này mà thấu tai quan Ngự sử thì đến cả Thừa tướntg cũng bị liên lụy xem thường đấy.

Vương Hưng ở một bên cũng vọt miệng nói:

- Thưa công tử, kẻ tiểu nhân lâu nay buôn bán ở cửa phủ làm gì đắc tội với người đâu, xin tha vợ chồng bọn tiểu nhân về làm phước.

Tần Hằng nghe nói, trở lại giận xung thiên, kêu một tên ác nô:

- Ðem hai đứa nó rút ngược lên mà đánh cho ta!

Bọn thủ hạ ráp nhau đè hai vợ chồng trói lại rồi rút ngược lên xà nhà mà đánh. Hai vợ chồng Vương Hưng quyết tâm thà chịu đánh chết chớ chẳng nghe theo điều kiện của Tần Hằng. Ðánh đến chiều tối, bọn họ nghỉ tay ăn uống, rồi lại đánh tiếp. Bỗng nghe Ðông viên của tướng phủ có quỷ lộng, bọn thủ hạ chạy thưa:

- Thưa công tử, nên chạy qua xem thử!

Tần Hằng nghe nói cũng hối bọn gia nhân xách đèn ở trước: Mau qua xem đi!

Bọn gia nhân ý cũng muốn xem quỷ lộng ra sao nên tranh nhau chạy sang. Trong nhà chỉ còn trơ lại hai vợ chồng Vương Hưng đang rên rỉ. Vương Hưng nén đau bảo vợ:

- Nàng ơi, cũng vì ta mà nàng phải chịu cảnh đớn đau như thế này!

Ngô thị nói: Vợ chồng mình chắc phải chết ở đây quá! Nếu có chết, bọn ta sẽ đến trước Diêm Vương báo cáo còn dễ hơn.

Ðương nói tới đó, bỗng thấy có người bước vào, Vương Hưng chớp mắt nhìn kỹ: Té ra là Thám nan thủ vật Triệu Bân. Vương Hưng kêu:

- Anh ơi, Triệu đại ca, mau cứu em với!

Triệu Bân nhìn lại, thấy hai vợ chồng Vương Hưng khắp mình bị thương tích, bèn chạy đến đưa Vương Hưng xuống trước, rồi Ngô thị xuống sau. Triệu Bân dùng tay mở dây trói cho Vương Hưng mãi chẳng ra vì gút chặt quá. Chính lúc đang bối rối đó, bỗng từ phía sau có người ôm cứng Triệu Bân lại. Triệu Bân muốn vặn người ném người kia ra phía trước để thoát thân. Nào dè ráng hết sức bình sanh mà người ở sau như hòn núi Thái Sơn đè cứng không nhúc nhích.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:33 PM | Message # 25
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 22



Thi diệu pháp, người quỷ lộng Tần gia
Trị kỳ bệnh, Tế Công đùa Thừa tướng




Có thơ rằng:

Nhỏ nhít thân này đâu kể

Sá chi muôn lượng vàng ròng

Ðường ái nực mùi son phấn

Sử xanh lưu lại tiếng cười…

Triệu Bân cố vùng vẫy thoát thân mà ráng hết sức vẫn không nhúc nhích, ngoái đầu nhìn lại, té ra là Tế Ðiên. Triệu Bân nói:

- Sư phụ ơi, thả tôi ra đi! Tôi sợ sư phụ bị Thừa tướng hại đó chớ, nào ngờ lại gặp sư phụ ở đây.

Tế Ðiên thả tay ra, nói:

- Này Triệu Bân, ngươi cởi trói cho hai vợ chồng Vương Hưng, rồi theo ta vào trong này ta vặn một chút.

Triệu Bân mở trói cho vợ chồng Vương Hưng xong, Tế Ðiên móc trong túi ra hai hoàn thuốc bảo vợ chồng Vương Hưng thoa lên mấy chỗ vết thương. Ðoạn Tế Ðiên vào trong nhà ăn nhậu tì tì. Triệu Bân nói:

- Hay quá! Té ra bàn rượu này người ta dành sẵn cho sư phụ đây mà!

Tế Ðiên bảo:

- Này Triệu Bân, ngươi qua căn phía Bắc của gian nhà Tây, sẽ thấy có bốn cái rương. Trong rương thứ ba có một hộp vàng ròng nặng 100 lượng và sáu phong bạc nén, nặng 300 lượng. Ngươi hãy cầm về đây cho ta!

Triệu Bân lật đật đi tìm, quả đúng như lời nói và cầm vàng bạc đem về.

Tế Ðiên hỏi:

- Này Vương Hưng, ngươi trước ở đâu?

Vương Hưng đáp:

- Tôi nguyên quán huyện Dư Hàng.

Tế Ðiên bảo: Này Vương Hưng, ngươi hãy cầm lấy số bạc này, ngày mai cùng mẹ và vợ ngươi thuê thuyền về huyện Dư Hàng nhé! Ðồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà cho Triệu Bân hết đi. Với số bạc này, ngươi về xứ mua một ít đất và làm vốn bán buôn cũng sống tạm qua ngày.

Vương Hưng nghe nói, vội vàng sụp xuống lễ tạ.

Tế Ðiên nói:

- Triệu Bân, ngươi hãy đưa vợ chồng Vương Hưng về đi!

Triệu Bân nói:

- Sư phụ ở đây chắc không hề hấn gì phải không? Ðệ tử định đi giết Thừa tướng báo thù cho sư phụ đây.

Tế Ðiên nói:

- Ngươi khỏi phải lo, ta tự có phương cách, ba ngày nữa ngươi sẽ được tin tức của ta.

Triệu Bân gật đầu vâng dạ. Vừa muốn đi, bỗng nghe có người nói:

- Bọn bây hãy theo ta vào đây, coi thử vợ chồng Vương Hưng có chịu nghe theo hay không?

Bọn ác ôn dạ ran, lục tục kéo đến, đèn đuốc sáng choang.

Người nói câu đó chính là nhị công tử Truy mạng quỷ Tần Hằng, dắt theo một bọn ác nô từ bên tướng phủ trở về. Hồi nãy nghe nói bên Ðông phủ quỷ lộng, Tần Hằng sang vấn an Tần Thừa tướng. Thừa tướng quá thương con, sợ con phải bị sợ hãi nên không cho vào mà bảo hãy trở về hoa viên ngơi nghỉ. Vừa đến cửa hoa viên, Tần Hằng sực nhớ đến vợ chồng Vương Hưng bèn nói:

- Bọn bây đâu, theo ta vào trong này xem vợ chồng Vương Hưng có chịu nghe lời ta không. Nếu bọn nó không chịu nghe, ta đập chết cho rảnh!

Triệu Bân nghe vậy cả kin, nói:

- Sư phụ ơi, không xong rồi, bọn mình phải lánh vào nhà trong mới được.

Tế Ðiên nói: - Không sao đâu mà! Liền lấy tay chỉ ra ngoài một cái, miệng niệm lục tự chơn ngôn: “Án ma ni bát mê hồng”.

Tần Hằng đang đi cảm nghe vướng phải làn gió lạnh run, rùng mình té ngã trên đất. Ai nấy áp lại đỡ lên, nhốn nháo bấn loạn. Triệu Bân thừa lúc lộn xộn đó, dắt vợ chồng Vương Hưng thẳng ra cửa ở góc vườn đi ra ngoài và đưa về nhà. Sáng sớm hôm sau, Vương Hưng thuê một chiếc thuyền lớn đưa mẹ và vợ trốn về quê cũ, đồ đạc lặt vặt cho hết Triệu Bân.

Tế Ðiên sau khi thấy Triệu Bân đi rồi, vẫn nhởn nhơ ăn uống no say, rồi lững thững trở về căn phòng trống bên Ðông phủ.

Nhắc lại Tần Hằng sau khi té xuống, đầu óc nặng nề, có rất đông người dìu vào trong phòng.

Tần Hằng kêu: Chao ôi, nóng quá!

Tần Ngọc lật đật lột mũ Tần Hằng xuống.

Tần Hằng la: Nóng!

Mọi người lại cởi bớt áo dài ra.

Tần Hằng lại kêu nóng.

Mọi người xúm cởi áo trong ra.

Tần Hằng la: Nóng!

Tần Ngọc lại cởi bỏ giày dép ra.

Tần Hằng la: Nóng!

Tần Ngọc lại cởi thêm áo lót ra.

Tần Hằng la: Nóng!

Tần Ngọc bảo mau đem quạt đến. Quạt cũng vẫn thấy nóng. Tần Ngọc bảo đem hai cục nước đá vào. Bọn thủ hạ vừa thưa có nước đá đem đến.

Tần Hằng lại kêu: Chao ơi, lạnh quá!

Tần Ngọc lật đật bảo: Thôi, dẹp nước đá đi!

Tần Hằng kêu: Lạnh quá!

Mặc áo lót vào vẫn còn lạnh, lại mang giày dép vào.

Tần Hằng kêu: Lạnh quá!

Mặc áo trong vào cũng vẫn còn lạnh, mặc áo bào vào vẫn còn lạnh, đội mão lên vẫn còn lạnh, đắp thêm hai lớp mền vẫn còn lạnh.

Tần Ngọc kêu: mang bồn lửa lên.

Bồn lửa mới vừa đưa lên, Tần Hằng lại kêu: Nóng quá!

Lại lần lượt cởi bỏ mũ áo ra hết lớp này đến lớp khác. Hết nóng rồi lạnh, hết lạnh lại nóng, đổi thay như thế bốn năm lượt, thì trời đã sáng.

Tần Hằng bỗng kêu: Ðầu ta sao ngứa quá, ngứa khó chịu quá đi, mau lại gãi cho ta.

Tần Ngọc lấy tay gãi một cái, nào ngờ càng gãi đầu càng lớn. Trong giây lát đầu to bằng chiếc đấu. Bọn Tần Ngọc sợ quá không dám gãi nữa. Mọi người bối rối chỉ lấy mắt nhìn nhau!

Trời đã sáng rõ, Tần Ngọc nói: Mau qua Ðông phủ bẩm cho Thừa tướng hay đi!

Hôm đó Thừa tướng cáo bận không đi chầu vua, bị quỷ lộng nửa đêm cũng không rảnh mà thẩm vấn mấy ông Tăng. Trời đã sáng rõ, Thừa tướng đương muốn nghỉ ngơi giây lát, bên ngoài có gia đinh vào thưa:

- Có người đưa tin, công tử bị bệnh nặng.

Thừa tướng nghe nói, xót tình cha con lật đật dắt kẻ tùy tùng sang hoa viên thăm Tần Hằng. Tần Thừa tướng vào trong nhà thấy con nằm cuộn trên giường, đầu lớn thật khó coi, bèn vội quở:

- Bọn tôi tớ chúng bây thật là đáng giận! Công tử bị bệnh nặng như vậy sao không cho ta hay sớm?

Tần Ngọc thưa:

- Tại tướng gia chưa rõ mới rầy oan như vậy. Chứ hồi hôm công tử từ Ðông phủ trở về, bỗng nhiên chóng mặt té xuống, khi trở vào phòng lại kêu nóng quá, chúng con cởi hết y phục ra, lại kêu lạnh quá, mặc y phục vào lại kêu nóng quá! Cởi ra mặc vào như thế đến mấy lượt, về sau lại kêu ngứa đầu quá. Kẻ nô tài mới gãi cho công tử, nhưng càng gãi đầu càng lớn. Bịnh này thật là kỳ quái!

Thừa tướng dặn:

- Mau đi mời danh y trị cho công tử.

Bọn gia nhân thưa:

- Trong thành Lâm An này có hai vị danh y mà thôi. Một vị tên Chỉ hạ hoạt nhân Thang Vạn Phương, còn một vị tên Trại hoa đà Lý Hoài Xuân.

Bọn gia nhân đi mời Lý Hoài Xuân, Lý Hoài Xuân nghe nói người nhà của Tần Thừa tướng mời, đâu dám không đi, sửa soạn theo gia nhân đi ngay đến tướng phủ. Thừa tướng lòng gấp như lửa đốt, nghe báo cáo có thầy thuốc đến, liền dặn bảo gia nhân mời vào. Gia nhân đưa Lý Hoài Xuân vào bên trong, Tần tướng ngó thấy trước mặt mình một người đầu đội khăn tiêu dao bốn góc, mình mặc áo bào lam, chân mang giày đế rộng, khí vũ hiên ngang, nhất biểu phi phàm, bèn lật đật mời vào nhà trong dùng trà.

Lý Hoài Xuân chẩn mạch cho Tần Hằng xong, trong lòng thật khó nghĩ. Nhìn thấy đầu Tần Hằng sưng lên quá to mà chuẩn đoán sáu bộ thốn quan xích, mười hai kinh mạch đều không có thấy bệnh. Chẩn đi chẩn lại mãi mà chẳng rõ chứng bịnh sưng đầu này là bắt nguồn từ kinh nào? Nghĩ mình không biết cho thuốc cách sao cho đúng, mới nói:

- Ðối với bệnh của công tử, tiểu sinh nhận mình tài sơ trí cạn không thể trị được, xin tướng gia mời vị khác cao minh hơn.

Thừa tướng nói:

- Làm sao tôi biết được vị nào cao minh hơn, Lý tiên sinh biết được, làm ơn tiến cử giùm.

Lý Hoài Xuân nghĩ thầm: “Ta trị không được, Thang nhị ca cũng không trị được. Bệnh nào Thang nhị ca chịu thua, ta cũng đành bó tay thôi. Ngoài hai ta ra, còn có ai để tiến cử nữa đâu”. Nghĩ rồi lại nói:

- Thưa tướng gia, tôi thiệt không biết ai để tiến cử.

Thừa tướng nghe xong liền nói:

- Ông đã không trị bệnh cho con ta lại không chịu tiến cử người khác, thì hôm nay ông đừng hòng ra khỏi tướng phủ đâu nhé!

Lý Hoài Xuân nghe lời ỷ thế hiếp người như thế, bỗng nhớ ra và nghĩ: “Sao ta không tiến cử Tế sư phụ kìa!”. Bèn nói:

- Thưa tướng gia, muốn trị bệnh của công tử, chỉ cần có một người. Ngặt vì người ấy điên điên khùng khùng, rượu say be bét, áo quần xốc xếch, sợ e tướng công thấy không vui.

Thừa tướng nói:

- Cái đó có hề chi. Chỉ cần ông ấy trị lành bệnh cho con ta là được rồi. Ông nói ngay đi để ta sai người đi rước cho mau.

Lý Hoài Xuâm nói: Nhưng ông ấy là người xuất gia.

Thừa tướng nói:

- Bất luận là người xuất gia hay tại gia, chỉ cần trị lành bệnh là quý rồi. Vậy người đó là ai?

Lý Hoài Xuân nói:

- Người đó là Tế Ðiên ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ.

Thừa tướng nghe xong nói:

- A, té ra là ông ấy à! Ông Tăng khùng đó hiện bị ta trói gô bên Ðông viện kia kìa.

Lý Hoài Xuân nghe nói Tế Ðiên bị trói gô, trong lòng mới vỡ lẽ, nói thầm: “Hèn nào công tử bị chứng to đầu là phải cách rồi”.

Thừa tướng kêu gia nhân dạy:

- Xuống bảo ông Tăng khùng rằng nếu ông ấy trị hết bệnh cho con ta, ta sẽ thả ông về chùa và không bắt tội chi hết.

Gia nhân vội vàng đi xuống căn phòng trống ở Ðông viện. Các vị Hòa thượng đều đứng dậy tiếp đón. Gia nhân nói:

- Hòa thượng, hôm nay ông phát tài to rồi nhé!

Tế Ðiên nói:

- Lò to, tốn củi nhiều ích chi!

Gia nhân nói:

- Tướng gia tôi bảo ông lên trị bệnh cho công tử. Nếu ông trị được lành thì người sẽ thả ông về chùa.

Tế Ðiên nói:

- Tướng gia của mấy người bắt trói ta, muốn thăng đường thẩm vấn ta, bắt ta đến đây, rồi bảo Hòa thượng ta trị bệnh nữa. Người về nói rằng Hòa thượng ta chấp hết.

Gia nhân trở về thưa:

Thưa tướng gia, tôi đi xuống bảo Thừa tướng kêu Hòa thượng lên trị bệnh, ông ấy nói Thừa tướng muốn thăng đường thẩm vấn mới bắt ổng đến đây, bậy giờ lại kêu đi trị bệnh. Ổng nói ổng chấp hết đó.

Thừa tướng không hiểu chấp hết nghĩa là sao mới hỏi Lý Hoài Xuân. Lý Hoài Xuân mỉm cười nói:

- Câu đó là một câu nói đùa, tướng gia muốn kêu ông trị bệnh, phải hạ một lời thỉnh mới đước.

Xót bụng thương con, Thừa tướng nói:

- Ðược, bọn bay đâu, đi đến nói là ta thỉnh ống ấy trị bệnh nhé!

Gia nhân nghe nói: nghĩ: “Hòa thượng này lên chân thiệt!”. Rồi vội chạy xuống Ðông viện gặp Tế Ðiên, nói:

- Ông thiệt có giá lắm nghe. Tướng gia nhà tôi bảo tôi đến thỉnh ông lên trị bệnh.

Tế Ðiên nói:

- Tướng gia nhà ngươi làm quan ở bực Thừa tướng, đứng đầu Tam thai, cùng với Hòa thượng ta ngày thường đâu có qua lại gì nhau. Ông ấy muốn kết giao với Tăng đạo thì phải quan Ngự sử biết để cùng tham gia mới được.

Gia nhân nói:

- Ðược, này Hòa thượng! Ông nói phải đó, để tôi về trình lại với tướng gia đại nhân đã.

Nói rồi trở lại hoa viên gặp Thừa tướng, thưa:

- Thưa tướng gia, tôi đi qua bên ấy gặp Hòa thượng nói: Ðại nhân thỉnh ông trị bệnh cho công tử. Ông ấy nói: Ðại nhân làm quan ở bậc Thừa tướng, vị đứng đầu Tam thai, ông ấy cùng đại nhân vốn không qua lại với nhau. Nay đại nhân muốn giao kết với Tăng đạo phải cho quan Ngự sử biết để cùng tham dự.

Thừa tướng nghe rồi đùng đùng nổi giận, nói:

- Tăng nhân này lớn mật dữ a?

Lý Hoài Xuân nói:

- Tướng gia không nên giận. Muốn mời Hòa thượng trị bệnh cho công tử, đại nhân phải thân đi mới được.

Thừa tướng thấy con nằm lăn lộn trên giường, không biết làm sao hơn, bèn nói:

- Lý tiên sanh, ông với tôi cùng qua bên đó xem Hòa thượng ra thế nào!

Lý Hoài Xuân vâng dạ rồi cùng Thừa tướng đi đến căn phòng trống ở Ðông phủ. Thừa tướng ho lên một tiếng làm hiệu có ý bảo ta sắp đến, bọn bây phải giữ quy củ một tí. Quả nhiên bọn gia nhân trong phòng đều nhất loạt đứng dậy hô:

- Ðại nhân đến.

Tế Ðiên nói:

- Các vị ơi, hình như có tiếng chó sủa đâu đấy?

Bọn gia nhân vội vàng ngăn lại không cho nói bậy, bảo:

- Ðại nhân đến rồi kìa!

Giây lát Thừa tướng cùng Lý Hoài Xuân đủng đỉnh tiến vào. Ðến trước Tế Ðiên, Thừa tướng nói:

- Này Hòa thượng, chỉ nhân vì thằng bé nhà tôi mắc chứng bệnh kỳ quái, bản các hôm nay đặc biệt đến thỉnh người trị bệnh cho cháu.

Tế Ðiên nói:

- Tôi bị đại nhân cùm trói như thế này, chắc hẳn đâu phải lối mời trị bệnh?

Thừa tướng nghe nói, phừng phừng nổi giận, nói:

- Ðược, được!

Lý Hoài Xuân thấy sự tình không ổn, vội nói:

- Xin đại nhân tạm dứt cơn thịnh nộ, để tôi đến thỉnh Tế Công cho.

Thừa tướng đành tạm lui lại sau. Lý Hoài Xuân bước tới nói: Xin Thánh tăng từ bi…
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:34 PM | Message # 26
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 23



Tìm diệu dược chọc cười bọn gia đinh
Nói liễn đối tài kinh Tần thừa tướng




Có thơ rằng:

Ðỗ Lăng hàn thực cỏ còn xanh

Trường tụng Kim Cang Bát Nhã kinh

Mưa lạnh còn vang hồn sĩ tử

Chiêm bao mơ đến Phụng Hoàng đình.

Lý Hoài Xuân đến trước Tế Ðiên nói:

- Thưa sư phụ, đã lâu không gặp, đệ tử có lời chào. Hôm nay Tần công tử mắc chứng bệnh kỳ lạ, đệ tử tiến cử sư phụ trị bệnh cho công tử. Bất luận có việc gì không vừa ý, xin sư phụ nể tình đệ tử mà bỏ qua cho.

Tế Ðiên nói:

- Ðược, này ông Lý Hoài Xuân, ông muốn ta trị bệnh cho người mà lại để xiềng xích như vầy sao?

Lý Hoài Xuân nghe thế, nói:

- Ðược, thưa Tần đại nhân, xin ngài cho người triệt bỏ xiềng xích cho Thánh tăng đi.

Thừa tướng lập tức cho cởi bỏ xiềng xích cho Tế Ðiên.

Lý Hoài Xuân nói:

- Thưa sư phụ, người có điều gì bận tâm không? Chúng ta đi nhé!

Tế Ðiên nói:

- Lý Hoài Xuân ơi, sư phụ, sư huynh, sư đệ ta bị xiềng trói ở đây, ta còn lòng dạ nào đi trị bệnh cho được?

Thừa tướng nghe nói lập tức cho thả chúng Tăng trở về chùa. Chúng Tăng đi về rồi, Lý Hoài Xuân nói:

- Sư phụ ơi, người chắc không còn phải bận tậm điều gì nữa, thôi ta đi nhé!

Tế Ðiên nói:

- Lý Hoài Xuân ơi, binh vây chùa Linh Ẩn, dỡ phá lầu Ðại Bi, ta trị bệnh mà lòng lo nặng trĩu làm sao ta đi được?

Thừa tướng biết ý Hòa thượng muốn triệt binh vây chùa, liền sai thủ hạ đi truyền tướng dụ thâu hồi lệnh dỡ lầu và triệu hồi binh lính vây chùa.

Lý Hoài Xuân nói:

- Bạch Thánh tăng, chắc Ngài không có điều chi bận bịu nữa, thôi chúng ta đi nhé!

Tế Ðiên nói:

- Ừ, thì đi. Rồi đứng dậy nói:

Làm lành thêm đức phước

Gây dữ gặp tai ương

Bần tăng trừ ma nghiệt

Thế gian mắt khó lường.

Thấy Tế Ðiên nói cười tự nhiên, Thừa tướng nghĩ: “Ông Hòa thượng này phóng khoáng không câu nệ, chắc là trị lành con ta. Ta nếu không dỡ phá lầu Ðại Bi sẽ bị người ta cười chê biết bao! Ông ấy đánh quản gia mình, mình xiềng trói ông ấy lại. Chừng ông ấy trị lành bệnh cho con mình rồi, mình cũng dỡ lầu Ðại Bi mới được”.

Tế Ðiên ở phía sau cười ha hả nói:

- Ðược, được, thiện tai! Thiện tai! Ðể Hòa thượng ta xướng một bài sơn ca cho đại nhân nghe nhé!

Mũ đen phơ phất

Ngôi nhất phẩm ai tày

Áo tía bào xanh

Vị tột cao chưa thỏa ý

Dò sông biển ngàn trùng

Khó đo lòng nham hiểm

Chim thúy trau lông cánh, để giắt đẹp đầu ai

Lợn trong chuồng béo mập, chỉ ngon sướng miệng người.

Vòi vọi non cao chim kết tổ

Nào quản góc gai có kẻ tìm

Ðất bằng rộng rãi thênh thang

Tiêu dao tự tại mấy người rõ thông.

Nghe hát sơn ca xong, Thừa tướng gật đầu thầm nhận là Hòa thượng đã biết rõ cả. Mọi người đồng đi đến thơ phòng của Tần Hằng ở hoa viên phía Tây. Ðến nơi, nghe Tần Hằng ở bên trong rên rỉ không thôi.

Tế Ðiên bước vào phòng nói:

- Ôi chao, cái đầu lớn quá tay vậy, không xong rồi!

Lý Hoài Xuân nghe nói, thất kinh nghĩ thầm: “Thế này thì hỏng mất! Mình thỉnh ổng lại, ổng lại trị không được. Thiệt bậy quá!”

Thừa tướng cũng thất kinh, lật đật hỏi:

- Bệnh này có thể trị được không, Hòa thượng?

Tế Ðiên nói:

- Có thể trị được chứ. Không hề chi! Đây là loại bệnh sơ sài. Cả đến các loại đầu óc ta đều trị được ráo. Bệnh này có tên gọi là “Ðại đầu ung”.

Nói rồi, đưa tay vào túi sờ soạng nột lát, rồi nói:

- Cha chả! Không xong! Thuốc của ta rớt đâu mất rồi.

Thừa tướng hỏi: Thuốc gì thế?

Tế Ðiên đáp: Thuốc trị bệnh đại đầu ung.

Thừa tướng nghe nói, ngạc nhiên hỏi:

- Hòa thượng đến tướng phủ này, làm sao biết con tôi mắc bệnh đại đầu ung mà mang thuốc?

Tế Ðiên đáp:

- Không phải vậy đâu. Nhân vì có một vị Vương viên ngoại, ông ta cũng có một đứa con mắc bệnh giống như vầy. Hễ mắc nhằm bệnh này thì chắc chắn không phải là người tốt, thế nào cũng có hành hung tác ác chi đây, như là cưỡng chiếm vợ trẻ gái tơ nhà người mới bị như vậy. Con ông Vương viên ngoại bất hảo nên mang chứng đại đầu ung, mời ta đến trị bệnh. Ta mang theo thuốc vừa định đi, kế bị tướng gia phái người bắt Hòa thượng ta trói lại. Lúc ta đến tướng phủ, mò kiếm hãy còn mà, bây giờ rờ lại sao đâu mất.

Thừa tướng dặn:

- Bây đâu! Mau ra mò kiếm thuốc cho Hòa thượng!

Bọn gia nhân hỏi:

- Thưa Hòa thượng, thuốc của Ngài là thuốc hoàn hay thuốc miếng? Xin bảo cho bọn tôi biết mới kiếm được.

Tế Ðiên đáp:

- Nó là thuốc hoàn, có lẫn hột nho nhỏ như gạo, màu da như da đất, cũng không có bao gói chi.

Bọn gia nhân nói:

- Ðể bọn tôi tìm cho.

Tế Ðiên nói:

- Thứ bệnh của công tử đây có thể có biến chuyển. Nếu biến chuyển tới mức sọ đầu lớn quá thì không cách gì trị được.

Thừa tướng hỏi:

- Vậy thì làm sao?

Tế Ðiên nói:

- Tôi phải ăn no rồi mới trị được, nếu không ăn no thì càng gắng trị, bệnh càng chuyển biến, uổng công thôi!

Thừa tướng nghe nói, sợ con cưng bị bệnh biến đầu to thêm, lật đật thét bảo gia nhân dọn rượu cho mau. Dọn ba bàn tiệc trên sảnh để mời Hòa thượng lên uống rượu rồi trị bệnh cho công tử.

Lý Hòa Xuân cùng Tế Ðiên lên đại sảnh. Tới nơi thấy tiệc rượi sẵn sàng, Tế Ðiên chẳng khiêm nhường chi, đến thẳng ghế giữa đầu bàn ngồi xuống. Thừa tướng thấy vậy trong lòng có ý không vui, thầm nghĩ: “Ông Hòa thượng này cũng là người có chút lai lịch đây, như ta nay là Tể tướng đương triều mà ông vẫn chiếm ghế thượng tọa của ta không nể nang gì hết”. Thừa tướng không cách nào hơn, đành ngồi và bồi tiếp, mời Lý Hoài Xuân ngồi ở ghế phía Ðông vào tiệc.

Rượu quá ba tuần, Tế Ðiên nói:

- Thưa đại nhân, tiệc rượu này buồn quá, uống không vô.

Thừa tướng hỏi:

- Theo ý Hòa thượng thì phải thế nào, uống rượu mới không buồn tẻ?

Tế Ðiên nói:

- Chẳng hạn như: Ðưa vật đoán, ra tửu lệnh, đối chữ, phê ý chữ, đều có thể giải buồn được.

Thừa tướng hỏi:

- Này Hòa thượng, ông cũng biết chữ sao?

Tế Ðiên đáp:

- Nói là biết chữ thì không dám, nhưng cũng hơi biên biết một vài.

Thừa tướng hỏi:

- Ông muốn ra tửu lệnh là phạt uống rượu hay ăn thua vật chi?

Tế Ðiên nói:

- Chẳng cần phạt rượu làm chi. Ðại nhân cứ ra một câu đối, nếu Hòa thượng ta đối được, ta ăn đại nhân một vạn lượng bạc. Bộ đại nhân tưởng ta là một Hòa thượng nghèo nếu bị thua rồi không có bạc trả sao? Ðược rồi, nếu ta thua, ta đem lầu Ðại Bi ra chung cho đại nhân đó.

Thừa tướng nghe vậy trong bụng khoái tỉ, nói:

- Này Hòa thượng, để ta thử văn lý của ông trước, nếu ông quả có tài học, chúng ta sẽ cùng nhau đánh cuộc nhé. Ta ra hai chữ trước cho ông đối nhé!

Tế Ðiên nói: Ðại nhân cứ ra đi.

Thừa tướng nói: U trai (phòng tối).

Tế Ðiên đối: Mao lư (nhà tranh).

Thừa tướng gật đầu tiếp: Khai song (mở cửa sổ).

Tế Ðiên đối ngay: Bế hộ (đóng cửa lớn).

Thừa tướng: Ðộc thư (đọc sách).

Tế Ðiên: Tả tự (viết chữ).

Thừa tướng nói: Hòa thượng ơi, ông thua rồi, sáu chữ của ta ráp lại thành một câu như vầy:

U trai khai song độc thư.

(phòng kín (tối) mở cửa đọc sách).

Tế Ðiên nói: Sáu chữ của ta ráp lại cũng thành một câu vậy. Ðây:

Mao lư bế hộ tả tự.

(Nhà tranh đóng cửa lớn viết chữ)

Thực ra, câu nói của Tế Ðiên lại hàm ý rất thô tục.

Thừa tướng nói: Hòa thượng đừng đùa cợt chứ. Ta sẽ ra cho ông một câu đối theo pháp chiết tự, nếu ông đối được, ta sẽ thua ông một vạn lượng bạc.

Tế Ðiên đáp: Cũng được.

Thừa tướng ra:

- Tây tốt thị cá túy, mục thùy thị cá thụy, Lý Thái Bạch hoài bảo tửu đàm tại sơn pha thụy. Bất biểu tha thị túy? Bất biểu tha thị thụy?

(Nghĩa: chữ tây + chữ tốt là chữ túy, chữ mục + chữ thùy là chữ thụy. Lý Bạch ôm trong lòng bầu rượu gục bên sườn núi. Không biết đó là ông đang say (túy) hay ông đang ngủ (thụy)?)

Tế điên hớp một hớp rượu, cười khà khà rồi nói:

- Chà, câu đối này hay dữ đa, để Hòa thượng ta đối thử coi:

Nguyệt trường thị cá trướng, nguyệt bán thị cá bạn, Tần phu nhân hoài bảo đại thổ tại mãn viện cuồng. Bất hiểu tha thị trướng, bất hiểu tha thị bạn?

(Nghĩa: Chữ nguyệt + chữ trường là chữ trướng, chữ nguyệt + chữ bán là chữ bạn, Tần phu nhân mang bụng to đi đủng đỉnh khắp nhà. Không biết bà ta sưng bụng (trướng) hay bà ta mập (bạn)?).

Thừa tướng xua tay lia lịa, nói:

- Hòa thượng đừng khôi hài chớ!

Và nghĩ thầm: “Ông Hòa thượng này thật dễ ghét, ta lại ra một câu đối khác để cho ông ta biết Thừa tướng ta là bậc văn chương đầy bụng, thốt lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Bèn ra:

Phật tổ giải nhung điều, khổn Hòa thượng, khấu điên tăng.

(Nghĩa: Phật tổ mở dải nhung, trói Hòa thượng, đánh điên tăng).

Tế Ðiên nói:

- Chao ôi, câu đối của Thừa tướng thiệt hay quá. Hòa thượng ta tài sơ học kém…

Thừa tướng nói:

- Ông đối đi, nếu mà đối được ta thua thêm một vạn lượng bạc nữa, còn đối không được ta sẽ dỡ lầu Ðại Bi nhé.

Tế Ðiên đáp: Ðược.

Hớp một chén rượu rồi nói:

- Câu đối của ta:

Thiên tử đẩu ngọc tỏa, nã đại thần, cầm Thừa tướng

(Nghĩa: Thiên tử giũ dải ấn, bắt đại thần, giam Thừa tướng).

- Ta lại ăn thêm một vạn lượng bạc nữa nhé!

Thừa tướng nghĩ: “Hòa thượng này là bậc kỳ tài, mình đối chữ không thắng ông ta rồi”. Bèn nói:

- Này Hòa thượng, thôi không đối chữ nữa, bây giờ ra tửu lệnh đi.

Tế Ðiên nói:

- Ra tửu lệnh thì ra tửu lệnh chớ, mà đại nhân đề nghị thì đại nhân ra đi.

Thừa tướng nói:

- Ta muốn nói đến hai người xưa, hai vật kiện, hai người xưa đó thích thứ rượu như nhau, nhằm trên hai sự kiện khác nhau, một người sống một người chết. Ông nói được kể là ăn, còn nói không được kể là thua.

Tế Ðiên nói: Thì đại nhân nói trước đi.

Thừa tướng nói: Này Hòa thượng, bây giờ ta nói đây, ông nghe cho kỹ đi nhé:

Viễn khán nhứt tòa lâu, cận khán nhứt chích ngâu (ngưu), Lữ Ðồng Tân túy ngọa Nhạc Dương lâu, Tôn Tẩn giá quải kỵ ngâu.

(Nghĩa: Nhìn xa một tòa lầu, thấy gần là một con trâu. Lữ Ðồng Tân say nằm ở Nhạc Dương lâu, Tôn Tẩn gác tó cưỡi mình trâu).

Tế Ðiên nói: Ta cũng đọc đây:

Viễn khán nhứt tòa lư, cận khán nhứt vĩ ngư.

(Nghĩa: Nhìn xa một nhà lá, thấy gần một chú cá. Trương Phi đến nhà lá, Kính Ðức ngồi câu cá).

Thừa tướng nói:

- Này Hòa thượng, ông thua một vạn lượng bạc rồi đấy nhé! Trương Phi cố lư nghĩa là ba lần chầu nhà tranh, chuyện đó coi như được đi. Chớ còn Kính Ðức điếu ngư thì cá làm sao lại có chân được?

Tế Ðiên nói: Vậy chớ giáp ngư (cá ngựa) không phải có bốn chân là gì?

Thừa tướng tịt luôn, lại thua thêm một vạn lượng bạc. Thừa tướng thầm nghĩ: “Thiệt mình không có cách gì thắng được ông ta được”. Bèn bước ra ngoài kêu Tần An bảo:

- Ngươi lấy một hộp bánh tổ đứng bên ngoài chờ ta kêu Hòa thượng đoán. Nếu ông đoán trong hộp không có vật chi thì ngươi để cái bánh tổ vào. Còn như ông ấy đoán trong hộp có vật thì ngươi đem cái hộp không vào.

Tần An gật đầu. Thừa tướng trở vào bên trong, nói:

- Này Hòa thượng, ta lâu nay nghe nói ông là người đoán được mọi việc, khéo biết các việc quá khứ vị lai. Ta đã bảo gia nhân đem cái hộp ra cho ông đoán xem trong hộp có đồ vật gì không. Nếu ông đoán đúng thì theo lệ cũ ta thua ông một vạn lượng bạc nữa, còn như ông đoán sai thì ta cho dỡ lầu Ðại Bi của ông đa.

Tế Ðiên nói:

- Vậy thì chuyến này đại nhân thua gấp rồi.

Thừa tướng nói:

- Ta trái lại không chắc thua gấp đâu mà muốn thử tài ông đó.

Tế Ðiên nốc một chén rượu, định thần rồi lại nói:

- Chủ ý của đại nhân cao quá, món đồ đem đối cũng thật rắc rối, bây giờ trong hộp không có chi.

Câu thứ ba, Tế Ðiên cố ý nói dài tiếng ra.

Tần An nghe nói trong hộp không có món chi liền lấy cái bánh để vào. Ði vào được vài bước lại nghe Tế Ðiên nói:

- Bên trong chỉ để cái bánh.

Tần An nghe nói rất đỗi ngạc nhiên, rốt cuộc lại bị Hòa thượng đoán trúng.

Thừa tướng nghĩ thầm: “Bây giờ cũng khuya rồi, ta cũng không nên tranh đối làm chi, mà lo trị bệnh cho con ta mới phải”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Hòa thượng ơi, ông uống rượu xong chưa, mời dùng cơm để rồi còn đi trị bệnh nữa chớ.

Tế Ðiên nói:

- Phần ta ăn uống đã khá no rồi. À, à, còn viên thuốc của ta các ngươi đã tìm thấy chưa?

Bọn gia nhân nói:

- Bọn ta bò trên mặt đất, lấy mũi hít cùng hết mà chẳng thấy nó đâu cả.

Tế Ðiên thò tay vào túi móc ra một gói, nói:

- Ta hãy còn một ít dược liệu mà chưa đủ, phải thêm vào hai vị nữa mới đủ lượng.

Thừa tướng xem thử, bên ngoài viết chữ tháu quá, coi không ra. Mở ra xem thấy bên trong có chất bột trắng trắng. Lý Hoài Xuân ghé mắt nhìn biết đó là bột mì để ăn, mới hỏi:

- Thưa Hòa thượng, vị thuốc này tên là gì vậy?

Tế Ðiên đáp: Thuốc này tên là Ða-ma-đa-la-đa-ba-la.

Thừa tướng hỏi: Cần phải thêm vị nào nữa?

Tế Ðiên đáp: Cần phải có chu sa 1 lượng, bột mì 4 lượng, chậu 1 cái, nước sôi 1 thùng, lại dùng bàn chải 1 cái.

Thừa tướng dặn bọn gia nhân chiếu theo đó lo liệu cho mau. Giây lát, gia nhân thưa rằng tất cả các thức cần dùng đều đầy đủ. Tế Ðiên mới buông chén đũa xuống, theo Thừa tướng cùng thẳng đến thư trai…


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:34 PM | Message # 27
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 24

Nhận thế tăng vinh quy về Linh Ẩn
Túy thiền sư vào thẳng viện Câu Lan




Khi Tế Ðiên theo Thừa tướng xuống thư phòng ở hoa viên, thấy gia nhân là Tần Ngọc bưng một chậu nước chu sa như cháo đỏ, bên trong lềnh bềnh một cái bàn chải, đứng chực sẵn. Tế Ðiên thò tay cầm lấy bàn chải, nói:

- Ðại nhân muốn cái gì cũng đều được hết.

Rồi nhắm ngay đầu Tần Hằng chà một bàn chải, tức thời cháo đỏ dính tùm lum, dính tới đâu chỗ sưng tiêu đến đó. Tế Ðiên chà liên tiếp mấy cái nữa, đầu của Tần Hằng lập tức hết đau, nhỏ lại như thường.

Tế Ðiên nói:

- Bệnh này còn có thể trở đi trở lại nữa, cần phải nghỉ ngơi lâu lâu mới được. Ðể ta viết cho một toa thuốc, nếu phạm phải bệnh lại thì cứ chiếu theo toa mà dùng mới lui được.

Thừa tướng lúc đó mới biết được Hòa thượng quả là thần thông quảng đại, mời Tế Ðiên lên đại sảnh dùng trà. Lý Hoài Xuân nói:

- Tôi xin cáo lỗi không thể bồi tiếp được, vì còn có mấy nhà rước tôi đi thăm bệnh. Bây giờ tôi phải về.

Thừa tướng cho người ta ra khỏi tướng phủ.

Tế Ðiên cùng Thừa tướng đàm luận tại thư phòng rất là tương đắc. Hai người cao đàm quảng luận. Tế Ðiên đối đáp như lưu. Thừa tướng rất lấy làm đẹp ý, nói:

- Hòa thượng ơi, tôi đâu có thể được như Ngài là người vượt thoát hồng trần, thâm tu nơi cổ tự, chẳng kể đến quốc gia hưng vong, chẳng màng đến thạnh suy thành bại, chỉ tụng kinh niệm Phật, đả hương tọa thiền. Cuộc đời vui đẹp làm sao! Còn tôi tuy làm quan lớn trong triều, suốt ngày bầu bạn với vua không khác nào làm bạn với cọp, nếu có điều chi sơ hở thì tán gia mất mạng như chơi.

Tế Ðiên nói:

- Sao đại nhân lại nói như vậy? Ðại nhân làm quan Tể tướng, vị ở Tam thai, có công giúp đỡ Thánh hoàng trợ hóa chúng dân, dưới một người mà trên muôn kẻ, xét xử an dân.

Thừa tướng nói:

- Chao ôi, Hòa thượng còn nhắc tới tước vị, nhất phẩm đương triều, vị quan Tam thai làm chi! Không nhắc tới thì thôi mà hễ nhắc tới càng cảm thấy rùng mình ớn lạnh. Lời tục có nói: “Quan to thì họa lớn, cây cả sợ cuồng phong, quyền cao lắm kẻ cười”. Ta từ khi thọ chức đến nay lòng nơm nớp lo âu, chăm lo việc nước, cẩn thận mọi việc mà còn chịu không biết bao nhiêu tiếng oán hờn! Thật không chút nào bằng Hòa thượng sống thanh nhàn tự tại. Không nghĩ không lo điều gì.

Người ta thường truyền mịệng câu này thật lý thú:
Tướng quân đêm vắng vượt thành quan
Triều thần ngai ngái suốt canh tàn
Trời trưa chùa núi Tăng còn ngủ
Danh lợi phồn hoa chẳng đổi nhàn.

- Ta muốn Hòa thượng làm thế thân cho ta, không biết ý Hòa thượng như thế nào?

Tế Ðiên nói:

- Ý đại nhân đã muốn như thế, thật là việc Hòa thượng ta cầu mà không được thay!

Ðương nói tới đó, bỗng gia nhân bên ngoài chạy vào báo:

- Thưa lão gia, công tử trở bệnh lại rồi, đầu to trở lại như cũ.

Tế Ðiên nói:

- Ta cũng chẳng cần đi làm chi, người về nói với công tử giở toa thuốc của ta cho ra xem, rồi chiếu theo đó thi hành, công tử tự khắc thấy nhẹ, còn nếu không chịu làm theo lời ta dặn, bệnh càng lúc càng nặng thêm đa!

Gia nhân lật đật trở lại Tây viện bảo cho Tần Hằng biết.

Tần Hằng mắc bệnh lại nguyên nhân như thế này:

Sau khi hết bệnh, Tần Hằng lại nhớ đến vợ chồng Vương Hưng, mới hỏi bọn gia nhân:

- Người đẹp của ta đâu rồi bây?

Tần Ngọc đáp: Mất tiêu rồi!

Tần Hằng nói: Cha chả, tụi bay dám thả người đẹp của ta hả? Ðâu có được!

Ðương nói tới đó, đầu óc kêu hu hu hu mấy tiếng. Bọn gia nhân sợ quá chạy qua bên Ðông viện báo cho Thừa tướng biết. Nghe lời Tế Ðiên dặn, gia nhân trở lại thưa:

- Thưa công tử, Hòa thượng bảo công tử cứ chiếu theo phương thuốc trong toa mà làm, bệnh tự khắc khỏi.

Tần Hằng nghe nói, vội kêu:

- Mau đem toa thuốc lại ta coi

Gia nhân lật đật lấy toa thuốc trình lên.

Tần Hằng lấy ra xem chỉ thấy một bài thơ:
Chính thân có bệnh tại tâm sinh
Thân bệnh cần tìm tâm dược bình
Tâm nếu chánh chơn, thân tức khỏi
Tâm sinh tà ngụy, bệnh tiến hành.

Tần Hằng xem xong liền nghĩ: “Chao ôi, bệnh của ta chính do ta tìm lấy đấy mà. Ta cướp đoạt vợ con nhà người, gây nên tội ác quá nhiều, từ nay ta phải cải ác tu thiện, bệnh mới mong khỏi hẳn được”.

Vừa nghĩ tới đó, trong đầu bỗng kêu hu hu hu mấy tiếng, đầu tóp nhỏ lại như cũ. Bọn gia nhân vội chạy sang Ðông viện báo với Thừa tướng:

- Bệnh của công tử nhờ làm đúng theo toa thuốc của Hòa thượng, đã khá nhiều rồi.

Thừa tướng dặn:

- Tốt lắm, bọn bay nhớ hầu hạ công tử cho chu đáo nhé!

Bọn gia nhân vâng dạ rồi trở về. Kế thấy gia nhân ở Ðông phủ vào thưa:

- Phu nhân mắc bệnh nhức đầu phong, nằm lăn lộn trên giường.

Thừa tướng nói:

- Ta biết rồi. Bạch Thánh tăng, người có thể trị bệnh nhức đầu phong được không?

Tế Ðiên nói:

- Chắc là phu nhân có nói điều chi nhầm lẫn đây. Nếu không như thế thì không khi nào mắc phải ác chứng đó. Ðể ta đến đó xem thử.

Thừa tướng nói:

- Phu nhân có nói điều gì sai quấy đâu? À phải rồi! Hồi hôm ở đây trước khi quỷ lộng, ta nằm chiêm bao thấy lão Thái sư trở về khuyên bảo ta mấy lời hành thiện. Ta tỉnh lại toan truyền dụ ngưng công dỡ lầu Ðại Bi và thả chúng tăng về chùa. Phu nhân bàn: “Mộng mị là do lòng mình nghĩ đến nhiều quá mà nên”, khiến ta dẹp bỏ thiện niệm. Giây lát kế bị quỷ lộng đấy.

Tế Ðiên nói: Ðể ta đến chộp phu nhân một cái là khỏi ngay.

Thừa tướng cùng Tế Ðiên đồng đi đến Ðông viện, vào thượng phòng nghe vang lên tiếng ho không ngớt.

Tế Ðiên nói:

- Này phu nhân, đừng gấp gáp chi, có ta đến đây, một chút xíu là xong ngay.

Nói rồi, trong miệng lâm râm mấy miếng, nhắm ngay phòng chộp một cái, lập tức bên trong phu nhân cảm thấy nhẹ ngay.

Tế Ðiên nói:

- Ðại nhân xem thử như thế có được không?

Thừa tướng nói lia lịa:

- Hay quá, hay quá!

Tế Ðiên nói: - Ta có thể chộp như thần tiên, chộp đâu trúng đó, chộp ném ra cũng có thể chộp bắt vào. Ðây, Thừa tướng xem!

Nói rồi nhắm ngay con chó điên đang nằm, chộp một cái, chỉ nghe oẳng oẳng hai tiếng, con chó lăn ra chết tốt. Thừa tướng nói:

- Thiệt ghê quá! Nói lầm lỡ một câu mà bị chứng nhức đầu phong. Từ nay về sau, ta làm quan trong triều phải hết sức tiểu tâm mới được!

Thừa tướng và Tế Ðiên vào thư phòng ngồi xuống xong, Thừa tướng bảo gia nhân dọn bày tiệc rượu, định nhâm nhi bàn luận thâu đêm. Trống đổ canh ba, bên ngoài gió thổi mạnh lên. Thừa tướng nói:

- Chà chà, không xong! Ðã tới giờ quỷ lộng rồi đó!

Tế Ðiên nói:

- Ðại nhân đừng lo! Ðể ta đi bắt quỷ cho đại nhân. Ta có phép nhốt quỷ lại một chỗ, đông bao nhiêu cũng không sợ mà!

Tế Ðiên nói rồi bước ra ngoài. Một lát, nghe tiếng Tế Ðiên hét:

- Quỷ dữ ha! Quỷ dữ ha! Bọn bay tính ăn thịt ta hả? Ta phải liều mạng với tụi bay mới xong.

Thừa tướng bên trong lo lắng không yên, chờ đến trời sáng trắng mới ra tìm. Thấy Tế điên nằm ngủ gáy pho pho, bảo gia nhân đánh thức dậy và mời vào trong nhà. Thừa tướng nói:

Thưa Hòa thượng, tôi xin Hòa thượng thay đổi y phục này, để đưa người về chùa.

Nói rồi bảo gia nhân đi ra ngoài mua cho Tế Ðiên tăng bào và hạ y, giày dép. Bọn gia nhân đi một lát, trở về mang theo ba bộ tăng y đều là thứ hàng thượng hạng. Một bộ màu vàng dệt mây, một bộ bằng lụa trắng thêu hoa, một bộ bằng lụa lam. Ba bộ giày vớ một trăm hai mươi lượng. Thừa tướng sai thơ đồng phục dịch Hòa thượng tắm rửa, thay y phục.

Tế Ðiên tắm rửa thay đổi y phục rồi trở lại thư phòng. Thừa tướng đem số bạc thua cuộc để trên bàn, phái gia nhân thắng ngựa mình cưỡi và toàn ban chấp sự đưa Hòa thượng trở về chùa. Tế Ðiên nói:

- Ðại nhân ơi, đáng tiếc là ta cùng đại nhân duyên mỏng, gặp nhau đã muộn, ly biệt lại nhanh. Hôm nay chia tay rồi, không biết bao giờ gặp lại!

Thừa tướng nói:

- Thưa Hòa thượng, bao giờ người muốn đến cứ đến, đây với đó có cách trở thiên sơn vạn hải gì. Ta cũng muốn vô sự cùng Hòa thượng luận bàn thế sự.

Tế Ðiên nói:

- Hòa thượng ta cũng muốn đến thường với đại nhân lắm. Nè đại nhân, ngài có bao nhiêu người gác cửa?

Thừa tướng bảo sai kêu bọn gác cửa đến. Chẳng bao lâu, hơn mười mấy tên gia nhân cùng đến đứng ngoài thư phòng. Thừa tướng nói:

- Tế Công nay là thế tăng của bản các, từ nay về sau không luận là ta có công sự gì, khi Ngài đến, bây phải báo cho ta hay chớ không được cản trở Ngài nhé!

Bọn gia nhân dạ ran:

- Vâng, vâng, bọn nô tài xin vâng mạng!

Tế Ðiên nói:

- Hòa thượng ta muốn thưởng cho mấy người này một ít tiền, ý đại nhân thế nào?

Thừa tướng biết Tế Ðiên vừa ăn mấy vạn lượng bạc, chắc là muốn làm mặt bảnh đây, nói:

- Tùy ý Hòa thượng châm chước.

Tế Ðiên nói:

- Này các quản gia, ta thưởng cho mỗi người 100 văn nhé!

Thừa tướng nói:

- Hòa thượng, thưởng kha khá cho bọn nó vài lượng, tôi trả thế cho Ngài cho.

Tế Ðiên nói:

- Không phải như vậy đâu. Ta thưởng bọn họ mỗi người 100 văn, hôm nay chớ ngày mai không cho. Khi ta đến thì 100 văn đó kể như mướn họ thông báo đấy. Còn khi Hòa thượng ta không đến, thì ngày nào tính theo ngày đó, mỗi người được thêm 3 điếu tiền công. Ðại nhân, ngài trả thế cho ta nhé!

Thừa tướng đáp:

- Ðược mà.

Tế Ðiên lúc đó mới cáo biệt. Thừa tướng phái 20 gia nhân theo hộ tống và truyền đường dụ: Các Tăng Ni mọi tự viện, am, các ở hai bên đường phải ra quỳ đón. Tế Thiền sư là thế tăng của bản các, hôm nay vinh diệu trở về chùa!

Chúng gia nhân dạ rân. Bên ngoài ngựa xe sắm sửa. Tế Ðiên từ biệt Thừa tướng, ra cửa lên ngựa. Bọn gia nhân lăng xăng dẫn ngựa, phía trước cờ phất quạt che, côn roi vẹt lối. Hai bên người xem chật ních, xô nhau xem thế tăng của Thừa tướng.

Tế Ðiên cưỡi ngựa về đến chùa Linh Ẩn, đánh trống dộng chuông, vân tập chúng lại. Tế Ðiên trước kêu Giám tự lại, nói:

- Tôi có đem bạc về đây. Sư huynh đến xem thử xem có phải 20 cây 50 lượng và 100 cây 10 lượng không?

Giám tự đáp:

- Vâng.

Tế Ðiên nói: Này các quản gia, hãy lại đây thay mặt ta truyền đường dụ đi.

Quản gia đáp:

- Phải, nhưng không biết Thánh tăng muốn truyền đường dụ chi?

Tế Ðiên nói:

- Các người truyền như vầy: Các Hòa thượng trong chùa hãy nghe cho kỹ đây. Tế Công Hòa thượng là thế tăng của Thừa tướng, hôm nay vinh diệu trở về chùa. Thánh tăng muốn mượn tiền một vài Hòa thượng đây để uống rượu. Nếu vị nào có tiền mà không cho mượn, lập tức bị đưa ra nha môn trị tội.

Bọn gia nhân chiếu đúng lời truyền dụ.

Chúng tăng nghe nói, chắc là không lầm rồi.

Tế Ðiên lại nói:

- Các quản gia lại đây, truyền thêm đường dụ này nữa cho ta. Từ đây về sau, Hòa thượng ta không có tiền, muốn mượn tiền, các ông ấy phải cho. Nếu trong chùa không có ai, ta trộm lấy một vài món cũng không được nói. Như có ai thấy, không được bảo là trộm. Ai làm trái điều này, lập tức bị lôi ra khỏi chùa, chém bỏ.

Quản gia nghe nói, cũng vui vẻ hàm hồ làm theo. Chúng tăng nghe truyền, ai nấy trong bụng nghĩ chùa này bị ông ấy mà hư hết. Dù trong lòng không vui, chỉ dám giận mà không dám nói. Tế Ðiên lấy bạc thưởng cho quản gia mỗi người 50 lượng, những người đi theo đưa mỗi người mười lượng. Ai nấy đều vui vẻ bội phần, kéo nhau về hết.

Tế Ðiên cởi trúc y và quần áo mới ra gói lại một gói, trên mình vẫn mặc chiếc áo rách như cũ, rồi cầm gói y phục mới rảo bước đi về phía cửa Tiền Ðường. Thấy trước mặt có một tiệm cầm đồ, Tế Ðiên liền bước vào, để gói y phục mới lên quầy một cái quạch. Chưởng quỹ dòm ra thấy một Hòa thượng kiếc, áo rách vá tùm lum, tay cầm một gói áo quần mới tinh. Ông Hòa thượng bước vào, lại vén rèm dòm láo liên hình như sợ đằng sau có người rượt đuổi. Chưởng quỹ nói:

- Này Hòa thượng, bộ y phục này ông lấy ở đâu vậy? Nói thiệt ta nghe coi!

Tế Ðiên nói:

- Chưởng quỹ ơi, ông xem thử gói này cầm được bao nhiêu tiền. Còn không coi thì đưa đây đặng ta đem cầm tiệm khác.

Phó chưởng quỹ ở kế bên bước lại, nói:

- Anh thiệt không thấy gì hết. Vị đại sư phụ đây là vị thế tăng của Thừa tướng vừa mới cưỡi ngựa qua cửa đây mà. Anh không nhận ra sao? Thưa sư phụ, người muốn cầm áo bao nhiêu tiền?

Tế Ðiên nói:

- Cầm cho ta 150 điếu nhé!

Phó chưởng quỹ hỏi:

- Sư phụ muốn lấy phiếu hay muốn lấy tiền mặt?

Tế Ðiên nói:

- Ta muốn lấy tiền mặt hè. Còn giấy cầm gởi luôn cho tiệm cất giùm.

Chưởng quỹ sai người đem tiền xếp ra cửa tiệm. Tế điên gọi lớn:

- Có ai tới cầm tiền giùm một chút nào!

Bên ngoài có một đại hán bước vào nói:

- Hòa thượng để tôi cầm giùm cho.

Tế Ðiên nói:

- Bụng ngươi xấu lắm, ta không mượn.

Tế Ðiên kêu mấy người nghèo quanh đó, chia người 3 điếu, kẻ 2 điếu, mỗi người lấy một phần. Rồi sau còn lại 5 điếu, Tế Ðiên mới kêu đại hán kia cầm giùm. Ðại hán cầm được tiền chạy đi như ma đuổi. Tế Ðiên cũng không đuổi theo.

Mấy người nghèo hỏi:

- Hòa thượng ơi, tiền này đem về đâu?

Tế Ðiên đáp:

- Ðem đi đâu tùy ý.

Mọi người đều tự giải tán.

Tế Ðiên đi về phía Hồ Ðồng. Ðại hán cầm tiền khi nãy chạy qua mười bảy con đường Hồ Ðồng, vừa đi ngang qua mặt bị Tế Ðiên níu lại.
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:35 PM | Message # 28
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 25

Doãn Xuân Hương chốn yên hoa gặp Thánh tăng
Triệu Văn Hội thấy thị động làng trắc ẩn




Có thơ rằng:
Bướm đỗ đầy cành hoa
Hoa tàn bướm cũng xa
Chỉ còn sào yến cũ
Vui đón chủ về nhà.

Tế Ðiên níu đại hán lại, nói:

- Cha chả, hết cở cho mi rồi, đứng lại một chút coi. Ta đưa mi cầm năm điếu, mi tính giựt chạy hả? Ðâu có được! Mạng mi chỉ có năm trăm văn thôi mà lại tính vác năm điếu chạy hả, ta kéo mi vào quan huyện Tiền Ðường mới được.

Ðại hán kia sợ quá, ráng sức giằng mạnh, co giò chạy tuốt!

Tế Ðiên hét:

- Ta rượt theo đa!

Ðại hán kia chạy bất kể đường sá, chạy đến cửa Hồ Ðồng, vừa gặp một người gánh đồ gốm, đại hán không tránh kịp, va phải làm bể 17 cái chén, 2 cái đĩa, tính ra hết 4 điếu 500 tiền. Ðại hán không cách nào hơn là phải bồi thường đủ số, tính ra chỉ còn lại 500 tiền.

Phân phát tiền xong, Tế Ðiên thong thả đi về phía trước, thấy đằng kia có hai vị viên ngoại đi lại, chính là Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn. Thấy Tế Ðiên, hai vị viên ngoại bước đến thi lễ, nói:

- Thưa sư phụ, người bị dây dưa đến việc quan ra sao? Nghe nói người bị Thừa tướng bắt trói, bọn tôi thật không an tâm chút nào! Hôm nay định đến chùa Linh Ẩn hỏi thăm tin tức.

Tế Ðiên nói:

- Việc quan của ta đã xong rồi. Tần Thừa tướng có làm gì ta đâu!

Ðoạn đem việc ở tướng phủ thuật lại một hồi. Tô Bắc Sơn hỏi:

- Hôm nay sư phụ uống rượu chưa?

Tế Ðiên nói:

- Ta định đi uống rượu đây! Hai ông định đi đâu đó?

Tô Bắc Sơn nói:

- Bọn tôi nghe bọn gia nhân truyền miệng là có một cô gái nhà quan không may sa vào chốn yên hoa, không biết việc đó thực hay giả. Hai tôi định đi đến đó thử xem.

Triệu Văn Hội nói:

- Thưa sư phụ, người đi đến Câu Lan viện có gì bất tiện không? Người là bậc xuất gia, đáng lý phải lo việc tu đạo tham thiền, trái lại đến mấy chỗ đó, há chẳng bị người ta cười chê sao?

- Gặp hát vỗ tay, có gì chẳng được? Thôi, ba ta đi đến đó cho rồi.

Tô Bắc Sơn ha hả cười khoái trá! Ba người cùng đi về phía trước, thấy phía Ðông có một ngõ hẻm đề: Xóm Yên Hoa. Tiến vào đường hẻm, thấy ở cổng nhà thứ hai ở phía Bắc có treo lồng đèn lớn. Trên cổng có treo đôi liễn, đề:
Canh một mới sang, xô chén, dẹp mâm, bao khoái lạc
Canh ba gà gáy, người xa, rồi việc, hết luôn xôi.

Ba người lại bước thẳng vào trong, người giữ cửa hô:

- Có Triệu lão gia và Tô lão gia, hai vị viên ngoại đến đó a!

Tế Ðiên ngước mắt nhìn: Cửa vào gắn gương soi, gần đầu tường có một chậu cá trồng hoa sen. Ngay nơi vách đó có bốn câu thơ, đề:
Hạ giới thần tiên thượng đế không
Kẻ nghèo nhờ có quý nhơn đông
Lan phòng tối tối thay người mới
Chớp mắt sao đi đổi khánh phòng.

Ði vào nữa, bên trong lát toàn gạch tàu. Năm gian nhà phía Bắc, trước hiên sau phòng, hai dãy nhà ngang đều có ba gian, mỗi gian đều có phòng ở, trước mỗi phòng đều để một bức bình phong lớn. Ở phòng phía Bắc, trên cột gắn một đôi liễn đề:
Trước sân ca múa, trồng đầy mấy cột tình si.
Trong ao sen trắng, ngát mùi liên lý hương hoa.

Ba người mới bước vào nhà giữa thì từ trên thượng phòng, một vị vú già đi xuống nói:

- Kính chào Tô lão gia và Triệu lão gia! Hôm nay chắc hai ngài rảnh rang mới đến chơi chỗ này đây a?

Nói xong vén cao rèm trúc, rước ba người lên thượng phòng. Nơi đây, sát tường kê chiếc bàn bát tiên kế bên một chiếc ghế dựa. Trên bàn một chậu thủy tinh, bên trong chú cá vàng đuôi phụng tung tăng lội. Kế bên là một mâm trái cây đầy ắp những quả tươi ngon lành. Ðối diện treo một tấm gương lớn trên bức họa sơn thủy hữu tình. Trong gương, họa bán thân một mỹ nhân với bốn câu thơ đề:
Trăm nét đan thanh vẻ mỹ miều
Toàn thân chẳng họa, họa ngang eo
Tiếc rằng màu sắc còn non vụng
Không giục khách xuân đến lạc kiều.

Bên dưới ghi: Tích Hoa chủ nhân đề.

Hai bên hình treo hai câu liễn:
Ðắc ý khách vào tình chẳng thỏa,
Tri tâm người đến nói quên thôi.

Triệu Văn Hội xem xong gật đầu, nói:

- Quả là nơi dành cho hạng phong nguyệt cùng mình đây mà!

Ba người ngồi vừa xong, mụ tào kê đến nói:

- Kính chào nhị vị lão gia! Hôm nay ngọn gió lành nào đưa hai ngài đến đây? Hèn lâu các ngài biệt tăm biệt tích, chẳng thấy đến?

Tô Bắc Sơn nói:

- Bọn ta nghe gia nhân nói ở đây có một giai nhân mới về, hãy kêu nàng ấy ra đây xem thử.

Mụ tào kê đáp:

- Trong viện chúng tôi toàn là người mới cả, để tôi kêu bọn họ ra mắt các ngài nhé!

Nói rồi ra hiệu một tiếng thì thấy bên ngoài rèm trúc lay động, gót sen đủng đỉnh tiến vào bốn người thiếu nữ, nàng nào cũng lược giắt trâm cài, môi son má phấn, áo hoa đủ màu. Các nàng đến trước Triệu, Tô hai vị viên ngoại, thi lễ xưng tên. Ngó thấy một Hòa thượng kiếc cũng có mặt trong bọn, các cô ả che miệng khúc khích cười.

Tế Ðiên nói: Tốt, tốt! Này Tô Bắc Sơn, hai ông thấy các cô ả này như thế nào?

Tô Bắc Sơn nói: Cũng được.

Tế Ðiên nói: Ông xem mấy ả này đều đẹp, chớ dưới mắt ta thì:
Phù dung mặt trắng, khác chi túi thịt đựng xương khô
Ðẹp đẽ hồng nhan, chỉ là dao bén giết người khờ.

Nói xong, sẵn giấy viết để trên bàn, thuận tay thảo một bài thơ thất ngôn:
Yên hoa kỹ nữ điểm trang xinh
Ðào động đêm đêm thay đổi tình
Một đôi tay ngọc bao người níu
Nửa đóa môi hồng vạn khách in
Son phấn lộng màu bao vẻ đẹp
Ấp e dối giả nét hương tình
Cũ đưa mới rước bao nhiêu kẻ
Ðêm vắng sầu tuôn chỉ một mình.

Hai vị viên ngoại xem xong đều cười ha hả.

Mụ tào kê lại hỏi: Các lão gia muốn chọn đứa nào trong bọn hầu các ngài?

Ðoạn lấy tay chỉ: Ðây là Lan Hương, Thu Quế, còn kia là Liên Phương, Tiểu Mai.

Tô Bắc Sơn nói:

- Không phải mấy cô ả này đâu, mà là người mới về nhà mụ kia. Ta nghe nói nhà mụ vừa rước về một người mới vốn là con gái nhà quan sẩy bước vào chốn yên hoa. Bọn ta đến đây cốt để tìm người đó mà thôi.

Mụ tào kê vốn biết hai vị viên ngoại là người nổi tiếng lắm bạc ở Lâm An, vội nói:

- Hai vị không nhắc đến nàng ấy thì thôi, còn nhắc tới thì câu chuyện quá dài, nói hoài khó hết. Nguyên tôi có một đứa con gái được Hoa hoa thái tuế Vương Thắng Tiên đại nhân mua về làm thiếp. Tôi dù được trong vụ này mấy trăm bạc, nhưng chỉ nhờ vào ăn mãi núi cũng phải hết. Tôi mới tìm mua một nàng nguyên quán ở Kim Lăng. Cha nàng mấy năm trước có làm chức Thứ sử, mẹ nàng mất sớm. Nhân bị nghị án ở kinh đô nên đến ngụ tại tiệm Hồ Vạn Thành. Phụ thân nàng tên là Doãn Minh Truyền định đến kinh đô tìm người giúp đỡ, nào ngờ dọc đường bị chúng gạt lấy mất hết mấy ngàn lượng bạc. Công danh chưa có mà tiền bạc sạch trơn, ông ấy buồn rầu sanh bịnh nằm tại điếm hết ba tháng, bao nhiêu tiền còn lại đem tiêu lần hết. Ông ấy lại chết đi, con gái ông ấy là Xuân Hương phải bán mình để lấy tiền chôn cha. Tôi mới đem 350 lượng bạc mua về. Ðến chừng về đây, nàng rõ là xóm yên hoa, bèn giận lắm, toan tìm cái chết. Tôi phải dỗ dành hết mức, lại đưa cho tiệm Vạn Thành 100 lượng để đưa riêng nàng. Trước kia Hồ Vạn Thành làm mai mối nói là có nhà quan muốn mua nàng về làm thiếp, nên bây giờ rõ ra là viện Câu Lan, nàng muốn chết mà thôi. Hơn nữa, tôi cũng nhỏ to trình bày cảnh khổ của mình, rằng 350 lượng bạc không dễ gì kiếm được, nàng chết đi càng làm khổ cho tôi thôi. Nàng ta cũng tốt, nói: “Thôi thì tạm ở đây lánh nạn, chừng gặp người tri âm cứu ra, bao nhiêu tiền thối lại cho tôi đủ số”. Nàng ta thân viết một bài thơ và dặn tôi rằng nếu gặp được người thân hào, thương gia có vẻ văn nhã hãy đưa cho họ xem.

Tô Bắc Sơn nói.

- Mụ đưa bọn ta xem thử nào!

Mụ tào kê đưa lại, hai vị viên ngoại mở ra xem, rất ngạc nhiên. Thơ đề bốn câu:
Vạn mối sầu tư biết tỏ đâu
Ngoài mặt vui tươi, trong dạ sầu
Tâm Tư uẩn khúc bày trên giấy
Chữ chữ nối thành giọt lệ mau.

Tế Ðiên và hai vị viên ngoại xem xong, hỏi:

- Nàng Doãn Xuân Hương hiện ở phòng nào? Bọn ta muốn gặp nàng ấy.

Mụ tào kê nói:

- Nàng hiện ở Ðông viện, nguyên là chỗ của con gái tôi. Xin kính mời ba vị!

Ba người cùng theo mụ tào kê qua khỏi cửa có bốn bình phong, tiến vào một trang viện khác. Viện này gồm ba phòng, phòng phía Bắc trước hiên, sau phòng rất ngăn nắp. Ba người vén rèm bước vào, thấy nơi vách Băc có treo bốn bức bình phong, hai bên đều có liễn đối. Bên một bức bình phong vẽ hình một cô gái đứng dựa cửa, gần đó năm sáu cậu thanh niên đứng nhìn cô gái lưu luyến chẳng muốn đi. Bên trên có người đề bốn câu thơ:
Tóc mây dáng phụng hoa cài
Ðôi hang răng ngọc hòa hài nét xinh
Thư nhàn bên cửa liếc tình
Ngoài sân ong bướm rập rình xôn xao.

Ở bức bình phong thứ hai vẽ một người con gái đang chải tóc, một chàng trai hình như muốn đi, nàng con gái dáng hình như không muốn cho chàng trai đi. Bức họa rất truyền thần. Bên trên cũng có người đề bốn câu thơ:
Nhân duyên kết chặt dải đồng
Yêu nhau khắn khít khó lòng rời xa

Truyền thần mượn bút vẽ ra
Ấy ai tâm sự nhận là của nhau.

Ở bức bình phong thứ ba vẽ hai người con gái, một vị văn công kéo tay hình như có ý giục đi an nghĩ. Bên trên cũng có bốn câu thơ:
Nhởn nhơ đôi cánh lan huệ
Tiếc rằng nhụy hãy quá non
Mưa gió chưa lần gặp gỡ
Thương nhau bảo hộ chút tình.

Ở bức bình phong thứ tư vẽ một chiếc giường với gối màn giăng rủ, lộ ra đôi nam nữ đang nằm ngủ. Bên trên cũng có bốn câu thơ:
Loan phượng giao kề thoắt đảo điên
Non Vu tột đỉnh giấc mơ tiên

Nhẹ kề má hạnh trâm cài rớt

Thít chặt đôi tay lỏng tóc huyền.

Hai bên treo hai câu liễn:
Xuyên vàng nhà chứa mười hai
Ngọc trai ngõ chất ba ngàn.

Hai vị viên ngoại xem xong, chắc lưỡi:

- Chỗ này quả là một chốn riêng dành.

Vào hẳn trong nhà ngồi xuống, thấy hai bên phòng xá trướng màn treo rủ, trên tường Ðông vẽ một bức phú quý mẫu đơn với mấy câu đề:
Có tiền của sống theo sang trọng,
Không tiền lưng chớ nệ nghèo hèn.

Hai bên lại treo đôi liễn:
Nơi danh giá có nhiều ưa thích
Chốn yên hoa chớ luận nhiều lời.

Mụ tào kê vào bên trong, nói:

- Này cô nương, hôm nay có Triệu lão gia và Tô lão gia, từ lâu nghe đồn về cao tài mỹ mạo của cô nương mà đến thăm viếng đây.

Bên trong, tiếng như mật rót đáp lại:

- Té ra là hai vị lão gia đặc biệt đến thăm đây à, để nô tỳ ra chào hỏi.

Theo tiếng rèm lay động, bên trong đi ra một nàng thiếi nữ. Triệu Văn Hội, Tô Bắc Sơn và Tế Ðiên nhìn lại, quả là một trang thiên hương quốc sắc, ngọc cốt nhu tình, sắc đẹp mê người.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:35 PM | Message # 29
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 26

Cứu nạn dân đưa về am Thanh Tịnh
Cao Quốc Thái nghèo khổ kiếm bà con


Có thơ:
Tâm tư sầu thảm phổ lên đàn
Gió mai trăng lạnh tiết thu sang
Tiếng ca réo rắt dường dao cắt
Não nuột lòng người dạ xốn xang.

Triệu Văn Hội, Tô Bắc Sơn và Tế Ðiên vừa ngồi xong thì màn trúc lay động, từ bên trong đi ra một người thiếu nữ khoảng mười tám, mười chín tuối, phong tư rất mỹ lệ, đầu chải kiểu tóc vấn, mình mặc áo trắng thường. Tô Bắc Sơn thấy biết nàng là gái từ nhà lương thiện, mới hỏi kỷ về lai lịch. Nghe hỏi, cô gái lộ nét u sầu, đem việc bán mình chôn cha rồi bị kẻ gian gạt gẫm bán vào chốn yên hoa, mỗi mỗi thuật lại rõ ràng.

Hai vị viên ngoại nghe xong rất lấy làm cảm kích, bèn hỏi:

- Này cô nương, nàng có biết ngâm thi không?

Xuân Hương đáp:

- Về văn lý, tiểu nữ cũng biết rõ vẽ đôi chút.

Triệu viên ngoại nói:

- Thế thì nàng làm hai bài cảm hoài cho ta xem thử.

Hồi nãy, Triệu viên ngoại thấy mấy câu thơ hãy còn nghi là không phải chính tay Xuân Hương làm, nên bây giờ muốn tận mặt thử về văn lý như thế.

Xuân Hương không cần nghĩ ngợi lâu, cầm bút viết ngay:
Son phấn lầu xanh biếng điểm hoa
Tấc lòng tơi tả cánh hoa sa
Khúc cũ càng ngâm thêm áo não
Vườn xưa về lại khổ không nhà
Tóc mây nửa món lười gương lược
Giọt lệ tuôn sa ướt đẫm tà
Tư mã Giang Châu may được gặp
Chén mừng rót nối khúc Tỳ bà.

Viết xong đưa lên cho Tô, Triệu hai vị viên ngoại xem.

Cả đến Tế Ðiên cũng khen hay: Tiếc thay, con người tài cao như thế, nhân phẩm như thế mà lại sa vào chốn yên hoa! Uổng thiệt! Uổng thiệt!

Ba người còn đương than thở, lại thấy Xuân Hương đưa thêm một bài thơ bảy chữ nữa:
Cốt nhục chia lìa sự nghiệp tan
Chiếc thân xấu số lọt Câu Lan
Vóc ngọc sụt sùi rời quan xá
Gót son đau đớn nhập bình khang
Trước gương luống thẹn khuynh thành sắc
Gặp người hổ bấy nét bên đàng
Gió sớm sương chiều mòn mỏi mắt
Mong sao gặp Nguyễn chớ Lưu lang.

Tế Ðiên xem bài thơ xong, khen không tiếc lời. Triệu Văn Hội nói:

- À, à, tôi có bài thơ thất tuyệt đây.

Mụ tào kê đem văn phòng tứ bửu đến. Triệu Văn Hội không cần suy nghĩ, cầm viết thảo một mạch:
Lầm lạc Câu Lan chán phận mình
May gặp Xuân Hương tại viện đình
Nhan sắc đâu nhường nàng Tây Tử
Mình thương tớ với, tớ thương mình.

Tô Bắc Sơn cũng buột miệng làm một bài thơ tuyệt cú:
Áo thắm mộng xanh đẹp lạ thường
Phong lưu thiên hạ chỉ Xuân Hương
Suốt tháng không ăn, nhìn cũng thỏa
Mới nghe chớ trách tớ si cuồng.

Tế Ðiên nói: Ờ, ta cũng có bài thơ nữa chớ!

Bèn đọc:
Hôm nay ta thấy sướng vui thay
Cười bảo Xuân Hương bước lại ngay.

Xuân Hương nghe đọc thất kinh, vội hỏi:

- Thưa sư phụ, sư phụ là người tu hành, bảo tôi đến gần làm gì?

Tế Ðiên điềm nhiên thong thả đọc tiếp:
Mau cởi thắt lưng bằng lụa đẹp
Ðưa tặng lão tăng buộc lại giày.

Mọi người nghe xong, cười rộ.

Tế Ðiên nói:

- Nhân dịp này, hai vị viên ngoại nên làm một việc công đức đi!

Tô Bắc Sơn hỏi:

- Này Xuân Hương, nàng muốn lập gia thất hay ý nàng muốn thế nào?

Xuân Hương đáp:

- Nếu may được người hảo tâm cứu tôi ra khỏi hầm lửa, thì tôi tình nguyện xuất gia làm tiểu ni. Gia đình họ Doãn nhà tôi ba đời cám đội ơn đức đó.

Tô viên ngoại hỏi mụ tào kê:

- Nhà chủ tốn về nàng Xuân Hương hết bao nhiêu?

Mụ tào kê đáp:

- Về phần chuộc về, tôi chi ra hơn 350 lượng. Ấy là không kể việc nàng ở nhà tôi mấy tháng nay, mỗi ngày ăn xài hao tốn.

Tô Bắc Sơn nói: Ðược rồi.

Triệu Văn Hội nói:

- Này Tô huynh, việc đó để cho tôi, Tôi sẽ bỏ ra 500 lượng chuộc nàng ra đưa đến Thanh Tịnh am ở trên Thành Hoàng Sơn, nhờ Thanh Chơn lão ni cô chiếu cố giùm.

Nói rồi bảo gia nhân lấy bạc ra đến 500 lượng giao cho mụ tào kê, rồi thuê kiệu đưa Xuân Hương đến Ni am.

Xuân Hương nghe nói, cúi đầu lạy tạ và yêu cầu ba vị theo đưa hộ tống.

Tế Ðiên nói: Ừ, được, để chúng ta đến trước chờ sẵn, gia nhân Triệu Minh sẽ theo kiệu đưa đi sau.

Tế Ðiên ba người ra khỏi viện Câu Lan, thẳng đến núi Thành Hoàng. Tế Ðiên buột miệng ngâm:

Người lành ắt gặp thiện duyên
Người dữ ắt gặp oan khiên dẫy đầy
Bần tăng độ kẻ khờ ngây
Chỉ e nhân thế phây phây lơ là.

Bỗng nghe có người kêu:

- Có phải Tế Công lão nhân gia đến đó không? Tôi liên tiếp lên chùa Linh Ẩn ba lần để đón Ngài mà hôm nay mới gặp!

Nói rồi chạy tới quỳ xuống cúi đầu thi lễ.

Tế Ðiên nhìn lại là một người tuổi ngoài 60, đầu đội khăn bốn góc, mình mặc áo màu vàng đất, lưng thắt dây tơ, chân mang hài trắng, ngũ quan rất đoan chánh.

Nguyên ở núi Thành Hoàng có một vị lão ni tên là Thanh Tịnh, có một cháu gái tên là Lục Tố Trinh lấy chồng tên là Cao Quốc Thái, nhà ở đường Nho Lâm phía cửa Nam huyện Dư Hàng.

Cao Quốc Thái là con nhà rất có gia sản nhưng anh ta chỉ biết đọc sách mà không chịu lo việc kinh doanh.

Qua một thời gian, của cải trong nhà sạch như rửa, chỉ còn lại hai vợ chồng không, trên không miếng ngói che đầu, dưới không tấc đất cắm dùi. Ăn sớm lo chiều, chạy ăn từng bữa. Lục thị nói:

- Vợ chồng ta không lẽ ngồi khoang tay chờ chết ở đây sao? Chi bằng chúng ta dời đến ở thành Lâm An trú tạm. Ở đó, tôi sống nhờ với người cô đang tu ở một am trên núi Thành Hoàng, còn chàng thì tìm ghi tên vào ở nhờ học quán tại đó. Như vậy chúng ta có thể sống qua ngày được, còn chàng cũng có thể trau giồi học nghiệp. Ðợi đến kỳ thi sắp mở, chàng lại ra kinh ứng thí để lập công danh, không biết ý chàng như thế nào?

Cao Quốc Thái nói: Ðến nước này, hai ta chỉ còn cách đó thôi, chớ không còn cách nào khác.

Hai vợ chồng bèn bán hết những đồ đạc lặt vặt để làm lộ phí rồi lên đường đi Lâm An.

Thấy họ đến, vị lão ni cô vui mừng lắm, bèn cấp riêng cho vợ chồng họ một căn nhà ba gian phòng để ở. Lục thị giúp đỡ việc may vá, còn Cao Quốc Thái chỉ dốc lòng đọc sách mà thôi. Ở trong am, đời sống hai vợ chồng rất bình thản.

Mấy tháng trôi qua bình tịnh, rồi một sự biến xảy ra: Vị lão ni có một vị đại đồ đệ tên là Huệ Tánh, thấy Cao Quốc Thái là con người ngà ngọc, văn chất nguy nguy, kinh luân đầy bụng, phẩm mạo hơn người thì có ý mến tài. Hai người thường cùng nhau cao đàm hùng biện. Huệ Tánh vốn là con nhà quan, văn chương thông suốt. Quốc Thái nói chuyện cũng đối đáp như lưu.

Một ngày nọ, nhân lúc nhà vắng không có ai, Huệ Tánh lấy viết thảo một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đưa cho Quốc Thái xem. Thơ rằng:
Chắp tay khấn nguyện Ðại Sĩ danh
Chẳng nguyện sanh Tây, Tiên Phật thành
Chỉ mong được giọt cành dương rảy
Tác hợp cho con sen liền cành.

Quốc Thái xem xong, đổi sắc mặt, nói:

- Thiếu sư phụ không nên nghĩ như thế. Trên đời này, trai gái vì thú vui chốc lát mà hư danh tiết một đời, để nhơ muôn thuở, làm trò cười cho hậu thế. Huống nữa, đây là chốn thanh sạch của Phật môn, đâu nên làm ô uế.

Huệ Tánh nghe nói thế, mặt tai đỏ ửng, quay mình bỏ đi. Từ đó, hễ gặp Cao Quốc Thái, Huệ Tánh mắc cỡ, bét sang ngõ khác. Cao Quốc Thái thấy có điều bất tiện, mới thưa với lão ni:

- Xin sư phụ tìm giúp cho một căn nhà hai phòng ở dưới núi để vợ chồng dọn ở. Ở trong am có nhiều bất tiện.

Lão ni không còn cách gì hơn, đành tìm một căn nhà khác ở dưới núi. Tìm được một nhà ba gian chỉ có độc một cửa của viên ngoại Châu Bán Thành.

Châu Bán Thành hỏi lão ni: Sư phụ tìm nhà cho ai ở vậy?

Lão ni đáp: Tôi tìm giùm cho người bà con từ huyện Dư Hàng ngụ ở am tôi. Nó là cháu gái tôi, cùng đi với chồng nó. Chồng nó tên là Cao Quốc Thái, là người theo nghiệp thi thơ, thấy ở trong am có nhiều bất tiện nên nhờ tôi tìm cho một nhà khác.

Châu Viên ngoại nói: Ngày mai, sư phụ đưa Cao Quốc Thái đến tôi xem thử.

Hôm sau, lão ni dẫn Cao Quốc Thái đến. Châu viên ngoại thấy Cao Quốc Thái cử chỉ đoan nghiêm, văn từ tao nhã, bèn có bụng thương muốn giúp đỡ, lại e mới gặp lần đầu, Cao quốc Thái từ chối không nhận, mình bị bẽ mặt đi, mới ngầm dặn gia nhân rằng: “Nếu Cao Quốc Thái có thiếu tiền phòng thì đừng có đòi nhé!” Ðó là Châu viên ngoại thương tình dặn hờ thế thôi.

Quả nhiên, hai vợ chồng Cao Quốc Thái dọn đến ở. Cao Quốc Thái làm nghề xem bói qua ngày. Ðược 100 điếu ăn hết 100, được 200 điếu ăn hết 200, hai vợ chồng sống hẩm hút rất là chật vật. Lật bật mà nửa năm trôi qua, sáu tháng tiền phòng chưa đóng đủ.

Một hôm, người phụ trách thu tiền nhà có việc xin nghỉ phép, mới nhờ anh phổ ky đi thu giúp. Anh phổ ky không được dặn bảo lại việc này, lấy sổ thuê nhà ra tra xét lại, mới thấy Cao Quốc Thái thiếu đến sáu tháng tiền nhà không trả, bèn nghĩ: “Tên Cao Quốc Thái này bộ mình có mọc ba đầu, vai nẩy sáu tay, đầu to chân cứng, dựa vào sản nghiệp nhà ai mà dám không chịu đóng tiền nhà chớ! Ta phải đi đòi hắn mới được.”

Phổ ky đến nhà Quốc Thái kêu cửa. Bên trong, Lục thị hỏi:

- Ai kêu cửa đó?

Phổ ky đáp:

- Ta là người nhà Châu viên ngoại đến lấy tiền thuê nhà.

Lục thị nói:

- Chồng tôi hiện không có ở nhà, để rồi tôi nói lại nhé!

Phổ ky nói:

- Người không có ở nhà cũng được, còn tiền cũng không có ở nhà nữa sao? Sáu tháng nay rồi, hễ hỏi đến là đi vắng phải không? Các người ở nhà của người ta, dựa thế dựa thần nhà ai mà không chịu trả tiền? Ðợi bị mắng chửi mang xấu mới chịu trả phải không?

Lục thị nói:

- Ðể chồng tôi về rồi sẽ đem tiền đến trả mà!

Phổ ky nói:

- Chẳng thể chờ lâu được, bọn ta ở ngoài khóa cổng lại là xong việc.

Phổ ky bèn khóa cổng ngoài lại rồi bỏ đi. Ðến chiều, Cao Quốc Thái trở về, thấy cổng bị khóa lại, mới hỏi vợ. Lục thị nói:

Hôm nay chủ nhà đến đòn tiền, gia nhân họ khóa cổng đó!

Quốc Thái nghe nói, nổi giận đùng đùng, la:

- Hay cho Châu Bán Thành, dám cả gan khi dễ ta đến thế! Ðể ta đến huyện Tiền Ðường làm cáo trạng thưa hắn mới được.

Lục thị nói:

- Chúng ta không tiền làm sao ra lễ nghĩa được? Sáu tháng tiền nhà không chịu trả mà lại muốn đi thưa người ta, làm sao hợp lý được?

Hai vợ chồng còn đang thương nghị, vừa hay có lão ni Thanh Tịnh đến chơi. Thấy vợ chồng có vẻ đứng ngồi không yên, lão ni mới hỏi duyên cớ. Lục thị bèn đem việc tiền phòng không đóng, bị khóa cổng lại thuật qua một lượt. Lão ni nói:

- Tiên sinh không phải ra ngoài làm chi, nên dọn về ở phòng cũ vẫn hơn. Ra ngoài kiếm tiền khó lắm. Tiên sinh lại làm nghề bói toán, hôm nay kiếm được chút ít gì đó, vài bữa lại không ngơ. Tiên sinh lại là người thật thà, không thể làm như họ được, thôi tốt hơn nên về chỗ cũ là tiện nhất.

Nói rồi bảo Lục thị gom góp đồ đạc, lão ni thay mặt trả nhà lại rồi cùng hai vợ chồng Quốc Thái trở về núi Thành Hoàng. Phần Châu Bán Thành không chịu lấy tiền nửa năm thuê nhà, nói là để cúng thí vào việc hương khói trong am. Nào dè, hai vợ chồng Quốc Thái về ở lại mấy hôm, một sáng nọ, Quốc Thái nói chẳng rằng bỏ đi mất, để lại cho Lục thị mấy tờ giấy. Lục thị xem xong hồn phi phách tán. Tại sao thế?…
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:36 PM | Message # 30
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 27


Giả thăm bạn để thơ từ biệt vợ
Cầu thỉnh Tế Công bói quẻ tìm chồng



Có thơ rằng:
Áo gấm vui chơi chả về nhà
Gia nhân mặt ngọc đợi hầu trà
Nội viện kín sâu người chẳng thấy

Cách rèm nở thắm một cành hoa.

Cao Quốc Thái về lại núi Thành Hoàng vẫn ở căn nhà cũ. Một buổi tối, ngồi đối diện với vợ, Quốc Thái nói:

- Nàng ơi, ngày mai tôi sẽ đi thăm bạn.

Lục thị nói:

- Ngày mai chàng đi xa, tôi còn 200 tiền đây. Tiền này là của bà cô cho tôi để mua kim chỉ thêu, chàng cầm đem theo để uống nước.

Nói rồi lấy tiền đưa ra.

Quốc Thái cầm lấy tiền, mặt có sắc hổ thẹn, nói:

- Thôi, nàng đi nghỉ trước đi.

Lục thị đi ngủ trước. Còn lại một mình Quốc Thái ngồi bên đèn, ngơ ngẩn hồi lâu rồi ngửa mặt lên trời thở dài thườn thượt. Lòng rối như tơ, thật là khó nghĩ. Cầm viết viết một mạch ba trang giấy, để dưới nghiên mực. Trong khi đợi trời sáng, muốn đánh thức Lục thị dậy, nhưng lại sợ sinh ồn náo lên, bèn đứng dậy, bước ra ngoài dằn lòng đi ra.

Trong am có một ông già tên là Phùng Thuận lo việc nhang khói trong điện Phật, tuổi ngoài 60, thường dậy rất sớm quét dọn xung quanh. Thấy Cao Quốc Thái đi ra, Phùng Thuận hỏi:

- Cao tiên sinh hôm nay có việc gì dậy sớm thế?

Cao Quốc Thái nói:

- Xin lão trượng làm ơn mở giùm cổng ngoài, tôi muốn xuống núi đi thăm bạn.

Phùng Thuận mở cổng, Cao Quốc Thái vội vã đi xuống núi. Khi Lục thị tỉnh dậy không thấy chồng đâu, giật mình kinh sợ, vội chạy ra các chỗ bên ngoài tìm kiếm. Nghe Phùng Thuận nói Cao tiên sinh đã đi hồi sớm rồi, Lục thị mới trở về nhà tìm kiếm. thấy ba tờ giấy chồng để lại trên bàn mà thôi. Tờ thứ nhất đề là:
Thời suy vận bỉ sống lầm than
Hổ phận làm trai gởi ni am
Cửa Phật thương tình hằng cửu giúp
Tránh sao miệng thế khỏi chê gièm.

Lục thị xem ý bài thơ này là tự trách thân mình vì nghèo khổ không thể lập nghiệp nuôi thân, phải cùng vợ đem than tá ngụ ở ni am. Ðiều đó trách sao miệng thế khỏi cười chê?

Lại xem đến bài thơ thứ hai:
Ðất khách ra đi chẳng hẹn về
Sống chết từ nay tự liệu bề
Duyên số kiếp này đành đứt đoạn
Ân tình kiếp khác hẹn phu thê.

Lục thị xem thấy bài thơ này là lời tuyệt vọng, lần này ra đi không hẹn ngày trở lại, chết sống không hẹn trước, đại khái kiếp này chẳng mong đoàn tụ, họa may duyên nối kiếp lai sinh mà thôi.
Cầm bút lưu thơ dạ cảm hoài
Trách mình tài vụng dám hờn ai
Nhắn nhủ hiền thê xem gẫm kỹ
Kiếp sau xin hẹn vẽ đôi mày.

Lục thị xem thơ xong cất tiếng khóc rống, lòng dạ rối bời. Ðương lúc quá buồn thảm đó, lão ni lại đến hỏi:

- Con ơi, tại sao buồn khổ quá vậy?

Lục thị mới đem việc Cao Quốc Thái để thơ lại rồi ra đi, chắc là phen này mười phần chết chín quá. Lão ni cô nói:

- Con ơi, đừng quá lo chi, ta có chủ ý đây. Hiện tại ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ có Ngài Tế Công, ấy là vị Phật sống đương thời, đoán biết hết mọi việc quá khứ vị lai. Ðể ta bảo Phùng Thuận sang đó mời Ngài đến đoán giùm xem Cao tiên sinh đi đâu, sống chết ra sao, rồi cho người đi mời về cho con là xong.

Lục thị lật đật nói:

- Thế thì nên cho người đi mời thỉnh Tế Công ngay đi.

Lão ni cô liền sai Phùng Thuận xuống núi đi thỉnh Tế Công.

Lần thứ nhất đến chùa Linh Ẩn, Tế Ðiên lại đi khỏi.

Lần thứ hai đi thỉnh gặp nhằm lúc quan binh đang vây chùa Linh Ẩn. Lần thứ ba đi thỉnh, Phùng Thuận hỏi thăm thì Tế Ðiên bị người của Thừa tướng bắt trói dẫn đi. Nhân đó, công việc lần lữa bị trễ lại năm, bảy ngày. Ngày kia, Phùng Thuận lại xuống núi đi thỉnh Tế Ðiên, thì gặp lúc Tế Ðiên cùng Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn đang đi tới. Phùng Thuận vội chạy đến thi lễ, nói:

- Thưa sư phụ, Ngài mới đến đấy à, tôi liên tiếp lên chùa mấy lần tìm Ngài mà không gặp, hôm nay may mắn gặp Ngài ở đây. Bây giờ sư định đi đâu?

Tế Ðiên nói:

- Ta muốn lên tìm lão ni sư của ông đây. Chúng ta đến đó để gởi một người đi xuất gia.

Phùng Thuận nói:

- Thế thì hay, hay lắm! Lão ni của chúng tôi định thỉnh sư phụ đến có việc cần.

Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn hỏi:

- Hôm nay trên ni am có việc gì cần kíp thế?

Phùng Thuận mới đem việc Cao Quốc Thái đầu đuôi thuật lại kỹ càng.

Mọi người cùng nhau trở về am. Phùng Thuật đi trước dẫn đường. Về đến am, thẳng vào viện phía Tây ngồi nghỉ. Viện phía Tây này có ba dãy Ðông, Tây và Bắc, mỗi dãy đều có ba gian. Phùng Thuận và mọi người cùng tiến về phòng Bắc.

Triệu viên ngoại nhìn kỹ thấy trong phòng rất sạch sẽ, sát tường phía Bắc có một cái bàn dài, bên trên chất đầy những kinh sách. Phía trước có một cái bàn bát tiên với hai ghế ở hai bên. Tế Ðiên đến ngồi vào chiếc ghế ở đầu bàn, Triệu Văn Hội ngồi ở cuối bàn, Tô Bắc Sơn lại ngồi ở một bên. Ngay trên vách đối diện có câu đối chữ viết rất đẹp, chính giữa lại có một bức đại tự, viết bài thơ:
Ưa thích thanh nhàn lánh tục xa
Dựa sườn khiêm tốn một lư gia
Nửa mẫu ao sen soi bóng nước
Mấy mươi gốc liễu, bụi tre già
Rượu xuân nồng ấm say lòng khách
Ðêm tối đèn hồng sách quến ta
Khóa lợi dàm danh toàn bỏ mặc
Băng tâm một mảnh sạch không tà.

Hai bên lại có câu đối đề là:
Non xanh chẳng đổi ngàn năm họa
Nước biếc trôi dài vạn cổ thi.

Bên dưới đề là: Kẻ tài vụng Cao Quốc Thái.

Tô Bắc Sơn xem xong, nói:

- Bạch Thánh tăng, Ngài xem Cao Quốc Thái thật là phong lưu tài tử đấy chớ. Lời Phùng Thuận nói quả thật không sai. Ngài xem câu đối này và bút tích đẹp quá. Bạch Thánh tăng, xin Ngài đại phát từ bi tìm Quốc Thái về, tôi sẽ tìm học quán thành toàn cho anh ấy. Ðợi đến kỳ đại thí, tôi sẽ tặng cho tiền bạc để anh ấy lập chữ công danh.

Tế Ðiên nói:

- Ðược đó, đây cũng là công đức của viên ngoại.

Ðang nói tới đó, lão ni cô Thanh Tịnh dẫn các đồ đệ và cháu gái cùng đến tham kiến Thánh tăng và nói:

- Xin Thánh tăng đại phát lòng từ bi cho. Ðây là Lục Tố Trinh, cháu gái của đệ tử. Nhân vì chồng nó là Cao Quốc Thái lưu ngụ trong Ni am, bỏ đi không nói lời từ biệt đã ba bốn hôm rồi. Xin Thánh tăng đại phát lòng từ bi chiếm cho một quẻ.

Tế Ðiên nói:

- Cái đó dễ mà! Hôm nay bọn ta cứu được một người, nàng ta là con gái nhà danh giá lầm sa vào chốn yên hoa. Ý nàng ta muốn xuất gia, nên bọn ta định đưa đến đây để lão ni thâu nhận làm đệ tử đấy.

Lão ni cô nói: Sư phụ đã dạy, đệ tử xin vâng theo.

Triệu Văn Hội nói:

Lát nữa cô ấy sẽ đến. Tôi xin cúng nhang khói cho chùa hai trăm lượng bạc.

Lão ni cảm ơn Triệu viên ngoại, lại day qua Tế Ðiên:

- Xin Thánh tăng từ bi chiếm cho một quẻ, xem Cao Quốc Thái hiện ở đâu?

Tế Ðiên vỗ vào linh quang ba cái, rồi nói:

- Chao ôi, thôi rồi, thôi rồi!

Lục thị đứng ở một bên nghe vậy sợ xanh cả mặt, lắp bắp nói:

- Xin Thánh tăng từ bi lập cách cứu giùm, cứu giùm!

Thanh Tịnh lão ni cũng năn nỉ hết mức.

Tế Ðiên hỏi:

- Bây giờ là mấy giờ rồi?

Phùng Thuận đáp:

- Hiện giờ đã sang đầu giờ Ngọ.

Tế Ðiên nói:

- Người này hiện cách đây 180 dặm. Ðến chừng mặt trời lặn, người ấy sẽ bị tai nạn mất mạng như không.

Tô Bắc Sơn nói:

- Thưa sư phụ, xin Ngài ra tay tế độ giùm.

Tế Ðiên nói:

- Khi ta tìm được người ấy trở về, ông phải tìm giùm một chỗ ở học quán nhé.

Tô Bắc Sơn nói:

- Ðệ tử xin hứa giúp điều đó.

Tế Ðiên nói:

- Ông phải phái một gia nhân cùng đi tìm với ta và đem theo 200 lượng bạc làm lộ phí mới được.

Tô Bắc Sơn kêu:

Này Tô Lộc, ngươi đi mau về kho bạc lấy theo 200 lượng bạc, đi cùng với Thánh tăng tìm Cao tiên sinh nhé!

Thanh Tịnh lão ni nói:

- Này Phùng Thuận, ông cũng cùng đi với Tế Công nhé!

Lục thị cúi đầu cám ơn rối rít.

Tế Ðiên nói:

- Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn! Hai ông chờ Doãn Xuân Hương đến, đưa cô ấy xuất gia rồi hãy về nhé!

Hai vị viên ngoại vâng dạ.

Tô Lộc đem bạc đến. Tế Ðiên cùng hai người ra khỏi Thanh Tịnh am. Khi tới chân núi, Tế Ðiên bước tới ba bước, bước lui ba bước. Tô Lộc nói:

- Sư phụ ơi, bộ Ngài lẫn rồi sao? Chúng ta phải đi 180 dặm mà Ngài đi như vậy cả đến 8 dặm cũng khỏi tới được đó. Ði cách đó làm sao tới được? Xin Ngài đổi cách đi khác đi!

Tế Ðiên nói:

- Ðổi thì đổi, có khó gì!

Nói rồi đổi bộ đi tới hai bước, sụt lui ba bước.

Phùng Thuận cười lên, nói:

- Sư phụ ơi, Ngài đi lộn trở về rồi đó. Ði cách đó làm sao tới được?

- Ờ, được, ta đi nhé!

Nói rồi co giò chạy mau tới trước, chớp mắt không thấy đâu. Hai người lật đật chạy theo, chạy mãi đến hai ba dặm, mồ hôi ra ướt cả mình, nói:

- Bọn mình vô khu rừng kia tạm nghỉ đi!

Hai người vừa bước vào rừng, Tế Ðiên hỏi:

- Hai vị mới tới hả?

Hai người đáp:

- Bọn tôi mới tới chưa nghĩ ngơi tí nào. Sư phụ tới đã lâu chưa?

- Ta tới đây ngủ được hai giấc rồi đó. Cặp giò đó có phải của hai ông không?

Hai người đáp:

- Cặp giò của chúng tôi dính liền với thân, không phải của chúng tôi còn của ai nữa!

Tế Ðiên nói:

- Nếu là của hai ông thì khi ta niệm chú nó phải chạy nhé!

Phùng Thuận nói:

- Ðược, được. Sư phụ cứ niệm đi!

Tế Ðiên thấy hai người đều đứng yên, nói:

- Ta niệm chú đây nhé!

Nói rồi trong miệng niệm lẩm nhẩm: “Án ma ni bát mê hồng. Án sắc lịnh hích!”. Tức thì thân hai người không tự chủ được, cặp giò tự động chạy như bay tới trước.

Tô Lộc kêu lên:

- Sư phụ ơi, không xong rồi! Trước mặt cây giăng giăng, đụng vô chắc chết quá!

Tế Ðiên nói:

- Không sao đâu! Có ta đây mà, tới đó không đụng chạm gì đâu!

Quả nhiên hai người chạy đến đó luồn qua kẻ hở chạy tuốt.

Hai người đang chạy bỗng thấy từ trong xóm đi ra một người, trên tay cầm một cái chén. Tế Ðiên nhướng mắt lên xem, thì ra đó là tên nghịch tử. Người này họ Ngô tên Vân, là con của một quả phụ. Hôm nay nhà ăn bánh hỏi, mẹ hắn đã sửa soạn xong xuôi. Khi Ngô Vân về nhìn vào thấy không có giấm, bèn nổi giận, nói với mẹ hắn:

- Má sao càng già càng dốt, nhà ăn bánh hỏi sao bà không mua giấm? Bà thiệt hết xài mà!

Tuy giận lắm nhưng bà mẹ vẫn không trả lời. Hắn nói lầm bầm, rồi cầm chén ra cửa đi mua giấm. Gặp Tế Ðiên, bị chỉ một cái, Ngô Vân tức thì giở chân chạy luôn theo bọn Phùng Thuận.

Sợ quá hắn kêu lên: Tôi không có đi hướng này mà! Tại sao lại kỳ vậy? Cặp giò này bữa nay bộ điên rồi chắc?

Ba người nghe bên tai tiếng gió vù vù, phảng phất như tuôn mây lướt gió, băng băng đi tới trước. Thấy trước mặt con sông nước trắng xóa, Tô Lộc vội kêu:

- Thánh tăng ơi, cho tôi ngừng lại đi! Phía trước là con sông đó, đâm xuống chắc chết quá!

Tế Ðiên nói:

- Không sao đâu! Ráng phóng mình tới là qua ngay!

Khi tới bên sông, ba người vẫn lướt băng băng, tức thì qua bờ bên kia ngay. Tô Lộc nghĩ: “Chạy như vậy không xong rồi, ta phải tìm một gốc cây ôm cứng lại mới được!”. Mới nghĩ xong, vừa hay gặp một gốc cây, Tô Lộc vội ôm cứng lại, bèn té đánh huỵch xuống đất. Phùng Thuật và người mua giấm cũng té nhào theo.

Tế Ðiên vừa đi tới, nói:

- Ba người dậy đi chớ!

Ba người nói:

- Bọn tôi dậy không được.

Tế Ðiên móc ra một viên thuốc chia cho ba người uống. Ba người cảm thấy thân thể hoạt động lại bình thường, có thể đứng dậy được.

Ngô Vân ngơ ngác lặng thinh! Từ phía kia có một người bộ hành đi tới.

Tô Lộc hỏi:

- Xin ông cho hỏi thăm, đây là nơi nào vậy?

Người kia đáp:

- Ðây là Tiểu Lưu Thôn. Các vị định đi đâu đó?

Tô Lộc nói:

- Bọn tôi từ thành Lâm An đi đến huyện Dư Hàng.

Người kia nói:

- Các vị đi phải rồi đó. Nơi đây cách huyện Dư Hàng chỉ có 20 dặm thôi.

Ngô Vân nghe nói, kêu lên:

- Trời ơi, trời! Rồi cầm cái chén quăng bể nát. Bánh hỏi không được ăn mà phải đi xa hơn 200 dặm đường. Bây giờ tôi làm sao mà trở về được nè trời!

Tế Ðiên nói:

- Ðể ta làm phép đưa ngươi về.

Ngô Vân nói:

- Thôi, thôi! Ðừng có làm phép nữa, tới nhà tôi đứng lại không được, chạy tuốt lên miền Bắc Tái rồi làm sao về được! Ðể tôi về một mình cho xong.

Tự hắn về hết hai ngày một đêm mới tới nhà. Từ đó hễ thấy hòa thượng đi hóa duyên là hắn chạy trốn, vì sợ gặp lại hòa thượng kiếc như xưa thì thêm khổ.

Tô Lộc nói với Tế Ðiên:

- Bây giờ chúng ta đi tiếp lên huyện Dư Hàng tìm Cao tiên sinh chớ?

Tế Ðiên đáp:

- Phải đó.

Ba người lại tiếp tục lên đường.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:36 PM | Message # 31
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 28


Tô Bắc Sơn phái người tìm hàn sĩ
Cao Quốc Thái nạn gấp gặp bạn xưa




Tế Ðiên đưa Tô Lộc và Phùng Thuận đến cửa Nam huyện Dư Hàng. Thấy bên đường có một tiệm cơm, Tế Ðiên nói:

- Này Tô Lộc, Phùng Thuận, chúng ta vào đây uống vài chén rượu, nghỉ ngơi giây lát rồi hãy đi nơi tiếp.

Hai người gật đầu, cùng bước vào quán cơm, kêu mấy món ăn. Tô Lộc nói:

- Thưa Thánh tăng, chúng ta đã đến huyện Dư Hàng rồi mà Cao tiên sinh chưa biết ở đâu. Khi tìm được Cao tiên sinh rồi, chúng ta cùng uống một bữa no say nhé!

Tế Ðiên nói:

- Bây giờ chúng ta cứ uống rượu trước đi đã, lát nữa sẽ đi tìm kiếp ông ấy. Ðường còn xa lắm mà!

Ba người nói chuyện một lát thì ăn uống đã xong, trả tiềm cơm rồi ra khỏi quán, tiến vào cửa Nam. Ðến một ngã tư, quẹo về hướng Ðông thì phía Bắc con đường chính là nha môn huyện lỵ. Tế Ðiên bươn bả đi thẳng vào trong huyện nha. Tô Lộc hỏi:

- Sư phụ đi đâu vậy?

Tế Ðiên đáp:

- Hai người ở ngoài này chờ ta, ta vào đây kiếm một người.

Tế Ðiên mới bước vào cửa lớn, nghe bên trong có tiếng nạt:

- Nãy giờ sưu tra hỏi cung, mà can sự chẳng chịu cung khai. Vậy tả hữu hãy bày đồ côn kẹp ra, tra khảo Cao Quốc Thái một hồi rồi sẽ hỏi lại.

Tế Ðiên nghe nói cũng bắt rùng mình.

Tại sao Cao Quốc Thái lại lọt vào đây, bị quan nha thẩm vấn như vậy? Trong đó có một ẩn tình.

Nhân vì hôm nọ Cao Quốc Thái xuống khỏi núi Thành Hoàng, nghĩ tới tính lui mãi, muốn bỏ đi qua xứ khác, ngặt nỗi không bà con, lại không nơi nương tựa. Rồi tính trở lại, chi bằng về lại huyện Dư Hàng vẫn hơn. Tự mình đáp thuyền nhỏ cũng là chỗ đồng hương quen biết, tiền đò mất 100 tiền. Ăn uống qua loa về tới huyện Dư Hàng thì 200 tiền cũng vừa đủ. Trong lòng lại nghĩ, bây giờ mình trở về nơi cố thổ, cũng không có chỗ sanh phương. Thứ nhất là không một người thân thích, thứ hai là không một bạn quen. Muốn kiếm chỗ mượn đỡ ít điếu tiền cũng không có!

Ở bên xứ người thì muốn trở về nhà. Ðến khi về đến nhà, phải sống làm sao đây? Có mấy nhà chí thân, cũng có thể cùng ta chia buồn giải muộn. Có mấy người bạn tri kỷ, cũng có thể để cho ta bày tỏ cả tâm can. Thật đúng như lời người xưa đã nói:

Nghèo ở chợ đông có móc đồng

Móc hoài chẳng dính bà con thân

Giàu ở rừng sâu tay xách gậy

Xua hoài không hết bạn vô nhân.

Cao Quốc Thái là một người có chí khí, không muốn cầu cạnh bạn bè, nghĩ tới nghĩ lui, càng nghĩ càng thêm bối rối, chỉ còn nước chết cho xong! Ðịnh đi đến con sông chạy quanh thành nhảy xuống chết cho rảnh. Ðứng bên bờ sông nhìn ghe thuyền qua lại rộn rịp, tự nghĩ rằng: “Chết đây, chết đây! Ta chết rồi vạn sự kể như xong. Sống có lúc, chết có nơi, đây là chỗ tuyệt mạng của ta đây!”. Nghĩ xong lấy đà định nhảy xuống nước, bỗng sau lưng có tiếng nói:

- Bạn ơi, đừng, đừng! Ðừng nhảy xuống sông vội, có tôi đến đây!

Cao Quốc Thái ngoái đầu xem, thấy người ấy mình cao bảy thước, lưng eo vai rộng, đầu đội khăn xanh, y phục màu xanh. Da mặt hơi tía, trong tía ửng hồng, trong hồng lộ tía, mày cong mắt rộng, sóng mũi thẳng ngay, khuôn mặt cân đối, tuổi ngoài đôi mươi.

Người ấy nói:

- Tiên sinh là người đọc sách rõ biết lý lẽ ở đời, cớ sao lại tìm một việc nhầm lẫn đáng tiếc như vậy?

Cao Quốc Thái nói:

- Xin huynh đài đừng hỏi đến làm gì. Trên thế gian này tôi không có đất dung thân, thà chết quách cho xong!

Người kia nói:

- Thưa tiên sinh, tiên sinh có điều gì khó giải quyết, xin nói cho tôi cùng nghe với!

Cao Quốc Thái thấy người ấy thành thật, mới nói:

- Huynh đài tôn tánh chi?

- Tôi họ Vương, tên Thành Bích, cũng là người ở tại địa phương này. Tôi có một cái chành ở bên sông này. Ai có hàng hóa đều đến chành tôi gởi hết. Tiên sinh tại sao lại tìm một việc nhầm lẫn như thế?

Cao Quốc Thái nói:

- Tôi cũng là người ở địa phương này. Nhà tôi ở trong cửa Nam, tôi họ Cao, tên là Quốc Thái. Nhơn vì gia thế suy vi, tôi đưa gia quyến đến Lâm An ký ngụ ở một Ni am. Tôi nghĩ mình làm trai đứng ở trong trời đất, trên không thể giúp vua an dân, dưới không thể bảo dưỡng vợ con, như vậy sống trên đời này uổng quá. Thôi thà chết phức cho xong!

Vương Thành Bích nói:

- Huynh đài ơi, anh là người thông minh, lại bị chính cái thông minh đó gạt gẫm! Cần chi phải coi thường mạng sống như thế? Thôi, chúng mình tìm một quán cơm ăn no bụng đã, rồi tôi sẽ bày cho anh một phương thế làm ăn. Ðừng có nghĩ quẩn làm chi, người ta chết rồi không sống lại được đâu!

Cao Quốc Thái cùng Vương Thành Bích tìm vào một quán cơm kêu mấy món. Ăn uống no say xong, Vương Thành Bích nói:

- Bữa nay trong tay tôi không có một trinh nào hết, cũng không có một tấm ngân phiếu nữa, phải đợi đến ngày mai mới có. Bữa nay anh chịu khó kéo thuyền trước đi nhé!

Cao Quốc Thái nói:

- Tôi là thư sinh, sức trói gà không chặt, làm sao có thể nắm thuyền nổi?

Vương Thành Bích nói:

- Anh ơi, đừng nói như vậy, đến chỗ nào phải theo chỗ đó mới được. Anh không nhớ người xưa có câu thơ như thế này hay sao:

Thân người quân tử có thể lớn có thể nhỏ,

Chí của kẻ trượng phu có lúc duỗi có lúc ngay!

- Hôm nay anh chịu khó đi kéo ghe đi, đợi vài hôm tôi có tiền sẽ đưa anh mua bạc lượng đi rước gia quyến về trước. Anh thấy như vậy có được không?

Cao Quốc Thái nghĩ rằng: “Anh ta với mình là duyên bèo nước mà còn khuyên ta như thế thì ta còn cố chấp lài gì”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Huynh đài đã quá yêu tiểu đệ như thế, tiểu đệ xin đi kéo thuyền vậy.

Vương Thành Bích nói: Ừ, phải đấy!

Nói rồi đứng dậy dẫn Cao Quốc Thái ra bờ sông. Nơi đây có một thuyền chất đầy hàng hóa sắp nhổ neo.

Vương Thành Bích nói:

- Quản thuyền ơi, tôi có một anh bạn, để anh ấy kéo thuyền chúng mình với. Nhờ quản thuyền để ý chỉ bảo giùm. Ðến chỗ cất hàng lên vẫn để ý anh ấy kéo thuyền về được quãng nào hay quãng nấy nhé!

Quản thuyền nói:

- Ðược mà, có Vương đại ca gởi gấm, chúng tôi đâu dám xử tệ.

Cao Quốc Thái bèn ở lại chờ. Giây lát thuyền nhổ neo, mọi người đều cầm một khúc cây để kéo. Cao Quốc Thái không biết làm gì, có người đưa anh ta một khúc cây như vậy. Ðương lúc thuyền đi, mọi người đương kéo vừa hò lấy trớn. Cao Quốc Thái lại nhớ trong sách về chương mười ba có đoạn: “Người quân tử ở hoàn cảnh nào, sống hợp hoàn cảnh đó, không muốn vượt quá phạm vi. Ở cảnh giàu sang, sống đúng theo giàu sang; ở cảnh nghèo khó, sống theo nghèo khó; ở chỗ mọi rợ, sống theo mọi rợ; ở cảnh hoạn nạn; sống theo hoạn nạn. Người quân tử không bị mắc mứu vào mà cũng không lấy làm tự đắc mình hơn người”.

Cao Quốc Thái chỉ nhớ đến sách, mặt ngẩn ngơ, mấy người kéo ghe thấy vậy cười rộ. Một ngày nọ, ghe đến Ân Gia Ðộ cất hàng hóa lên. Cao Quốc Thái mệt lử chịu không nổi bèn xuống ghe ngủ vùi. Ngày hôm sau, ghe chở hàng hóa khác trở về. Cao Quốc Thái lại tiếp tục kéo ghe như cũ. Ðến huyện Dư Hàng, ghe vừa ghé bến thì Vương Thành Bích đứng chờ sẵn ở đó.

Vương Thành Bích nói:

- Chắc mấy hôm nay anh mệt lắm hả? Tôi đến đón anh đây. Anh em mình chắc là có túc duyên, ngày hôm nay tôi lại được một bút khoảng 35 điếu nữa. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau ăn uống tí chi đã, lát nữa hãy vào thành mua bạc rồi ngày mai anh đi rước gia quyến về. Bữa nay ta đong rượu, mua thịt về vui nhậu suốt đêm nay mới vừa.

Cao Quốc Thái nói:

- Tốt quá! Tốt quá! Tôi cùng Vương huynh sơ ngộ mà huynh trưởng đãi hậu như thế, tôi thật cảm kích vô cùng!

Vương Thành Bích nói:

Anh em mình là bạn tri kỷ, mới gặp như người quen, anh khách sáo làm gì!

Cao Quốc Thái nghĩ: “Anh bạn này thành thật quá!”. Bèn cùng với Vương Thành Bích đi ăn điểm tâm. Trời cũng đã tối. Vương Thành Bích lấy tiền trao cho Cao Quốc Thái vào thành mua bạc, cầm theo một chiếc bình để đong rượu, mua thịt đem về nhậu. Cao Quốc Thái vào thành mua 50 lượng bạc, đong rượu, mua thịt xong trở về. Nhằm lúc cửa thành sắp đóng, Cao Quốc Thái vừa sắp ra cửa thành thì từ trước mặt có một người chạy lại như bay, hình như có việc gì gấp lắm và đụng phải Cao Quốc Thái một cái xửng vửng. Người ấy vội nói:

- Xin tiên sinh thứ lỗi, tôi vội quá vì có một việc gấp lắm, mới vô ý đắc tội với tiên sinh như thế.

Nói xong, người ấy chắp tay xá dài, rồi lật đật đi ra cửa thành.

Cao Quốc Thái vốn là người văn nhã, tuy bị đụng xửng vửng, nhưng lại nghĩ: “Người ta đụng mình đâu phải cố ý thì chấp làm chi!”. Nghĩ rồi tiếp tục đi ra khỏi thành. Bỗng nhiên sực nhớ lại: Hình như gói bạc của mình bị đụng xóc thì phải? Lấy tay rờ thử thì than ôi, gói bạc không cánh làm bay! Té ra người đụng Cao Quốc Thái chính là kẻ trộm giữa ban ngày. Ban nãy thấy Cao Quốc Thái mua bạc bèn giả bộ đụng Cao Quốc Thái rồi chớp lấy gói bạc đi thẳng. Càng nhớ tới, Cao Quốc Thái càng thấy bối rối thêm: Lát nữa đây gặp Vương Thành Bích, mình sẽ ăn nói ra sao? Chi bằng chết quách cho xong. Ngày hôm kia, ta muốn chết mà không chết được, phải chăng còn lại hai ngày đền tội chưa xong? Thật là “Diêm vương ấn định canh ba chết, nào để người đời sống rốn đến canh năm!”. Nghĩ như thế rồi bèn đến bên bờ sông quanh thành, định nhảy xuống chết phứt cho rảnh.

Tự mình than thở: “Cao Quốc Thái ơi, Cao Quốc Thái! Mạng vận mi toan mãi vẫn không thông. Chẳng dè hôm nay ta lại chết tại chỗ này”. Ðương lúc thở than như thế, lại nghe kế bên có tiếng người hỏi:

- Người đó có phải là ân huynh Cao Quốc Thái đó chăng?

Tiếng nói đó quá gần làm Cao Quốc Thái ngừng bỏ ý định. Người ấy lại nói tiếp:

- Em tưởng anh chết rồi! Tìm kiếm anh khắp nơi mà chẳng biết anh xiêu lạc phương nào, chẵng dè hôm nay anh ở đây!

Người ấy nói rồi chạy đến cúi chào. Cao Quốc Thái nhìn lại mà chẳng nhớ là ai, xem hình như quen mặt nhưng bất chợt chẳng nhận ra, mới hỏi:

- Lão huynh có nhìn lộn người chăng?

Người ấy đáp:

- Huynh trưởng ơi, cả tiểu đệ là Lý Tứ Minh anh cũng không nhớ ra nữa sao?

Cao Quốc Thái nghe qua chợt nhớ, nói:

- À, à, té ra là Lý đệ.

Nguyên Lý Tứ Minh thuở nhỏ nhà nghèo, mẹ góa, ở ngụ cư nơi nhà Cao Quốc Thái. Việc chi dụng hàng ngày đều do Cao Quốc Thái bảo bọc hết. Ðến tuổi học tập, Lý Tứ Minh cũng học luôn ở nhà Cao Quốc Thái. Mẹ Tứ Minh chết, Quốc Thái xuất tiền chôn cất chu đáo. Cao Quốc Thái hỏi Tứ Minh ý muốn học tiếp để làm quan hay thích ra buôn bán. Lý Tứ Minh nói:

Tôi muốn tìm một cửa hiệu để học tập nghề buôn bán tốt hơn, nhà tôi nghèo, đâu đủ tiền của mà theo nghiệp công danh.

Cao Quốc Thái nói:

- Cũng được, để ta tìm một chỗ cho em học buôn bán nhé!

Bèn gởi Tứ Minh vào tiệm gạo Thiên Thành trong thành mà học buôn bán. Tất cả những áo quần, mùng mền đem theo để đi học đều do Quốc Thái chu cấp. Lý Tứ Minh cũng quyết ý học tập, mọi việc đều không nhầm lỡ, chuyên tâm học tập ba năm đã mãn. Chủ nhà đến tiệm kết toán sổ sách, thấy Lý Tứ Minh mọi việc đền cần kiệm, lòng rất vừa ý, bèn tìm một nhà khách mở riêng một tiệm gạo ở Thanh Giang giao cho Lý Tứ Minh coi sóc. Công việc làm ăn rất phát đạt. Chủ nhà không có con trai, chỉ có một cô con gái, bèn đem gả cho Lý Tứ Minh bầu bạn, phụng dưỡng ông bà lúc tuổi già, lại đem một phần gia nghiệp chia cho con rể. Về sau, hai ông bà già qua đời, Lý Tứ Minh coi sóc luôn cả sự nghiệp công danh đó.

Hồi tưởng lại: “Ngày trước nếu không nhờ ân huynh bảo bọc, mình đâu có được sung túc như ngày nay”. Bèn đưa cả gia quyến, thâu thập đồ tế nhuyễn, cùng nhau về chốn cũ, tìm ân huynh Cao Quốc Thái.

Ðến huyện Dư Hàng tìm hỏi, không ai biết Cao Quốc Thái phiêu bạt phương nào! Họ đều nói vì nghèo quá, Cao Quốc Thái dọn đi nơi nào không biết. Lý Tứ Minh than thở không cùng! Bèn mua một ngôi nhà ở ngoài cửa Tây thành, lại mở một tiệm bán lương khô ở ngoài cửa Nam. Hôm nay đang lúc đi trở về nhà, Tứ Minh bỗng gặp Cao Quốc Thái. Hai người gặp nhau, buồn vui lẫn lộn, cùng nhau bày tỏ việc vừa qua.

Cao Quốc Thái nói:

- Lão đệ này, nếu hôm nay anh không bị mất tiền, chắc gì chúng mình gặp được nhau!

Lý Tứ Minh nói:

- Bây giờ anh tới nhà em trước đã, chúng ta sẽ hàn huyên tâm sự.

Hai ngưòi đứng dậy cùng đi, tới trước không xa bỗng Cao quốc Thái đạp phải một vật, cúi xuống đưa tay rờ xem thì là một bó đồ.
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:37 PM | Message # 32
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 29

Bạn cũ gặp nhau tri ân báo đức
Tiểu nhân cựu thù lấy oán báo ân


Nói về Cao Quốc Thái mở gói ra xem thử, té ra là hai xấp lụa. Dưới ánh trăng tỏ rạng, rõ ràng bốn chữ đề “Hưng Long đoạn điếm” (tiệm lụa Hưng Long). Lý Tứ Minh nói:

- Hai xấp lụa này không phải là của tiệm lụa trong huyện Dư Hàng ta. Trong huyện Dư Hàng chúng ta chỉ có hai tiệm lụa, một tên Thiên Thành, một tên Vĩnh Thuận mà thôi. Tiệm Hưng Long này chẳng biết là ở huyện nào?

Cao Quốc Thái nói:

- Chúng ta đứng ở đây chờ, có ai đến tìm, mình đưa lại cho họ. Nếu đưa đúng chủ nhân thì không hề chi, còn nếu đưa nhầm kẻ bá vơ mạo nhận, người mất của xảy ra tính quẫn, tội nghiệp người ta.

Hai người đứng ở đó chờ một hồi lâu mà chẳng thấy có ai đến kiếm. Lý Tứ Minh nói:

- Bây giờ cũng không còn sớm gì nữa, thôi chúng ta hãy về nhà cái đã. Ðợi đến mai, nếu có người đến tìm, nói đúng thì mình đưa họ, còn nếu không có ai kiếm thì mình viết cáo bạch dán ở bốn cửa thành, cũng không có gì lầm lẫn.

Cao Quốc Thái nói:

- Bữa nay đáng lẽ ta phải trở về gặp Vương Thành Bích mới phải. Hồi chiều, ta đem tiền đi mua sắm đồ vật và bạc, anh ấy đợi ta trở về để cùng uống rượu đó. Vì mất hết tiền nên ta định tìm lấy cái chết cho xong. Hôm nay ta không trở về đằng ấy, chắc ảnh lại có ý nghĩ không tốt về ta.

Lý Tứ Minh nói:

- Bây giờ anh cứ về đằng nhà tôi trước, rồi sai người đưa thơ về cho ảnh biết. Ngày mai hai anh em ta cùng đến bái yết anh ấy cũng không muộn mà.

Nói xong, hai người cùng rời chỗ, đến nhà Lý Tứ Minh ở cửa Tây, thấy cổng khép hờ bèn đẩy vào. Cao Quốc Thái thấy gần ngoài cổng có ba gian phòng đèn đuốc lù mù, bèn nói:

- Hôm nay tối rồi, ngày mai sẽ vào nhà trong, bây giờ mình vào đây nghỉ chân đã!

Lý Tứ Minh nói:

- Ba phòng này đã cho thuê rồi, mà tôi cũng không đòi tiền phòng, nhân vì tôi hay vắng nhà nên mời một người cùng phường đến ở để hai bên dòm ngó giúp đỡ nhau.

Cao Quốc Thái nghe nói gật đầu. Hai người tiến vào cửa thứ hai, kêu cửa. Bên trong có một bà già đi ra nói:

- A, đại gia đã về!

Lý Tứ Minh nói:

- Bà vô trình với bà chủ hay, hôm nay có ân huynh của ta là Cao Quốc Thái đến thăm.

Bà vú trở vào giây lát, nghe bên trong có tiếng “Xin mời vào”. Hai người bước vào phòng trong. Bên trong lau dọn rất sạch sẽ, từ bên trong Hà thị bước ra chào hỏi ra mắt Quốc Thái. Lý tứ Minh bảo vợ:

- Nàng hãy sửa soạn thức ăn ở phòng Ðông để hai anh em ta nhắm rượu nhé!

Hai ngượi lại sang phòng Ðông, dưới ánh đèn tỏ, giở gói lụa ra xem lại. Lý Tứ Minh nói:

- Hai xấp lụa này, màu sắc thực màu lam ngọc đúng mức, nhưng không biết cửa hiệu Hưng Long này ở chỗ nào? Ngày mai chúng ta niêm yết bá cáo ở bốn cửa thành, nếu có người đến tìm, nói đúng thì đưa lại họ, còn không có ai tới kiếm thì hai ta may mỗi người một cái áo dài mặc chơi.

Cao Quốc Thái nói:

- Phải. Ngày mai hiền đệ hãy thay ta đến cảm tạ anh Vương Thành Bích nhé. Nếu không có anh ấy cứu giúp cho thì giờ này ta đã mồ xanh ra cỏ rồi. Anh ấy thật là một người quân tử, tính tình hiền hậu ngay thực, đối đãi với ta trước sau như một. Thật là một người bạn quý khó tìm!

Lý Tứ Minh nói:

- Vâng. Ngày mai hai ta sẽ cùng đi gặp anh ấy.

Hai người ăn uống xong, ngơi nghỉ.

Sáng hôm sau, hai người vừa rửa mặt, điểm tâm xong, nghe bên ngoài có người hỏi:

- Lý Tứ Minh, trong nhà anh có người tên Cao Quốc Thái phải không?

Tiếp theo, tiếng gõ cửa dồn dập. Hai người lật đật bước ra xem. Ngoài cửa đã đứng sẵn hai vị sai dịch, mang theo bốn tên phổ ky. Hai vị này đầu đội mũ vải xanh nhạt, mình mặc án chẽn xanh, lưng thắt dây bản da, chân mang giày nhẹ, mỗi người trên tay đều cầm côn gỗ, dây xích sắt. Hai vị Ban đầu này, một vị tên là Kim Lăng Thọ, một vị tên là Ðổng Thế Xương. Vừa gặp Cao Quốc Thái, vội hỏi:

- Này, bạn có phải là Cao Quốc Thái không?

Cao Quốc Thái đáp:

- Vâng, chính tôi, hai vị tìm tôi có việc chi?

Nghe xong, vị Ban đầu ấy rút dây sắt trói nghiến Cao Quốc Thái lại. Lý Tứ Minh vội chạy đến can thiệp cũng bị trói nốt. Trói xong, lại hô:

- Bây đâu, lục tìm tang vật!

Họ vào các gian phòng lục xét và tìm thấy hai xấp lụa ở phòng Ðông. Lý Tứ Minh hỏi:

- Ban đầu ơi, tại sao hai ông bắt trói chúng tôi thế này?

Kim ban đần đầu nói:

- Ở đây chúng tôi có tờ trát, lịnh của quan huyện sở tại sức cho bọn tôi phải bắt trói bạn ngay. Hai tôi vô cớ đâu dám bắt trói người lương thiện! Hai anh làm việc gì thì tự hai anh biết lấy, còn hỏi bọn tôi làm gì?

Vị Ban đầu kia nói:

- Dẫn đi mau, đừng nói nhiều lời. Ðến nha môn, các anh sẽ biết.

Nói rồi dẫn hai người mang theo hai xấp lụa về phòng làm việc ở huyện nha. Lúc đó, quan huyện đi đưa đón quan trên chưa về, chờ đến mặt trời xế bóng quan huyện mới về đến nha sở. Vừa về đến, quan huyện lập tức truyền lịnh:

- Chuẩn bị thăng đường!

Ba quan chức sự lật đật tề tựu, đứng xếp hàng chờ lịnh. Tráng ban lo việc thị uy hộ quan đường. Tạo ban coi việc bài trí hiệu lệnh. Khoái ban coi việc thứ tự trình việc bắt trộm đuổi cướp. Ba ban ai lo việc nấy. Huyện quan họ Võ tên Dao Khuê, xuất thân từ khoa bảng, đoán việc như thần, thực thi phép nước, yêu dân như con, lòng những mong toàn huyện đi đường không nhặt của rơi, đêm khỏi cài then cửa. Hôm nay quan huyện thăng đường xử đoán việc công. Bên dưới trình thưa:

- Việc tiệm lụa ở Ân Gia Ðộ bị cướp, bọn cướp đèn đóm sáng ngời, gậy gộc dao kiếm khảo tra chủ nhân, cướp đi 50 tấm lụa và 1.000 lượng bạc. Ðầu đảng là Cao Quốc Thái, chủ oa trữ là Lý Tứ Minh, xin giải trình đại nhân xét xử.

- Hãy dẫn bọn nó vào!

Hai bên dạ ran, lập tức đưa Cao Quốc Thái và Lý Tứ Minh vào quỳ trước huyện đường. Hai người thưa bẩm:

- Kính thưa lão gia, sinh viên Cao Quốc Thái kính xin ra mắt. Tiểu tử là Lý Tứ Minh xin ra mắt lão gia.

Quan huyện ở trên nhìn xuống thấy Cao Quốc Thái văn chất thanh bai, phẩm mạo đoan chính, ngũ quan thanh tú, gương mặt hiền lành không có vẻ gì hung ác cả, bèn hỏi:

- Này Cao Quốc Thái, bọn mi giữa đêm đốt đèn đánh cướp tiệm lụa, đồng lõa có bao nhiêu tên, số lụa cướp được đem về giấu ở đâu? Nói mau!

Cao Quốc Thái nghe nói, vội trình:

- Bẩm lão gia, sinh viên là người học trò, không biết việc cướp tiệm lụa ở Ân Gia Ðộ là thế nào, cả đến việc đốt lửa cầm gậy uy hiếm chủ nhà, sinh viên nào có biết điều chi!

Quan huyện vỗ bàn, hét lớn:

- Cha chả, hỏi nhẹ nhàng mi chẳng chịu khai! Vậy thì bây đâu, đè xuống đập cho nó một trận!

Cao Quốc Thái vộ thưa:

- Bẩm lão gia, xin người bớt giận để tiểu sinh trình rõ: Ân Gia Ðộ đốt đèn cướp của đả thương chủ nhân, việc đó tiểu sinh hoàn toàn không biết. Nếu lão gia đánh khảo gia hình bắt tiểu sinh nhận lấy việc mưu phản đó, tiểu sinh quyết không dám nhận đâu!

Quan huyện nói:

- Theo ta thấy thì chắc chắn là mi đã có quen thân với bọn cướp tiệm lụa bị cướp rồi, ngươi nói không biết, tại sao hai xấp lụa này lại ở trong tay mi?

Cao Quốc Thái nói:

- Bẩm lão gia, hôm qua tiểu sinh tình cờ lượm được gốc cây Tây nam ngoại thành, tiểu sinh định ngày hôm nay dán bố cáo ở bốn cửa thành, nếu có ai đến nhận tiểu sinh cho lại, nào dè lại bị lão gia bắt về đây. Ðó là sự thật xin thưa trình.

Quan huyện nghe nói, cầm hai xấp lụa lên xem và truyền dẫn thủ kho của tiệm Hưng Long là Vương Hải vào. Giây lát, từ bên ngoài, một người trạc ngoại ngũ tuần đi vào. Người này ngũ quan đầy đặn, có vẽ phúc hậu, đến quỳ trước án. Quan huyện bảo sai nhân đem hai xấp lụa cho xem và hỏi:

- Ngươi xem thử hai xấp lụa này là của tiệm Hưng Long bán ra hay bị bọn giặc cướp đi? Việc này rất hệ trọng, ngươi không được hồ đồ nhé!

Vương Hải xem một lát rồi thưa:

- Bẩm huyện quan, rõ ràng hai xấp lụa này bị bọn giặc cướp đi.

Quan huyện nghe nói thế, hỏi:

- Có Bằng cớ gì mi dám bảo hai xấp lụa này bị cướp đi? Hãy nói mau!

Vương Hải thưa:

- Trình bẩm lão gia, đây có bằng chứng rõ ràng. Trong tiệm của chúng tôi, hàng còn treo trên giá chưa bán chỉ có chữ “Hưng Long đoạn kiếm” mà thôi. Nếu có người đến mua lụa, khi mua xong, tiệm chúng tôi mới đóng lên lụa một con dấu đã bán nữa, trên dấu bán có khắc chữ “Sanh tài hữu đạo”. Trên hai xấp lụa này không có khắc con dấu đã bán nên tôi quả quyết là đồ vật bị đánh cướp.

Quan huyện nghe nói, cho người dẫn đi ra. Cao Quốc Thái quỳ một bên nghe không sót một lời.

Quan huyện nói:

- Này Cao Quốc Thái, ngươi nghe rõ hết chưa? Bây đâu, đè Cao Quốc Thái xuống đánh một trận cho ta. Ðánh xong sẽ hỏi tiếp.

Cao Quốc Thái thưa:

- Xin lão gia thương tình xét lại, quả tình hai xấp lụa này tiểu sinh lượm được mà có. Có thể là do bọn cướp đem đi bị đánh rơi rồi tiểu sinh lượm được, chớ nào có bằng chứng gì là tiểu sinh đang đêm đốt đèn uy hiếp chủ nhân cướp của đâu?

Quan huyện nghe nói, nổi giận đập bàn, hét lớn:

- Cha chả, hay cho thằng giặc già hàm, dám ở trước quan đường già hàm cải chày cãi cối! Bây đâu, dẫn chứng nhân ra đây!

Cao Quốc Thái nghe nói có chứng nhân, mặt thất sắc nhìn lên. Bên ngoài dẫn vào một người lạ hoắc. Người ấy độ hơn 20 tuổi, đầu đội khăn xanh rách góc mình mặc áo xanh chẹt, giày xanh vớ trắng, da mặt trắng xanh, đôi mắt ti hí, chiếc mũi củ tỏi dòm xuống cái miệng trẹt, đôi môi mỏng dính. Chiếc đầu cá trê với hai thái dương lõm vào càng làm cho đôi mắt như ríu lại. Té ra người này là Lãnh Hạng Nhị, hiệu là Lãnh Bất Phòng, ở ba gian phòng ngoài của Lý Tứ Minh. Bình thời đến mượn tiền Lý Tứ Minh nhiều lần không được nên có ý thù. Nhà Lãnh Nhị có hai vợ chồng mà nuôi không nổi, vợ phải bỏ đi làm mướn kiếm sống. Anh ta suốt ngày ở nhà một mình tính đủ thứ chuyện làm hại Lý Tứ Minh vì không cho hắn mượn tiền, cho bỏ ghét. Một tối nọ nghe bên nhà Lý Tứ Minh có khách, Lãnh Bất Phòng suy nghĩ: “Bình thường Lý Tứ Minh có mời bạn bè bao giờ, hôm nay chắc có gì hệ trọng đây!”. Hắn ta len lén rình nghe. Thì ra người mới đến là Cao Quốc Thái đang cùng Lý Tứ Minh đi vào nhà. Lãnh Nhị đứng ngoài cửa thứ hai nghe ngóng. Lý Tứ Minh nói:

- Hai xấp lụa của tiệm Hưng Long này, nếu ngày mai không có có ai đến tìm thì hai đứa ta mỗi người may một cái aó bào mặc chơi.

- Lãnh Nhị nghe nói đến chỗ đó, trong lòng thầm nghĩ: “Ta nghe nói tiệm lụa Hưng Long ở Ân Gia Ðộ lần trước bị bọn cướp đốt đèn cầm gậy uy hiếm chủ nhân dọn sạch. Vụ án đó đến bây giờ vẫn chưa tìm ra manh mối. Ngày mai ta đến nha môn, thêm mắm dặm muối, vu cho hắn chứa chấp đồ gian. Thằng cha Tứ Minh này thiệt đáng ghét, ai đời phát tài như thế mà mình hỏi mượn mấy điếu chẳng chịu cho. Lần này thì biết tay ông, để lần sau ông hỏi có dám khước từ không cho biết!”. Sáng hôm sau, Lãnh Nhị lật đật lên dinh quan huyện, hỏi:

- Hôm nay vị Ban đầu nào trực thế?

Có người đáp:

- Hôm nay nhằm Kim Lăng Thọ ban đầu trực đấy.

Lãnh Nhị tìm Kim ban đầu, hỏi:

- Này Kim ban đầu, vụ án nửa đêm đốt đèn cầm gậy cướp của ở Ân Gia Ðộ, mấy ông đã tìm ra thủ phạm chưa?

- Hãy còn đang tra xét.

- Lý Tứ Minh ở phòng Ðông trong viện chúng tôi đang chứa một tên gian dương đại đạo. Hôm qua có tên đầu đảng là Cao Quốc Thái đến ở nhà hắn, hai người bàn luận cả đêm. Tôi nghe rõ hết nên lật đật đến đây trình báo.

- Hay dữ a! Ta sẽ đưa ngươi vào ra mắt quan huyện mới được.

Ðoạn sai người vào trình quan huyện. Quan huyện lập tức thăng đường, dạy đem Lãnh Nhị lên gạn hỏi. Lãnh Nhị đến trước, quỳ xuống trình thưa:

- Bẩm lão gia, tiểu nhân là người mướn phòng nhà của Lý Tứ Minh, thường thấy người có hình tích khả nghi ra vào nhà hắn. Tối hôm qua có tên đầu đảng là Cao Quốc Thái đến ở nhà hắn, khoe nói việc đốt đèn cầm gậy, uy hiếp chủ nhân, cướp của ở Ân Gia Ðộ. Tiểu nhân với bên hắn vốn không thù oán chi, sợ e lão gia điều tra biết được, bắt tội tiểu nhân có việc này lại không trình báo để tặc nhân trốn thoát.

Quan huyện trước tiên sai người lưu Lãnh Nhị lại, rồi phái Kim Lăng Thọ, Ðổng Thế Xương đi bắt Cao Quốc Thái và Lý Tứ Minh về tra xét. Khi hai người đòi bằng chứng bèn bảo dẫn Lãnh Nhị ra.


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:38 PM
 
NoiVoiDauGoi Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 6:38 PM | Message # 33
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 30



Huyện Dư Hàng, thanh quan gặp án lạ
Ân Gia Ðộ, Ðạo Tế bắt tặc nhân




Khi Lãnh Nhị được dẫn vào, quan huyện hỏi:

- Này Lãnh Nhị, ngươi nói Cao Quốc Thái đang đêm đốt đèn cầm gậy cướp của, hiện tại đã bắt được ở đây, ngươi nhìn có phải chăng?

Lãnh Nhị thưa:

- Phải đó, bẩm lão gia, người này, hắn cùng Lý Tứ Minh bàn bạc trong nhà, tiểu nhân nghe rõ hết.

Cao Quốc Thái đang quỳ một bên, nói:

- Bẫm lão gia, người này, tiểu sinh chưa hề quen biết bao giờ.

Lý Tứ Minh bò lên một bước, thưa:

- Dám trình lão gia, tên Lãnh Nhị nguyên là người mướn phòng ở chung viện với tiểu tử. Nhân vì hắn không trả tiền phòng, lại mượn tiểu tử mấy lần không trả. Sau này mượn nữa, tiểu tử không cho mới đem lòng thù hận, vu cáo người hiền. Cúi xin thượng quan ra ơn xét lại!

Quan huyện nói:

- Cha chả, ta không nặng tay không được mà. Hỏi han nhẹ nhàng bây không chịu khai, cho nếm mùi đòn bọng, bây có giấu cũng không được nào! Bây đâu! Đè Cao Quốc Thái và Lý Tứ Minh xuống nện một trận rồi sẽ hỏi tiếp.

Hai bên sai dịch dạ ran, sắp sửa áp tới thi hành. Bỗng nhiên có một trận cuồng phong thổi tới công đường cát bụi mịt mù, mắt mở không ra, thấy trên bàn có một tờ giấy, trên đề hai chữ “oan uổng”. Quan huyện không biết là của ai viết, tự mình suy nghĩ, chắc là có nguyên nhân gì đây. Bèn ra lệnh tạm đem Cao Quốc Thái, Lý Tứ Minh giam lại, cả Lãnh Nhị cũng giam lại nốt rồi ra lệnh bãi hầu.

Nguyên lúc Tế Ðiên vừa đến công đường, thấy sự việc như vậy, bèn lấy tay chỉ một cái, cuồng phong ào ạt nổi lên, mọi người mở mắt không được bèn viết hai chữ “oan uổng” để trên bàn rồi đi ra, dắt Phùng Thuận và Tô Lộc ra hướng cửa Tây. Ði được hai dặm, bỗng Tế Ðiên nói:

- Hai người coi kìa, bạc ở đâu ra nhiều thế?

Hai người lập tức lượm lên xem và đồng bỏ vào bọc. Tô Lộc ôm kè kè một gói trước bụng. Hai người đồng nói:

- Không biết bạc ở đâu mà nhiều quá?

Tế Ðiên nói:

- Ðây chắc là có đoàn bảo tiêu hộ tống bạc đi ngang đây bị cướp đành bỏ chạy làm rớt lại. Gặp dịp bạc rơi này chúng ta tha hồ mà xài.

Ba người lại đi tới trước, tới một thị trấn tên là Ân Gia Ðộ. Thị trấn này nằm trên một tuyến đường Nam Bắc nên xe cộ qua lại tấp nập. Mé bên đường, đập vào du khách một bức tường màu trắng lộ rõ mấy chữ đen đại tự “Mạnh Gia lão điếm, cơm cỏ sẵn sàng, phòng ngũ tiện nghi”.

Tế Ðiên dừng ở trước cổng điếm gọi cửa. Bên trong có phổ ky dòm ra thấy một Hòa thượng kiếc, liền hỏi:

- Cái gì thế?

- Mướn phòng đây, mở cửa mau!

- Không có phòng đâu, chật hết rồi.

- Cho một cái phòng xép cũng được mà.

- Cũng không có nữa.

- Ái chà chà, ta mang theo bạc nhiều quá, mà ở đây lại không có phòng trọ, biết tính sao đây?

- Thôi, chờ một chút đi.

Nguyên Mạnh Gia lão điếm này là của Mạnh Tứ Hùng và Lý Hổ làm chủ, hai tên phổ ky một đứa họ Lưu, một đứa họ Lý, lâu nay chuyên hại khách ngụ. Nếu thấy khách lữ hành đem theo nhiều hành lý, rương bị to cộm thì chúng lập tức dùng rượu thuốc mê đánh gục rồi giết người cướp của. Dưới mỗi phòng đều có một địa đạo ăn thông với nhau, vì vậy, bề ngoài điếm này là nơi buôn bán, kỳ thật bên trong là một hắc điếm chuyên cướp của hại người.

Phô ky nghe bên ngoài nói có nhiều tiền, bèn lật đật đến bên cửa dòm ra, thấy ba người mang bạc nặng trĩu, bèn chạy vào nói:

- Này chưởng quỹ, bên ngoài có hai người đi với một ông Hòa thượng, mang theo một bao bạc lớn, muốn mướn phòng trọ.

Mạnh Tứ Hùng nói: Sao mi không mời họ vào?

- Tôi lỡ nói với họ là hết phòng rồi.

- Mi ra nói với họ như vầy: Chưởng quỹ chúng tôi nghe nói quý vị mang bạc đi đường xa, gặp thời buổi nhiễu nhương này rất nguy hiểm. Rủi ro gặp giặc cướp thì mất tiền bỏ mạng như không. Chưởng quỹ tôi là người hay làm phước, thuận cho quý vị thuê một phòng tạm ngụ qua đêm, xin quý vị an tâm chớ đi nơi khác.

Phổ ky nghe rõ, quay mình ra mở cửa, thấy ba người vẫn còn đứng chờ, bèn nói:

- Thôi, quý vị khỏi đi đâu kiếm nữa!

Tế Ðiên hỏi:

- Chưởng quỹ của nhà ngươi nghe rồi, thuận cho bọn ta mướn một phòng, sợ bọn ta đem bạc đi mất phải không?

- Phải đó!

- Vậy thì ngươi đi trước dẫn đường đi!

Phổ ky đi trước dẫn đường. Tế Ðiên ba người bước theo vào cửa điếm, thấy trước mặt có một bức tường chắn ngang, phía Ðông là phòng chưởng quỹ, phía Tây là nhà bếp, bên trong đó phía Ðông là một phòng ngụ, phía Tây cũng một phòng ngụ, phía chánh Bắc là một phòng hạng nhất. Tế Ðiên đứng giữa nhà không chịu đi, hít hít mũi, nói:

- Trong nhà này hình như có mùi lạ.

Phổ ky nói: Có mùi gì đâu?

- Có mà, hình như là mùi ăn cướp.

- Hòa thượng đừng nói giỡn vậy chớ! Các vị ở phòng thượng hạng nhé!

- Ðược, phòng thượng hạng mát mẻ, tám mặt đều ăn thông.

- Nhưng mà ở đó không có cửa sổ dán giấy. Xin mời, xin mời quý vị.

Hòa thượng cùng Tô Lộc, Phùng Thuận lên phòng thượng hạng ở phía Bắc. Trong phòng, sát vách có một cái lò sưởi, dựa cửa sổ là một cái bàn bát tiên với hai chiếc ghế. Phùng Thuận và Tô Lộc mệt quá, gặp ghế liền ngồi xuống nghỉ ngay. Phổ ky trước hết đem nước rửa mặt rồi mới bưng vào một bình trà, hỏi:

- Ba vị có muốn dùng cơm không?

Tế Ðiên nói:

- Ngươi dọn cho bốn đĩa, thức ăn đủ loại: chiên xào ram nướng, kèm theo hai hồ rượu.

Tô Lộc, Phùng Thuận nói:

- Bọn tôi không uống rượu đâu, buồn ngủ quá, chỉ muốn ngủ thôi.

Tế Ðiên nói: Hai người không uống thì ta uống.

Phổ ky trở xuống nhà, kêu: Bốn đĩa chiên xào ram nướng, hai hồ rượu trắng, kha khá mê vào!

Tế Ðiên kêu: Này phổ ky, lại đây, lại đây!

- Hòa thượng còn cần thứ chi?

- Ngươi kêu cho ta hai hồ rượu trắng, mê vào kha khá nhé!

Phổ ky nghe nói, cả kinh nghĩ thầm: “Bộ ông Hòa thượng này là người trong nghề sao mà biết vậy cà? Nếu không phải, làm sao ổng biết được tiếng lóng giang hồ?”. Nghĩ rồi liền hỏi:

- Hòa thượng ơi! Ông nói cái gì mà mê vào kha khá?

- Ngươi không hiểu à? Nếu không hiểu để Hòa thượng cắt nghĩa cho nghe.

- Tôi thiệt không biết.

- Ngươi vừa mới nói mê vào kha khá đó mà, sao lại hỏi ta? Ta hỏi ngươi nè, ngươi nói “mê vào kha khá” là nghĩa làm sao?

Phổ ky nghĩ: “Phải rồi, hồi nãy mình mới kêu đây mà, sao lại hỏi Hòa thượng!”. Bèn nói:

- Hồi nãy tôi nói “mê vào kha khá” là bảo đem rượu ngon cho Hòa thượng đó!

- Ừ, ta cũng nói rượu ngon đó, ngươi hãy đi lấy đi!

Phổ ky đi ra một lát, đem rượu vào. Tế Ðiên bèn nhắm một mắt, mở một mắt, nhìn xiêng nhìn xéo, nhìn tới nhìn lui vào bầu rượu. Phổ ky hỏi:

- Hòa thượng ơi, ông kiếm cái gì vậy?

- Ta nhìn xem “nó” nhiều hay ít. Này Lưu phổ ky ngươi họ gì?

- Hòa thượng đã biết họ tôi họ Lưu rồi mà còn hỏi.

- Ta xem ngươi có vẻ dễ thương, chắc là tụi mình có duyên với nhau từ kiếp trước. Nè, lại đây, lại đây, uống với ta một chén rượu nhé!

- Không được đâu! Tôi một giọt cũng không dám uống, hễ có rượu vào là lăn quay, nhân sự bất biết.

- Thì uống chút chút thôi, một chén cũng được mà!

- Cũng không được đâu! Nếu chưởng quỹ biết được tôi uống rượu với khách, ngày mai sẽ đuổi cổ tôi ngay.

- Ngươi không uống rượu này, ta càng thêm nghi, hình như trong rượu có thêm cái chi chi ấy. Ngươi không uống, ta cũng không uống!

- Hòa thượng ơi, ông uống rượu hay không, đâu có dính dáng gì đến tôi. Nếu tôi uống với ông, chưởng quỹ tôi biết được thì rầy rà lắm.

- Cứ uống một miếng đi, có sao đâu mà! Có chết con ma nào đâu mà sợ!

- Thôi để tôi đem rượu hâm nóng lại cho Hòa thượng uống, nãy giờ rượu đã nguội hết rồi.

Phổ ky cầm hồ rượu đến phòng chưởng quỹ, nói:

- Chưởng quỹ ơi, ông Hòa thượng này thật cổ quái. Ðem rượu tới, ông kêu tôi uống, tôi không uống, ông cũng không chịu uống, để tôi đem đổi trước một hồ rượu không có thuốc mê, nếu ổng kêu tôi uống, tôi mới dám uống.

Chưởng quỹ lấy đưa một bình rượu ngon, phổ ky cầm lên phòng, nói:

- Này Hòa thượng, tửu điếm hồi nào tới giờ đâu có lệ phổ ky uống rượu với khách, ông kêu tôi uống, tôi phải xin phép rồi mới dám uống.

- Ngươi đem rượu nóng lên đó phải không?

- Phải, rượu nóng đây, Hòa thượng.

Tế Ðiên ngửa cổ uống một hơi cạn ráo, rồi cầm hồ rượu có thuốc mê đưa cho phổ ky, nói:

- Ngươi uống hồ rượu này đi!

Phổ ky tức giận, bỏ ra ngoài. Tế Ðiên nói:

- Người không uống, ta cũng không uống, uống rượu một mình đâu có ngon.

Bèn ăn hết mấy đĩa thức ăn, bảo phổ ky bưng dọn rồi đóng cửa, lên giường nằm ngủ.

Phổ ky xuống nhà dưới nói với chưởng quỹ:

- Này chưởng quỹ, trong ba người khách này, đáng gờm nhất là ông Hòa thượng khùng khùng đó. Lát nữa có ra tay phải để ý cẩn thận ông ấy mới được.

Lý Hổ nói:

- Không hề chi, lát nữa ta kêu Lý phổ ky cầm dao lên đó, còn mi cứ ở dưới này ngơi nghỉ, khỏi phải lo lắng chi hết.

Lưu phổ ky gật đầu ưng thuận.

Chờ đến canh ba, Lý phổ ky cắp dao hăm hở lên phòng Bắc. Lấy dao nạy chốt cửa phía trên bật ra, lấy tay xô thử, cửa không nhúc nhích. Coi lại chốt cửa trên đã dính lại như cũ.

Phổ ky kêu thầm: Lạ thiệt!

Lại nạy chốt cửa trên bật ra, xô thử, vẫn không nhúc nhích, thì ra chốt dưới lại liền vo. Phổ ky bèn lại bên cửa sổ, xoi một lỗ nhìn vào, thấy bên trong ba người ngủ say như chết, tiếng ngáy pho pho. Phổ ky lại nạy cửa một hồi nữa, cứ nạy trên hít dưới, nạy dưới hít trên, tháo mồ hôi hột vẫn không mở được. Sốt ruột, hắn chạy qua phòng phía Tây, nơi đó có một địa đạo ăn thông lên phòng trên. Lý phổ ky cuốn bức tranh lên và xê dịch chiếc bàn, để lộ một địa đạo vào người đi lọt. Lý phổ ky định khom mình bước xuống, liền cảm thấy cứng đờ, nhấc chân lên không được.

Chưởng quỹ Lý Hổ ngồi ở phòng chưởng quỹ đợi mãi chẳng thấy Lý phổ ky trở lại, bèn bảo Lưu phổ ky đi dò xét xem sao. Lưu phổ ky cắp một ngọn dao đi lên phòng trên, thấy cửa vẫn đóng chặt, cũng không biết Lý phổ ky đi đâu. Lưu phổ ky liền thẳng qua phòng thượng hạng phía Ðông, ở đó cũng có một địa đạo thông qua các phòng trên, hắn đến xê dịch cái bàn, cuốn bức tranh lên, định theo đó xuống địa đạo, nào ngờ vừa bước xuống bỗng thấy mình mẩy cứng đờ, không nhúc nhích được.

Lý Hổ và Mạnh Tứ Hùng ngồi đợi sốt cả ruột mà chẳng thấy hai tên phổ ky trở lại, bèn nóng lòng, mỗi người cắp một cao dao bén chạy lên phòng thượng hạng. Ðến nơi thấy cửa vẫn đóng im ỉm, cũng không biết hai tên phổ ky đi ngã nào! Lý Hổ lấy dao nạy cửa, đi vào phòng trong. Ðịnh thần nghe ngóng, bên trong phòng vang ra tiếng ngáy như sấm. Vén rèm cửa sổ ra xem thấy Hòa thượng nằm ngủ day đầu về hướng Nam, kê gáo dừa sát tấm rèm che cửa hầm, còn hai người kia ngủ say như chết. Lý Hổ nghĩ thầm: “Ba người này thiệt tới số!”. Khoa chân bước tới, giơ dao nhắm đầu Hòa thượng định bổ xuống, bỗng thấy Hòa thượng nhe răng cười một cái. Lý Hổ giật mình nhảy lui một bước, quay mình định chạy. Nghe Hòa thượng vẫn ngáy pho pho như cũ, Lý Hổ lại nghĩ: “Chắc là ổng đang chiêm bao! Nhưng tại sao mình bổ xuống, ổng lại nhăn răng ra cười?”. Bán tính bán nghi hồi lâu, rồi lại tiến gần, đưa dao bổ mạnh xuống. Dao xuống nửa chừng, người cứng ngắc như trời trồng! Tế Ðiên đã dùng phép định thân giữ chặt hắn lại. Mạnh Tứ Hùng đứng ngoài chờ mãi không được, ghé mặt vào nhìn thấy Lý Hổ giơ dao lên mà không chịu chém xuống, lật đật nhảy vào phòng, thò tay nắm chặt cán dao định rút…
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 8:37 PM | Message # 34
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 31

Bắt kẻ cướp, án oan mới giải tỏa
Thi thuật tà, Diệu Hưng tính chuyện xằng


Mạnh Tứ Hùng nhảy tót vào phòng, rút dao ra định giết Tế Ðiên, nào ngờ La hán xoay mình lấy tay chỉ một cái, miệng niệm “Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích”, dùng phép định thân giữ chặt hắn lại. Ðoạn chạy tới đánh thức Tô Lộc và Phùng Thuận dậy, miệng hô hoán lên:

- Làng xóm ơi, ăn cướp, ăn cướp, ăn cướp muốn giết người!

Hô xong, mở cửa phòng chạy mất.

Tô Lộc và Phùng Thuận mở mắt ra, thấy có hai người đứng trước mặt giơ dao ra sáng giới, lật đật tuột khỏi giường, nhảy xuống nhà dưới hô hoảng:

- Ăn cướp, ăn cướp! Muốn giết người! Cứu tôi với, cứu tôi với!

Ðang lúc quan binh tuần tra bên ngoài vừa đến, nghe trong điếm hô “Ăn cướp, ăn cướp”, vị Thiên tổng của địa phương là Lưu Quốc Võ đem 20 quan binh ập vào bắt cướp. Nhân vì lúc trước ở tiệm lụa Hưng Long bị bọn giặc cướp đốt đèn cướp của, cướp đi 50 xấp lụa, 1. 000 lượng bạc, đến nay vẫn chưa tìm ra tông tích thủ phạm. Hôm nay nghe la “ăn cướp”, bèn vội sai binh lính bắc thang trèo qua cửa sổ, vào trong nhà, mở cửa lớn để quan binh vào tra xét. Khi cửa lớn mở ra, Lưu lão gia từ bên ngoài ập vào, hô bắt Tô Lộc trói lại.

Tô Lộc nói:

- Mấy vị đừng trói tôi, tôi không phải là kẻ cướp. Cướp ở nhà trong ấy. Chúng tôi có ba người tất cả. Một ông già tên là Phùng Thuận và một vị Hòa thượng. Chúng tôi từ Lâm An đến đây tìm kiếm một người, mới vào khách điếm này ngụ qua đêm. Vừa rồi có bọn cướp cầm dao định giết chúng tôi, nên chúng tôi mới kêu toáng lên thế.

Quan binh nói:

- Ðược, thiệt giả thì lát nữa sẽ biết, bây giờ hãy trói ngược lại đã. Lần trước, chúng ta đi bắt cướp tại tiệm lụa, nghe la cũng xông vào. Vừa vào cửa thấy có một người đang la, chúng ta tưởng là chủ nhà nên không giữ lại. Ðến chừng vào tới trong mới hay cả nhà bị trói một chùm, còn ăn cướp thì bỏ chạy mất. Chúng ta chẳng biết làm sao hơn, lần này thì chúng ta không mắc lỡm nữa đâu.

Tô Lộc nói:

- Thì mấy ông cứ vào phòng trong coi mặt bọn cướp rồi tìm hai người cùng đi với tôi và hai tên phổ ky sau.

Binh lính kéo vào phòng trong bắt cướp, té ra là Mạnh Tứ Hùng, Lý Hổ, Lưu Ðại và Lý Nhị. Trước hết tước đao của bọn cướp rồi bắt trói họ lại. Ðoạn chia nhau đi tìm khắp nhà mà chẳng thấy hai người kia đâu. Còn đương lo lắng bỗng nghe dưới tàu ngựa có tiếng rên rỉ. Mọi người đổ xô về hướng đó. Thì ra ở đó có một người đang run rẩy nép sát dưới sàn, kéo ra, quả đúng là Phùng Thuận. Hỏi ra, thì trả lời ăn khớp với Tô Lộc, bèn mở thả cho hai người ra. Lại đi tìm Hòa thượng, mọi người đi khắp các phòng mà chẳng thấy bóng Hòa thượng đâu. Tới chừng đi ngang nhà xí, nghe có tiếng ngáy pho pho, mở cửa ra xem, thấy rõ ràng Hòa thượng đang đứng dựa vách ngủ khò. Phùng Thuận chạy đến lắc vai Hòa thượng, gọi:

- Tế Công, người còn ngủ sao? Quan binh đã đến rồi, cướp bị bắt hết rồi, người hãy dậy đi!

Chỉ thấy Hòa thượng mở mắt, vụt la lên:

- Không xong, không xong rồi! Ăn cướp! Bớ người ta, cứu tôi với!

Tô Lộc nói:

- Có ăn cướp nào ở đâu! Sao mà người ngủ say quá vậy?

- Bị ăn cướp làm ồn quá, nên ta ngủ quên đi mất!

Quan binh nói:

- Thôi, lên phòng lấy đồ của các người đi!

Ba người lên phòng thượng hạng phía Bắc, nhìn lại: những nén bạc chỉ là đá cục.

Tô Lộc nói: Hôm qua là bạc mà sao bây giờ thành đá cục hết trọi?

Tế Ðiên chỉ cười mà không nói.

Quan binh dẫn ba người về nha môn Võ Phiếm. Hỏi lại Phùng Thuận, Phùng Thuận bèn từ đầu đến đuôi kể hết một lượt. Lưu Quốc Võ hỏi đến họ tên của bọn cướp. Xong, đoạn viết một tờ trình, rồi cả bọn luôn cả Tế Ðiên ba người đều giải về huyện Dư Hàng phát lạc.

Nói về huyện Dư Hàng đang khổ sở về vụ án Cao Quốc Thái, không biết phải xử trí như thế nào, kế nghe trình quan Thiên tổng ở Ân Gia Ðộ giải về một vụ án. Truyền dẫn bọn Tế Ðiên vào trước, thấy một Hòa thượng áo quần rách rưới vào đứng sững trước công đường.

Quan huyện hỏi:

- Hòa thượng là người ở đâu? Sao lại đến đây? Thấy bản quan sao chẳng chịu quỳ?

Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Ta là Tế Ðiên Hòa thượng ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ đây. Nhân vì:

Tây Hồ có tòa Thành Hoàng san

Thanh Tịnh ni cô nhờ giải nàn

Kiếm giùm cháu rể Cao Quốc Thái

Ngờ đâu lại đến huyện minh oan.

Tri huyện nói:

- Té ra là Tế Công mà đệ tử không biết, xin Ngài thứ lỗi. Thỉnh an tọa, an tọa!

Tế Ðiên ngồi xuống, đem câu chuyện trong điểm đầu đuôi thuật lại. Tô Lộc và Phùng Thuận cúi đầu đứng ở một bên. Quan huyện nghe xong bèn truyền lệnh đem bọn cướp vào. Hai bên sai dịch dạ ran. Trước hết dẫn Mạnh Tứ Hùng vào quỳ trước án. Quan huyện hỏi:

- Này Mạnh Tứ Hùng, quán đó phải của nhà ngươi không?

- Dạ bẩm quan, phải!

- Tại sao lại hại người? Mở điếm bao lâu và có bao nhiêu người bị hại? Nói mau!

- Bẩm lão gia, tiểu nhân là người buôn bán, nào dám hại ai đâu! Nhân vì hồi hôm, trong tiểu điếm bị chộn rộn, tiểu nhân bèn cầm dao rượt kẻ cướp. Nào ngờ gặp quan binh đi tuần đêm bắt tiểu trói lại bảo là ăn cướp, quả tình tiểu nhân vô tội.

- Thôi cho ngươi lui, để ta điều tra lại rồi sẽ định.

Quan binh vào, đem việc bắt cướp trình qua một lượt. Quan huyện dạy đem Lý Hổ vào, chẳng cho hai tên cướp gặp mặt. Lý Hổ đến trước quan huyện, quỳ xuống chờ lệnh. Quan huyện nhìn xuống. Tên giặc tuổi ngoài 30, má lộ, mày ngắn, mặt mày hung ác, nhất định không phải là dân lương thiện, bèn hỏi rằng:

- Lý Hổ, vừa rồi Mạnh Tứ Hùng đã cung khai hết rồi, mi còn chần chờ gì nữa mà không chịu cung khai?

Lý Hổ nghĩ thầm: “Hắn đã cung khai hết, mình còn giấu làm chi nữa!”. Bèn nói:

- Dạ, bẩm lão gia, sự việc đã như thế, tiểu nhân cũng xin khai thiệt. Hai tôi vốn là người ở Ân Gia Ðộ, kết bạn từ hồi để chỏm. Quán trọ này cũng do hai đứa tôi hùn vốn, mở tiệm cũng hơn mười năm rồi. Mỗi khi gặp khách thương ngủ trọ mang theo nhiều bao túi lớn, chúng tôi bỏ thuốc mê vào rượu, cho họ mê rồi đi hại người lấy của. Tính lại có ba, bốn mươi người bị hại vì cách làm ăn của chúng tôi. Năm nay, vào ngày 26 tháng trước, có ba người ở Bồng Lai đảo tỉnh Sơn Ðông đến tiệm chúng tôi. Họ toàn là anh em trong giới lục lâm. Ðứng đầu là Tịnh giang thái tuế Châu Ðiện Minh, tháp tùng có hai đồ đệ là Phiên giang quỷ Vương Liêm và Phá lãng quỷ Hồ Phương. Ba người này nhân việc mua lụa mà gây lộn với người của tiệm lụa Hưng Long, rồi mới đến tiệm chúng tôi. Tối lại, họ rủ chúng tôi đi đánh cướp tiệm lụa Hưng Long, cướp 50 xấp lụa, bạc nén 1.000 lượng. Việc cầm dao kề cổ uy hiếp người làm công, có bốn người của tiệm chúng tôi tham dự. Sau khi cướp được đem về, phân chia không đồng đều, Châu Ðiện Minh tức giận bỏ đi. Hôm qua, có vị Hòa thượng đem theo hai người vào trọ trong tiệm tôi, vì thấy họ có nhiều bạc nên chúng tôi sai phổ ky đi ám hại họ, nào ngờ việc không thành, lại bị quan binh bắt được. Sự việc như thế, tiểu nhân cứ việc thưa trình, không dám giấu quanh.

Quan huyện nghe xong, dạy đem Lưu Ðại và Lý Nhị hai tên phổ ky ra tra hỏi. Chúng đều cung khai tất cả. Sau cùng đem Mạnh Tứ Hùng đến đối chất. Hắn đành cúi đầu nhận tội. Sau khi viên thư lại chép lời khai việc đánh cướp tiệm lụa Hưng Long của bốn tên xong, không thấy đề cập đến Cao Quốc Thái và Lý Tứ Minh trong đó. Quan huyện truyền đem Cao Quốc Thái với Lý Tứ Minh thả trước, rồi truyền đem Lãnh Nhị đánh 40 roi, giam lại răn chúng, kế đến đem Mạnh Tứ Hùng đánh 40 côn, cả bọn Lý Hổ và hai phổ ky đều giam vào ngục thất.

Phùng Thuận thấy Cao Quốc Thái được thả ra, vội bước đến xá Cao Quốc Thái và nói:

- Mấy lúc tiên sinh đi đâu? Chúng tôi tìm kiếm mãi mới đến đây.

Cao Quốc Thái mới đem hết sự việc thuật lại. Tế Ðiên thấy việc án đã xong, bèn cáo từ quan huyện. Bọn Cao Quốc Thái kéo nhau đến ra mắt chào hỏi. Lý Tứ Minh nói:

- Trước hết xin mời Tế Công và Cao huynh với hai vị quản gia cùng về nhà tôi nghỉ đỡ rồi ngày mai về sớm.

Tế Ðiên nói:

- Cũng được. Mọi người đang ra cổng phía Tây, Tế Ðiên mới hỏi Cao Quốc Thái:

- Tiền của Vương Thành Bích cho thầy, bị tên nào lấy mất vậy?

Cao Quốc Thái nói:

- Ðệ tử không biết là ai. Thánh tăng biết, xin người từ bi chỉ giùm.

Tế Ðiên cười hà hà, nói:

- Thầy hãy coi kìa!

Bèn lấy tay chỉ một cái, bỗng thấy từ trong ngõ nhà Lý Tứ Minh có một người đi ra. Người này độ tuổi hơn 20, nước da xanh tái, mày ngắn mắt nhỏ, đầu đội mũ rộng, mình mặc ái vải xanh, giày xanh vớ trắng, đôi mắt giống như mắt gà rừng đảo qua liếc lại hai bên.

Lý Tứ Minh nói:

- Ðây là em vợ của Lãnh Nhị, tên là Hạ Nhất Khiêu, lâu nay làm nghề móc túi trong chợ, hắn là tên trộm giữa ban ngày, không việc ác nào từ nan.

Hôm nọ Cao Quốc Thái đổi bạc trong tiệm bị hắn nhìn thấy mới khởi ý gian, giả bộ làm người vào thành, đụng mạnh cho Cao Quốc Thái xiểng liểng, thừa cơ cướp gói bạc đi. Hắn vào sòng bài, thua sạch trong hai đêm. Bữa nay mò đến nhà Lãnh Nhị mượn tiền, nào ngờ hỏi lại hàng xóm mới hay Lãnh Nhị bị mắc việc quan. Ðang lúc trở ra tới ngõ, hắn gặp Lý Tứ Minh và mấy người trở về. Tế Ðiên đưa tay chỉ một cái, Hạ Nhất Khiêu bỗng nhiên nói:

Quí vị coi tôi đây, bữa nay tới hồi trả quả rồi.

Nói rồi, đưa tay vả miệng lia lịa, vừa chạy tuốt ra bờ sông nhảy ùm xuống mất tăm. Hôm sau, người ta vớt xác đem trình, quan địa phương khám nghiệm, trình báo là có một thây đàn ông vô danh chết trôi và cho lệnh chôn cất.

Lý Tứ Minh mời mọi người vô nhà, bày tiệc rượu khoản đãi Tế Ðiên. Cao Quốc Thái nói:

- Này Lý hiền đệ, phiền em đến ngoài cửa Nam tìm anh Vương Thành Bích, đem sự việc này nói ảnh nghe và thay lời ta cảm tạ anh ấy.

Lý Tứ Minh nói: Ngày mai tôi sẽ lo việc đó cho anh.

Rồi mời Tế Ðiên và mọi người nghỉ lại qua đêm. Sáng hôm sau, Tế Ðiên dẫn Cao Quốc Thái, Phùng Thuận, Tô Lộc từ huyện Dư Hàng nhắm đường cái đi về Lâm An.

Ngày kia đến một thị trấn, người qua lại đông vầy, bán buôn tấp nập. Qua một ngã tư, nhìn qua phía Bắc có một tòa cổng lớn, bên trong đắp một toà pháp đài 3 trượng 6 thước, phía bên trên treo giấy màu ngũ sắc chia ra hai bên rõ ràng. Tế Ðiên nhìn thấy bèn án linh quang, vỗ ba cái, nói:

- Lành thay! Lành thay! Hòa thượng ta gặp việc này đâu lẽ khoanh tay làm ngơ!

Nguyên thị trấn này tên là Vân Lan trấn, nhà ở đường Bắc chính là của một viên ngoại họ Lương tên Vạn Thương, gia tư rất cự phú, nhưng dưới gối chỉ có một đứa con trai tên là Sĩ Nguyên. Lão viên ngoại là người ưa làm bố thí, chuyên sửa cầu bồi lộ, cúng thí Tăng đạo, ấn tống kinh sách. Nhân có một lão đạo sĩ ở địa phương khuyến hóa 100 lượng bạc, nói là để sửa chữa điện Phật, và lấy bạc đem đi. Ít ngày sau, lão viên ngoại đi thăm người quen ở đường Tây lại gặp lão đạo sĩ ấy từ viện yên hoa (bình khang) đi ra. Lão viên ngoại trở về nhà nói với gia nhân rằng:

- Té ra lâu nay mình cúng thí tiền của cho mấy cha đạo sĩ về liễu giỡn hoa chơi. Thôi từ nay dẹp chuyện cúng thí đó đi.

Gia nhân là Lương Tu Ðức nói:

- Viên ngoại là người ưa làm phước, địa phương chúng ta mấy năm nay mất mùa, gạo đắt như vàng, sao viên ngoại không nhân cơ hội làm phước thiện, lập một chỗ nấu cháo thí giúp đỡ cho người đói kém nghèo khổ ở địa phương xa gần?

Viên ngoại nghe nói rất mừng, lập tức làm tờ bẩm với quan chức địa phương rồi lựa ngày khai thí cháo. Mỗi ngày, người đến ăn cháo sớm, ăn xong còn được nhận thêm 100 văn, mọi người đồn nhau đến ăn chật cổng. Hơn nửa tháng, ngày nào Lương viên ngoại cũng ở ngoài cửa nhìn mọi người ăn cháo. Một ngày kia, khoảng gần trưa, Lương Sĩ Nguyên đứng chơi ngoài cửa, vừa xem mọi người qua lại. Bỗng thấy từ cửa chính Tây có một lão đạo sĩ đi lại. Vị này tuổi trên 50, đầu đội mão đạo màu xanh, sau lưng giắt một bảo kiếm, tay phe phẩy một phất trần, mặt như màu giấy ô kim, tròng đen ánh màu sáng, mày to mắt lộ, râu ngắn lòa xòa trước cổ. Khi thấy Sĩ Nguyên, lão đạo sĩ liền nảy sinh ác ý.


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Chủ Nhật, 01 Apr 2012, 9:14 PM | Message # 35
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 4981
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 32

Trấn Vân Lan ác đạo tác yêu
Lương Vạn Thương ở hiền gặp lành[/b]

Lương Sĩ Nguyên đứng chơi trước cửa, bỗng thấy từ hướng Tây đi lại một vị đạo nhân, đứng trước mặt và nói:

- Vô lượng thọ Phật, thiện tai, thiện tai! Bần đạo rảnh dạo tam sơn, nhàn chơi ngũ nhạc, phỏng đạo tầm tiên, khéo xem khí sắc, giỏi đoán cát hung, xem ra tướng mạo công tử ngũ quan đoan chính, quyết định sẽ làm nên nghiệp lớn.

Lương Sĩ Nguyên nghe thế vội cúi mình thi lễ và nói:

- Dám hỏi đạo gia quý tánh là chi? Ở tại danh sơn nào? Tham tu ở động phủ nào? Ðệ tử muốn xin lãnh giáo.

- Bần đạo xuất gia ở Tường Vân quán trên núi Ngũ Tiên cách đây năm dặm về phía Bắc, họ Trương, tên Diệu Hưng, chuyên về tướng pháp.

- Ðạo gia là người giỏi tướng pháp, xin ngài vui lòng xem giùm đệ tử.

Ðạo nhân nghe thật đúng ý mình. Ông ta đến đây cũng có duyên cớ.

Số là sau khi du phương trở về thấy tường vách vẹo xiêu, đại điện trống rỗng, bèn rầy sư đệ là Diệu Thông sao không lo hóa duyên sửa lại, cứ lo đi xin cơm nhà thí chủ hoài. Diệu Thông nói:

- Tôi không thể hóa duyên được, nay có nhà Lương thiện nhơn ở trấn Vân Lan này không chịu ứng duyên nữa, mà lại lập ra lò cháo múc thí cho người nghèo trong vùng. Ấy cũng tại người trong đạo gia chúng ta làm hư việc đó thôi! Trước đây có một vị trong đạo gia chúng ta đến nhà Lương thiện nhơn hóa duyên 100 lượng bạc nói rằng đem về sửa Phật điện, sau đó Phật điện không được sửa mà đem vào chốn yên hoa. Một ngày nọ ông ta từ viện yên hoa đi ra bị Lương viên ngoại bắt gặp, từ đó lão viên ngoại không chịu thí xã cho các Tăng đạo nữa. Tôi còn biết đi đâu khuyến hóa bây giờ!

Diệu Hưng nói:

- Ðược, để ngày mai ta đi. Phen này không khuyến hóa Lương thiện nhơn được, ta chịu phục sư đệ sát đất.

Nghe Lương Sĩ Nguyên nhờ xem tướng số, Diệu Hưng có ý định thi triển “Ngũ quỷ đinh đầu pháp, thất tiễn tỏa dương hầu” để ám hại, bèn bước tới cầm tay công tử mà nói:

- Tướng mạo công tử đây thật tốt vào hàng bậc nhất, mày thanh mắt sáng này đúng là dòng dõi thi thơ lễ nhạc, nhờ tổ tông phước đức sâu dầy, thật là ngọc đẹp trong đá, phụng trong bầy gà, tuy thích ngao du sơn thủy, nhưng bảng hổ vẫn có phần. Ngặt vì quan tinh chưa tỏ lộ, khi quan tinh chưa tỏ, công danh suýt đạt mà không đạt, vận may sắp được mà không thành, khác nào chim hạc bay vút từng mây lại sa vào bụi gai vướng lại, cá kình đang ở ao bùn, chưa gặp nước Tam giang đâu thể cởi vẩy hóa rồng? Công tử hãy đem ngày sinh tháng đẻ nói cho tôi biết, tôi sẽ liệu tìm cách giúp cho.

Sĩ Nguyên tưởng thiệt, nói thật ngày sinh tháng đẻ của mình. Ác đạo Diệu Hưng nghe rồi nhớ lấy, ngầm bắt quyết niệm chú, thừa lúc Lương Sĩ Nguyên không phòng bị, đánh ngang mặt một chưởng, đem ba hồn bắt lấy một hồn, bảy phách bắt đi hai phách (thâu lấy hồn phách). Lương Sĩ Nguyên rùng mình ngã lăn ra đất bất tỉnh. Ác đạo lật đật trở về miếu, bảo sư đệ lấy cỏ khô bện thành một hình nộm, lấy bút son viết ngày sinh tháng đẻ của Sĩ Nguyên rồi dùng 7 cây kim mới ghim vào tim hình nộm. Lưu Diệu Thông là một người trung hậu, thấy vậy bèn hỏi:

- Anh định hại ai vậy?

Trương Diệu Hưng nói:

- Sư đệ đừng có lo, ta chẳng muốn hai ai đâu, ta chỉ ác hóa Lương viên ngoại thôi mà.

Từ đó mỗi ngày Diệu Hưng đều đến Vân Lan trấn. Nhắc lại sau khi Diệu Hưng đi rồi, Sĩ Nguyên ngã lăn ra đất, gia nhân lật đật hè nhau khiêng vào phòng trong. Lương viên ngoại nghe nói, hồn bay ngàn dặm, sợ hãi vô cùng, vì đã 60 tuổi mà dưới gối chỉ có một mụn con trai, nếu lỡ có bề gì, thật là bất hạnh, vội sai gia nhân mời danh y đến để trị bệnh cho công tử. Lương y đến bắt mạch xong lắc đầu nói:

- Hồn phách đã bị bắt mất rồi, uống thuốc cũng vô hiệu.

Viên ngoại lật đật đặt bàn cầu đảo khấn vái, nguyện cho con hết bệnh sẽ hoàn thành đại nguyện. Liên tiếp mấy ngày cầu đảo, bệnh công tử không thấy thuyên giảm chút nào. Ngày kia, sáng sớm viên ngoại ra đứng ngoài cửa xem người đến lãnh cháo mà lòng dàu dàu không vui. Bỗng thấy người đàn bà từ phía Nam đi lại. Trước chị ta có ba đứa trẻ khoảng một, hai tuổi, phía sau chị dắt hai đứa khoảng bảy, tám tuổi, trên lưng cõng một bé trai khoảng ba, bốn tuổi, trước bụng buộc chặt một đứa độ một tuổi. Lương viên ngoại thấy thế, nói:

- Chao ôi! Cái nhà chị này dẫn dắt con cái nhà ai mà nhiều thế! Bây đâu, ra mời chị ấy đến ta hỏi thăm.

Gia nhân đi ra nói:

- Này chị, viên ngoại chúng tôi có lời mời chị.

Chị ta đến trước viên ngoại từ từ thả hai đứa bé xuống đất, cúi đầu chúc phúc:

- Cầu chúc viên ngoại được tam đa cửu khánh, nhiều phước, nhiều thọ, nhiều con cái, phước thọ miên trường.

Viên ngoại hỏi:

- Mấy đứa bé này đều là con nhà chị hết phải không?

Người đàn bà thưa:

- Tôi họ Triệu, nhân vì chồng tôi buôn bán phương xa chưa về, mấy đứa nhỏ này còn bé quá, chỉ biết ăn chứ chưa biết làm, lại gặp mấy năm mất mùa đói kém, mẹ con tôi đến đây nhờ vào phần cháo chu cấp này tạm lây lất qua ngày.

Lương viên ngoại bảo gia nhân:

- Lấy 10 tiền điếu cho mấy đứa trẻ này.

Người đàn bà cúi đầu cảm tạ, cầm tiền ra đi. Lão viên ngoại nghĩ rằng: “Chị đàn bà này dù nghèo khổ nhưng còn có 7 đứa con, về sau chúng lớn lên thật là được việc quá, ta đây dù giàu có bạc muôn lại chỉ có một đứa con mà nay lại mắt bệnh như vầy. Ta nghĩ rằng người ta sống ở đời đều có số mạng cả. Số phải không con, dù cho cầu khấn Phật Trời cũng lại vô ích mà thôi!”.

Ðang suy nghĩ như vậy thì thấy từ hướng Tây đi lại một lão đạo sĩ mình mặc áo bát quái xanh, chân mang giày đen, sắc mặt màu chì với một bộ râu quai nón, sau lưng đeo một thanh bảo kiếm, miệng nói:

- Vô lượng Phật, thiện tai, thiện tai, bần đạo nhàn du tam sơn, dạo khắp ngũ nhạc, mà chưa bao giờ thấy nơi nào xấu như nơi đây.

Lương viên ngoại nghe nói lật đật đi đến chào hỏi:

- Xin mời tiên trưởng, trong nhà tôi phạm phải ngũ quỷ phi liêm sát, mong cầu tiên trưởng làm phước phá giùm cho.

Lão đạo sĩ nghe thấy, nói:

- Viên ngoại phải đưa tôi xem xét thật kỹ mới được.

Viên ngoại bèn đưa đạo sĩ vào nhà, đi xem khắp nơi, sau khi xem xong đạo sĩ vào thư phòng của viên ngoại, nói:

- Ngày mai viên ngoại cho đắp bên trong cửa ngõ một pháp đài cao ba trượng hai thước, trên đó để sẵn một cái bàn bát tiên, một ghế thái sư, lại thêm một bó nhang dài, năm cái lư hương, một tờ giấy vàng lớn, một cây bút mới, một gói bạch cập, một bao chu sa, một chén nước rau thơm nấu bằng nước mưa, một mâm ngũ cốc. Trước pháp đài để sẵn một mớ dây ngũ sắc xanh vàng đỏ trắng đen áng theo năm hướng ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ. Lại để sẵn trên đài năm trăm lượng bạc để ta gieo rải phước đức cho ông. Như thế kiếp sát của nhà này mới có thể giải được. Sau khi giải ngũ quỷ xong rồi sẽ trị bệnh cho công tử.

Viên ngoại nghe nói thế trong lòng rất mừng, vội bảo gia nhân đưa trà đến mời và nói:

- Ðệ tử vô phép xin hỏi quý danh tiên trưởng là chi, hiện tu luyện ở phủ nào?

- Viên ngoại vì bận nhiều việc nên quên đấy thôi chứ tôi vẫn thường đến đây luôn mà. Tôi họ Trương tên là Diệu Hưng, hiện tu ở Tường Vân quán trên núi Ngũ Tiên cách phía Bắc thôn này năm dặm.

- Té ra là người lân cận, tôi thật thất kính quá!

Nói rồi hối gia nhân đãi cơm. Ðạo sĩ lật đật xua tay, nói:

- Viên ngoại bất tất phải bận tâm, để hôm khác tôi sẽ lại quấy rầy. Hôm nay tôi phải về miếu để chuẩn bị một vài việc, ngày mai tôi sẽ đến đây để trừ tai sát cho viên ngoại.

Nói rồi đứng dậy cáo từ. Viên ngoại đích thân đưa ra tận cửa, cung kính vái chào. Sau khi đại sĩ đi rồi, viên ngoại hối bảo gia nhân lập ngay một tòa pháp đài cao và sắm sửa các thứ cần dùng như đã dặn. Mọi người trong nhà gấp rút thi công đến tối mịt các việc mới tạm xong. Ngày kế, mọi người đều ngóng chờ đạo sĩ tới mà không thấy bóng dáng đâu. Cho đến lúc mặt trời đứng bóng, tin tức của lão đạo sĩ chẳng thấy mà lại thấy có một vị Hòa thượng đến gõ cửa.

Nguyên là Tế Ðiên đưa bọn Cao Quốc Thái, Tô Lộc và Phùng Thuận từ huyện Dư Hàng về kinh đi ngang qua đó nhìn lên thấy phía trong cổng có một pháp đài bèn án linh quang biết rõ sự việc, mới nghĩ thầm: “Ðồ nghiệt súc, dám ở đây mà hưng yêu tác quái chứ!”. Nghĩ rồi bèn dặn bọn Cao Quốc Thái:

- Các ngươi ở đây chờ ta một lát nhé.

Tế Ðiên rảo bước thẳng đến cổng lớn thấy mấy người gia nhân đứng ở trước cổng, vội nói:

- Kính chào quí vị, Hòa thượng ta có việc đi ngang đây từ sớm tới giờ chưa có hột cơm nào trong bụng, xin hóa viên ngoại ở đây một bữa cơm làm phước.

Các gia nhân nói:

- Hòa thượng ơi, ông đến trễ rồi, ông hãy nhìn lên cổng chúng tôi không thấy tấm bảng đề “khước từ mọi hóa duyên” hay sao? Viên ngoại chúng tôi trước kia vốn là người thiện tâm rất ưa trai tăng thí đạo, mà bây giờ tăng hay đạo viên ngoài chúng tôi đều không chịu cúng thí nữa, phải ông tới sớm một chút xửng cháo này có thể múc cho ông một phần, bây giờ trễ rồi, ngày mai ông lại đến nhé.

Tế Ðiên nói:

- Hồi sớm tới giờ tôi chưa có hột cơm nào trong bụng, xin quý vị từ bi giúp đỡ giùm.

Có một vị quản gia đứng một bên rất ưa làm việc thiện, thấy Hòa thượng kiếc này có vẻ đáng thương, mới nói:

- Hòa thượng ơi, có một phần cơm canh dành cho tôi mà hồi sáng tới giờ vì trong người không khỏe nên tôi chưa đụng tới, để tôi lấy cho ông nhé.

Nói rồi trở vào đem phần cơm ra cho Tế Ðiên. Tế Ðiên đưa tay ra nhận, lão quản gia vừa rút tay về, Tế Ðiên cũng đồng rút tay lại. “Bốp” một tiếng, cả chén và cơm đều văng tóe ra đất. Lão quản gia nói:

- Cái ông Hòa thượng này, tôi có lòng tốt đem cơm canh trước lo cho ông, tại sao ông lại đánh vỡ bát thế?

Tế Ðiên cười khà và nói:

- Ông cho Hòa thượng ta ăn cơm thừa hả?

- Ông không muốn ăn cơm thừa hả? Vậy chớ ông muối ăn cái gì?

- Ta muốn hả, phải có trái cây tươi roi rói, thịt ướp xào thơm, canh mì ngọt lịm, gà cá thịt vịt đầy bàn, rồi mời Hòa thượng ta ngồi một mình ở chánh vị và kêu viên ngoại các người đứng bồi tiếp một bên, ta mới chịu ăn.

Gia nhân nghe thế nổi giận phừng phừng nói:

- Cái ông Hòa thượng khùng này, mở miệng ra là nói bậy nói bạ! Viên ngoại chúng ta mà đi hầu cơm ông hả, ông có nằm mơ không đấy? Muốn kêu viên ngoại chúng tôi hầu cơm ông họa may ông đầu thai kiếp khác thì có!

Tế Ðiên nói:

- Các ngươi nói có chắc không đó? Hòa thượng ta nếu hóa không được bữa cơm như vậy, ta chịu thua các người.

Nói xong Tế Ðiên hô lớn:

- Có hóa duyên tới đây! Ôi!

Lấy tay vuốt miệng một cái rồi rải vào cửa lớn. Các gia nhân thấy thế bụm miệng cười khúc khích, Tế Ðiên hô liên tiếp ba lần như vậy thì nghe bên trong có tiếng hỏi:

- Bên ngoài có ai làm ồn thế?

Một vị viên ngoại từ trong đi ra. Tế Ðiên nhìn lại, vị viên ngoại này mình cao tám thước, đầu đội khăn viên ngoại, song diệp tiêu diêu có thêu hoa, thân mặc áo đoạn viên ngoại màu xanh lam, chân mang giày quan thấp đế, mặt như cổ nguyệt ba thu, mắt mũi hiền từ, dưới cằm một chòm râu bạc, từ bên trong đang đi tới, muốn thỉnh La Hán trị bệnh cho con mình. Thật là:

Làm phước gây nhơn lành phước hưởng

Gây ác hại người ác quả vương.


AToanMT
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:29 PM | Message # 36
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 33



Rắp mưu gian, ác hóa Lương Bá Vạn
Phát từ tâm, La Hán cợt Diệu Hưng




Tế Ðiên đang kêu gào hóa duyên thì thấy Lương viên ngoại từ trong nội viện đi ra hỏi:

- Ai ở ngoài cổng mà làm ồn thế?

Tế Ðiên bước tới trước hết chào hỏi rồi nói:

- Viên ngoại muốn biết hả? Thì Hòa thượng ta đây nè. Ta có việc đi ngang qua đây, đã lâu ngưỡng mộ viên ngoại là người hiền đức mà nhìn thấy ngôi nhà này phạm phải ngũ quỷ phi liêm sát, trong nhà chắc phải có người bệnh, ta muốn làm phép an trạch trừ sát lũ quỷ trị bệnh giùm. Khi tới cổng vào, mấy đứa gia nhân đòi ta tiền vô cửa, ta nói không phải đến xin viên ngoại làm sao có tiền mà cho người? Vì thế mà cãi cọ rùm lên như vậy.

Viên ngoại nghe thế nói:

- Bọn tôi tớ này, không biết bọn bây làm bao nhiêu việc lôi thôi ngoài cổng.

Gia nhân nói:

- Thưa viên ngoại, không phải thế đâu, ông ấy tới đây trước nói là hóa duyên.

Rồi đem những sự việc vừa rồi thuật lại cho viên ngoại nghe. Viên ngoại nghe xong cũng không lý luận gì, giây lát mới hỏi:

- Xin hỏi ngôi bảo sát của Hòa thượng ở đâu?

Tế Ðiên đáp:

- Ta ở chùa Linh Ẩn nơi Tây Hồ, Hàng Châu, ta tên Ðạo Tế mà người ta đồn đại là Tế Ðiên tăng cũng chính ta.

Lương viên ngoại nghe xong nhìn bộ dạng Tế Ðiên như thế, bán tín bán nghi nhưng vẫn nói:

- Ðã là Tế Công, xin Ngài mờ long từ bi theo để tử vào trong này.

Tế Ðiên theo viên ngoại thẳng lên gian thượng phòng phía đông. Ðến nơi nhìn thấy trên giường Lương Sĩ Nguyên nằm dài bất động trong tình trạng hôn mê bất tỉnh, hai bên có rất nhiều vú em, gia nhân phục thị. Lương viên ngoại nhìn thấy con, lật đật kêu:

- Con ơi! Lương Sĩ Nguyên, tỉnh lại con!

Kêu liên tiếp mấy tiếng vẫn thấy Lương Sĩ Nguyên hôn trần nhơn sự bất biết, ngay cả đầu cũng không nhúc nhích. Tế Ðiên nói:

- Viên ngoại đừng có lo, để ta bảo nó nói vài câu, ăn được tí chút, giây lát sẽ thấy hiệu nghiệm ngay.

Lão viên ngoại rất mừng, vội nói:

- Nếu được như thế xin Thánh tăng mở lượng từ bi giúp giùm cho cháu.

La Hán gia bèn đưa tay lột mũ đang đội ra, bảo người nhà nâng Lương Sĩ Nguyên dậy, rồi từ từ cầm cái mũ đội lên đầu Sĩ Nguyên, trong miệng niệm lục tự chơn ngôn: “Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích!”. Mọi người thấy Lương Sĩ Nguyên từ từ mở mắt ra thở một hơi dài, nói:

- Mau đem cho ta một miếng nước!

Lão viên ngoại thấy rất vui mừng, khen hay luôn miệng. Tế Ðiên nói:

- Thôi, nghỉ một lát, bây giờ xin viên ngoại một bữa cơm có được không?

- Bạch Thánh tăng, xin Ngài đừng nói thế, đừng nói chỉ một bữa mà cúng dường lão nhân gia thường thường cũng được mà!

- Không cần phải thế!

- Bạch Thánh tăng, Ngài muốn ăn món chi, để tôi sai sắp nhỏ sửa soạn?

- Viên ngoại cứ bảo đầu bếp lại đây, tôi sẽ dặn nó.

Giây lát đầu bếp tới, Tế Ðiên dặn:

- Ngươi dọn cho ta: chè đường một miếng, trái cây tươi rói, thịt ướp xào thơm, cao lương hải vị đầy bàn rồi dọn lên gian giữa nhà ngoài cho ta.

Ðầu bếp vâng dạ đi ngay. Hễ nhà giàu không hứa thì thôi, mà đã hứa thì thứ gì lại không có đủ. Gia nhân lo dọn bàn ghế. Giây lát, đầu bếp đưa lên thức ăn còn bốc khói. Viên ngoại vội mời Tế Ðiên ngồi ở ghế trên uống rượu. Viên ngoại lại nghĩ: “Cái mũ của Hòa thượng hay quá! Biết bao linh đan diệu dược cũng không bằng! Ðể ta hỏi Ngài cần bao nhiêu tiền để nài lại cho con ta đội”.

Viên ngoại nghe bên trong Sĩ Nguyên cũng đòi uống nước đường và thèm ăn, trong lòng rất mừng và nói:

- Diệu pháp của Thánh tăng thật tài tình, ra tay là hết bệnh!

- Viên ngoại thấy cái mũ ta có tốt không?

- Tốt lắm!

- Tốt thì tốt thật, nhưng ta muốn kiếm người nào thích bán nó cho rồi.

Viên ngoại nghe nói thế như mở cờ trong bụng, vội hỏi:

- Bạch Thánh tăng, Ngài muốn bán bao nhiêu?

Viên ngoại muốn ta để lại cũng tốt thôi, chỉ cần viên ngoại đem cả gia tài sự nghiệp phòng nhà điền thổ giao hết cho ta, ta sẽ để lại cái mũ ấy cho viên ngoại.

Lão viên ngoại lắc đầu lia lịa, nói:

- Ðệ tử mua không nổi với giá đó.

Gia nhân lúc đó cũng vừa mang cơm rượu lên xong, viên ngoại bồi tiếp Tế Ðiên uống rượu. Tế Ðiên nói:

- Viên ngoại nè, ông kêu người quản gia coi việc gác cổng vào đây ta hỏi thăm một chút!

Viên ngoại vội bảo gia nhân kêu vào. Giây lát quản gia đến trước mặt, thưa:

- Thưa viên ngoại, người bảo tôi vào, có điều chi dạy bảo?

Tế Ðiên nói:

- Hồi nãy ta nói muốn xin một bữa cơm thượng hạng đầy sơn hào hải vị trái tươi roi rói, thịt ướp xào thơm, đường tảng mật miếng và kêu viên ngoại đứng bồi tiếp rượu. Ngươi thấy có đúng không?

Gia nhân nói: Ðúng!

Tế Ðiên nói:

- Này viên ngoại, xin người mở lòng từ bi bố thí cho, có ba người cùng đi với tôi hiện đứng chờ ngoài cổng. Họ chưa ăn uống gì!

Viên ngoại lật đật cho người mời vào và dặn sửa soạn một tiệc rượu bên nhà ngoài tiếp đãi họ. Gia nhân nghĩ: “Cái ông Hòa thượng kiếc đến nỗi quần áo không chỗ nào lành lặn, mấy người đi theo ông ta chắc còn tệ hơn nữa”. Nghĩ rồi bèn ra cửa kêu lớn:

- Ai đi với ông Hòa thượng kiếc đâu?

Cao Quốc Thái đáp: Chính tôi đây!

Gia nhân nhìn lại, thì ra là một vị nho lưu tú tài anh tuấn phi phàm, ăn mặc chỉnh tề. Gia nhân hỏi:

- Còn hai vị nữa đâu?

Tô Lộc và Phùng Thuận cùng bước tới nói:

- Bọn tôi cùng đi với lão Hòa thượng đây.

Lương Phước thấy hai người ăn mặc còn đẹp đẽ hơn. Tô Lộc là người hầu của Tô Bắc Sơn viên ngoại nên trang phục còn có phần sang trọng. Lương Phước thầm nghĩ: “Hòa thượng có tiền đem cho mấy người nầy hết trọi”.

Bèn vội vàng bước ra ba người vào phòng ngoài mời ăn uống. Bên trong lão viên ngoại đang cùng Hòa thượng uống rượu, luận bàn thế sự đang hồi cao hứng. Bỗng từ bên ngoài, một gia nhân chạy vào kề tai viên ngoại nói nho nhỏ không để Hòa thượng nghe:

- Thưa viên ngoại, đạo gia đã đến!

Câu nói đó làm cho viên ngoại ở trong tình trạng thật khó xử. Nếu có lòng ở lại tiếp chuyện với Hòa thượng thì sợ đạo gia tức giận bỏ đi: nếu chạy ra tiếp rước đãi đằng lão đạo thì e Hòa thượng lại nổi giận! Trong lòng viên ngoại nghĩ: “Dù là ai, ta cũng không nên đắc tội, bất kỳ là Hòa thượng hay lão đạo, vị nào cũng đến cứu trị cho con ta, ta đều phải cảm tạ hết”.

Ðương lúc khó xử đó, bỗng nghe Tế Ðiên nói:

- Viên ngoại nè, hình như ông có người bà con mới đến phải không? Ra tiếp đi chứ, đừng câu nệ làm chi.

Câu nói đó làm viên ngoại như cất đi gánh nặng, vội đáp:

- Thưa, phải.

- Ông cứ đi tiếp đãi người bà con đó, dù gì cũng là người nhà, không chừng là dì của bầy trẻ đó.

Viên ngoại cười cười, đứng dậy dặn dò gia nhân:

- Mi phải hầu rượu Thánh tăng cẩn thận, ta đi ra xem thử, một lát sẽ trở lại hầu rượu Thánh tăng.

Nói rồi lật đật đi ra thư phòng bên ngoài. Lão viên ngoại ra đến thư phòng đã thấy lão đạo sĩ đang ngồi ở đó, gia nhân đứng hâu bên chào, vội bước tới thi lễ, nói:

- Tiên trưởng giá lâm mà tôi không ra tiếp rước kịp, thật là lỗi muôn phần.

Trương Diệu Hưng nói:

- Viên ngoại nói chi những lời ấy? Ðã là tri kỷ mà còn khách sáo làm chi!

Lương viên ngoại lật đật bảo gia nhân rót rượu và hỏi:

- Tiên trưởng dùng chay hay dùng mặn?

- Chay mặn đều được tất.

Gia nhân liền lau dọn bàn ghế, chén bát bày ra, giây lát một mâm rượu thịt thịnh soạn. Viên ngoại tự tay rót rượu mời lão đạo, vừa bồi tiếp vừa bàn chuyện nhân tình thế thái. Lương viên ngoại nói:

- Thưa tiên trưởng, tôi muốn hỏi thăm Ngài về một người, không biết Ngài có biết không?

- Ai vậy? Hễ có tên là ta biết, không tên thì đành chịu.

- Ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ có một vị tên là Tế Ðiên Công, không biết Ngài có biết người đó không?

Lão đạo trong lòng rung động, nghĩ thầm: “Nếu mình nói Tế Ðiên có nhiều phép lạ, chứng tỏ rằng mình thua kém ông ta sao”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Người mà viên ngoại nói đó, có phải là ông thầy chùa Tế Ðiên điên điên khùng khùng ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ không? Ối, cái bọn tép riu ấy có gì đáng nói!

Câu nói ấy vừa thốt ra, bỗng nghe trong viện có tiếng:

- Hay cho tên đạo sĩ lộn song kia, dám ăn nói hỗn hào chứ!

Bức rèm được vén lên, người bước vào chính là Tế Ðiên. Lão viên ngoại thấy Tế Ðiên bước vào, trong lòng thầm nghĩ: “Bọn gia nhân thật chết đi được! Mình bảo chúng hầu rượu Hòa thượng cho tử tế mà sao bọn chúng lại để cho Hòa thượng ra đây? Thảng như hai bên gặp mặt, lời qua tiếng lại thật bất tiện biết bao!”.

Sự thật thì sau khi viên ngoại bước ra một lát, Tế Ðiên đang ngồi li bì uống rượu, bỗng đứng rột dậy, bước ra nhà trong, đến bên Lương Sĩ Nguyên chộp lấy chiếc tăng mão Sĩ Nguyên đang đội, chụp lên đầu mình. Lương Sĩ Nguyên đang nói nói cười cười bỗng ngã ngang hôn mê như cũ. Gia nhân hỏi:

- Hòa thượng ơi, ông lột mũ xuống chi vậy?

- Ðội mũ một lát đó đủ giá một mâm cơm rượu rồi.

- A, Ngài muốn đổi cơm rượu à? Thì Hòa thượng cứ đội cho công tử đi, không đợi viên ngoại dặn, chúng tôi xin dọn thêm một mâm khác nữa cho Hòa thượng dùng.

- Thôi, bây giờ ta không đói, chừng nào đói sẽ tính nữa.

Nói rồi rảo bước ra ngoài. Gia nhân hỏi:

- Hòa thượng định đi đâu đó?

Ta muốn rút bớt bầu tâm sự.

- Ðể tôi đưa Hòa thượng đi.

- Ấy ấy, không được đâu! Có ai đi theo ta khó xổ lòng lắm!

Gia nhân nghe bảo thế chẳng dám đi theo. Tế Ðiên bước ra liền thẳng đến Tây viện. Vừa hay lão đạo nói với Lương viên ngoại câu: “Ối, ông thầy chùa say điên điên khùng khùng, thứ đồ tép riu, có gì đáng nói”. Tế Ðiên mới vén rèm bước vào nói:

- Hay cho lão đạo lộn sòng kia, dám nói hỗn hào chứ!

Trương Diệu Hưng vừa muốn mở miệng trả lời, thì Tế Ðiên ngước mắt lên, nói:

- À ạ, ở đây lại có một vị lão đạo nhân à? Ông đừng giận nhé, tôi không có mắng ông đâu. Tôi mắng ông lão đạo kia mà.

Lương viên ngoại lật đật bước tới nói:

- Xin rước Thánh tăng ngồi. Xin mời tiên trưởng ngồi. Sẵn dịp tôi xin giới thiệu để hai Ngài cùng quen biết.

Tế Ðiên nói: Thôi, khỏi cần giới thiệu!

Nói rồi bèn ngồi bệt xuống ghế. Gia nhân lấy chén đũa và thức ăn. Tế Ðiên rót rượu uống tì tì. Lão đạo cũng không biết là ai, thấy Hòa thượng quần áo rách rưới không có chỗ nào lành lặn, ngồi xuống và rót rượu uống li bì, mới hỏi:

- Xin hỏi Hòa thượng ở miếu nào?

Tế Ðiên nốc cạn ly rượu đánh chót một cái, đảo mắt nói:

- Ông muốn biết ta à? Thì ta là Tế Ðiên, tên thầy chùa say điên điên khùng khùng ở chùa Linh Ẩn, là tên tép riu, không có gì đáng nói đây nè.

Lão đạo nghe nói trong lòng không vui. Tế Ðiên lại hỏi:

- Này Trương đạo gia, ông họ gì?

- Hòa thượng đừng giả ngộ chứ? Đã biết tôi họ Trương rồi còn hỏi tôi họ gì.

- Ta muốn hỏi thăm một người, mà không biết ông có biết không?

Ai vậy?

- Ta có đứa đồ tôn tên là Hoa Thanh Phong, không biết ông có biết nó hay không?

Trương Diệu Hưng nghe nói tức giận cành hông, nhè sư phụ mình mà ông hạ xuống làm đồ tôn chứ, để ta kết thúc tánh mạng ông ta cho bõ ghét. Nghĩ rồi bèn nói:

- Hòa thượng này ăn nói bậy bạ quá, để lão sơn nhân lấy tánh mạng ông cho rảnh!

Nói rồi lấy tay bắt quyết, niệm thần chú quyết đấu phép với Tế Ðiên. Thật là:

Người mạnh còn có người mạnh nữa.

Kẻ tài lại gặp tài hơn.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:29 PM | Message # 37
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 34



Thi yêu pháp, ác đạo hại người
Hiển thần thông, Tế Ðiên đấu phép




Trương Diệu Hưng nói với Tế Ðiên:

- Này Hòa thượng, ta kêu ông ba tiếng, ông có dám trả lời đủ ba tiếng không?

- Ðừng nói là ba tiếng, mà sáu tiếng ta cũng trả lời tuốt. Ông cứ kêu thử!

Lão đạo kêu liên tiếp ba tiếng và trong niệm niệm lâm râm, rồi cầm chén rượu úp lên bàn một cái “bốp”, hô: Sắc lịnh hích! Chỉ thấy Tế Ðiên đang ngồi uống rượu bỗng nhiên ngã ngang té dài trên mặt đất. Lương viên ngoại thấy vậy cả kinh, lập cập hỏi:

- Lão pháp sư ơi, làm sao bây giờ?

- Ông đừng có hỏi, ta thi chút thuật mọn để trị Hòa thượng láo khoét ấy mà. Chén rượu này úp một ngày thì Hòa thượng sẽ thẳng cẳng một ngày, chừng ta giở chén rượu lên hay cho uống thuốc, Hòa thượng mới sống lại được!

Vừa nói tới đó bỗng thấy Tế Ðiên lồm cồm đứng dậy. Lão đạo thấy vậy nói:

- Ta chưa giở chén mà ông đứng dậy được sao?

- Lại đây, ông chưa cho uống thuốc, ta phải ngồi dậy đòi chứ.

- Này Hòa thượng, ông dám đem ngày sanh tháng đẻ nói cho ta biết không?

- Ta đâu có ngán! Ngươi hãy nghe đây: Ta sanh ngày… tháng… năm, coi ngươi làm gì ta.

Lão đạo lập tức trong miệng niệm lâm râm thần chú rồi hô: Sắc lịnh hích, nhằn đầu Tế Ðiên đánh xuống một chưởng và đứng dậy nói:

- Này viên ngoại, sau khi bần đạo ra khỏi đây rồi, nên thả Hòa thượng đi đâu thì thả, kẻo khuya nay chừng gà cất tiếng gáy, ông ấy sẽ hết thở rồi viên ngoại sẽ mang vạ vào thân phải lên quan đấy.

Lương viên ngoại ngó lại thấy Tế Ðiên nằm dài hôn mê bất tỉnh mà lão đạo định bước ra về, bèn chạy theo khẩn khoản:

- Tiên trưởng đừng về, tôi xin thay mặt Hòa thượng tạ tội, tiên trưởng xá tội cho!

Diệu Hưng lẳng lặng đi một mạch về Tường Vân quán ở núi Ngũ Tiên. Về đến nơi, lão đạo kêu sư đệ là Lưu Diệu Thông bện gấp cho một hình nộm. Diệu Thông hỏi:

- Bộ anh tính hại ai nữa đấy hả?

- Không phải ta vô cớ hại người đâu, chỉ vì ta đến hóa duyên nơi Lương viên ngoại, bị Tế Ðiên Hòa thượng giỡn mặt khi dễ ta, ta phải ám hại ông ấy để báo thù rửa hận mới hả giận.

Lưu Diệu Thông cũng không trái ý, lập tức lấy cỏ khô bện thành một hình nộm và sắm đủ thứ cần thiết như lời Diệu Hưng dặn. Cơm chiều xong, một chiếc bàn bát tiên được đặt trước đại điện, trên có thắp sẵn hương hoa đèn nến với các vật dụng cần thiết và hai hình nộm được đặt ở hai bên. Ðợi đến khi sao mọc đầy đủ. Diệu Hưng bèn ra trước điện, trước tiên lột mũ đạo sĩ xuống, cả dây cột tóc cũng bỏ ra nốt để cho tóc xõa ra, đoạn rút kiếm ra khỏi bao, đốt hương lầm rầm khấn vái: “Nguyện cầu các thần linh quá vãng, Tam Thanh giáo chủ bảo hộ cho đệ tử! Giúp đệ tử hại được Tế Ðiên, hóa duyên được với Lương viên ngoại, đệ tử sẽ thắp hương cúng dường, thiết lễ hoàn nguyện”.

Khấn xong, lấy nước vô căn rưới lên kiếm và dúi mũi kiếm vào dĩa lương thực ngũ cốc, lấy chu sa nghiền nát, cầm bút mới vẽ ba đạo bùa trên ba tờ giấy vàng để sẵn. Vẽ xong đem bùa dán trên lưỡi kiếm và lấm râm niệm chú. Kiếm huơ lên một vòng, lửa cháy càng lúc càng sáng rực. Diệu Hưng hô:

- Ðốt đạo bùa thứ nhất cuồng phong nổi dậy. Ðạo bùa thứ hai bắt hồn phách Tế Ðiên trói lại. Ðạo bùa thứ ba Tế Ðiên phải chết, hồn biến thành ma, ma biến thành tinh.

Ðương lúc dương dương đắc ý, bỗng nghe luồng gió lạnh, Diệu Hưng vội vàng tràn mình né tránh, ngoái đầu lại xem: Trước mặt là một vị anh hùng lục lâm. Người ấy đầu đội mũ lông ngựa, bên mái tóc vắt cành hoa Thủ Chánh giới dâm, thân mặc áo đoạn mềm màu đen, quần màu xanh, đi giày gót dày lộ đôi vớ lam, mặc như ngọc trắng, mắt như sao, mày như nét vẽ, mũi thẳng như son, ngũ quan cân đối ưa nhìn. Người ấy tay cầm con dao bén nhắm ngay Diệu Hưng chém tới. Diệu Hưng lật đật tràn qua né tránh rồi lấy tay chỉ một cái, miệng niệm chơn ngôn. Người ấy tức thì ngã xuống, Diệu Hưng xốc tới định chém một nhát, bỗng nghe có tiếng la:

- Sư huynh ngừng tay! Bạn em đó.

Từ trong nhà Diệu Thông chạy ra nâng người ấy đứng dậy. Người ấy đến ở Trần Gia Bảo, thuộc trấn Ðan Dương, phủ Trấn Giang, họ Trần tên Lượng, từ nhỏ cha mẹ mất sớm, Trần Lượng ở với chú là Trần Quảng Thái làm nghề buôn bán vải. Trần Lượng từ nhỏ đã luyện tập quyền cước côn bổng, theo học với vị bảo tiêu một môn công phu tên là “Tiến bộ liên hoàn thối”. Sau đó kết giao với một người ở địa phương tên là Lôi Minh, trác hiệu là Phong lý vân yên, hai người tình như ruột thịt. Chính Lôi Minh dẫn Trần Lượng gia nhập vào nhóm lục lâm. Ở huyện Ngọc Sơn, Giang Tây, có một lão tiêu đầu họ Dương tên Minh, trác hiệu là Oai trấn bát phương Dạ du thần. Ông ta là người chuyên hành hiệp trượng nghĩa, giữa đường gặp việc bất bình không tha, giết tham quan, chém ác bá, bình sinh ưa kết giao với các anh hùng trong thiên hạ. Trần Lượng sau khi nhập vào nhóm lục lâm hay ở chung với mấy người này. Người ta gọi 36 võ hiệp huyện Ngọc Sơn, trong đó nhân vật nào cũng đều có đủ. Một ngày nọ nhằm lễ chúc thọ của mẹ Dương Minh, mọi người đến chúc mừng đều có mang lễ vật trọng hậu. Trần Lượng tới mà không mang theo gì cả. Lôi Minh mới nói:

- Này hiền đệ, đáng lẽ em phải kiếm một chút gì đó để tỏ lòng hiếu kính đối với bá mẫu chớ! Ngày sinh nhật của bá mẫu, đừng để không giống ai là được rồi.

- Lễ vật của tôi chút nữa sẽ có, mà không giống với người ta đâu.

Bấy giờ là những ngày đầu tháng tư, sau canh ba, Trần Lượng trộm về một trái đào chín đỏ, mọi người nhìn thấy đều ngạc nhiên. Lúc ấy đào mới có, chưa chín chẳng phải là chuyện dễ! Ai nấy đều tặng trác hiệu Thánh thủ bạch viên, và gọi Trần Lượng bằng trác hiệu này. Năm ấy Trần Lượng về thăm nhà, em gái là Trần Ngọc Mai cùng với chú tỏ bày ý kiến không bằng lòng việc Trần Lượng gia nhập vào nhóm lục lâm. Ông chú bảo rằng:

- Nhà họ Trần ta bao đời nay tuy không làm quan chức chi nhưng cũng thuộc dòng thi lễ, bây giờ cháu gia nhập vào nhóm lục lâm làm giặc, trên thì có lỗi cùng tổ tiên, dưới lại lỗi với xóm giềng làng nước. Một ngày trộm cắp suốt đời mang danh kẻ giặc, sự việc đến quan, tiếng xấu lan truyền khắp kẻ chợ, bản thân lại bị pháp hình. Trên hại đến cha mẹ, dưới hại đến con cháu. Cháu nên theo lời khuyên của chú và em mà sớm tỉnh ngộ quay về bỏ hết lỗi lầm cũ. Vả lại nhà ta buôn bán đang thiếu người trông coi, cháu về giúp chú!

Trần Lượng nghe nói, lặng thinh không buồn đáp lại. Thật là:

Rượu gặp tri kỷ ngàn chén ít

Lời chẳng lọt tai nửa câu thừa.

Hôm sau Trần Lượng lặng lẽ bỏ đi, không từ biệt một ai. Với chủ đích riêng, Trần Lượng nghĩ: “Chuyến này mình sẽ đi đến kinh sư, phỏng tìm cao tăng đạo đi tu quách cho xong một đời oan nghiệt cho rồi! Hiện nay mình trên không cha mẹ vấn vương, dưới không vợ con níu kéo”. Bữa đó Trần Lượng đến trấn Vân Lan muốn kiếm chút ít tiền bạc để làm lộ phí, bèn đến đêm thay đồ dạ hành vào nhà phú hộ nâng đỡ một lạng bạc. Xong lại có ý đến Tường Vân quán thăm huynh trưởng Lưu Diệu Thông. Ðến trước miếu không thêm kêu cửa, từ phía Ðông nhảy tường mà vào, thấy trước chánh điện có một bàn bát tiên, đứng đằng sau là một lão đạo sĩ tóc xõa phất phơ theo gió, mặt đen hung dữ, tay cầm bảo kiếm đang niệm chú làm phép. Trần Lượng chưa gặp mặt người này bao giờ, trong lòng thầm nghĩ: “Tên này chắc là hãm hại Lưu đạo huynh rồi ở đây hưng yêu tác quái như vậy. Thật là đáng giận! Ðể ta giết quách hắn đi cho bõ ghét!”. Nghĩ rồi bèn nhảy tới chém một đao, nhưng chưa trúng đích lại bị Diệu Hưng phất tay áo một cái lăn quay xuống đất. Trần Lượng chỉ còn nhắm mắt chờ chết, bỗng nghe Diệu Thông la:

- Sư huynh dừng tay lại! Bạn của em đó. Xin nể mặt em mà tha cho hắn!

Diệu Hưng nói:

- A, thì ra ngươi cấu kết với người ngoài ám hại ta để độc chiếm ngôi miếu đây mà!

Trần Lượng nói:

- Không phải vậy đâu! Tại tôi nhất thời thô lỗ, tưởng rằng ông đã hại đạo huynh Diệu Thông để độc chiếm miếu này, chứ không biết hai vị là anh em.

Lưu Diệu Thông giới thiệu cho hai bên biết nhau. Trần Lượng nhận lỗi về phần mình xong bèn vào nhà trong hỏi Diệu Thông:

- Hồi nãy Trương đạo gia đang thi triển pháp thuật gì vậy?

- Hiền đệ! Sao em không đến sớm một chút hay trễ một chút mà lại đến đúng ngay hôm nay. Anh ấy đang làm phép ám hại Tế Công trưởng lão ở chùa Linh Ẩn bằng cách bắt ba hồn bảy vía của người đó.

- Ta nghe nói Tế Công là một vị chân tu đắc đạo, chưa chắc là bắt được hồn quách của người.

Trần Lượng nghe nói, nghĩ thầm: “Mình đang để tâm tìm một vị cao tăng hay cao đạo để xuất gia mà nay không dè gặp cả ở đây. Ðể xem hai vị ai cao, ai thấp cho biết”.

Ðang nghĩ như vậy thì nghe ở đại điện Diệu Hưng đang làm phép hô lớn:

- Hồn quách Tế Ðiên ở đâu? Sao không đến, còn đợi chừng nào?

Lại lấy hai đạo linh phù đốt tiếp, ánh lửa sáng rực, ném ra bên ngoài. Bỗng thấy từ phía Tây bắc nổi lên một trận cuồng phong. Thật là:

Nộ khí cuồng phong ào ạt

Cây rừng xơ xác ngả nghiêng

Dưới sông ồn ào nước réo

Cây khô răng rắc chuyển mình

Sóng biển cất cao như núi

Ao đầm muôn lượn dập dồn

Ngàn quỷ rú gào thê thảm

Cát bay đá chạy lung tung!

Trận cuồng phong đi qua, cảnh vật lạnh tanh, bỗng tiếng giầy cỏ lẹp xẹp vang lên theo bước chân nghe rõ mồn một từ từ hướng về đại điện. Chẳng bao lâu sau, một ông Hòa thượng kiếc khật khưỡng lù lù trước bàn hương án. Diệu Hưng quát:

- Hay cho đại yêu tăng! Ta đã bắt hồn vía của ngươi rồi, ngươi là ai mà còn dẫn xác tới đây?

Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Ðồ nghiệt chướng! Ngươi to gan thật! Ngươi há không biết câu: “Thiệt ác vay rồi đều có trả. Thời gian ứng hiện chậm mau thôi” hay sao mà hưng yêu tác quái thế?
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:30 PM | Message # 38
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 35



Ðốt yêu đạo nghĩa thâu Trần đồ đệ
Tìm Tế Ðiên giữa đường gặp bất bình




Sau khi Diệu Hưng đánh một chưởng cho Tế Ðiên ngất ngã rồi trở về Tường Vân quán. Lương viên ngoại chạy theo năn nỉ nhưng không được, đành phải trở vào thư phòng xem Tế Ðiên sống chết ra sao, nào ngờ thấy Tế Ðiên đang ngồi uống rượu. Mừng quá, viên ngoại chạy tới hỏi:

- Bạch Thánh tăng, lão nhân gia không chết thật à? Lão đạo sĩ nói đã bắt hồn quách Thánh tăng rồi mà!

Hồn quách ta làm sao ổng bắt được, hồn quách công tử bị ổng bắt đi thì có, để tối nay ta đi kiếm ổng đòi lại.

- Bất tất phải thế!

- Ông ấy là người tu hành mà tại ác nghiệp như vậy sớm muộn gì cũng không tránh khỏi trời trả báo.

- Thánh tăng không cần phải kiếm ông ấy làm chi! Theo tôi thấy thì chuyện này cũng tại ông ấy hết.

Tế Ðiên chẳng nói chẳng rằng ngồi tì tì uống rượu cho tới tối. Bỗng đứng vọt dậy nói:

- Ta ra ngoài chơi quanh quẩn một lát rồi sẽ trở lại.

Lương viên ngoại tưởng thật cũng không cản lại. Ra khỏi nhà Lương viên ngoại, Tế Ðiên đi thẳng một mạch đến núi Ngũ Tiên, vào Tường Vân quán thấy lão đạo sĩ đang làm phép, việc Trần Lượng đến Tế Ðiên cũng thấy rõ ràng. Khi lão đạo sĩ họa phù niệm chú lần thứ hai, Tế Ðiên mới theo gió bước vào trước án. Việc này đáng lẽ Diệu Hưng phải tỉnh ngộ mới phải, bắt hồn người mà người còn dẫn xác đến chứng tỏ rằng đạo hạnh Tế Ðiên không phải tầm thường. Thay vì tỉnh ngộ, Diệu Hưng lại đùng đùng nổi giận lấy kiếm chỉ vào Tế Ðiên hét lớn:

- Bớ Ðiên tăng! Ta hóa duyên Lương viên ngoại mắc mới gì ngươi mà ngươi cả gan theo phá bĩnh ta? Nếu ngươi biết điều thì quỳ xuống pháp đài này, dập đầu gọi ta là tổ sư gia ba tiếng thì ta lấy đức hiếu sinh tha cho tội chết! Bằng không thì bải kiếm này sẽ lấy tánh mạng rác của ngươi đó!

- Hay cho yêu đạo, ngươi dám ở đây hưng yêu tác quái, ác hóa Lương Vạn Thương mà lại còn dám vô lễ với ta như thế hử?

Càng nói càng thêm nổi giận. Bất ngờ Tế Ðiên phóng tay vả mặt Diệu Hưng cái bốp. Mặt Diệu Hưng in dấu tay đỏ rần và uất lên tận cổ, tức thì huơ kiếm nhằm đầu Tế Ðiên chém xuống. Hai người giở hết tài năng, xà quần trước chánh điện. Lão đạo sĩ huơ kiếm lung tung quyết lấy tánh mạng Tế Ðiên mới hả giận, còn Tế Ðiên thì né tránh chạy loanh quanh, thỉnh thoảng bấu một cái, chọt một nhát làm đạo sĩ tức lộn ruột đến nỗi phải thở hỗn hển! Ðánh lâu mà không làm gì được Tế Ðiên, Diệu Hưng bèn dừng lại, rút ra trong bọc một món bảo pháp, miệng lâm râm niệm chú, thảy lên không, miệng hô: Sắc lịnh hích! Tức thì một vật trắng sáng lấp lánh đánh xuống Tế Ðiên. La hán gia trợn mắt nhìn xem thấy có vật trắng sáng nhờ nhờ đang xè xè ngay trên đầu mình bèn biết pháp bảo ấy tên là Hỗn nguyên như ý thạch. Viên đá này muốn lớn nhỏ tùy ý, lớn có thể đến mấy trượng, nhỏ có thể bằng cái trứng bỏ gọn vào trong túi. Cục đá này nếu va vào đầu người sẽ bể đầu chảy máu, toi mạng như chơi.

Tế Ðiên bèn lấy tay chỉ một cái, miệng niệm lục tự chơn ngôn: Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích ! Cục đá ấy từ từ đi chậm và nhỏ dần trở lại kích thước nguyên hình, rớt ngay vào tay áo Tế Ðiên. Diệu Hưng thấy bị mất phép, giận đến nỗi ba hồn tóe lửa, bảy khiếu bốc hơi, bèn đưa tay rút ra trong bọc một vật. Lão đạo sĩ đang đứng chánh Bắc, dùng mũi kiếm huơ lên miệng lâm râm đọc chú, tay bắt ấn quyết, tức thì nổi lên một trận quái phong lạnh lẽo ghê người. Tế Ðiên lại trợn mắt nhìn xem, thì ra là một con mãnh hổ vằn vện đang lắc đầu đập đuôi nhảy về phía mình. Thật là:

Ðầu lớn, tai tròn, đuôi nhỏ

Khắp mình thêu vẻ đẹp ghê

Mục đồng ngửi hơi vỡ mật

Tiều phu nghe tiếng kinh hồn

Beo gấm núi sâu săn đuổi

Một mình chúa tể rừng xanh.

Tế Ðiên thấy cọp chờn vờn nhảy tới bèn cười ha hả, nói:

- Ðồ nghiệt chướng, ngươi định đem phép thuật rẻ tiền này hù dọa Hòa thượng ta ư? Thật là lấy muối bỏ biển!

Nói rồi lấy tay chỉ một cái, con cọp hung hăng hiện nguyên hình là con cọp giấy. Diệu Hưng thấy mình bị phá mất hai bửu bối, không dằn được cơn giận, hét:

- Hay cho Hòa thượng cả gan thiệt! Cho ngươi biết sơn nhân ta lợi hại như thế nào!

Nói rồi thò tay rút ra trong túi một sợi Khổn nguyên thằng. Tay tả cầm chặt, miệng lẩm bẩm: “Người không có lòng hại cọp, cọp lại có ý đả thương người. Ta vốn không có ý hại ngươi, việc này là ngươi tìm lấy, phen này có chết đứng oán sơn nhân ta nhé! Hôm nay ta đành phải khai sát giới đây!”. Sợi Khổn nguyên thằng này thật là lợi hại, bất cứ yêu tinh tà mị nào bị nó trói chặt là phải hiện nguyên hình ngay. Tế Ðiên thấy sợi dây ấy, lật đật nói lia lịa:

- Cứu tôi với, ai cứu tôi với, không xong, không xong rồi, á! Ðừng trói Hòa thượng ta!

Chớp mắt Hòa thượng bị trói làm ba vòng té lăn xuống đất. Trương Diệu Hưng cười ha hả, nói:

- Ðiên tăng, ta tưởng ngươi là thần thông quảng đại ghê gớm lắm chứ, ai ngờ coi kỹ lại là kẻ vô tri. Hãy coi ta kết thúc cái mạng rác của ngươi đây.

Nói rồi huơ kiếm nhắm ngay bụng Tế Ðiên chém một nhát. Bảo kiếm chém lòi một đường trắng hếu. Lại thấy Tế Ðiên mở mắt trừng trừng nhìn mình không chớp mắt, chẳng nói chẳng rằng cũng không nhúc nhích. Lão đạo nghĩ thầm: “Coi chừng mình bị tráo đồ giả”. Coi kỹ lại thì ra Khổn nguyên thằng trói nhằm cái lư hương đá. Chạy tìm Tế Ðiên không thấy tung tích đâu hết! Diệu Hưng đang sục sạo tìm kiếm bỗng bị Tế Ðiên véo cho một cái từ đằng sau thật đau điếng, bèn ngoái đầu lại hét lớn:

- Hay cho Ðiên tăng, chọc ta tức chết đi được. Hôm nay ta thề quyết không đội trời chung với ngươi đó.

Nói xong móc ra một mắn hương nhang cháy dở kèm theo một bó củi khô chất bên đại điện, miệng niệm thần chú dẫn hỏa, lửa bắt vào bó củi biến thành một khối lửa, ném vào Tế Ðiên. Lão đạo sĩ hôm nay quá tức giận, ra tay độc ác định giết chết Tế Ðiên mới hả, trong niệm chú thúc lửa, lửa bừng lên mỗi lúc một cao, trùm lên đầu Tế Ðiên. Tế Ðiên lấy tay chỉ một cái, miệng niệm lục tự chân ngôn: Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích! Tức thì khói lửa đổi hướng quay ngược lại đốt Diệu Hưng nhanh đến nỗi trở tay không kịp, Diệu Hưng râu ria cháy xém, tóc tai quăn queo, áo quần khét nghẹt, lật đật mang lửa chạy trốn trong đại điện.

Ðó là Diệu Hưng bị báo ứng nhãn tiền, phút chốc một lửa phàm hợp cùng lửa thiên hỏa sáng rực, lửa đó bắt vào đại điện, lưỡi lửa như con rắn bay liệng từng không, vây chết Diệu Hưng trong đó, Ðông Tây phối điện cũng bị lửa liếm hết không từ. Tế Ðiên không thèm để ý đến Diệu Hưng nữa mà vào đại điện tìm hình nộm trù yểm Lương Sĩ Nguyên, nhổ hết 7 cây kim ra và bắt hồn Sĩ Nguyên bỏ vào tay áo, cũng không quản đến Lưu Diệu Thông sống chết ra sao, cứ một mạch đi thẳng. Trần Lượng nảy giờ ở Ðông phối phòng theo dõi tình hình không sót một mảy, tới chừng lửa bén nóc phòng mới lật đật co giò thoát ra theo ngã cửa sổ chạy theo Tế Ðiên. Tế Ðiên đi mau, Trần Lượng cũng đi mau, Tế Ðiên đi chậm, Trần Lượng cũng đi chậm bước, hai người trước sau về đến Vân Lan. Người giữ cổng của Lương viên ngoại thấy Tế Ðiên về, lật đật nói:

- Tháng tăng ơi, Ngài đi đâu vậy, nãy giờ viên ngoại tôi chờ sốt cả ruột.

Tế Ðiên đáp: - Ờ! Rồi rảo bước vào nhà trong thẳng lên thư phòng.

Lương viên ngoại thấy Tế Ðiên về, lật đật hỏi:

- Bạch Thánh tăng, nãy giờ Ngài đi đâu vậy?

- Ta đi tìm hồn phách của công tử về rồi đây này.

Nói rồi Tế Ðiên đi xăm xăm vào phòng Lương Sĩ Nguyên. Lương Sĩ Nguyên đương nằm hôn mê bất tỉnh bị Tế Ðiên lấy tay vỗ vào đầu một cái, hồn tức thì nhập vào xác tỉnh lại như thường. Bên ngoài, lão viên ngoại hối gia nhân dọn tiệc rượu thết đãi Tế Ðiên, hai người ngồi vào bàn, uống được vài ba chén, Tế Ðiên hỏi:

- Này viên ngoại, trong nhà ông có bị kẻ trộm cướp đến khuấy rối không?

- Nhà tôi từ trước đến nay không hề bị trộm cướp bao giờ, những tay hảo hán họ biết nhà tôi lương thiện nên chẳng ghé làm chi, còn những tay trộm vặt hạ lưu thì không thể vào được.

- Ờ, để ta nói ra vài tên hảo hán coi ông có biết không?

- Tôi thật không quen biết với ai về phía ấy.

Nãy giờ Trần Lượng nấp trên nóc nhà nghe lén, chừng nghe Tế Ðiên sắp nói mấy tên hảo hán bèn động tính hiếu kỳ, không biết Tế Ðiên sẽ nói đến những anh hùng ở lộ nào. Kế nghe Tế Ðiên nói:

- Có một người tên là Vô ngân Liêu Ðoan, ông có biết không?

- Không biết.

- Người này có ngoại hiệu là Ðạp tuyết vô ngân, đi trên tuyết mà không để lại dấu chân, nhẹ nhàng ghê chưa?

- Thật là nhẹ nhàng quá sức, đi trên tuyết mà không để lại dấu chân nào hết!

- Không để lại dấu chân có thể ông ta mang cây chổi theo vừa chạy vừa quét đấy.

Viên ngoại nghe nói cũng cười xòa, Tế Ðiên lại nói:

- Có một người tên Ðào Phương đạp bèo đi qua sông, người này có tài đi trên mặt nước mà không chìm ướt.

- Trên thế giới này có mấy người được như vậy, thật là ít có, tôi chưa thấy bao giờ!

- Ôi! Có gì lạ đâu, ông ấy nhằm mùa đông nước đóng băng mới đi trên mặt nước đó!

- Mùa đông, tôi cũng đi trên mặt nước được.

- Lương Sĩ Nguyên hiện giờ đã mạnh rồi, ngày mai Hòa thượng ta phải về Lâm An gấy.

- Thánh tăng chưa đi vội, tôi muốn mời Ngài ở lại ít bữa nữa để báo đáp chút công ơn cứu mạng cho cháu.

- Kêu giùm một gia nhân đến để Hòa thượng ta nhờ việc.

Lương Phước đến, Tế Ðiên kế tai nói nhỏ: Như vầy, như vầy… Lương Phước đi ra lo phận sự. Trần Lượng đang núp trên mái nhà nghe Tế Ðiên kêu mấy người toàn là bạn bè của mình cả, bèn nghĩ thầm: “Ông Hòa thượng này là người xuất gia mà sao biết vanh vách các việc giang hồ của bọn ta vậy kìa?”.

Còn đương thắc mắc trong lòng, bỗng thấy bốn mặt bị bủa vây. Lương Phước xuất lãnh bọn gác cửa, quản gia, canh phu, tránh đinh kẻ thước người dao hơn ba mươi mấy tên nhất tề kéo đến, miệng hò hét:

- Ăn trộm trên nóc nhà, bắt nó, bắt nó.

Trần Lượng giật mình đánh thót, té ra Tế Ðiên nói nho nhỏ vào tai Lương Phước khi nãy là bảo người đi bắt trộm. Trần Lượng đứng trên nóc nhà khoa dao, nói:

- Nè, các ngươi dang ra, ta không phải là kẻ trộm, cũng không phải là kẻ mượn đường, ai tránh ra thì sống, còn cản đường ta thì chết ráng chịu.

Nói rồi băng mình nhảy xuống đất đi thẳng. Lúc đó Tế Ðiên cũng vừa đi ra. Thật là:

Anh hùng khó lên Tam bảo điện,

La Hán rộng mở Ðại thừa môn.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:30 PM | Message # 39
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 36



Dạo Tây vào tửu điếm nghe chuyện phiếm
Nổi xung thiên đêm tối lẻn Tô Gia




Khi Tế Ðiên ra đến cửa thì Trần Lượng đã đi xa rồi, Tế Ðiên bèn tức tốc đuổi theo. Trần Lượng lúc đó chạy thật mau quanh mấy thôn trang rồi mất dạng. Trời hừng sáng, Tế Ðiên đến Tường Vân quán. Nơi đây điện nhà Ðông nhà Tây đều bị thiêu rụi. Mọi người đến chữa lửa hãy còn chưa về. Phía Tây có hơn một chục người xúm dụm lại, Tế Ðiên bước tới đó thấy Lưu Diệu Thông khắp người bị phỏng rộp đang thở dốc hấp hối. Tế Ðiên động lòng trắc ẩn mới bước tới đến gần, nói:

- Ðạo gia! Ngươi thấy trong lòng thế nào?

- Bạch Thánh tăng, tôi không có mắc tội với Ngài, chuyện vừa rồi do sư huynh tôi làm việc bất chính nên phải gặp ác báo. Xin sư phó từ bi cứu giúp cho tôi với!

Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Ông đã biết là tuần hoàn, làm oan nghiệt phải gánh lấy tai họa là tốt rồi, thôi để ta cho ông một viên thuốc là xong ngay.

Một vị quan địa phương đứng bên vội cản:

- Không được đâu, ông Hòa thượng đừng có lắm chuyện, ông cho uống thuốc vào rủi ro có bề gì thì càng rối thêm!

Diệu Thông nói:

- Không hề chi, uống thuốc vào dẫu có chết, ông Hòa thượng cũng không có can chi mà, tại mạng số thế thôi!

Mọi người có mặt cùng nói:

- Thây kệ! Ông muốn uống thuốc cứ cho uống, hơi nào mà lo.

Tế Ðiên bảo một người đem đến chén nước, đoạn lấy ra một viên thuốc đưa cho Lưu Diệu Thông uống, Diệu Thông uống xong giây lát bụng sôi ục ục, những mụt phồng rộp đều vở ra chảy nước, không còn nghe đau nhức nữa. Mọi người chứng kiến đều buột miệng nói: - Thuốc hay thiệt!

Một người đứng sau Tế Ðiên nói:

- Hay quá, thật là thuốc thần tiên, linh đơn diệu dược có khác!

Tế Ðiên quay lại nhìn, thì ra là một người mình cao tám thước, lưng nhỏ vai rộng, đầu đội khăn tráng sĩ sáu múi bằng đoạn màu lam, bên trên gắn sáu hạt minh châu lấp lánh, mình mặc áo tiễn tụ bào trắng thêu làm nổi bật sợi tơ vàng thêu ngang lưng, chân đi giày đế mỏng lộ ra màu vớ xanh nhạt, mặt như ngọc trắng với chân mày chữ bát trên đôi mắt sáng long lanh, ngũ quan rất thanh tú. Tế Ðiên quay lại nhìn mặt người ấy, bỗng thốt lên “a!” một tiếng. Người ấy lật đật co giò bỏ chạy, Tế Ðiên cũng gấp rút đuổi theo. Người bỏ chạy không phải ai xa lạ mà chính là Thánh thủ bạch viên Trần Lượng. Nhân vì khi hôm Trần Lượng bị Tế Ðiên đuổi theo miết, đến quá nửa đêm không còn nghe tiếng dép phía sau mới dáng ngừng lại tìm chỗ nghỉ đỡ, sáng ra lật đật thay đổi đồ mặc ban ngày, định đến Tường Vân quán xem Lưu Diệu Thông sống chết ra sao! Vừa đến thấy Tế Ðiên cho thuốc cứu mạng Diệu Thông bèn buộc miệng khen hay. Hòa thượng nghe tiếng, ngoái lại “a” một tiếng, Trần Lượng tự động quay mình bỏ chạy, Tế Ðiên cũng chạy theo nốt. Ðang chạy, Trần Lượng nghĩ: “Mình đâu phải là kẻ trộm, Hòa thượng cũng đâu bắt mình, tại sao mình chạy? Ðể coi ổng đuổi theo mình làm chi cho biết?”.

Nghĩ rồi bèn đứng lại, Tế Ðiên cũng vừa trờ tới, Trần Lượng hỏi:

- Này Hòa thượng, ông rượt theo tôi chi vậy?

- Tại sao ngươi lại chạy chi vậy?

Trần Lượng nghe nói cũng tức cười, mới nói:

- Bạch Hòa thượng, tôi biết lão nhân gia là một bậc cao tăng. Xin nhân gia thâu nhận tôi làm đồ đệ, tôi xin nguyện theo Ngài để xuất gia!

Tế Ðiên lắc đầu lia lịa, nói:

- Không được, không được đâu, ngươi là tên đạo tặc làm sao có thể xuất gia theo ta được. Bọn xuất gia chúng ta phải kỷ luật là Tam qui Ngũ giới, Tam quy là: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ngũ giới là không được làm năm việc: giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói láo và uống rượu. Ngươi là sao sửa đổi được mà làm những điều này?

- Tôi hiện nay trên không còn cha mẹ vấn vương, dưới không vợ con cản trở, muốn xuất gia để xong một đời oan nghiệt cho rồi! Thưa sư phó, những lời người vừa nói, tôi đều có thể làm được.

- Ngươi nói như vậy, ta cũng tạm nhận cho, vậy ngươi hãy đến Lâm An đợi ta nhé. Hiện nay ta còn chút việc chưa làm xong, chúng ta sẽ gặp lại ở Lâm An nhé!

- Thưa sư phó, người bảo chờ người ở Lâm An mà thành Lâm An quá rộng lớn, tôi biết chờ lão nhân gia ở đâu?

Tế Ðiên ngẫm nghĩ rồi nói:

- Tới Lâm An, chúng ta sẽ gặp nhau ở sàn để hạ nhé!

Trần Lượng nghe nói, nghĩ rằng: “Ở thành Lâm An chắc có nơi nào có cái tên ngồ ngộ đó”, bèn xá Tế Ðiên, nói:

- Tôi xin đi trước, đến Lâm An đợi lão nhân gia.

- Ờ, ngươi cứ đi trước đi.

Trần Lượng cáo từ, cũng không ghé qua Tường Vân quán thăm Diệu Thông, cứ theo đường cái một mạch đi thẳng đến Lâm An. Trên đường đi cứ đói ăn, khát uống, ngày đi đêm nghỉ, chẳng mấy chốc đến Lâm An. Trần Lượng lần đầu mới đến kinh đô, thấy người qua lại như mắc cửi thật là nhộn nhịp, bèn tìm một quán trọ ở đường Thiên Trúc ngoài cửa Tiền Ðường ở đỡ. Ngày kế ra khỏi quán, một mình đi tản bộ về phía Tây Hồ, vào chơi Lãnh Tuyền đình. Ðứng ở Lãnh Tuyền đình nhìn ra bốn phía, cảnh đẹp nên thơ, hồ rộng nhìn không thấy bờ, ngắm cảnh giây lát lại thả bộ đi về chùa Linh Ẩn. Ðến trước cổng chùa, thấy có hai vị Tăng gác cổng đang ngồi bên trong, bèn bước tới hỏi:

- Thưa hai vị sư phó, Tế Công trưởng lão ở chùa này đã về chưa?

- Ôi, ông ấy đi lu bù, ít khi có ở chùa lắm! Có khi năm, bảy bữa, có khi đi ba, bốn tháng mới về, không chừng đổi gì hết!

Trần Lượng nghe nói thế, đành thả bộ trở về, kiếm người hỏi thăm điểm hẹn. Gặp một người hỏi:

- Làm ơn cho hỏi thăm, sàn để hạ ở đâu?

Gặp ai cũng hỏi. Hỏi không biết bao nhiêu người mà chả ai biết chỗ đó là ở đâu cả! Buồn quá, Trần Lượng định tìm tửu lầu nào đó uống tí rượu giải sầu rồi về quán trọ hỏi quản lý xem sao. Nghĩ rồi, bèn quay trở về, đến đường Thiên Trúc thấy phía Bắc có một tửu lầu với chữ Thiên Hòa tửu lầu to tổ bố ở trước cổng, bên trong vọng ra tiếng dao bằm thịt lốt bốp gợi thêm. Trần Lượng vào quán đi thẳng lên lầu lựa một cái bàn kề bên cửa sổ nhìn xuống đường để dễ ngắm người qua lại nhộn nhịp. Trần Lượng mới vừa ngồi xuống ghế, phổ ky lật đật chạy lại lau bàn và hỏi:

- Khách quan dùng chi?

Trần Lượng kêu mấy dĩa thức ăn và mấy bầu rượu, tự rót rượu nhâm nhi một mình. Uống được mấy chén, Trần Lượng kêu phổ ky lại. Phổ ky hỏi:

- Ðại gia cần món gì thêm?

- Thôi, không cần kêu thêm nữa, tôi chỉ nhờ anh một việc là chỉ giúp tôi một địa điểm của thành này thôi.

- Tưởng cái gì khó, chứ còn chỗ nơi thì dễ ợt, đại gia cứ nói đi, ở đây hang cùng ngõ hẻm gì tôi cũng biết hết.

- Ở thành Lâm An này có nơi nào tên là Sàn Ðể Hạ không? Anh biết chỉ giùm tôi!

- Không có địa danh đó đâu!

Trần Lượng cũng không buồn hỏi lại, trong lòng thầm nghĩ: “Tế Công lão nhân gia chẳng lẽ gạt ta. Không có địa danh đó ta biết đi hỏi ai bây giờ?”. Ðang lúc buồn bực vì hỏi không ra Sàn Ðể Hạ là ở đâu, bỗng nghe tiếng ồn ào từ dưới đường phố vọng lên. Trần Lượng vội nhìn qua cửa sổ thấy có một chiếc kiệu nhỏ đi qua với một số người tay cầm đao thương gậy gộc đi theo. Trong kiệu vang ra tiếng kêu khóc hình như đó là một vụ cướp người giữa ban ngày. Kiệu đi từ Tây sang Ðông, giây lát sau lại có một người đàn ông đi ngược lại từ Ðông sang Tây, khắp người máu me thương tích, cùng với nhóm người ồn ào khi nãy chạy đến dưới tửu lầu mạnh ai nấy cãi ô ô, a a loạn xạ. Trần Lượng nghe ồn ào mà không hiểu họ nói cái chi, mới hỏi phổ ky:

- Này phổ ky, dưới lầu này có một người bị thương mới đến, anh ta bị ai đánh? Mà sao bị đánh dữ vậy?

Quản lý nói:

- Thưa lão gia, lão nhân gia không phải là người ở địa phương này nên mới hỏi như vậy. Chứ sự thật đáng giận, đáng tức lắm! Lão nhân gia có thấy người bị đánh vừa rồi đó không? Anh ta họ Vương, anh em một họ với chưởng quỹ chúng tôi. Vì có tánh hay xía vô chuyện người, giữa đường gặp chuyện bất bình không tha nên anh ta mới bị đánh mang thương tích như thế.

- Chuyện là thế này, ở xế cổng nhà của mấy người đó có anh Hàn Văn Thành, sinh sống bằng nghề buôn bán vàng bạc, chỉ vì làm ăn lỗ lã nên đóng cửa đã lâu, còn thiếu viên ngoại Tô Bắc Sơn 200 lượng bạc. Hôm nay quản lý của Tô gia đi đòi bạc nợ, Hàn Văn Thành xin khất, đợi bán nhà xong sẽ trả đủ. Tô quản gia không chịu, bèn đem người tới bắt em gái Hàn Văn Thành là Kim Nương làm con tin. Cả Hàn Văn Thành cũng bị đánh cho một trận. Ông Vương tam gia ấy ưa xía vô chuyện thiên hạ mới kéo người tới choảng nhau với họ, bị đánh cho một trận tơi bời, mới kéo nhau về tìm chưởng quỹ chúng tôi nói cho hả tức! Viên ngoại Tô Bắc Sơn là một thân sĩ của thành Lâm An này, lại là một tài chủ hạng nhất, kết giao với quan lớn, ai mà dám đụng đến!

Trần Lượng nói:

- Ở đây sát bên Thiên tử mà còn làm việc bất kể vương pháp như thế, ở ngoài tỉnh xa, họ còn tác tệ biết chừng nào! Bọn côn đồ ác bá đó nhà nó ở đâu?

- Ở phía Bắc ngã bốn hẻm Thanh Trúc trong thành nội có cái nhà lớn, cổng cũng lớn. Ngoài ngõ có bốn cây long trảo hòe là nhà của ông ấy.

Trần Lượng ăn uống xong, trả tiền xuống lầu, lân la đến hẻm Thanh Trúc thám dọ đường đi nước bước, xem xét các nơi một lượt rồi vào một quán uống trà, vừa uống trà vừa nghĩ thầm: “Nơi đây là chốn đế đô mà sao lại có bọn côn đồ ác bá như thế? Hôm nay ta gặp chuyện này đâu có thể ngó lơ được. Tối nay ta sẽ vào giết quách hết cả nhà để cho mọi người thấy là bao giờ ông trời cũng có mắt”. Nghĩ rồi, chờ khi đêm xuống, cơm nước xong, Trần Lượng tìm chỗ vắng thay y phục hạ hành, đem đồ ban ngày gói lại và cột chặt vào thắt lưng, đoạn trổ thuật phi hành leo tường vượt vách chạy qua mấy nóc nhà đến Tô gia để thám thính. Vào đến Tô gia thấy nhà toàn bằng gạch, phòng ốc lộng lẫy, trước hàng ba sau đại sảnh rất là tráng lệ. Ở gian nhà phía Tây, có ánh đèn lung linh dọi ra và tiếng người nói chuyện. Trần Lượng lẻn đến gần nghe trong nhà có tiếng gọi:

- Thu Hương đâu, đem trà lên cho ta!

Trần Lượng nép bên cửa sổ nhìn vào thì thấy bên trong là một cái phòng cuốn nhỏ. Trên tường phía Bắc treo hình hoa lê rất đẹp, trên bàn trang trí những đồ cổ, một cái giường lớn kế bên rèm bên trên đặt một cái tợ. Ngồi bên tợ là một phụ nữ trung niên độ ngoài 40 tuổi, ngũ quan thanh tú đang dùng trà, có hai a hoàn và hai bộc phụ đứng kế bên hầu trà. Kế nghe vị phu nhân nói:

- Viên ngoại sao giờ này chưa về, đi đâu hoài không biết! Nhà ta không có đàn ông bảo ta không lo sao được!

Lại thấy một vị xử nữ nói:

- Thưa thái thái, viên ngoại chúng ta không về thế nào cũng có tin về cho mà! Nhà trong này nếu không có lệnh gọi đàn ông không được vào. Thưa thái thái, để đỡ sốt ruột, chúng ta bày trò đố vui đi!

- Ðể ta nói một câu, bọn ngươi đoán thử xem nhé:

Cô Hoa hận nhất anh hàng dầu

Rước đưa liên tục suốt đêm thâu

Tới lui khách khứa tình lai láng

Nỡ đem ngọc thể ném ngàn dâu!

Hai bà vú già đoán mãi không ra, xử nữ Thu Hương, Thu Quế thấy thế kêu lên:

- Thôi, thái thái nói ra đi, để lâu bực chết đi được!

- Là cái bọng ép dầu.

Cả bọn Thu Hương đồng cười rộ. Lại nói:

- Xin lão nhân gia nói cái gì gần gần để chúng tôi dễ đoán!

- Thôi, ta không nói đâu! Nói ra rồi bọn bây đoán không ra lại quấy rầy ta nữa.

- Lần này bọn tôi không nói đâu. Thái thái cứ nói đi!

Phu nhân bèn nói:

Sông đen rắn bạc nằm chờ,

Một ngọn đèn sáng bên bờ lắc lư.

Nước sống rắn uống từ từ,

Sông đen khô cạn đứ đừ rắn tiêu.

Bọn Xử nữ đang cố sức đoán thử, bỗng nghe một tiếng bộp vang lên. Mọi người phụ nữ chạy ra xem: Một vạc lửa đỏ đang bốc ngọn. Thật là một chuyện kinh người! Ấy là:

Sự đời trước mắt in tuồng giả,

Lời nói qua tai chưa chắc chân.
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:31 PM | Message # 40
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 37



Nghe lời gian, Tô Phước sanh tâm họa
Gặp Tế Ðiên, đen trắng được phân minh




Vợ Tô Bắc Sơn là Triệu phu nhân cùng bọn xử nữ đang bày cuộc đố vui giải muộn trong phòng, bỗng nghe bốp một tiếng, cả bọn lật đật chạy ra xem, bên ngoài lửa cháy sáng rực, những nhánh đào, thạch lựu, hoa kiểng trên bồn hoa đều bén lửa. Vú em, a hoàn chạy ra xem lấy tay phủi xuống đều tắt hết. Việc lửa phựt lên là kế điệu hổ ly sơn cửa Trần Lượng. Thấy mọi người dồn cả ra sân, Trần Lượng từ trên nóc nhà nhảy xuống, tiến vào trong phòng. Phòng này bài trí thật u nhã, trên tường nét chữ danh nhân thật hùng tráng, liễn đối cổ kính, nhân vật sơn thủy, nét bút rất tiêu sái. Kế bên giường là một chiếc giường tre sương phi (bông) lên nước láng bóng, bên trên treo màn gấm thuê hoa. Trước giường, một chiếc bàn nhỏ với mấy chiếc ghế thấp, trong phòng vật dụng toàn là đồ cổ quí giá. Trần Lượng đang trầm trồ ngắm nghía bỗng nghe bên ngoài phu nhân nói với bọn vú em:

- Chắc là bọn thằng Phước, thằng Lộc bày trò nghịch ngợm, đốt lửa chơi như vậy.

Nói rồi, cả bọn kéo trở về phòng. Trần Lượng đang thưởng ngoạn đồ vật trong phòng, nghe mọi người kéo vào, lật đật tự nghĩ: “Cha chả, để họ vào rồi mình phải làm sao đây!”. Trong lúc túng quá phải tính gấp, vội chạy đến bên giường, vén màn lên chui tọt dưới gầm giường (sàn để hạ) mà núp. Mọi người kéo vào vô tình chẳng biết trong phòng có người đang ẩn nấp. Mới vừa ngồi yên chỗ, mọi người nghe từ bên ngoài hành lang có tiếng bước chân đi tới. Thu Hương vội hỏi:

- Ai đó?

Bên ngoài có tiếng trả lời, chính là Ðắc Phước, Thu Hương hỏi:

Có việc gì thế?

- Viên ngoại đã về, cùng đi với Hòa thượng. Vị Hòa thượng này không chịu ngồi ở thư phòng, cũng không chịu ngồi ở phòng khách, lại muốn ngồi ở phòng ngủ của thái thái. Viên ngoại bảo: Xuống nói với thái thái mau mau tránh sang phòng khác cho viên ngoại tiếp khách.

Thái thái nghe nói lật đật bảo a hoàn dọn dẹp đồ đạc cho ngăn nắp. Trong bọng nghĩ thầm: “Cái ông viên ngoại nhà mình hôm nay thật hết chỗ nói: Bên ngoài có phòng khách, có thư viện lại không chịu tiếp, nhè phòng ngủ của mình mà tiếp Hòa thượng chớ!”. Ðang suy nghĩ tới đó thì bên ngoài có tiếng hối thúc:

- Thái thái thu xếp mau đi! Viên ngoại với Hòa thượng vô tới rồi đó!

Thái thái lật đật bước sang phòng khác. Trong khi a hoàn dọn dẹp chưa xong thì nghe tiếng của viên ngoại:

- Bạch sư phó, lão nhân gia vào nhà đệ tử cứ coi như vào nhà mình, đừng câu nệ gì hết, muốn ngồi chỗ nào xin tùy ý.

Trần Lượng đang nấp dưới gầm giường (sàn để hạ) thầm nghĩ: “Hoà thượng nào mà vào nhà ác bá thì đâu phải Hòa thượng tốt, chắc là hạng Hòa thượng bất chánh đây”. Bên ngoài Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Không có Hòa thượng tốt xấu nào đâu, ta sợ ngươi đợi lâu quá đó chứ. Thôi mau ra đây đi!

Tô Bắc Sơn thầm nghĩ: “Hay a, Hòa thượng đòi vào phòng ngủ của vợ mình để hò hẹn với ai đây?”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Bạch sư phó, lão nhân gia bữa nay chắc say rồi?

- Ta đâu có say.

Nói rồi đi thẳng vào trong phòng. Trần Lượng nghe nói cả kinh. Người mới vào chẳng ai khác mà chính là Tế Công trưởng lão ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ. Trong lòng nghĩ thầm: “Tế Công làm sao lại vào đây kìa?”.

Sau khi chia tay cùng Trần Lượng, Tế Ðiên trở vào nhà Lương viên ngoại ở trấn Vân Lan. Viên ngoại thấy Tế Ðiên về, lật đật hỏi:

- Thánh tăng đã về rồi à! Tôi ở nhà thật chẳng yên tâm chút nào! Từ lúc người đuổi theo kẻ trộm đi biền biệt không về, tôi phái người nhà đi tìm cùng hết mà không gặp. Lão nhân gia chắc là đi xa lắm?

- Ta trở lại Tường Vân quán ở núi Ngũ Tiên xem thử. Tòa miếu ấy bị cháy sạch sanh, đến một viên ngói cũng không còn nguyên vẹn.

Lương viên ngoại hối dọn tiệc rượu. Tiệc đã dọn xong, Lương viên ngoại bồi tiếp Tế Ðiên uống rượu. Uống được mấy chén, viên ngoại hỏi:

- Bạch sư phó, lão nhân gia từ đâu đến đây? Mấy người cùng đi với người là ai vậy?

Tế Ðiên mới đem việc ni cô Thanh Tịnh ở núi Thành Hoàng mời thỉnh đi tìm Cao Quốc Thái giùm. Trên đường đi, dắt theo Tô Lộc và Phùng Thuận. Sau khi tìm được Cao Quốc Thái, trở về Lâm An, trên đường qua đây gặp việc bèn ghé lại, tất cả thuật qua một lượt. Lương viên ngoại nói:

- Té ra Thánh tăng đi tìm Cao Quốc Thái là con người bạn của tôi. Ngày xưa cha nó còn sống qua lại rất thân với tôi, chẳng dè cha nó qua đời mấy năm mà nhà nghèo rớt mồng tơi như thế!

Bèn bảo gia nhân kêu Cao Quốc Thái đến. Giây lát Cao Quốc Thái từ ngoài bước vào. Viên ngoại bảo Cao Quốc Thái ngồi và hỏi:

- Này Cao Quốc Thái, sự tình của gia đình ngươi từ trước đến nay ra sao, hãy nói cho ta rõ.

- Thưa viên ngoại, tôi chỉ biết sơ sơ một vài điều thôi.

- Cha người là Cao Văn Hoa, làm Hiếu liêm ở huyện Dư Hàng, ta với cha ngươi là đôi bạn qua lại rất thân, lúc ấy ngươi hãy còn bé, nhắc lại cũng là việc mười mấy năm trôi qua! Sau đó cha ngươi qua đời, ngươi hãy còn nhỏ lắm, cũng không cho ta biết tin tức thành ra liên lạc bị đứt đoạn. Nào ngờ không gặp nhau mấy năm mà ngươi lại ở cảnh nghèo rớt mồng tơi như thế! Vừa rồi nghe Thánh tăng nói đến tên, ta mới biết ngươi là con của người bạn cũ!

Cao Quốc Thái nghe nói, mới nhớ lại ngày xưa có lần nghe mẹ nhắc đến việc này, vội vàng đứng dậy thi lễ, nói:

- Té ra là lão bá phụ! Tiểu điệt xin kính chào ra mắt. Ngày trước, cháu có nghe thân mẫu nhắc đến lão nhân gia, nhưng vì gặp lúc gia cảnh sa sút không thể thù tạc vãng lai với ai, nên không thể viếng thăm bá phụ được.

- Hiện nay em cháu là Lương Sĩ Nguyên đang trong thời kỳ dụng công học tập, cũng thiếu người chỉ giáo kèm cặp cho nó, cháu cũng không cần phải trở về huyện Dư Hàng làm gì. Ta sẽ rước gia quyến cháu cùng về ở đây. Cháu sẽ cùng em cháu học tập, cùng gắng sức rèn luyện. Ðến kỳ đại khoa, hai con cùng lên trường ứng thí.

Cao Quốc Thái cũng gật đầu ưng thuật. Tế Ðiên nói:

- Viên ngoại nè, Hòa thượng ta muốn hóa viên ngoại chút duyên.

- Thánh tăng có lời dạy gì? Xin cứ bảo!

- Ông bỏ ra mấy trăm lượng bạc mua chỗ đất ở Tường Vân quán đi, và kêu Lưu Diệu Thông tới đây cho ông ta năm trăm lượng bạc để về núi Cổ Thiên. Còn Tường Vân quán, ông vẫn cất lợp như cũ mà đổi lại là Tường Vân am. Xong xuôi cho người qua rước lão ni Thanh Tịnh ở núi Thành Hoàng, luôn cả vợ con Cao Quốc Thái cũng rước về cho ở đó. Chi tiêu về khoản này kể như là phần hóa duyên của Hòa thượng ta đó. Nếu không như vậy, gặp lão đạo sĩ Trương Diệu Hưng đớp của ông mấy ngàn lượng như không!

- Phải đó, xin kính tuân lệnh dạy của sư phó.

Nói rồi sai gia nhân đi tìm Lưu Diệu Thông ngay. Diệu Thông liền đến nhà viên ngoại, vết cháy mới vừa lành, da còn đỏ hỏn. Viên ngoại cấp cho năm trăm lượng bạc. Diệu Thông hết lòng cảm ơn và cầm bạc đi về Lăng Vân quán ở núi Cổ Thiên. Viên ngoại lưu Quốc Thái ở lại nhà, cả Phùng Thuận cũng giử lại nốt. Ðoạn sai gia nhân đến núi Thành Hoàng rước lão ni Thanh Tịnh và gia quyến Cao Quốc Thái sang. Mọi sự đã ổn thỏa, Tế Ðiên mới cáo biệt trở về. Lương viên ngoại lấy ra mấy trăm lượng bạc xin với Tế Ðiên thổi y phục và làm lộ phí. Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Viên ngoại đừng có bận tâm! Hòa thượng ta thường nói: một không chứa tiền, hai không chứa oán, ngủ cũng yên giấc, đi cũng dễ dàng! Ta chẳng cần có tiền đâu!

Tế Ðiên cùng Tô Lộc cáo từ mọi người ra khỏi trấn Vân Lan, theo đường lớn thẳng một mạnh về Lâm An. Ðang đi gặp khí trời lạnh mát, Tế Ðiên cất tiếng ca:

Khí trời đang mát mẻ

Xua bực dọc thế nhân

Thong thả vào thánh lộ

Tiêu dao nào ngại chi

Tự do không ràng buộc

Ðịnh tánh vẫn an nhiên

Thỏng tay từ phàm thế

Cất bước đến cửa không

Vượt ngoài sanh tử lộ

Thong dong cõi an lành

Mồng một chẳng đốt nhang

Ngày rằm không bái sám

Ðiện trước tự do sập

Tường sau cỏ cứ len

Khách đến không trà nước

Bạn bè cóc đãi đằng

Ai chê mặc tình chê

Ai lạ thì cứ lạ

Thị phi dồn dập đến

Như gió thổi ngàn cây

Không cần khoe sức mạnh

Cũng chẳng lộ hùng tâm

Học đòi kẻ vô dụng!

Tế Ðiên và Tô Lộc cứ ngày đi đêm nghĩ, đói ăn khát uống, chẳng mấy chốc về tới Lâm An. Thấy một tửu quán bên đường, Tế Ðiên bảo:

- Bọn mình vào đây làm mấy chén giải nghề rồi đi tiếp!

Vừa bước vào quán thì thấy Tô Bắc Sơn cùng Tô Thăng ngồi phía trong uống rượu. Tế Ðiên vào, Tô Bắc Sơn lật đật chạy lại, nói:

- Bạch sư phó, lão nhân gia đã về rồi à! Trên đường đi chắc là cực nhọc lắm! Sư phó có tìm được Cao Quốc Thái không? Còn Phùng Thuận đâu?

Tế Ðiên mới đem sự việc của Cao Quốc Thái đầu đuôi thuật lại. Tô Bắc Sơn nói:

- À ra là thế! Báo hại sư phó phải cực nhọc quá chừng! Thôi, xin mời ngồi! Ngồi xuống đây uống với đệ tử vài chén!

Tế Ðiên cùng với Tô viên ngoại vừa mới ngồi xong, bỗng từ ngoài xồng xộc đi vào một ông già, đầu tóc trắng phau, mày râu cũng trắng nốt, tay cầm cây gậy nhắm ngay đầu Bắc Sơn giáng xuống. Tô viên ngoại lật đật né ngang, sợ đến nỗi mặt mày biến sắc, nói:

- Hàn lão trượng! Chúng ta là chỗ quen biết xưa nay! Hơn nữa, từ trước tới giờ có thù oán gì đâu mà lão trượng lấy gậy đánh tôi như thế? Có chuyện gì vậy?

Tô Bắc Sơn, hôm nay ta hận không đập chết mi được, mạng già ta mà kể số gì! Con ta đã lên huyện Tiền Ðường báo cáo, còn mạng già này sẽ treo cổ ở cổng nhà mi đế báo oán đây!

Tô Lộc, Tô Thăng vội níu chặt lão già lại, làm lão nổi giận, mặt tái xanh tái xám. Tô Bắc Sơn không rõ nguyên cớ tại sao. Hai gia nhân dìu lão trượng ngồi xuống ghế nghỉ. Tô Bắc Sơn nói:

- Thưa Hàn lão trượng, xin người đừng nói vội! Có chuyện gì ghê gớm mà đến nỗi đòi cất chỗ đội nón của tôi vậy? Lão trượng nói rõ cho tôi biết.

Hàn lão trượng ngồi xuống nghỉ một lát, rồi thở dài đáp:

- Này Tô Bắc Sơn, con tôi nó thiếu ông hai trăm lượng bạc phải sập tiệm đóng cửa, định bán nhà trả tiền lại cho ông, ông chẳng những không chịu mà còn phái côn đồ đến bắt con gái tôi đi, còn đánh con tôi bị thương nữa. Bộ tính bắt người thế tiền sao? Họ Hàn nhà tôi, đời đời làm nghề buôn bán, vô cớ ông cướp con gái tôi đi là nghĩa lý gì?

- Thưa lão trượng, việc lão trượng vừa nói có đúng thật không? Tôi thật không hay biết tí gì về việc này cả! Trong đó chắc có duyên cớ gì đây, nhưng không phải là gia nhân, thủ hạ của tôi, vì sao lão trượng lại hỏi tôi cớ sao lại làm việc thương luân bại lý như vậy? Mà ai đi đòi tiền lão trượng kia chứ?

- Rõ ràng là gia nhân của ông chứ còn ai. Hồi đó đưa tiền cho con tôi cùng là nó chứ ai.

Tô Bắc Sơn ngồi cố nhớ hồi lâu cũng không nhớ ra. Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Tô Bắc Sơn, Hàn lão trượng, không có gì phải gấp! Ðể ta đưa hai vị đi kiếm người đó cho, mà trước hết Hàn lão trượng phải cho người kêu Hàn Văn Thành về, khỏi phải đi cáo quan làm chi cho mệt!

Bèn sai Tô Thành đi tìm Hàn Văn Thành, giây lát sau Hàn Văn Thành về tới. Vừa gặp Tô Bắc Sơn, Hàn Văn Thành hai mắt đỏ ngầu trợn trừng trừng nói:

- Tô Bắc Sơn, tôi thí mạng cùi với anh đây.

Tô Bắc Sơn vội nói:

- Hiền đệ, lâu nay chúng mình qua lại thân thiết, chú thiếu tôi hơn 200 lượng tôi đâu có ý đòi, làm sao có chuyện cướp người? Chuyện này là đổ oán cho tôi đó!

- Rõ ràng là gia nhân của anh đến cướp em gái của tôi, lại còn đánh cho tôi thương tích đầy mình như vậy mà anh còn chưa nhận à?

- Hôm nay có Tế sư phụ ở đây, chúng ta phải đem chuyện này nhờ người gỡ rối mới được!

Tế Ðiên nói:

- Các ngươi đừng tranh luận gì cho mất công, cứ đi theo ta chút nữa ngô khoai gì ra khỏi quán, thẳng về hướng Nam, vào một ngõ hẻm, đến trước cửa một nhà trọ, Tế Ðiên kếu lớn:

- Tô quản gia, tiền đem trả cho ông đây!

Một người từ trong nhà đi ra. Tô Bắc Sơn, Hàn lão trượng và mọi người đồng thanh: À, thì ra là hắn.

Tế Ðiên nắm chặt kẻ hành hung tác ác lại.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:31 PM | Message # 41
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 38

Nơi quán rượu, Tô Bắc Sơn gặp Hàn lão
Sàn để hạ, Tế Thiền sư độ anh hùng




Tế Ðiên dẫn Tô Bắc Sơn và cha con Hàn Văn Thành đến một nhà nọ. Bên trong nghe tiếng kêu, có một người đi ra, HànVăn Thành thấy người này bèn nói:

- Phải rồi, người này tới đòi tiền tôi và đưa người tới bắt em gái tôi đây nè!

Tô Bắc Sơn coi kỹ lại là Tô Phước bè Kêu Tô Lộc, Tô Thăng níu Tô Phước lại. Tô Phước đây vốn là người ở huyện Kim Hoa, cha mẹ hắn mang theo lánh nạn, nghèo quá mới bán hắn cho Tô viên ngoại với giá 50 lượng để làm thơ đồng. Từ ngày vào làm thơ đồng, viên ngoại đối xử với hắn rất tử tế, Tô Phước lại có tật xấu là khoái ky cóp tiền bạc, lại hay uống rượu như hũ chìm. Khi say rượu, mở miệng là mắng chửi không kể ai lớn nhỏ. Ngày kia, đồng bạn đầy tớ mới khuyên dứt hắn:

- Tô Phước ơi, anh đừng có làm ồn ào như vậy! Anh hay mắng chửi người ta lỡ viên ngoại nghe được là khổ cho anh đấy!

Tô Phước say lè nhè, nói:

- Tôi nói cho các anh biết, đừng nói là viên ngoại rồi tôi ngán ổng đâu ngay đến hoàng thượng tôi muốn đánh là đánh liền coi ổng làm gì tôi? Viên ngoại là người thường thôi, nghe chửi thì nghe có làm gì được tôi nào!

Ðang lúc Tô Phước nói tới đó, viên ngoại ở bên ngoài bước vào. Nghe được tiếng Tô Phước la hét trong nhà, viên ngoại nghĩ thầm: “Cái thằng Tô Phước này quá lắm, tự tung tự tác chẳng coi ai gì hết!”. Lâu nay Tô Phước ra ngoài làm việc càn rỡ, tiếng đồn bất hảo nghe đầy tai viên ngoại, hôm nay lại nghe Tô Phước đang la lối khoác lác bậy bạ trong nhà, viên ngoại bèn nổi giận, sai gia nhân kêu Tô Phước lại, bảo:

- Này Tô Phước, lâu nay mi ra ngoài, mượn thế ta lường gạt lấn hiếp người khác, tự tung tự tác, lại còn rượu chè say sưa, mắng chửi la ối om sòm, ta biết mà chưa thèm nói tới. Hôm nay mi quen nói say sưa, ăn nói càn rỡ như vậy, ta không thể nào dung thứ ngươi được nữa! Ðáng lý ra ta giải mi đến nha môn cho họ sửa trị ngươi cho biết thân, nhưng gia đinh ta hiền đức không nỡ làm chuyện ác đức như vậy, chỉ vì ngươi bất nhân, ta đây cũng không thể trọn nghĩa được! Giấy nợ bán mình 50 lượng bạc của mi, ta cũng không cần nữa.

Nói rồi cầm giấy nợ kê lửa đốt bỏ, rồi bảo gia nhân tống khứ Tô Phước ra khỏi nhà, đồ đạc riêng cho mang theo hết để từ nay không còn bén mảng đến cửa nữa. Tô Phước ra khỏi nhà viên ngoại, mang theo mấy rương đựng quần áo và hơn 200 lượng bạc mà lâu nay chắt mót được, kiếm phòng trọ thuê ở. Trong tay có sẵn tiền, lại tuổi trẻ không người dìu dắt, Tô Phước không có việc làm, suốt ngày lêu lổng và kết giao với một người họ Dư tên Thông có ngoại hiệu là Dư lân giáp. Dư có nhà ở ngõ hẻm thứ hai, nhà chỉ có hai vợ chồng sống bằng nghể dắt mối, thấy Tô Phước tuổi còn nhỏ lại có tiền, Dư Thông mới đưa Tô Phước về nhà mình và kết nghĩa anh em. Tô Phước ở nhà Dư Thông hơn một năm, có bao nhiêu tiền dành dụm đều tiêu xài hết. Dư Thông thấy Tô Phước hết tiền bèn có ý đuổi Tô Phước đi. Tô Phước lại hay cãi vã với Dư Thông, hai bên không nhường nhịn như trước. Vợ Dư Thông ngầm bảo cho Tô Phước biết: “Chú liệu cách kiếm tiền đi chớ! Nếu kiếm tiền không ra thì anh Dư Thông nói rồi đó, không cho chú ở nữa! Chú không có tiền, chỉ ăn không phá gạo, bọn tôi không nuôi nổi chú đâu!”.

Tô Phước nghe nói, chột dạ: “Tiền đã hết, giờ biết tính sao đây?”. Bỗng chợt chớ Hàn Văn Thành lúc mới khai trương mượn viên ngoại mình 200 lạng bạc, hồi đó mình đưa anh ta, giờ kiếm anh ta đòi chắc được tiền. Hôm sau Tô Phước kiếm Hàn Văn Thành đòi tiền, Hàn Văn Thành hứa sẽ bán nhà trả nợ. Hàn Văn Thành cũng không biết Tô Phước đã bị bọn Tô Bắc Sơn đuổi từ lâu rồi. Một hôm Dư Thông nói:

- Tô Phước, chú thiệt có chủ ý đòi tiền Hàn Văn Thành không? Nếu thiệt, tôi có ý như vầy: Hiệu La công tử ở Tỉnh Nhai muốn bỏ ra vài ba trăm lạng bạc để mua một nàng hầu. Chúng ta đưa người đến kiếm Hàn Văn Thành đòi tiền, nếu Hàn Văn Thành có thì thôi, còn nếu không thì sẵn em gái anh ta đó, diện mạo xinh đẹp đáo để, chúng ta cướp đem về bán cho La công tử được vài trăm lượng đâu có mất, chú tính thế nào? Còn chờ Hàn Văn Thành bán nhà trả hả, biết đến chừng nào bán được mà chờ?

Tô Phước nghe cũng có lý, bèn nói:

- Phải đó, anh đi quy tụ người đi, ngày mai chúng ta sẽ đi đòi nợ, nếu anh ta không có tiền thì ta cứ bắt quách em gái của anh ta cho xong việc.

Dư Thông đi ra rủ rê một lát được hơn 20 tên đều là dân đầu trộm đuôi cướp. Hôm sau Tô Phước dẫn Dư Thông, cả vợ Dư Thông là Mã thị cùng bọn giựt dọc đi đến nhà Hàn Văn Thành đòi nợ. Hàn Văn Thành ra nói:

- Này Tô quản gia, tôi đã nói nhờ anh về thưa lại với viên ngoại chờ tôi bán nhà xong, biến sản nghiệp này thành ra tiền mới trả được cho người. Sao hôm nay anh còn đến nữa?

- Viên ngoại tôi nói chờ bán nhà lâu quá, bây giờ anh không có tiền hả, viên ngoại tôi bảo bắt em gái anh trừ nợ.

Nói rồi, Mã thị dẫn bọn kia áp tới bắt Hàn cô nương trói lại đẩy lên xe chạy đi. Hàn Văn Thành cản lại, bị bọn ấy đánh cho một trận, Hàn lão trượng chạy ra can ngăn cũng bị xô cho một cái xiểng niểng, những người hàng xóm thấy bất bình nhảy vào can thiệp cũng bị đánh nốt. Bọn ấy đẩy cô gái về tuốt nhà Dư Thông, Mã thị lúc này đóng vai bà mối, đến nhà họ La ở Tỉnh Nhai thương lượng với giá 400 lượng bạc. La công tử nói:

- Hãy về đi, lát nữa ta cỡi ngựa đến xem rồi sẽ ngã giá.

Bọn Dư Thông, Tô Phước ở trong nhà chờ La công tử đến xem mặt cô gái. Khi Tế Ðiên đến gọi, Tô Phước đinh ninh là La công tử đến chứ chẳng ai khác bèn vội vàng chạy ra xem, té ra người đến không phải là La công tử mà là Tô Bắc Sơn, cha con Hàn Văn Thành và Tế Ðiên. Tô Bắc Sơn nổi giận đùng đùng thét bảo Tô Thăng, Tô Lộc bắt trói Tô Phước lại. Dư Thông chạy ra can thiệp cũng bị bắt nốt. Kêu quan chức địa bảo ở địa phương giữ lại không cho chạy đi. Tô Bắc Sơn là nhân vật tiếng tăm ở địa phương nên nghe gọi là địa bảo tới ngay. Phần Hàn Văn Thành chạy vào nhà trong coi thử, thấy Hàn cô nương đang bị trói ghịt hai tay, nếu không bị trói cô nương đã tự vận rồi! Ðang hồi nguy khốn ấy, Hàn Văn Thành vào đúng lúc, cắt dây mở trói đưa lên kiệu trở về nhà với Hàn lão trượng theo hộ tống. Bây giờ trời đã nhem tối, Tô Bắc Sơn nói:

- Bạch sư phó, bọn Tô Phước này ta đem tống lên nha môn ở huyện Tiền Ðường để họ xử phạt cho rồi!

- Không cần, cứ đưa hai đứa nó về nhà ông đi, lát nữa ta có việc cần đến chúng nó!

Tô Bắc Sơn rất tin phục Tế Ðiên nên bảo gia nhân áp dẫn bọn Tô Phước về nhà mình. Khi về đến nhà Tô viên ngoại thì đêm đã quá canh, dặn bảo giữ bọn Tô Phước ở nhà ngoài, chỉ Tô Bắc Sơn và Tế Ðiên thẳng vào thư phòng. Tế Ðiên nói:

- Bữa nay Hòa thượng ta không muốn ngồi đây!

- Bạch sư phó, Ngài muốn ngồi ở phòng nào?

- Ta hôm nay muốn ngồi ở phòng ngủ của ông hà!

- Bạch sư phó, lão nhân gia đến nhà của đệ tử cứ xem như là nhà của mình, muốn ngồi đâu mà chẳng được.

Nói rồi sai Ðắc Phước xuống tin cho thái thái hay để dọn phòng cho có ngăn nắp và tránh sang phòng khác gấp, lát nữa Hòa thượng và viên ngoại sẽ xuống tới. Vừa đến trước phòng, Tế Ðiên nói:

- Tới rồi hả, đúng hẹn ghê!

Tô Bắc Sơn lấy làm lạ, hỏi:

- Bạch sư phó, người hẹn hò với ai vậy?

- Có hẹn thật mà không thấy chưa chưa kể là đúng hẹn.

Nói rồi Tế Ðiên cùng Tô viên ngoại, Hàn Văn Thành bước vào trong nhà, Trần Lượng nghe tiếng Tế Ðiên nói oang oang bên ngoài, nhìn qua rèm giường quả đúng là Tế Ðiên đến thật. Trong phòng có một bàn bát tiên với mấy cái ghế, Tế Ðiên vào liền ngồi ngay cái ghế chánh, Tô viên ngoại và Hàn Văn Thành ngồi hai bên, Tô viên ngoại nói:

- Thưa sư phó, bây giờ mình uống rượu trước hay uống trà trước?

- Cái đó khoan đã, bây giờ biểu tụi nhỏ đem Tô Phước lại đây cho ta!

Giây lát gia nhân dẫn Tô Phước đến, Tế Ðiên nói:

- Này Tô Phước, bữa nay hãy nói thật cho Hòa thượng ta nghe đi! Ai xúi biểu ngươi làm chuyện động trời này! Nói thiệt đi, rồi bọn Hòa thượng ta tha cho, còn không chịu nói thiệt hả, ta sẽ gởi ngươi lên quan để họ trị giùm!

Tô Phước nghe nói mấy lời đó rồi, chính hắn cũng biết Tế Ðiên là người thông suốt quá khứ vị lai, không phải tầm thường, nên không dám giấu giếm, bèn thưa:

- Hòa thượng hỏi đến, tôi xin trình thưa: Sau khi bị ông đuổi ra khỏi nhà, tôi thuê phòng trọ để ở. Gặp Dư lân giáp Dư Thông đưa tôi về nhà cho ở, áo quần tiền bạc của tôi anh ấy mượn lần hết, khi hết tiền rồi anh ấy định đuổi tôi đi. Vợ anh ấy nói cho tôi biết, vì tôi không có tiền trọ nên họ không cho ở nữa. Trong lúc túng ngặt, tôi bỗng nhớ ra anh Hàn Văn Thành có thiếu ông chủ 200 lượng bạc, số bạc này chính tôi đem giao cho anh ấy. Nhớ ra rồi tôi bèn tới đòi để đem tiền về xài đỡ, nào ngờ nhằm lúc anh ấy không có tiền. Dư Thông nghe biết việc này bèn biểu tôi, hãy cướp em gái của anh Thành đem đi bán cho La công tử ở Tỉnh Nhai, bắt người trừ nợ là xong việc. Dè đâu việc này bị ông chủ biết được bắt đem về đây, những việc vừa rồi tôi xin trình thưa hết, không dám giấu giếm điều chi.

Tế Ðiên nghe trình xong bèn kêu:

- Bây đâu, dẫn nó lại trước giường, bắt nó quỳ xuống!

Trần Lượng đang nấp dưới gầm giường nghe không sót một chi tiết, tự nhủ thầm: “Eo ôi, mình bậy dữ đa! Thật ra viên ngoại Tô Bắc Sơn là người tốt, việc bậy bạ này là do bọn nó làm cái chuyện “gian thần giả truyền thánh chỉ” đây mà. May mà Tế Công lão nhân gia đã tới kịp lúc, nếu không ta bữa nay giết lầm người vô tội”.

Tế Ðiên bên ngoài lấy tay chỉ điểm thinh không, nói:

- Nhìn cho kỹ nó đi để ngày mai báo ứng nó, khi khổng khi không muốn cầm dao giết người ta, to gan thiệt. Bây giờ biết lỗi mình chưa?

Tô Bắc Sơn nghe nói là lạ, ngạc nhiên hỏi:

- Thưa sư phó, lão nhân gia nói chuyện với ai vậy?

- Ông không biết đâu, cứ ngồi mà xem, đừng nói nhiều! Bây đâu, dẫn Dư Thông vô đây cho ta.

Lát sau gia nhân dẫn Dư Thông vào quỳ trước mặt Hòa thượng. Tế Ðiên lấy tay điểm điểm, nói:

- Này Dư Thông, ngươi thật là lớn mật quá, bộ tưởng những việc bọn ngươi làm Hòa thượng ta không biết hay sao? Sự việc như thế nào, tình thiệt khai hết ra đi, Hòa thượng ta sẽ tha tội chết cho, còn không chịu khai thiệt, ta sẽ đem ngươi trình với quan sở tại trị phạt cho biết mùi đòn bổng.

- Thưa chư vị, chư vị đừng trách tôi, việc này là do Tô Phước kiếm con nợ của ông chủ để đòi tiền thiếu. Tôi không dính vào việc ấy.

- Tuy Tô Phước tìm con nợ của ông chủ đòi tiền thiếu thật, mà chuyện tác tệ này không phải do ngươi bày biểu à?

Dư Thông nghĩ bụng: “Việc này không nói thật không xong. Chi bằng mình nói thiệt rồi năn nỉ Hòa thượng xin tha thứ để thả mình ra”. Nghĩ đoạn liền nói:

- Bạch Thánh tăng, người khỏi cần tra hỏi nữa! Việc này là do tôi lầm lẫn, nhân vì Tô Phước ngụ nhà tôi, muốn kiếm Hàn Văn Thành để đòi tiền mà đòi không được, bọn tôi mới bàn tính với nhau là bắt người để trừ nợ.

Tế Ðiên gật đầu, nói:

- Dẫn nó lại quỳ trước giường đi! Ngươi đã nghe rõ hết chưa?

Trần Lượng nghĩ thầm: “Chắc là Tế Công lão nhân gia đã biết mình ở dưới này quá!”. Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Cái gì mà biết với chẳng biết, nếu chẳng biết thì ta tới đây làm chi? Ta bảo ngươi nhìn cho kỹ mặt hai thằng này, để ngày mai báo ứng nó nhé!

Tô Bắc Sơn nói:

- Thưa sư phó, người nói chuyện với ai vậy?

- Ông không cần biết làm gì!

Tô Bắc Sơn mới bảo dọn tiệc rượu lên. Tiệc dọn xong, Tô Bắc Sơn nói:

- Này Hàn hiền đệ, chúng ta tuy giao dịch trong buôn bán nhưng có giao tình. Ðại khái, ta vốn là người thế nào, chú cũng biết, ta đâu thể làm cái chuyện thương thiên hại lý ấy được.

Hàn Văn Thành nói:

- Cũng là lầm lẫn thôi, tôi xin chịu tội với anh.

- Thôi, hãy rót rượu cho Thánh tăng đi!

Hòa thượng nói:

- Rót rượu là chuyện nhỏ, ta nghe hình như ở đây có mùi.

Tô Bắc Sơn hỏi:

- Có mùi gì đâu?

- Mùi ăn trộm.

- Làm gì có mùi ăn trộm ở đây?

- Dưới gầm giường ấy (sàn để hạ).

Tô Bắc Sơn lật đật kêu người đi bắt trộm.
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:31 PM | Message # 42
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 39


Thánh thử viên lần đầu vào Linh Ẩn
Tế Thiền sư được thỉnh đến Côn Sơn




Khi nghe Tế Ðiên bảo có mùi trộm dưới gầm giường (sàn để hạ), Tô Bắc Sơn vội sai gia nhân đi bắt, lấy cây huơ dưới gầm giường mà không thấy chi hết, báo hại Trần Lượng sợ đến nỗi hồn bay ngàn dặm! Tại sao không huơ trúng Trần Lượng? Thật ra Trần Lượng đã đề khí móc tay chân lên thành giường dán sát người vào đáy giường chịu trận. Gia nhân huơ gậy mấy lượt mà không thấy trúng, Trần Lượng tưởng mình đã thoát được rồi, trong bụng nghĩ: “Sư phó ổng đùa mình đây, chắc là muốn cho người ta bắt mình chớ gì! Phải làm sao đây?”.

Kế nghe gia nhân nói:

- Thưa viên ngoại, ở đây có ăn trộm nào đâu, nếu có sao huơ hoài không trúng?

Tế Ðiên nói:

- Làm gì không có trộm, bây lấy đèn rọi thử coi, hoặc giả tụi bây bốn đứa nắm chân giường bật ngửa xem có không thì biết. Ta nói có thì có mà.

Tô viên ngoại bèn bảo bốn tên gia nhân cầm chân giường bật ngửa lên, Trần Lượng không còn ngả nào trốn được nữa bèn cầm dao phóng ra ngoài, mọi người sợ hết hồn. Hai bên gia nhân lấy cây cản lại, dao của Trần Lượng chém dính vào cây côn gỗ, mọi người đổ xô đến vây chặt. Trần Lượng sợ quá không cách nào hơn là bỏ dao chạy thoát thân, nhảy vút ra ngoài. Bọn gia nhân hò reo:

- Bắt lấy nó!

Trần Lượng đã tót lên nóc nhà co giò chạy trối chết, ra đến bên ngoài, lựa chỗ vắng vẻ, thay bộ đồ dạ hành đi, kiếm chỗ nghỉ đỡ chờ đến sáng. Trời đã sáng tỏ, Trần Lượng bước tới trước nhà Tô viên ngoại xem thử, vừa tới cổng, thấy cửa lớn mở ra, từ bên trong Tô Phước đi ra, miệng nói lảm nhảm:

- Bây giờ viên ngoại đuổi ta rồi, ta biết ở đâu đây.

Tô Phước đang lảm nhảm than thở thì Trần Lượng đi tới nói:

- Ê, đứng lại coi, ta muốn đánh mi đây!

Nói rồi chộp áo Tô Phước lại tung quyền đánh tới tấp, đang lúc tên ác nô bị đánh tới tấp, năn nỉ xin tha mạng, Trần Lượng đánh tới hồi cao hứng thì đằng kia đi lại hai vị, một vị nói:

- Hai anh đừng đánh nhau nữa, mới sáng sớm mà đã có chuyện xích mích rồi! Thôi, đừng đánh nhau làm chi!

Trần Lượng nghe can bèn nói:

- Hai vị có lời khuyên, bọn tôi đâu dám không nghe, lời tục có nói: Trước sân mọc cỏ lạ, việc tốt chẳng bằng không! Ðã có hai vị khuyên, bọn tôi xin cám ơn!

Hai người ấy thấy lời khuyên của mình có hiệu quả bèn bỏ đi, trước khi đi, hỏi:

- Có phải Tô quản gia có đó không, hai người sao đánh nhau dữ vậy?

Tô Phước nói:

- Tôi cũng chẳng biết tại sao? Tôi với anh này đâu có quen, cũng chẳng có điều gì thù oán! Sáng nay tôi dậy sớm, mới từ trong nhà đi ra, gặp anh này kêu tôi đứng lại và níu tôi mà đánh, tôi cũng không biết tại nguyên cớ gì!

- Thôi, Tô quản gia đi đi.

Tô Phước cũng không dám ở lại, đánh thì đánh không lại mà đi cũng đi không được, nghe nói vậy lật đật bước đi. Tô Phước đi khỏi thì Dư Thông trong nhà viên ngoại cũng lò dò ra cửa, đúng ra Tô Bắc Sơn định đưa bọn họ lên nha môn xử tội, nhưng Tế Ðiên nói:

- Không cần phải thế, hai đứa nó đã hết lời năn nỉ, ta dạy cho chúng nó biết mùi khổ chút đỉnh thôi, nếu không chịu chừa bỏ, lần sau sẽ bị ác báo!

- Ðã có sư phó xin cho tụi nó, tôi cũng không làm khó dễ chi.

Ðến sáng hôm sau, Tô gia chủ bảo gia nhân thả họ ra. Thả Tô Phước ra trước, lát sau mới đến lượt Dư Thông. Vừa mới ra cửa, Trần Lượng gặp mặt tức thì cơn giận nổi lên, trong bụng thầm nghĩ: “Hay dữ a! Nếu không có hai thằng này thì ta đâu có mạo hiểm như hồi hôm?”. Nghĩ rồi xôm xôm bước tới níu Dư Thông lại, chẳng nói chẳng rằng cung tay đánh liên hồi, đánh đến nổi áo rách sút dây, bò lê trên đất. Dư Thông bị trận đòn này nặng hơn Tô Phước khi nãy. Vừa hay có một người đi qua đường khuyên giải, Trần Lượng mới chịu ngưng tay và nói:

- Xong rồi.

Dư Thông cũng không biết ấp giáp gì ráo, chỉ cố nhịn đau mà bước. Trần Lượng đứng đó một lát, không bao lâu Tế Ðiên từ trong nhà ra, trong tay cầm con dao của Trần Lượng. Tô viên ngoại nói:

- Bạch sư phó, người ăn cơm rồi hãy đi, cần gì phải về chùa sớm?

- Ta cần phải về chùa mới yên bụng được. Hơn nửa tháng nay ta chưa về chùa.

Nói rồi bước ra cửa. Ði một quảng không xa, Trần Lượng lật đật đi theo. Thấy bốn phía không có ai, muốn đến xin lại con dao mà không dám. bỗng nghe Tế Ðiên nói:

- Ngươi thật là lớn mật! Muốn tới ta xin lại dao mà không dám tới. Ta lấy dao đâm ngươi à! Việc thấy trước mắt hãy còn là giả, lời nghe qua tai chắc chi là thật? Vô cớ mà muốn giết đi cả nhà người ta lại chẳng biết thật giả gì ráo! Ta đem con dao này bán đi, ai muốn mua ta bán quách cho rồi!

Có một người chuyên bán đồ cổ, tự bút, sách vở, đao thương… nghe Tế Ðiên nói như vậy bèn bước tới xem. Con dao chuyên là thứ thuần thép luyện thành. Xem rồi bèn hỏi:

- Thưa sư phó, lão nhân gia muốn bán con dao này bao nhiêu tiền, tôi xin mua.

- Ông đưa ta tiền hai bầu rượu rồi cầm nó đi đi.

- Thưa sư phó, người muốn uống thú rượu bao nhiêu tiền một bầu?

- Ta muốn uống thứ rượu một lượng một bầu.

Người kia nghe nói, cười cười bỏ đi thẳng. Trần Lượng đi theo Tế Ðiên đến Lãnh Tuyền đình ở Tây Hồ bèn đến trước Tế Ðiên, quỳ xuống nói:

- Bạch sư phó, tôi chỉ một chút hồ đồ đã làm những chuyện bậy bạ, xin lão nhân gia từ bi xá tội cho!

- Thôi, ngươi đứng dậy đi, lượm con dao lên rồi theo ta về chùa.

Trần Lượng vâng dạ rồi cùng theo sau Tế Ðiên. Về đến chùa Linh Ẩn thấy có vị môn đầu tăng (giữ cửa), Tế Ðiên nói:

- Này hai sư đệ, tôi mới thâu nhận một đứa đệ tử, hai vị xem thử thấy có được không?

Tịnh Minh vội nói lia lịa:

- Xin chúc mừng, chúc mừng! Xin mời sư huynh vào! Cũng phải dẫn nó ra mắt chư vị chứ!

- Này Trần Lượng! Ngươi hãy đến cúi đầu ra mắt sư thúc đi.

Môn đầu tăng chỉ nói: - Không dám.

- Sư đệ không nên khách sáo làm gì. Nó đã cúi đầu vái chào rồi thì hai vị cứ nhận lễ đi, rồi cho đồ điệt một ít tiền.

- Không có, không có! Ở đây làm gì có tiền. Sư huynh đừng giả ngộ chứ!

Tế Ðiên dẫn Trần Lượng tiến vào cổng chùa. Thấy ở đằng kia, Giám tự tăng là Quảng Lượng đang đứng yên, Tế Ðiên bảo:

- Này Trần Lượng, con nên đến cúi đầu ra mắt đại sư gia của con đi.

- Ðừng cúi đầu, đừng vái chào! Tôi không có tiền đâu!

Tế Ðiên dẫn Trần Lượng vào nội thất phương trượng, lễ chào Phương trượng rồi lên Ðại Hùng bảo điện lễ Phật. Lễ Phật xong, giống chuông nổi trống nhóm Tăng chúng lại. Tế Ðiên nói:

- Thưa các sư huynh đệ! Tôi mới thâu một đồ đệ, xin chư huynh đệ chiếu cố giùm! Nhưng có một điều này: Trần Lượng, ngươi là đệ tử của ta, ta muốn uống rượu, ngươi phải đi đong rượu cho ta, ta muốn ăn thịt, ngươi phải mua cho ta!

Trần Lượng luôn luôn vâng dạ:

- Phải, vâng, đồ đệ phải luôn luôn hầu hạ sư phó.

- Ngươi nếu không có tiền thì sao?

- Ðồ đệ nếu không có tiền, thì coi chỗ nào đó kiếm chút đỉnh.

- Không cần đi đâu xa! Cứ mượn tạm các vị trong chùa này thôi. Các vị ấy đều là sư thúc, sư đại gia của ngươi cả, nếu có thấy cũng không rầy la chi hết. Tôi nói việc này có đúng không?

Chúng tăng nghe nói đều cười và đáp:

- Phải! Ông dạy nó trước hết đi ăn trộm à! Thiệt là thầy nào trò nấy!

Từ đó ngày nào Trần Lượng cũng mua rượu thịt về cung phụng cho thầy. Có bao nhiêu tiền bạc cũng chi hết, y phục đem theo cũng cầm nốt, không đầy mấy ngày, áo quần đem theo cũng sạch luôn. Trần Lượng thầm tính: “Tối nay mình ra ngoài kiếm chút đỉnh tiền đem về cung phụng cho sư phó mới được”. Chờ đến canh ba, thấy Tế Ðiên đang ngáy pho pho, Trần Lượng cầm bao đồ dạ hành sắp sửa đi ra, kế nghe Tế Ðiên nói:

- Ta đã dặn ngươi rồi, chỉ trộm loanh quanh trong chùa này thôi mà ngươi không chịu nghe lời ta hử? Hay a! Ðể ta cạo đầu ngươi rồi mới dạy ngươi được.

Tế Ðiên đứng dậy bước thẳng xuống trai đường, nói:

- Quý vị nhà bếp cho tôi một chậu nước nóng.

Vị giám trai hỏi:

- À, nửa đêm cần nước nóng làm chi vậy?

- Ðể gọt tóc cho đồ đệ tôi.

Nói rồi bưng chậu nước nóng đi thẳng. Lúc đó chúng tăng nghe tiếng ồn ào cũng đổ xô tới, nói:

- Ái chà, nửa đêm ông ta lại nổi khùng rồi!

Trần Lượng đứng chết trân không nhúc nhích. Mọi người lấy làm thương hại kéo ra bên ngoài, nói:

- Ngươi nên đi gấp đi, ông ấy phát điên rồi đấy!

Trần Lượng lúc đó mới hoạt động lại bình thường, bèn đi ra ngoài thay đồ dạ hành, Trộm mấy mươi lượng bạc. Trời sáng bèn đem lại chuộc y phục về rồi tìm một quán nhỏ, kêu bốn món ăn, ngồi tựa lưng vào cửa sau mà thưởng thức. Uống được vài hớp rượu, trong lòng thầm nghĩ: “Mình tính đi xuất gia, chẳng dè lại ra nông nổi này! Mình nghĩ Tế Công là vị cao tăng đạo đức, khi vào chùa lại không chịu xuống tóc cho mình. Phải chăng mình chưa đáng được xuất gia?”.

Nghĩ tới nghĩ lui có ý ăn năn. Kế bên nghe bên ngoài có tiếng nói:

- May quá, gặp một quán rượu! Bữa nay ta phải say khướt một bữa mới được. Cổ nhân nói:
Ở đời có rượu hãy vui say,
Cửa tuyền thiếu rượu chớ đi ngay!

Người nói câu đó chính là Tế Ðiên xăm xăm từ bên ngoài đi vào. Nhân vì khi hôm, Tăng chúng kéo Trần Lượng đi trốn, Tế Ðiên giận lắm! Ðòi cho được Giám tự tăng hai điếu tiền rồi bỏ chùa ra đi từ sớm. Ra đến Tây Hồ, đem hai điếu tiền cho người hết sạch. Ðứng trước cửa quán, dòm vô thấy đông người bèn vừa nói mấy câu trên vừa bước vào quán. Trần Lượng vừa thấy Tế Ðiên bước vào sợ quá co giò lủi mất. Tế Ðiên lừng lững bước vào chiếc bàn dọn sẵn cơm rượu bỏ trống, ngồi xuống ăn uống tự nhiên. Người dọn bàn thấy vậy, nói:

- Người kêu thức ăn chạy mất, Hòa thượng ngồi uống rượu của người ta kìa!

Tế Ðiên vừa uống vừa ngâm nga:
Rượu uống ít vào khỏi phải say
Răn chừa sắc dục sống thêm dai
Của tiền hợp lý kho đầy ắp
Nhẫn nhịn gia đình khỏi họa tai.

Ăn uống no say, Tế Ðiên đứng dậy định đi. Người hầu bàn nói:

- Hòa thượng ăn cơm không trả tiền, đi sao được!

- Ông lại đằng thủ quỹ bảo họ ghi sổ, ngày mai ta lại, ta sẽ trả cho ông, được không?

- Này Hòa thượng, tiệm của chúng tôi không có sổ.

- Không có sổ hả, dễ ợt, bảo chưởng quỹ đi mua một cuốn!

- Hòa thượng ơi, ông đừng nói đùa! Tiệm chúng tôi có sổ đó chứ, tại ông không quen nên nói không có đó chứ.

- Ông dám nói là không quen với ta à? Ðừng nói bậy bạ nhé! Chúng ta quen nhau mà!

- Chúng tôi nếu có quen với Hòa thượng lại giả đò nói không quen thì cho tôi là thằng ngốc đi!

- Thôi, đừng rủa, đừng thề, ngươi lớn xác ngần ấy mà ngay cả Hòa thượng ta cũng không nhận ra à?

- Tôi biết ông là Hòa thượng chứ, mà có biết ông là Hòa thượng ở chùa nào đâu?

Ðang cãi cọ nhau thì vị chưởng quỹ đến nói:

- Này Hòa thượng, ông định đến quấy rối chúng tôi hả? Không trả tiền thì không đi được đâu nhé!

Hai bên đang tranh cãi thì có hai người từ bên ngoài đi vào, nói:

- Hòa thượng ăn uống hết bao nhiêu để bọn ta trả cho! Chúng ta đi tìm Hòa thượng muốn hụt hơi, khác nào vùi băng kiếm lửa, ép cát tìm dầu đây! Bạch sư phó, xin lão nhân gia đi với bọn tôi nhé!

Tế Ðiêm dòm lại chẳng biết hai người này là ai.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:32 PM | Message # 43
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 40

Tế Thiền sư ra tiền cứu hiếu tử
Tham cửa hời Triệu Phước rước đá to



Tế Ðiên đang đùa cợt với người dọn bàn thì có hai người từ bên ngoài bước vào, người lớn tuổi can thiệp, trả tiền cơm rượu cho Tế Ðiên, đoạn bước tới vái chào, nói:

- Bạch Thánh tăng, hai tôi là Triệu Phước, Triệu Lộc, là trưởng đạo nha môn của quan Thái thú huyện Lâm An này và đang theo hầu hạ Thái thú lão gia. Chỉ vì Thái phu nhân chúng tôi chẳng may mắc bệnh mù lòa. Nhận được tin này, Thái thú chúng tôi tìm rước không biết bao nhiêu danh y về trị bệnh cho bà cụ mà vẫn không khỏi. Có một vị danh Trại thúc hòa Lý Hoài Xuân trước mặt đại nhân tiến cử lão nhân gia. Ông ấy nói lão nhân gia ở Tần tướng phủ trị bịnh đại đầu ung, ở Tô gia trị bệnh đàm chận nghẹt. Biết lão nhân gia là bậc thế ngoại cao nhân, nên quan Thái thú chúng tôi mới sai chúng tôi đến thỉnh mời. Xin Thánh tăng thí phát đại từ bi đi cùng với chúng tôi.

- Ta là người xuất gia, có biết gì về y đạo đâu nào? Hai ông về đi, ta không biết trị mắt đâu!

Triệu Phước, Triệu Lộc hết lời năn nỉ mãi, Tế Ðiên mới chịu nhận lời. Về đến ngoài cửa nha môn Tri phủ, Triệu Phước, Triệu Lộc lật đật vào báo trước, giây lát trở ra nói:

- Ðại nhân chúng tôi nói, áo mũ không chĩnh tề, xin đón tiếp ở thư phòng.

Tế Ðiên cười ha hả, trong miệng ư a:
Suốt đời hiền lành được thiện chung
Ăn ở bạc ác trời nào dung
Bần tăng xưa nay độ ngu muội
Chỉ sợ thế nhân quá ngại ngùng!

Tế Ðiên vào đến bên trong, thấy quan Thái thú bước xuống thềm tiếp rước. Quan Thái thú đầu đội khăn bốn góc bằng đoại xanh có hai mối bỏ thõng, mình mặc áo màu xanh biếc, lưng mang ngọc đái, chân dận quan hài, mặt như trăng thu, mắt mũi hiền từ, râu ba chòm đen nhánh phất phơ trước ngực. Tế Ðiên nhìn thấy biết là một bậc trung cương ái quốc. Thái thú gặp Tế Ðiên bèn khom mình thi lễ, nói:

- Ðệ tử bấy lâu ngưỡng mộ đại danh Thánh tăng, nay may mắn được gặp thật là tam sanh hữu hạnh!

Tế Ðiên cũng chào hỏi đáp lễ đúng phép. Vào ngồi trong nhà, gia nhân dâng trà tiếp đãi. Nguyên vị Thái thú này họ Triệu tên là Phụng Sơn, là người rất sáng suốt, xuất thân từ khoa giáp. Ông ta có một người em tên là Triệu Phụng Minh. Cha mẹ mất sớm, nhờ bà thím nuôi dưỡng thành người. Gần đây được tin bà thím bị bệnh mắt mù lòa, vội vàng mời thấy thuốc đưa về trị bệnh mắt cho bà thím. Ngờ đâu thỉnh mấy vị danh y mà trị không khỏi. Kế được Lý Hoài Xuân tế cử Tế Công, bảo rằng Tế Công là người tinh thông thuật kỳ hoàn, chữa đâu hết đó. Vì thế cho người đi tìm rước Tế Công về. Triệu Thái thú dặn bảo làm tiệc rượu khoản đãi và nói:

- Cầu xin Thánh tăng về Côn Sơn để trị bệnh cho lão thái thái.

- Lão gia có lời yêu cầu, Hòa thượng ta đâu dám chối từ!

- Tôi xin phái Triệu Phước, Triệu Lộc theo hầu Thánh tăng.

- Không được, không được đâu! Lão gia phái hai người ấy theo hầu hạ ta mà họ ăn mặc sanh trọng như vậy à? Ta ăn mặc như vầy mà họ theo hầu hạ ta coi chẳng ra làm sao hết!

- Cái đó dễ mà, để tôi sắm một bộ y phục mới cho Thánh tăng, bộ y phục cũ của Thánh tăng nát quá rồi, đổi cái khác là vừa.

- Không được đâu! Ta không thích mặc đồ mới, ta chỉ chịu như vầy thôi. Lão gia đã có ý phái họ theo hầu hạ ta cũng tạm được đi vậy, nhưng ta có lời dạy phải nói rõ trước mặt lão gia mới được. Là thế này: Hai vị đi theo hầu hạ ta, trên đường đi hễ ta bảo đi là phải đi, bảo ngừng là phải ngừng không được trái ý ta nhé! Nếu cãi ý ta thì ta trở về không đi nữa đâu!

Triệu Phước, Triệu Lộc hai người gật đầu ưng thuận. Quan Thái thú liền viết một phong thư kèm theo mấy nén vàng ròng và hỏi:

- Bạch Thánh tăng, người muốn ngồi kiệu hay cỡi ngựa, ngồi xe hay đi thuyền?

- Ta cưỡi đàng.

- Thánh tăng cưỡi nai à?

- Ở đây làm gì có nai?

- Ta cưỡi đàng ở đây là đường cái mà. Mấy thứ kia không cần đến đâu, chỉ cần mang theo lộ phí kha khá là được. Lão gia cho mang theo 200 lạng bạc đi!

Quan Thái thú bằng lòng lấy bạc cung ứng đầy đủ. Tế Ðiên cáo từ, mang theo Triệu Phước, Triệu Lộc khởi hành, Triệu Phước, Triệu Lộc trong bụng nghĩ thầm tính: “Từ đây về huyện Côn Sơn, hai bận khứ hồi chỉ 50 lạng bạc là tiêu xài dư dả. Còn thừa lại mỗi đứa trăm lượng bạc sướng bằng thích. Phen này phải hầu hạ Hòa thượng thật chu đáo mới được, kẻo ông ta giở quẻ là chết!”.

Ði đến trưa, Tế Ðiên nói:

- Kiếm quán nghĩ hè!

- Phải đó.

Tới một quán cơm, kêu rượu thịt, ăn uống no nê xong, Tế Ðiên nằm vật xuống ngủ khò. Hai người ngồi chờ đến đỏ đèn, Tế Ðiên thức dậy lại đòi ăn uống nữa. Ăn uống xong, Triệu Phước, Triệu Lộc mệt mỏi quá. Tế Ðiên bảo:

- Tính tiền đi! Nãy giờ ta ngủ khỏe rồi, mình đi nè!

Hai người mắt mở không ra, bước thấp bước cao đi suốt cả đêm. Trời sáng, mọi người bước vào quán. Hai người không kể gì đến ăn uống, nằm xuống ngủ vùi. Tế Ðiên cứ kêu rượu thịt ăn uống no say. Hai người ngủ li bì suốt cả ngày, lấy lại chút tinh thần muốn kiếm cái gì ăn để chuẩn bị đi tiếp. Nhưng đêm nay Tế Ðiên không khoái đi mà lại chỉ thích ngủ. Hai người đã ngủ suốt ngày đâu ngủ được nữa, cứ ngồi mở mắt suốt đêm canh chừng Tế Ðiên nằm ngủ. Trời sáng ra, hai người đã mệt mỏi, Tế Ðiên mới tỉnh dậy, kêu rượu uống rồi bảo tính tiền, tiếp tục lên đường. Hai người ở trạng thái mơ mơ hồ hồ, ăn cũng không được, ngủ cũng không yên, bị Hòa thượng điều động đi như vậy thật là khổ sở. Ngày kia còn cách Côn Sơn không xa mấy, đến gần một sơn trang, trong lớp rào thưa có một ngôi nhà vách đất ba gian, từ trong có vẳng ra tiếng khóc than ai oán:

- Ôi, Thần Phật không có mắt, trời đất không có tai hay sao mà để cho tôi khốn khổ như thế này! Mẹ ơi, mẹ chết đi mà con không mua nổi chiếc quan tài cho mẹ.

Tế Ðiên án linh quang biết rõ hết sự việc. Người đang than thở ấy họ Cao, tên là Quảng Lập, vốn là một người con có hiếu làm nghề đốn củi nuôi mẹ. Một ngày kia lên núi đốn củi, rủi bị té ngã gãy đùi vì đường trơn trợt, may được người ta cõng cho về nhà. Bà mẹ thấy thế lo sợ quá vì không có tiền nên chẳng biết làm sao hơn. Bà lo đến nỗi bệnh già tái phát, chẳng bao lâu qua đời. Cao Quảng Lập nghèo đến nỗi chiếc quan tài cũng không mua được cho mẹ, đang buồn tủi kêu khóc. Tiếng buồn khóc đó lọt vào tai Tế Ðiên, Hòa thượng động lòng thầm nghĩ: “Việc tốt ai cũng muốn làm, chỉ cần chi ra ít tiền là được, vậy mà không chịu thí xả. Hòa thượng ta muốn đem bạc chu cấp cho hiếu tử này mà bọn Triệu Phước lại không muốn!”. Nghĩ thế rồi Tế Ðiên vạch rào nhìn vào bên trong, lấy tay chỉ một cái, nói:

- Này hai vị quản gia, các ông coi bửu bối kia kìa!

Triệu Phước, Triệu Lộc nhìn vào thấy bên trong có một cục đá hình lăng trụ bảy tám góc đang nhấp nháy phát ánh sáng màu vàng rực. Triệu Phước, Triệu Lộc thấy rồi bèn hỏi:

- Bạch Thánh tăng, đó là cái gì vậy?

- Ðó là bửu bối giá trị liên thành lận.

- Ðã là bửu bối, sao chủ nhân nó không chịu đem cất mà bỏ bậy bạ thế kia?

- Mấy ông kéo hồ đồ! Không nghe người ta thường nói:
Vận đã xuống rồi vàng mất sắc,
Thời đã lên ngôi đá hóa châu.

Nhà này chắc là không có phước hưởng nên không biết đó thôi. Nếu họ mà biết là bửu bối chắc là không bao giờ bỏ lăn lóc như vậy đâu. Hòa thượng ta muốn vô mua, các ngươi đừng cản nhé! Ta đi mua mà có thiếu tiền, các ngươi sẽ bỏ vào rồi chia đôi bửu bối đó, Hòa thượng ta không cần đâu!

Triệu Phước nói:

- Nếu thiếu tiền bọn tôi sẽ biếu cúng, xin Thánh tăng cứ mua đi!

Tế Ðiên liền bước vào hỏi:

- Có ai ở nhà không?

Bên trong đi ra một thiếu phụ áo quần lam lũ, nói:

- A, đại sư phó tìm ai?

- Ta nghe nói nhà này có người chết, Hòa thượng ta đến hỏi xem có thuận làm trai đàn không?

- Bạch sư phó, nhà chúng tôi đây ngay đến quan tài còn không mua nổi, làm sao tính đến chuyện trai đàn? Thôi sư phó đừng nhắc đến chuyện đó, chúng tôi cũng không cúng nổi một bữa trai phạn cho sư phó nữa mà!

- Hòa thượng ta cũng không hóa một bữa trai phạn nào hết.

Tế Ðiên lấy tay chỉ cục đá để trên ngạch cửa, hỏi:

- Viên bửu bối này, quý vị có muốn bán hay không?

Người phụ nữa nghe hỏi liền nghĩ: “Nhà mình làm gì có bửu bối, cục đá đó mình lượm ở bên ngoài đem dằn lên ngạch cửa mà. Thứ đồ vô dụng đó mà cũng gọi là bửu bối được à?”. Nghĩ rồi, người phụ nữ ấy mới nói:

- Tôi bán đó.

- Bán bao nhiêu?

- Người phụ nữ ngẫm nghĩ hồi lâu, không biết phải nói giá bao nhiêu cho vừa.

Tế Ðiên nói:

- Cô khỏi ra giá làm chi, để ta cho cô một giá nhiều hơn nữa tôi cũng không có tiền đâu. Tôi trả cô 237 lượng bạc nhé! Cô có bằng lòng bán hay không?

Triệu Phước, Triệu Lộc nghe Tế Ðiên nói câu đó trong lòng nghĩ thầm: “Ông Hòa thượng giỏi cho giá thật! Mình đem theo 250 lượng bạc xài hết 13 lượng, còn đúng 237 lượng. Ông ấy lại đòi mua đồ, còn bao nhiêu tiền ông ấy đem giao cho người ta sạch trọi”. Nghĩ rồi phát tức.

Người phụ nữ nghe Tế Ðiên nói giá như vậy có ý muốn bán, lại sợ giá hời. Trong lòng không muốn bán, nhưng đang lúc cần tiền bèn nói:

- Tôi chịu bán.

Tế Ðiên kêu:

- Triệu Phước, Triệu Lộc, hai vị đem tiền giao cho người ta rồi vác đem đi mau. Nếu bỏ trên mặt đất làm kinh động bửu bối, sẽ mất hết linh nghiệm, không đáng giá một điếu!

Triệu Phước đem 237 lượng bạc để trên đất giao cho chủ nhà rồi kêu:

- Triệu Lộc ơi, tiếp ta với!

- Tôi không tiếp anh đâu, anh vác một mình trước đi, chừng nào không nổi hãy kêu tôi.

Triệu Phước nghe nói nghĩ cũng có lý, bèn bước tới vác cục đá. Ðá nặng tới bảy, tám chục cân. Ði được hơn một dặm, gân cốt đã oải hết! Triệu Phước hỏi:

- Bạch Thánh tăng, bửu bối này tên là chi vậy?

- Tên là Áp cẩu thạch (đá cột chó).

- Bửu bối thì quí thiệt mà tên nghe kỳ quá! Cái gì mà đá cột chó?

- Xưa nay người ta gọi vậy đó.

- Bạch Thánh tăng, tôi mệt quá rồi! Tôi nghĩ tạm một chút được không?

- Ý, không được đâu, nếu ngừng lại để trên đất cái báu vật đó tan mất, chừng đó một xu cũng không đáng nữa là!

- Cục bửu bối này vác tới đâu mới được?

- Bây giờ vác tới Côn Sơn bán, bán không được vác về huyện Lâm An.

- Vác riết chắc tôi chết quá!

- Này Triệu Lộc, chú có muốn chia tiền không?

Triệu Lộc nói: Chia thì chia!

- Chú muốn chia tiền thì đừng để tôi vác một mình, chú phải thay tôi vác một đoạn chứ!

Triệu Lộc vác thay cục đá cho Triệu Phước rồi hỏi:

- Bạch Tháng tăng, mình đem lên Côn Sơn bán có được không?

- Cũng được, chỉ tội ít tiền một chút thôi! Nếu đem về Lâm An bán chắc được hai vạn lượng, còn để bán tại Côn Sơn này chỉ được có một vạn lượng thôi, ít bằng phân nửa giá!

Triệu Phước, Triệu Lộc đều nói:

- Mạng chúng tôi không đáng giá hai vạn lượng đâu, đem bán tại Côn Sơn này là được quá rồi!

Hai người thay phiên nhau vác đến huyện Côn Sơn, mồ hôi mồ kê ướt đẫm. Tới một ngã tư, người qua lại đông đảo, Tế Ðiên bảo:

- Hai vị vác bửu bối đến đây rao bán đi!

Mấy người qua lại trông thấy hai người ăn mặc chỉnh tề vác cục đá tổ bố đứng đó, mới hỏi:

- Hai vị đứng đây làm gì vậy?

- Chúng tôi đem bán bửu bối.

- Cục đá này là bửu bối à?

- Phải, chính nó.

Người hỏi mỉm cười rồi bỏ đi. Liên tiếp mười mấy lượt người đều giống nhau, hỏi xong rồi bỏ đi. Triệu Phước, Triệu Lộc đứng lâu chột dạ. Kế nghe đằng kia có người đi lại nói:

- Trên thế gian này hễ có người mua là có người bán. Anh bán hả. Tôi mua đấy!

Triệu Phước, Triệu Lộc dòm lại, thì ra là hai vị mại chủ, bèn chắc mẩm trong bụng: “Phen này mình sẽ phát tài to”.
 
LongTracAn Date: Thứ Ba, 03 Apr 2012, 10:32 PM | Message # 44
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 41


Huyện Côn Sơn bỗng gặp chuyện lạ kỳ
Triệu Ngọc Trinh thủ tiết bị khi dễ




Triệu Phước, Triệu Lộc đang rao bán một cục đá cột chó, bỗng có hai người từ đầu kia đi lại hỏi:

- Cục đá này anh bán bao nhiêu tiền?

- Phải đúng một vạn lượng bạc mới bán.

Hai người nghe nói, lặng thinh quay gót định đi. Tế Ðiên nói:

- Xin hai vị khoan đi vội, chúng tôi muốn bán nhiều quá cũng bán không được. Hai vị cứ trả giá đi, chúng tôi thấy vừa giá thì bán. Hai vị muốn trả thấp là trả giá bao nhiêu?

- Có người đem cho chúng tôi một con chó, nó cứ chạy mãi. Tôi muốn lấy sợ dây cột nó vào cục đá cho đừng chạy nữa. Mấy vị ra giá cao quá, tôi lại nói giá quá thấp, xin đừng buồn. Cục đá này bán cho tôi 100 tiền nhé!

Tế Ðiên nói:

- 100 tiền cũng được, mấy vị có trả đủ tiền không?

- Cũng được. Ðể tôi trả đủ tiền cho quí vị.

Nói xong lấy tiền trả đủ rồi thuê một người rảnh việc vác đem đi.

Triệu Phước nói:

- Thưa Hòa thượng, cục bửu bối nầy mà bán có 100 tiền, làm sao rẻ như vậy được?

Tế Ðiên cười ha hả, nói:

- Cục đá ấy trừ hai đó ra không ai thèm lấy tới đâu, 100 tiền chỉ đủ tiền công vác mà thôi. Hai người chia một nửa, mỗi người lấy 50 tiền, Hòa thượng ta không cần lấy một xu nào cả. Các ngươi muốn đi buôn, ta mới dẫn các ngươi đi tìm bửu bối. Tại vận các ngươi chưa tới, chứ không phải ai cũng gặp được như vậy đâu nghe.

Hai người nghe nói thế cũng không dám nói gì, chỉ buột miệng nói:

- Thôi rồi, công lao bọn mình đi đứt, một vạn cũng không dính túi!

Tế Ðiên bảo:

- Ði mau, đi mau!

Mọi người đang đi, bỗng nghe phía trước có tiếng la:

- Tránh ra, tránh ra mau! Con mẹ điên đó, gặp ai đánh nấy đó đa!

Tế Ðiên nghe nói, nghĩ rằng chắc có điều gì uẩn khúc, bèn vỗ linh quang ba cái, miệng lẩm nhẩm:

- Hay a! Việc này ta đâu thể bỏ qua để người này mắc nạn được!

Vừa nói dứt, thì thấy có một người đàn bà từ phía Tây đi lại. Người này tuổi độ hơn 20, tư dung thanh tú, mặc áo dài lam, quần vải xanh, tóc tơ rối nùi, miệng hô:

- Lại đây, bọn bây theo ta về Tây phương chầu Phật Tổ!

Tế Ðiên thấy thế đã rõ biết hết cũng cất tiếng la:

- A, a! Tránh ra, tránh ra, ta cũng nổi điên đây!

La xong, co giò chạy một mạch tới trước. Triệu Phước, Triệu Lộc cũng lật đật chạy theo.

Ðầu đuôi sự việc ấy như thế này: Trong huyện Côn Sơn có một thân sĩ tên là Triệu Hải Minh, tự là Tịnh Ba, nhà rất giàu mà dưới gối chẳng có con trai, chỉ có một mụn con gái tên là Ngọc Trinh. Nàng này quả là thu thủy, làn da bạch ngọc tháp cốt, dung tư yểu điệu, phẩm chất đoan trang, biết tam tùng, rành tứ đức, tường tận thất trinh cửu liệt, học nhiều sách thánh hiền, rộng xem gương liệt nữ. Triệu Hải Minh cưng như trứng mỏng, trong nhà gia sản lớn, lại là thân sĩ, mà đã 18 tuổi cô nương vẫn chưa gá nghĩa với ai. Ðó là do tính tình của Hải Minh hơi kỳ quái, lúc trước có người đến làm mai mối cho cô nương bị Hải Minh mắng chửi đuổi ra cửa. Từ đó đám mai dong sợ quá không dám bén mảng tới. Hải Minh có một người em họ tên là Triệu Quốc Minh là một hương thân mà cũng là một nhà giàu có tại địa phương, đã làm quan chức Võ doanh, Lý Thiên Hộ, về sau từ chức ở nhà nuôi mẹ. Ông ấy là một người chánh trực, một hôm đến thăm anh là Triệu Hải Minh. Hai người cùng nhau đàm luận tại thư phòng, Triệu Quốc Minh hỏi:

- Huynh trưởng năm nay bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?

- Ta đã 58, hiền đệ quên rồi sao?

- Còn chị năm nay bao nhiêu rồi nhỉ?

- Bà ấy năm nay 60, hơn ta hai tuổi.

Triệu Quốc Minh nghe xong gật đầu, nói:

- Huynh trưởng lại có thể sống tới 58 năm nữa à?

Hiền đệ nói câu đó sai rồi, người ta nói:
Thọ yểu cùng thông là số mạng
Vinh quang phú quí bởi do ta!

Tuổi thọ có ai định chắc được.

- Ðã như thế, tôi xin có câu này nói với anh: Cháu nhà này đã 18 tuổi rồi, có mai mối đến cầu thân, anh mắng chửi người ta lại còn đuổi ra khỏi nhà nữa. Việc đó có phải là đợi chừng anh nằm xuống, cháu nó tự đi kiếm chồng à? Từ xưa đến nay trai khôn lấy vợ, gái lớn gả chồng là lệ chung ở đời mà!

Triệu Hải Minh nghe nói, thở dài tiếp:

- Tại hiền đệ không rõ đó thôi! Không phải là ta không muốn gả chồng cho cháu, ngặt vì những người mai mối họ đề cập đến bọn con em chẳng ra gì, xuất thân từ cội nguồn không tốt, bọn họ đều không đúng ý ta. Ý ta muốn tìm cho cháu một tấm chồng giàu nghèo không đáng kể, chỉ cần là người gia giáo, ngũ quan tướng mạo đoan chính, không thích phù hoa là được rồi! Gả nhầm một tên lãng đãng, há chẳng phải làm hại một đời con gái mình sao? Vả lại hôn nhân là việc quan trọng, không nên quá hồ đồ mà thành ân hận.

- Hôm nay tôi đến đây là cũng là vì hôn nhân của cháu đó. Ở ngõ phía Tây nhà tôi có vị Hiếu liêm Lý Văn Phương. Ông ta có một người em ruột là Lý Văn Nguyên, mới nổi tiếng văn học, đi thi có thể trúng Tam nguyên, người ta khen là bậc tài tử. Năm nay cậu ấy mới có 18 tuối, tôi nghĩ người này về sau chắc sẽ đỗ đạt cao.

- Ðược, ngày mai hiền đệ dẫn Lý Văn Nguyên đến chơi, nhân tiện ta xin một đôi liễn để xem nhân phẩm cậu ta như thế nào?

Triệu Quốc Minh gật đầu đồng ý. Hôm sau cơm sáng xong, Triệu Quốc Minh cùng Lý Văn Nguyên cùng đến, Triệu HảI Minh nhìn thấy quả là người phong thần tiêu sát, khí vũ hiên ngang, ngũ quan thanh tú, phẩm hạnh khác người, Triệu Hải Minh vội mời vào thư phòng tiếp đãi, gia nhân dâng trà, Triệu Hải Minh nói:

- Tôi đã ngưỡng mộ đại danh mà chưa có dịp bái phỏng.

Lý Văn Nguyên nhỏ nhẹ thưa:

- Vãn sinh suốt ngày đọc sách ỏ thư phòng, việc thù tiếp bên ngoài đều do gia huynh định liệu, sự quen biết vãn sinh rất thiếu sót.

Chuyện vãn mấy câu, lại bàn đến thi văn, Lý Văn Nguyên đối đáp rất thông minh, Triệu Hải Minh lấy làm đẹp dạ. Lát sau tiểu đồng mài mực, Triệu Hải Minh xin Lý Văn Nguyên viết cho đôi liễn. Lý Văn Nguyên không từ chối, bèn kê bút viết ngay:
Thư đáo dụng thời phương hận thiểu,
Sự phi kinh quá bất tri nan.

Dịch:
Sách đến lúc dùng, hiềm chưa đủ,
Việc chẳng mó tay, há dễ tường.

Bút pháp rất thanh tú, Triệu Hải Minh càng quý trọng hơn nữa. Việc xong, nói chuyện trong giây lát, Lý Văn Nguyên xin cáo từ, Triệu Hải Minh đưa tới bên ngoài. Vào tới trong, Triệu Hải Minh dặn Triệu Quốc Minh lo xúc tiến việc hôn nhân. Ba tiếng năm lời giáp mặt, giao kết hôn sự đã xong, bèn đem trà lễ đến vấn danh, hơn nữa tháng sau lại làm trà lễ nghinh hôn, Triệu Hải Minh đưa theo của hồi môn không ít. Sau ngày hôn lễ, vợ chồng Lý Văn Nguyên sống rất hòa thuận. Hơn một năm sau, cũng là lúc Lý Văn Nguyên đi ứng thí. Khi thi xong, Lý Văn Nguyên tin chắc là mình sẽ đậu. Ngờ đâu không cần văn chương cao hơn thiên hạ mà chỉ cần văn chương đúng luật trường thi. Sau khi thi tam trường xong, coi lại, tên ngoài bảng hổ, đứng dưới Tôn Sơn! Lý Văn Nguyên buồn quá phát bệnh. Về nhà cứ nói:

- Quan trường không có mắt, văn chương như vậy mà không đậu!

Bịnh mỗi lúc càng nặng thêm, báo hại Ngọc Trinh áo chẳng mở dải, ngày đêm túc trực cận kề. Nào ngờ đại hại khó qua, khác nào:
Trăng tỏ áng che mây vạn lý,
Hoa đẹp dập vùi mưa suốt canh.

Lý Văn Nguyên bị căn bệnh cướp đi giữa sự nghẹn ngào thương tiếc của người vợ trẻ. Triệu Hải Minh nghe báo tin như rơi từ dốc đứng, hai vợ chồng già vội thu xếp đến nhà họ Lý, nhìn thấy thi thể Lý Văn Nguyên, than khóc không ngừng. Vào đến phòng con gái, thấy Triệu Ngọc Trinh đôi mắt ráo hoảnh, Triệu Hải Minh và vợ là Hoàng An thị nói:

- Con ơi, số mệnh con sao khổ thế này, chồng con qua đời sao con không có chút thương tâm nào vậy?

- Thưa cha mẹ, số con quả là hồng nhan bạc mệnh! Hiện con đang có mang đã hơn 6 tháng, giờ đây tuy ruột gan rời rã con cũng không dám khóc, sợ động tới thai nhi mà mang tội bất hiếu. Sau khi sanh ra, nếu là con trai, có thể tiếp nối hương khói cho dòng họ Lý, nếu là con gái thì cũng là chứng tích máu thịt của chồng con.

Nói rồi bật khóc nức nở. Hai vợ chồng Triệu Hải Minh chỉ còn có nước vừa khuyên giải, vừa buồn lòng thương xót thôi. Lý Văn Phương lo rước thầy khai kinh tụng niệm. Qua mấy ngày tang lễ đã xong, Triệu Ngọc Trinh khổ giữ trinh tiết. Ba bốn tháng sau, gần ngày sinh nở, bụng thai động nhiều, bèn cho người mời cha mẹ ruột đến. Lúc lâm bồn có rước mụ đỡ đẻ cẩn thận. Ðứa con sanh ra là một bé trai, đặt nhũ danh là: Mạc Lang nhi. Theo tục lệ, mỗi khi chồng chết, sương phụ sanh con trai, đều đặt nhủ danh cho đứa bé là Mộ anh nhi, đó là nói trại, gọi đúng phải là Mạc Sanh nhi. Triệu thị sau khi sanh con liền dọn ra ở một nhà riêng thủ tiết ba năm. Trẻ hầu không gọi không được tới. Vợ chồng Triệu Hải Minh cũng thường tới lui thăm viếng con gái. Một hôm, Ngọc Trinh nói với cha mẹ:

- Thưa cha mẹ, ngày mai là sinh nhật của đại ca Lý Văn Phương, xin ba má sắm sửa một ít lễ vật chúc mừng, trước là đến chúc thọ, sau nữa là đến nhắc nhở anh ấy quan tâm đến đứa bé côi cút này.

Vợ chồng Triệu Hải Minh gật đầu, nói:

- Ðể mai chúng ta đến chúc mừng chú ấy.

Ngày kế, Triệu Hải Minh cho người đưa lễ vật: đèn sáp, rượu ngon, đào, bún và một cuộn chúc thọ đến trước, rồi phu nhân ngồi kiệu, viên ngoại cỡi ngựa, bọn tôi hầu theo sau. Trước cổng nhà họ Lý, quang cảnh thật nhộn nhịp, ngựa xe chật ngõ, chẳng có quen nhân dịp cố làm quen. Thực ra Lý Văn Phương là thân sĩ tại địa phương, giàu có lớn lại đỗ Hiếu liêm, cả địa phương ai mà không trọng vọng. Lễ sinh nhật này, cả giám sinh viên, thân hào phú hộ của huyện Côn Sơn đều đến chúc mừng Lý nhân tròn 30 tuổi. Trong nhà đã bày sẵn cỗ bàn để tiếp đãi thân hữu. Vợ chồng Triệu Hải Minh vào bên trong chúc mừng xong, Lý Văn Phương nói:

- Thưa bác, từ ngày em cháu qua đời, lâu nay vì bận nhiều chúng ta chưa rảnh để hàn huyên. Hôm nay sẵn dịp vui vẽ này, đợi tối lại khách khứa về hết, chúng ta sẽ bày tiệc thô sơ để hàn huyên sự thế.

Triệu Hải Minh gật đầu đồng ý. Ðến đỏ đèn, khách khứa đã về hết, Lý Văn Phương cho bày một tiệc rượu tại thư phòng cùng Triệu Hải Minh ngồi đối diện lai rai. Chuyện theo ứng rượu càng nồng, phút chốc canh một qua mau. Bỗng từ bên ngoài đi vào một cô gái hầu, trong tay cầm một ngọn đèn tắt ngấm, đứng trước bàn nói:

- Thưa cụ ông, thưa viên ngoại, không xong rồi! Vừa rồi tôi sợ muốn đứng tim! Hồi nãy cụ bà và bà chủ đang uống rượu bên thư phòng, bảo tụi con đi mời mợ hai (nhị chủ mẫu) lên dự, con vừa lên trước phòng Ðông, đối diện với thư phòng trong thì thấy có một bóng đen đứng lù lù ở đó, con sợ hết hồn té chạy đèn đuốc tắt mất!

Lý Văn Phương và Triệu Hải Minh nghe nói, trong lòng lấy làm kỳ lạ, bèn đốt lồng đèn lên, hai người cùng lên cửa Ðông viện bảo tớ gái gọi cửa. Cô gái kêu:

- Mợ hai ơi, mở cửa!

Bên trong có tiếng bước chân đi lại rồi cửa mở, một bóng đàn ông trần trục chạy vọt ra…


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:13 AM | Message # 45
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 42


Trinh tiết phụ hàm oan tìm huyện lệnh
Tế Thiền sư đùa cợt bắt tặc gian




Tớ gái gọi cửa phòng Triệu Ngọc Trinh, cửa vừa mở thì từ bên trong vọt ra một người đàn ông trần trụi như nhộng. Lý Văn Phương thấy vậy không dằn được cơn giận, sắc mặt tái xanh, bèn nói:

- Triệu Hải Minh, ông lại coi, ông khéo dạy con dữ a! Ta hãy về thư phòng nói chuyện.

Về đến thư phòng, rượu cũng không buồn uống. Triệu Hải Minh mặt giận hầm hầm, không nói một tiếng nào. Lý Văn Phương nói:

- Chúng ta đưa việc này ra quan hay bãi nại êm? Nếu đưa ra quan thì chúng ta đưa nhau đến huyện Côn Sơn nhờ xử trí, còn bác muốn bãi nại êm thì hãy viết cho tôi một tờ bãi hôn, tôi cũng thay em trai tôi viết cho bác một tờ để vợ, dòng dõi họ Lý nhà tôi đời đời làm môn đệ thi thư lễ nhạc, đâu dung chứa hạng người làm bại hoại gia phong như thế!

Triệu Hải Minh là một người đọc sách thông lý, nghe Lý Văn Phương nói như vậy chính mình cũng không nói ra thế nào khác được, bèn nói:

- Chú muốn đưa ra quan hay bãi nại êm thì tùy chú. Con gái tôi lâu nay ở trong nhà tôi đoan đoan chánh chánh chứ có đâu như vậy. Về đây là gia phong nhà chú lại như vậy. Tôi chỉ coi ngó việc ba thước trong nhà chứ làm sao quản lý hết ba thước ngoài cổng được!

- Theo ý tôi thì chúng ta nên bãi nại êm.

- Cũng được, để tôi viết cho chú một tờ bãi hôn.

Ðứa tớ gái đứng một bên nghe hết mọi việc, vội chạy về thượng phòng nói:

- Thưa cụ bà, thưa bà chủ, không xong rồi! Hồi nãy con đi mời mợ hai, đến cửa Ðông viện lồng đèn bị tắt, con đến thư phòng đốt lại lồng đèn, cụ ông và viên ngoại đưa con đến đó kêu cửa mợ hai. Từ trong phòng mợ hai chạy vọt ra một người đàn ông, từ đầu đến chân không một mảnh vải che thân, viên ngoại và cụ ông đều thấy rõ, nhưng không nắm người ấy được. Con nghe viên ngoại nói muốn thay mặt em viết tờ để vợ, cụ ông cũng định viết giấy bãi hôn, vậy phải làm sao bây giờ?

Hoàng thị thái thái nghe mấy lời đó sợ tái xanh mặt, việc xảy ra ở phòng con gái như thế, lòng dạ nào còn ăn uống được nữa! Bà chủ là người hiền đức, đối với chị em bạn dâu rất hòa ái, nghe những lời đó cũng ngạc nhiên bèn lật đật cùng với Hoàng thị lão thái thái thẳng đến cửa phòng Ðông viện. Ðến phòng Triệu Ngọc Trinh thấy trên đất hãy còn ngọi đèn cháy lờ mờ. Trên giường, Triệu Ngọc Trinh đang ôm con ngủ say bất động. Gần bên đó treo tòn teng một chiếc quần đàn ông và một chiếc giày lẫn vớ còn lưu lại trên đất. Nàng hầu đến đánh thức mợ hai tỉnh dậy. Phải kêu liên tiếp mấy tiếng, Triệu Ngọc Trinh mới tỉnh giấc. Mở mắt ra thấy nào mẹ, nào chị dâu, a hoàn, vú em đứng lố nhố trước mặt bèn vội hỏi:

- Mẹ chưa về à? Nãy giờ con ôm cháu ngủ say không biết hiện đã mấy giờ rồi?

- Con ơi, con làm chi xảy ra cớ sự này, để hai vợ chồng già còn mặt mũi nào ngó thiên hạ nữa!

- Thưa mẹ, con có làm chi đâu nào?

Ðứa tớ gái ưa nói hớt đứng kế bên mới đem sự việc vừa rồi thuật lại và nói:

- Mợ hai ơi, mợ đừng có giả bộ, quần áo giày vớ của đàn ông hãy còn ở đây mà!

Bà chủ cũng hỏi:

- Em ơi, tại sao lại có sự việc như thế này, bình thường em đâu có như vậy?

Cụ bà Hoàng thị cũng hỏi như vậy. Triệu Ngọc Trinh nghe hỏi như thế tức giận đến phát run, xuất hạn cùng mình, thở dài một tiếng, nói:

- Mẹ ơi, con bây giờ thiệt khó biện minh, có miệng mà khó nói nên lời.

Thật là:
Nước đục chẳng tường giếc với chép,
Nước trong mới tỏ có hai phe.

Nói tới đó thì Triệu Hải Minh và Lý Văn Phương bước vào. Triệu Hải Minh giận uất tận cổ, nói với Hoàng thị:

- Sao bà không mang đứa con gái không biết xấu hổ này đi về nhà cho rồi. Tôi trao đổi giấy bãi hôn với Lý Văn Phương xong thì bên ngoài sắp sẵn kiệu ngựa rồi đó.

Triệu Ngọc Trinh bồng đứa bé đi ra sắp sửa lên kiệu, Lý Văn Phương bước tới níu lại, nói:

- Này Triệu thị, lần này cô trở về nhà cha mẹ, muốn lấy anh họ Trương, họ Vương, họ Lý, họ Triệu gì thì mặc cô, còn đứa bé này là máu huyết của em tôi để lại, giờ phải để lại cho tôi!

Nói rồi cướp đứa bé ra khỏi lòng Triệu Ngọc Trinh. Triệu thị đau đớn khóc rống và lên kiệu cùng mẹ trở về nhà. Về đến nhà vừa lên thượng phòng đã thấy Triệu Hải Minh chờ sẵn, mặt giận hầm hầm đóng cửa lại, lấy một con dao bén và một sợi dây thừng, nói:

- Con a đầu mặt dày mày dạn này, hôm nay mày phải chết! Nếu không ngày mai ta sẽ chôn sống mày!

Hoàng thị lão thái thái quá đau đớn cho con gái, ngửa mặt lên trời rồi ngất lịm.

Triệu Ngọc Trinh nghĩ thầm: “Mình chết như vầy sẽ để lại tiếng xấu muôn năm, chi bằng ta chết trước huyện nha Côn Sơn, cái chết ở đó mới chứng tỏ được danh tiết trong trắng của ta”.

Nghĩ rồi bèn cầm dao khoét lỗ cửa sổ giấy, chui mình qua lỗ cửa chạy thoát. Chạy ra đến bên ngoài, trên bầu trời sao giăng giăng sáng rỡ, Triệu Ngọc Trinh chẳng dám đi trước viện bèn chạy thẳng ra phía sau thẳng ra mé sau góc hoa viên. Mở cửa góc hoa viên ra xem, bên ngoài quang cảnh tối đen lại còn sợ hơn nữa. Dấn bước ra ngoài đầu va vào ngạch cửa. Con dao cũng vướng mạnh vào khe cửa khứa đứt tay máu tuôn xối xả vây cùng quần áo. Sao khi lượm con dao lại, cầm chắc trên tay bèn bước thấp bước cao lò dò tiến tới. Vừa đi vừa lo sợ không biết nha môn lệnh nằm ở nơi nào. Vừa đi, trong bụng tự nghĩ: “Rủi ro gặp tên thổ phỉ nào đó đón đường không biết số phận mình sống chết ra sao đây!”.

Ði mãi đến trời sáng rõ. Chính mình cũng không biết Ðông Tây Nam Bắc là hướng nào. Ðang đi về phía trước thì gặp một cụ già đang lấy thau múc nước. Bà ấy thấy Triệu Ngọc Trinh đầu tóc rối bù, mặt mày trắng nhợt, thân bê bết máu, bất giác rùng mình, nói:

- Ơ, chắc là con mẹ này điên?

Triệu Ngọc Minh nghe bà cụ nói như vậy, bèn mượn miệng giả điên luôn, kêu lớn:

- Hay hay hay! Lại đây, lại đây! Theo ta về Tây phương làm Phật Tổ.

Bà cụ nghe la sợ quá, co giò chạy trốn, gặp ai cũng nói:

- Con mẹ điên tới đó, nó dữ lắm!

Kẻ qua đường tò mò nhóm lại rất đông. Triệu Ngọc Trinh cũng tìm không ra huyện Côn Sơn, trời đã đứng bóng, đang đi tới bỗng nghe trước mặt có tiếng la:

- Ta cũng điên đây, tránh ra tránh ra!

Triệu Ngọc Trinh ngước mắt nhìn xem thấy đầu kia chạy lại một vị Hòa thượng kiếc trong miệng cứ la:

- Ta cũng điên đây, ta cũng điên đây!

Vị Hòa thượng này tóc dài hơn hai tấc, mặt dính đất tèm lem, tăng bào rách bươm, áo mất bâu, thắt lưng đứt nối lung tung, da nổi xù xì, không mang vớ, đôi chân trần xỏ trên dép cỏ, đi băng xiêng băng nai, bước chân loạng choạng. Triệu Ngọc Trinh thấy vậy thất kinh, thầm nghĩ: “Mình đây điên giả, còn ông ấy điên thiệt. Nếu như ông ấy chạy đên níu tay mình, ôm mình, quật ngã mình, mình sẽ phải làm sao đây?”.

Sợ đến nỗi không dám bước tới nữa. Hòa thượng khùng vừa chạy đến chính là Tế Ðiên, đằng sau Triệu Phước và Triệu Lộc chạy theo bén gót. Khi nghe Tế Ðiên bảo: “Ta cũng điên nữa”, bèn tức giận hết sức. Hai người nghĩ: “Bỏ ra 237 lượng bạc đi mua về một cục đá vác đi nặng đến nổi gân cốt cả hai oải hết mà bán được có một trăm tiền, vô cớ ổng lại phát điên. Phải xem thử ra sao cho biết!”. Khi Tế Ðiên chạy tới gần con mẹ điên thì ngừng lại, miệng nói nho nhỏ:

- Muốn kiếm quan huyện theo ta, không biết nha môn ở đâu, ta dẫn đi!

Nói rồi cấm đầu chạy về phía trước, Triệu Ngọc Trinh nghe nói thế bèn nghĩ: “Phải chăng ông Hòa thượng này có điều chi oan ức đây! Ông ấy muốn kiếm quan huyện để đầu cáo, sao mình không chạy theo ổng?”. Hòa thượng chạy trước, con mẹ điên chạy phía sau, ai mấy xem thấy cũng bật cười. Chạy được một quãng thấy đàng trước đi lại một chiếc kiệu, Tế Ðiên thấy kiệu đến bèn nói:

- Ðược rồi, không cần phải chạy nữa, lão gia huyện Côn Sơn đi viếng khách trở về, Hòa thượng ta đón đầu xe dâng cáo trạng, có việc gì mà không được. Hòa thượng ta đến kêu oan một tiếng là kiệu phải ngừng lại ngay. Ta muốn đi kêu oan ai mà dám cãi ta nào?

Triệu thị nghe nói đến quan huyện lệnh Côn Sơn, thầm nghĩ: “Ðây là người ta đến kêu oan mà!”.

Một lát sau từ đàng kia đi lại, bóng cờ lọng nhấp nhô, não bạt inh ỏi, thanh đao, phỉ hổ, kiếm kích sáng ngời. Quan huyện ngồi kiệu đi giữa, tuỳ tùng tiền hô hậu ủng rất đông. Quan Tri huyện họ Tăng tên là Sĩ Hầu vốn xuất thân từ khoa bảng, từ khi về trấn nhậm huyện này xử đoán rất công minh, thương dân như con, hôm nay đi đón rước thượng quan tới trần nhậm trở về. Triệu thị quỳ mọp bên đường, kêu lớn:

- Oan uổng tôi lắm!

Kiệu tức thì dừng lại, quan huyện nhìn ra thấy đang quỳ bên đường một người phụ nữ trạc tuổi đôi mươi, phục sức rất đơn giản. Quan huyện thấy rồi bèn cho dẫn đường thiếu phụ đến trước xe. Người thiếu phụ ngước mặt lên thưa:

- Bẩm lão gia, tiểu phụ rất là oan uổng!

- Ngươi muốn kêu oan điều gì? Cứ sự thật trình ra đi!

- Kính bẩm đại nhân, tiểu phụ nhân họ Triệu có chồng là Lý Văn Nguyên chẳng may tạ thế, tiểu phụ một dạ thủ tiết thờ chồng. Vừa rồi nhân lễ sinh nhật của anh chồng tiểu phụ Lý Văn Phương, trời đã sang canh, tiểu phụ ôm con là Mạc Lang nhi ngủ say ở Ðông viện. Ðứa tớ gái gọi cửa, trong phòng tiểu phụ chạy ra một người đàn ông thân thể lõa lồ. Anh chồng tiểu phụ thấy việc bất minh như vậy cũng không biết ra làm sao bèn thay em viết một tờ để vợ, cha tiểu phụ trước sự bất minh đó cũng viết một tờ để hôn, rồi đem tiểu phụ về nhà đưa cho một đoạn dây thừng và một con dao biểu rằng tiểu phụ phải tự tử lấy. Tiểu phụ chẳng tiếc gì mạng sống này, chỉ sợ tiếng xấu còn lưu lại ngàn năm không gột rửa, cho nên đến đây cầu xin lão quan giải tỏa nỗi oan ức ấy.

Quan huyện nghe xong sự việc, trong lònng thầm nghĩ: “Những sự việc báo cáo này là ở nhà cha mẹ ruột nó là Triệu Hải Minh, của nhà chồng nó là Lý Văn Phương, quan thanh liêm khó xét việc nhà người, thôi gác lại cho rảnh!”. Trong đám đông bỗng có tiếng la lớn:

- Bỏ qua vụ án này không xứng đáng hưởng tiền lương đâu nhé!

Quan huyện nghe la, tức giận nói:

- Ai la gì ồn ào thế! Bây đâu đừng cho nó chạy, bắt nó vào đây cho ta.

Quân lính chạy ra tìm kiếm nhưng không thấy người nói đâu hết. Quan huyện ra lệnh đưa người thiếu phụ về nhà môn xét hỏi. Về đến nha môn, quan huyện xuống kiệu thăng đường ngay và cho đòi thiếu phụ vào tra xét. Triệu Ngọc Trinh đem sự việc trình thưa giống y như trước. Quan huyện biết là Triệu Hải Minh và Lý Văn Phương đều là thân sĩ trong huyện, truyền gọi đến trình bày sẽ biết. Nghĩ rồi bèn truyền quân lính kêu Triệu Hải Minh và Lý Văn Phương đến xét hỏi. Sai nhân vâng dạ đi ngay đến cổng nhà họ Triệu truyền lịnh gọi: Triệu Hải Minh nghe nói thầm nghĩ: “Hay cho con a đầu này, mi đến huyện quan tố cáo ta, bây giờ còn mặt mũi nào nhìn người ở huyện Côn Sơn nữa!”.

Lên đến huyện nha, Triệu Hải Minh thưa bẩm ra mắt. Quan huyện nhìn thấy Triệu Hải Minh ngũ quan thuần hậu ra dáng viên ngoại ngũ phẩm, bèn hỏi:

- Này Triệu Hải Minh, con gái ông đã khai hết với ta, sự thật như thế nào, hãy trình ra đi!

- Dạ bẩm lão phụ đài ở trên soi xét, trong nhà chức viên bất hạnh mới xảy ra việc này, cầu mong phụ đài nể mặt chức viên đừng hỏi đến làm chi. Tôi nếu không chính mắt thấy làm sao trả lời cho được.

Sự việc đã đến quan đường, đâu thể nào mơ mơ hồ hồ được? Truyền cho xuống để cho bổn quan tra hỏi lại cho minh bạch.

Kế nghe người hầu bẩm có Lý Văn Phương đến.
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:13 AM | Message # 46
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 43



Khéo lấy cung tra rạch ròi án trước
Triệu Phụng Minh khoản đãi Tế Thiền sư


Lý Văn Phương đang liệu lý việc nhà, bỗng có gia nhân báo:

- Thưa lạo gia, hiện bên ngoài có sai nhân của quan huyện Côn Sơn đem lệnh đòi lão gia đến hầu. Ðó là do mợ hai đi báo cáo đó.

Lý Văn Phương nghe nói, đột nhiên nổi giận la:

- Hay cho Triệu Hải Minh lại làm việc tráo trở này! Ông đã không sợ xấu hổ, ta lại sợ sao?

Nói rồi lấy bộ y phục đàn ông ở trong phòng Triệu thị gói lại, cùng với sai nhân đến huyện gia ra mắt Tri huyện:

- Lão phụ đài ở trên soi xét, Hiếu liêm Lý Văn Phương xin kính chào lão quan.

Quan huyện ngước lên nhìn thấy Lý Văn Phương tuổi trạc 30, đầu đội khăn đoạn xanh nhạt, phía trước có khảm một miếng ngọc, dọc rìa khăn chạy kim tuyến lấp lánh. Chiếc áo bào đang mặc màu trái ấu bằng đoạn thêu ba hoa lam phú quý, lưng thắt dây nhung, chân vận quan hài, gương mặt trắng trẻo, chân hình chữ bát, mắt sáng long lanh, ngũ quan thanh tú, toát ra vẻ tinh minh khoẻ mạnh. Quan huyện nói:

- Này Lý Văn Phương, Triệu thị là gì của ngươi? Cô ta đem việc hàm oan ở nhà ngươi báo cáo với ta, ngươi có biết không?

- Bẩm lão phụ đài, vãn sinh biết Triệu thị phạm tội thất xuất, em của vãn sinh mất rồi nên vãn sinh phải thay em viết tờ để vợ, Triệu Hải Minh cũng viết tờ bãi hôn. Ông ấy tình nguyện mang con gái về nhà khỏi phải đưa ra quan để khỏi xấu hổ hai nhà. Nào ngờ Triệu thị nghe lời xúi giục của cha, đến cửa quan đầu cáo tôi.

- Triệu thị phạm tội thất xuất có bằng cớ gì?

- Bẩm lão phụ đài, có bằng chứng hẳn hòi, nếu không có bằng chứng, vãn sinh đâu dám sinh sự lôi thôi. Cô ta là sương phụ thủ tiết tại sao ban đêm lại có đàn ông trần truồng từ trong phòng cô ta chạy ra, bên trong phòng còn có áo quần đàn ông hẳn hoi, vãn sinh có mang tang vật ấy theo, xin lão phụ đài xem xét.

Nói rồi trình gói đồ lên. Quan huyện mở ra xem thấy bên trong có khăn đội đầu, quần, giày vớ đàn ông, bèn hỏi:

- Này Triệu thị, bao đồ này có thấy trong phòng ngươi không?

- Bẩm lão gia có ạ, bao đồ này lấy từ phòng tôi.

- Ngươi là sương phụ thủ tiết, trong phòng ngươi không có đàn ông ra vào mà sao lại có quần áo đàn ông ở trong phòng ngươi thế? Ngươi muốn dùng lời điêu ngoa vu cáo để quấy rối huyện nha hử? Ðại khái phải tang vật ở đâu truy tầm tại đó, vạn nhất nó không chịu khai, bây kéo nó ra vả miệng cho ta!

Triệu thị nghe nói, trong lòng rúng động, nghĩ: “Nếu ta bị đánh đòn tại huyện đường Côn Sơn này thì còn mặt mũi nào nhìn thấy dân chúng Côn Sơn nữa! Hơn nữa, ta chẳng phải làm điếm nhục cho nhà họ Triệu hay sao? Chi bằng ta chết quách cho xong. Ta chết rồi ắt có người khám nghiệm ta, chừng đó đen trắng phân minh, mới rửa được tiếng trong sạch của ta”.

Nghĩ rồi bèn quỳ xuống trước quan huyện, thưa:

- Bẩm đại lão gia, xin đừng gia hình, tiểu phụ có sự tình xin bẩm báo.

- Ngươi nói đi, chỉ cần ngươi nói có tình có lý, bản huyện sẽ không trách phạt ngươi.

Tiểu phụ hết lòng giữ trinh tiết, trong viện không có đàn ông ra vào. Lão gia không tin, xin hỏi người ngủ cùng giường với tiểu phụ sẽ rõ.

Quan huyện nghe nói, trong lòng hơi chột dạ: “Ðã có người ngủ cùng giường với y có lẽ việc này do người khác làm mà y không biết cũng nên”. Bèn hỏi:

- Ai là người ngủ cùng giường với ngươi?

- Ấy là Lý thị, người vú em của Mạc Lang.

Quan huyện cho truyền dẫn Lý thị đến, sai nhân lật đật đi tìm, lát sau dẫn Lý thị về. Trước khi vào huyện đường, Lý thị nói:

- Ðược, mợ hai có nhắc đến tôi hay quá, tôi đương muốn lên trước huyện đường để minh oan cho mợ đây.

Ðến trước quan huyện, Lý thị quỳ lại, thưa:

- Bẩm lão gia, tiểu phụ là Lý thị, xin cúi đầu ra mắt lão gia.

Quan huyện nhìn xuống thấy Lý thị là người tuổi trạc 30, tư dung phong mỹ, áo lam quầh lam đơn giản, chân đi tiểu cung hài, bèn hỏi:

- Này Lý thị, trong phòng của mợ hai ngươi chạy ra một người đàn ông thân thể lõa lồ, y phục của người đàn ông ấy ở trong gói này đây, chắc là ngươi có biết? Chuyện ấy như thế nào hãy thật là khai báo, không can hệ gì ngươi đâu.

- Dạ bẩm đại lão gia, tiểu phụ thật không biết. Ngày hôm qua tiểu phụ xin nghỉ về nhà.

Quan huyện nghe nói vỗ cảnh mộc trên bàn một cái chát, nói:

- Này Lý thị, đừng nói bậy bạ. Bộ muốn ăn đòn hả? Ðương làm vú em mà lại nghỉ, bỏ đi đâu cho đứa bé chết đói à?

Lý thị sợ xanh mặt, nói:

- Xin lão gia chớ giận, tôi có một đoạn sự tình.

Ðoạn day qua hỏi:

- Thưa mợ hai, tôi có thể nói được không?

Triệu Ngọc Minh đáp:

- Chị cứ nói đi, chỉ cần nói đúng sự thật là được.

Lý thị bèn nói:

- Bẩm lão gia, lão gia đã hỏi đến, đâu dám để lâu. Nhà tôi ở ngõ phía Tây cách nhà chủ nhân chúng tôi không xa. Mợ hai tôi lúc trước có mượn bà vú không đủ sữa nên cho nghỉ, tôi hiện ở thời kỳ dậy sữa, chồng đi buôn bán ở ngoài, con gái lại mới mất, ở luôn nhà chủ lại rất tiện. Một hôm mợ hai hỏi tôi: - Này chị Lý, chị không nghĩ à? Tôi trả lời: - Tôi không xin nghĩ, Mạc Lang công tử đang cần nuôi sữa, mợ nên để tôi mang về nhà, nếu mợ không cho đem công tử sẽ bị đói sao? Vì lẽ đó mà hai ngày liến tiếp mợ hai không nói với tôi một tiếng. Sau đó mấy ngày mợ hai kêu tôi nghỉ, tôi không dám trái lệnh bèn xin nghỉ. Mợ hai thưởng cho tôi hai quan tiền và một bao quần áo cũ. Tối lại tôi cho công tử bú no rồi về nhà ngủ. Hôm sau mợ hai tôi cũng kêu tôi xin nghỉ nữa. Tôi nói: - Hôm nay là ngày sinh nhật của đại lão gia, đâu có thể nào nghĩ được? Mợ hai nói: - Chị là người làm trong viện của tôi, đại lão gia cũng đâu có để ý đến làm chi? Cho nên bữa đó tôi cũng xin nghỉ. Mợ hai lại cho tôi ba điếu tiền. Tối hôm ấy lại xảy ra việc ghê gớm mà tôi không biết được! Bình thường mợ hai tôi là người rất nghiêm, không có người nào lộn xộn bước chân vào viện được.

Quan huyện nghe xong bèn hỏi:

- Này Triệu thị, ngươi cho Lý thị nghỉ việc là lẽ gì thế?

- Bẩm lão gia, tiểu phụ là hồng nhan bạc mệnh. Lý thị có chồng đi buôn bán xa mới về nhà, tôi nghĩ là vì đứa con mình mà vợ chồng họ chia cách là điều không phải nên cho phép về nhà. Sự hảo tâm này lại không có người biết, chỉ có trời biết thôi! Nếu lão gia chưa thông cảm đến việc này thì hỏi lại lão phu nhân sẽ tường tận.

Quan huyện nghe nói nghĩ rằng bên trong chắc có sự tình gì đây, bèn nói:

- Này Triệu thị, ngươi đừng có điêu ngoa loạn ngữ, không bị ăn đòn không chịu nói thật đây mà! Bây đâu, lôi nó ra vả miệng cho ta.

Triệu Ngọc Minh ra nói, nghĩ thầm: “Nếu mình đợi đánh rồi mới chết thì còn mặt mũi nào của họ Triệu nữa, chi bằng mình chết trước cho xong”. Nghĩ rồi bèn nói:

- Bẩm lão gia, xin đừng nóng giận, tiểu phụ xin nói lời này.

- Nói đi!

Sau khi tôi chết rồi, ngàn muôn lần xin lão gia hãy cho người khám nghiệm tử thi để sáng tỏ tôi là người trong trắng. Cầu nguyện lão gia công hầu vạn đại. Còn như khi tôi chết, lão gia không cho người khám nghiệm để cho đen trắng nhập nhằng, tôi sẽ theo báo ứng con cháu lão gia mãi mãi!

Nói rồi rút dao ra toan tự vẫn trước huyện đường. Quan huyện ở xa đành lấy mắt ngó, may nhờ có sai nhân ở kế bên lanh mắt lẹ tay giựt dao kịp. Quan huyện bối rối chẳng quyết giải quyết ra làm sao thì nghe bên ngoài chộn rộn, có tiếng la lớn:

- Oan uổng cho tôi quá, người ta cướp của hại mạng. Oan uổng lắm lão gia ơi!

Thừa lúc lộn xộn, quan huyện sai đưa bọn Triệu thị, Lý Văn Phương, Triệu Hải Minh xuống phòng đợi, để phân xử vụ án nhân mạng này rồi hãy tính. Bọn sai dịch vừa dẫn mấy người ấy đi ra thì thấy một vị Hòa thượng níu chặt một người đôi mắt trợn trừng đi riết đến cổng đường. Vị Hòa thượng ấy không ai khác mà là Tế Ðiên Hòa thượng.

Nguyên Tế Ðiên làm bộ giả điên đưa Triệu thị đến gặp quan huyện để minh oan xong, thì bọn Triệu Phước, Triệu Lộc cũng chạy tới. Triệu Phước nói:

- Bạch sư phó, lão nhân gia đừng có nổi điên nữa, chúng ta đi nhé.

Cả bọn đưa nhau đến nhà Triệu Phụng Sơn ở đường phía Nam. Triệu Phước nói:

- Sư phó đứng đây một lát để chúng tôi vào thưa trình đã.

Chẳng bao lâu từ trong đi ra một vị nhị viên ngoại là Triệu Phụng Minh bước ra đón tiếp. Triệu Phụng Minh thấy đứng trước cửa mình một ông thầy chùa quần áo rách rưới không thể tả, trong bụng nghĩ thầm: “Tưởng đâu rước một vị cao nhân nào đến trị bệnh, ai dè lại nhằm ông thầy chùa kiếc”.

Nghĩ vậy cũng miễn cưỡng rước vào trong. Vào đến thư phòng, Triệu Phước, Triệu Lộc dâng thơ lên. Nhị viên ngoại bảo gia nhân hiến trà rồi mở thơ ra xem. Trong thơ rành rành nét chữ quan Thái thú anh mình. Thư rằng:

Ngày tháng như thoi đưa, hết hạ lại đến xuân, kính chúc hiền đệ gia đình hạnh phúc, sung vinh vui vầy. Tiếp được thư em biết được rành rõ tin nhà, mọi việc nhờ em liệu lý, ngu huynh xin cảm tạ muôn vàn. Kế đây cháu xin dâng lên thím lời cầu chúc vạn an. Cháu may mắn nhờ phúc ấm tổ tiên, mong đức thánh thượng mà được bổ nhậm chức Thái thú, vì thế không thể sớm hôm cận kề hầu hạ thím được. Tiếp thư của nhị đệ, cho biết thím ngọc thể không hòa, đôi mắt mờ đi vì bệnh. Ðọc biết tin này cháu thật vô cùng buồn bã, đau xót tâm can, nước mắt đầm đìa. Hiện cháu có mời được Tế Công thiền sư ở chùa Linh Ẩn về trị bệnh cho thím. Tế Công là người tinh thông thuật kỳ hoàng, trị đâu hết đó. Xin thím gấp trị cho mau bình phục.

Cháu có sai hai đứa gia nhân là Triệu Phước và Triệu Lộc đem về mấy nén vàng cân nặng 50 lượng để lo việc thuốc thang cho thím. Ấy là vì cháu mắc tận trung mà không toàn phận hiếu được, xin thím lượng thứ cho!

Cháu bất hiếu Triệu Phụng Sơn dập đầu kính lạy.

Triệu Phụng Minh xem thư xong mới chắp tay thi lễ Tế Ðiên và nói:

- Bạch Thánh tăng, Phật giá quang lâm mà đệ tử không ra ngoài tiếp rước, xin Ngài thứ tội cho. Anh tôi cho mời Thánh tăng về trị bệnh cho thím tôi, không biết Ngài dùng thuốc chi và trị bệnh bằng cách nào?

- Bần tăng đã có diệu pháp.

Nói tới đó thì nghe từ bên ngoài có tiếng bước chân đi vào. Tế Ðiên hỏi:

- Bên ngoài có ai vào đó?

Triệu Phụng Minh cũng hỏi:

- Ai vào đó vậy?

Chỉ thấy từ bên ngoài đi vào một đại hán, đầu cột búi tóc, mặc chiếc quần cũ, vớ trắng giày xanh. Nguyên là một người cục mịch thuê dài hạn để làm việc đồng áng. Tế Ðiên nói:

- Ê, khi khổng khi không ngươi lại lấy trộm giày ta? Vừa bước tới đây là ta đã nghe rồi!

- Anh chàng kia đảo mắt một lượt, nói:

- Hòa thượng đừng nói bậy! Giày của tôi mà ông lại nhìn là giày của ông được à?

- Nhị viên ngoại coi nè, ta từ Lâm An tới đây, mang đôi giày cỏ này làm sao đi xa được. Ta mang đôi giày đó đến đây để lại ngoài cửa đổi mang đôi dép cỏ này, chú ấy mới mang trộm của ta đấy.

- Anh chàng ấy định sừng sộ lại. Tế Ðiên nói:

- Chú này, giày đó của chú hà? Có bằng chứng gì? Nói đúng mới kể là giày của chú được.

- Dưới đế giầy của tôi có 14 cây đinh.

- Dưới đế giầy của ta có 16 cây đinh.

Anh chàng kia bèn lột giày ra đếm, quả nhiên có 16 cây đinh, bèn trở lại muốn ăn thua đủ với Hòa thượng, Triệu Phụng Minh vội can:

- Thôi, để ta cho ngươi hai điếu tiền mua đôi giày khác, đôi giày này để lại cho Thánh tăng dùng.

Anh chàng nọ không dám cãi bèn cầm tiền đi ra.

Triệu Phụng Minh hỏi:

- Bạch Thánh tăng, Ngài cần đôi giày này để làm chi?

Tế Ðiên cười hà hà, nói:

- Muốn trị bệnh cho lão thái thái không có đôi giày này không được đâu!

Và cầm lấy bút kê ngay một cái toa. Triệu Phụng Minh nhìn thấy cũng gật đầu.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:14 AM | Message # 47
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi thứ 44

Dụ Thang Nhị đến huyện nha hoàn án
Hai công sai bái thỉnh Tế Thiền sư


Triệu Phụng Minh hỏi Tế Ðiên về công dụng của đôi giày. Tế Ðiên đáp:

- Ðôi giày này là vị dẫn thuốc, cần phải phối hợp với nhiều vị thuốc nữa, ta biên cho một cái toa, các ngươi theo toa mà kiếm sẵn cho ta.

Gia nhân đem văn phòng tứ bảo lại. Tế Ðiên viết toa xong đưa cho nhị viên ngoại, dặn gia nhân chiếu theo đó kiếm tìm và lấy bao gói đôi giày lại cho cẩn thận. Tế Ðiên bảo Triệu Phước:

- Ngươi lấy bao đồ này theo ta đi kiếm thuốc dẫn, không có vị thuốc này là không xong đâu nhé.

Triệu Phước theo Tế Ðiên ra cổng, Tế Ðiên dặn mấy câu tức thì Triệu Phước đi ngay, còn lại một mình Tế Ðiên vừa đi vừa hát sơn ca:

Ðược tiêu dao hãy cứ tiêu dao,

Người được tiêu dao sướng biết bao!

Giàu sang phước quả nhân đời trước,

Nghèo khó vụng tu chớ trách nào!

Lắm mưu thần chước quỷ,

Khó lọt lưới trời xanh,

Khuyên anh mê muội khéo vượt nhanh,

Mặc ý tiêu dao chân chính hảo,

Trong quán rượu đầy tràn,

Lòng sầu quét sạch ngang,

Trăng sang hoa cười thêm hứng khởi,

Ưu tư nào biết suốt thiên can.

Ca xong cũng vừa ra khỏi cửa Tây.

Tế Ðiên thấy có một người đang vác một bao đồ đi phía trước. Mấy người đi trên đường phố đều trách anh ta:

- Thang Nhị, anh đi đâu vậy? Sao không cho chúng tôi biết để tiễn đưa anh, có việc gì gấp thế?

- Tôi được tin nhà phải về gấp, chừng trở lại chúng ta gặp nhau nhé!

Bị mọi người trách cứ, anh ta cứ một mạch đi thẳng. Tế Ðiên thấy vậy thầm nghĩ: “Phải bắt người này lại mới xong vụ án được!”. Nghĩ rồi bèn theo miết người ấy cho đến bên ngoài cửa thành. Người ta không ngớt ngoái lại, chỉ cần thấy có Hòa thượng. Tế Ðiên càng theo sát gần hơn. Người ấy bèn để bao đồ xuống đất, ngồi lên trên, trong bụng nghĩ thầm: “Cái ông Hòa thượng này đi theo mình chi vậy cà? Mình có quen biết ổng đâu, để coi ổng tới làm gì cho biết?”.

- Tế Ðiên tới rồi cũng ngồi xuống đất, chong mặt về phía anh ta, mắt không chớp nháy. người ấy nổi giận mới nói:

- Này Hòa thượng, ông dòm tôi chi dữ vậy?

Tế Ðiên cười hà hà, hỏi: Chú họ gì?

- Tôi họ Thang, ông hỏi tôi chi vậy?

- Chú khai chú họ Thang, Hòa thượng ta biết ngay chú tên gì rồi hè.

- Tôi tên gì?

- Chú tên Thang Du Lạp (sáp chảy ra).

Người ấy đột nhiên đổi giọng, nói:

- Này Hòa thượng, tôi với ông đâu có quen mà sao ông mở miệng ra là chọc tức tôi vậy.

Nói rồi vùng vằng vác bao đồ lên đi tiếp. Tế Ðiên cũng lục đục đi theo. Ði được hơn một dặm, Tế Ðiên kêu:

- Thang Du Lạp, chờ ta đi với!

Thang Nhị nghe kêu nói thầm: “Cái ông Hòa thượng này đáng ghét, mình không quen biết ổng mà ổng cứ theo chọc tức mình hoài!”.

Ði tới trước không xa gặp một thị trấn nhỏ, có buôn bán đồ lặt vặt, cũng có bán rượu. Thang Nhị nghĩ thầm: “Mình vô quán rượu lai rai hai bầu rượu tránh mặt ông ấy cho rồi. Ông ta là Hòa thượng kiếc làm gì có tiền mà vô quán. Chờ ông ấy đi qua rồi mình tiếp tục lên đường để khỏi nghe ổng kêu Thang Du Lạp, Thang Du Lạp mãi”.

Nghĩ rồi bèn bước vào quán rượu, ngồi vào bàn hỏi:

- Này phổ ky, tiệm anh có bán rượu và cơm không?

- Ở đây chúng tôi có bán rượu, tàu hủ khô, há cảo mà thôi. Anh muốn ăn cơm thì ở cách vách đây có bán, tôi cho anh mượn một cái mâm rồi anh tự đi muôn lấy.

Thang Nhị cầm lấy cái mâm và nói:

- Phổ ky, anh coi chừng bao đồ giùm tôi nhé!

- Không hề gì mà, anh cứ đi mua đi!

Thang Nhị vừa cầm cái mâm đi ra khỏi quán thì thấy Tế Ðiên vén rèm bước vào quán rượu. Thang Nhị trong bụng lấy làm tiếc: “Phải chi mình biết ông ấy tới quán, mình không vô đây làm chi!”. Ðã lỡ cầm lấy cái mâm rồi chả lẽ không ăn uống, bèn đến tiệm cách vách mua một mâm cơm rau. Trở vào quán xem lại thấy bao đồ của mình lót dưới đít Hòa thượng. Thang Nhị thấy rồi không thèm hỏi tới Hòa thượng, lại kêu phổ ky hỏi:

- Hồi nãy tôi nhờ chú coi giùm bao đồ, bây giờ nó ở đâu?

Phổ ky dòm lại thấy Hòa thượng đang ngồi trên bao đồ bèn đến nói:

- Này Hòa thượng, ông đừng ngồi trên bao đồ của người ta, trả cho người ta đi.

- Bao đồ hả, của chú trả cho chú ấy, cái này tôi lượm được thì là của tôi, sao lại phải đưa?

- Ði vô nhà người ta mà lượm cái gì?

Nói rồi cầm bao đồ đưa cho Thang Nhị. Thang Nhị ngồi đối diện với Hòa thượng, mỗi người kêu hai bầu rượu. Phổ ky nói:

- Có há cảo nóng đấy, hai vị có ăn không?

Tế Ðiên nói: Ăn được hả?

Phổ ky đi xuống một lát trở lên nói:

- Há cảo nóng ngon lắm, hai vị cần bao nhiêu?

Tế Ðiên hỏi: Có nóng không?

- Mới ra lò mà làm sao không nóng?

- Nóng hử? Ta sợ phỏng miệng lắm. Ðợi nguội một chút rồi nói cho ta biết.

Thang Nhị nói: Cho tôi 10 cái.

Tế Ðiên thấy Thang Nhị kêu cũng kêu:

- Tôi cũng lấy 10 cái.

Phổ ky chất bánh đem đến hai đĩa, mỗi người một đĩa. Thang Nhị đợi tới trưa mà chưa ăn. Tế Ðiên cầm cái bánh bẻ ra khạc vào đó một miếng đàm rồi bỏ vào miệng nhai tóp tép. Thang Nhị thấy vậy kêu:

- Phổ ky dọn đi, tôi buồn nôn bắt chết đây!

Phổ ky nói:

- Ðại sư phó, thôi đừng chơi dơ nữa, ông ăn như vậy ai mà ăn cho được, gớm bắt chết đi ấy.

- Thôi ta không ăn nữa, bảo anh ấy ăn đi.

Thang Nhị vừa mới ăn, Tế Ðiên bèn cởi giày cỏ ra, lấy bánh nóng nhồi lại trét ở trong giày. Cái nóng xông mùi mồ hôi lên nồng nặc. Thang Nhị tức giận quăng đôi đũa xuống bàn không ăn nữa. Tế Ðiên cũng cầm đôi đũa ném lên bàn, nói:

- Chú không ăn, ta lại ăn hay sao?

Phổ ky đến tính tiền, bảo:

- Hai vị ăn hết 168 văn.

Thang Nhị đem theo có hơn 600 tiền, vừa định móc tiền, bên kia Tế Ðiên hô: “Án sắc lịnh hích!”, thò tay vào lưng lôi ra một xâu hơn 600 tiền. Thang Nhị thấy Hòa thượng lôi ra một xâu tiền, trong bụng nói thầm: “Xâu tiền này là của mình mà!”. Thò tay mò vào lưng quả nhiên không thấy đâu hết. Trong bụng buồn bực nghĩ: “Lạ thật, tiền trong lưng cửa mình tại sao lại chạy qua lưng của Hòa thượng?”. Không nén được, thở dài một cái. Tế Ðiên cầm xâu tiền lên hỏi:

- Xâu tiền này của chú phải không?

- Này Hòa thượng, tiền đó có thể là của tôi, nhưng tôi không cầm đâu, ông cứ cầm đi.

- Không phải vậy đâu, tiền ấy là của ta lượm được. Hồi nãy mới bước vào quán, ta thấy xâu tiền nằm trên đất, ta mới lượm lên cất. Nếu là của chú thì trả lại chú, ta không cần đâu!

Nói rồi cầm xâu tiền đưa ra. Thang Nhị cầm xâu tiền nói:

- Hòa thượng, ông lại là người tốt. Nếu ông không đùa dơ, tôi thiệt tình mời ông uống với tôi ít bầu rượu.

- Nếu ta không đùa dơ, chú mời ta uống hả?

- Có hề gì đâu, ta mời ông mà. Này phổ ky, đem lại cho ta 20 bầu rượu.

Thang Nhị thấy Hòa thượng tu một hơi hết một bầu, ba cái bánh một miếng, hai cái bánh một miếng. Ăn uống một lát hết sạch. Tính ra hơn một điếu tiền, mới đưa mình đưa mình hơn 600 mà móc lại hết phân nửa rồi, bèn nói:

- Này Hòa thượng, chắc tôi không đủ tiền rồi, hôm nay chúng ta tính riêng nhé. Ông ăn ông trả, tôi ăn tôi trả. Ăn uống cùng bàn mà của ai nấy trả nhé.

- Chú muốn chơi riêng à? Ðược, hôm nay cả phần chú ăn ta cũng trả luôn. Ta đâu để làm phiền chú. Ta nói thiệt mà, ta trả là ta trả, chú đừng có tính riêng.

Thang Nhị cảm thấy mình làm như vậy không phải. Tế Ðiên lại nói:

- Ta nói thiệt mà, ta trả là ta trả, chú tính gộp chung đi.

Phổ ky đem hai tờ thiệp tính chung là hai điếu 280 văn. Tế Ðiên nói:

- Ðể ra trả, ta nói thiệt mà! Chú đừng thấy ta mặc áo rách như vậy mà khi ta không tiền.

- Thôi, để tôi trả cho!

- Ừ, chú muốn trả thì trả đi! Ta cũng thiệt tình lắm.

Thang Nhị không cách nào khác, đành lui cui mở bao đồ lấy tiền ra trả. Trả rồi bụng tức anh ách. Tế Ðiên vác bao đồ Thang Nhị lên vai bước đi. Thang Nhị kêu:

- Này Hòa thượng, ông ăn của tôi hết hai điếu tiền rồi còn muốn giựt bao đồ của tôi nữa hả?

- Ðâu phải mà, gặt người có lòng, ta chẳng lẽ ăn không, ta vác giùm chú đó mà.

Nghe nói thế, Thang Nhị nghĩ bụng: “Hòa thượng này coi vậy mà cũng có lương tâm, mình nghĩ bậy bạ thiệt!”. Nghĩ rồi bước ra khỏi quán rượu. Thang Nhị ngoái đầu thấy vậy, hỏi:

- Hòa thượng ơi, ông đi về Ðông chi vậy?

- Ta ở Ðông Xuyên, chú ở Tây xuyên, ta theo chú qua hướng Tây làm gì?

- Thôi, ông đưa bao đồ lại cho tôi.

- Bao đồ của chú cầm cho tôi rồi mà.

- Hòa thượng ơi, ông muốn cướp của tôi hả?

- Chẳng những ta muốn cướp của chú mà còn muốn đánh chú nữa là đằng khác.

Tế Ðiên lấy tay chỉ một cái, miệng niệm chơn ngôn: “Án ma ni bát mê hồng. Án sắc lịnh hích!”. Thang Nhị bắt rùng mình, mơ mơ hồ hồ. Tế Ðiên đi tới tống cho Thang Nhị một thoi bể mũi máu tuôn xối xả, rồi lấy bao đồ quệt thành dấu máu, đoạn dẫn Thang Nhị trở vào thành. Về đến gần cổng thành có người quen Thang Nhị hỏi:

- Thang Nhị ca, chuyện gì vậy?

Tế Ðiên nói:

- Các người đừng xía vô, đây là việc tham tài hại mạng đó.

Mấy người kia nghe nói thất kinh không dám hỏi nữa. Tế Ðiên kéo Thang Nhị thẳng đến huyện Côn Sơn. Tới huyện nha, Tế Ðiên đi tuốt vô trong kêu lớn:

- Âm thiên đại lão gia ơi, Hòa thượng ta bị oan uổng lắm!

Có người đứng bên nói:

- Hòa thượng đừng nên nói bậy bạ, làm gì có âm thiên đại lão gia ở đây?

Tế Ðiên nói:

- Người ta ham tiền hại mạng, gây án mạng mà!

Nói rồi đi tuốt vào công đường. Quan huyện đã cho đưa bọn Triệu thị xuống, dòm ra thấy một vị Hòa thượng vác trên vai một bao đồ, mặt đầy bùn đất máu me lem luốc. Thang Nhị mơ mơ hồ hồ quỳ trước công đường, còn Hòa thượng đứng sững một bên. Quan huyện nói:

- Này Hòa thượng, sao thấy bản huyện mà không chịu quỳ? Có điều chi oan uổng hãy trình ra đi!

- Hòa thượng ta chỉ vì ở trong chùa bị chúng tăng khi dễ, sư phụ ta bảo ta đi hoa duyên về sửa một một cái chùa, tô lợp xong hết, đang chuẩn bị khai quang. Nào ngờ gặp nữa tháng mưa dầm sụp lỡ hết, đâu thể hóa duyên được nữa được. Ở huyện Côn Sơn này, sư phụ ta có hai khoảnh đất, bảo ta đi bán đem tiền về lợp chùa. Ta đem theo một hỏa công đạo, đất bán xong đem bạc về. Ði nữa đường, anh hỏa công đạo xin phép ta đi đồng, Hòa thượng ta đi trước đợi ở ngã ba đường. Ðợi cả hai tiếng đồng hồ mà không thấy anh ta đâu, chỉ thấy anh này vác bao đồ của ta đi tới. Chắc chắn là anh này tham tài hại mạng hỏa công đạo của ta rồi!

Quan huyện cầm thủ xích vỗ lên bàn cái bốp, hỏi:

- Ngươi tên là gì? Tại sao tham tài hại mạng hỏa công đạo của người ta?

Chừng đó Thang Nhị tỉnh lại thấy mình đang ở trước công đường, bèn đem các sự việc vừa xảy ra thuật lại. Quan huyện nói:

- Này Hòa thượng, cái bao ông vác là của Thang Nhị mà.

- Ta cũng không cần cãi lý với chú ấy làm chi. Ðể Hòa thượng ta kê ra một tờ giấy, nếu chú ấy nói đúng đồ vật trong bao, mà tờ giấy ta kê sai là ta vu cáo không thật, lão gia cứ bắt ta trị tội. Còn như tờ giấy ta kê ra đúng mà chú ấy nói không đúng, thì là chú ấy ham tài hại mạng người.

Quan huyện nghe nói có lý, bèn bảo Hòa thượng viết ra giấy. Viết xong trình lên quan huyện xem. Chữ viết rất đẹp đẽ, rõ ràng là: Lụa hoa đỏ: hai xấp, vải trắng: hai xấp, năm thước lụa hoa vàng, một khối bạc 200 lượng lớn nhỏ 37 miếng, tiền hai điếu, quần áo cũ một bộ, một đôi giày một đinh ở đế. Quan huyện mới hỏi đến Thang Nhị. Ngờ đâu từ người này lòi ra việc mưu đoạt gia sản ám hại liệt phụ trinh tiết liên quan đến Triệu Ngọc Trinh.


Message edited by NoiVoiDauGoi - Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:15 AM
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:15 AM | Message # 48
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 45



Hoa Vân Long tức giận về Tây Xuyên
Trấn bát phương nghĩa kết bạn anh hùng




Sau khi quan huyện xem tờ giấy kê khai của Tế Ðiên xong mới hỏi Thang Nhị:

- Ngươi nói bao đồ này của ngươi, vậy trong đó có những gì? Nếu ngươi nói đúng ta sẽ trả bao đồ này cho ngươi, bằng nói không đúng ta sẽ kết tội ngươi tham tiền hại mạng người đấy!

Trong bao đồ của tôi có: hai xấp lụa đỏ có bông nhỏ, hai xấp vải trắng Tòng giang, hai gói tiền, trong gói cột dây đỏ có một xấp lụa đỏ, một cái khăn đội đầu cũ, 200 lượng bạc. Ngoài ra không còn gì nữa.

Quan huyện nghe khai liền hỏi:

- Này Hòa thượng, tờ giấy ông kê ra với lời khai của tên này đều giống nhau, bản huyện biết giao bao đồ này cho ai bây giờ?

- Tại lão gia không hỏi rõ ràng, lão gia cứ hỏi anh ta xem có bao nhiêu miếng bạc?

Thang Nhị nói:

- Số bạc ấy tôi chỉ biết là 200 lượng thôi chứ không biết bao nhiêu miếng.

Quan huyện tức thì nổi giận, nói:

- Bạc của ngươi sao ngươi không biết bao nhiêu miếng? Mở bao ra coi thử!

Lập tức bao đồ được mở ra kiểm lại, những thứ kia đều đúng hết, bạc quả nhiên 37 miếng. Quan huyện nói:

- Này Thang Nhị, những thứ này của ngươi chắc là do lâu nay trộm cắp mà có ra chứ gì? Ngươi giết hỏa công đạo của Hòa thượng rồi bỏ xác ở đâu?

- Tiểu nhân thiệt tình không phải do tham tiền hại mạng người mà có bạc này đâu. Bao đồ này là của người ta cho tiểu nhân đó. Nếu lão nhân không tin thì truyền kêu người cho tiểu nhân bao đồ này đến thì sẽ rõ.

- Người cho ngươi bao đồ này là ai?

- Là quan Hiếu liêm Lý Văn Phương ở huyện này. Ông ấy là chủ của tôi. Bao đồ này của ông ấy cho tôi chứ không phải do tôi tham tài gây ra án mạng mà có đâu!

Quan huyện hỏi bọn thư lại thủ hạ:

- Huyện ta có mấy người Hiếu liêm Lý Văn Phương?

- Chỉ có một Hiếu liêm Lý Văn Phương.

- Hãy truyền Lý Văn Phương thượng đường mà đối chất.

Lý Văn Phương đang ngồi bực dọc ở phòng khách, các thư lại quen biết xúm nhau khuyên giải. Bỗng sai nhân bên ngoài vào gọi:

- Xin mời Lý lão gia lên huyện đường.

- Có việc gì mà kêu tôi lên vậy?

- Có trọng án nhân mạng.

Lý Văn Phương lên huyện đường thấy Thang Nhị đang quỳ dưới đất, đứng ở bên là một vị Hòa thượng kiếc cũng không biết là lý do gì. Thang Nhị nói:

- Viên ngoại ơi, người cho tôi bao đồ này mà người ta nói không phải, bảo rằng tôi tham tiền giết người cướp của đó.

Tế Ðiên đứng một bên, nói:

- Cứ nói đi, cư nói đi, lôi luôn người oa trữ ta cũng không sợ. Ðể rồi coi ai phải ai trái cho biết.

Quan huyện day qua hỏi:

- Này Lý Văn Phương, ông có quen biết người này không?

Lý Văn Phương một khi thấy sự việc này, nhắm chừng là bất ổn, tự nghĩ: “Mình với nó đừng dây đến cửa quan là tốt nhất”. Bèn nói:

- Kính bẩm lão phụ đài, Hiếu liêm tôi không quen biết hắn, bao đó cũng không phải của tôi cho.

Quan huyện đột nhiên nổi giận mắng:

- Hay cho đồ chuột nhắt lớn mật này! Chưa biết mùi đòn chưa chịu cung khai mà. Bây đâu, đem kềm kẹp ra đây!

Tam ban sai dịch dạ ran, đem kềm kẹp bỏ một đống ở trước, báo hại Thang Nhị sợ xanh cả mặt, lắp bắp thưa:

- Kính bẩm lão gia, xin chớ động hình! Tôi có chút việc xin thưa, việc đó có liên quan đến tôi và Lý Văn Phương viên ngoại.

Quan huyện gật đầu cho phép, Thang Nhị nói tiếp:

- Tiểu nhân nguyên quán người xứ Tứ Xuyên, từ nhỏ ở Lý gia trang hầu hạ nhị viên ngoại tức cậu hai, dọn dẹp sách vở văn phòng, mong mỏi cậu hai được công thành danh toại, bọn tôi nhờ đó cũng có thể phát tài. Chẳng may cậu hai nhà tôi bị bịnh qua đời, tôi buồn nản quá, suốt ngày lấy rượu làm vui, tỉnh rồi lại say nữa. Ngày kia đại viên ngoại Lý Văn Phương nhà tôi chuốc rượu tôi say ngá ngà rồi hỏi:

- Mi có muốn phát tài không?

- Người ta không vì lợi đâu chịu thức khuya dậy sớm? Ðiều đó tôi muốn lắm chứ!

- Nếu mi chịu trần truồng trong phòng mợ hai đợi đến ngày sinh nhật, ta kêu tớ gái mở cửa, mi trong đó chạy vọt ra, ta sẽ cho mi 500 lượng bạc.

- Tiểu nhân bị tiền của làm mờ lương tri nên ưng thuận ngay. Hôm qua tôi náu mình trong nhà của mợ hai, chờ đến chiều tối, tôi lẻn vào phòng chun dưới gầm giường. Thấy mợ hai ôm con ngủ say, tôi mới đi ra nghe ngóng. Tới chừng bên ngoài kêu cửa, tôi chạy vọt ra bị viên ngoại nhà tôi và Triệu Hải Minh ngó thấy, nhưng không bắt tôi lại được. Tôi trốn ở thư phòng nơi hoa viên. Ðến chừng sáng ra tôi mới biết mợ hai đã bị từ rồi, đứa nhỏ vẫn còn để lại. Muốn đuổi vú em và vú em chỉ khóc chứ không chịu đi. Ðúng là viên ngoại nhà tôi muốn mưu đoạt gia sản, xong việc cho tôi 200 lượng bạc và mấy xấp vải lụa, số còn lại đợi đến năm sau sẽ cho tiếp. Tôi tính đi về nhà nào dè gặp phải ông Hòa thượng làm quỷ đòi mạng này! Ông ấy đổ riệt cho tôi là ham tiền cướp của hại mạng người, nhưng việc đó tôi chưa từng làm bao giờ. Ðó là những việc đã qua, tiểu nhân xin trình khai, không dám giả dối chút nào.

Quan huyện nghe xong mới vỡ lẽ mọi sự. Nãy giờ vị Chiêu phòng tiên sinh (thơ ký) chép hết lời cung, trong bụng mắng thầm: “Hay cho tên Lý Văn Phương lộn sòng kia, vậy mà cũng làm Hiếu liêm? Có thể làm chuyện thương thiên hại lý như vậy được à?”.

Chiêu phòng tiên sinh viết lời cung xong, quan huyện cho đòi bọn Triệu Ngọc Trinh, Lý thị và Triệu Hải Minh lên hầu, đoạn bảo vị Chiêu phòng tiên sinh đọc lại lời cung của Thang Nhị một lượt. Triệu Hải Minh nghe xong mới hiểu rõ con gái mình là liệt nữ trinh tiết, cảm thấy quá ăn năn cơ hồ muốn chết, bèn xin quan huyện chủ trì xử lý việc này cho. Quan huyện đùng đùng nổi giận hỏi:

- Này Lý Văn Phương, ngươi đã là Hiếu liêm, lý ưng phải giữ phận công chánh chứ lẽ nào lại làm chuyện thương luân bại lý như thế được. Như vậy thì làm con bất hiếu, làm tôi nhất định bất trung, đối với anh em thì bất nghĩa, kết bạn thì bất tín. Em ngươi đã mất, đáng lẽ ngươi phải thương xót, bảo bọc sương phụ, vì đó cũng là đức hạnh của dòng họ Lý nhà ngươi, cớ sao Triệu thị hết lòng thủ tiết mà ngươi đem lòng lang sói bày ra gian kế mưu hiểm như vậy? Ngươi là người biết luật pháp lại phạm pháp, bản huyện phải xử phạt ngươi thật nặng mới được. Ngươi chịu đánh hay chịu phạt?

Lý Văn Phương run như cầy sấy, mặt không còn hột máu, hổ thẹn quá không biện bạch được lời nào, chỉ van xin:

- Cầu xin lão phụ đài ra ơn dạy bảo, đánh thế nào cũng được, phạt ra sao cũng xin vâng.

- Nhận đánh thì ta làm theo kiểu văn hiến, cắt bỏ chức Hiếu liêm của ngươi, bản huyện sẽ trừng phạt nặng hơn nữa. Còn như chịu phạt thì bản huyện gia ân cho ngươi thế này: Ngươi phải đem hết gia sản trong nhà giao cho Triệu thị quản lý. Mẹ con họ như có bề gì, ngươi phải viết cho ta một tờ cam kết, chừng nào họ bị điều gì lôi thôi ta sẽ trị tội ngươi. Ta phạt ngươi 50.000 lượng bạc, sắm cờ quạt rước Triệu thị về, dựng bia tại phường cho mọi người biết. Khi rước, ngươi phải mời các vị thân sĩ trong địa phương cùng ngồi kiệu đi đón em dâu ngươi trở về, nếu không tuân hành bản huyện sẽ phạt ngươi gấp bội.

- Lão phụ đài công tâm xét xử, cử nhân xin tình nguyện chịu phạt, xin tuân theo đường dụ xử trí của lão phụ đài.

- Tuy thế bản huyện vẫn phải trách phạt ngươi, nếu không, e ngươi quen tánh chẳng chừa. Lại đây, lại phòng thư ban đâu, đánh hắn cho ta 100 thủ xích.

Lại phòng lập tức bước tới, Lý Văn Phương là văn sĩ tại địa phương, sợ mất mặt năn nỉ xin tha.

Quan huyện nói:

- Ta không kêu tạo lệ (sai dịch) đánh ngươi là nể nang lắm đó.

Lại phòng bèn bước tới đánh đủ 100 thủ xích. Lý Văn Phương xuýt xoa van xin lia lịa. Quan huyện truyền gọi Triệu Hải Minh đến hỏi:

- Này Triệu Hải Minh, ông thấy sự bất minh của ông, cơ hồ bức tử người đàn bà trinh tiết này không? Ông bây giờ chịu đánh hay chịu phạt?

Triệu Hải Minh cúi đầu hỏi lại:

- Bẩm lão gia, chịu đánh như thế nào, chịu phạt thì sao?

- Chịu đánh là ta đem chức viên ngoại của ngươi cách tuột đi và đánh 200 quân côn. Còn chịu phạt là ta phại ngươi 3.000 lượng bạc, đem giao tại huyện đường. Số bạc này không phải dành cho bản huyện đâu mà là để cất một nhà Tiết liệt từ cho con gái ngươi để danh thơm lưu muôn thuở.

- Ân điển lão gia ban như vậy, dù xuất 6.000 lượng bạc tôi cũng tình nguyện.

Quan huyện lại kêu:

- Truyền dẫn Lý thị lên đây.

Quan huyện dạy:

- Này Lý thị, ngươi phải hết lòng phục vụ mợ hai ngươi. Tuy là phận vú em nhưng phải cố gắng thật tâm trong bổn phận của mình. Mợ hai ngươi có lòng thương tưởng đến ngươi, ngươi cũng phải tận tâm đối xử nhé. Mai sau đứa bé lớn khôn ngươi cũng có danh có lợi.

- Xin tuân lệnh dụ của lão gia.

Quan huyện day qua hỏi:

- Này Thang Nhị, ngươi thật là lòng lang dạ sói mà. Hồi còn sống, cậu hai ngươi đối đãi với ngươi ra sao?

- Hồi còn sống, nhị viên ngoại đối xử với tôi rất tốt.

- Ðối xử tốt như vậy sao cậu hai ngươi chết rồi ngươi lại đối xử với mợ hai ngươi tán tận lương tâm hùa mưu chiếm đoạt gia sản, hãm hại người trinh tiết như thế? Bay đâu, đè bó xuống đánh 80 hèo, rồi lấy cùm 25 cân cùm chân nó lại để tại huyện này ba tháng để răn chúng. Sau đó giải về nguyên quán cho quan địa phương quản thúc hắn.

Vụ án đã kết thúc. Lý Văn Phương về lo mời các nhân sĩ đi rước Triệu thị về đoàn tụ với con.

Ai nấy đều về hết, còn trơ lại mình Hòa thượng, quan huyện thật là khó xử: “Không có vị Hòa thượng này, vụ án làm sao kết thúc được. Muốn nói lời cảm ơn mà ông bảo hỏa công đạo của mình bị người tham tài hại mạng, bây giờ mình biết tìm hung thủ ở đâu đây?”.

Quan huyện nghĩ trong bụng: “Mình làm oai dọa ổng mấy câu, bảo là ổng đặt điều vu cáo, phết cho mấy cái, hò hét đuổi ra ngoài là xong,”. Quan huyện mới nghĩ bụng như thế, Tế Ðiên đã nói:

- Này lão gia, ông gặp chuyện khó xử, nếu không có Hòa thượng ta thì vụ án chẳng tìm ra mối. Muốn nói mấy lời cảm ơn Hòa thượng ta mà ngặt vì vụ án tham tài hại mạng của ta không giải quyết được, định nói dọa ta mấy câu, đánh ta mấy cái rồi hàm hàm hồ hồ đuổi ta ra phải không?

- Này Hòa thượng, ông đoán già đoán non gì thế, bay đâu, lôi xuống phết một trận cho ta.

Sai nhân bước tới nói:

- Này Hòa thượng, ông nằm xuống đi!

- Có trải mền ra không?

- Ðừng có nói lôi thôi!

Tế Ðiên la:

- Ta sắp bị đánh đây, ta sắp bị đánh đây!

Vừa la xong hai tiếng thì bên ngoài có người nói to:

- Bẩm đại lão gia, xin ngàn muôn đừng đánh Hòa thượng chúng tôi.

Bên ngoài có một người đi vào, vai vác một bao đồ quỳ trước huyện đường. Quan huyện nhìn ra thấy người mới tới có vẻ là kẻ tuỳ tùng, bèn nói:

- Ngươi tên là gì?

- Tôi tên là Triệu Phước, làm hỏa công đạo, tôi đi với Hòa thượng nửa đường, mắc đi cầu, đi xong lật đật chạy theo Hòa thượng, hỏi thăm nghe nói Hòa thượng bị bắt vào huyện nha.

Tế Ðiên nói:

- Bẩm lão gia, người này là hỏa công đạo của Hòa thượng ta. Lão gia cứ mở bao ra xem, nếu trong đó không đúng như kê khai thì cứ bắt ta là đặt điều vu cáo.

Quan huyện cho mở bao ra xem thấy đồ đạc giống như trong bao của Thang Nhị, cả đến số bạc cũng giống y, quan huyện nghĩ thầm: “Cái này mới là kỳ đa!”. Xem ra Triệu Phước không phải là người hỏa công đạo, quan huyện mới hỏi:

- Này Triệu Phước, ngươi có vẻ không giống hỏa công đạo. Ngươi nói thiệt đi, vị Hòa thượng này ở chùa miếu nào vậy?

Triệu Phước mới đem cội nguồi của Tế Công thuật lại tỉ mỉ và nói lý do tại sao quan Triệu Thái thú mời Hòa thượng về huyện Côn Sơn. Quan huyện nghe nói lật đật rời chỗ ngồi, cung kính thi lễ, nói:

- Bạch Thánh tăng, té ra Ngài là Tế Công, vị thế tăng của Tần Thừa tướng đây mà, đệ tử không biết, thật là có lỗi, nếu không có lão nhân gia đến giúp, đệ tử không làm sao xử được vụ án vừa rồi. Bay đâu, đem bao đồ kia thưởng cho người hầu của Thánh tăng đi.

- Xin cám ơn lão gia.

Tế Ðiên nói rồi cáo từ, đem hai bao đồ đó cho Triệu Phước và Triệu Lộc mỗi người một bao rồi trở về nhà nhị viên ngoại. Ðào kiếm được một khối thuốc, Tế Ðiên đem chế cho lão thái thái rửa mắt, mắt bèn trong sạch lại, liên tiếp trong vòng ba ngày, mắt trong thấy ánh sáng lại được. Triệu Phụng Minh sai đứa gia nhân về đến Lâm An báo tin, để Tế Ðiên ở lại trị bệnh cho lão thái thái càng ngày càng bớt nhiều, Tế Ðiên ở lại Côn Sơn ba tháng, suốt ngày cùng Triệu Phụng Minh bàn chuyện văn chương, ngày kia bỗng có gia nhân vào báo:

Hiện có hai vị Ban đầu ở Lâm An đến thỉnh Tế Công vì một đại sự khẩn cấp.


Đại Bi Chú
 
NoiVoiDauGoi Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:16 AM | Message # 49
Colonel
Group: Users
Messages: 176
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 46



Mừng giữ chánh hoa, quần hùng kết bái
Dạo thành Lâm An may gặp Vương Thông




Tế Ðiên ở huyện Côn Sơn trị bệnh mắt cho lão thái thái đã lành, mấy lần muốn từ biệt nhưng nhị lão gia cứ nài nỉ cầm cọng mãi, mỗi ngày cùng nhau đàm luận thi văn. Tế Ðiên đối đáp như nước chảy, nhị viên ngoại lại càng thêm nể phục, tiếc rằng mình gặp Tế Công quả trễ, nếu gặp sớm hơn văn chương sẽ phát triển rất nhiều. Tế Ðiên ở lại nhà Triệu Phụng Minh lần lữa được một trăm ngày, ngày kia gia nhân đưa vào hai vị Ban đầu ở nha Thái thú tại Lâm An. Hai vị Ban đầu đến trước mắt Tế Ðiên thi lễ và thưa:

- Bạch Thánh tăng, từ lâu lão nhân gia đã chưa về Lâm An, ở đó vừa xảy ra việc kinh thiên động địa nên chúng tôi đặc biệt thỉnh lão nhân gia giúp cho.

- Hai vị Ban đầu, việc gì thế?

Hai vị Ban đầu bèn đem việc thuật lại tỉ mỉ, ấy là: Lộ Tây Xuyên mới xuất hiện một tên giang hồ đại đạo. Người này họ Hoa tên Trung, tự Vân Long, có trác hiệu là Càn khôn đạo thử. Mới 18 tuổi mà đã lưu đãng khắp lục lâm, hay đi cùng với Quỷ đầu đao Trịnh Thiên Thọ, họ thường cư ngụ ở nhà Ðiền Quốc Bổn ở Trấn Sơn. Hắn là người văn võ toàn tài, lại có tật thích hái hoa, kết giao với mấy mươi người, thân nhất chỉ có năm, đều là những nhân vật có tên tuổi ở chốn lục lâm mà người ta thường gọi là Ngũ quỷ. Ấy là Khai phong quỷ Lý Diệu Minh, Kê minh quỷ Toàn Ðức Lượng, Vân trung quỷ Trịnh Thiên Phước, Bồng đầu quỷ Văn Phương, Hắc phong quỷ Trương Vinh, thiên hạ đều biết chúng là năm quỷ một sòng ở Tây Xuyên. Nhân vì tên chủ chứa là Ðiền Quốc Bổn dọn đi đâu không biết, bọn chúng chẳng có đất dung thân nên mỗi người tản lạc về nhà thân hữu. Hoa Vân Long hái hoa gây án, để lại tới 9 cái mạng. Tất cả đều là trước gian dâm, sau giết mạng, quan tổng lãnh địa phương truy tìm hắn rất ngặt. Hắn nghĩ rằng đất này không thể ở lâu được nên rời bỏ Tây Xuyên. Ðến huyện Ngọc Sơn ở Giang Tây, hắn nghe nói ở đây có một vị quan bảo tiêu rất giàu có là Oai trấn bát phương Dương Minh, một vị anh hùng chuyên giao kết với các hào kiệt trong thiên hạ. Hoa Vân Long bèn mò tới Như Ý thôn ở Phụng Hoàng Lãnh để bái phỏng Dương Minh. Dương Minh nghe bẩm báo biết Hoa Vân Long là tên tặc hái hoa nên không tiếp. Gia nhân bảo là chủ tôi đi vắng, Hoa Vân Long chẳng biết làm sao nên lụi thủi ra về.

Qua mấy ngày có người cho biết Dương Minh có ở nhà, Hoa Vân Long lại đến ra mắt nhưng vẫn không được gặp. Ba lần như vậy, Dương Minh mới cho vào. Vốn là người khéo ăn nói, đối đáp như nước chảy, Hoa Vân Long thấy Dương Minh mình cao 8 thước, lưng nhỏ vai to, đầu đội khăn xếp đoạn màu lam, phía trước có thêu hai con rồng đang vờn đóa đào nhung, mặc một tiễn tụ bào màu xanh, thấp thoáng đôi vớ thêu hoa hồng đoạn, mặt như cổ nguyệt, mày hình chữ bát, mắt như sao sáng, tam sơn ngay ngắn, miệng rộng hình chữ tứ, dưới càm phất phơ ba chòm râu bạc trước ngực, ngũ quan thanh tú, phẩm chất khác thường. Hoa Vân Long lấy làm vui, nói:

- Tiểu đệ đã lâu ngưỡng mộ đại danh huynh đài, nhưng không có cơ hội gặp gỡ, nay may mắn được hội ngộ thật là tam sanh đại hạnh.

- Ngu đài có tài đức chi đáng được để lòng yêu mến. Mấy lần hiền đệ tới thăm mà chưa may mắn được bồi tiếp.

Hai người nói mấy câu khách sáo mở đầu chào hỏi. Hoa Vân Long nói:

- Tiểu đệ đất khách bơ vơ, thân trẻ dại khờ, cầu xin huynh đài dạy bảo.

Dương Minh thấy Hoa Vân Long nói năng hòa nhã, rất mừng, bèn lưu lại khách sảnh uống rượu. Trong câu chuyện có đề cập đến mấy dụ án mạng hái hoa ở Tây Xuyên, Hoa Vân Long cũng biểu lộ lòng hối cải. Dương Minh muốn tổ chức lễ ăn mừng thủ chánh giới dâm hoa, khi đã mang hoa này rồi thì không còn hái hoa nữa, Hoa Vân Long cũng đồng ý, Dương Minh phát thiếp đi mời các anh hùng, trong đó có: Truy phong yến tử Hoàng Vân, Thiết diện dạ xoa Mã Kính, Thiên lý độc hành Vương Ðức Thụy, Phi thiên hỏa tổ Tần Nguyên Lượng, Lập địa ôn thần Mã Dao Hùng, Truy phong yến tử Diệu Ðiện Quang, Hóa độ lôi tinh Lưu Thiên Hóa, Ðăng bình bộ thủy Ðào Phương, Ðạp tuyết vô ngân Liễu Thụy, Thuận thủy thôi châu Ðào Ngân, Trích tinh bộ đẩu Ðái Khuê, Phi thiên quỷ Thạch Thành Thụy, Dạ hành quỷ Quách Thuận, Tam xoa quỷ Dao Ðồng, Kim kiếm quỷ Tiêu Lượng, Luật lịnh quỷ Hà Thanh, Thám hoa quỷ Mã Thành, Ải nguyệt phong Bào Lôi, Lôi Minh, Trần Lượng… cộng tất cả 36 người kết bái, cũng chúc mừng Hoa Vân Long giữ chánh giới dâm hoa, mọi người cùng trích huyết hòa rượu uống thề. Sau khi mọi người giải tán, Hoa Vân Long vẫn ở lại nhà Dương Minh, không việc gì cũng đến phiêu cục học cách điều hành việc của Dương Minh và học thêm một pho Bát quái triệu hoàn đao. Ở luôn đó ba năm có lẻ, ngày kia Hoa Vân Long muốn lên thành Lâm An chơi, Dương Minh lấy cho 100 lượng bạc, khi đi dặn dò chớ có sinh sự lôi thôi, không có việc gì nên về sớm. Rời thôn Như ý ở Phụng Hoàng Lãnh ra, cứ đói ăn khát uống, ngày đi đêm nghỉ, ngày kia đến thành Lâm An, trước hết đến cửa Tiền Ðường, trên đường cái người qua lại nhộn nhịp, bán buôn phố chợ tấp nập, xế bên đường có một tòa tửu lầu với bảng hiệu Vọng Giang lâu, với những tên rượu tên trà nổi tiếng, hai cột trụ hai bên có đôi liễn đề rằng:

Rượu vào trời đất rộng,

Bầu rót tháng năm dài.

Hoa Vân Long định lên lai rai vài chén rượu bèn thả bước tới gần. Nơi thang lầu người xuống lên rất nhộn nhịp, trên lầu có một chiếc bàn, ngồi xuống định kêu rượu uống, Hoa Vân Long nhìn trực sang chiếc bàn đặt dưới cửa sổ phía Ðông, một người ngồi sẳn ở đó tự bao giờ, người này đầu đội khăn 6 múi màu tía, mình mặc áo tụ bào cùng màu, lưng thắt dây da, bên hông giắt một yêu đao, chân mang giày đế mỏng để lộ đội vớ bằng đoạn xanh thêu hoa. Da mặt hơi tía, trong tía ửng hồng, hai chân mày rộng đen thui trên đôi quái nhãn đen trắng phân minh. Tam sơn cân đối, dưới chữ tứ bộ quai râu nón đâm tua tủa. Gương mặt oai phong dẫy đầy sát khí. Hoa Vân Long thấy người đó đang ngồi nhâm nhi trước bàn rượu lật đật bước tới thi lễ, nói:

- Nhị ca mạnh giỏi, lâu quá không gặp, từ khi chúng ta chia tay ở Tây Xuyên, thấm thoát đã bốn năm dài, nào ngờ gặp nhau ở chốn đô hội này, huynh đài vẫn khỏe chứ?

Người ấy cười hà hà nói: Té ra là Hoa nhị đệ.

Thật là:

Có duyên ngàn dặm không ngăn,

Vô duyên gặp mặt cũng bằng người dưng!

Người mà Hoa Vân Long vừa gặp họ Vương tên Thông, trác hiệu là Thiết thối viên hầu, một tên giang dương đại đạo ở Tây Xuyên, với Hoa Vân Long là đôi bạn thiết. Ðã lâu mới gặp lại, hai người rất mừng bèn bày tiệc mới liên hoan. Vừa uống rượu, Vương Thông hỏi:

- Này nhị đệ, từ ngày chia tay ở Tây Xuyên, hiền đệ trú ngụ ở đâu mà hôm nay trôi dạt đến chốn này?

Hoa Vân Long mới đem việc gặp Oai trấn bát phương Dương Minh ở Giang Tây và kết bái với 36 anh em trong lễ mừng thủ chánh giới dâm hoa thuật lại tỉ mỉ và hỏi:

- Huynh trưởng hôm nay đến chơi ở đây có việc gì không?

- Ta đến đây cốt tìm một kẻ thù, vì anh ta làm chức thư lại ở phủ Thành Ðô, vì 200 lượng bạc làm tang vật mà bị tên cẩu quan bắt bỏ ngục, rồi buồn tình chết trong ngục thất. Lúc đó ta không có ở nhà, đến chừng về mới hay cớ sự. Ta muốn tìm tên cẩu quan ấy để báo thù, nào ngờ hắn đã chuyển đi nơi khác, ta đến kinh đô là cốt đê tìm hắn, hôm nay ta mới tới đây chưa có trọ ở đâu, hai chúng ta cùng ở một chỗ cho vui.

- Ðược, tôi cũng mới đến.

Hai người đang nói tới đó bỗng nghe có tiếng chân lộp cộp từ thang lầu, một người đang cầm giỏi trái cây đi lên, người này độ tuổi 40, đầu đội khăn vải xanh, quần áo cũng cùng màu, vớ trắng làm lộ rõ đôi giày màu xanh cũ. Trên khuôn mặt vàng ợt, đôi mắt tròn long lanh dưới cặp mày nhỏ, dưới cái trán nhăn, chiếc mũi ó dòm xuống đôi môi nứt nẻ với bộ râu chết nước đầu này một cọng, đầu kia vài ngoe. Người ấy đến các bàn mời mua lần lượt, khi đến mời mua ở bàn Hoa Vân Long bèn để giỏ xuống, nói:

- Chu choa, té ra là hai vị thái gia, tiểu nhân xin kính chào.

Nói xong, người ấy quỳ mọp xuống đất, dập đầu cộp cộp, Hoa Vân Long nhận ra mới nói:

- Ta tưởng ai, té ra là Lưu Xương.

Nguyên Lưu Xương sanh quán tại Tây Xuyên, sống với bọn lục lâm đã lâu, làm công việc phổ ky hầu bàn. Nhân vì gặp việc rã đàn tan nghé, hắn mới trốn đến Lâm An buôn bán lặt vặt qua ngày. Hôm nay gặp bọn Hoa Vân Long mới đến thi lễ. Vương Thông nói:

- Thôi đứng dậy đi, Lưu Xương, ngươi độ này có khá không? Và hiện ở đâu? Ở đây có chỗ nào phồn hoa náo nhiệt ngươi hãy nói cho ta biết, bọn ta mới tới đây lần đầu, cái gì cũng lạ hết.

- Hai vị thái gia muốn đi thì ở đây có Tây Hồ, núi Thành Hoàng thiên hạ đệ nhất danh, đều là những chỗ náo nhiệt cả, hai vị thái gia muốn đi chơi thì tôi sẽ dẫn đi. Tối lại không cần ngủ ở khách điếm, tôi có một gian thượng phòng bên trong rất sạch sẽ lại không có ai tới lui lộn xộn, cũng có thể ngủ được.

Hoa Vân Long nghe nói vậy rất vừa ý, Lưu Xương cũng ngồi vào cùng bọn ăn uống. Ăn xong Vương Thông trả tiền, ba người thong thả ra khỏi quán rượu. Bên đường người đi qua lại dập dìu, thả bước tới núi Thành Hoàng, ở đây thật là nơi tuyệt hảo! Cây cối um tùm, khách du tới lui không ngớt. Ðang đi, bỗng ngược chiều đi lại một chiếc kiệu nhỏ, bên trong ngồi ung dung một người nữ, mặt như hoa lê, má như nhụy hạnh. Thật là:

Tiên tử Dao Trì có khác,

Hằng Nga nguyệt điện không bằng.

Hoa Vân Long vốn là tay sành hái hoa, nếu không phải là người tuyệt đẹp thì không để mắt tới, vậy mà khi thấy người trong kiệu, tà tâm phát động, ao ước không thôi, theo riếc chiếc kiệu ấy đến cửa Tiền Ðường, thấy kiệu đi thẳng vào Trúc Am ở đường Bắc. Hoa Vân Long lững thững trở lại thì cũng gặp Lưu Xương và Vương Thông đi tới. Ðến chỗ không có ai, Hoa Vân Long mới hỏi:

- Này Lưu Xương, ngươi có biết người nữ ngồi trong kiệu đó không?

- Người đó hả? Nhị thái gia ơi, đừng hòng mơ tưởng đến làm chi, cô ta là con gái của Triệu Thông Phán, hứa gả cho con của Tôn Hiếu Liêm, chưa kịp thành hôn thì con của Tôn Hiếu Liêm đã chết, con gái họ Triệu đòi đi điếu tang, nói: - Tôi với con ông có danh mà không có phận vợ chồng, xin mở nắp quan tài để nhìn mặt lần cuối. Người họ Tôn mới mở nắp quan tài ra, cô nương ấy mới hớt tóc trên đầu mình để giữ phận góa bụa, cha mẹ hai bên xúm lại can ngăn không được. Cô ấy giận đến am Ô Trúc, tập sự xuất gia, xuống tóc tu hành, lão nhân gia đừng mơ tưởng làm chi vô ích, không được đâu!

Hoa Vân Long nghe nói trong lòng phát động, muốn ngay trong đêm đó vào ni am hái hoa.
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 05 Apr 2012, 0:16 AM | Message # 50
Generalissimo
Group: admins
Messages: 3170
Status: Tạm vắng
Hồi Thứ 47



Gặp tiết phụ hái hoa không toại ý
Thái sơn lầu gây án mạng giết người




Nghe Lưu Xương nói, Hoa Vân Long lẳng lặng không nói gì, ba người trở về nhà Lưu Xương ăn uống và ngủ tại đó, trống đã sang canh mà Hoa Vân Long trằn trọc không sao ngủ được. Thấy Vương Thông và Lưu Xương đang ngủ say bèn trở dậy thay đồ dạ hành, đem đồ mặc ban ngày gói lại cất vào trong bao cột ngang thắt lưng, dắt theo cương đao mở cửa bước ra ngoài, bên ngoài sao sáng đầy trời, trăng non chếch về Tây mờ ảo. Vượt tường đi ra trên đường phố vắng vẻ ít người qua lại. Bên ngoài ni am, Hoa Vân Long rảo mắt nhìn bốn phía. Ngôi am miếu này là đại điện ba tầng, bên đông chánh điện có một cửa nối liền với dày nhà phụ. Ở dãy nhà này, ngoài ba gian thượng phòng ở phía Bắc, hai bên đều có ba gian phối phòng. Phía chánh Nam của dãy nhà này là một vòng tường bên trong tùng trúc sum suê trông rất trang nhã. Ở phòng chánh Bắc ánh đèn lấp lánh kèm theo tiếng đọc kinh rì rầm, Hoa Vân Long từ nóc nhà Ðông phối phòng nhảy xuống, thẳng đến bên hành lang Bắc thượng phòng. Ở bên ngoài xoi giấy cửa sổ nhìn vào, phía trước sát vách có một cái giường nhỏ, trên mặt bàn để một cái đèn dầu, bốn ni cô nhỏ khoảng 14, 15 tuổi đang ngồi vây quanh đọc kinh. Tựa vào tường phía Bắc có một cái bàn dài, trên đó có mấy chồng kinh xếp ngay ngắn. Phía đầu chiếc bàn dài này có kê chiếc bàn bát tiên với hai ghế ngồi, ngồi đầu hết là vị sư già trên 60 tuổi, gương mặt hiền từ phúc hậu. Hoa Vân Long thấy ở đây không có thiếu phụ còn tóc bèn lướt qua Ðông phối phòng. Ðến gian phía Bắc xoi lỗ giấy nhìn vào, ở đây cũng bài trí như gian vừa rồi. Ngồi bên ngọn đèn đọc kinh chính là thiếu phụ ngồi trong kiệu hồi chiều. Ðang ngồi tụng kinh thì bỗng Triệu thị giật mình đánh thót vì bỗng nhiên một người đàn ông mặc áo xanh lưng thắt đao sáng giới từ ngoài xô cửa bước vào. Triệu thị lật đật hỏi:

- Ông là ai? Ở đây là thiền môn thanh tịnh, đang đêm đến đây làm gì? Nói mau!

- Nương tử ơi, hồi chiều gặp nàng ngồi kiệu quá núi Thành Hoàng về đây, nhan sắc mỹ miều quá, tôi không dứt ra được. Tối nay tôi đến đây gặp nàng, xin nàng nghe tôi cùng chia vui trong khoản khắc.

Thiếu phụ nghe tới đó, đỏ mặt trầm giọng:

- Biến ngay, nếu không tôi la lên đó, sư phó tôi đến đây bắt ông lên huyện quan, chừng đó ăn năn không kịp đấy.

Hoa Vân Long nghe nói nổi giận:

- Ðược, nghe lời ta thì dễ, còn không chịu thì hãy coi đây!

Nói rồi rút phăng con dao ở phía sau lưng, thiếu phụ vốn là một liệt phụ vội la toáng lên:

- Bớ người ta, nó giết người, cứu tôi với.

Hoa Vân Long nghe sợ có người đến bèn tới chộp mớ tóc xanh của người thiếu phụ lia qua một đao kết liễu tính mạng. Ðáng thương trang hồng phấn mỹ miều, phút chốc đi về cõi mộng! Hoa Vân Long trong một phút bồng bột mà tối nay giết chết một mạng người, lòng cảm thấy ăn năn. Bỗng nghe từ bên ngoài tiến vào một lão ni cô hỏi:

- Ai ở đây làm gì mà ồn ào thế?

Vừa nói vừa xô cửa bước vào, Hoa Vân Long gấp quá bèn nhắm ngay đầu bà bửa xuống một dao. Bà ni cô né đầu qua lệch, lưỡi dao xuống nhằm bả vai. Hoa Vân Long thừa cơ hội đó thoát ra khỏi phòng, thót lên mái nhà, theo đường củ trờ về chỗ ngủ. Lưu Xương lúc đó mới vừa thức dậy hỏi:

- Hoa nhị thái gia đi đâu về đó?

Hoa Vân Long cũng không giấu giếm, đem hết mọi chuyện hái hoa vừa rồi thuật lại hết, Vương Thông cũng vừa thức dậy, nghe hết mọi chuyện mới nói:

- Nhị đệ mới đến chỗ này mà gây ra trọng án như thế, e rằng không ở được lâu.

Hoa Vân Long mỉm cười nói:

- Không sao đâu, địa phương này chỉ nhờ vào mấy tên Ban đầu thôi, tôi có tai mắt hết rồi không cần phải lo về phía ấy.

Nói xong hai người trở dậy, trời đã sáng tỏ, Hoa Vận Long mới bảo:

- Lưu Xương, hôm nay ngươi cứ đi buôn bán như thường ngày, không cần phải lo cho chúng ta.

Sau khi Lưu Xương đi rồi, Vương Thông và Hoa Vân Long đi ra cửa Tiền Ðường, trên đường phố người đông như mắc cửi. Họ đang truyền về tin tức lát nữa khám nghiệm thây ở am Ô Trúc, Vương Thông nói:

- Này nhị đệ, chúng mình đi kiếm chỗ nào thanh nhã uống rượu đi, đừng đi dạo nữa.

Hai người tiến vào thành, thấy phía Bắc đường Phụng Sơn có một tòa đại tửu quán Thái Sơn lầu, định bụng đến uống rượu, hai người rảo bước tiến vào, thấy bên trong bàn ghế đầy đủ nhưng không có khách ngồi, hai người bước thẳng lên lầu thấy có một người ngồi ngay bàn chưởng quỹ, người này mặt như bôi phấn xanh, đầu đội khăn tam đoạn bốn gốc màu xanh, mình mặc áo cừu quí màu lam, mày rô mắt lộ, mặt lồi lõm khó coi, bốn năm tên chạy bàn nhưng không có vẻ gì là buôn bán cả, hai người ngồi cả buổi cũng không thấy ai hỏi han gì hế. Một lát nghe người chưởng quỹ mặt như hoa phấn xanh, nói:

- Này tụi phổ ky, hồi tao chưa dậy, tụi mày nói chuyện gì mà ồn lên thế?

- Ðừng nói đến làm chi, lát nữa ăn cơm rồi ông đi mà coi. Người cửa Tiền Ðường có am Ô Trúc, bên trong có một sương phụ thủ tiết tu hành. Hôm qua tên gian tặc nào đó lẻn vào giết chết, lại còn chém trọng thượng bà ni cô già nữa, không bao lâu đây quan sẽ đến khám nghiệm, ông coi việc này có rùng rợn không?

- Tên giặc này thật đáng giận, đáng tiếc cho người liệt phụ như vậy mà phải chết về tay tên giặc, chắc tên giặc ấy bị bề trên chơi cửa cha, hắn tức đi báo thù cũng nên?

Hoa Vân Long tức muốn ói máu mà nói không được, chính mình cũng không biết làm sao cho hả hơi, bèn dậm chân lên sàn gác một cái rầm, nói:

- Tụi bây ở đây làm cái thái gì? Bộ không có con mắt hà? Hai thái gia ngồi đây cả buổi mà không thấy đứa nào hỏi tới một tiếng. Buôn bán cái gì lạ vậy?

Phổ ky nghe vậy cũng rợn mắt lên, nói:

- Nè đừng có lôi thôi, bộ ngươi không có con mắt chắc, ngươi thử coi xem cái quán này của ai lập ra? Ta bảo cho ngươi biết nhé, từ ngày khai trương đến giờ bọn ta đánh không biết bao nhiêu người rồi đấy. Côn đồ thổ phỉ gì ta cũng đánh tuốt, đánh xong còn trói lại giải lên quan huyện nữa chứ. Ta làm phúc nói cho ngươi biết để mà liệu hồn.

Hoa Vân Long nghe mấy câu đó, trợn mắt hét lên:

- Nhị thái gia chẳng cần biết cái quán này của ai, đừng có hòng dọa nạt, ta phóng hỏa đốt lầu này cho mi biết tay, đi gọi chủ ngươi lại đây để coi hắn có ba đầu sáu tay gì cho biết!

Nguyên ông chủ của tửu lầu này là Tịnh gia thái tuế Tần Lộc, cháu của Tần An làm quản gia của Tần thừa tướng. Tòa tửu lầu này lập ra cốt không phải để bán rượu và thức ăn như những nơi khác mà là chạy chọt chức quan viên, nhờ Tần Lộc lo lót với Tần tướng phủ. Vì vậy lui tới đây là những kẻ buôn bán sỉ hoạn rất có thế lực. Hôm nay nghe Hoa Vân Long nói những lời ngang bướng đó, Tần Lộc từ phía sau quầy bước ra, nói:

- Mi là cái thá gì mà dám ở đây nói năn sàm sỡ thế. Bây đâu, đánh nó cho ta! Ðánh xong cầm danh thiếp của ta giải nó lên huyện!

Hoa Vân Long nghe nói, tức tràn hông, với tay rút con dao ra. Tần Lộc thấy vậy nói:

- Mi dám giết người không mà dám cầm dao? Nè, mi chém ta đi.

Hắn nghĩ mình là người có thế lực ai cũng kiêng nể nên vừa nói vừa đưa gáo dừa ra trước. Hoa Vân Long nói:

- Mạng mi kể số gì? Giết ngươi còn thua giết con bọ xít.

Nói rồi xuống tay ngay. “Phụt”, một cái, đầu Tần Lộc lăn long lóc trên đất. Tên phổ ky sợ quá, kêu “Má ơi” rồi ba chân bốn cẳng chạy xuống lầu. Nào ngờ đâu chân mềm nhũn vừa rên vừa lết xuống. Ngay lúc đó có người chạy đến báo với quan chức địa phương:

Chủ nhân của tửu lầu chúng tôi bị hai người kia giết rồi!

Các quan hô: Mau bắt nó!

Và kéo nhau đến lầu vây bắt. Kéo đến nơi trên lầu đã vắng tanh, hung thủ không còn ở đó nữa! Hoa Vân Long cùng Vương Thông đã từ cửa sổ nhảy xuống lầu lẫn vào đám đông nhìn lại, Thái Sơn lầu bị người vây kín mít. Có ai nói:

- Giặc chạy mất rồi!

Có người nói:

- Không hề gì, bọn giặc trốn không khỏi đâu! Nha môn thái thú chúng ta có bốn vị Ban đầu tên là Sài Nguyên Lộc, Ðỗ Chấn Anh, Lôi Trí Viễn, Mã An Kiệt. Bốn vị này thuộc vanh vách tên của bọn giang dương đại đạo. Bọn này nội trong ba ngày thế nào cũng tóm được!

Hoa Vân Long đứng trong đám đông nghe rõ hết và ghi nhớ trong bụng, cùng với Vương Thông ngược dòng người đi vào một tửu quán, tìm chỗ trang nhã uống rượu. Vương Thông nói:

- Hiền đệ, em làm náo động quá không tốt đâu! Hôm qua mới vừa đến đây, tối lại em giết chết một mạng người, bữa nay còn giết thêm một mạng nữa.

- Tôi xin nói cho đại ca biết, đã đến đây tôi phải làm cái gì kinh thiên động địa mới được. Vừa rồi là tại họ muốn chết mà thôi. Hồi nãy tôi nghe ở địa phương này có bốn cái tên Mã khoái tài giỏi lắm, tôi muốn quậy một trận cho nó biết tay. Tối nay tôi sẽ vào tướng phủ lấy đầu Tần Hỷ là Tể tướng đương thời rồi tôi ở lại Lâm An này nửa năm xem có nhân vật nào dám đến bắt tôi hay không?

- Hiền đệ, em chắc là gan mật đầy mình?

- Tôi đâu dám nói là mình không có?

- Hiền đệ, nếu em dám làm việc kinh thiên ấy, sư huynh cũng tình nguyện đi với.

Hai người đều là bợm nhậu, bị Vương Thông nói khích mấy câu, Hoa Vân Long hào khí bốc cao. Ăn uống xong, hai người thẳng đến phường Tần Hòa để dọ đường. Dọ đường xong họ tìm đến một quán rượu khuất vắng để bàn luận kế hoạch. Chờ trời tối, họ tìm chỗ vắng thay đồ dạ hành, còn đồ mặc ban ngày bỏ vào bao cột lại mang theo. Ðến Tần tướng phủ, họ nhảy lên tường rồi giở thuật phi thiềm tẩu bích đi trên mái nhà như ở đất bằng. Vào đến nội trạch của tướng gia, hai người đi tìm kiếm khắp nơi, thấy trong Bắc thượng phòng phía sau có ánh đèn lấp lánh, hai người nghĩ bụng: “Ðây là nội trạch, chắc là chỗ ở của Thừa tướng đây!”.

Nhìn vào bên trong thấy hai con a hoàn trạc 14, 15 tuổi đang ngồi trực đêm, trên bàn ngọn đèn sáp đang cháy lung linh. Hai người từ nóc nhà nhảy xuống, Hoa Vân Long lấy trong đãy ra một cây muột hương đốt lên đưa vào phòng. Giây lát hai a hoàn ngủ say như chết. Hai người thong thả tiến vào, định chắc là chỗ ở của Thừa tướng, nào ngờ đó là phòng ngủ của Thừa tướng phu nhân, trên đầu bàn nằm cộm lên một túi gấm, trong đó đôi vòng Bạch ngọc kỳ xảo lung linh ánh qua lớp túi, hai vòng này nửa thiên nhiên, nửa nhân tạo. Thật ra nó là một vật tiến cống của ngoại quốc bị Thừa tướng giữ lại. Hoa Vân Long hỏi:

Vương nhị ca, anh cần món này không?

- Ta không cần đâu, chú cứ lấy đi!

Ngoảnh lại thấy kế bên có chiếc hộp phụng quan, bên trong có một chiếc phụng quan thùy châu với 13 hột bửu bối, Hoa Vân Long cũng bỏ luôn vào túi rồi bước ra. Thấy trên bàn bút nghiên để sẵn bèn cầm viết, viết lên tường hai bài thơ. Viết xong ném bút lên bàn rồi ra hợp với Vương Thông trở về nhà trọ. Sáng ra, Thừa tướng dậy sớm đi chầu. Vào đến bên trong thấy hai a hoàn hôn mê bất tỉnh, vào đến phòng trong thấy túi đựng vòng ngọc và phụng quan không còn nữa, vội sai gia nhân cứu tỉnh phu nhân và bọn xử nữ. Thấy thơ đề trên vách mới biết là đêm hôm có trộm đến viếng.


Đại Bi Chú
 
FORUM » QUÁN BÊN ĐƯỜNG » CHUYỆN TÔN GIÁO » Tế Điên Hoà Thượng (240 Hồi) ("Đồ Khùng" dịch)
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO