- ATOANMT
Thứ Bảy
10 Dec 2016
0:55 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn Bài xong bấm vào "CHỌN XEM":







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 2 of 2«12
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » PHẬT-SỰ MUÔN NƠI » Kinh Địa Tạng (dịch nghĩa)
Kinh Địa Tạng (dịch nghĩa)
thanhlongphapsu Date: Chủ Nhật, 22 May 2016, 2:08 PM | Message # 51
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2568
Status: Tạm vắng
 
atoanmt Date: Thứ Sáu, 27 May 2016, 6:32 AM | Message # 52
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 12 Jun 2016, 5:05 PM | Message # 53
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Phẩm Thứ Mười

Nhân Duyên và So sánh Công Đức Bố Thí


"So sánh" là cân nhắc, đo lường, so bì với nhau để biết được sự khác biệt. "Bố thí" nghĩa là đem cho cùng khắp; và gồm có ba loại là tài thí, Pháp thí và vô úy thí.

1) Tài thí (bố thí tài sản). "Tài thí" là gì? "Tài" là tài sản, tiền của; và được phân làm hai loại là nội tài và ngoại tài. "Nội tài" (tài sản bên trong) là thân tâm, tánh mạng; còn "ngoại tài" (tài sản bên ngoài) tức là vàng, bạc, châu báu...

"Ngoại thí" tức là bố thí các tài sản ở ngoài thân. Tài sản lớn lao như là lãnh thổ quốc gia cũng có thể đem ra bố thí, thậm chí chính mình có thể không làm vua nữa mà mời người khác lên làm vua thay mình; đó là "ngoại thí." Như Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng làm chẳng hạn: Ngài đã khước từ ngôi vị Quốc Vương, nhường ngai vàng cho người khác—đó chính là bố thí toàn bộ tài sản của quốc gia. Ngoài ra, chồng vợ con cái cũng thuộc về ngoại tài, và cũng có thể đem bố thí cho người khác.

Trong những thứ mà con người cảm thấy khó thể xa rời được nhất, trước hết phải kể đến tiền bạc. Bố thí tiền bạc cho kẻ khác thì có thể dứt bỏ được lòng tham lam, keo kiệt của chính mình. Kế đến là "sắc" (sắc dục)—bố thí "sắc" không phải là chuyện dễ; dù vậy, việc khó làm mà vẫn có thể làm được, thì mới thật sự có chân tâm! Cho nên, những người chân chánh tu Ðạo vẫn có thể vì cầu Pháp mà bố thí ngay cả vợ con của chính mình. Tuy nhiên, sự bố thí ấy phải vì cầu Pháp mà bố thí; chứ không phải là đem cô vợ này "bố thí" cho người ta, để sau đó thảnh thơi đi tìm cô vợ khác xinh đẹp hơn; bởi như thế là không đúng, và không thể xem như một sự bố thí được. Ðó chẳng qua là "chán cái cũ, muốn đổi lấy cái mới" mà thôi. Vì thế, trường hợp đó không gọi là "bố thí" mà chỉ có thể gọi là "tham lam không chán," là một thứ dục vọng, chẳng bao giờ biết đủ!

Lần trước, khi giảng đến vấn đề "bố thí" vợ thì có một người nọ ngỏ ý muốn "bố thí" chồng mình cho người khác, nhưng vì chẳng ai chịu nhận cho nên không thể nào "bố thí" được!!!

Vậy, "tài thí" thì gồm có sự bố thí những tài sản ở ngoài (ngoại thí) và các tài sản trong thân thể mình (nội thí) như đầu, mắt, tủy, não, da thịt, máu huyết, gân cốt... cho kẻ khác.

2) Pháp thí (bố thí Pháp). "Pháp thí" tức là học được Phật Pháp rồi thì không "hoài kỳ bảo nhi mê kỳ bang." Câu này nghĩa là gì?

Giả sử quý vị có trong tay một thứ bảo bối có công năng cứu người, như ngọc Như Ý chẳng hạn. Có được viên ngọc Như Ý thì quý vị muốn gì được nấy—muốn có đủ loại vàng bạc châu báu, hoặc đồ ăn thức uống... nhất nhất đều được toại nguyện. Với viên ngọc này, nếu đất nước gặp cảnh khốn khổ vì thiên tai thì quý vị có thể dùng ngọc để hóa giải. Thế nhưng, nếu quý vị có ngọc mà không dùng để cứu người, chỉ trơ mắt thờ ơ ngồi nhìn dân chúng trong nước bị lầm than đói khát, chẳng chút quan tâm, chẳng màng cứu giúp, thì đó gọi là "hoài kỳ bảo nhi mê kỳ bang"—tức là chỉ biết khư khư ôm chặt báu vật cho mình mà mê muội, chẳng hề nghĩ tới những người cùng chung đất nước.

Câu ấy cũng hàm ý là quý vị có am hiểu về Phật Pháp song lại không chịu giảng giải, nói cho người khác nghe, còn ích kỷ bỏn xẻn, cứ nghĩ rằng: "Tôi không giảng Pháp cho họ, vì e giảng rồi thì họ cũng hiểu rõ Phật Pháp và thành ra ngang hàng với tôi! Bây giờ tôi hiểu rõ Phật Pháp, còn họ thì không hiểu gì cả, nên tôi cao hơn họ, có kiến thức hơn họ!" Có tư tưởng như thế tức là "hoài bảo mê bang."

Vậy, quý vị nên tùy thời tùy lúc mà thuyết Pháp, để hết thảy chúng sanh được nghe Pháp mà biết tu hành, bỏ bờ mê quay về bến giác, lìa khổ được vui. Quý vị bố thí Pháp là giúp cho người khác nghe được Phật Pháp, rồi hiểu rõ mà không còn làm những việc hồ đồ mê muội nữa, và nhờ đó họ sẽ được xa lìa khổ não. Vả lại,

“Trong các loại cúng dường,

Cúng dường Pháp là cao nhất!”

( Chư cúng dường trung,

Pháp cúng dường tối.
)


Cho nên, nếu quý vị có thể cúng dường Pháp thì công đức ấy là to lớn nhất, thù thắng nhất!

3) Vô úy thí (bố thí sự vô úy). "Vô úy thí" là an ủi, đem lại sự không sợ hãi cho người khác. Khi thấy có những người rủi ro gặp hoạn nạn hoặc mắc phải tai bay vạ gió, khiến họ phải hoảng hốt lo sợ, mà quý vị ân cần hỏi han, dùng lời dịu dàng trấn an, làm cho họ không còn sợ hãi nữa, thì đó chính là "vô úy thí" vậy.

Ðây là phẩm thứ mười của bộ kinh này, giảng về nhân duyên và sự khác biệt trong công đức bố thí.



Kinh văn:

Lúc đó, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nương oai thần của Ðức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối, chắp tay bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh trong nghiệp đạo, so sánh về sự bố thí thì có nhẹ có nặng. Có người hưởng phước trong một đời; có người hưởng phước trong mười đời; có người hưởng phước lợi lớn trong trăm đời, ngàn đời. Những việc này là như thế nào? Cúi xin Ðức Thế Tôn chỉ dạy cho con rõ."



Lược giảng:

Lúc đó, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nương oai thần của Ðức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối, chắp tay bạch Phật rằng...
Ðây là lời mở đầu được thêm vào khi kết tập kinh tạng. Từ câu "Bạch Ðức Thế Tôn..." trở đi là lời của Bồ Tát Ðịa Tạng, còn đoạn văn trước thì tương tự như phần giới thiệu mở đầu của một bài luận văn, tường thuật diễn tiến của sự việc.

Như thế, lúc bấy giờ Ðại Bồ Tát Ðịa Tạng dựa vào sức oai đức thần thông của Ðức Phật, từ chỗ ngồi của mình đứng dậy, rồi quỳ gối và chắp tay lại mà thưa với Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh trong nghiệp đạo ..." Ngài Ðịa Tạng từng quán xét sự tạo nghiệp của chúng sanh trong sáu đường—Trời, Người, A-tu-la, Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh—để xem vì sao họ gây ra nghiệp tội. Ðó là do lúc ban đầu họ đã khởi những niệm vô minh. Vô minh chính là "hoặc" (mê lầm); có "hoặc" thì sẽ tạo nghiệp, mà hễ tạo nghiệp thì phải chịu quả báo. Vì thế, chúng sanh trong Lục Ðạo cứ mê muội hồ đồ trong vòng luẩn quẩn "khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo," không có cách gì thoát ra được.

"So sánh về sự bố thí thì có nhẹ có nặng." Ngài Ðịa Tạng lại thưa tiếp: "Con so sánh công đức bố thí của chúng sanh thì thấy có nhẹ, có nặng. Có người hưởng phước trong một đời; có người hưởng phước trong mười đời; có người hưởng phước lợi lớn trong trăm đời, ngàn đời." Có người thọ hưởng nội trong một đời thì phước báo liền hết; có người thì trong mười mấy đời đều được thọ hưởng phước báo. Ngoài ra, cũng có những người được hưởng phước lợi lớn lao trong suốt cả trăm hoặc cả ngàn đời.

"Những việc này là như thế nào? Cúi xin Ðức Thế Tôn chỉ dạy cho con rõ. Nay con thỉnh cầu Ðức Thế Tôn mở lòng từ bi, vì con mà giảng rõ vấn đề này."



Kinh văn:

Bấy giờ, Ðức Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Nay Ta ở trong toàn thể chúng hội nơi cung trời Ðao Lợi này, giảng về sự so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở Diêm Phù Ðề. Ông phải lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói!"

Bồ Tát Ðịa Tạng bạch Phật rằng: "Con đang hoài nghi việc ấy, nên rất muốn được nghe."



Lược giảng:

Bấy giờ, Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Nay Ta ở trong toàn thể chúng hội, giữa tất cả các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, La Hán cùng Trời, Rồng, Quỷ, Thần... nơi cung trời Ðao Lợi—cõi trời Ba Mươi Ba—này, giảng về sự so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở Diêm Phù Ðề. Ta sẽ nói rõ về sự bố thí ở cõi Nam Diêm Phù Ðề và so sánh sự nặng nhẹ của công đức đó. Vậy, ông phải lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói. Bây giờ Ta sẽ giải thích cho ông rõ, vậy ông hãy chú ý lắng nghe!"

Bồ Tát Ðịa Tạng bạch Phật rằng: "Con đang hoài nghi việc ấy, nên rất muốn được nghe."

Ở đây, chúng ta phải nhớ rằng không phải Bồ Tát Ðịa Tạng có lòng hoài nghi về việc ấy. Bồ Tát Ðịa Tạng vốn đã hiểu rất rõ về sự nặng nhẹ của công đức bố thí; tuy nhiên, Ngài vì chúng sanh mà thưa hỏi, vì chúng sanh mà cầu Pháp. Chính vì nhân duyên muốn cho chúng sanh được hiểu rõ về công đức của sự bố thí, nên Ngài mới nói rằng: "Con đang hoài nghi việc ấy!"

Mới xem qua kinh văn, quý vị chớ vội cho rằng Bồ Tát Ðịa Tạng vẫn chưa hiểu rõ và vẫn còn hoài nghi—bởi sự thật không phải như vậy! Thế thì, nếu Bồ Tát Ðịa Tạng đã hiểu rõ rồi nhưng lại nói là mình còn hoài nghi, còn có chỗ chưa hiểu; như thế há không phải là Ngài cố ý nói dối hay sao? Song le, sự nói dối này chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân Ngài và cũng chẳng gây thiệt hại cho bất kỳ ai, mà chỉ có lợi cho mọi người và không có hại gì cho Ngài cả. Sở dĩ Bồ Tát Ðịa Tạng nói lời giả thiết, đưa vấn đề ra thỉnh vấn Ðức Phật như thế, là vì Ngài biết rằng tất cả chúng sanh đều chưa hiểu được đạo lý về sự nặng nhẹ của công đức bố thí; cho nên, Ngài tự nguyện đứng ra làm người thỉnh Pháp để thưa hỏi Ðức Phật về việc ấy.

Cũng như có nhiều lúc, có những người hay thắc mắc, đặt hết câu hỏi này đến câu hỏi khác; song, đó không phải do họ không hiểu mà là vì họ muốn có thêm nhiều người được hiểu rõ vấn đề hơn. Ở đây, Bồ Tát Ðịa Tạng cũng cùng một ý định đó—vì muốn cho tất cả chúng sanh đều hiểu rõ đạo lý ấy, Ngài bèn nói: "Chính con đang hoài nghi việc ấy. Nay con xin sẵn lòng lắng nghe Ðức Phật giảng nói về đạo lý đó."



Kinh văn:

Ðức Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Ở cõi Nam Diêm Phù Ðề, có các Quốc Vương, hàng Tể Phụ, Ðại Thần, Ðại Trưởng Giả, Ðại Sát Lợi, Ðại Bà La Môn v.v... gặp những kẻ bần cùng thấp kém nhất, cả đến những kẻ gù lưng, tàn phế, ngọng, câm, điếc, ngu si, không mắt, những người không được vẹn toàn như thế; khi các Ðại Quốc Vương đó muốn bố thí và nếu có thể đủ lòng đại từ bi, mỉm cười hạ mình, tự tay bố thí cùng khắp hoặc sai bảo người khác bố thí, lại dùng lời ôn hòa, dịu dàng an ủi; thì các Quốc Vương đó sẽ được phước lợi bằng phước lợi của công đức cúng dường cho chư Phật nhiều như số cát một trăm sông Hằng .

Vì cớ gì? Bởi các Quốc Vương đó đã phát tâm đại từ bi đối với những kẻ bần cùng thấp kém nhất cùng những người khuyết tật kia, cho nên được quả báo phước lợi như thế, trong trăm ngàn đời thường được đầy đủ những đồ thất bảo, huống là những thứ thọ dụng như y phục, đồ ăn thức uống!"



Lược giảng:

Ðức Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Ở cõi Nam Diêm Phù Ðề, có các Quốc Vương—hoàng đế, vua chúa của một nước—hàng Tể Phụ, Ðại Thần, Ðại Trưởng Giả, Ðại Sát Lợi, Ðại Bà La Môn v.v..."


"Tể Phụ" là một chức quan lớn. "Ðại Thần" tức là quan lớn trong triều đình, hàng đại quan.

"Ðại Trưởng Giả" tức là những người có đức hạnh và giàu có nhất. Bậc Trưởng Giả có mười đức hạnh:

1) Dòng họ sang trọng (tánh quý);

2) Ðịa vị cao (vị cao);

3) Giàu có lớn (đại phú);

4) Oai phong lẫm liệt (uy mãnh);

5) Trí tuệ sâu sắc (trí thâm);

6) Tuổi tác cao (niên kỳ);

7) Hạnh thanh tịnh (hạnh tịnh);

8) Ðầy đủ lễ nghi (lễ bị);

9) Ðược người trên khen ngợi (thượng thán);

10) Ðược kẻ dưới phục tòng (hạ quy).

"Ðại Sát-lợi" là hàng quý tộc, dòng dõi vua chúa của Ấn Ðộ.

"Ðại Bà-la-môn" là thanh tịnh duệ—tức là hậu duệ, con cháu của dòng dõi thanh tịnh—và cũng thuộc hàng quý tộc.

"Phệ-xá" là hàng thương gia, lái buôn, những người sinh sống bằng nghề buôn bán.

"Chiên-đà-la" là hàng đồ tể, hành nghề mổ heo giết lợn để mưu sinh.

Sát-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá và Chiên-đà-la là bốn giai cấp trong xã hội Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Ðịa Tạng Vương Bồ Tát rằng: "Giả sử các bậc vua quan, các vị Trưởng Giả giàu có, cùng những người thuộc hàng quý tộc như Ðại Sát Lợi và Ðại Bà La Môn, tình cờ gặp những kẻ bần cùng thấp kém nhất—như kẻ ăn mày, hoặc những người làm các công việc không được cao sang, cả đến những kẻ gù lưng, tàn phế, ngọng, câm, điếc, ngu si, không mắt, những người không được vẹn toàn như thế..." Ở đời, có rất nhiều người không chỉ nghèo hèn mà còn bị ốm đau bệnh tật, thậm chí bị tàn phế, tật nguyền, sáu căn không được đầy đủ như câm ngọng, điếc ngây, mù lòa...

"Gù" là như thế nào? Người Trung Hoa thường gọi người gù là "lạc đà," vì lưng của lạc đà không duỗi thẳng mà lại có cái bướu nhô lên, thậm chí còn nhô cao hơn cả đầu nữa.

"Tàn phế" là không có tay, không có chân, hoặc không có mắt ...—nói chung là cơ thể có khiếm khuyết, có cơ phận bị thiếu sót hoặc không thể hoạt động.

"Ngọng" là tiếng nói ngọng nghịu, phát âm không được rõ.

"Câm" tức là không nói ra tiếng được. Ðây là hạng người hạ tiện, thấp hèn nhất.

"Ðiếc" là không nghe được gì cả.

"Ngu si" là u mê ngây dại, trí óc kém cỏi.

"Không mắt" tức là mù lòa, không trông thấy được gì cả. Người không có mắt cũng là hạng người chịu nhiều đau khổ nhất.

"Khi các Ðại Quốc Vương đó—cũng như các Ðại Trưởng Giả, Tể Phụ, Ðại Thần, Ðại Sát Lợi, Ðại Bà La Môn—trông thấy những kẻ khốn cùng và tật nguyền nọ bèn phát tâm muốn bố thí, nếu có thể đủ lòng đại từ bi, mỉm cười hạ mình, vui vẻ khiêm tốn, nét mặt luôn tươi cười, tuyệt đối không hề chê bai khinh rẻ, tự tay bố thí cùng khắp, đích thân phân phát, hoặc sai bảo người khác bố thí (vì mình không có thì giờ), lại dùng lời ôn hòa, dịu dàng an ủi, ngọt ngào khuyên bảo khiến ai nấy đều vui vẻ hân hoan; thì các Quốc Vương đó—cũng như hàng đại quan và quý tộc nọ—sẽ được phước lợi bằng phước lợi của công đức cúng dường cho chư Phật nhiều như số cát một trăm sông Hằng. Phước báo cùng sự lợi ích mà các vị thí chủ đó đạt được sẽ tương đương với phước báo và lợi ích có được từ công đức cúng dường cho các đức Phật số nhiều như số cát của một trăm con sông Hằng vậy."

"Vì cớ gì?" Do nguyên nhân nào mà các Quốc Vương, hàng đại quan và quý tộc được phước báo lớn lao dường ấy? Vì sao họ chỉ nhún mình đoái thương, tươi cười hoan hỷ bố thí cho kẻ nghèo hèn, mà lại có thể có được công đức to lớn ngang bằng công đức cúng dường cho cả trăm Hằng hà sa chư Phật? Ðạo lý này là như thế nào?

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giải thích rằng: "Bởi các Quốc Vương đó đã phát tâm đại từ bi đối với những kẻ bần cùng thấp kém nhất cùng những người khuyết tật kia, những người sáu căn không được hoàn chỉnh, cho nên được quả báo phước lợi như thế." Phước lợi này rộng lớn ngang bằng công đức cúng dường cho rất nhiều đức Phật, nhiều như số cát trong một trăm con sông Hằng vậy. Bởi tuy đối tượng bố thí của các Quốc Vương, hàng đại quan và quý tộc nọ không phải là Phật, song lúc bố thí, họ vẫn một mực khiêm tốn, hoan hỷ, và cung kính như đang cúng dường cho Ðức Phật vậy; do đó công đức có được từ sự bố thí ấy so với công đức cúng dường cho cả trăm Hằng hà sa chư Phật thì chẳng khác gì nhau!

Ngoài ra, các Quốc Vương cùng hàng đại quan và quý tộc ấy, "trong trăm ngàn đời thường được đầy đủ những đồ thất bảo, huống là những thứ thọ dụng như y phục, đồ ăn thức uống!" Trải qua thời gian lâu dài đến cả trăm ngàn đời, họ luôn luôn có đầy đủ các bảo vật làm bằng bảy thứ báu, còn những thứ như áo quần, thực phẩm... thì lại càng không bao giờ vơi cạn!



Kinh văn:

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có các Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v... gặp chùa tháp thờ Phật, hoặc hình tượng Phật, cho đến tượng Bồ Tát, Thanh Văn hoặc Bích Chi Phật, bèn đích thân thu xếp sửa sang, cúng dường, bố thí, thì các Quốc Vương đó sẽ được trong ba kiếp làm thân Ðế Thích, thọ hưởng sự vui sướng thù thắng, vi diệu. Nếu có thể đem phước lợi bố thí này hồi hướng cho Pháp Giới, thì các Ðại Quốc Vương đó, trong mười kiếp thường được làm vị Ðại Phạm Thiên Vương.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có các Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v..., gặp tháp miếu của chư Phật thuở trước, hoặc cả kinh điển, hình tượng bị hủy hoại, rách nát, liền có thể phát tâm tu bổ lại. Các Quốc Vương đó, hoặc tự mình lo liệu sửa sang, hoặc khuyến hóa người khác, thậm chí cả trăm ngàn người cùng bố thí để kết Pháp duyên; thì các vị Quốc Vương đó trong trăm ngàn đời thường được làm thân Chuyển Luân Vương, còn những người cùng chung làm việc bố thí đó, trong trăm ngàn đời thường được làm thân Tiểu Quốc Vương.

Nếu lại có thể ở trước chùa tháp mà phát tâm hồi hướng, thì các Quốc Vương cho đến những người đó, thảy đều thành Phật Ðạo, bởi quả báo ấy là vô lượng vô biên."



Lược giảng:

"Lại nữa, này Ðịa Tạng!
Nay Ta lại giảng thêm về nhân duyên bố thí cho ông rõ. Ông phải biết rằng, giả sử trong đời vị lai, nếu có các Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn, Sát-lợi v.v..., gặp chùa tháp thờ Phật, hoặc hình tượng Phật, cho đến tượng Bồ Tát, Thanh Văn hoặc Bích Chi Phật..."

"Bích Chi Phật" là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Duyên Giác hoặc Ðộc Giác. Bậc tu hành nhờ quán sát Mười Hai Nhân Duyên mà giác ngộ và nếu ở vào thời có Phật ra đời thì gọi là "Duyên Giác," còn nếu nhằm thời không có Phật trụ thế thì gọi là "Ðộc Giác."

Bấy giờ, nếu các Quốc Vương hoặc hàng quý tộc nọ "bèn đích thân thu xếp sửa sang, tự đứng ra lo liệu việc sửa chữa, cúng dường, bố thí, thì các Quốc Vương đó—cùng hàng Bà La Môn, Sát Lợi—v.v... sẽ được trong ba kiếp làm thân Ðế Thích—thiên chủ cõi trời Ba Mươi Ba—thọ hưởng sự vui sướng thù thắng, vi diệu."

Giả sử các vị Quốc Vương đó không muốn riêng mình thọ hưởng phước lợi bố thí ấy, và "nếu có thể đem phước lợi bố thí này hồi hướng cho Pháp Giới, mang tất cả công đức có được ấy mà hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong toàn Pháp Giới, hồi tự hướng tha, thì các Ðại Quốc Vương đó, trong mười kiếp thường được làm vị Ðại Phạm Thiên Vương, thiên chủ cõi trời Ðại Phạm."

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Nay Ta lại vì ông mà nói rõ hơn nữa. Giả sử trong đời vị lai, nếu có các Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v... gặp tháp miếu của chư Phật thuở trước hoặc cả kinh điển, hình tượng bị hủy hoại, rách nát—chùa chiền tiêu điều hoang phế, tượng Phật loang lổ hư mục—liền có thể phát tâm tu bổ lại.

"Các Quốc Vương đó—cùng hàng Bà La Môn—hoặc tự mình lo liệu sửa sang, đích thân quán xuyến việc tu bổ, hoặc khuyến hóa người khác, thậm chí cả trăm ngàn người cùng bố thí để kết Pháp duyên. Nếu một mình người ấy làm không nổi, thì kêu gọi hàng ngàn hàng vạn người, tất cả cùng nhau chung sức góp phần tu sửa tháp miếu, cùng nhau gánh vác công việc trùng tu. Mọi người, mỗi người một ít, tất cả cùng nhau đóng góp, bố thí để kết Pháp duyên.

"Thì các vị Quốc Vương đó, trong trăm ngàn đời thường được làm thân Chuyển Luân Vương." Ở ngôi vị Chuyển Luân Thánh Vương, nếu họ tiến tu thì sẽ được thành Phật, còn nếu không tu hành thêm nữa thì vẫn làm vị Chuyển Luân Thánh Vương.

"Còn những người cùng chung làm việc bố thí đó, trong trăm ngàn đời thường được làm thân Tiểu Quốc Vương—vua của các nước nhỏ.

"Nếu lại có thể ở trước tháp miếu mà phát tâm hồi hướng, nguyện đem tất cả công đức mình tạo được hồi hướng cho Pháp Giới hoặc toàn thể chúng sanh, thì các Quốc Vương cho đến những người đó—những người cùng làm việc bố thí, cùng kết Pháp duyên—thảy đều thành Phật Ðạo, tất cả đều được thành Phật, bởi quả báo ấy là vô lượng vô biên." Nhờ phước báo có được từ việc bố thí đó, trong tương lai họ sẽ được hưởng vô số lợi lạc, nhiều không thể nào kể xiết.



Kinh văn:

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, như có các vị Quốc Vương cùng hàng Bà La Môn v.v..., gặp những người già yếu, tật bệnh và kẻ phụ nữ sinh đẻ, nếu trong một niệm mà đầy đủ lòng đại từ, đem thuốc men, đồ ăn thức uống, mền chiếu... bố thí cho, khiến cho họ được an vui, thì phước lợi đó không thể nghĩ bàn—trong một trăm kiếp thường được làm Thiên Chủ trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường được làm Thiên Chủ cõi Lục Dục Thiên và rốt ráo sẽ được thành Phật, vĩnh viễn không còn đọa vào ác đạo, thậm chí trong trăm ngàn đời, tai không hề nghe đến tiếng khổ.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, như có các vị Quốc Vương cùng hàng Bà La Môn v.v..., có thể làm những việc bố thí như thế, sẽ được vô lượng phước lành. Nếu lại có thể đem hồi hướng, thì không kể là nhiều hay ít, rốt ráo đều sẽ thành Phật; huống gì là những quả báo Thích, Phạm, Chuyển Luân! Vì thế, này Ðịa Tạng, ông nên khuyến hóa chúng sanh đều phải học theo như thế!"



Lược giảng:


Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi: "Lại nữa, này Ðịa Tạng! Bây giờ Ta lại vì ông mà giảng nói thêm. Này Ðịa Tạng Bồ Tát, trong đời vị lai, như có các vị Quốc Vương cùng hàng Bà La Môn, những kẻ có thế lực nhất, gặp những người già yếu, tật bệnh, cùng kẻ phụ nữ sinh đẻ; nếu trong một niệm mà đầy đủ lòng đại từ, đem thuốc men, đồ ăn thức uống, mền chiếu... bố thí cho, làm cho họ được an vui..."

Giả sử các Quốc Vương hoặc hàng Bà La Môn có thế lực nhất ấy động mối từ tâm, chỉ trong một niệm có thể phát khởi một thứ lòng từ bi thật bao la rộng lớn, tràn trề, viên mãn, mà bố thí cho những người già cả cũng như các bệnh nhân và sản phụ đó một ít tiền bạc, hoặc tặng thuốc men, thực phẩm, chăn đệm mùng mền, khiến họ cảm thấy an vui vì được chăm sóc giữa lúc khổ sở khốn đốn nhất, "thì phước lợi đó thật không thể nghĩ bàn, công đức phước lợi tạo được từ sự bố thí ấy thì rộng lớn đến nỗi không thể nào mường tượng ra được."

Phước lợi đó ra sao? Trong tương lai, các vị Quốc Vương và hàng Bà La Môn ấy "trong một trăm kiếp thường được làm Thiên Chủ trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường được làm Thiên Chủ cõi Lục Dục Thiên và rốt ráo sẽ được thành Phật, vĩnh viễn không còn đọa vào ác đạo, thậm chí trong trăm ngàn đời, tai không hề nghe đến tiếng khổ."

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Bây giờ Ta sẽ nói tường tận hơn nữa. Này Bồ Tát Ðịa Tạng, giả sưû trong đời vị lai, như có các vị Quốc Vương cùng hàng Bà La Môn v.v..., có thể làm những việc bố thí như thế, thì sẽ được vô lượng phước báo. Nếu họ có thể làm các việc bố thí như Ta vừa nói ở trên, thì phước báo mà họ được hưởng sẽ vô lượng vô biên. Nếu lại có thể đem hồi hướng, thì không kể là nhiều hay ít, rốt ráo đều sẽ thành Phật; huống gì là những quả báo Thích, Phạm, Chuyển Luân!" Ngoài ra, nếu các Quốc Vương cùng hàng Bà La Môn đó có thể đem công đức ấy hồi hướng cho Pháp Giới, cho tất cả chúng sanh, thì bất luận công đức họ tạo được là nhiều hay ít, tương lai nhất định họ đều sẽ thành Phật; thì có sá gì các quả báo làm Ðế Thích, Ðại Phạm Thiên Vương, hoặc Chuyển Luân Thánh Vương!

"Vì thế, này Ðịa Tạng, ông nên khuyến hóa chúng sanh đều phải học theo như thế! Ông cần phải khuyến khích, nhắc nhở khắp cả chúng sanh, khuyên họ phải học hỏi và tập làm các việc bố thí như thế; chớ nên có tâm keo kiệt, bỏn xẻn."



Kinh văn:

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào ở trong Phật Pháp mà gieo trồng chút ít thiện căn chừng bằng mảy lông, sợi tóc, hạt cát, hạt bụi, thì phước lợi được thọ hưởng sẽ không thể ví dụ thế nào cho được.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình tượng vua Chuyển Luân mà bố thí cúng dường, thì sẽ được vô lượng phước báo, thường ở cõi người, cõi trời, hưởng sự vui thù thắng, vi diệu. Như có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì phước lợi của người ấy sẽ không thể ví dụ thế nào cho được.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp kinh điển Ðại Thừa, hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng, cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, thì người ấy sẽ được đại quả báo vô lượng vô biên; nếu có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì phước báo này sẽ không thể ví dụ thế nào cho được."



Lược giảng:


Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: "Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào ở trong Phật Pháp mà gieo trồng chút ít thiện căn—không cần phải trồng thật nhiều cội phước lành mà chỉ trồng chút ít mà thôi; chút ít là bao nhiêu ư? Chừng bằng mảy lông, sợi tóc, hạt cát, hạt bụi, thì phước lợi được thọ hưởng sẽ không thể ví dụ thế nào cho được." Mặc dù căn lành mà những thiện nam hoặc thiện nữ đó gieo trồng chỉ nhỏ nhoi như thế, song phước báo mà họ sẽ gặt được trong đời sau thì không thể nào kể cho hết được!

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào—những người thọ trì Ngũ Giới và tu hành Thập Thiện—gặp hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình tượng vua Chuyển Luân, mà bố thí cúng dường, thì sẽ được vô lượng phước báo." Nếu những thiện nam tín nữ ấy có thể đối trước các hình tượng này mà phát tâm bố thí, cúng dường, thì họ sẽ có được vô lượng vô biên phước báo, "thường ở cõi người, cõi trời, thọ hưởng sự vui thù thắng, vi diệu."

Ngoài ra, "như có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì phước lợi của người ấy sẽ không thể ví dụ thế nào cho được." Nếu họ lại có thể đem công đức của sự bố thí cúng dường ấy hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong toàn Pháp Giới, thì phước báo cùng sự lợi ích mà họ được thọ hưởng sẽ không thể kể xiết, cũng không có gì có thể dùng để so sánh được.

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Nay Ta sẽ nói cặn kẽ hơn cho ông rõ. Này Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp kinh điển Ðại Thừa..." Kinh điển Ðại Thừa là gồm các bộ kinh như Kinh Ðịa Tạng, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang, Kinh Pháp Hoa.

Các kinh sách mà chúng ta hiện đang nghiên cứu đều là kinh điển Ðại Thừa. Ðiều này cho thấy rằng quý vị đều là những người có thiện căn, bởi nếu không có thiện căn thì muốn nghe đến tên của các bộ kinh điển Ðại Thừa cũng không thể nào nghe được! Quý vị hãy thử tính xem trên thế giới này có bao nhiêu người không hiểu Phật Pháp, bao nhiêu người chưa từng được biết đến tên của các bộ kinh điển Ðại Thừa? Thậm chí có những người đã đến đây để nghe giảng kinh, song vừa bắt đầu giảng thì họ liền quày đầu bỏ chạy; vì sao? Là vì họ không có thiện căn!

Vừa rồi, trong lúc thọ trai, tôi có nói là những người đang tham dự khóa tu học này chớ cho rằng mình là người Mỹ chính cống! Thật ra, đa số trong quý vị là người Trung Hoa—những người này chạy sang nước Mỹ là do đời trước đã từng phát nguyện sẵn sàng giúp tôi hoằng dương Phật Pháp. Ðầu tiên là Quả Mỗ, quý vị nhìn xem, trông anh ta rất giống người Trung Hoa. Bởi chưa quên nhân duyên đời trước, cho nên bây giờ anh ta cảm thấy yêu thích Trung Văn một cách đặc biệt, còn muốn cưới vợ người Trung Hoa nữa. Quý vị chưa có Thiên Nhãn Thông cho nên không biết được mối quan hệ này; nếu có Thiên Nhãn Thông thì quý vị sẽ biết được ngay: "À, thì ra là như vậy!"

"Hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu kinh." Như Lục Tổ Ðại Sư chẳng hạn, Ngài nghe được một câu "ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm" và tức khắc được khai ngộ.

"Rồi phát tâm ân cần trân trọng." Thế nào gọi là "phát tâm ân cần trân trọng"? Ðó là thâm tâm thường nghĩ: "Chà! Bộ kinh này thật quá hay, thật đáng quý biết bao. Mình nhất định phải học và làm theo lời dạy trong bộ kinh này, hết lòng tôn trọng Phật Pháp và luôn hăng hái, không giải đãi."

"Cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường." Ví dụ như nói Phật Pháp quả thật là "trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được"—đó gọi là "cung kính ngợi khen."

Quý vị để ý xem, Quả Mỗ cũng biết là trước khi nghe kinh có tụng câu:

“Pháp vi diệu thâm sâu cao tột,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.”

(Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.
)


Quả Mỗ cũng có trí huệ đấy, tôi thấy anh ta "lời nói đi đôi với việc làm," lại xua đuổi được "khách trần" nữa—đây là một việc chẳng dễ dàng chút nào. Quả Mỗ lại cũng rất cung kính các kinh điển Ðại Thừa, anh ta rất chăm chỉ lễ bái Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—đây là một cảnh giới không thể nghĩ bàn.

Như có thiện nam tín nữ nào gặp được kinh điển Ðại Thừa, cho dù chỉ nghe được một bài kệ hay vỏn vẹn một câu trong kinh mà thôi, nếu có thể sanh lòng cung kính, trân trọng, tán thán hoặc thành tâm cúng dường kinh điển Ðại Thừa, thì trong tương lai "người ấy sẽ được đại quả báo vô lượng vô biên." "Ðại quả báo" này là gì? Ðó là trong tương lai sẽ được thành Phật, và quả báo này thì to lớn đến nỗi không có hạn lượng, không có sự cùng tận.

"Nếu có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì phước báo này sẽ không thể ví dụ thế nào cho được." Giả sử kẻ thiện nam hoặc thiện nữ nọ không có lòng vị kỷ, tự nguyện đem hết thảy công đức hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong Pháp Giới, thì phước báo kia càng lớn lao, càng không có gì có thể so sánh được!



Kinh văn:

"Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp thờ Phật và kinh điển Ðại Thừa—nếu còn mới thì bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng, lễ lạy, khen ngợi, chắp tay cung kính; nếu đã cũ kỹ hoặc hư hoại thì sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm, hoặc khuyên nhiều người khác cùng phát tâm. Như những người này, trong ba mươi đời thường được làm Tiểu Quốc Vương; còn vị Ðàn Việt thì thường làm Luân Vương, lại dùng thiện pháp mà giáo hóa các Tiểu Quốc Vương.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào ở trong Phật Pháp đã gieo trồng thiện căn—hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang kinh điển, cho đến chừng bằng một mảy lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước...; những thiện sự như thế mà đều có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì công đức của người này sẽ là trong trăm ngàn đời đều được hưởng sự vui sướng vi diệu, tối thượng.

Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong gia đình hoặc cho lợi ích của riêng mình, thì quả báo là sẽ được hưởng sự vui sướng trong ba đời, cứ thí xả một thì được báo đáp vạn lần trội hơn.

Cho nên, này Ðịa Tạng! Những nhân duyên của sự bố thí là như thế!"



Lược giảng:

"Lại nữa, này Ðịa Tạng!
Nay Ta nói cho ông biết thêm rằng trong đời vị lai, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp thờ Phật và kinh điển Ðại Thừa—nếu còn mới thì bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng, lễ lạy, khen ngợi, chắp tay cung kính ..." Phàm hễ gặp chùa chiền hoặc tháp miếu còn mới thì chúng ta nên bố thí cúng dường, thành tâm lễ bái, tán thán ngôi Tam Bảo—Phật, Pháp, Tăng—và chắp tay lại để tỏ lòng cung kính.

"Nếu đã cũ kỹ hoặc hư hoại, thì sửa sang tu bổ." Nếu gặp chùa hoặc tháp đã cũ kỹ hư mục, hoặc hoang phế đổ nát, thì chúng ta nên phát tâm trùng tu lại cho khang trang.

Vậy, người thiện nam hay thiện nữ đó "hoặc riêng mình phát tâm—nếu đủ tiền đủ sức, thì một mình mình phát tâm—hoặc khuyên nhiều người khác cùng phát tâm. Như những người này—những kẻ đồng phát tâm ủng hộ việc trùng tu—trong ba mươi đời thường được làm Tiểu Quốc Vương, vua của các nước nhỏ."

Chẳng hạn có một người nọ muốn được làm Tiểu Hoàng Ðế, song đáng tiếc là ông ta chưa hề cúng dường cho các chùa hoặc tháp thờ chư Phật thuở trước! Nếu khi xưa ông ta có cúng dường cho chùa tháp thờ chư Phật thuở trước, thì bây giờ có thể được làm vua rồi!

Lại nữa, "còn vị Ðàn Việt thì thường làm Luân Vương, lại dùng thiện pháp mà giáo hóa các Tiểu Quốc Vương." "Ðàn" có nghĩa là bố thí; "việt" có nghĩa là vượt qua sanh tử. "Vị Ðàn Việt" tức là thí chủ, người đứng ra đề xướng việc phát tâm cúng dường. Vị Ðàn Việt này thường được làm Chuyển Luân Vương, và có thể dùng các thiện pháp như Ngũ Giới, Thập Thiện... để giáo hóa các vị vua nước nhỏ.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: "Lại nữa, này Ðịa Tạng! Ta lại nói thêm cho ông rõ, trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào ở trong Phật Pháp đã gieo trồng thiện căn—hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp thờ Phật, hoặc sửa sang kinh điển—có quyển kinh sách nào bị rách hoặc sút bìa thì chỉnh đốn, sắp xếp, đóng tập lại đàng hoàng—cho đến chừng bằng một mảy lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước.

"Những thiện sự như thế, những việc thiện tuy nhìn thì nhỏ nhoi dường ấy, mà có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì công đức của người này sẽ là trong trăm ngàn đời đều được thọ hưởng sự vui sướng vi diệu, tối thượng, không thể nghĩ bàn.

"Còn như chỉ đem hồi hướng cho thân quyến trong gia đình hoặc cho lợi ích của riêng mình, thì quả báo là sẽ được hưởng sự vui sướng trong ba đời, cứ thí xả một thì được báo đáp vạn lần trội hơn." Cứ bố thí một thì sẽ được hưởng quả báo đền bù nhiều gấp vạn lần—đó chính là "xả nhất đắc vạn báo" vậy.

"Cho nên, này Ðịa Tạng! Những nhân duyên của sự bố thí là như thế! Ông phải biết rằng nhân quả, công đức phước báo đạt được của sự bố thí là như đã giảng nói ở trên."


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Thứ Hai, 13 Jun 2016, 9:48 AM | Message # 54
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 30 Jul 2016, 7:49 PM | Message # 55
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Phẩm Thứ Mười Một

ĐỊA THẦN HỘ PHÁP


Vị địa thần (thần đất) được đề cập đến trong phẩm này có tên là Kiên Lao Ðịa Thần. "Kiên lao" có nghĩa là vừa kiên cố, vừa bền vững. Cái gì kiên cố? Ðất kiên cố. Cái gì bền vững? Cũng là đất—đất rất vững chắc. Chúng ta hiện nay ở trên mặt đất ví như những con kiến trên chiếc thuyền lớn—cả đàn kiến mấy ngàn vạn con cũng chẳng thể làm cho thuyền bị chòng chành, chao đảo được, bởi vì chúng không đủ sức để làm chuyện đó. Ðịa cầu nằm chơi vơi giữa không gian, nhưng nhờ có tầng đại khí quyển cùng không khí giữ hút, cho nên không bị rớt bể, mà như chiếc thuyền lớn trôi nổi giữa biển khơi vậy.

Có rất nhiều vị thần đất. Khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết Kinh A Hàm, Thần Ðất Kiên Lao hiện thân đến nghe Pháp, nhưng vị thần đất này rất kiêu căng ngạo mạn. Kiêu căng ngạo mạn như thế nào? Thần đất nói: "Khắp cả vũ trụ này chỉ có một mình thần đất ta đây mà thôi; ngoài ta ra, chẳng có vị thần nào khác nữa!"

Thế nhưng, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo: "Chẳng phải chỉ có một mình thần đất ông thôi đâu, mà còn có thần nước, thần lửa, thần gió nữa!"

Vị thần đất nghe vậy liền sanh lòng "đại ngã mạn," vô cùng kiêu ngạo nói rằng: "Làm sao có thể có thần nào khác nữa được? Tất cả mọi sự trên thế gian này đều là do thần đất tôi đây gánh vác cả, bọn họ đều không phải là thần linh!"

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phải giảng giải cặn kẽ—thần nước thì ra sao, thần lửa thì như thế nào, thần gió ra làm sao—rồi lại dùng nhiều phương pháp nữa mới thuyết phục được thần đất. Về sau, vị thần đất này quy y Tam Bảo, từ bỏ thói kiêu căng ngã mạn.

Trong hư không, có các vị thần tứ đại là thần đất, thần nước, thần lửa và thần gió. Con người là do "tứ đại giả hợp" mà thành—tức là do bốn vị thần này phân chia, san sẻ cho mỗi người một chút nước, một chút lửa, một chút gió, một chút đất, rồi gộp lại mà hình thành một thân thể.

Ở đây, "đất" bao hàm hai ý nghĩa. Ý thứ nhất của chữ "đất," thì về mặt sự, đất có thể trưởng dưỡng vạn vật, muôn loài đều nương nhờ nơi đất mà sinh tồn; còn xét theo mặt lý, thì đất cũng có tứ đức—thường, lạc, tịnh, ngã.

1) Thường. Thế nào gọi là "thường"? " đất vĩnh viễn chẳng biến thiên” (Ðịa dĩ chế độ vi môn)—, mãi mãi không dời đổi, do đó gọi là "thường." Vậy, thần đất có đức "thường."

2) Lạc. " Đất có thể gánh vác vạn vật” (Ðịa năng phụ hà vạn vật)—, muôn loài đều nhờ vào sức mạnh của đất mà được tồn tại; cho nên đây là đức "lạc," đất vô cùng vui sướng.

3) Tịnh. "Ðất sanh trưởng vạn vật” (Địa năng sanh trưởng vạn vật)—muôn vật đều do đất sanh ra và lúc sanh ra thì tất cả đều thanh tịnh, không ô nhiễm; đây là đức "tịnh."

4) Ngã. "Cái Nghĩa của đất thì vô cùng tự tại” (Ðịa nghĩa phi thường tự tại) —, sự tự tại này thuộc về đức "ngã."

Vậy, thường, lạc, tịnh, ngã là bốn đức tánh của thần đất.

Ý nghĩa thứ hai của chữ "đất" là nói về phương diện "pháp." Lúc Ðức Phật thuyết Kinh Ðịa Tạng phẩm thứ mười một này, thì thần đất phát nguyện sẽ ủng hộ tất cả những người trì niệm danh hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát cũng như những người trì tụng Kinh Ðịa Tạng và hết thảy chúng sanh có thiện căn; cho nên đây gọi là "Phẩm Ðịa Thần Hộ Pháp," phẩm thứ mười một.

Hôm nay là một ngày đặc biệt, cũng là ngày mãn khóa của khóa tu học mùa hè này (1969). Thời giờ trôi nhanh vô cùng. Sáu tuần lễ qua mau như chớp mắt, muốn níu kéo sáu tuần lễ này hoặc lặp lại sáu tuần lễ như vậy một lần nữa, là chuyện hoàn toàn không thể được. Phải đợi đến sang năm, quý vị mới lại có dịp nghỉ hè. Tuy rằng thời điểm có giống nhau, song số năm phân chia (niên phần) thì lại bất đồng. Cứ một năm trôi qua, có thể nói rằng sanh mạng của mỗi người dài thêm được một tuổi, song đồng thời, thời gian còn cách sự chết thì lại ngắn bớt đi một năm.

Hồi tưởng như vậy phải chăng là chẳng có ý nghĩa gì cả? Thế nhưng, năm nay, trong quãng thời gian vừa qua quý vị đã sống vô cùng có ý nghĩa, vô cùng có giá trị. Tại sao vậy? Bởi quý vị đã gieo được "hạt giống" Phật Pháp vào đầu óc và ươm mầm trong "thửa ruộng" Bát Thức của chính mình—hạt giống Bồ Ðề này một khi đã gieo trồng rồi thì sẽ đâm chồi nẩy lộc, sinh sôi nảy nở, và trong tương lai sẽ đơm hoa kết trái, kết thành quả Bồ Ðề, và quý vị sẽ được thành Phật.

Nay tôi muốn nói với quý vị về một vấn đề rất kỳ lạ—trong nhiều gia đình, mặc dù con cái có khuynh hướng học đòi, bắt chước những điều không tốt, nhưng các bậc làm cha mẹ lại chẳng hề lo âu ngăn cản; họ cho rằng: "Không sao! Ðể chúng được tự do, tùy ý chúng!"

Thoạt nhìn thì thấy các bậc cha mẹ ấy chẳng có gì gọi là khắt khe cả, đối đãi với con cái dường như rất cảm thông, dễ dãi. Ðợi đến khi con cái họ muốn học điều tốt, vừa muốn học Phật Pháp, thì họ lại đùng đùng nổi giận, la mắng con cái rằng thế này là không đúng, thế kia là không phải... Trước kia, lúc con cái họ dùng ma-túy, uống rượu (rượu mê hồn), hút cần sa, con người lúc nào cũng lừ đừ dã dượi, yếu ớt bạc nhược, thì họ đều có thể "nhìn mà không thấy," cứ nghĩ rằng để từ từ chờ cơ hội, từ từ rồi con cái mình sẽ biết theo điều tốt. Song le, đến khi con cái của họ biết tu tỉnh, biết theo điều hay lẽ phải rồi, thì họ lại nổi nóng, trách mắng: "Các cô các cậu muốn học làm điều tốt chứ gì? Vậy thì phải biết ăn ở hiếu thảo với cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ. Bây giờ tao phải mắng chúng mày, đánh chúng mày một trận nên thân mới được!"

Quý vị nói xem, phen này có phải là sẽ có chuyện phiền phức xảy ra không? Ðó chẳng qua là để thử thách quý vị—những kẻ làm con—khảo nghiệm quý vị, xem rốt ráo quý vị có phải là chân thật muốn học điều tốt hay không mà thôi! Nếu quý vị chân thật muốn học làm người tốt thì càng bị mắng quý vị càng phải vui mừng, càng bị đòn quý vị càng phải hoan hỷ, và nhớ đừng khóc lóc than van. Các bậc cha mẹ ấy thấy quý vị tươi cười hoan hỷ, thì bao nhiêu hờn giận phiền muộn trong lòng đều tiêu tan cả; còn nếu quý vị không làm được như vậy, thì phiền não của quý vị sẽ càng gia tăng mà thôi.

Quý vị cần phải thấy được rằng hết thảy mọi việc đều là thử thách, đều là để khảo nghiệm bản thân mình, xem mình rốt cuộc có áp dụng được những kiến thức Phật Pháp đã học hay không—có thực hành hạnh nhẫn nhục, có trì giới, có bố thí, có tinh tấn, có thiền định, có trí huệ Bát Nhã hay không. Tất cả đều là thử thách—nếu đạt yêu cầu, vượt qua được thử thách, thì sẽ được lợi ích vô cùng; nếu không vượt qua được, thì lại phải cần cù học thêm nữa.

Cho nên, sáu tuần lễ này chính là sáu tuần lễ vàng ngọc, vô cùng quý giá. Quý vị bắt được vàng ròng thì phải biết cất giữ kỹ lưỡng, chớ nên đánh mất lần nữa! Trong tương lai, khi ra hoằng Pháp, quý vị đều phải không giống với người khác; không giống như thế nào ư? Không phải là tôi muốn quý vị kiêu căng ngạo mạn, tự cho mình là Phật, bảo người khác phải dập đầu quỳ lạy mình đâu! Quý vị chớ nên làm bộ làm tịch như thế; mà hãy luôn luôn từ bi nhẫn nhục, đối với bất cứ người nào cũng một mực giữ lòng từ bi, nhẫn nhục. Người ta đối xử với quý vị không tốt, quý vị càng phải đối xử với họ tốt hơn nữa. Phải có cái nhìn "phản diện," nhìn mặt trái của vấn đề để tìm ưu điểm. Ai không tử tế với quý vị, thì quý vị càng phải tử tế với người ấy hơn một chút. Chẳng cần biết người ta đối xử với quý vị tốt hay không tốt, quý vị chỉ việc kiểm soát, kiềm thúc chính mình—chính mình nhất định phải làm đúng như thế, người khác có như thế hay không thì mình chẳng cần biết tới. Phải nhớ rằng:

"Ma Ha Tát, chẳng biết người khác,

Di Ðà Phật, thân ai nấy lo!"

(Ma Ha Tát bất quản tha,

Di Ðà Phật các cố các!
)


Vậy, quý vị hãy tự kiểm soát chính mình, OK?

Như vậy, khóa tu học mùa hè này kéo dài trong sáu tuần lễ, và đến hôm nay nữa là hoàn tất. Tuy nhiên, việc giảng kinh vẫn chưa xong—lúc nào sẽ giảng xong thì tôi cũng không biết được! Hễ lúc nào không còn hơi thở, thì lúc đó sẽ không còn giảng nữa. Cho nên nói:

"Những ngày còn hơi thở

là những năm còn hoằng Pháp."

(Hữu khí chi nhật

tức thị hoằng Pháp chi niên.
)


Hiện tại, công việc hoằng Pháp vẫn là giảng kinh vào mỗi buổi tối, tức là trở lại với nếp sinh hoạt như trước. Nếp sinh hoạt cũ là như thế nào? Ðó là mỗi Thứ Bảy thì mười hai giờ rưỡi trưa đến Hội Cư Sĩ Lâm giảng Kinh Ðịa Tạng. Chủ Nhật thì buổi trưa từ mười hai giờ rưỡi đến hai giờ rưỡi là giảng Kinh Ðại Bi Tâm Ðà La Ni; còn buổi tối thì giảng Kinh Ðịa Tạng. Tối nay cũng giảng Kinh Ðịa Tạng.

Trước kia thì mỗi tối Thứ Hai, Thứ Ba và Thứ Tư là giảng Kinh Pháp Hoa, song bây giờ thì đều giảng Kinh Ðịa Tạng cả. Tính luôn cả phẩm thứ mười một này, thì Kinh Ðịa Tạng vẫn còn ba phẩm chưa giảng xong. Tôi hy vọng sẽ hoàn tất việc giảng Kinh Ðịa Tạng trước khi năm người Sa Di và Sa Di Ni lên đường sang Ðài Loan cầu Giới. Nếu vẫn giảng Kinh Pháp Hoa thì e rằng không kịp; cho nên bây giờ tôi chuyên chú giảng Kinh Ðịa Tạng cho xong trước, rồi sau đó mới giảng tiếp Kinh Pháp Hoa. Còn Kinh Hoa Nghiêm thì vẫn chưa đến lúc, cần phải chờ xem.

Lúc trước, mỗi tối Thứ Năm là do các đệ tử luân phiên phụ trách giảng thuyết. Nói tóm lại, các tối Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bảy thì quý vị chia nhau đảm nhiệm một số công việc; như thế, một mặt là quý vị có cơ hội thực tập giảng giải kinh điển, mặt khác là để chia xẻ gánh vác bớt công việc giùm tôi. Ðừng bắt tôi cán đáng nhiều việc như thế, đừng làm cho tôi mệt nhọc quá sức, để tóc tôi lại bạc trắng cả. Tóc tôi vừa đen lại chưa được bao lâu, tôi không muốn thấy tóc mình bạc trắng trở lại nữa! Vậy, chúng ta vẫn giảng kinh mỗi buổi tối như thường lệ.



Kinh văn:

Lúc đó Kiên Lao Ðịa Thần bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát, đều là những bậc đại thần thông trí huệ không thể nghĩ bàn, quảng độ chúng sanh. Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây so với chư Bồ Tát, thì thệ nguyện thâm trọng.

Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đây có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Ðề. Như các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc cũng hóa hiện trăm ngàn thân hình để độ Lục Ðạo, nhưng nguyện của các ngài còn có lúc hoàn mãn; còn Bồ Tát Ðịa Tạng đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong Lục Ðạo, trải đến kiếp số như số cát của trăm ngàn ức sông Hằng."



Lược giảng:

Lúc đó Kiên Lao Ðịa Thần
, tức là vị Hộ Pháp Kiên Lao Ðịa Thần đã từng phát nguyện hộ trì Chánh Pháp, bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Từ trước đến nay, trải qua vô lượng kiếp về trước cho đến hiện nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát." "Chiêm ngưỡng" có nghĩa là chăm chú ngắm nhìn, không rời mắt. "Ðảnh lễ" tức là cúi rạp đầu sát đất mà lạy.

Hộ Pháp Kiên Lao Ðịa Thần đã từng được gặp rất nhiều Bồ Tát, đã từng cúi đầu lễ lạy rất nhiều Bồ Tát, mà các vị Bồ Tát đó đều là những bậc Ðại Bồ Tát, và "đều là những bậc đại thần thông trí huệ không thể nghĩ bàn." Những bậc Ðại Bồ Tát này đều có trí huệ rộng lớn, vĩ đại. Phải có đại trí huệ thì mới có thể hành trì Pháp Ðại Thừa; vậy Pháp Ðại Thừa là gì? Ðó là thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn! Thần thông và trí huệ của chư Ðại Bồ Tát này đều là vô lượng vô biên, cao thâm khó lường!

"Quảng độ chúng sanh." Các bậc Ðại Bồ Tát thảy đều rộng độ tất cả chúng sanh.

"Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây so với chư Bồ Tát thì thệ nguyện thâm trọng." Những vị Ðại Bồ Tát này tuy là rộng độ khắp mọi loài chúng sanh, song trong các bậc Ðại Bồ Tát thì thệ nguyện của Bồ Tát Ðịa Tạng vốn thâm sâu, rộng lớn hơn cả. Ngài đã lập nguyện rằng:

"Ðịa ngục chưa trống không, tôi thề chưa thành Phật,

Chúng sanh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ Ðề."

Sức nguyện lớn lao này đặc biệt sâu rộng, không có sự cùng tận.

Hộ Pháp Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch tiếp: "Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đây có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Ðề. Như các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc cũng hóa hiện trăm ngàn thân hình để độ Lục Ðạo—trời, người, a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—nhưng nguyện của các ngài còn có lúc hoàn mãn."

Ðịa Tạng Vương Bồ Tát có nhân duyên lớn với tất cả chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề. Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Quán Âm, và Bồ Tát Di Lặc cũng hóa hiện ra cả trăm ngàn thân hình, và các ngài cũng phát nguyện độ thoát hết thảy chúng sanh trong sáu đường được thành Phật Ðạo. Thế nhưng, nguyện lực của các vị Bồ Tát đó tuy quảng đại song cũng còn có ngày hoàn mãn rốt ráo, các ngài cũng có lúc được mãn nguyện.

"Còn Bồ Tát Ðịa Tạng đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong Lục Ðạo, trải đến kiếp số như số cát của trăm ngàn ức sông Hằng." Trong khi đó, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát phát tâm giáo hóa hết thảy chúng sanh trong sáu đường, mà những thệ nguyện Ngài đã lập và kiếp số đã trải qua thì nhiều như số cát trong cả trăm ngàn ức sông Hằng vậy.



Kinh văn:

"Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị lai, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình trú ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc cái thất; ở trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ, ngợi khen, thì ngay chỗ những người đó ở sẽ được mười điều lợi ích. Những gì là mười?

Một là đất đai mầu mỡ;

Hai là nhà cửa yên ổn mãi mãi;

Ba là người đã mất được sanh thiên;

Bốn là người hiện còn được tăng tuổi thọ;

Năm là mọi mong cầu đều được toại ý;

Sáu là không có tai họa về nước và lửa;

Bảy là trừ sạch việc hư hao;

Tám là dứt hẳn ác mộng;

Chín là ra vào đều có thần theo hộ vệ;

Mười là thường gặp nhân Thánh."



Lược giảng:


Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị lai, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình trú ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc cái thất—để thờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, ở trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát ..."

Trong đời này và đời sau, có những chúng sanh cất cái khám thờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, bằng đất, bằng đá, bằng gỗ, hay bằng tre... ngay trên một khoảnh đất sạch sẽ, thanh tịnh về phía Nam của nơi mình cư ngụ. Rồi họ ở trong cái khám đó mà tô vẽ hình của Bồ Tát Ðịa Tạng, hoặc là dùng vàng, dùng đồng, dùng bạc, thậm chí có thể dùng cả thứ vật liệu rất rẻ tiền như sắt, để đúc thành tượng Bồ Tát Ðịa Tạng; và họ lại ở trước hình tượng của Bồ Tát mà chí thành "đốt hương cúng dường, chiêm lễ—nhìn ngắm, luyến mộ, ngợi khen, thì ngay chỗ những người đó ở sẽ được mười điều lợi ích."

Tôi lấy một ví dụ—chẳng hạn khi một người nam thích một người nữ thì cậu ta cứ hết nhìn lại ngắm, hết ngắm lại nhìn cô ta; hoặc như lúc một người nữ thích một người nam cũng vậy, cô ta cứ hết ngó lại nhìn, hết nhìn lại ngó cậu ta. Song le, cái "nhìn" đó có tính cách không thanh tịnh—một cái "nhìn" chứa chan dục niệm. Quý vị cần phải chuyển dục niệm thành trí huệ, phải dùng cái niệm thanh tịnh của trí huệ để chiêm ngưỡng và đảnh lễ Bồ Tát Ðịa Tạng. Chúng ta phải nhìn ngài Ðịa Tạng với sức thanh tịnh tự nhiên như thế, chứ chẳng phải như cách nhìn đắm đuối của một đôi nam nữ yêu nhau; cho nên ở đây nói là "chiêm lễ khen ngợi."

Quý vị có thể chiêm ngưỡng, đảnh lễ, và ca ngợi như vầy: "Nguyện lực của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thật vô cùng to lớn! Mọi người chúng ta đều nên tin tưởng vào Bồ Tát Ðịa Tạng! Chúng ta hãy cùng nhau tụng Kinh Ðịa Tạng, đảnh lễ Bồ Tát Ðịa Tạng."

Cho nên, nay tôi tặng quý vị hình tượng Bồ Tát Ðịa Tạng, quý vị mang về nhà có thể suốt ngày nhìn ngắm, chiêm ngưỡng hoài mãi cho đến lúc quý vị thành Phật, giống như Bồ Tát Ðịa Tạng vậy!

Thế thì, ở ngay nơi những người này cư ngụ sẽ được mười điều lợi ích; "những gì là mười? Một là đất đai mầu mỡ." Ðất cát nơi những người ấy sinh sống đều rất tốt, rất phì nhiêu; trồng bất cứ loại cây gì cũng đều tươi tốt, lớn mạnh. Như ở tiểu bang Alaska chẳng hạn, đất đai phì nhiêu, ruộng vườn trù phú, người ta trồng được giống bí đỏ trái rất lớn.

"Hai là nhà cửa yên ổn mãi mãi." Ngoài việc đất đai được trù phú ra, nơi cư ngụ còn cần phải được yên vui; bởi nơi ăn chốn ở mà không được an ổn vui vẻ, thì đất đai có mầu mỡ cũng chẳng trồng trọt gì được! Cho nên nhà cửa được xây cất trên những sở đất như thế này thì không phải lo nạn động đất! Nhà cửa luôn an ổn tức là nơi ăn chốn ở mãi mãi được bình yên.

"Ba là người đã mất được sanh thiên." Ðiều lợi ích thứ ba là cha mẹ đã qua đời hoặc là cha mẹ trong bảy đời của những người ấy đều được sanh lên cõi trời. Vì sao họ được sanh lên cõi trời? Chính là nhờ con cái của họ chiêm ngưỡng Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, đảnh lễ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, tín ngưỡng Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.

"Bốn là người hiện còn được tăng tuổi thọ." Ðây là điều lợi ích thứ tư.

Có người hoài nghi rằng: "Về việc người đã chết được sanh lên cõi trời, tôi vẫn còn có chỗ hoài nghi, không thấy là chắc chắn lắm. Có sanh thiên hay không—điều này vẫn còn rất đáng ngờ. Ðây chẳng qua là Thầy giảng như vậy mà thôi, chứ còn chuyện sanh thiên hoặc không sanh thiên thì tôi cũng chưa hề thấy!"

Quý vị muốn thấy ư? Thế thì hãy dụng công tu tập, khi nào đắc Thiên Nhãn Thông thì quý vị sẽ nhìn thấy được ngay! Những việc mà quý vị không thấy được thì hãy khoan nói tới; bây giờ tôi sẽ nói tới điều mà quý vị có thể nhìn thấy được. Lấy thí dụ, cha mẹ của quý vị rõ ràng là mạng số chỉ tới năm mươi tuổi mà bây giờ sống được tám mươi tuổi, hoặc rõ ràng mạng số là tám mươi tuổi mà nay sống tới một trăm tuổi—như vậy là thọ mạng được gia tăng!

Ðể tôi kể cho quý vị nghe một sự việc có thật. Ðó là chuyện của thân sinh ông cư sĩ họ Ðàm. Năm ông cụ được bảy mươi chín tuổi thì bói toán nói rằng nội trong năm đó cụ nhất định sẽ tạ thế. Thế là ông cụ sợ hãi, bèn chạy đến xin quy y với tôi. Lúc quy y, cụ còn ra điều kiện với tôi—vì sao cụ chịu quy y ư? Ông cụ muốn tôi bảo đảm là cụ sẽ được sống thêm mười năm nữa!

Tôi nói: "Ðược, mười năm! Chuyện nhỏ thôi!" Và, thế là tôi nhận lời. Sau khi tôi hứa nhận, ông ta sống tới bao nhiêu tuổi? Chín mươi mốt tuổi, tức là sống thêm được mười hai năm!

Lúc nhận lời cho ông cụ sống thêm mười hai năm, tôi có nói: "Ðược thôi! Chỉ cần ông nghe lời tôi, y giáo phụng hành, thì tôi có thể bảo đảm là ông sẽ sống thêm mười hai năm nữa!" Tôi tuyên bố như thế, cũng không biết là thật hay giả, nhưng quả nhiên ông cụ không chết vào năm bảy mươi chín tuổi, mà còn thọ thêm được mười hai năm nữa—ông cụ qua đời ở tuổi chín mươi mốt! Sau đó, vợ ông ta cùng hai người con gái đều tin theo đạo Phật.

"Năm là mọi mong cầu đều được toại ý." Quý vị nói rằng từ nãy đến giờ chỉ thấy nói đến những điều lợi ích cho tha nhân, chứ chưa thấy đề cập đến bản thân mình gì cả ư? Thế thì bây giờ điều này là lợi ích cho bản thân quý vị đây—quý vị muốn gì được nấy, mọi điều mong cầu đều được toại nguyện.

Hãy nói về một vấn đề thường tình nhất đối với người đời như chuyện hôn nhân chẳng hạn—một người con gái mơ gặp được một người chồng tốt, một người con trai mong cưới được một người vợ tốt—nhất định đều được toại nguyện. Ðó là nói về người tại gia. Còn đối với người xuất gia thì sao? Nếu người ấy cầu mong được trở thành một vị Sư giỏi hoặc một Ni Sư tốt, thì chắc chắn cũng sẽ được toại tâm mãn nguyện.

"Sáu là không có tai họa về nước và lửa." Ðiều lợi ích thứ sáu là không bị nước lụt cuốn trôi, cũng không bị hỏa hoạn thiêu đốt.

Vừa rồi tôi có đề cập đến bốn vị thần tứ đại trong hư không, song tôi chưa nói về hình dạng của họ; bây giờ nhân nhắc đến thần lửa, chúng ta hãy tìm hiểu đôi chút về vị thần này. Thần lửa có hình dáng như thế nào? Thần lửa trông giống như loài chim sẻ, toàn thân đều màu đỏ và chỉ có một chân.

Thần lửa tuy có tên, nhưng khi quý vị gọi đến tên ấy thì thần sẽ bỏ chạy mất dạng; không như chúng ta, hễ gọi tên ai thì người đó liền đến! Thần lửa tên là gì? Thần có tên là Phương Miễn—họ Phương, tên Miễn. Hễ nghe quý vị gọi "Phương Miễn" thì thần lửa sẽ bỏ đi nơi khác, không ở đây nữa; còn nếu quý vị không gọi đến tên của thần, thì thần cứ ở lại đây, bảo thế nào cũng không đi. Vị thần lửa này thật lạ đời như thế!

Lại nói về thần đất, thần đất có hình dáng như thế nào? Thần đất trông giống như một cậu bé có cặp mắt màu đỏ, tai dài thậm thượt chấm đất; quý vị đã từng trông thấy đứa bé nào giống như thế chưa? Ðó là thần đất đấy!

Thần đất cũng có tên, là gì ư? Thần đất tên là Võng Tượng. Rất khó mà gặp mặt vị thần đất này; nhưng khi gặp được thần, nếu quý vị có thể bắt giữ thần lại mà đem nấu chín rồi ăn thịt của thần, thì quý vị sẽ biến thành vị thần đất kế tiếp. Ðây là việc có thật chứ chẳng phải chuyện đùa đâu!

"Bảy là trừ sạch việc hư hao." Ðiều lợi ích thứ bảy là không có các thứ hư hao. "Hư hao" tức là "hư kinh quái dị," các thứ tai nạn, các sự việc kinh khủng mà quý vị không tưởng tượng ra được, không ngờ tới được. Ðiều lợi ích thứ bảy là những việc hư hao này đều tiêu trừ, không còn nữa.

"Tám là dứt hẳn ác mộng." Có nhiều người lúc ngủ thường mơ thấy những việc dữ—mộng thấy có người đánh mình, giết mình, hoặc có con cọp muốn ăn thịt mình, hoặc là quỷ "vô thường" muốn bắt mình đến gặp Diêm La Vương... Có người thì mộng thấy quỷ yểm mỵ—Cưu-bàn-trà—đè trên mình, ú ớ nói không ra tiếng, toàn thân cứng đơ, không nhúc nhích được. Song le, nếu quý vị cúng dường Bồ Tát Ðịa Tạng, trì niệm danh hiệu của Ngài, thì những việc như thế sẽ không còn xảy ra nữa.

"Dứt hẳn ác mộng" tức là cắt đứt hẳn, dứt tuyệt, hoàn toàn không còn chiêm bao thấy ác mộng nữa.

"Chín là ra vào đều có thần theo hộ vệ." Ví dụ quý vị đi trên đường phố, rõ ràng bị xe đụng hất văng ra xa cả mấy thước; thế mà, quý vị không hề hấn gì cả, đứng dậy đi tiếp như không có chuyện gì xảy ra! Lẽ thường hễ bị xe đụng văng ra xa như thế thì nhất định sẽ bị gãy xương đứt gân, thế mà quý vị lại không việc gì cả, vẫn có thể đứng dậy phủi phủi áo quần rồi đi tiếp như thường, không cần phải đến bệnh viện; đó là vì sao? Chính là nhờ có thần linh che chở, phù hộ. "Ra vào đều có thần theo hộ vệ" có nghĩa là khi quý vị ra đường hoặc lúc ở nhà, khi ra lúc vào đều có thần linh âm thầm đi theo bảo hộ.

"Mười là thường gặp nhân Thánh." "Nhân Thánh" là gì? Là cái mầm mống để trở thành bậc Thánh, cái nhân hạnh dẫn đến Thánh quả.

Như khóa tu học hè của chúng ta ở đây chẳng hạn—đây chính là "nhân Thánh" vậy. Cho nên, trong sáu tuần lễ này chúng ta chuyên chú giảng kinh thuyết pháp, chăm chỉ cần cù dụng công tu hành—có thể nói quý vị tìm khắp cả thế giới cũng không thể nào tìm ra được một khóa tu học hè cam go như thế này. Nếu quý vị nói rằng mình không muốn bản thân phải phấn đấu cực khổ vất vả đến thế, thì quý vị sẽ không thể nào gặp được "nhân Thánh"! Quý vị hiện nay tuy có vất vả, có chịu khổ chịu cực, song đây chính là cơ hội để gieo trồng "nhân Thánh." Và, đây là lợi ích thứ mười vậy.



Kinh văn:

"Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng sanh trong đời vị lai cùng hiện tại, nếu có thể ở nơi mình trú ngụ mà làm ra sự cúng dường như thế, thì sẽ được sự lợi ích như vậy."

Lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Trong đời vị lai, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, ở nơi mình cư ngụ mà có kinh điển này cùng hình tượng của Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của Bồ Tát, thì con thường ngày đêm dùng thần lực của mình hộ vệ người đó, cho đến tất cả ác sự, các nạn nước, lửa, trộm cướp, và các tai họa bất trắc lớn nhỏ thảy đều tiêu sạch."



Lược giảng:


Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng sanh trong đời vị lai cùng hiện tại, nếu có thể ở nơi mình trú ngụ mà làm ra sự cúng dường như thế— tức là chọn nơi sạch sẽ thanh tịnh trong nhà mình về hướng Nam mà trần thiết hình tượng Bồ Tát Ðịa Tạng rồi cúng dường—thì sẽ được sự lợi ích như vậy. Các chúng sanh ấy sẽ được mười điều lợi ích kể trên."

Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Trong đời vị lai, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, ở nơi mình cư ngụ mà có kinh điển này—Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện—cùng hình tượng của Bồ Tát—Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát—người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của Bồ Tát ..."

Nếu người đó không những có được bộ Kinh Ðịa Tạng và tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng, mà còn có thể đọc tụng bộ kinh này đồng thời đảnh lễ và cúng dường Bồ Tát Ðịa Tạng nữa, "thì con thường ngày đêm dùng thần lực—sức thần thông—của mình hộ vệ người đó, cho đến tất cả ác sự, các nạn nước, lửa, trộm cướp, và các tai họa bất trắc lớn nhỏ thảy đều tiêu sạch." Như thí dụ bị xe đụng tôi vừa nêu ra, có người bị xe đụng thì mất mạng, đó gọi là tai họa lớn (đại hoạnh); có người thì chỉ bị thương nhẹ, trầy sướt sơ sài, đó gọi là tai họa nhỏ (tiểu hoạnh).

Thời đại hiện nay không được tốt đẹp lắm, đến đâu cũng có những chuyện phiền phức xảy ra, không cướp giật thì cũng trộm cắp ngang nhiên giữa ban ngày ban mặt. Cho nên, quý vị cần phải cẩn thận, đề phòng bọn ăn cướp này. Người Trung Hoa có câu:

"Chậm giấu của cuốn lôi kẻ trộm

Chuốt dung nhan lôi cuốn dâm ô.

(Mạn tàng hối đạo,

Dã dung hối dâm.
)


(Chậm cất giấu tiền của thì cuốn hút người khác vào đường trộm cắp; trau chuốt lẳng lơ thì lôi cuốn người ta vào đường dâm ô.)

"Mạn tàng" có nghĩa là cất giấu không cẩn thận, thiếu kín đáo. Như quý vị có báu vật thì phải mau mau cất giấu cho kỹ lưỡng, kẻo chậm trễ, bọn cướp trông thấy sẽ sanh lòng tham và đến cướp đi mất. Tại sao quý vị bị cướp? Bởi vì quý vị cất giấu quá chậm, cho nên mới dẫn đường cho bọn cướp đến đánh cắp.

Ðó là nói về tài sản vật chất bên ngoài. Ðối với tài sản bên trong của chúng ta—tức là tự tánh của chính mình—chúng ta cũng cần phải cất giấu. Nếu chúng ta cất giấu chậm thì cũng bị bọn yêu ma quỷ quái đến cướp mất vậy. Chúng cướp mất cái gì của quý vị? Cướp đi "trân bảo vô thượng" của quý vị. Nói như thế thì chúng ta phải cất giấu món "trân bảo" tự tánh của mình như thế nào? Cách cất giấu này thì không giống như cách cất giấu những tài sản có hình có tướng—như đem chôn ở một nơi bí mật, hoặc cất giữ trong két bảo hiểm—không phải như thế!

Thế thì phải cất giấu "tài sản quý báu" tự tánh như thế nào? Phải chính mình không sanh vô minh! Quý vị phải biết rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đều thuộc loại "đại tặc," là những tên giặc rất lợi hại. Ðừng tưởng rằng con mắt giúp đỡ chúng ta—sở dĩ hiện nay quý vị chưa thể thành Phật cũng chính là vì bị con mắt này tác oai tác quái. Không những mắt là giặc, mà tai cũng là giặc, mũi cũng là giặc, lưỡi cũng là giặc, thân thể cũng là giặc, ý cũng là giặc. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chính là sáu tên giặc; chỉ có linh tánh của quý vị là "pháp bảo," là bảo bối vô cùng trân quý.

Nếu mắt mà phân tán đi một chút thì quý vị bị thiếu mất một chút, tai mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút, mũi mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút, lưỡi mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút, thân mà chia bớt đi một bộ phận thì lại thiếu mất một chút, ý mà chia bớt đi một phần thì quý vị lại thiếu mất một chút.

Ðối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nếu quý vị không thâu nhiếp chúng trở về được, tức là quý vị "thả lỏng" chúng đấy! Mỗi tên chạy rông mỗi nơi lo những chuyện không liên can. Mắt trông thấy vật gì đều muốn thấy cho tận tường thêm nữa, đó gọi là lo chuyện tào lao. Tai nghe thấy việc gì dù chẳng liên quan tới mình cũng tò mò muốn nghe lần nữa cho thỏa thích; như thế cũng gọi là bị cảnh giới lay chuyển, đều do "bọn giặc" gây ra! Thế nên, quý vị đừng để cho sáu tên giặc này thừa cơ cướp đoạt mất "bảo bối" tự tánh của mình! Nếu hằng ngày quý vị cứ tùy theo sáu căn này mà hành sự, thì chúng đích thị là những tên giặc chực cướp đi tự tánh của quý vị.

Bây giờ tôi giảng đạo lý này thì có thể quý vị chưa hoàn toàn am hiểu, hoặc chưa thể lãnh hội thấu đáo được. Song, nếu quý vị chịu khó dụng công, thì sau một thời gian quý vị sẽ vỡ lẽ: "À! Thì ra cái này thật là xấu xa, tệ hại!" Bấy giờ, biết được mắt tác hại như thế nào, tai chẳng vâng lời ra sao, thì quý vị sẽ thấy rằng hóa ra bọn chúng đều là "giặc" cả!

"Dã dung hối dâm" có nghĩa là chải chuốt hình dáng là khiến kẻ khác sanh lòng dâm. Ví dụ như người con gái bôi phấn thoa son, trang điểm thật lộng lẫy, đây chính là khêu gợi, khiến người khác trông thấy liền sanh lòng tà vạy. Thế nên người nữ tốt nhất là để dung mạo tự nhiên, không cần phải tô son điểm phấn. Nếu bôi son trét phấn vào môi vào má hồng hồng đỏ đỏ, cho rằng làm như vậy rất có ý nghĩa, song thật ra thì chẳng có ý nghĩa gì cả, mà chỉ là thể hiện sự điên đảo của chúng sanh—sự điên đảo của chúng sanh chính là ở điểm này vậy!

Sở dĩ nói sáu căn là bọn giặc chẳng qua là vì chúng ta không biết cách vận dụng chúng (nên chúng mới biến thành "giặc") mà thôi. Nếu quý vị biết vận dụng, thì không những chúng không biến thành "giặc" mà còn trở thành "hộ pháp" nữa là đằng khác! Do vậy, trong Kinh Lăng Nghiêm có chép rằng: Chúng sanh bị luân hồi khổ sở trong sáu nẻo là vì sáu căn này; nhưng nếu chúng sanh có thể "hồi quang phản chiếu," thanh tịnh tự tâm, thì thành Phật được cũng là nhờ ở sáu căn này chứ chẳng phải đâu xa lạ. Quý vị biết vận dụng chúng thì chúng chính là "hộ pháp"; còn không biết vận dụng chúng thì chúng chính là "giặc" vậy. Thí dụ, quý vị trông thấy đồ vật mà trong lòng sanh khởi chánh niệm thì đây chính là hộ pháp, còn nếu như sanh tà niệm thì đó là ma quỷ vậy. Lục Tổ Ðại Sư đã từng dạy:

"Lúc tà mê là ma choán chỗ,

Khi chánh niệm là Phật tại nhà."

(Tà niệm chi thời, ma tại xá,

Chánh niệm chi thời, Phật tại đường.
)


Do đó, nếu bất cứ lúc nào quý vị cũng có thể đề khởi chánh niệm, thì sáu căn sẽ biến thành hộ pháp của quý vị—chúng trợ giúp quý vị rất đắc lực. Khi mắt nhìn thấy hình sắc thì liền chạy theo sắc trần; tai vừa nghe lọt âm thanh thì liền chạy theo thanh trần; mũi vừa ngửi thấy mùi liền chạy theo hương trần; lưỡi vừa nếm biết vị liền chạy theo vị trần; thân cảm nhận có sự tiếp xúc, đụng chạm liền chạy theo xúc trần—thì bấy giờ sáu căn là những tên giặc ghê gớm, lợi hại. Vì sao nói là "chạy theo"? Chính là vì quý vị cảm thấy thích thú, ưa muốn; tự trong lòng nảy sanh sự ham thích, thì đó chính là "chạy theo" vậy. Bởi chưa có định lực cho nên ý nghĩ của quý vị sau khi tiếp xúc với pháp thì liền chạy theo pháp trần, đuổi theo ngoại cảnh. Lại cũng vì ý nghĩ còn tà vạy, không được chân chánh, nên mới bị cảnh giới lay chuyển; nếu ý nghĩ chân chánh thì sẽ xoay chuyển được cảnh giới.



Kinh văn:

Ðức Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần rằng: "Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng. Vì cớ sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù đều nhờ ông hộ trợ; cho đến cỏ, cây, cát, đá, lúa, mè, tre, lau, gạo thóc, của báu ... từ đất mà có, đều nhờ nơi sức của ông cả.

Ông lại luôn khen ngợi những sự lợi ích của Bồ Tát Ðịa Tạng, thì công đức và thần thông của ông sẽ trăm ngàn phần trội hơn của các địa thần bình thường.

Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Bồ Tát cùng đọc tụng kinh điển này, dù chỉ y theo một việc trong Kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện mà tu hành, thì ông nên dùng thần lực của mình mà ủng hộ, chớ để mọi tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai người đó, huống nữa là để cho phải chịu đựng.

Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, mà cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, và quyến thuộc của chư thiên ủng hộ người đó nữa!

Tại sao người đó lại được chư hiền thánh ủng hộ như thế? Ấy đều do chiêm lễ hình tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng cùng đọc tụng Kinh Bổn Nguyện này, nên tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ, chứng được Niết Bàn yên vui, vì thế mà được sự ủng hộ lớn lao."



Lược giảng:

Ðức Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần: "Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng
, hiếm có vị thần nào có được sức thần thông đặc biệt lớn lao như ông. Vì cớ sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù đều nhờ ông hộ trợ; cho đến cỏ, cây, cát, đá, lúa, mè, tre, lau, gạo thóc, của báu ... từ đất mà có, đều nhờ nơi sức của ông cả."

Toàn bộ đất đai trong cõi Nam Diêm Phù Ðề đều được Kiên Lao Ðịa Thần che chở, bảo hộ. Những ngọn cỏ nhỏ bé nhất, cây con non yếu mảnh mai nhất, hoặc một hạt cát, một viên sỏi, cùng những thứ thu hoạch được từ đất như lúa, mè, tre, lau, gạo thóc, và những bảo vật ...—tất cả những thứ quý báu này đều từ nơi đất mà có, thảy đều nương nhờ vào sức lực của thần đất mà sinh trưởng.

"Ông lại luôn khen ngợi những sự lợi ích của Bồ Tát Ðịa Tạng, thì công đức và thần thông của ông sẽ trăm ngàn phần trội hơn của các địa thần bình thường." Kiên Lao Ðịa Thần thường luôn trầm trồ tán thán những sự lợi ích mà Bồ Tát Ðịa Tạng mang lại cho tất cả chúng sanh; cho nên, công đức và sức thần thông trí huệ của Kiên Lao Ðịa Thần rộng lớn gấp trăm ngàn vạn lần so với các địa thần bình thường khác.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: "Bây giờ Ta muốn căn dặn ông, Kiên Lao Ðịa Thần, rằng: Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Bồ Tát—Ðịa Tạng Vương Bồ Tát—cùng đọc tụng kinh điển này, dù chỉ y theo một việc trong Kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện mà tu hành, thì ông nên dùng thần lực của mình mà ủng hộ, chớ để mọi tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai người đó, huống nữa là để cho phải chịu đựng."

"Chớ để mọi tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai" có nghĩa là đừng để cho những thiện nam cùng thiện nữ đó nghe thấy những việc tai hại cũng như những việc không như ý họ muốn. Chẳng những các thứ âm thanh không như ý đều không được vẳng tới tai họ, mà luôn cả những việc tổn hại cũng không được xảy đến cho thân họ nữa! Họ không phải lãnh chịu bất cứ một tai họa nào cả.

Ðối với những thiện nam tín nữ trì Ngũ Giới và hành Thập Thiện mà biết cúng dường Bồ Tát Ðịa Tạng, đọc tụng Kinh Ðịa Tạng, và lại có thể y chiếu theo một việc trong Kinh Ðịa Tạng đã dạy mà tu hành, thì Kiên Lao Ðịa Thần sẽ dùng sức mạnh thần thông vốn có của mình để ủng hộ những người đó, không để cho các sự tai hại và những việc không như ý thấu đến tai họ.

"Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, mà cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, và quyến thuộc của chư thiên ủng hộ người đó nữa! Ta lại bảo cho ông biết rằng chẳng phải chỉ mỗi một mình ông là Kiên Lao Ðịa Thần đơn độc bảo hộ những người như thế mà thôi đâu. Vì sao vậy? Vì còn có quyến thuộc của Thích Ðề Hoàn Nhân và Ðại Phạm Thiên Vương, cho đến thiên long bát bộ trên cõi trời và quyến thuộc của chư thiên ..., tất cả cũng đều đến để ủng hộ, bảo vệ những người đó."

Ðức Phật lại dạy: "Tại sao người đó lại được chư hiền thánh ủng hộ như thế? Vì sao những người đó lại được đông đảo chư vị thánh hiền, thiên long bát bộ, Ðại Phạm Thiên Vương, Thích Ðề Hoàn Nhân... từ cõi trời đến bảo hộ như vậy?"

"Ấy đều do chiêm lễ hình tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng cùng đọc tụng Kinh Bổn Nguyện này, nên tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ, chứng được Niết Bàn yên vui, vì thế mà được sự ủng hộ lớn lao." Chính là nhờ nhân duyên chiêm ngưỡng, đảnh lễ hình tượng của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, và nhân duyên đọc tụng Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, mà trong tương lai, những người đó chắc chắn sẽ tự nhiên được xa lìa mọi khổ não, chứng được sự an vui của Niết Bàn. Do duyên cớ này nên họ mới nhận được sự ủng hộ lớn lao như thế—được hết thảy các bậc thánh hiền đến ủng hộ, che chở!


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Chủ Nhật, 31 Jul 2016, 8:17 PM | Message # 56
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
loclv88 Date: Chủ Nhật, 31 Jul 2016, 9:00 PM | Message # 57
Lieutenant colonel
Group: Users
Messages: 137
Status: Tạm vắng
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát !
LongTracAn


Nam Mô A Di Đà Phật !
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 06 Aug 2016, 4:24 PM | Message # 58
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Phẩm Thứ Mười Hai

THẤY, NGHE ĐỀU ĐƯỢC LỢI ÍCH


“Thấy” là mắt trông thấy, “nghe” là tai nghe thấy. Trông thấy và nghe thấy đều được lợi ích. Trông thấy cái gì mà được lợi ích? Nghe thấy cái gì mà được lợi ích? Trông thấy hình tượng của Địa Tạng Vương Bồ Tát, trông thấy quyển Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, thì đều được lợi ích. Cho dù chúng ta không trông thấy mà chỉ nghe đến danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng và nghe đến Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện thì cũng đều được lợi ích. Vậy, đây là phẩm thứ mười hai, “Thấy, Nghe Đều Được Lợi Ích.”

Kinh văn:

Lúc đó, từ trên đảnh môn Đức Thế Tôn phóng ra cả trăm ngàn vạn ức tướng tia sáng lớn.

Lược giảng:

Lúc đó
—lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói chuyện với Kiên Lao Địa Thần và căn dặn Địa Thần hãy ủng hộ các chúng sanh trong đời vị lai xong—từ trên đảnh môn Đức Thế Tôn phóng ra cả trăm ngàn vạn ức tướng tia sáng lớn.

“Đảnh môn” (cửa đỉnh đầu) nằm ở đâu? Ở ngay trên đỉnh đầu. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có tướng “vô kiến đảnh” (tướng đỉnh đầu không thấy được) chính là ở “đảnh môn” này vậy.

Chúng ta mỗi người đều có “đảnh môn.” Nếu quý vị tinh tấn dụng công, chân chánh có công phu tu hành, thì khi chết, Phật tánh của quý vị sẽ từ “đảnh môn” ở trên đỉnh đầu mà đi ra, và sau đó quý vị có thể đến bất cứ nơi nào mình muốn. Tuy nhiên, quý vị cần phải chăm chỉ tu hành, nỗ lực dụng công cho thật tốt mới được; chứ dụng công hời hợt thì không thể nào có được cảnh giới đó.

Vậy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ trên đỉnh đầu của mình phóng ra hàng trăm ngàn vạn ức tia sáng lớn—trăm ngàn vạn ức tia sáng này đều hỗ tương soi chiếu, chẳng hề ngăn ngại nhau. Ánh sáng này không phải là từ một đạo hào quang mà là từ cả trăm ngàn vạn ức đạo hào quang tỏa ra; và ánh sáng này cũng không phải chỉ có một màu mà có tới hàng trăm ngàn vạn ức màu sắc khác nhau. Đức Phật phóng ra tướng hào quang rộng lớn, và hào quang này soi chiếu đến hết thảy chúng sanh trong chín Pháp Giới (tuy rằng Phật cũng là chúng sanh song không nằm trong chín Pháp Giới). Những đạo hào quang rộng lớn này không chỉ soi sáng một thế giới, mà còn chiếu dọi đến hàng trăm ngàn vạn ức thế giới và khắp các cõi nước của chư Phật trong mười phương. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng hào quang của mình soi sáng, chiếu dọi khắp tất cả các quốc độ của chư Phật.

Đức Phật thị hiện tướng hào quang rộng lớn này cũng là để cho chúng sanh chúng ta biết rằng Kinh Địa Tạng là đặc biệt quan trọng, mọi người đều phải dốc lòng dốc sức mà giảng giải, biên chép, ấn hành để phổ biến. Chúng ta cần phải giảng giải Kinh Địa Tạng, in chép Kinh Địa Tạng, phổ biến Kinh Địa Tạng. Chúng ta phải làm sao cho đồng loại, thân thích, bạn bè của chúng ta đều hiểu rõ Kinh Địa Tạng. Chúng ta không được xao lãng việc phổ biến kinh điển. Nếu quý vị có thể góp phần in kinh điển, truyền bá kinh điển rộng rãi, thì trí huệ của quý vị sẽ được khai mở và tăng trưởng.

Hôm nay tôi có nói chuyện với hai đệ tử của tôi và bảo họ rằng chúng ta sẽ cố gắng hoàn tất việc duyệt sửa và nhuận sắc bản thảo chú giải Kinh Địa Tạng và Lục Tổ Đàn Kinh, để khi sang Đài Loan thọ Giới họ có thể mang theo rồi đặt in cùng xuất bản ở bên đó. Ở phương Tây này thì kinh sách có chú giải bằng tiếng Anh quá hiếm hoi. Ví như mùa màng bị hạn hán đang khát khao mong đợi trận mưa rào tưới mát, chúng ta hãy mau mau ấn loát kinh sách và phát hành rộng rãi để cho mọi người đều được thông hiểu, thấm nhuần Phật Pháp. Đây là một phần của công cuộc hoằng dương Phật Pháp, và cũng là một công trình hết sức thiết yếu trong việc chuyển Đại Pháp Luân.

Vì sao tôi hy vọng có thể đem bộ Kinh Địa Tạng và Lục Tổ Đàn Kinh phiên dịch sang tiếng Anh rồi ấn hành tại Đài Loan? Bởi vì chi phí ấn loát ở Đài Loan rất rẻ! Chuyến đi lần này (1969) của quý vị là để thọ Giới, đồng thời cũng là làm việc công đức. Đây là cơ hội để hoằng dương Phật Pháp, cho nên, ai nấy đều tuyệt đối không được lơ đễnh!

Kinh văn:

Như là: Tia sáng tướng màu trắng, tia sáng tướng màu trắng lớn; tia sáng tướng tốt lành, tia sáng tướng tốt lành lớn; tia sáng tướng ngọc, tia sáng tướng ngọc lớn; tia sáng tướng màu tía, tia sáng tướng màu tía lớn; tia sáng tướng màu xanh, tia sáng tướng màu xanh lớn; tia sáng tướng màu xanh biếc, tia sáng tướng màu xanh biếc lớn; tia sáng tướng màu đỏ, tia sáng tướng màu đỏ lớn; tia sáng tướng màu lục, tia sáng tướng màu lục lớn; tia sáng tướng màu vàng y, tia sáng tướng màu vàng y lớn; tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn; tia sáng ngàn vòng tròn, tia sáng ngàn vòng tròn lớn; tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn; tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn; tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn; tia sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn; tia sáng mây biển, tia sáng mây biển lớn.

Từ trên đảnh môn phóng ra những tướng tia sáng như thế xong, lại nói ra tiếng vi diệu mà bảo đại chúng, Thiên Long Bát Bộ, nhân cùng phi nhân v.v... rằng: “Hãy lắng nghe hôm nay Ta, tại cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng về những sự lợi ích trong hàng trời, người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh, những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”

Lược giảng:


Vậy, lúc bấy giờ từ trên đỉnh đầu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ra những tia sáng như là: 1) tia sáng tướng màu trắng, tia sáng tướng màu trắng lớn.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phóng hào quang màu trắng soi sáng tất cả những nơi tối tăm; ngụ ý rằng Bồ Tát Địa Tạng và Kinh Địa Tạng có thể chiếu dọi, xua tan mọi hắc ám tăm tối của thế gian.

2) Tia sáng tướng tốt lành, tia sáng tướng tốt lành lớn.

3) Tia sáng tướng ngọc, tia sáng tướng ngọc lớn. Có loại hào quang trông giống như ngọc thạch vậy.

4) Tia sáng tướng màu tía, tia sáng tướng màu tía lớn.

5) Tia sáng tướng màu xanh, tia sáng tướng màu xanh lớn. Lại có những đạo hào quang màu xanh, và nhiều hào quang lớn cũng có màu xanh như thế nữa.

6) Tia sáng tướng màu xanh biếc, tia sáng tướng màu xanh biếc lớn.

7) Tia sáng tướng màu đỏ, tia sáng tướng màu đỏ lớn.

8) Tia sáng tướng màu lục, tia sáng tướng màu lục lớn.

9) Tia sáng tướng màu vàng y, tia sáng tướng màu vàng y lớn
. Lại có tia sáng có màu vàng như vàng ròng vậy.

10) Tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn.

11) Tia sáng ngàn vòng tròn, tia sáng ngàn vòng tròn lớn
. Bàn chân của Đức Phật có tướng “thiên bức luân” (chỉ dưới bàn chân có ngàn cái xoay tròn); và đạo hào quang này trông giống như cả ngàn cái vòng xoáy tròn ở trong vậy.

12) Tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn. Lại có hào quang hình tròn và sáng lấp lánh như châu báu tạo thành.

13) Tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn. Lại có những đạo hào quang rực rỡ như ánh sáng của cả trăm ngàn vầng mặt trời.

14) Tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn. Lại có đạo hào quang tỏa ra ánh sáng như của mặt trăng.

15) Tia sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn. Trong đạo hào quang này hiện ra nhiều cung điện làm bằng bảy thứ báu rất trang nghiêm.

16) Tia sáng mây biển, tia sáng mây biển lớn. Lại có những đạo hào quang trông giống như đám mây vọt lên từ mặt biển.

Hôm qua có người hỏi rằng: “Hào tướng là gì?” “Hào tướng” cũng chính là “quang tướng,” tức là tướng ánh sáng, là tia sáng tỏa ra từ trong thân của Đức Phật. Vậy, “hào” là hào quang; “hào tướng quang” là tướng của tia sáng—tia sáng biến hóa ở trong tia sáng.

Bấy giờ, sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ trên đảnh môn phóng ra những tướng tia sáng như thế xong, lại nói ra tiếng vi diệu. Đức Phật có Tứ Biện, Bát Âm. “Tứ Biện” là gì? Đó là Tứ Vô Ngại Biện, tức là bốn khả năng biện luận lưu loát, không hề gặp trở ngại; và gồm có: Biện luận Nghĩa không trở ngại Biện luận Pháp không trở ngại, Biện luận Từ không trở ngại, và Biện luận Vui Thuyết không trở ngại (Nghĩa vô ngại biện, Pháp vô ngại biện, Từ vô ngại biện, và Nhạo thuyết vô ngại biện).

1) Biện luận Nghĩa không trở ngại (Nghĩa Vô Ngại Biện – giải bày nghĩa lý một cách trôi chảy, không trở ngại). “Nghĩa” là nghĩa lý, ý tứ. Ví như xưa nay chưa có nghĩa lý, nhưng khi Đức Phật vừa thuyết pháp thì nghĩa lý, ý tứ tuôn trào vô cùng vô tận.

2) Biện luận Pháp không trở ngại (Pháp Vô Ngại Biện – giảng nói pháp lý một cách trôi chảy, không trở ngại). Xưa nay chỉ có một thứ giáo pháp, nhưng Đức Phật từ trong một giáo pháp làm nảy sanh ra vô lượng vô biên pháp, và từ vô lượng vô biên pháp lại quy nạp về thành một pháp. Cho nên nói:

Một gốc chia làm muôn thứ,

Muôn thứ vẫn về cùng một gốc.

(Nhất bổn tán vi vạn thù,

Vạn thù nhưng quy nhất bổn
.)


Từ một gốc mà biến thành muôn dạng, từ muôn dạng mà gom về thành một pháp; cho nên cũng nói là:

Một là vô lượng, vô lượng là một.

(Nhất vi vô lượng, vô lượng vi nhất.)


3) Biện luận Từ không trở ngại (Từ Vô Ngại Biện - giảng nói lưu loát, không trở ngại về ngôn từ). “Từ” tức là ngôn từ. Có nhiều người muốn nói về một vấn đề gì đó nhưng chỉ mới nói có mấy câu thì đã cạn lời hết ý, không đủ ngôn từ để diễn đạt. Đức Phật khi giảng đạo lý thì có thể nói thao thao bất tuyệt, miên man bất tận, như nước sông nước biển tuôn chảy không ngừng.

4) Biện luận Vui Thuyết không trở ngại (Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện - hoan hỷ thuyết pháp, không trở ngại). “Nhạo thuyết” là vui thích việc giảng kinh thuyết pháp, rất hoan hỷ nói pháp để giáo hóa chúng sanh, mỗi khi nói pháp là trong lòng thấy hân hoan, vui vẻ.

Đó là nói về Tứ Biện; còn Bát Âm (tám thứ tiếng) là gì? Trước đây tôi cũng đã nhiều lần giảng về Tứ Vô Ngại Biện, nhưng chưa hề nói tới Bát Âm. Mặc dù chưa giảng tới nhưng những người chịu khó dụng công có lẽ đều biết cả rồi. Đức Phật có tám thứ âm thanh dùng để thuyết pháp:

1) Tiếng tối hảo (tiếng tốt nhất). Loại âm thanh thứ nhất của Phật là như thế nào? Đó là loại âm thanh hay nhất, tốt nhất, tốt đến cực điểm, và cũng gọi là “cực hảo âm.” Giọng nói của Phật thì càng nghe càng thấy thích thú, càng muốn lắng nghe; chứ chẳng phải như nhiều người nói nghe rền rĩ như tiếng kéo cưa vậy. Giọng nói của Phật thì trong trẻo, thánh thót.

2) Tiếng nhu nhuyễn (tiếng êm dịu). Giọng nói của Phật âm vang êm tai như tiếng nước chảy dịu dàng, uyển chuyển.

3) Tiếng hòa thích (tiếng thích hợp). “Thích” là thích hợp, vừa đúng. Thứ âm thanh này rất ôn nhu, mềm mỏng, hài hòa; người nào đã được nghe rồi thì chẳng còn ao ước nghe tiếng gì khác nữa.

4) Tiếng tôn huệ (tiếng tôn kính, trí huệ). Âm thanh của Phật rất tôn quý. Đừng nói là nghe rõ từng lời từng chữ, chỉ cần nghe được âm vang tiếng nói của Phật thì chúng ta cũng có được vô lượng trí huệ rồi.

5) Tiếng bất âm (tiếng chẳng có âm tính). Có nhiều người giọng nói mang đầy âm tính, tức là giọng nói như phái nữ, thường là the thé hoặc uốn éo, nũng nịu. Giọng của Phật thì không phải là giọng âm.

6) Tiếng bất ngu (tiếng chẳng đùa giỡn). Cho dù là khi nói chuyện vui, giọng nói của Phật khiến người nghe cảm thấy vô cùng chánh đáng, đúng đắn, không đượm vẻ giỡn hớt đùa cợt.

7) Tiếng thâm viễn (tiếng vang sâu và xa). Âm vang tiếng nói của Đức Phật vọng đi rất xa, đến nỗi không thể biết rõ là sâu lắng bao nhiêu và truyền đi bao xa. Có một lần nọ, Tôn Giả Mục Kiền Liên dùng thần thông đi về hướng vô lượng ức cõi Phật ở phương Đông. Ngài cứ dõi theo tiếng nói của Đức Phật mà đi, đi, đi mãi, để xem thử đến bao xa thì không còn nghe thấy nữa. Song, Ngài vượt qua vô lượng cõi Phật mà tiếng nói của Đức Phật vẫn cứ sang sảng bên tai. Thần thông quảng đại như Tôn Giả Mục Kiền Liên mà cũng không thể tìm thấu nơi dứt bặt âm thanh của Đức Phật!

8) Tiếng bất kiệt. “Bất kiệt” tức là không bao giờ hết, chẳng hề cùng kiệt. Âm thanh tiếng nói của Đức Phật thì liên tiếp miên mật, không bao giờ bị gián đoạn hoặc ngưng bặt.

Vậy, Đức Phật dùng tám loại âm thanh này để thuyết pháp. Tám loại âm thanh này, có lúc thì một người có thể nghe được một loại, hoặc hai, ba, bốn, năm loại; song cũng có lúc một người chỉ nghe được một loại—người này nghe được tiếng thâm viễn, người kia nghe được tiếng nhu hòa ...—đó là bởi căn tánh của mỗi người vốn bất đồng nên cái nghe cũng khác nhau. Tám loại âm thanh này đều được gọi là “vi diệu âm.” Quý vị hãy học và ghi nhớ tám loại âm thanh này để về sau có thể thuyết giảng lại cho người khác.

Vậy, lúc bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ trên đảnh môn phóng ra những luồng hào quang rực rỡ chiếu sáng như thế xong, lại thốt ra thứ tiếng rất vi diệu mà bảo đại chúng, Thiên Long Bát Bộ, nhân cùng phi nhân v.v... hiện đang có mặt tại Đao Lợi thiên cung rằng: “Hãy lắng nghe hôm nay Ta, tại cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng về những sự lợi ích trong hàng trời, người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh, những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”

“Bát bộ” tức là tám bộ chúng quỷ thần—trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Ca-lâu-la.

“Siêu vượt” tức là vượt quá, vượt lên trên. “Nhân Thánh,” thì như lúc trước đã giảng, quý vị đến đây để nghe giảng kinh, ngồi Thiền, học Phật Pháp—như thế đều là trồng nhân Thánh. “Siêu vượt” tức là “sự bán công bội,” có nghĩa là bỏ công sức rất ít mà lại thành được việc lớn. Ví dụ, quý vị ngồi Thiền lẽ ra thì phải mất một năm mới được tỏ ngộ, song kết quả lại chỉ nội trong hai ngày là được khai ngộ rồi, hết sức mau chóng—đó gọi là “những việc siêu vượt nhân Thánh.”

“Chứng quả Thập Địa”—“chứng” là chứng đắc; “Thập Địa” là quả vị của hàng Bồ Tát. Thập Trụ, Thập Hạnh và Thập Hồi Hướng được gọi chung là “Tam Hiền Vị,” tức là quả vị của Tam Hiền. Quả vị của Bồ Tát Thập Địa gồm có:

1) Hoan Hỷ Địa. “Hoan hỷ” là vô cùng vui vẻ, lúc nào cũng vui tươi hớn hở, không bao giờ khóc lóc rầu rĩ. Những bậc Bồ Tát đạt đến cảnh giới này rồi thì không khóc nữa, dù có bị mắng chửi, đánh đập hoặc đối xử thế nào họ cũng đều hoan hỷ. Quý vị nói họ không tốt họ cũng hoan hỷ; mắng chửi họ, họ cũng hoan hỷ; ngược đãi họ như thế nào thì họ cũng đều hoan hỷ cả. Vậy, đây gọi là “sơ địa,” tức là địa thứ nhất.

2) Ly Cấu Địa. “Ly” là xa lìa, tách rời; “cấu” là nhiễm ô, dơ bẩn. Vậy, “ly cấu” tức là xa lìa pháp nhiễm ô, đạt được sự thanh tịnh.

3) Phát Quang Địa. Nhờ “hoan hỷ” nên được “ly cấu” (xa lìa mọi nhiễm ô); mà “ly cấu” rồi thì sẽ “phát quang,” tỏa ánh sáng. Có nhiễm ô thì không thể phát hào quang, phải xa lìa nhiễm ô thì mới có hào quang. Thế nào gọi là “nhiễm ô”? Đó chính là những tư tưởng, những tâm niệm không trong sạch; lòng còn tham hưởng thụ, muốn sự sung sướng cho bản thân—nói chung là dục vọng tràn trề. Nếu lòng đầy dục vọng, đặc biệt là sắc dục, thì đó gọi là có nhiễm ô và không thể nào đạt tới cảnh giới của “ly cấu địa”; hễ không “ly cấu” thì không thể phát hào quang được. Vậy, bậc Bồ Tát ở địa vị này nhờ đã “ly cấu” rồi cho nên được “phát quang.”

4) Diễm Huệ Địa. Đây là cảnh giới sanh xuất trí huệ, thứ trí huệ tương tự như ngọn lửa bùng cháy phừng phực, vô cùng lớn mạnh. Bậc Bồ Tát nhờ đã “phát quang” nên mới có được trí huệ như thế. Vậy, quả vị thứ tư là Diễm Huệ Địa.

5) Nan Thắng Địa. Không ai có thể hơn được những bậc Bồ Tát ở địa vị này về bất cứ điều gì. Nhờ trí huệ của họ hiện tiền, bất luận người nào biện luận với họ, mọi thứ thần thông biến hóa, thảy đều không thắng được họ.

6) Hiện Tiền Địa. Cái gì “hiện tiền”? Tất cả trí huệ quang minh đều hiện tiền.

7) Viễn Hành Địa. “Viễn hành” là đi xa, rất xa.

8) Bất Động Địa. Có câu: “Bất động đạo tràng nhi hóa thập phương chúng sanh” (đạo tràng không chuyển dịch mà hóa độ khắp chúng sanh trong mười phương). Bậc Bồ Tát tuy hóa độ mười phương chúng sanh, song các ngài vẫn “bất động”; tuy rằng “bất động” song bậc Bồ Tát vẫn có thể giáo hóa hết thảy chúng sanh.

9) Thiện Huệ Địa. “Thiện huệ” tức là trí huệ thiện lành.

10) Pháp Vân Địa. Giáo pháp này tương tự như áng mây.

Trên đây là y cứ theo từ ngữ mà giảng sơ lược về ý nghĩa của Thập Địa. Nếu quý vị muốn biết tường tận về “Tam Hiền Thập Thánh” (“Thập Địa” cũng gọi là “Thập Thánh”), thì nên nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm bởi trong đó có giảng về Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng và Thập Địa rất cặn kẽ.

Vậy, ở đây nói “những sự chứng quả Thập Địa” tức là việc Bồ Tát Địa Tạng chứng đắc quả vị Thập Địa.

“Những sự rốt ráo không thối chuyển” có nghĩa là dứt khoát không chịu chùn bước, rút lui. Có bao nhiêu loại “không thối chuyển” (bất thối)? Có ba loại; đó là:

1) Quả vị không thối chuyển (Vị bất thối). Không lùi sụt xuống quả vị của hàng Nhị Thừa.

2 Hạnh tu không thối chuyển (Hạnh bất thối). Không lùi sụt xuống hạnh của hàng phàm phu.

3) Tâm niệm không thối chuyển (Niệm bất thối). Tâm nguyện Bồ Tát không lùi sụt, luôn luôn hành trì giáo pháp Đại Thừa.

Ba điều không thối chuyển - Quả vị không thối chuyển, hạnh tu không thối chuyển, tâm niệm không thối chuyển về —là ba điều không thối chuyển nơi cái gì? Đó chính là những sự “không thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”

“A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề” là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Sự giác ngộ của hàng Nhị Thừa thì khác với hạng phàm phu; tuy nhiên, mặc dù hàng Nhị Thừa được giác ngộ rồi song họ vẫn chưa đạt được sự “chánh đẳng.” “Chánh đẳng” là thế nào? “Chánh đẳng” chính là Bồ Tát; Bồ Tát là “chánh đẳng” đối với Phật. Tuy rằng “chánh đẳng” đối với Phật và không đồng với hàng Nhị Thừa, nhưng bậc Bồ Tát vẫn chưa đạt đến địa vị “vô thượng”—duy chỉ có Phật mới được tôn xưng là “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”!

“Vô thượng” với Bồ Tát cũng không đồng; cho nên gọi “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” chính là quả vị của Phật. Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện tại tuy chưa thành Phật, song quả vị của Ngài cũng giống như Phật vậy; do đó mà ở đây Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói rằng muốn tuyên thuyết về nhân duyên Bồ Tát Địa Tạng đắc được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Kinh văn:

Nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây đầy đủ đức đại từ bi, thương xót chúng sanh mắc tội khổ. Bồ Tát ở trong ngàn vạn ức thế giới hóa hiện ra ngàn vạn ức thân, tất cả công đức cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn.

Con được nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng rằng dầu cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đều tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể nói hết được.

Vừa rồi lại được Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng muốn tuyên nói các sự lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng. Cúi mong Đức Thế Tôn, vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai, mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng, khiến cho Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ được phước.”

Lược giảng:


Lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát hiệu là Quán Thế Âm...

Đây không phải là một vị Bồ Tát tầm thường mà là một vị Đại Bồ Tát và tên của Ngài là Quán Thế Âm—Đại Bồ Tát Quán Thế Âm. “Quán” là “trí năng quán,” cái trí huệ có khả năng quán xét; “thế âm” là “cảnh sở quán,” tức là cảnh giới được quán xét. Quán Thế Âm Bồ Tát dùng trí huệ từ bi của Ngài để dõi tìm những tiếng kêu gào của hết thảy chúng sanh đang chịu thống khổ trong khắp mười phương thế giới—Ngài luôn bận rộn “tầm thanh cứu khổ.”

Vậy, lúc bấy giờ, Đại Bồ Tát Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối—gối phải chạm đất—chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây đầy đủ đức đại từ bi, thương xót chúng sanh mắc tội khổ. Bồ Tát ở trong ngàn vạn ức thế giới hóa hiện ra ngàn vạn ức thân, tất cả công đức cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn.”

Quán Thế Âm Bố Tát bạch tiếp: “Bạch Đức Thế Tôn! Con được nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng rằng ...”

Tuy rằng khác miệng song lời nói thì tương đồng, ai nấy đều nói cùng một lời như nhau—chư Phật trong mười phương đều cùng một lời khen ngợi Bồ Tát Địa Tạng. Ở đây còn một hàm ý nữa là vào thuở quá khứ, Bồ Tát Quán Thế Âm đã từng được nghe vô lượng chư Phật trong mười phương khen ngợi Bồ Tát Địa Tạng; tuy rằng các ngài không phải nói cùng một lúc song đều nói một lời giống nhau—chư Phật đều nói rằng Bồ Tát Địa Tạng có trí huệ thần thông chẳng thể nghĩ bàn!

“Dầu cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đều tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể nói hết được.” Giả sử tất cả chư Phật—chư Phật đời quá khứ, chư Phật đời hiện tại, chư Phật đời vị lai—hết thảy chư Phật trong mười phương ba đời đều nói về công đức của Bồ Tát Địa Tạng, thì vẫn không thể nào nói cho hết được.

Quán Thế Âm Bồ Tát bạch tiếp: “Vừa rồi lại được Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng muốn tuyên nói các sự lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng. Cúi mong Đức Thế Tôn vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai, mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng.”

Quán Thế Âm Bồ Tát thỉnh cầu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên nói về công đức trí huệ bất khả tư nghì của Bồ Tát Địa Tạng nhằm “khiến cho Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ được phước.” Công đức chiêm ngưỡng cùng đảnh lễ chư Phật và Bồ Tát vốn vô lượng vô biên, nếu giảng cặn kẽ thì khó mà giảng cho hết được. Bây giờ chỉ nói sơ lược về năm loại công đức tiêu biểu từ sự lễ bái chư Phật và Bồ Tát:

1) Tướng mạo đoan chánh, viên mãn; ai gặp cũng sanh lòng ái kính và có thiện cảm.

2) Giọng nói vi diệu, trong trẻo, âm vang như tiếng chuông đồng.

3) Giàu có, sở hữu nhiều của cải, châu báu.

4) Sanh trưởng trong những gia đình cao sang quyền quý, có địa vị, có đức hạnh.

5) Được sanh lên các cõi trời.

Trên đây là năm loại công đức có được nhờ chiêm ngưỡng và lễ bái chư Phật cùng chư Bồ Tát.

Kinh văn:

Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên với thế giới Ta Bà. Nếu hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc thần hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh tội khổ trong Lục Đạo nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, mến tưởng đến ông, khen ngợi ông, thì những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành thục liền được gặp Phật thọ ký cho.

Nay ông sẵn lòng đại từ bi, thương xót các chúng sanh cùng Thiên Long Bát Bộ, mà muốn nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng. Ông hãy lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ.”

Ngài Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng, bạch Đức Thế Tôn! Con xin ưa muốn nghe.”

Lược giảng:


Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên với thế giới Ta Bà. Đối với cõi khổ kham nhẫn ở Nam Diêm Phù Đề này, ông có nhân duyên đặc biệt sâu dày. Nếu hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc thần hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh tội khổ trong Lục Đạo—trời, người, A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—nghe danh hiệu của ông—Quán Thế Âm Bồ Tát—thấy hình tượng của ông—bao gồm tất cả mọi hình tượng bằng đất, vàng, gỗ, đá, cho đến tranh vẽ ...—mến tưởng đến ông, khen ngợi ông, thì những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành thục, liền được gặp Phật thọ ký cho. Đến lúc cái nhân mà họ đã gieo được kết thành quả, chín muồi, thì họ đều sẽ được gặp Phật và được Phật thọ ký, tương lai họ đều có thể thành Phật.”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Nay ông sẵn lòng đại từ bi, thương xót các chúng sanh cùng Thiên Long Bát Bộ, mà muốn nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng. Bây giờ ông lại phát lòng từ bi hết sức vĩ đại, từ bi thương xót tất cả chúng sanh cùng trời, rồng và tám bộ quỷ thần. Vậy, nay ông hãy lắng nghe Ta nói về cảnh giới không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng, những việc lợi ích cho nhân, thiên, cùng chúng sanh trong Lục Đạo.[b] Ông hãy lắng nghe! [/b]Ông nên đặc biệt chăm chú lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ.”

Bấy giờ, Ngài Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng, bạch Đức Thế Tôn! Con xin ưa muốn nghe". Con thỉnh cầu Đức Thế Tôn vì chúng con mà giảng nói. Toàn thể đại chúng chúng con trong Pháp Hội này đều khao khát được nghe về cảnh giới bất khả tư nghì của Bồ Tát Địa Tạng.”

Kinh văn:

Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, có vị thiên nhân nào phước trời thọ hưởng đã hết, có Ngũ Suy Tướng hiện ra, hoặc có vị phải đọa lạc nơi chốn ác đạo; các vị thiên nhân đó, hoặc nam hoặc nữ, đương lúc tướng suy hiện ra, mà hoặc thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, thì các vị thiên nhân đó được phước trời thêm lớn, hưởng nhiều sự vui sướng, vĩnh viễn không phải đọa lạc vào ba ác đạo nữa; huống chi là được thấy tượng, được nghe tên của Bồ Tát, rồi đem các thức hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, vật báu, chuỗi anh lạc... mà bố thí cúng dường, thì công đức phước lợi có được sẽ vô lượng vô biên.”

Lược giảng:


Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm và tất cả đại chúng: “Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, có vị thiên nhân nào phước trời thọ hưởng đã hết, có Ngũ Suy Tướng hiện ra ...”

Các thiên nhân ở cõi trời được hưởng phước báo vui sướng vô cùng; so với cõi nhân gian thì ở cõi trời quá vui vẻ sung sướng. Thế nhưng, thiên nhân lại có Ngũ Suy Tướng, tức là sự xuất hiện của năm tướng suy hao nơi thân thể khi họ sắp hưởng hết thiên phước của mình.

Năm Tướng Suy Hao là gồm những gì? Đó là:

1) Mũ hoa héo rũ (Hoa quan ủy tạ): Các thiên nhân đều đội mũ kết bằng hoa tươi, không bao giờ khô héo; song đến lúc năm tướng suy hao hiện ra thì những mũ hoa này sẽ héo úa, tàn rụng.

2) Y phục dính bụi (Y trước trần ai). Áo quần của thiên nhân thường thì không phải giặt giũ mà vẫn luôn luôn sạch sẽ, nhưng đến lúc quần áo của họ bắt đầu bị bụi bám thì họ biết là mình sắp chết.

3) Hai nách tiết mồ hôi (Lưỡng dịch hãn xuất). Thân thể của thiên nhân không ra mồ hôi, song đến lúc phước trời của họ đã hết thì dưới hai nách có mồ hôi tiết ra.

4) Thân thể hôi hám (Thân thể xú uế). Thân thể của thiên nhân thường tỏa hương thơm, đến lúc thiên phước của họ đã cạn hết thì “xú khí nhập thể,” thân mình tiết ra mùi hôi hám.

5) Không thích chỗ ngồi của mình (Bất lạc bổn tòa). Thiên nhân thường hay ngồi, có tướng Thiền Định; song đến lúc hết thiên phước thì họ không còn tướng Thiền Định nữa—bấy giờ họ đứng ngồi không yên, bồn chồn bứt rứt, hết đứng lại ngồi, hết ngồi lại đứng. Đây chính là lúc thiên nhân phải đọa lạc—có thể chuyển làm thân ngạ quỷ, súc sanh, xuống địa ngục, hoặc sanh làm người... tất cả đều không nhất định.

Trên đây là năm tướng suy hao lớn (đại Ngũ Suy Tướng). Ngoài ra, thiên nhân còn có sự xuất hiện của năm tướng suy hao nhỏ (tiểu Ngũ Suy Tướng) nữa. Năm tướng suy nhỏ là những gì? Đó là:

1)Tiếng không còn trong thanh và vui vẻ nữa (Lạc thanh bất khởi ). Giọng nói của thiên nhân vốn vô cùng thanh tao, vi diệu; song đến lúc năm tướng suy hiện ra thì tiếng nói trở nên thô nặng, khàn đục, không còn réo rắt, thánh thót nữa.

2) Ánh sáng trên thân bị mờ tối (Thân quang vi ám ). Toàn thân của thiên nhân thường đều có tỏa hào quang, song đến lúc năm tướng suy hao nhỏ hiện ra thì hào quang nơi thân trở nên lu mờ ảm đạm, không còn sáng chói nữa.

3) Nước tắm đọng dính trên thân (Dục thủy trước thân ). Thân thể của thiên nhân vốn không bị dính nước, tương tự như mặt pha-lê vậy—nước chảy tuột đi chứ không đọng lại; nhưng khi năm tướng suy nhỏ hiện ra, thì khi tắm, nước sẽ dính lại trên thân họ.

4) Chấp trước vào cảnh giới, không buông xả (Trước cảnh bất xả) . Lúc năm tướng suy nhỏ hiện ra, thiên nhân gặp cảnh giới gì thì bám chấp lấy cảnh giới đó, không thể buông bỏ được.

5) Thân suy yếu, mắt láo liên (Thân hư nhãn thuấn). Lúc năm tướng suy nhỏ hiện ra thì thân thể của thiên nhân trở nên vô cùng suy nhược, không còn cường tráng, không còn sức lực nữa. Thiên nhân vốn rất ít khi mở trừng mắt, con ngươi không thường chuyển động; nhưng khi năm tướng suy nhỏ hiện ra, thì tròng mắt của họ luôn chuyển động qua lại.

Trên đây là năm tướng suy hao nhỏ. Ngoài ra, thiên nhân còn có bảy tướng suy hao, trong đó bao gồm năm tướng suy hao lớn:

1) Ánh sáng bị mất (Quang diệt ). Hào quang của thiên nhân không còn nữa.

2) Hoa héo úa (Hoa ủy ). Mũ hoa trên đầu bị héo tàn.

3) Sắc tướng biến đổi (Biến sắc ). Tướng mạo của thiên nhân vốn rất viên mãn, nhưng khi năm tướng suy hiện ra thì liền bị biến đổi ngay—trước kia vốn rất tốt đẹp, bây giờ thì không còn đẹp nữa.

4) Y phục dính bụi dơ (Y trước trần ai).

5) Hai nách ra mồ hôi (Lưỡng dịch xuất hãn). Hai bên nách của thiên nhân, chỗ dưới hai cánh tay, có mồ hôi tiết ra.

6) Thân thể gầy ốm (Thân sấu). Thiên nhân vốn không cần ăn uống tẩm bổ gì cả mà thân thể cũng không gầy ốm; nhưng lúc tướng suy hiện ra thì thân thể hao gầy hẳn đi.

7) Không thích chỗ ngồi của mình (Bất lạc bổn tòa). Lúc tướng suy hiện ra, thiên nhân tự lánh xa chỗ ngồi của mình.

Vậy, năm tướng suy nhỏ (tiểu Ngũ Suy), năm tướng suy lớn (đại Ngũ Suy), và bảy tướng suy (Thất Suy), đều là các tướng trạng hiện ra nơi thân của thiên nhân lúc phước trời của họ đã hết.

Lúc bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo rằng: “Trong đời này và đời sau, nếu có thiên nhân nào nơi thân đã hiện năm dấu hiệu suy hao, hoặc có vị phải đọa lạc nơi chốn ác đạo; các vị thiên nhân đó, hoặc nam hoặc nữ, đương lúc tướng suy hiện ra, mà hoặc thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, thì các vị thiên nhân đó được phước trời thêm lớn, hưởng nhiều sự vui sướng, vĩnh viễn không phải đọa lạc vào ba ác đạo nữa; huống chi là được thấy tượng, được nghe tên của Bồ Tát, rồi đem các thức hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, vật báu, chuỗi anh lạc... mà bố thí cúng dường, thì công đức phước lợi có được sẽ vô lượng vô biên.”

Những chúng sanh nào được thấy hình tượng hoặc được nghe đến danh hiệu của Địa Tạng Vương Bồ Tát, lại còn đem đủ loại hương, đủ loại hoa, các thứ y phục, các thức ăn uống, cùng các món trang sức quý báu như chuỗi anh lạc ra cúng dường Ngài, thì sẽ được vô lượng vô biên công đức và phước lợi, chẳng thể nào kể xiết.

Kinh văn:

“Lại nữa, này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, nếu những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua lỗ tai, thì các chúng sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa.

Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v... của người sắp chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết, được mắt thấy tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v... vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ thêm lâu dài.

Còn nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào đường ác, song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.”

Lược giảng:


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi: “Lại nữa, này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, nếu những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua lỗ tai—chỉ vỏn vẹn một tiếng mà thôi—thì các chúng sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa.

Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v... của người sắp chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết—mắt vẫn còn nhìn thấy, tai vẫn còn nghe hiểu—được mắt thấy tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v... vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, vì mình mà làm việc công đức; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ thêm lâu dài.” Nếu người đang hấp hối đó do trót tạo nghiệp chướng mà phải chịu quả báo mắc bệnh nặng, đáng bị “con ma bệnh” hành hạ, bị nghiệp chướng trói buộc bủa vây, thì nhờ vào công đức tạc vẽ tô đắp hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, chẳng bao lâu người đó sẽ lành mạnh và được sống lâu hơn.

Còn nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào đường ác ...” Giả sử người bệnh đang hấp hối đó có nghiệp báo đáng lẽ phải chết, cứ theo những tội chướng, nghiệp chướng mà người đó phải gánh chịu tất phải đọa lạc trong bốn đường ác, “song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.”

Kinh văn:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ nam người nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mẹ, cho đến chết mất anh em chị em, người đó khi khôn lớn thường nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng quyến thuộc, song không rõ họ lạc vào chốn nào, sanh về thế giới nào, hoặc sanh trong cõi trời nào.

Người đó như có thể đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, thậm chí nghe danh hiệu, một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, trong từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối thất tâm nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng, chiêm lễ, cúng dường; thì quyến thuộc của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác lẽ ra phải chịu đến nhiều số kiếp, nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và chiêm lễ của con cái, anh em chị em, nên liền được giải thoát, sanh trong cõi trời cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.

Còn như quyến thuộc của người đó có phước lực, đã được sanh vào cõi trời, cõi người và hưởng thọ sự vui thù thắng vi diệu rồi, thì sẽ nhờ công đức này mà nhân Thánh tăng trưởng, hưởng vô lượng sự vui.”

Lược giảng:


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Ta lại nói cho các ông nghe về một cảnh giới không thể nghĩ bàn nữa. Vào đời vị lai, nếu có kẻ nam người nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mẹ—cha mẹ đã qua đời hoặc bị mất tích, cho đến chết mất anh em chị em—có anh em trai hay chị em gái bị chết hoặc thất lạc, người đó khi khôn lớn thường nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng quyến thuộc, song không rõ họ lạc vào chốn nào, sanh về thế giới nào, hoặc sanh trong cõi trời nào.” Đến tuổi trưởng thành, người đó thường nhớ nghĩ và thắc mắc không biết cha mẹ, anh em, chị em cùng các thân quyến của mình đang trôi nổi lưu lạc ở nơi nào trong sáu nẻo đường—chẳng rõ họ được sanh thiên, được làm người, hoặc bị chuyển làm thân A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh, hay đọa địa ngục.

“Người đó như có thể đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, thậm chí nghe danh hiệu, một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, trong từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối thất tâm nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng, chiêm lễ, cúng dường ... ” Giả sử người bị mồ côi hoặc thất lạc thân nhân đó có thể dùng đất sét, gỗ, vàng, bạc, đồng, sắt ... để làm tượng Bồ Tát Địa Tạng, hoặc tô vẽ hình Ngài trên giấy; thậm chí người đó không hề đắp vẽ hình tượng Ngài, mà chỉ nghe được danh hiệu, chỉ thấy hình tượng hoặc đảnh lễ hình tượng của Ngài mới một lần, mà trong từ một ngày cho đến bảy ngày tâm nguyện lúc ban sơ của người đó không hề thối thất—lòng khẩn thiết muốn đảnh lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng không bị lay chuyển; “thì quyến thuộc của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác lẽ ra phải chịu đến nhiều số kiếp, nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và chiêm lễ của con cái, anh em chị em, nên liền được giải thoát, sanh trong cõi trời cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.”

Bất luận là nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng hay trông thấy hình tượng của Ngài, người đó đều thiết tha chiêm lễ cúng dường, thì quyến thuộc của người đó, giả dụ vì nhân duyên nghiệp chướng và căn cứ theo tội chướng mà họ đã tạo ra thì họ phải bị đọa lạc trong bốn đường ác—A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—phải trải qua đến không biết bao nhiêu đại kiếp mới được giải thoát, thì giờ đây, nhờ vào công đức đắp vẽ và chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng của người đó, họ sẽ được thoát khỏi mọi nghiệp tội, được sanh trong cõi người hoặc cõi trời, hưởng thọ sự vui sướng thù thắng nhất, vi diệu nhất.

“Còn như quyến thuộc của người đó có phước lực, đã được sanh vào cõi trời, cõi người và hưởng thọ sự vui thù thắng vi diệu rồi ...” Trong trường hợp cha mẹ, anh em, chị em ... của người đó nhờ phước lực đã tạo khi trước mà được sanh vào cõi người hoặc sanh lên cõi trời hưởng sự an vui rồi, “thì sẽ nhờ công đức này mà nhân Thánh tăng trưởng, hưởng vô lượng sự vui.” Nhờ công đức đắp vẽ hình tượng cùng chiêm lễ Bồ Tát Địa Tạng của người này nên công đức phước lực của hàng quyến thuộc càng gia tăng—lúc trước đã hưởng thọ sự vui sướng thắng diệu, bây giờ lại càng được an vui hơn nữa.


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Chủ Nhật, 07 Aug 2016, 9:45 PM
 
LongTracAn Date: Chủ Nhật, 07 Aug 2016, 9:45 PM | Message # 59
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Kinh văn:

“Như người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày nhất tâm chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và niệm danh hiệu của Ngài đủ một vạn biến, thì sẽ được Bồ Tát hiện thân vô biên, mách bảo người đó cõi giới mà hàng quyến thuộc đã sanh về; hoặc trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, đích thân dắt người đó đến các thế giới để thấy hàng quyến thuộc của mình.

Nếu người đó lại có thể mỗi ngày đều niệm danh hiệu Bồ Tát một ngàn biến, luôn đến một ngàn ngày, thì người đó sẽ được Bồ Tát sai các quỷ thần và thổ địa sở tại hộ vệ trọn đời, hiện đời y phục thức ăn dư dật, không có các thứ bệnh khổ, cho đến các hoạnh sự còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân! Người đó rốt ráo sẽ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”

Lược giảng:


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: “Như người đó—người đắp vẽ và chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Bồ Tát Địa Tạng nói trên—lại có thể trong hai mươi mốt ngày nhất tâm chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và niệm danh hiệu của Ngài đủ một vạn biến ...”

Phần trước thì nói là chiêm lễ trong một tuần (bảy ngày), bây giờ thì trong ba tuần (hai mươi mốt ngày). Vậy, trong suốt ba tuần lễ, nếu người đó có thể chuyên chú, một lòng một dạ chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Bồ Tát Địa Tạng, và trì niệm danh hiệu của Ngài—“Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”—cho đến khi đủ số mười ngàn biến, “thì sẽ được Bồ Tát hiện thân vô biên, mách bảo người đó cõi giới mà hàng quyến thuộc đã sanh về.”

Thân “vô biên” là cái thân không có “biên tế,” vô cùng vô tận, bất cứ nơi nào cũng có thể thị hiện đến được cả. Thân “vô biên” cũng có thể gọi là thân “vô loại bất hiện,” bởi Bồ Tát Địa Tạng có thể tùy theo mọi chủng loại của chúng sanh mà thị hiện thân thích ứng để giáo hóa. Tuy nhiên, đoạn kinh văn này ngụ ý rằng Bồ Tát Địa Tạng sẽ hiện thân đến trước mặt người đã thành tâm chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Ngài trong suốt ba tuần lễ, và báo cho người đó biết đầy đủ về nơi mà cha mẹ, anh em, chị em, hoặc các quyến thuộc của người đó đã thác sanh về.

“Hoặc trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, đích thân dắt người đó đến các thế giới để thấy hàng quyến thuộc của mình.”

Chúng ta là những người tin Phật song vẫn còn quá mê muội, cho nên bậc Bồ Tát không thể tiếp xúc hoặc nói chuyện trực tiếp với chúng ta giữa ban ngày ban mặt, lúc chúng ta đang tỉnh thức được. Cho nên, đợi khi người đó ngủ say, trong giấc mộng, Bồ Tát Địa Tạng sẽ thị hiện sức oai thần rộng lớn, đích thân dẫn người đó đến các cõi giới, thấy được tất cả hàng quyến thuộc.

“Nếu người đó lại có thể mỗi ngày đều niệm danh hiệu Bồ Tát—Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát—một ngàn biến, luôn đến một ngàn ngày—tức ba năm—thì người đó sẽ được Bồ Tát sai các quỷ thần và thổ địa sở tại hộ vệ trọn đời.” Bất luận người đó sống ở nơi nào, Bồ Tát Địa Tạng đều sai bảo các quỷ thần và thần thổ địa ở nơi ấy bảo hộ cho người đó đến trọn đời.

Ngoài ra, người đó còn được “hiện đời y phục thức ăn dư dật, không có các thứ bệnh khổ.” Trong đời hiện tại, lúc người đó còn sống, thì áo quần, đồ ăn thức uống đều rất dồi dào, không hề thiếu ăn, cũng chẳng hề thiếu mặc, và cũng chẳng mắc phải bệnh tật đau đớn gì cảù.

Lại nữa, “cho đến các hoạnh sự còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân!” “Hoạnh sự” tức là những việc rủi ro, không như ý mình mong muốn. Các tai họa, dù lớn dù nhỏ, thảy đều không vào đến cửa, không bao giờ xảy ra cho gia đình, huống chi là cho bản thân của người đó!

“Người đó rốt ráo sẽ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho, và bảo rằng: ‘Này Thiện nam tử! Ông đã phát tâm Bồ Đề rộng lớn, tương lai ắt sẽ kết thành quả Bồ Đề đấy!’”



Kinh văn:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu Đạo Bồ Đề Vô Thượng, muốn ra khỏi Tam Giới; những người đó thấy hình tượng Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe danh hiệu, rồi chí tâm quy y, hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn thức uống để cúng dường chiêm lễ, thì điều nguyện cầu của các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh viễn không bị chướng ngại.”

Lược giảng:


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Bây giờ Ta sẽ giảng tỉ mỉ hơn cho ông rõ. Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn ...” Phát tâm từ bi là đã quý hóa lắm rồi, thế mà nếu có thể phát được thứ tâm từ bi bao la quảng đại thì lại càng tuyệt diệu hơn nữa.

Thế thì, trong đời vị lai, những người nam và người nữ chăm tu Ngũ Giới, hành trì Thập Thiện, muốn phát thứ tâm từ bi quảng đại ấy để làm gì? Chính là “để cứu độ tất cả chúng sanh.”

Ngoài ra, có những thiện nam tín nữ thì lại “muốn tu Đạo Bồ Đề Vô Thượng, muốn ra khỏi Tam Giới, xa lìa ngôi nhà lửa trong ba cõi--Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.”

“Những người đó—không phải chỉ có một hoặc hai người mà là rất nhiều người đều mong muốn như thế, nhiều đến nỗi chẳng thể biết được là bao nhiêu, cho nên nói là “những người đó”—thấy hình tượng Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe danh hiệu, rồi chí tâm quy y, hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn thức uống để cúng dường chiêm lễ ...”

Giả sử hết thảy những thiện nam tín nữ đó sau khi được trông thấy hình tượng và được nghe đến danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, liền sanh lòng chí thành khẩn thiết đến quy y Bồ Tát Địa Tạng, hoặc đem các loại hương, các loại hoa, vô số y phục, vô số bảo vật, cùng vô số đồ ăn thức uống đến cúng dường Bồ Tát Địa Tạng, chiêm ngưỡng đảnh lễ Bồ Tát Địa Tạng, “thì điều nguyện cầu của các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh viễn không bị chướng ngại.”



Kinh văn:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc về hiện tại cùng vị lai, thì nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; thì các điều sở nguyện sở cầu như thế tất đều thành tựu cả.

Nếu lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”

Lược giảng:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc
—chứ chẳng phải vỏn vẹn một điều hay một việc mà thôi đâu—về hiện tại cùng vị lai, thì nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; thì các điều sở nguyện sở cầu như thế tất đều thành tựu cả.”

“Điều nguyện” tức là điều mà quý vị ao ước, mong muốn đạt được. Quý vị mong ước cái gì, muốn xin việc gì, đều có thể được toại nguyện cả, song quý vị phải làm một việc; đó là việc gì? Đó là quý vị phải quy y Bồ Tát Địa Tạng, chiêm ngưỡng đảnh lễ Bồ Tát Địa Tạng, cúng dường Bồ Tát Địa Tạng và khen ngợi hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng. Nếu quý vị làm được như thế thì mọi nguyện vọng, mọi mong cầu của quý vị đều được tùy tâm mãn nguyện, đều được thành tựu.

“Nếu lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.” Nếu quý vị muốn cầu xin Bồ Tát Địa Tạng rũ lòng từ bi bao la mà phù hộ cho quý vị mãi mãi, thì khi quý vị đang say ngủ, Ngài sẽ thị hiện trong giấc mộng mà xoa đảnh thọ ký cho quý vị.



Kinh văn:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại Thừa sanh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn muốn đọc, muốn tụng, dầu gặp được bậc minh sư dạy bảo cho thành thục, song đọc rồi lại quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không đọc tụng được; những kẻ thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc tụng.”

Lược giảng:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại Thừa
—các sách kinh Phật và điển chương—sanh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn muốn đọc, muốn tụng ...” “Đọc” tức là nhìn vào sách mà đọc; còn “tụng” là đọc mà không cần nhìn vào sách bởi đã thuộc nằm lòng.

Những người đó vừa nhìn thấy các kinh điển Đại Thừa thì nâng niu, trân quý hơn bất kỳ báu vật nào khác, và liền phát tâm Đại Thừa không thể nghĩ bàn mà lập nguyện rằng: “Tôi nhất quyết phải đọc tụng bộ kinh này. Bất luận thế nào tôi cũng phải học thuộc bộ kinh này!” Thế nhưng, “dầu gặp được bậc minh sư dạy bảo cho thành thục, song đọc rồi lại quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không đọc tụng được.” Những người đó phát tâm bất khả tư nghì, có chí nguyện muốn đọc tụng các kinh điển Đại Thừa, và còn gặp được bậc minh sư tận tâm dạy cho cách đọc kinh, xem kinh nữa. Tuy nhiên, họ cứ học thuộc rồi lại quên. Mặc dù họ chăm chỉ cần cù học tập trong suốt một thời gian dài—có thể là trong vài tháng mà cũng có thể là trong một năm hoặc nhiều năm—họ vẫn không thể nào đọc cho trôi chảy, tụng cho nhuần nhuyễn được! Vì sao họ cứ học rồi lại quên, phải học đi học lại mãi như thế?

“Những kẻ thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch ...” Đó là do bị nghiệp chướng từ đời trước ngăn che, khiến họ không thể nào thuộc được kinh điển. Vì nghiệp chướng, mà họ cảm thấy lười biếng, không muốn tụng kinh. Vì nghiệp chướng, mà lúc họ học kinh thì cơn buồn ngủ ập đến. Vì nghiệp chướng, mà lúc họ muốn đọc tụng thì đầu óc lại hôn trầm. Tuy nhiên, cũng thật là kỳ lạ, khi không tụng kinh thì họ thấy đầu óc rất tỉnh táo, nhưng hễ tụng kinh thì họ lại cảm thấy buồn ngủ—cứ đặt quyển kinh xuống, không tụng nữa, thì con ma ngủ bỏ đi; mà hễ cầm quyển kinh lên để tụng thì con ma ngủ lại kéo tới!

Tôi tin rằng vài người trong quý vị đã có kinh nghiệm về việc này. Quý vị muốn nghe kinh ư? Ngay tức khắc cơn buồn ngủ xâm chiếm quý vị! Ngược lại, nếu quý vị nói chuyện thị phi, nói những chuyện vô ích, thì càng nói càng hăng say, càng nói càng hào hứng, nói đến nỗi nước miếng văng tới tấp như mưa vậy mà cũng chẳng thấy mệt mỏi hoặc buồn ngủ chút nào!

“Cho nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc tụng.” Do vì nghiệp chướng chưa được tiêu trừ nên họ không có khả năng đọc tụng, không có được sức nhớ dai, không thể học thuộc kinh điển Đại Thừa.

Kinh văn:

“Những hạng người này, khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát cùng thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem hết bổn tâm mà cung kính bày tỏ; rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dường Bồ Tát. Lại đem một chén nước trong đặt trước Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó chắp tay thỉnh để uống, mặt day về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh trọng. Uống nước xong, phải kiêng cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày. Những người thiện nam thiện nữ này, trong giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân vô biên đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đảnh cho. Những người này thức dậy liền được thông minh, các kinh điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!”

Lược giảng:


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Những hạng người này, khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát cùng thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem hết bổn tâm mà cung kính bày tỏ ...” “Bày tỏ” tức là trình bày, nói rõ ý kiến của mình. Bày tỏ ý kiến gì?

Những người đó chớ nên buồn bã ưu sầu vì sự kém nhớ dễ quên, học đâu quên đó của mình, chỉ cần khi họ nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, trông thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, họ nên dốc trọn vẹn bổn tâm—tức là “diệu minh chân tâm,” cái tâm chân thật, vi diệu, sáng suốt của chính mình chứ không phải cái tâm gian dối xảo trá— mà cung kính thưa trình với Địa Tạng Vương Bồ Tát, khấn nguyện rằng: “Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát! Xin Ngài từ bi giúp con dẹp trừ con ma ngủ, xua tan mọi ma chướng đang ngăn che trí nhớ của con, để cho đầu óc con được sáng suốt minh mẫn, có khả năng ghi nhớ thật tốt!”

“Rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dường Bồ Tát.” “Thức uống” ở đây không phải là rượu, mà là nước lọc, nước đã đun sôi để uống. Quý vị chớ lầm “thức uống” này là rượu; không phải vậy đâu! Nếu quý vị uống rượu thì trí nhớ của quý vị sẽ càng tệ hại hơn nữa đấy!

Quý vị đem các món đồ chơi cúng dường Bồ Tát để làm gì? Bồ Tát cũng cần đồ chơi sao? Bồ Tát cũng thích đồ chơi sao? Thật ra, ngay cả các đồ chơi, như trái banh của trẻ con, đều có thể đem cúng dường cho Bồ Tát Địa Tạng được cả. Địa Tạng Vương Bồ Tát không nhất thiết là sẽ chơi đá banh, nhưng nếu quý vị đem những đồ vật mà mình yêu thích đến cúng dường Ngài, thì Ngài rất hoan hỷ.

“Lại đem một chén nước trong—phải là thứ nước thật tinh khiết, không được dùng nước dơ—đặt trước Bồ Tát một ngày một đêm. Những người đó nên lấy một chén nước trong đặt trước mặt Địa Tạng Vương Bồ Tát để cúng dường suốt một ngày và một đêm. Sau đó chắp tay thỉnh để uống, mặt day về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh trọng.” Lúc uống chén nước này, họ phải ngoảnh mặt về hướng Nam và phải hết sức cung kính, trân trọng, phải đem lòng chí thành khẩn thiết mà quán tưởng rằng Địa Tạng Vương Bồ Tát đã gia trì chén nước này—tôi nhận thấy rằng điều này vô cùng quan trọng.

“Uống nước xong, phải cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ cùng các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày.” Sau khi uống chén nước đó rồi, thì đừng ăn năm thứ có mùi vị hăng nồng gọi là “ngũ tân”—tỏi, hành, hẹ, kiệu, nén (hưng cừ). Năm thứ này đều làm gia tăng sự hôn trầm, khiến con người trở nên ngu si thêm và tâm dâm dục càng lớn mạnh hơn, cho nên chúng ta cần phải kiêng cữ. “Cữ” tức là kiêng cữ, không nên dùng—những người đó phải cẩn thận tránh dùng năm món hăng nồng này, đừng dùng rượu thịt, đừng có hành vi sắc dục, đừng nói dối, và đừng làm những việc giết hại.

Sau khi kiêng cữ, ngăn ngừa như thế trong một tuần lễ hoặc ba tuần lễ, “những người thiện nam thiện nữ này, trong giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân vô biên—Pháp thân vô biên—đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đảnh cho.” “Rưới nước quán đảnh cho” tức là Bồ Tát Địa Tạng rưới nước cam lồ trên đỉnh đầu của các thiện nam tín nữ đó.

Trong Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn có một ấn pháp gọi là “Tay Cam Lồ” (Cam Lồ Thủ)—đây chính là ấn pháp Bồ Tát dùng để quán đảnh cho quý vị. Tay Cam Lồ này hễ duỗi ra thì quý vị sẽ cảm thấy như được tắm mát, có nước xối xuống đầu mình gột rửa mọi cấu trược, trừ sạch hết thảy nghiệp chướng. Nếu quý vị tu tập ấn pháp Tay Cam Lồ đến chỗ thành tựu, thì trong tương lai quý vị cũng có thể quán đảnh cho người khác. Người tu tập theo pháp môn này quyết không được lười biếng—một ngày cũng không được gián đoạn, một ngày cũng không được trễ nãi việc tu tập; nếu bỏ sót một ngày không tu, thì phải lập lại lần nữa.

“Những người này thức dậy liền được thông minh.” Quý vị thấy có kỳ lạ không? Họ ngủ một giấc, nằm mộng thấy mình được quán đảnh, và khi thức dậy thì trở nên thông minh mẫn tiệp; quý vị nói có tuyệt diệu hay không chứ? Quý vị có muốn mình cũng được như thế không? Nếu muốn được như thế thì quý vị hãy làm thử xem sao!

“Các kinh điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!” Trước kia thì họ hay quên, song bây giờ thì không còn quên nữa; cho dù họ muốn quên cũng chẳng thể nào quên được! Những người này ngay cả một câu kinh, một bài kệ tụng cũng không hề quên. Quý vị xem đấy, thật là mầu nhiệm không thể nói được!

Cũng như có người tìm cách để đừng đến Phật Giáo Giảng Đường nữa, song không nghĩ ra cách nào cả, nên vẫn cứ đến đều đặn—kỳ lạ như thế đấy!

Kinh văn:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có những người nào ăn mặc không đủ, cầu gì cũng trái nguyện, hoặc nhiều bệnh tật, hoặc nhiều sự hung suy, nhà cửa không yên ổn, quyến thuộc bị phân tán, hoặc các hoạnh sự cứ xảy đến làm thiệt thân, khi ngủ thường mộng thấy điều kinh sợ; những người như thế, khi nghe danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, mà chí tâm cung kính niệm đủ một vạn biến, thì những sự không như ý sẽ tiêu sạch lần lần, liền được an vui, đồ ăn mặc dư dật, cho đến trong giấc mộng thảy đều an vui.”

Lược giảng:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có những người nào ăn mặc không đủ ...”
Có nhiều người thích mặc áo quần mới nhưng không có tiền để mua sắm. Cũng có người chịu mặc đồ cũ song tất cả lại đều rách rưới, muốn tìm một bộ đồ cũ không vá mà chẳng thể nào tìm ra được. Đã vậy, họ ăn bữa nay lo bữa mai, không biết bao nhiêu ngày mới được một bữa no—thường xuyên bị thiếu ăn thiếu mặc.

Lại có những người “cầu gì cũng trái nguyện.” “Trái nguyện” tức là trái ngược với nguyện vọng. Họ cầu xin bất cứ điều gì cũng không được toại nguyện. Ngay cả áo quần, các thức ăn uống đều không có, thì quý vị nghĩ xem, những việc khác càng không thể nào toại ý được!

“Hoặc nhiều bệnh tật.” Có nhiều người thì cứ bị ốm đau bệnh hoạn liên miên. Họ đi làm công, buôn bán, hoặc bằng cách nào đó đã kiếm được một ít tiền, tính ra thì cũng đủ sống trong vài tháng; nhưng không may lại bị ngã bệnh bất ngờ. Thế là phải tốn tiền đi khám bác sĩ, rồi tiền mua thuốc, và cả tiền nằm bệnh viện nữa. Vì không có tiền để mua bảo hiểm, cho nên họ không có bảo hiểm về sức khỏe; do đó, hễ có bệnh thì bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều phải đem ra để trang trải. May mắn lắm thì vừa hết tiền thì bệnh cũng vừa khỏi; khỏi bệnh rồi thì lại phải tìm cách kiếm tiền. Kiếm được tiền rồi thì lại ngã bệnh nữa; đó gọi là “nhiều bệnh tật.” Vì sao lại như thế ư? Đó chính là nghiệp chướng!

“Hoặc nhiều sự hung suy.” “Hung” là hung tướng, không tốt lành; “suy” cũng là không tốt lành. “Hung suy” tức là việc dữ, không tốt đẹp gì cả.

“Nhà cửa không yên ổn.” Trong nhà cũng không được êm ấm. Không phải là ngôi nhà không an ổn, mà là những người sống trong nhà không được an ổn.

“Quyến thuộc bị phân tán.” Bà con ruột thịt trong gia đình bị chia lìa, không thể thường xuyên gặp gỡ.

“Hoặc các hoạnh sự cứ xảy đến làm thiệt thân.” Có nhiều người thường gặp phải những chuyện rủi ro bất ngờ, không tốt cho thân thể. Nhiều việc trái nghịch xảy đến nơi thân thể, không thuận cho thân thể; thí dụ như quý vị muốn không bị bệnh, thì cơ thể lại cứ ốm đau quặt quẹo.

“Khi ngủ thường mộng thấy điều kinh sợ.” Có người trong lúc ngủ thường mộng mị thấy những việc đáng sợ—chẳng hạn nằm mơ thấy có người đến giết mình, có người cầm súng bắn mình; hoặc thấy mình đang đi dưới chân một ngọn núi thì bỗng dưng có những tảng đá lớn, nặng đến cả mấy ngàn tấn từ trên đỉnh núi ào ào lăn xuống, tưởng chừng như sắp đè chết mình; hoặc thấy mình đang đứng dưới một bức tường, bỗng dưng tường đổ sụp xuống, suýt bị đè chết. Bấy giờ, trong giấc mộng, người ấy sợ hãi, khiếp đảm đến nỗi toàn thân đều toát mồ hôi.

“Những người như thế
—những người thiếu ăn thiếu mặc, cầu gì cũng không được toại nguyện, lại thường đau ốm, gặp nhiều sự không may, gia đình không êm ấm thuận hòa, thân thuộc bị chia cách, luôn bị ác mộng—khi nghe danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, mà chí tâm cung kính niệm đủ một vạn biến, thiết tha thành khẩn trì niệm danh hiệu của Địa Tạng Vương Bồ Tát cho được một vạn lần, thì những sự không như ý sẽ tiêu sạch lần lần, liền được an vui.” Trước kia thì họ không được an vui, bây giờ niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng đủ một vạn lần, trong lòng cảm thấy an vui, thư thái.

“Đồ ăn mặc dư dật.” Lúc trước thì không đủ cơm ăn áo mặc, không có áo quần cũng không có gì để ăn, song nay thì cái ăn cái mặc đều sung túc, dư dả, cái gì cũng có cả, nên họ cảm thấy rất an vui, “cho đến trong giấc mộng thảy đều an vui.”

Kinh văn:

“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc vì việc làm ăn sinh sống, hoặc vì việc công chuyện tư, hoặc vì sự sanh sự tử, hoặc vì việc khẩn cấp, mà phải vào rừng lên núi, qua sông vượt biển, cho đến gặp nước lớn hoặc đi ngang hiểm đạo; người đó trước tiên nên niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát một vạn biến, thì đi qua nơi nào cũng có các vị quỷ thần hộ vệ, đi đứng nằm ngồi mãi mãi được an lạc, cho đến dẫu gặp cọp, sói, sư tử... cùng tất cả mọi thứ độc hại, cũng đều không thể làm thương tổn đến được.”

Lược giảng:


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc vì việc làm ăn sinh sống, hoặc vì việc công chuyện tư, hoặc vì sự sanh sự tử—như có kẻ gặp phải vấn đề sống chết, cần phải báo tin cho một ai đó—hoặc vì việc khẩn cấp, mà phải vào rừng lên núi, qua sông vượt biển, cho đến gặp nước lớn hoặc đi ngang hiểm đạo ...” “Hiểm đạo” tức là nơi vô cùng nguy hiểm, thường có các thú dữ như chó sói, cọp, beo... rình rập, hoặc bọn thổ phỉ chực sẵn để cướp bóc.

“Người đó trước tiên nên niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát một vạn biến.” Những người vì công việc phải dấn thân vào những chốn hiểm nguy như thế, thì trước khi lên đường, họ nên thành tâm trì niệm danh hiệu của Địa Tạng Vương Bồ Tát đủ số mười ngàn lần; vì sao? Bởi nếu họ làm được như thế “thì đi qua nơi nào cũng có các vị quỷ thần hộ vệ, đi đứng nằm ngồi mãi mãi được an lạc.”

“Cho đến dẫu gặp cọp, sói, sư tử..., các mãnh thú có thể ăn thịt người, cùng tất cả mọi thứ độc hại, cũng đều không thể làm thương tổn đến được.” Ngay cả những mãnh thú hay ăn thịt người cũng như các thứ độc hại khác, thảy dều không thể nào gây tổn hại cho người đó được.

Nay những người sắp sang Đài Loan (thọ Cụ Túc Giới, 1969) cũng chớ nên lo lắng thái quá, đi bằng máy bay cũng không có việc gì đâu! Chỉ cần quý vị dụng công tu tập Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn và trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thì tôi có thể bảo đảm cho sự an toàn của quý vị.

Kinh văn:

Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Bồ Tát Địa Tạng có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Đề. Nếu nói về những việc lợi ích nhờ được thấy, được nghe của chư chúng sanh, thì trong cả trăm ngàn kiếp cũng không thể nói hết được.

Vì thế, này Quán Thế Âm! Ông hãy dùng thần lực mà lưu bố kinh này, làm cho chúng sanh ở thế giới Ta Bà trong trăm ngàn vạn kiếp luôn được hưởng sự an lạc.”

Lược giảng:


Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Bồ Tát Địa Tạng có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Đề. Nếu nói về những việc lợi ích nhờ được thấy, được nghe của chư chúng sanh, thì trong cả trăm ngàn kiếp cũng không thể nói hết được.”

Địa Tạng Vương Bồ Tát vốn có nhân duyên rất lớn với tất cả chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề. Giả sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni kể lể tỉ mỉ về những lợi ích có được nhờ trông thấy hình tượng và nghe đến danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thì cho dù trải qua cả trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp, thậm chí cả trăm ngàn vạn kiếp, cũng không thể nào nói hết được.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Vì thế, này Quán Thế Âm! Ông hãy dùng thần lực mà lưu bố kinh này, làm cho chúng sanh ở thế giới Ta Bà trong trăm ngàn vạn kiếp luôn được hưởng sự an lạc. Ông hãy dùng sức thần thông của mình mà lưu thông phổ biến Kinh Địa Tạng, khiến cho hết thảy chúng sanh ở thế giới ‘kham nhẫn’ này, trong trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp, trăm ngàn vạn kiếp, mãi mãi được yên ổn, vui vẻ.”

Kinh văn:

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Ta xem Địa Tạng sức oai thần,

Hằng hà sa kiếp nói chẳng cùng.

Thấy, nghe, một niệm chiêm ngưỡng lễ,

Lợi ích trời, người vô lượng sự.

Hoặc nam, hoặc nữ, hoặc rồng, thần,

Báo tận sẽ sa vào đường ác,

Chí tâm quy y thân Đại Sĩ,

Thọ mạng chuyển tăng, tội chướng trừ.”

Lược giảng:

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói kệ rằng: ...
Lúc bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại e rằng có những hạng chúng sanh nghe chưa được rõ, hiểu chưa được thấu đáo, cho nên Ngài dùng lối kệ tụng để trùng tuyên một lần nữa.

Vậy, Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Ta xem Địa Tạng sức oai thần,/ Hằng hà sa kiếp nói chẳng cùng. Ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, quán sát sức thần thông cùng oai đức của Địa Tạng Vương Bồ Tát, và nhận thấy rằng cho dù có dùng khoảng thời gian dài, trải qua số kiếp nhiều như số cát sông Hằng để nói về sức oai thần này, thì cũng khó mà nói cho hết được.”

“Thấy, nghe một niệm chiêm ngưỡng lễ,/ Lợi ích trời, người vô lượng sự.” Nếu người nào trông thấy hình tượng của Địa Tạng Vương Bồ Tát và nghe được danh hiệu của Ngài mà liền sanh lòng cung kính đảnh lễ, dù chỉ trong một niệm ngắn ngủi, thì trong tương lai người đó sẽ được hưởng vô lượng vô biên sự lợi ích như được sanh lên cõi trời, hoặc sanh ở cõi người.

“Hoặc nam, hoặc nữ, hoặc rồng, thần,/ Báo tận sẽ sa vào đường ác,/ Chí tâm quy y thân Đại Sĩ,/ Thọ mạng chuyển tăng, tội chướng trừ.” Giả sử có người nam, người nữ, hoặc có vị trời, rồng, quỷ, thần... nào mà thân chánh báo đã hết, thọ mạng đã mãn, sắp phải bị đọa vào ba đường ác, nếu kẻ ấy có thể thành tâm khẩn thiết quy y Bồ Tát Địa Tạng, thì tuổi thọ của kẻ ấy sẽ được gia tăng và hết thảy tội chướng sẽ được tiêu trừ.

Kinh văn:

“Trẻ thơ sớm mất tình phụ mẫu,

Chẳng rõ thần hồn lạc nơi đâu,

Anh em chị em cùng thân thuộc,

Sanh trưởng đến nay chẳng biết nhau.

Hoặc nặn hoặc vẽ hình Đại Sĩ,

Cảm thương chiêm lễ chẳng muốn rời,

Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu,

Bồ Tát tất hiện thân vô biên,

Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nao,

Dầu sa ác thú cũng ra mau;

Nếu được sơ tâm chẳng thối thất,

Liền đặng xoa đảnh, thọ Thánh ký.”

Lược giảng:

“Trẻ thơ sớm mất tình phụ mẫu,/ Chẳng rõ thần hồn lạc nơi đâu.”
Có nhiều người lúc còn thơ ấu đã bị lâm vào tình cảnh thiếu thốn tình gia đình do bị mất cha, mất mẹ, hoặc mất anh chị em quá sớm. Thế nên, đến khi khôn lớn trưởng thành, những kẻ mồ côi đó thường ưu tư khắc khoải, không biết thân nhân của mình thác sanh ở chốn nào, hồn phách phiêu bạt nơi đâu.

“Anh em, chị em, cùng thân thuộc,/ Sanh trưởng đến nay chẳng biết nhau.” Lại có những kẻ từ lúc sanh ra cho đến nay chưa hề gặp, chưa hề biết mặt anh em, chị em cùng những người bà con ruột thịt của họ.

“Hoặc nặn hoặc vẽ hình Đại Sĩ,/ Cảm thương chiêm lễ chẳng muốn rời.” Những người ấy hoặc dùng đất sét, gỗ, đá, đồng, sắt, vàng, bạc, ... để tạo tượng Bồ Tát Địa Tạng, hoặc tô vẽ hình Bồ Tát Địa Tạng trên giấy. Bấy giờ, trong lòng họ nảy sanh cảm giác buồn rầu, đau xót, cứ lưu luyến ngắm nhìn và thường xuyên thành tâm đảnh lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng, không muốn xa rời.

“Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu,/ Bồ Tát tất hiện thân vô biên,/ Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nao,/ Dầu sa ác thú cũng ra mau.” Trong suốt thời gian ba tuần lễ, nếu những người đó có thể lúc nào cũng một lòng trì niệm danh hiệu của Địa Tạng Vương Bồ Tát, thì Ngài sẽ thị hiện Pháp thân vô biên mà báo cho biết nơi thác sanh của cha, mẹ, hoặc anh em, chị em của họ; trong trường hợp thân nhân của họ đang bị đọa lạc trong bốn đường ác, thì cũng sẽ mau chóng được thoát ra.

“Nếu được sơ tâm chẳng thối thất,/ Liền đặng xoa đảnh, thọ Thánh ký.” Giả sử những người đó có thể kiên trì, không thối chuyển, không quên mất cái tâm niệm ban đầu, thì bấy giờ sẽ được Bồ Tát Địa Tạng xoa đảnh, thọ ký cho.



Kinh văn:

“Bồ Đề vô thượng muốn tu hành,

Thậm chí lìa xa khổ Tam Giới,

Người này đã phát đại bi tâm,

Trước nên chiêm lễ tượng Đại Sĩ,

Hết thảy nguyện ước chóng thành tựu,

Nghiệp chướng vĩnh viễn chẳng ngăn đặng.

Có người phát tâm tụng kinh điển,

Muốn độ quần mê vượt bỉ ngạn,

Dầu lập thệ nguyện chẳng nghĩ bàn,

Đọc rồi liền quên, luôn sót mất.

Người này nghiệp chướng khiến u mê,

Học Đại Thừa kinh chẳng nhớ được.

Cúng dường Địa Tạng với hương hoa,

Y phục, uống ăn, cùng ngoạn cụ,

Bày chén nước trong trước Đại Sĩ,

Cách một ngày sau bưng lấy uống.

Sanh lòng trân trọng, cữ ngũ tân,

Rượu, thịt, tà dâm, cùng vọng ngữ.

Hăm mốt ngày liền chớ sát sanh,

Chí tâm nhớ tưởng Đại Sĩ danh.

Trong mộng tất thấy thân vô biên,

Thức giấc nhĩ căn liền lanh lợi,

Đại Thừa kinh giáo nghe qua tai,

Suốt ngàn vạn đời mãi chẳng quên.

Chính nhờ Đại Sĩ bất tư nghì,

Thầm giúp người kia được huệ tài.”



Lược giảng:

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Bồ Đề vô thượng muốn tu hành,/ Thậm chí lìa xa khổ Tam Giới,/ Người này đã phát đại bi tâm,/ Trước nên chiêm lễ tượng Đại Sĩ,/ Hết thảy nguyện ước chóng thành tựu,/ Nghiệp chướng vĩnh viễn chẳng ngăn đặng.” Giả sử có những người thiết tha muốn tu tập đạo giác ngộ cao tột, cho đến phát tâm cầu thoát khỏi mọi khổ não trong ba cõi Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Những kẻ đã phát tâm từ bi rộng lớn dường ấy, thì trước tiên nên đối trước tượng của Địa Tạng Vương Bồ Tát mà chí thành cung kính chiêm ngưỡng và đảnh lễ. Được như thế thì tất cả các nguyện ước mong cầu của họ đều thành tựu một cách mau chóng, và mãi mãi không có nghiệp chướng nào có thể cản trở sự tu đạo của họ.

“Có người phát tâm tụng kinh điển,/ Muốn độ quần mê vượt bỉ ngạn,/ Dầu lập thệ nguyện chẳng nghĩ bàn,/ Đọc rồi liền quên, luôn sót mất.” Giả sử có những người phát tâm Bồ Tát Đại Thừa, muốn học thuộc, tụng niệm các kinh điển Đại Thừa. Vì sao chúng ta học kinh điển? Chính là vì muốn cứu vớt tất cả chúng sanh, những kẻ còn trầm luân mê muội, ra khỏi Tam Giới, đến được bờ giác ngộ ở bên kia.

Tuy lập thệ nguyện không thể nghĩ bàn như thế, nhưng đối với kinh điển Đại Thừa, họ đọc qua một lần cũng không nhớ được, đọc lại lần thứ hai cũng vẫn quên, cứ đọc rồi lại quên. “Đọc rồi liền quên, luôn sót mất” có nghĩa là học đâu quên đó, không thể nào nhớ được những chữ, những câu trong kinh điển; thậm chí nhìn vào kinh để đọc cũng đọc sai nữa, cho nên càng không thể nào học thuộc được.

“Người này nghiệp chướng khiến u mê,/ Học Đại Thừa kinh chẳng nhớ được.” Vì sao những người này gặp phải tình trạng như vậy? Bởi vì họ bị nghiệp chướng rất nặng nề ngăn che, khiến họ không thể nhớ được kinh điển. Đối với kinh điển Đại Thừa, họ làm cách nào cũng không thể học thuộc được. Vậy thì phải làm thế nào?

“Cúng dường Địa Tạng với hương hoa,/ Y phục, uống ăn, cùng ngoạn cụ.” Những người này nên dùng hương, hoa, đèn dầu, đèn cầy, trái cây, hoặc y phục còn mới, thực phẩm tươi tốt, cũng như các món đồ chơi để cúng dường Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Ngoài ra, họ cũng nên “bày chén nước trong trước Đại Sĩ,/ Cách một ngày sau bưng lấy uống.” Lại đem một chén nước sạch đặt trước tượng của Bồ Tát Địa Tạng, rồi trong suốt một ngày một đêm, quỳ trước tượng mà dập đầu đảnh lễ, sau đó mới bưng chén nước và quay mặt về hướng Nam mà uống cạn.

“Sanh lòng trân trọng, cữ ngũ tân.” Phải phát lòng ân cần, trân trọng, hết sức thiết tha thành khẩn, không được thờ ơ lơ đãng, và tuyệt đối không được ăn năm thứ hăng nồng là tỏi, hành, hẹ, kiệu, nén (hưng cừ). Ăn năm loại này thì trong miệng có mùi rất hôi hám, nên đối với việc tụng kinh và đối với Đức Phật đều là một sự bất kính, vì thế mà phải ngăn cấm.

“Rượu, thịt, tà dâm, cùng vọng ngữ.” Ngoài ra, cũng phải tuyệt đối cấm dùng rượu, thịt, cấm tà dâm và cấm nói dối; đó cũng chính là tuân thủ năm giới cấm—không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu.

“Hăm mốt ngày liền chớ sát sanh.” Trong ba tuần lễ, tức là hai mươi mốt ngày phải không được sát sanh, không được trộm cắp, không được tà dâm, không được nói dối, không được uống rượu.

“Chí tâm nhớ tưởng Đại Sĩ danh.” “Chí tâm” tức là không xen tạp niệm nào khác, chỉ thuần thành một lòng trì niệm danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng nhớ nghĩ về nguyện lực và việc làm của Ngài mà thôi.

“Trong mộng tất thấy thân vô biên.” Nếu có thể chí tâm thuần thành đến cực điểm thì trong giấc ngủ sẽ chiêm bao thấy được hình tượng, Pháp thân vô biên của Bồ Tát Địa Tạng.

“Thức giấc nhĩ căn liền lanh lợi,/ Đại Thừa kinh giáo nghe qua tai,/ Suốt ngàn vạn đời mãi chẳng quên.” Và đến lúc thức dậy thì sẽ được nhĩ căn lanh lợi, nhạy bén, điều gì cũng chỉ nghe một lần là nhớ mãi, vĩnh viễn không bao giờ quên. Các kinh giáo, kinh điển Đại Thừa, họ chỉ cần nghe qua một lần thì trong ngàn vạn đời còn không quên nghĩa lý hàm chứa trong kinh, huống chi là một đời?

“Chính nhờ Đại Sĩ bất tư nghì,/ Thầm giúp người kia được huệ tài.”
Những nhân duyên đã nói ở trước là do thần thông không thể nghĩ bàn, cảnh giới không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng mà có được. Ngài Địa Tạng có thần lực “cảm ứng Đạo giao”—có thể khiến cho người kém trí nhớ có được trí nhớ tốt, kẻ ngu si kém cỏi được trở thành thông minh lanh lợi.



Kinh văn:

“Chúng sanh nghèo khổ lại bệnh tật,

Nhà cửa hung suy, quyến thuộc lìa,

Ngủ mê mộng mị không an giấc,

Cầu chi cũng hỏng, chẳng toại lòng,

Chí tâm chiêm lễ tượng Địa Tạng,

Tất cả việc ác thảy tiêu trừ,

Cho đến mộng mị đều an ổn,

Quỷ thần ủng hộ, dư ăn mặc.

Muốn vào núi rừng, qua sông biển,

Cầm thú độc dữ cùng người ác,

Ác thần, ác quỷ, với ác phong,

Hết thảy tai nạn, mọi khổ não,

Chỉ cần chiêm lễ cùng cúng dường,

Địa Tạng Bồ Tát Đại Sĩ tượng,

Núi rừng biển cả dẫu có vào,

Tất cả sự ác đều tiêu sạch.

Quán Âm hãy lắng nghe Ta nói,

Địa Tạng vô tận không nghĩ bàn,

Trăm ngàn muôn kiếp chẳng kể xiết,

Rộng tuyên Đại Sĩ sức như vậy!

Như người nghe đến Địa Tạng danh,

Thậm chí thấy hình cùng chiêm lễ,

Hương hoa, thực phẩm, và y phục,

Cúng dường trăm ngàn hưởng diệu lạc.

Nếu đem hồi hướng khắp Pháp Giới,

Rốt ráo thành Phật, thoát sanh tử.

Vì thế, Quán Âm, ông hãy nên,

Bảo khắp Hằng sa các cõi nước!”



Lược giảng:

“Chúng sanh nghèo khổ lại bệnh tật,/ Nhà cửa hung suy, quyến thuộc lìa,/ Ngủ mê mộng mị không an giấc.”
Giả sử có những chúng sanh rất nghèo nàn khốn khổ, thường ốm đau bệnh hoạn, nhà cửa xảy ra nhiều tai họa, lắm việc không may, gia cảnh sa sút lụn bại, hoặc họ hàng thân thuộc bị chia lìa xa cách... khiến cho họ trong lúc ngủ cứ gặp toàn ác mộng, chiêm bao thấy những việc hung hiểm, đáng sợ.

“Cầu chi cũng hỏng, chẳng toại lòng.” “Toại lòng” tức là vừa lòng hợp ý, cầu chi được nấy. Có nhiều người bất luận phát thệ nguyện gì hoặc mong cầu điều gì, thì đều bị trái nghịch, không được toại nguyện, không được như ý mình mong đợi; thậm chí trong lúc nằm mộng mà cầu xin việc gì cũng bị trái với tâm nguyện của mình.

“Chí tâm chiêm lễ tượng Địa Tạng,/ Tất cả việc ác thảy tiêu trừ,/ Cho đến mộng mị đều an ổn.” Bất luận có vấn đề khó khăn nan giải gì, chỉ cần quý vị chí thành khẩn thiết, đến trước tượng Bồ Tát Địa Tạng mà cúi đầu đảnh lễ, thì mọi việc xấu, mọi điều ác, vô hình trung đều được tiêu tan; tất cả sẽ trở nên kiết tường, thuận lợi. Thậm chí trong giấc ngủ, mộng mị cũng đều bình an, tốt lành.

“Quỷ thần ủng hộ, dư ăn mặc.” Quý vị thường chiêm ngưỡng lễ lạy Bồ Tát Địa Tạng, thì hết thảy quỷ thần đều theo bảo vệ và khiến cho tất cả sự việc của quý vị đều được như ý tốt đẹp; y phục, vật thực đều được dồi dào, dư ăn dư mặc.

“Muốn vào núi rừng, qua sông biển,/ Cầm thú độc dữ cùng người ác.” Giả sử có những người phải dấn thân vào hiểm đạo như vào rừng sâu núi cao hoặc vượt qua biển cả gió to sóng lớn, nơi có người ác, giặc cướp hoặc rồng độc, thú dữ, hổ beo ... luôn rình rập.

“Ác thần, ác quỷ, với ác phong.” Đừng cho rằng các vị thần đều là thiện thần cả đâu! Thần cũng có thiện thần, ác thần, và quỷ cũng có thiện quỷ, ác quỷ. Ngay cả gió cũng có gió dữ—ác phong—tức là sóng gió do yêu ma quỷ quái gây nên.

“Hết thảy tai nạn, mọi khổ não,/ Chỉ cần chiêm lễ cùng cúng dường,/ Địa Tạng Bồ Tát Đại Sĩ tượng.” Trước khi phải đối diện với những tai nạn, những sự thống khổ như thế, quý vị nên chiêm lễ Bồ Tát Địa Tạng và cúng dường thánh tượng của Bồ Tát Địa Tạng, thì “núi rừng biển cả dẫu có vào,/ Tất cả sự ác đều tiêu sạch.” Bấy giờ, các ác nhân, ác thú, ác cầm ở chốn núi rừng cùng các ác long, ác quỷ, ác thần nơi biển cả—hết thảy sự ác đều sẽ bị tiêu diệt, bặt tăm bặt tích.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: “Quán Âm hãy lắng nghe Ta nói,/ Địa Tạng vô tận không nghĩ bàn,/ Trăm ngàn muôn kiếp chẳng kể xiết,/ Rộng tuyên Đại Sĩ sức như vậy! Này Bồ Tát Quán Thế Âm! Ông hãy chí tâm lắng nghe Ta nói đây: Oai thần nguyện lực và hết thảy mọi thứ của Bồ Tát Địa Tạng đều là bất khả tư nghị—không thể suy lường, không thể bàn luận. Chớ bảo rằng Ta tuyên nói trong một thời gian ngắn ngủi như thế, cho dù có nói suốt cả thời gian dài bằng cả trăm ngàn vạn ức kiếp đi chăng nữa, cũng chẳng thể nào nói cho xiết được.”

“Như người nghe đến Địa Tạng danh,/ Thậm chí thấy hình cùng chiêm lễ,/ Hương hoa, thực phẩm, và y phục.” Nếu có người nghe đến danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc không chỉ nghe danh mà còn thấy tượng của Bồ Tát Địa Tạng nữa, họăc là đối trước tượng của Bồ Tát Địa Tạng mà chiêm ngưỡng lễ bái, dùng đủ thứ hương, hoa, y phục, đồ ăn thức uống, để cúng dường, thì “cúng dường trăm ngàn hưởng diệu lạc.” Bởi cúng dường Bồ Tát Địa Tạng thì thù thắng hơn cúng dường các Bồ Tát khác gấp trăm ngàn vạn ức lần, cho nên trong tương lai nhất định sẽ được hưởng sự diệu lạc thù thắng.

“Nếu đem hồi hướng khắp Pháp Giới,/ Rốt ráo thành Phật, thoát sanh tử.” Nếu quý vị có thể đem công đức có được từ sự cúng dường Bồ Tát Địa Tạng, lễ bái Bồ Tát Địa Tạng, hoặc xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, mà hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong Pháp Giới, thì tương lai quý vị nhất định sẽ thành Phật, liễu sanh thoát tử.

“Vì thế, Quán Âm, ông hãy nên,/ Bảo khắp Hằng sa các cõi nước!
Thế nên, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Ông cần phải biết rằng ông nên đi tuyên nói công đức thần thông diệu dụng của Bồ Tát Địa Tạng, phổ cáo cho khắp chúng sanh trong hằng hà sa số cõi nước được biết rõ. Thay thế Bồ Tát Địa Tạng hoằng dương nguyện lực của ông ấy, đó chính là việc mà ông cần phải làm vậy!”


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 13 Aug 2016, 6:39 PM | Message # 60
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Phẩm Thứ Mười Ba

GIAO PHÓ CHO TRỜI NGƯỜI


Đây là phẩm Giao Phó Cho Trời Người (Chúc Lụy Nhân Thiên), phẩm thứ mười ba và cũng là phẩm cuối cùng của bộ Kinh Địa Tạng.

Thế nào gọi là “chúc”? “Chúc” là chúc phó, có nghĩa là giao phó, ủy thác cho; “lụy” là lao lụy, tức là khó nhọc, mệt nhọc. “Chúc lụy nhân thiên” có nghĩa là phó thác cho loài người ở nhân gian và thiên nhân trên cõi trời công việc hoằng dương Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, làm cho bộ kinh này được truyền bá rộng rãi, khiến tất cả chúng sanh đều được thấm nhuần những lợi ích của pháp môn này.

Kinh văn:

Lúc đó, Đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát mà bảo rằng: “Này Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn, biện tài của ông không thể nghĩ bàn. Dầu cho chư Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự không nghĩ bàncủa ông, trong ngàn vạn kiếp cũng chẳng nói hết được.

Này Địa Tạng! Địa Tạng! Ông hãy nhớ hôm nay Ta, trong cung trời Đao Lợi, nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, cùng Thiên Long Bát Bộ, một lần nữa đem các chúng sanh trong cõi trời, người, những kẻ còn ở trong nhà lửa, chưa ra khỏi Tam Giới, mà giao phó cho ông.

Ông đừng để cho các chúng sanh đó bị đọa vào đường ác dù là một ngày một đêm, huống là để cho họ phải đọa lạc vào địa ngục Ngũ Vô Gián cùng địa ngục A-tỳ, trải đến ngàn vạn ức kiếp không lúc nào ra khỏi!

Này Địa Tạng! Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này chí tánh không định, kẻ quen theo thói ác thì nhiều.”

Lược giảng:

Lúc đó, Đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát mà bảo rằng...”


Trong Phật Giáo, xoa đảnh là một cử chỉ biểu lộ lòng từ bi ái hộ. Ở phẩm trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã xoa đảnh Bồ Tát Địa Tạng rồi, bây giờ Đức Phật lại đặc biệt xoa đảnh vị Đại Bồ Tát này thêm một lần nữa, rồi nói rằng: “Này Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông khó thể nghĩ bàn.” Thần thông của ông, năng lực của ông, thật không có vị Bồ Tát nào có thể sánh bằng! Sức thần thông này vốn chẳng thể suy lường, chẳng thể luận bàn—có thể nói rằng trội hơn tất cả và là một sự đặc biệt trong những sự đặc biệt—thần lực của Bồ Tát Địa Tạng thật chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được!

“Đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn.” Lòng từ bi của Bồ Tát Địa Tạng đối với chúng sanh cũng chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được. Ngài từng phát nguyện rằng:

“Địa ngục chưa trống không, tôi thề chưa thành Phật,

Chúng sanh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ Đề.”

Tâm lượng đại từ đại bi bao la như thế rất hiếm có. Các vị Bồ Tát khác, không có vị nào phát đại nguyện lực lớn lao dường ấy, chỉ có Bồ Tát Địa Tạng mới có nguyện lực đại từ đại bi như vậy.

“Trí huệ của ông không thể nghĩ bàn.” Trí huệ rộng lớn của Bồ Tát Địa Tạng cũng rất ít Bồ Tát có thể sánh kịp—cho đến đại trí đại huệ của Ngài cũng chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được.

“Biện tài của ông không thể nghĩ bàn.” Có bốn loại biện tài vô ngại là Từ vô ngại biện, Nghĩa vô ngại biện, Nhạo thuyết vô ngại biện, và Pháp vô ngại biện. Tài biện luận không hề bị trở ngại của Bồ Tát Địa Tạng cũng chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được.

“Dầu cho chư Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự không nghĩ bàncủa ông, trong ngàn vạn kiếp cũng chẳng nói hết được!” Giả sử có thỉnh mời chư Phật trong khắp mười phương ngợi khen những kỳ tích bất khả tư nghị cũng như những sự vi diệu về thần lực, đức từ bi, trí huệ, cùng biện tài của Bồ Tát Địa Tạng, thì cho dù trải qua một ngàn đại kiếp, một vạn đại kiếp cũng không thể nào kể cho xiết, nói cho cùng được!

“Này Địa Tạng! Địa Tạng! Ông hãy nhớ hôm nay Ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, trong cung trời Đao Lợi, nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, cùng Thiên Long Bát Bộ—trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, cùng nhân và phi nhân, một lần nữa đem các chúng sanh trong cõi trời, người—những chúng sanh ở cõi người và những chúng sanh trên cõi trời, những kẻ còn ở trong nhà lửa, chưa ra khỏi Tam Giới—Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, mà giao phó cho ông. Ta nay phó thác, gởi gắm những chúng sanh này cho ông!”

Vậy, “ông đừng để cho các chúng sanh đó bị đọa vào đường ác dù là một ngày một đêm, huống là để cho họ phải đọa lạc vào địa ngục Ngũ Vô Gián cùng địa ngục A-tỳ, trải đến ngàn vạn ức kiếp không lúc nào ra khỏi! Ông cần phải bảo hộ tất cả những chúng sanh đó, làm cho họ không bị đọa lạc vào ác đạo.”

“A-tỳ” cũng gọi là “vô gián”; địa ngục Đại A-Tỳ chính là địa ngục Đại Vô Gián.

Quý vị nên biết, một ngày một đêm ở cõi trời Tứ Thiên Vương dài bằng năm mươi năm ở cõi nhân gian của chúng ta; còn một ngày một đêm ở cõi nhân gian chúng ta thì dài bằng năm trăm năm ở chốn địa ngục. Tại sao như vậy? Bởi vì đời sống ở cõi trời vô cùng vui sướng, mà khi vui vẻ sung sướng thì người ta cảm thấy thời giờ trôi qua rất nhanh! Ở cõi nhân gian vì có khổ não, cho nên năm mươi năm của chúng ta là một thời gian rất dài, song đó chẳng qua chỉ bằng một ngày một đêm trên cõi trời mà thôi.

Lại nữa, một ngày một đêm ở cõi nhân gian của chúng ta thì tương đương với năm trăm năm ở chốn địa ngục. Nếu so với cõi nhân gian thì ở địa ngục còn thống khổ hơn nhiều, mà khi phải chịu thống khổ thì người ta cảm thấy thời giờ trôi qua rất chậm chạp. Như khi chúng ta phải làm một việc gì đó chẳng hạn, nếu trong lòng cứ đắn đo, phiền muộn, thì sẽ thấy ngày dài lê thê; còn nếu tâm trí thơ thới, vui vẻ, thì lại thấy thời giờ trôi qua vùn vụt, hết một ngày lúc nào không hay!

Sau khi căn dặn Bồ Tát Địa Tạng chớ để cho các chúng sanh đó bị đọa vào địa ngục Vô Gián dù chỉ trong một ngày một đêm, huống hồ là vĩnh viễn không có ngày được thoát ra, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi: “Này Địa Tạng! Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này chí tánh không định, kẻ quen theo thói ác thì nhiều.”

Chí khí và tâm tánh của tất cả chúng sanh ở thế giới “kham nhẫn,” tức cõi Ta Bà ở Nam Thiệm Bộ Châu, đều không được an định, có lúc họ tin có lúc họ lại không tin, cứ luôn thay đổi. Đã thế, đa số lại tiêm nhiễm nhiều thói ác. Ví dụ có nhiều người, nếu quý vị mời họ đến nghe kinh, thì họ lại có vẻ không thích, không hăng hái lắm; đặc biệt là họ còn lo sợ rằng nghe kinh rồi thì bao nhiêu tội ác của họ sẽ biến mất hết!!! Vì sao ư? Đó là vì họ đã quen làm điều ác, lại còn tìm cách che đậy tội lỗi của mình, không muốn sửa đổi, chẳng chịu hối cải.

Ví dụ trò cờ bạc, nhiều người chẳng cần phải có ai bày vẽ cho cả, chỉ đến sòng bài nhìn lướt qua một lượt là tự nhiên biết cách bấm máy, thắng hay thua, được hay mất, thì từ từ tự rút kinh nghiệm. Những người thường đến các sòng bài ở Reno, Las Vegas, đều rất thông minh—họ chỉ nhìn thoáng qua là biết cách chơi ngay, chẳng cần ai chỉ dẫn mà vẫn rất thành thạo. Tuy nhiên, nếu quý vị bảo họ học điều hay lẽ phải, thì dù có tận tâm dạy dỗ đến thế nào đi nữa, họ cũng không lãnh hội được; cho nên nói “kẻ theo thói ác thì nhiều.”

Đức Phật đã sớm biết rõ mọi thói hư tật xấu của chúng sanh chúng ta; nhìn chúng sanh chúng ta, Ngài thấu rõ được đến tận xương tủy, biết được những gì đang tiềm ẩn trong tận cùng tâm tánh của chúng ta!

Kinh văn:

“Dầu phát thiện tâm nhưng chốc lát liền thối thất; nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng. Vì thế cho nên, Ta phải phân thân này ra làm trăm ngàn ức để hóa độ, tùy theo căn tánh mà độ thoát cho họ.”

Lược giảng:

“Dầu phát thiện tâm nhưng chốc lát liền thối thất.”
“Chốc lát” là khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi—chỉ trong một thoáng là liền thối thất thiện tâm, không còn gì cả.

Có nhiều người phát tâm làm việc thiện nhưng chẳng được bao lâu lại hối tiếc: “Ôi! Tôi bố thí nhiều như vậy, chẳng biết có được đền bù cái gì không?” Như vua Lương Võ Đế cũng đã từng thắc mắc: “Tôi cất biết bao nhiêu là cảnh chùa, giúp độ được biết bao nhiêu là Tăng sĩ, lại từng bố thí cúng dường nhiều vô số kể; vậy chẳng hay công đức của tôi to lớn đến cỡ nào? Chẳng hay tôi có được công đức hay chăng?” Và sau đó thì nhà vua lại sanh lòng thối chuyển.

“Nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng.” “Ác duyên” tức là duyên bất tịnh, mà duyên bất tịnh lại chính là nhân duyên đọa lạc! Phàm quý vị gây ra những nhân duyên đọa lạc thì đều được xem như là gây tạo ác duyên, chẳng hạn như làm những việc ngu xuẩn, khởi lòng sân hận, hoặc sanh lòng tham vậy. Nếu quý vị có tâm tham dục thì sẽ tham tài, tham sắc; có tâm sân hận thì sẽ muốn giết người, đốt nhà; có tâm ngu si thì sẽ muốn đạt được những điều không thể đạt được. Đó đều là những ác duyên. Một khi gặp phải ác duyên thì thói ác mỗi niệm mỗi tăng trưởng—cái niệm xấu ác, cái tâm xấu ác mỗi lúc mỗi lớn mạnh hơn.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Vì thế cho nên, Ta phải phân thân này ra làm trăm ngàn ức để hóa độ. Bởi chúng sanh khó độ như vậy, dầu họ có phát thiện tâm đi nữa thì cũng chỉ trong khoảnh khắc là liền thối thất, nếu lại gặp ác duyên thì tâm ác càng lúc càng tăng trưởng; cho nên Ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, phải phân chia thân hình của Ta, dùng trăm ngàn vạn ức pháp môn phương tiện để giáo hóa chúng sanh, tùy theo căn tánh mà độ thoát cho họ, khiến cho tất cả đều được ly khổ đắc lạc.”

Kinh văn:

“Này Địa Tạng! Nay Ta ân cần đem chúng trời, người giao phó cho ông. Vào đời vị lai, nếu có hàng trời, người cùng thiện nam thiện nữ nào, ở trong Phật Pháp mà trồng chút thiện căn chừng bằng một mảy lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước, thì ông nên dùng Đạo lực mà ủng hộ người đó, làm cho lần lần tu Đạo Vô Thượng, chớ để thối thất.”

Lược giảng:


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói: “Này Địa Tạng! Nay Ta ân cần đem chúng trời, người giao phó cho ông. Ta kỳ vọng rất lớn nơi ông. Ta đem hết thảy chúng sanh trên cõi trời và ở cõi nhân gian mà phó thác, gởi gắm cho ông.”

“Vào đời vị lai, nếu có hàng trời, người cùng thiện nam thiện nữ nào ...” “Đời vị lai” tức là chỉ cho thế hệ chúng ta, bao gồm tất cả quý vị và tôi hiện nay. Đương thời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni “ký hiệp ước,” phó thác chúng sanh cho Bồ Tát Địa Tạng; trong số các chúng sanh đó thì có cả quý vị và tôi nữa, bởi Đức Phật có nói là các “thiện nam thiện nữ”!

Quý vị đều là những “thiện nam tử, thiện nữ nhân,” mà tôi cũng là một trong những “thiện nam tử, thiện nữ nhân”; chúng ta tuyệt đối không phải là các “ác nam tử, ác nữ nhân”! “Ác nam tử, ác nữ nhân” thì không thể nào ngồi yên ở đây được; bởi nếu đến đây, họ sẽ ngồi trên ghế nệm êm ái mà cứ thấy xốn xang như ngồi trên bàn đinh, chỉ chực nhổm dậy bỏ chạy. Còn quý vị là những “thiện nam tử, thiện nữ nhân,” hễ đến được chốn này thì ngồi xuống rồi là không muốn bỏ đi nữa, càng nghe giảng càng thấy thích thú, càng thấy thấm thía, có ý nghĩa, cho nên chẳng muốn ra về.

“Ở trong Phật Pháp mà trồng chút thiện căn ...” Quý vị xem, chúng ta có hy vọng rồi đó! Tất cả chúng ta đều không nên lo lắng bởi vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Địa Tạng đã “ký hiệp ước” với nhau rồi, đã “bàn giao” hết sức rõ ràng rồi! Đức Phật nói rằng: “Trong Phật Pháp, nếu có kẻ nào chỉ cần trồng một chút căn lành, chừng bằng một mảy lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước, thì ông—Bồ Tát Địa Tạng—nên dùng Đạo lực mà ủng hộ người đó. Tuy rằng việc thiện mà họ làm được còn ít ỏi, nhưng đều phát xuất từ thiện tâm, ông phải dùng Đạo nhãn để quán sát, vận dụng Đạo lực—thần thông, thần lực, đức từ bi, trí huệ, biện tài—của mình để bảo vệ ủng hộ những người mới trồng được đôi chút thiện căn này, làm cho lần lần tu Đạo Vô Thượng, chớ để thối thất. Ông phải khiến cho họ mỗi ngày mỗi tu nhiều thêm một chút, mỗi ngày mỗi hiểu rõ về Đạo Vô Thượng hơn một chút, đừng để cho họ thối thất tâm Bồ Đề.”

Có người hoài nghi: “Trong kinh nói rằng mặc dù trồng ít căn lành như vậy mà vẫn được Bồ Tát Địa Tạng ủng hộ; song chúng con làm rất nhiều việc thiện mà sao lại không thấy có được sự ủng hộ của Ngài? Vì sao chúng con chưa thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát đến ủng hộ mình?”

Quý vị chưa thấy Bồ Tát Địa Tạng ủng hộ quý vị ư? Quý vị có biết được không? Quý vị thử nghĩ lại xem, quý vị có từng bị xe đụng đáng lẽ phải chết, thế mà quý vị chỉ bị thương xoàng thôi chứ không nguy đến tánh mạng? Đó chính là nhờ Bồ Tát Địa Tạng âm thầm che chở cho quý vị vậy! Hoặc là quý vị có lúc đang đau nặng thì bỗng dưng được thuyên giảm, bình phục; nếu không phải nhờ Bồ Tát Địa Tạng che chở thì quý vị có thể có được sự cảm ứng như thế chăng?

Lại có người nói: “Con chưa hề bị xe đụng, cũng chẳng hề đau ốm, thế thì Bồ Tát Địa Tạng không che chở cho con sao?” Ồ! Thế ông còn nhớ không, có một lần ông đi biển, thuyền chòng chành cơ hồ sắp lật úp vậy, nhưng Bồ Tát Địa Tạng đã phù hộ ông, khiến thuyền không bị lật, có điều là ông không hay không biết gì cả đó thôi!

Lại có người nói: “Con chưa hề đi thuyền!” Thì ông có đi máy bay rồi, và máy bay chẳng gặp rủi ro—đó cũng là nhờ được sự bảo hộ của Bồ Tát Địa Tạng đấy!

Lại cũng có nhiều người ngồi trên máy bay mà cứ nơm nớp lo sợ: “Chẳng biết máy bay có bị rớt hay không? Bay cao đến thế kia!” Tại sao họ sợ? Đó là do trong quá khứ họ đã gây tạo nghiệp chướng quá nặng nề, cho nên bây giờ sợ rằng nghiệp chướng này sẽ hại mình bị đọa thêm, vì thế mới sanh lòng sợ hãi. May thay, họ đã học Phật Pháp, cho nên phi cơ không bị rớt!

Có người lại nói: “Tôi không sợ gì cả!” Ông không sợ gì cả ư? Đó là nhờ Bồ Tát Địa Tạng phù hộ và ban cho ông lòng can đảm đấy!

Trên đây là một vài trường hợp điển hình về sự linh cảm của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Bất luận quý vị là ai, tất cả quý vị đều nên tin tưởng Địa Tạng Vương Bồ Tát bởi vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Ngài đã “ký hiệp ước” tại cung trời Đao Lợi—Ngài sẽ bảo hộ quý vị, tôi và tất cả chúng sanh đời hiện tại, bởi vì đó là trách nhiệm của Ngài, quý vị không thể không tin tưởng!

Kinh văn:

“Lại nữa, này Địa Tạng! Trong đời vị lai, hoặc trời hoặc người, phải tùy theo nghiệp mà thọ báo ứng, đọa lạc vào ác đạo; lúc sắp bị đọa ác đạo hoặc vừa đến ngưỡng cửa, những chúng sanh đó nếu có thể niệm được danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kinh một bài kệ của kinh điển Đại Thừa, thì ông hãy dùng thần lực, phương tiện để cứu vớt các chúng sanh đó; ở chỗ của các người đó hiện thân vô biên, vì họ mà phá tan địa ngục, làm cho họ được sanh thiên, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng...

Lược giảng:

“Lại nữa, này Địa Tạng!
Ta lại bảo thêm cho ông rõ một đôi điều nữa. Trong đời vị lai, hoặc trời hoặc người, phải tùy theo nghiệp mà thọ báo ứng, đọa lạc vào ác đạo; lúc sắp bị đọa ác đạo hoặc vừa đến ngưỡng cửa ...”

Giả sử vào đời sau, có những thiên nhân trên cõi trời hoặc những người ở cõi nhân gian, vì nghiệp chướng mình trót gây tạo nên phải chịu quả báo bị đọa vào ba đường ác, thì ngay khi họ sắp sửa đọa lạc trong đường ác hoặc vừa đến trước cửa địa ngục, “những chúng sanh đó nếu có thể niệm được danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kinh một bài kệ của kinh điển Đại Thừa, thì ông hãy dùng thần lực, phương tiện để cứu vớt các chúng sanh đó. Ông hãy vận dụng sức thần thông của mình đồng thời khéo dùng các quyền xảo phương tiện để cứu độ họ.”

Đồng thời, “ở chỗ của các người đó hiện thân vô biên. Ngay tại nơi mà những người đó đang cư ngụ, ông hãy hiển bày thân vô biên, thị hiện thần thông với đại oai thần, đại oai đức vô biên của mình. Ông hãy vì họ mà phá tan địa ngục, làm cho họ được sanh thiên. Ông hãy vung tích trượng, mở toang cửa địa ngục, phóng thích loài ngạ quỷ, khiến những chúng sanh đang chịu tội khổ đều được sinh về cõi trời, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng... Lúc đó, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng kệ tụng để trùng tuyên lại nghĩa trên như sau:

Kinh văn:

“Hiện tại, vị lai chúng thiên, nhân,

Nay Ta ân cần dặn bảo ông:

Dùng đại thần thông phương tiện độ,

Chớ để đọa vào các ác đạo.”

Bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát quỳ gối, chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin Đức Thế Tôn chớ lo! Trong đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với trong Phật Pháp mà có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm ngàn phương tiện để độ thoát người đó, làm cho mau được giải thoát trong đường sanh tử; huống nữa là nghe các thiện sự rồi niệm niệm tu hành, thì sẽ tự nhiên ở nơi Đạo Vô Thượng vĩnh viễn được không còn thối chuyển.”

Lược giảng:

Lúc bấy giờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói kệ rằng: “Hiện tại, vị lai chúng thiên, nhân,/ Nay Ta ân cần dặn bảo ông. Ta hiện nay, với lòng hy vọng to lớn nhất, rất ân cần, rất trịnh trọng giao phó cho ông một việc—Ta đem tất cả thiên nhân trên cõi trời, loài người ở nhân gian, cùng hết thảy chúng sanh trong đời hiện tại và vị lai, mà phó thác cho ông, Bồ Tát Địa Tạng.”

“Dùng đại thần thông phương tiện độ,/ Chớ để đọa vào các ác đạo. Ông hãy dùng sức thần thông vĩ đại nhất của mình, đồng thời khéo léo vận dụng các quyền xảo phương tiện, ngõ hầu có thể độ thoát hết thảy các chúng sanh đó; đừng để cho họ bị đọa lạc trong các đường ác của A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.”

Lúc ấy, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát quỳ gối ...
Đây là một vị Đại Bồ Tát trong hàng Bồ Tát, là một vị Bồ Tát xuất chúng—Ngài có đại thần thông, đại từ bi, đại trí huệ, đại biện tài. “Đại” ở đây cũng chính là “không thể nghĩ bàn”; mà “không thể nghĩ bàn” cũng chỉ vì Ngài quá vĩ đại.

Vậy, lúc bấy giờ, vị Đại Bồ Tát này quỳ xuống trước mặt Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ba nghiệp thân khẩu ý đều thanh tịnh, chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin Đức Thế Tôn chớ lo! Con nay chỉ mong muốn Đức Thế Tôn đừng lo nghĩ, đừng bận tâm về các chúng sanh nữa. Xin hãy để cho con lo liệu cho các chúng sanh đó, con sẽ đảm đương tất cả. Con sẽ độ cho hết thảy chúng sanh đều được thành Phật; cho nên, con cúi xin Đức Phật hãy an tâm, đừng lo lắng về các chúng sanh hậu thế nữa!”

Địa Tạng Vương Bồ Tát bạch tiếp: “Trong đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, bất luận là chúng sanh nào ở địa phương nào hoặc quốc gia nào vào đời sau, đối với trong Phật Pháp có một niệm cung kính—chỉ cần chắp tay, hoặc khi thấy tượng Phật thì khẽ cúi đầu, vái một vái, con cũng dùng trăm ngàn phương tiện để độ thoát người đó, từ từ dẫn dắt khiến cho người đó được ly khổ đắc lạc, làm cho mau được giải thoát trong đường sanh tử, không còn phải chịu nhiều thống khổ nữa.”

Chúng ta mỗi người đều nên tự hỏi chính mình: Trong đời này kiếp này, mình sanh ra ở cõi đời này, rốt ráo là để làm gì, vì cái gì? Mình cần phải làm những việc gì? Phải chăng mình đến thế giới này là để sống buông thả, sống lây lất, ăn no chờ chết, cứ ăn rồi ngủ, ngủ rồi lại ăn, ăn ngủ chán chê rồi thì chờ chết? Phải chăng ngày ngày mình đi làm kiếm tiền chỉ vì hai bữa cơm, dăm bộ quần áo? Có phải mình sống là vì những chuyện như thế không?

Nếu quý vị vì những chuyện đó mà sống thì hãy mau mau chết phứt đi cho xong, cho đỡ phiền phức! Bởi như thế thì sống ở thế gian này có ý nghĩa gì chứ? Ăn rồi ngủ, ngủ rồi ăn—cứ thế cho đến già đến chết, thì quả thật là một cuộc sống không có ý nghĩa gì cả! Nói “không có ý nghĩa” là bởi quý vị vì những vấn đề nhỏ nhặt như học thói lường gạt người khác để kiếm chút tiền, hầu duy trì cuộc sống của bản thân, mà đến thế giới này. Nếu chỉ đơn thuần vì các vấn đề nhỏ nhặt—cái ăn, cái mặc, nơi ăn chốn ở—mà lây lất sống ở thế gian này, thì thà là mau mau chết đi còn hơn! Chỉ vì để sinh tồn mà trên thế giới này mọi người đều tất tả bon chen, đầu tắt mặt tối; và do đó mà có rất nhiều phiền não, rất nhiều vấn đề nảy sanh. Những vấn đề này thì khổ não nhiều hơn là vui sướng, khốn khó nhiều hơn an nhàn, cho nên chi bằng chết phứt cho xong!

Thế thì, loài người chúng ta đến thế gian này để làm gì? Chúng ta đến thế gian này là để “tiên giác, giác hậu giác,” tức là đem các đạo lý mà mình đã hiểu được giảng giải lại cho những người chưa hiểu, để ai nấy đều được hiểu rõ; bởi nếu người người đều hiểu rõ đạo lý tu hành, thì sẽ không đến nỗi còn nhiều phiền não như thế. Do đó, đây là nghĩa vụ chân chánh của chúng ta.

Lại nữa, chúng ta đến thế giới này, thì cũng nên “hữu công ư thế,” đóng góp chút công sức với đời; đồng thời cũng cần phải “hữu đức ư dân,” phải có đức hạnh, phải mang lại lợi ích cho mọi người. Phải chính mình làm lợi cho người, chứ đừng đòi hỏi người khác làm lợi cho mình. Chớ nên chỉ biết chờ người ta đến giúp đỡ mình, mà chính mình phải biết giúp đỡ mọi người. Đừng cho rằng để người khác làm giúp thì mình đỡ mệt, và như thế là có lợi cho mình; kỳ thật, đó là bị hố to!

Quý vị giúp đỡ người khác, tức là làm việc tốt. Chúng ta nên làm những việc tốt, có ích cho thiên hạ, thậm chí lợi ích cho cả thiên hạ trong muôn đời sau nữa. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni toàn làm lợi lạc cho hết thảy chúng sanh chúng ta, và lịch đại Tổ Sư cùng chư Đại Bồ Tát cũng vậy—tất cả các ngài đều vì lợi ích của chúng sanh.

Chúng ta muốn học Phật Pháp thì nên học theo gương của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng như của chư Tổ Sư cùng chư Đại Bồ Tát. Đừng xem Phật Pháp như những lời nói suông, đưa đãi ngoài cửa miệng; mà nhất định phải làm cho tất cả mọi người đều hiểu rõ Phật Pháp, khiến cho ai nấy đều mau chóng được giải thoát—đây là việc quan trọng nhất!

“Huống nữa là nghe các thiện sự rồi niệm niệm tu hành.” Ví dụ quý vị nghe nói có người muốn in kinh thì trong lòng vô cùng hoan hỷ: “A! In kinh à? Tôi muốn góp in năm ngàn bộ. Để tôi bao tiền in luôn cho!” Hoặc lại nghe có người muốn tu bổ chùa chiền thì liền sốt sắng hưởng ứng: “Tôi sẽ đến làm công quả. Tôi thì không có tiền, song ai có tiền thì xuất tiền, ai có sức thì góp sức; tôi có thể làm những việc nặng nhọc.”

Hôm nay có người nói rằng anh ta dự tính sang năm nhất định sẽ giúp xây một ngôi chùa. Có được một người phát tâm như thế rồi, nếu có thêm mười người rồi hàng ngàn hàng vạn người đều phát tâm góp phần, thì việc cất chùa sẽ mau chóng hoàn thành. Đây là việc lợi ích cho mọi người.

“Niệm niệm tu hành” tức là trong từng niệm một đều không quên tu hành, luôn luôn tu hạnh thanh tịnh; chứ không phải là niệm niệm muốn đi tạo nghiệp chướng!

“Thì sẽ tự nhiên ở nơi Đạo Vô Thượng vĩnh viễn được không còn thối chuyển.” Nếu người thiện nam cùng kẻ thiện nữ đó nghe các việc lành rồi luôn luôn tu hành, thì tự nhiên họ sẽ không bao giờ còn thối chuyển đối với đạo quả Bồ Đề vô thượng.

Kinh văn:

Lúc nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Con đến cung trời Đao Lợi nghe Đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng. Trong đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng trời, rồng, nghe kinh điển này cùng danh tự của Ngài Địa Tạng, hoặc chiêm lễ hình tượng, thì sẽ được bao nhiêu điều phước lợi? Cúi mong Đức Thế Tôn vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà lược nói việc ấy cho.”

Lược giảng:

Lúc nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng...


Đây là vị Bồ Tát mà trên đỉnh đầu có một bảo tạng—đó là một viên ngọc Như Ý; với viên ngọc Như Ý này, người ta có thể muốn cái gì thì được cái nấy. Bởi viên ngọc này ở trên đầu của Bồ Tát, cho nên Ngài được gọi là Bồ Tát Hư Không Tạng. Quý vị có nhận ra Ngài không? Vị Bồ Tát mà trên đầu có đính một viên ngọc quý—viên ngọc “tùy tâm như ý”—chính là Bồ Tát Hư Không Tạng. Đó là biểu thị rằng các bảo bối của Ngài đều ở trong hư không, được tồn giữ trong hư không. Nếu quen biết được vị Bồ Tát này, tôi tin rằng quý vị chắc chắn sẽ không bao giờ bị nghèo túng nữa. Tại sao ư? Vì vị Bồ Tát này sẽ đem các bảo vật trong “hư không tạng” tặng cho quý vị, và như thế đời đời kiếp kiếp quý vị sẽ không thể nào dùng cho hết được!

Vậy, lúc Bồ Tát Địa Tạng vừa dứt lời thì trong đại hội ở cung trời Đao Lợi có Bồ Tát Hư Không Tạng bước ra và bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Con đến cung trời Đao Lợi nghe Đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng. Từ cõi nước của mình, con vượt qua có đến tám vạn ức cõi nước để đến dự Pháp Hội tại cung trời Đao Lợi này. Con được nghe Đức Thế Tôn tấm tắc ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng về oai đức thần thông cùng thế lực lớn lao chẳng thể nghĩ bàn. Đây là điều mà từ trước đến nay con chưa từng được nghe qua.”

Bồ Tát Hư Không Tạng bạch tiếp: “Trong đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng trời, rồng, hoặc hết thảy tám bộ quỷ thần, nghe kinh điển này—Kinh Địa Tạng—cùng danh tự của Ngài Địa Tạng, hoặc chiêm lễ hình tượng, thành kính chiêm ngưỡng và lễ bái hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, thì sẽ được bao nhiêu điều phước lợi, bao nhiêu loại phước báo, bao nhiêu sự lợi ích? Cúi mong Đức Thế Tôn vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà lược nói việc ấy cho. Con nay thỉnh cầu Đức Thế Tôn, xin Ngài hãy vì hết thảy chúng sanh đời hiện tại và đời vị lai mà nói sơ qua cho chúng con được rõ.”

Kinh văn:

Đức Phật bảo Bồ Tát Hư Không Tạng: “Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông mà nói rõ. Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào trông thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe Kinh này, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn thức uống, y phục, châu báu, mà bố thí cúng dường, ngợi khen chiêm lễ, thì sẽ được hai mươi tám điều lợi ích.”

Lược giảng:

Đức Phật bảo Bồ Tát Hư Không Tạng: “Lắng nghe! Lắng nghe!”
Đây là biểu thị của sự phải đặc biệt chú ý.

Vậy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Hư Không Tạng rằng: “Ông hãy thận trọng mà lắng nghe cho kỹ! Hãy chú ý lắng nghe! Ta sẽ vì ông mà nói rõ. Ta sẽ vì các ông mà phân biệt giảng nói. Nay Ta sẽ nói cho ông rõ, nếu ông chẳng chú ý lắng nghe thì Ta sẽ không nói nữa. Ta sẽ giảng giải cặn kẽ, nhưng nếu ông chẳng chịu lắng nghe, thì nào có ích lợi gì?”

Cũng như hiện tại tôi đang giảng kinh ở đây vậy—quý vị cần phải chăm chú lắng nghe! Chú ý lắng nghe! Nếu chẳng lắng nghe, cứ ngồi ngủ gà ngủ gật, tôi giảng những gì quý vị đều không nghe thấy, thì chẳng khác nào tôi không giảng gì cả! Cho nên, yêu cầu đầu tiên của tôi đối với quý vị là đừng ngủ gật, đừng hôn trầm!

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: “Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào trông thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe kinh này—Kinh Địa Tạng, cho đến đọc tụng bộ Kinh Địa Tạng này ...” Nhìn ngắm tượng của Bồ Tát Địa Tạng tức là biểu thị sự thành khẩn của căn mắt (nhãn căn), sự thành khẩn được biểu lộ bằng mắt. Nghe Kinh Địa tạng tức là tỏ sự thành khẩn của căn tai (nhĩ căn); đọc tụng là tỏ sự thành khẩn của căn lưỡi (thiệt căn).

“Dùng hương hoa, đồ ăn thức uống, y phục, châu báu ...” Cúng dường hương hoa là biểu thị sự thành khẩn của căn mũi (tỷ căn); cúng dường các thức ăn uống cũng thuộc về sự thành khẩn của căn lưỡi; cúng dường y phục, đồ vật quý báu là sự thành khẩn của căn thân (thân căn).

“Mà bố thí cúng dường, ngợi khen chiêm lễ, thì sẽ được hai mươi tám điều lợi ích.” Sự “bố thí cúng dường, ngợi khen chiêm lễ” từ mắt, tai, mũi, lưỡi và thân là thuộc về sự thành khẩn của căn ý (ý căn). Do sự thành khẩn của sáu căn này hợp lại mà chúng ta có được hai mươi tám điều lợi ích. Hai mươi tám điều lợi ích đó là gì?

Kinh văn:

“Một là thiên long thường hộ niệm;

Hai là thiện quả ngày càng tăng;

Ba là tích tập các nhân thánh thượng;

Bốn là tâm Bồ Đề không thối chuyển;

Năm là y phục, thực phẩm đầy đủ;

Sáu là dịch bệnh không đến nơi thân;

Bảy là xa lìa các tai nạn về nước và lửa;

Tám là không bị tai ách trộm cướp;

Chín là người khác thấy đều cung kính;

Mười là quỷ thần đều hộ trì.”

Lược giảng:

“Một là thiên long thường hộ niệm.”
Khi quý vị tụng Kinh Địa Tạng thì loài rồng từ trên trời, và luôn cả loài A-tu-la trên cõi trời, cũng đến bảo hộ quý vị. Loài A-tu-la ở cõi trời tuy có phước trời (thiên phước) song không có quyền hành như một vị trời, và họ cũng phát nguyện muốn đến bảo hộ, che chở người tụng kinh.

Ngoài ra, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, Ma-hầu-la-già ... cũng đều đến để che chở những người tụng Kinh Địa Tạng. Càn-thát-bà là thần âm nhạc (nhạc thần), có nhiệm vụ tấu nhạc cho Ngọc Hoàng Đại Đế nghe, và còn được gọi là “thần ngửi mùi hương” (văn hương thần). Ngọc Hoàng Đại Đế có một loại hương, khi đem đốt thì tỏa mùi thơm ngào ngạt, thần Càn-thát-bà ngửi được mùi hương thì liền đến hầu. Càn-thát-bà cũng có nam, có nữ. Thần Càn-thát-bà nam thì trên đầu có một cái sừng, giống như con kỳ lân vậy. Khi thần ngửi được mùi hương đó thì sẽ vừa nhảy múa, vừa đàn ca hát xướng, tiếng nhạc réo rắt giữa không trung. Nghe quý vị tụng Kinh Địa Tạng, thì thần Càn-thát-bà cũng ở trên không trung khen ngợi.

Ca-lâu-la chính là đại bàng kim xí điểu, tức là chim đại bàng cánh vàng.

Khẩn-na-la cũng là nhạc thần.

Ma-hầu-la-già là con rắn lớn (đại mãng xà).

“Hai là thiện quả ngày càng tăng.” Nhiều người tu Đạo, có lúc thì phát tâm Bồ Đề rất dũng mãnh, làm công đức rất nhiều; song cũng có lúc thì lại thụt lùi, nhụt chí, cảm thấy mình ở trong Phật Giáo làm việc công đức dường như không có cảm ứng rõ rệt thật sự, nên tâm Bồ Đề liền thối chuyển. “Thiện quả ngày càng tăng” tức là ở trong Phật Giáo mà càng ngày càng tinh tấn hướng về phía trước, chăm chỉ vun bồi phước huệ, siêng năng làm việc thiện, làm công quả, lập công đức, mãi mãi không lùi về phía sau. Làm thế nào mà được như vậy? Đó là do thành tâm niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, lại còn lễ bái chiêm ngưỡng hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng nữa, cho nên có được cảm ứng là “thiện quả ngày càng tăng.”

“Ba là tích tập các nhân thánh thượng.” Thế nào là “tích tập các nhân thánh thượng”? Đó là làm đủ loại Phật sự, như in kinh, xây chùa, sửa cầu, đắp đường, chuyển Đại Pháp Luân... Tất cả những việc tốt, tu đạo Bồ Đề đều là “tích tập các nhân thánh thượng.”

“Bốn là tâm Bồ Đề không thối chuyển.” Chúng ta tu hành, có lúc thì siêng năng tinh tấn, có lúc lại lười biếng giải đãi. Lúc siêng năng thì đối với mọi việc đều rất hăng hái dũng mãnh, khi lười biếng thì cảm thấy ở trong Phật Giáo làm Phật sự mà chẳng có cảm ứng gì rõ rệt cả, bèn sanh ra chán nản, thối chuyển Đạo tâm. Nếu quý vị có thể tụng Kinh Địa Tạng, niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, lễ bái cúng dường Bồ Tát Địa Tạng, thì tâm Bồ Đề của quý vị sẽ không còn lùi sụt, tâm giác đạo mãi mãi hướng về phía trước, và càng ngày càng tăng trưởng, không bao giờ thối chuyển.

“Năm là y phục, vật thực đầy đủ.” Điều lợi ích thứ năm là không bao giờ bị thiếu thốn về cơm ăn áo mặc. Người đời chỉ vì ba bữa ăn mà làm lụng vất vả, chịu cực chịu khổ. Bởi sợ bị chết đói, chết lạnh, nên lúc nào họ cũng nghĩ đến việc kiếm thêm tiền. Trước kia, lúc chưa có tiền, thì ao ước có được mười ngàn đồng; song đến khi được toại nguyện, có được mười ngàn đồng trong tay rồi thì lại cảm thấy như thế vẫn còn chưa đủ. Bấy giờ lại nghĩ nếu mình có được một trăm ngàn đồng thì sẽ chẳng phải làm lụng gì nữa. Thế rồi, đến khi có được một trăm ngàn đồng, nghĩ tới học phí của con cái thì thấy không đủ, muốn sắm chiếc xe hơi thì thấy chẳng còn được bao nhiêu, mà tính tậu chiếc du thuyền thì lại thiếu trước hụt sau. Càng mơ ước những thứ to lớn hơn, như muốn mua chiếc máy bay chẳng hạn, thì một trăm ngàn đồng cũng chẳng thấm vào đâu! Và thế là lại phải lo kiếm tiền! Kiếm tiền! Phải kiếm cho được một triệu đồng. Đến khi có được một triệu đồng trong tay, những tưởng là phen này có thể làm chủ một chiếc máy bay, thì máy bay lại lên giá!

Ban đầu thì chỉ cần chín trăm chín chục ngàn là có thể mua được một chiếc máy bay, bây giờ giá cả leo thang, tăng vọt lên đắt gấp mười lần, tới chín triệu chín trăm ngàn một chiếc, lại mua không nổi nữa! Cho nên, cứ chạy theo không kịp, càng đeo đuổi thì lại càng cách xa. Đó đều là do lòng tham tác oai tác quái! Trước kia thì chỉ ao ước có được một triệu đồng là thấy đủ rồi, nhất định sẽ về hưu; song đến khi có được một triệu rồi thì lại “lùi mà chưa dứt”—vẫn chưa “tri túc,” vẫn không thấy đủ!

Vậy, điều lợi ích thứ năm là nếu quý vị có thể trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, tụng Kinh Địa Tạng, lễ bái cúng dường Bồ Tát Địa Tạng, thì quý vị sẽ được y phục, vật thực dồi dào, luôn luôn dư dả. Bấy giờ, quý vị chỉ muốn mua một chiếc máy bay, song tiền kiếm được lại nhiều đến nỗi mua hai chiếc cũng còn dư, kỳ diệu như thế đấy!

Có người nói: “Như thế thì tôi cũng mau mau niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng!” Dùng lòng tham lam, muốn mua hai chiếc máy bay để niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, thì e rằng sẽ không linh nghiệm, vì tham vọng quá lớn! Chúng ta chỉ nên hết lòng trì niệm, có được cảm ứng hay không thì cũng chẳng nên so đo, tính toán.

Có người lại nói: “Giảng kinh theo cách của Sư Phụ lại làm cho con bị hố nữa rồi!” Bị hố thì sao? Mà không bị hố thì sao? Cho nên, con người nếu biết đủ thì thường được an vui, biết nhẫn nhục thì luôn được yên ổn (tri túc thường lạc, năng nhẫn tắc an).

“Sáu là dịch bệnh không đến nơi thân.” “Dịch bệnh” tức là bệnh ôn dịch, bệnh truyền nhiễm. Đáng lẽ ra thì mọi người đều bị truyền nhiễm, mắc phải chứng bệnh nào đó, nhưng nhờ quý vị niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng nên giống như có một ranh giới vô hình, quý vị không bị lây bệnh.

Lúc tôi ở Đông Bắc, có lần bệnh ôn dịch lan tràn, có một gia đình nọ mười một người mà chỉ nội trong ba ngày đã có mười ba người bị chết! Tại sao gia đình mười một người mà lại có tới mười ba người chết? Tại sao lại có thêm hai người nữa? Đó là hai người “đưa tiễn”—bởi vì mười một người có lẽ là chưa đủ số, cho nên phải chết thêm hai người nữa vậy! Hai người này, một người thì làm công cho gia đình nọ, còn người kia là bà con từ xa đến thăm. Cả hai người cùng chết chung với gia đình nọ cho đủ số! Do đó, trong vòng ba ngày mà gia đình mười một người lại có tới mười ba người tử vong, và tất cả đều do bị lây bệnh truyền nhiễm mà ra.

Bấy giờ tôi đang ở địa phương đó, tôi bèn dẫn theo bốn đệ tử nhỏ tuổi và bảo họ rằng: “Chúng ta phải đi cứu người ngay!” Cứu như thế nào ư? Tôi căn dặn các đệ tử: “Chúng ta hãy trì niệm Chú Đại Bi để đối phó với thần ôn dịch!” Chúng tôi đến thôn làng đang có bệnh dịch hoành hành nọ, đi quanh làng ba vòng, vừa đi vừa niệm Chú Đại Bi. Sau khi chúng tôi niệm xong Chú Đại Bi và đi khỏi rồi, thì trong làng không còn bệnh dịch nữa. Thế nên, Chú Đại Bi thật vô cùng linh nghiệm, hết sức nhiệm mầu!

“Bảy là xa lìa các tai nạn về nước và lửa.” Quý vị trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thì sẽ không gặp nạn nước, cũng chẳng mắc nạn lửa—vào nước không bị chìm, vào lửa không bị cháy. Thậm chí quý vị có bị té xuống biển, thì tự nhiên sẽ được gặp chỗ cạn, tấp vào bờ bình yên; và nếu bị lửa thiêu đốt thì tự nhiên sẽ có người đến cứu giúp.

“Tám là không bị tai ách trộm cướp.” Tại sao quý vị bị trộm, bị cướp? Đó là do khi trước quý vị đã bất chấp đạo lý, cưỡng đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình. Bởi xưa kia đã từng lừa gạt người khác cho nên đời nay phải bị người ta cướp đoạt tài sản, phải trả nợ. Vì thế, chúng ta bị trộm cắp, cướp đoạt đều là có “tiền nhân hậu quả,” chẳng có gì là kỳ lạ cả. Nếu quý vị thật sự hiểu rõ thì gặp bất cứ cảnh giới nào đều phải nhận ra nhân quả của nó; hễ nhận chân được nhân quả của vấn đề thì sẽ chấm dứt được sự tuần hoàn lẩn quẩn.



Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 13 Aug 2016, 6:39 PM | Message # 61
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
“Chín là người khác thấy đều cung kính.” Nếu quý vị thường cung kính niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Địa Tạng, thì những người khác khi gặp quý vị đều cảm thấy có thiện duyên với quý vị và đều tỏ ra kính trọng quý vị. Người ta trông thấy quý vị mà như gặp được người thân đã tám đời nay, có cảm giác thân thiết gần gũi như được về nhà vậy. Cảm giác ấy lại giống như kẻ sống ở hải ngoại đã lâu không có người quen, nay được gặp lại bạn cũ, trong lòng vô cùng hoan hỷ, mừng mừng tủi tủi, vừa khóc vừa cười! Khóc là vì bồi hồi xúc động được gặp lại người thân quen; còn cười ư? Bởi nghĩ rằng phen này quả thật có được sự an ủi, che chở rồi!

Quý vị niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng thì được mọi người kính trọng, không ai là không đối xử tốt với quý vị cả. Không cần quý vị phải tự giới thiệu: “Này, quý vị biết không, tôi là một cư sĩ tu hành tại gia đấy! Các ông các bà phải kính trọng tôi!”; hoặc là: “Tôi là một đại đức cao tăng, quý vị thấy tôi thì phải dập đầu cúi lạy đó!” Không phải như thế, không phải là mình biểu người ta phải kính trọng mình! Có câu:

Có xạ tự nhiên thơm,

Cần gì phải phô trương?

(Hữu xạ tự lai hương,

Hà nhu đương phong dương?
)


Nếu quý vị quả thật có đức hạnh thì chẳng cần phải quảng cáo rao hàng như anh chàng bán thuốc cao dạo: “Thuốc cao dán của tôi là hay nhất, có thể trị phong thấp, trị đau khớp xương, trị tê bại... Bà con cô bác nào bị đau bị nhức chỉ cần dán một miếng là khỏi ngay! Mại dô! Mại dô!” Và rốt cuộc thì như thế nào? Dán rồi chẳng thấy bớt đau chút nào cả!

Quý vị đừng như tên “bán thuốc cao dán” đó; đừng tự quảng cáo cho chính mình, đừng sợ rằng người ta không biết đến mình mà phải tự rêu rao: “Quý vị đã biết gì về tôi chưa nhỉ? Đối với Phật Giáo, tôi là một vị hộ pháp đắc lực nhất đấy! Tôi còn là đại thí chủ, hộ pháp lâu năm của chùa nọ chùa kia. Còn nữa, tôi là giám đốc của cơ quan từ thiện...” Đừng nên làm như vậy, bởi đó là giả chứ không phải thật! Đó là quý vị tự động “bán chiêu bài,” bán quảng cáo; kẻ không có mắt mới không biết và bị mắc lừa, chứ người có mắt thì sẽ nhận ra ngay: “Hừ, thật là tội nghiệp! Thật là đáng thương!”

“Mười là quỷ thần đều hộ trì.” Nếu quý vị thật sự có công đức thì cần gì phải tự rêu rao cho chính mình? Bởi bấy giờ các quỷ thần hộ pháp đều sẽ hỗ trợ cho quý vị, bảo vệ quý vị; nếu quý vị gặp khó khăn gì thì vô hình trung họ sẽ đến để giúp quý vị giải quyết vấn đề ngay, quý vị bất tất phải rêu rao!

Vậy, điều lợi ích thứ mười là quý vị sẽ được sự giúp đỡ, phù hộ của loài quỷ (thiện quỷ sẽ đến giúp đỡ quý vị, ác quỷ cũng đến giúp đỡ quý vị), và các thần linh (thiện thần sẽ đến giúp đỡ quý vị, ác thần cũng đến giúp đỡ quý vị). Vì sao ác thần cũng giúp đỡ quý vị? Phải chăng đó là do oai lực của Bồ Tát Địa Tạng? Chính thế! Chính là nhờ oai lực của Bồ Tát Địa Tạng mà tất cả ác quỷ cùng ác thần đều biến thành những vị hộ pháp đắc lực cả!

Có người lại hoài nghi: “Thế tôi niệm danh hiệu của Địa Tạng Vương Bồ Tát, có thể nào Bồ Tát lại sai người đến trách mắng tôi không?” Không bao giờ! Quý vị thắc mắc vì sao ư?

Tôi nói thật cho quý vị biết: Quý vị chưa đủ trình độ đâu! Quý vị sách vở chưa học đủ, đi thi chắc chắn sẽ bị đánh hỏng; phải đến lúc tốt nghiệp đại học thì mới có thể thi đậu được. Nếu quý vị chưa tốt nghiệp, chỉ vừa mới tập tễnh bước chân vào ngưỡng cửa trường đại học, thì bắt quý vị khảo thí để làm gì? Cho nên, đừng cho rằng trách mắng là không tốt. Trách mắng cũng là một cách để khảo nghiệm, thử thách—chịu đựng được tức là đạt yêu cầu, được thông qua; còn không chịu đựng được tức là chưa đạt yêu cầu, cần phải tu học tinh tấn hơn nữa.

Nói như thế thì có phải là thi đậu, đạt yêu cầu rồi thì không cần phải tu học thêm nữa? Thi đậu rồi thì càng phải nỗ lực tu hành hơn nữa!

Có người hoài nghi: “Thế thì thi đậu có tác dụng gì đâu?”

Thế thì tôi hỏi lại: Quý vị học Tiến Sĩ có tác dụng gì? Đạo lý cũng như nhau thôi! Quý vị hiểu được thì hiểu; không hiểu được thì tôi cũng chẳng có biện pháp nào cả!

Kinh văn:

“Mười một là thân nữ chuyển thành thân nam;

Mười hai là làm con gái hàng vương giả, đại thần;

Mười ba là tướng mạo đoan chánh, tốt đẹp;

Mười bốn là phần nhiều được sanh lên cõi trời;

Mười lăm là có thể làm bậc đế vương;

Mười sáu là biết rõ việc đời trước;

Mười bảy là có mong cầu thì đều được toại ý;

Mười tám là quyến thuộc an vui;

Mười chín là các hoạnh sự đều dứt sạch;

Hai mươi là các nghiệp đạo đều trừ hẳn;

Hai mươi mốt là đi đâu cũng tới nơi cả;

Hai mươi hai là đêm nằm mộng được an ổn, vui vẻ;

Hai mươi ba là tổ tiên đã mất được lìa khổ;

Hai mươi bốn là nhờ phước đời trước mà thọ sanh;

Hai mươi lăm là chư thánh đều khen ngợi;

Hai mươi sáu là căn tánh thông minh, lanh lợi;

Hai mươi bảy là giàu lòng từ mẫn;

Hai mươi tám là rốt ráo thành Phật.

Lại nữa, này Hư Không Tạng Bồ Tát! Như hàng trời, rồng, quỷ thần ở hiện tại và vị lai, nghe danh hiệu của Địa Tạng, lễ bái hình tượng của Địa Tạng, hoặc nghe các việc về bổn nguyện tu hành của Địa Tạng, mà ngợi khen chiêm lễ, thì sẽ được bảy điều lợi ích.”

Lược giảng:

“Mười một là thân nữ chuyển thành thân nam.”
Điều lợi ích thứ mười một là nếu có người nữ nào muốn mang thân nam, bèn chí tâm lễ bái, cúng dường, tán thán, trì tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện và xưng niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thì đời sau sẽ được chuyển thành thân nam.

Sự chuyển thân nữ thành thân nam này là hoàn toàn không phải vì chán ghét thân nữ, mà chỉ vì tự cảm thấy làm thân nữ lắm lúc cũng bất tiện, cho nên muốn mang thân nam để được thuận tiện hơn, vì thế mới có nguyện vọng này. Những người có chí nguyện như thế chắc chắn sẽ được Bồ Tát Địa Tạng giúp cho tùy tâm toại ý, chí nguyện được thành tựu.

“Mười hai là làm con gái hàng vương giả, đại thần.”
Nếu thân nữ có thể chuyển thành thân nam, thì thân nam muốn chuyển thành thân nữ cũng có thể được toại nguyện.

Nếu có người nam nào có thể một lòng trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, lễ bái cúng dường hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, và đọc tụng Kinh Bồ Tát Địa Tạng Bổn Nguyện, mà phát nguyện muốn mang thân nữ để khéo léo giáo hóa chúng sanh (vì người nữ thường không nóng tánh lắm, có khi còn rất tế nhị nữa, nói chuyện với ai cũng rất hòa nhã, dịu dàng); thì đời sau sẽ được làm thân người nữ—và, đó là do nguyện lực của bậc Bồ Tát.

Những người vì muốn hoằng dương Phật Pháp, giáo hóa chúng sanh mà phát nguyện mang thân nữ, thì không sanh vào các gia đình tầm thường, mà thường sanh làm con gái của những kẻ có thế lực lớn như hàng vua chúa, đại thần; để nhờ đó mà họ có thể gây ảnh hưởng đến được nhiều người, khiến cho nhiều người sanh khởi tín tâm, dốc lòng tu hành. Cho nên, đây đều là “thừa nguyện tái lai,” theo nguyện lực mà tái sanh trở lại.

“Mười ba là tướng mạo đoan chánh, tốt đẹp.” Điều lợi ích thứ mười ba là không chỉ được làm người nữ, mà còn được thông minh, có trí huệ, tướng mạo đoan chánh viên mãn, chẳng có khuyết điểm—mũi thì có hình thù của mũi, mắt có hình dạng của mắt, tai thì giống tai, và miệng cũng giống miệng.

Có người thắc mắc: “Thế thì có trường hợp tai không giống tai, mắt chẳng giống mắt hay sao?” Quý vị nhìn xem, có những người nữ có cặp mắt hình tam giác, cứ láo liên đảo qua đảo lại, y như cặp mắt của kẻ dắt trộm trâu! Đó là con mắt có vẻ hơi thô kệch, cục mịch, không được thanh tú, không đoan chánh, không viên mãn. Có người thì mũi lại mọc trên trán, lỗ mũi ngước lên trời; quý vị nói như thế là giống cái gì? Chao ôi, thế nhưng lại có những người dị dạng như thế đấy! Có người thì một con mắt nằm ở trên, còn một con lại tụt xuống dưới; lỗ tai thì mọc tận đằng sau ót; miệng lại nằm dưới cằm—biến thành “dở ngô dở khoai”—người không ra người, quỷ không ra quỷ, mà khỉ cũng chẳng giống khỉ nữa!

Theo “tiến hóa luận” thì con người là từ loài khỉ tiến hóa thành, như thế trong trường hợp này thì sao? Vì sao mọi người lại không giống như vậy, chỉ có cá nhân người đó là như thế mà thôi? Vậy, đó là các trường hợp thí dụ về tướng mạo không đoan chánh, không viên mãn.

Thế thì, quý vị phát nguyện muốn làm người nữ thì tướng mạo cũng cần phải viên mãn, lại phải đoan chánh nữa. Nếu ngũ quan đoan chánh, thì vừa gặp mặt là người ta liền thấy có thiện cảm, có thiện duyên ngay; còn như ngũ quan không được đoan chánh, thì e rằng người ta vừa trông thấy thì như gặp phải quỷ mẫu dạ xoa, cuống cuồng chạy mất!

“Mười bốn là phần nhiều được sanh lên cõi trời.” Điều lợi ích thứ mười bốn thì lại hơn hẳn những điều trước nữa—đó là luôn được sanh lên cõi trời, được hưởng thiên phước, thọ hưởng sự an vui thù thắng vi diệu.

“Mười lăm là có thể làm bậc đế vương.”
Điều lợi ích thứ mười lăm là có thể được làm vua hoặc hoàng đế. Người nào đọc tụng Kinh Địa Tạng, lễ bái hình tượng Bồ Tát Địa Tạng, trì niệm thánh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thì sẽ có cơ hội làm hoàng đế “dự khuyết”—điều lợi ích này quả thật không thể nghĩ bàn!

Có người nói: “Thầy ơi! Cho dù được làm hoàng đế, cao sang đẹp đẽ đến thế nào đi nữa, thì con đều không màng cả! Thế giới Ta Bà này thật là quá nhiều đau khổ; con cảm thấy đã ‘đủ’ lắm rồi!” Quý vị thật sự cảm thấy “đủ” rồi sao? Vậy thì quý vị vẫn có cơ hội được thành Phật, và đó chính là điều lợi ích cuối cùng (điều thứ hai mươi tám)—“rốt ráo thành Phật.”

“Mười sáu là biết rõ việc đời trước.” “Biết rõ việc đời trước” tức là nhớ biết được những gì mình đã làm trong đời trước—như làm quan, làm học trò, hoặc làm lái buôn... Ngoài ra, cũng biết được trong đời trước mình họ gì, tên gì, sinh quán ở đâu, bao nhiêu tuổi thì chết... Có thể nói bây giờ (đời này) thì giống như quý vị dọn sang một ngôi nhà mới, khác hẳn ngôi nhà khi trước (đời trước).

“Mười bảy là có mong cầu thì đều được toại ý.”
Điều lợi ích thứ mười bảy là cầu chi được nấy—cầu giàu sang thì được giàu sang, cầu có con trai tất được con trai, cầu có con gái tất được con gái, cầu đồ ăn thức uống thì được đồ ăn thức uống. Nếu quý vị thích phát tài thì sẽ có được không biết cơ man nào là vàng, bạc, ngọc ngà châu báu, nhiều đến nỗi không thể nào đếm xuể!

Thế nhưng quý vị đừng bắt chước một người nọ, kiếm được rất nhiều tiền mà chẳng dám tiêu xài; rốt cuộc chưa hưởng thụ được chút nào thì đã chết rồi. Chết rồi, thì lại hai bàn tay không—thật là chẳng có ý nghĩa, chẳng có giá trị gì cả! Do đó, quý vị chớ nên bủn xỉn keo kiệt, đừng làm nô lệ cho đồng tiền; bởi quý vị có muốn cất giữ cũng không thể cất giữ mãi được!

“Mười tám là quyến thuộc vui vẻ.” Điều lợi ích thứ mười tám là trong gia đình, bà con quyến thuộc, bạn bè thân thích, đều êm ấm hạnh phúc, vui vẻ hòa thuận, không hề cãi cọ hoặc gây gỗ lẫn nhau.

Trong gia đình, mối quan hệ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ con cái, giữa anh em, giữa chị em, hoặc giữa chị em dâu, lắm lúc cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Ở đời, thông thường thì thân tình nhất là cha với con, song cũng có những khi cha con bất đồng ý kiến, khiến người con nghĩ: “Ồ! Người già thì đầu óc cũng già, tri thức cũng xưa, cách làm việc lại vô cùng cổ hủ, không theo kịp thời đại tân tiến, không thể ứng phó với thế giới hiện đại hóa ngày nay”; và cho rằng người già là một “chướng ngại”! Tuy nhiên, suy nghĩ như thế là không tốt!

Còn người già thì sao? Đối với con cái, vì quan tâm quá đáng, cho nên dù biết rằng con cái không đúng, bậc cha mẹ vẫn sẵn sàng tha thứ, lấy lòng bao dung mà đối đãi với con cái. Song le, con cái chẳng biết ơn thì chớ, lại còn dám cho rằng cha mẹ mình không đúng nữa! Tại sao có nhiều người nuôi dưỡng con cái mà lại không dạy dỗ chúng cho đàng hoàng? Đó là bởi những kẻ làm cha làm mẹ này đều thiếu hiểu biết, không am tường đạo lý, cho nên không muốn để ý tới con cái; còn con cái thì lại không biết chăm sóc cho cha mẹ. Vì thế, giữa cha mẹ và con cái nảy sinh nhiều mâu thuẫn, có nhiều vấn đề không giải quyết được.

Quan hệ vợ chồng là một mối quan hệ tương thân tương ái hơn nữa. Khi chưa kết hôn, đôi bên nam nữ đều cố giữ cái “mặt nạ,” không dám cãi cọ cũng chẳng hề gây gỗ lẫn nhau; nhưng sau khi kết hôn rồi thì mỗi người đều để lộ tánh nết của mình—chồng bộc lộ tánh xấu của chồng cho vợ thấy, vợ bộc lộ tánh xấu của vợ cho chồng xem—và thế là cả hai bên đều sanh phiền não!

Thế nhưng, theo điều lợi ích thứ mười tám này, thì nếu quý vị thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thì trong gia đình và quyến thuộc sẽ luôn được vui vẻ, hòa thuận.

“Mười chín là các hoạnh sự đều dứt sạch.” Tất cả những tai nạn rủi ro, những việc không như ý, những việc không tốt lành, ... đều gọi là “hoạnh sự” (sự việc bất ngờ, đột ngột). “Hoạnh tử” tức là những cái chết đột ngột, rủi ro bất ngờ như treo cổ tự tử, bị chìm thuyền, máy bay rớt, bị xe đụng, hoặc uống thuốc độc tự sát... Thế nhưng, nhờ Bồ Tát Địa Tạng, “các hoạnh sự đều dứt sạch”—tất cả tai nạn đều tiêu tan, mọi vấn đề bất ngờ hoặc nguy cơ bị thương tật cũng không còn.

“Hai mươi là các nghiệp đạo đều trừ hẳn.” “Nghiệp đạo” tức là ba đường ác—địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vậy, “các nghiệp đạo đều trừ hẳn” tức là nghiệp tội được tiêu trừ, không còn bị đọa lạc vào ba đường ác nữa.

“Hai mươi mốt là đi đâu cũng tới nơi cả.” Điều lợi ích thứ hai mươi mốt là quý vị đi đến nơi nào cũng đều được thông suốt thuận lợi, may mắn suông sẻ, đại kiết đại lợi, không hề gặp trở ngại.

“Hai mươi hai là đêm nằm mộng được an ổn, vui vẻ.” Có nhiều người thường chiêm bao thấy mình gặp những việc hung hiểm, đáng sợ—hễ không bị quỷ rượt đuổi thì cũng bị chó rượt cắn, hoặc bị cọp rình bắt để ăn thịt, ... đó đều gọi là “ác mộng.” Có người lại bị quỷ đè trên mình khiến toàn thân cứng đơ, không nhúc nhích động đậy gì được, nên trong lòng vô cùng nôn nóng sợ hãi; đó gọi là bị “bóng đè.” Quý vị trì tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thì đêm ngủ sẽ mộng thấy toàn những điềm an vui tốt lành.

“Hai mươi ba là tổ tiên đã mất được lìa khổ.” Điều lợi ích thứ hai mươi ba là cha mẹ, tổ tiên của quý vị từ đời quá khứ cùng lục thân quyến thuộc từ vô thỉ kiếp đến nay, đều được xa lìa khổ não, hưởng sự an vui, liễu thoát sanh tử.

Điều lợi ích này theo nguyên văn chữ Hán là “tiên vong ly khổ”; trong đó, “tiên” là tổ tiên, và “vong” là đã mất, đã chết rồi. Đa số người đã chết đều còn vướng nghiệp chướng, ắt hẳn phải đọa địa ngục chịu khổ báo. Tuy nhiên, nay nhờ quý vị trông thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, nghe danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, cho nên được hưởng hai mươi tám điều lợi ích, có thể khiến cho những người thân đã khuất được ly khổ đắc lạc.

“Tổ tiên đã mất” bao gồm tổ tiên đã mất của đời hiện tại, và tổ tiên đã mất của đời quá khứ của quý vị. Như vậy, tất cả cha mẹ và thân tộc của quý vị trong đời này mà đã chết rồi, đều có thể lìa khổ được vui; đồng thời, hết thảy cha mẹ và tổ tiên của quý vị từ vô lượng kiếp đến nay, trong đời đời kiếp kiếp, cũng đều được ly khổ đắc lạc.

“Hai mươi bốn là nhờ phước đời trước mà thọ sanh.” Điều lợi ích thứ hai mươi bốn là đời trước quý vị có trồng thiện căn, có được phước báo; cho nên đời này nương nhờ phước báo đó mà thọ sanh. “Nhờ phước đời trước mà thọ sanh” tức là đời trước đã từng làm rất nhiều việc công đức, thiện căn rất sâu dày, cho nên nhân phước báo của đời trước mà đời nay thọ sanh để thọ hưởng. Chúng ta,

Đời này do đâu được giàu sang?

Đời trước cúng chay, giúp người nghèo.

Đời này vì sao phải nghèo hèn?

Đời trước chẳng chịu giúp kẻ nghèo.

(Kim sanh phú quý thị hà nhân?

Tiền sanh trai tăng, tế cùng nhân.

Kim sanh bần tiện thị hà nhân?

Tiền sanh bất khẳng tế bần nhân.
)


Quý vị đời này vì sao được giàu sang? Ấy là nhờ trong những đời trước quý vị đã từng thiết trai tăng, ủng hộ đạo pháp, cúng dường Tam Bảo, cứu giúp người nghèo...; cho nên đời này được phước báo hưởng sự giàu sang phú quý.

Còn đời này vì sao quý vị phải chịu cảnh nghèo hèn túng thiếu, nghèo đến nỗi không có cơm ăn, chẳng đủ áo mặc? Đó là bởi trong đời trước quý vị quá keo kiệt bủn xỉn, chẳng hề bố thí cứu giúp người nghèo, chẳng chịu xả bỏ cái gì cả. Nếu trước kia không ích kỷ, keo kiệt quá đáng, mà lại chăm chỉ tu phước tu huệ, thì đời này quý vị ắt hẳn sẽ được thọ hưởng phước báo tạo ra từ đời trước.

“Hai mươi lăm là chư thánh đều khen ngợi.” Điều lợi ích thứ hai mươi lăm là được tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, chư thánh nhân, chư A-la-hán ở khắp mười phương đều tấm tắc ngợi khen: “Các con quả thật là những thiện nam, thiện nữ thuần thành!”

“Hai mươi sáu là căn tánh thông minh, lanh lợi.”
Điều lợi ích thứ hai mươi sáu là quý vị sẽ rất thông minh mẫn tiệp, và có trí nhớ rất tốt. Mắt thì trong sáng tinh anh, có thể nhìn thấy rất xa; tai cũng rất thính, nghe được hết sức rõ ràng—nói chung, cả sáu căn đều rất tinh tường, nhạy bén.

“Hai mươi bảy là giàu lòng từ mẫn.” Điều lợi ích thứ hai mươi bảy là quý vị sẽ rất giàu lòng từ mẫn, có tâm lượng của bậc Bồ Tát—từ bi mang lại sự an vui và giải trừ bao nỗi thống khổ của người khác; và cho dù người ta có đối xử với mình như thế nào đi nữa thì quý vị cũng vẫn lấy lòng từ bi mà đãi người, không có tâm báo thù đối với bất kỳ một ai.

“Hai mươi tám là rốt ráo thành Phật.” Điều lợi ích thứ hai mươi tám là điều quan trọng nhất; đó là gì? “Rốt ráo thành Phật”! Tương lai nhất định sẽ được thành Phật, chắc chắn là như thế!

Trên đây là hai mươi tám điều lợi ích mà chúng ta có thể có được nhờ trông thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, ngợi khen chiêm lễ Bồ Tát Địa Tạng, trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, nghe Kinh Địa Tạng, đọc tụng Kinh Địa Tạng, hoặc cúng dường hương hoa, đồ ăn thức uống, y phục, châu báu... cho Bồ Tát Địa Tạng.

Bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Lại nữa, này Hư Không Tạng Bồ Tát! Ta lại nói với ông một lần nữa: Như hàng trời, rồng, quỷ thần ở hiện tại và vị lai, nghe danh hiệu của Địa Tạng, lễ bái hình tượng của Địa Tạng...”

Chúng ta cúi đầu quỳ lạy chư Phật cùng chư Bồ Tát, thì được lợi ích gì? Đảnh lễ chư Phật thì được lợi ích không gì sánh bằng: Quý vị ở trước Phật đảnh lễ, cung kính lạy Phật, thì nghiệp tội từ trước đến nay dù nhiều như cát sông Hằng cũng có thể được tiêu trừ!

“Hoặc nghe các việc về bổn nguyện tu hành của Địa Tạng
—nghe được Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, tất cả nhân duyên quả báo và các sự tích, mà ngợi khen chiêm lễ, thì sẽ được bảy điều lợi ích.”

Kinh văn:

“Một là mau vượt thánh địa;

Hai là ác nghiệp được tiêu trừ;

Ba là chư Phật đến ủng hộ;

Bốn là Bồ Đề không thối thất;

Năm là bổn lực được tăng trưởng;

Sáu là việc đời trước đều rõ biết;

Bảy là rốt ráo thành Phật.”

Bấy giờ không thể nói hết không thể nói hết tất cả chư Phật Như Lai cùng Đại Bồ Tát, Thiên Long Bát Bộ ở mười phương nghe Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngợi khen tuyên bày sức đại oai thần không thể nghĩ bàn của Địa Tạng Bồ Tát, đều khen là việc chưa từng có.

Lúc đó, tại cung trời Đao Lợi mưa xuống vô lượng hương hoa, thiên y, châu báu để cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Địa Tạng. Xong rồi, tất cả đại chúng trong Pháp Hội đều lại chiêm lễ, chắp tay mà lui ra.

Lược giảng:


Bảy điều lợi ích này là gồm những gì?

“Một là mau vượt thánh địa.” Thế nào gọi là “vượt”? Ví dụ từ địa vị thứ nhất tiến thẳng lên địa vị thứ ba, bỏ qua địa vị thứ nhì ở giữa; từ địa vị thứ ba nhảy vọt lên địa vị thứ năm; hoặc từ địa vị thứ năm tiến luôn đến địa vị thứ tám... –như thế gọi là “vượt,” bỏ quãng mà tiến lên. “Vượt” ngụ ý là tiến rất nhanh, rất mau.

“Hai là ác nghiệp được tiêu trừ.” Mọi người tại sao chưa thành Phật? Đều là vì có ác nghiệp không thanh tịnh. “Ác nghiệp” là nghiệp nhiễm ô, cũng chính là những nghiệp tội không trong sạch mà quý vị đã trót gây ra; và còn gọi là “hắc nghiệp.” “Ác nghiệp” chính là “hắc nghiệp”; “hắc nghiệp” là nghiệp hắc ám, rất đen tối, mờ ám. Phàm người làm việc gì cũng thường hay lén lén lút lút, không muốn cho ai biết đến, nên mới gây ra nghiệp này. Nếu quý vị thành tâm trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng thì ác nghiệp sẽ được tiêu trừ.

“Ba là chư Phật đến ủng hộ.” Điều lợi ích thứ ba là sẽ được chư Phật khắp mười phương giáng lâm đến trước mặt để che chở hộ trì.

“Bốn là Bồ Đề không thối thất.” Tâm Bồ Đề giác đạo của quý vị sẽ càng ngày càng tăng trưởng, càng ngày càng có tiến bộ—chỉ có tiến chứ không có lùi. Tâm Bồ Đề này vừa phát khởi thì quý vị liền hăng hái: “Hôm nay tôi sẽ thọ Ngũ Giới, ngày mai tôi phát nguyện xuất gia; còn ngày mốt ư? Tôi nhất định sẽ làm một vị cao tăng. Ngày kế nữa tôi nhất định sẽ thành vị Tổ Sư. Ngày kế tiếp nữa tôi sẽ hành trì đạo Bồ Tát, và chẳng bao lâu nữa thì tôi sẽ thành Phật!”

Tuy nhiên, điều thiết yếu ở đây là tâm Bồ Đề của quý vị phải không thối chuyển mới được! Quý vị chớ nên hôm nay phát tâm muốn thọ Ngũ Giới, song dùng dằng nghĩ tới nghĩ lui rồi đổi ý: “Thọ giới rồi mà lỡ phạm giới thì thật là xấu hổ. Người ta biết được mình phạm giới thì mất mặt quá! Chi bằng, tốt nhất là mình đừng thọ một giới nào cả!”; và thế là không muốn thọ giới nữa. Nếu lại nghe người ta kháo nhau là đời sống của người xuất gia rất khắc khổ, nên quý vị ngần ngừ, không muốn nghĩ tới chuyện xuất gia nữa; đó cũng là do quý vị chưa có được cái tâm “Bồ Đề không thối thất” vậy

[b]“Năm là bổn lực được tăng trưởng.”[/b] “Bổn lực” tức là sức mạnh vốn có của mình, là sức mạnh của bổn lai Phật tánh, là năng lực thành Phật và cơ hội thành Phật vốn có trong mỗi chúng sanh. Thế nhưng, quý vị cứ ngăn che Phật tánh của mình, khiến sanh ra phiền não, vô minh. Bây giờ quý vị phá bỏ được bức màn vô minh rồi thì phiền não cũng đoạn dứt, cho nên bổn lực liền hiện ra và tăng trưởng thêm.

“Sáu là việc đời trước đều rõ biết.” Điều thứ sáu là biết được đời trước mình đã làm gì, đời trước nữa mình ra sao ... Nói chung là quý vị có thể truy cứu và biết rõ được mọi việc xảy ra trong nhiều đời nhiều kiếp, thậm chí đến tám vạn đại kiếp về trước. Những thánh nhân đã chứng quả A-la-hán tuy biết được việc đời trước, nhưng ngoài phạm vi tám vạn đại kiếp thì các ngài không thể biết được. Ở đây, biết rõ được việc đời trước tức là đắc Túc Mạng Thông rồi.

Thí dụ, quý vị có thể biết được rằng: “Tôi đã từng có một đời sanh làm thân kiến! Lúc ấy thì thân thể vô cùng nhỏ bé, đến bây giờ làm thân người thì biến thành to lớn dềnh dàng như thế này. Có lẽ là tôi từ thân kiến biến thành con ong mật, từ ong mật biến thành bươm bướm, từ con bướm biến thành con chim nhỏ, từ con chim nhỏ lại biến thành con chim ưng lớn. Rồi nhờ lúc mang thân chim ưng lớn tôi lại ăn chay chứ không ăn thịt, do đó tu tạo được phước báo, có được cái nhân thành Phật nên nay được làm người—làm người thì trong tương lai sẽ được thành Phật.”

Người đã chứng đắc Túc Mạng Thông thì nếu mình từng làm thân kiến, hoặc làm loài trùng nào, loài cầm thú nào... cũng đều rõ biết được cả. Cho nên, đằng sau cái xác thân hiện tại này, còn có sự biến hóa vô cùng của rất nhiều thân thể.

“Bảy là rốt ráo thành Phật.” Sớm muộn gì rồi quý vị cũng đều được thành Phật cả. Điều này cũng tương tự như điều lợi ích thứ hai mươi tám đã nói ở trước.

Bấy giờ không thể nói hết không thể nói hết —không biết bao nhiêu, không có cách nào có thể nói được con số bao nhiêu—tất cả chư Phật Như Lai cùng Đại Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi Phật, người, trời, quỷ, thần, Thiên Long Bát Bộ ở mười phương nghe Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngợi khen tuyên bày sức đại oai thần không thể nghĩ bàn của Địa Tạng Bồ Tát, tán thán phước đức bất khả tư nghị của Địa Tạng Bồ Tát, chưa có vị Bồ Tát nào có thể sánh bằng, đều khen là chưa từng có. Toàn thể đại chúng đều trầm trồ, tấm tắc ngợi khen rằng từ trước tới nay chưa có vị Bồ Tát nào thù thắng, hy hữu như thế.

Lúc đó, tại cung trời Đao Lợi—cõi trời Ba Mươi Ba—mưa xuống vô lượng hương hoa, thiên y, châu báu để cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Địa Tạng.

Bấy giờ, ở cõi trời Đao Lợi, các thiên nữ rải vô số hoa mạn-đà-la (tiểu bạch hoa), hoa đại mạn-đà-la (đại bạch hoa), cùng rưới các loại hương thơm, các y phục của cõi trời—y phục trên cõi trời rất nhẹ, nhẹ hơn cả loại hàng nylon của chúng ta—và vô số chuỗi ngọc quý giá cùng các bảo bối trân quý nhất, hiếm có nhất, để cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Địa Tạng. Phải cúng dường cho Phật trước vì Phật là đấng tối cao.

Xong rồi, tất cả đại chúng trong Pháp Hội đều lại chiêm lễ, chắp tay mà lui ra. Sau khi cúng dường xong, tất cả đại chúng hiện diện trong Pháp Hội—chư Bồ Tát, A-la-hán, chư thiên nhân, quỷ, thần... đều chiêm ngưỡng Bồ Tát Địa Tạng, hướng về Bồ Tát mà đảnh lễ, rồi chắp tay và cung kính lui ra.

Hết phẩm thứ mười ba

_________________


Kệ tán:



Kinh Địa Tạng Bổn Thệ,

So sánh các nghiệp nhân,

Ốm đau, tàn tật, câm ngọng do đời trước,

Đời này đọc tụng Đại Thừa,

Được phước lợi vô cùng,

Quyết định sen báu vãng sanh.

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật.

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp.

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng.

Lược giảng:


“Tán” tức là tán thán, trầm trồ khen ngợi.

Kinh Địa Tạng gồm có ba quyển—thượng, trung, hạ—được chia làm mười ba phẩm; và đây là phẩm cuối cùng của quyển hạ.

Kinh Địa Tạng Bổn Thệ,/ So sánh các nghiệp nhân. Trong Kinh Địa Tạng Bổn Thệ Nguyện có so sánh, cân nhắc về các nhân duyên công đức của bộ Kinh Địa Tạng này.

Ốm đau, tàn tật, câm, ngọng do đời trước. Có nhiều người thường ốm đau quặt quẹo, bị tật nguyền, khuyết tật, hoặc mắc bệnh bại liệt, chân tay tê dại. “Tàn tật” tức là người bị không có tay, không có chân, không có mũi, không có mắt, hoặc không có tai ...; nói tóm lại là sáu căn không được đầy đủ, vẹn toàn. Vì sao họ lại bị bệnh tật, bị tàn phế, bị câm ngọng? Đó là bởi những người này đời trước đã gây nhiều nghiệp tội, cho nên đời nay phải chịu quả báo.

Đời này đọc tụng Đại Thừa. Nếu ngay trong đời này, những người đó thành tâm đọc tụng các kinh điển Đại Thừa—như Kinh Địa Tạng chẳng hạn—thì họ sẽ được phước lợi vô cùng. Những phước đức và lợi ích này thì vô cùng vô tận, không thể nào kể xiết.

Quyết định sen báu vãng sanh. Nếu họ thường xuyên đọc tụng Kinh Địa Tạng, hoặc trì niệm danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát, thì nhất định họ sẽ được sanh trong hoa sen báu, hóa sanh từ hoa sen.

Trên đây là bài kệ tán thán; phần cuối có quy mạng ba ngôi Thường Trụ trong mười phương: Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật, Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp, Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng.

Như vậy là hôm nay đã giảng xong bộ Kinh Địa Tạng. Tuy rằng kinh đã giảng xong rồi, song việc trì tụng thì không thể gọi là xong được. Quý vị nếu mỗi ngày đều trì tụng Kinh Địa Tạng, thì không những sẽ được hai mươi tám điều lợi ích, mà còn được hưởng thêm bảy điều lợi ích khác nữa—phước lợi lớn lao biết bao!

Cho nên, ngay trong thời Mạt Pháp này mà chúng ta có thể thường xuyên đọc tụng Kinh Địa Tạng là tốt nhất. Bởi vì nguyện lực của Bồ Tát Địa Tạng là nếu người nào tụng Kinh Địa Tạng thì Ngài sẽ đến hộ trì, và người ấy sẽ có được hai mươi tám điều lợi ích. Thế nên, sau khi nghe giảng rồi, quý vị cần phải nỗ lực, cố gắng y theo giáo pháp mà tu hành, đừng bỏ lỡ cơ hội. Biết được Phật Pháp mà chẳng thực hành thì cũng như không biết; cho nên, biết được Phật Pháp rồi thì phải biết trân quý mà “y pháp tu hành”—đây là điều rất thiết yếu!

Tuy rằng việc giảng bộ kinh này kể như hoàn tất rồi, nhưng việc tu hành thì không thể nói là xong được—phải đến khi nào quý vị tu thành Phật rồi thì lúc đó mới được gọi là xong! Có câu:

“Việc cần làm đã làm xong,

Hạnh thanh tịnh đã lập rồi,

Không còn phải trở lại nữa.”

(Sở tác giai biện,

Phạm hạnh dĩ lập,

Bất thọ hậu hữu.
)


Những việc nên làm thì ta đã làm xong, hạnh thanh tịnh của ta đã thành tựu rồi—ta không còn phải chịu luân hồi sanh tử nữa. Vì vậy, chúng ta, những người được nghe thấy các đạo lý trong Kinh Địa Tạng, ắt hẳn đều là những người có thiện căn sâu dày. Những kẻ không có thiện căn thì dù muốn đến nghe Kinh Địa Tạng cũng không có cơ hội; họ không được phép tới nghe, thậm chí ngay chính bản thân họ cũng chẳng muốn nghe nữa. Vì sao họ không muốn nghe? Bởi vì nghiệp chướng của họ quá nặng nề; họ nói là: “Tôi không muốn thành Phật. Tôi muốn đến địa ngục gặp Bồ Tát Địa Tạng, chờ Bồ Tát Địa Tạng tới cứu tôi ra lần nữa. Bởi Bồ Tát Địa Tạng có nguyện lực từ bi, Ngài lại có chìa khóa mở được cửa địa ngục; hễ tôi bị sa vào địa ngục thì Ngài liền lấy chìa khóa mở cửa, bấy giờ tôi sẽ tẩu thoát và đi ăn cướp trở lại!”

Thế nên, quý vị xem, họ dự tính thoát khỏi địa ngục rồi thì lại đi làm kẻ cướp nữa! Song, Bồ Tát Địa Tạng có Tha Tâm Thông nên Ngài biết được ý đồ của họ: “A! Bọn này thật là quá quắt. Từ địa ngục thoát ra mà vẫn chưa chừa, vẫn còn muốn đi làm ăn cướp nữa ư? Thế thì Ta không mở cửa ngục cho các ngươi nữa!” Chúng ta không nên bắt chước theo hạng người như thế!

Vậy, hôm nay đã giảng xong bộ Kinh Địa Tạng rồi, chúng ta cần phải nương vào nguyện lực của Bồ Tát Địa Tạng mà tu hành, luôn luôn tinh tấn hướng về phía trước, không được chùn bước, không được bỏ cuộc!


Đại Bi Chú
 
LongTracAn Date: Thứ Bảy, 13 Aug 2016, 6:44 PM | Message # 62
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng
Hôm nay như vậy là đã giảng xong Kinh Địa Tạng, vẫn còn chút ít thì giờ, để tôi kể một vài sự kiện có thật cho quý vị nghe. Có hai người nọ, đều là người Hoa Kỳ—một người tên là Quả Minh. Quả Minh vốn rất thành tâm, song có một thói quen xấu vẫn chưa từ bỏ được. Thói quen gì vậy? Đó là thói thích hút thuốc lá thơm!

Lúc đó là vào năm 1968, tôi đang cư ngụ ở một tầng lầu có diện tích cỡ 50ft x 25ft, tại chùa Thiên Hậu trên đường Waverly. Chúng tôi bấy giờ gồm có chừng ba, bốn chục người cùng sống chen chúc ở đó. Cách ăn ở như thế nào ư? Thì mọi người đều ngủ “giường đất” cả thôi! Chúng tôi trải chăn mền ngay trên sàn lầu thành từng dãy từng dãy như trong quân đội vậy, rồi cứ thế mà ngủ thôi, chứ không có giường.

Thế nhưng, sắp xếp như vậy vẫn không đủ chỗ ngủ cho cả ba, bốn chục người. Do đó, có một số phải chịu cảnh “màn trời chiếu đất,” ngủ ngay trên sân thượng. Như thế, ngộ nhỡ trời mưa thì phải làm sao? Thì mỗi người bèn dùng một tấm vải mưa trùm kín cái thùng gỗ vuông vắn, vừa vặn cho một người ngồi—cũng có thể ngồi ngủ ở trong đó—cho nên cứ như thế mà luyện môn “tọa Thiền.” Trên sân thượng có chừng mười mấy cái thùng vuông kiểu này, để thành cả dãy như vậy.

Anh chàng Quả Minh này cũng ngủ trên sân thượng. Có một đêm nọ vào khoảng hai giờ sáng, Quả Minh lén mở cửa ra ngoài mà không ai hay biết gì cả. Đến năm giờ sáng thì anh ta trở về kêu cửa, vì cửa đã bị khóa, anh ta không vào được. Hỏi là ai gọi cửa thì anh ta đáp: “Minh đây!” Ở chỗ chúng tôi bấy giờ có một người tên Ninh, vì âm Ninh và Minh nghe cũng từa tựa nhau nên người trong chùa nghe không rõ, tưởng là “Ninh,” bèn mở cửa cho anh ta vào. Vào được rồi, anh ta liền đi thẳng lên lầu, len lén chạy đến cái thùng của mình và chui vào trong. Không ngờ tôi cũng đang ở đó, tôi liền chất vấn anh ta: “Con vừa đi đâu về vậy?”

Anh ta đáp: “Con chẳng đi đâu cả!”

- Chẳng đi đâu cả? Thật hay giả đấy?

- Ơ, con ...

Thấy anh ta cứ ngập ngừng, không chịu nói cho ra lẽ, tôi hỏi tiếp: “Con đi từ lúc nào?”

- Ồ, con ...

Bấy giờ, anh ta vẫn chưa chịu thú thật, cứ ngần ngừ mãi; tôi gằn giọng: “Con đi ra ngoài để làm gì?”

- Walk! Take a walk! (Con đi tản bộ!)

- Con walk tới chỗ nào?

- Con... con chỉ đi dạo thôi mà!

- Thế con walk đến cây xăng để làm gì?

Anh ta tròn xoe hai mắt, ấp úng: “Con... “

- “Con” làm sao? Con đến đó để làm gì chứ?

- Con đến đó xem cho biết thôi!

- Xem cho biết ư? Thế con đã mua cái gì rồi?

- Ồ! Không... con chẳng mua gì cả!

- Không mua gì cả? Thế thuốc lá thơm của con là từ đâu đến vậy?

Nghe tôi chất vấn như thế, anh ta ngây người ra, trợn mắt thật to, lúng túng đáp: “Con... con đến đó mua thuốc hút!”

- Mua thuốc lá xong, con lại đi đâu nữa?

- Con... walk!

- Walk? Con walk thế nào mà lên tuốt trên xe buýt luôn vậy? Con lên xe buýt để làm gì? Con lên xe buýt để walk ư?

- Con... con đi xe buýt số 5.

- Con đi xe buýt số 5 à? Lúc ở trên xe con có hút thuốc không?

- Không có ạ!

- Không có? Thế tại sao con lại mời cô gái da đen đó một điếu thuốc?

- Ồ!...

Lúc này, anh ta càng sợ hãi hơn nữa.

- Con... con mời cô ấy hút thuốc để dễ bắt chuyện với cô ấy.

- Tại sao ông không bắt chuyện với đàn ông? Tại sao ông phải tìm đàn bà để nói chuyện?

- Ơ... vì không còn ai khác mà!

- Trên xe có đến bốn, năm người mà ông lại nói là không có ai khác nữa à?

Anh ta sửng sốt: “Ai nói với Sư Phụ như thế?”

Tôi nói: “Chẳng phải là con vừa mới nói với thầy đó sao?”

- Con chưa nói cho Sư Phụ biết cơ mà!

- Con chưa nói cho thầy biết sao? Con chóng quên quá đấy! Con vừa mới nói cho thầy biết đây thôi mà!

Tôi hù dọa như thế thôi mà anh ta sợ thật đấy! Mà không phải chỉ hù dọa suông thôi đâu, tôi còn đánh đòn nữa kia! Tôi nói cho quý vị biết: Tôi đánh thật đó, chứ không phải giả bộ đâu. Tôi cầm một cây gậy dài bằng gỗ, ra sức nện vào đầu anh ta một gậy đau điếng; rồi căn dặn: “Thầy cho con biết, từ nay về sau, nếu con không tuân theo quy củ của thầy thì thầy sẽ đánh chết con luôn đấy!”

Từ đó về sau, Quả Minh không dám liều lĩnh trốn ra ngoài nữa!

Đây là lúc ban sơ, lần đầu tiên tôi giáo hóa người Mỹ. Bấy giờ, những người Mỹ đang có mặt ở đó nghe tôi dọa như thế thì đều “sởn tóc gáy,” chẳng hiểu đầu đuôi sự việc như thế nào; một người buột miệng hỏi:

- Sư Phụ! Làm sao Sư Phụ biết rõ đến thế?

- Thế không phải là ông ta vừa mới nói cho tôi biết hay sao?

Ai hỏi tôi, tôi cũng trả lời y như vậy; do đó, cho đến bây giờ họ vẫn chưa hiểu ra sao cả! Hôm nay tôi kể cho quý vị nghe câu chuyện này, để quý vị hiểu được vì sao rất nhiều người Mỹ không dám nói dối trước mặt tôi!

Bây giờ tôi lại kể cho quý vị nghe một câu chuyện nữa, quý vị có muốn nghe chăng? Cũng là một chuyện có thật, chứ không phải bịa đặt. Đây cũng là về một đệ tử người Mỹ của tôi, tên là Quả Tốc. Quả Tốc là một người rất có thành tâm xuất gia. Sau khi xuất gia, chẳng biết vì sao lại không hợp với vị sư huynh hoặc sư đệ nào đó trong chùa, thường hay bị vị đó bắt nạt; không chịu đựng nổi, anh ta bèn bỏ đi.

Trước tiên, Quả Tốc về ở nhà của bà mẹ. Được một thời gian, cảm thấy sống một mình cũng chẳng có gì thú vị, lại cũng chưa thấy khai ngộ, anh ta bèn tìm đến một ngọn núi (dường như ở về phía Bắc của Vạn Phật Thành bây giờ thì phải), và ở lại trên núi đó luôn.

Có một hôm, anh ta về gặp tôi và hỏi: “Bây giờ con muốn về lại đây. Thật ra, con cũng không biết là con nên ở đó hay là về lại đây?”

Tôi nói: “Lúc con bỏ đi, con chẳng màng hỏi ý thầy; thì tại sao khi muốn trở về con lại hỏi? Con đi đã không hỏi thầy, thì con có về lại cũng đừng hỏi thầy!” Ngụ ý của tôi là: Anh muốn trở về thì cứ việc trở về. Lúc đi là do anh tự ý đi; thì khi về, cũng tùy ý anh, đừng hỏi tôi—bởi tôi không thể nói: “Anh hãy về đây đi!” Nếu tôi bảo anh ta về đây thì anh ta sẽ ra vẻ như mình có thế lắm, cho nên tôi không thể nói như vậy được!

Trong khi Quả Tốc quỳ trước mặt tôi nói chuyện, tôi chợt thấy trên vành tai ông ta có vướng một sợi tóc dài khoảng ba tấc, không phải ba tấc thì cũng hai tấc rưỡi. Tôi hỏi: “Ủa! Ở đâu mà con mang về được một bảo bối như thế này?”

(Về việc này, về sau có một người đệ tử viết thành bài văn “Bài ký về một sợi tóc”; không biết có quý vị nào xem qua chưa?)

Tôi nói tiếp: “Con đi đâu về mà lại mang theo bảo bối này thế? Nếu nói sợi tóc này là từ chùa Kim Sơn mang về thì vô lý, bởi ở chùa Kim Sơn chẳng có ai có tóc dài như thế cả. Vả lại, ông nhận ra sợi tóc này là của ai mà—nó đến từ nơi ông đang ở. Tại sao ông lại mang sợi tóc này về? Ông có nhận ra sợi tóc này không?”

- Con nhận ra!

- Nhận ra hả? Đó là tóc của ai?

- Là tóc của một cô gái.

- Tóc của cô ta làm sao lại chạy đến vành tai của ông được? Ông nói thử xem!

- Dạ chẳng có gì cả ạ.

Tôi gặng hỏi: “Chẳng có gì cả ư? Thế thì vì sao cô ấy muốn xách súng bắn chết ông?”

- Ồ!...

Quả Tốc lúc này sợ hãi đến nỗi trợn to đôi mắt, cứng họng, không dám nói thêm tiếng nào.

Tôi dịu giọng: “Con hãy nói cho thành thật. Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Cac con vì sao lại đi báo cảnh sát đến đuổi cô ta? Con hãy mau mau thú thật hết đi, đừng để... “

Lúc này anh ta mới kể lể: “Bởi vì con tạm trú trên núi được một thời gian thì có một thanh niên đến ở chung. Chẳng bao lâu sau lại có một cô gái đến ở nữa, cô ta là bạn gái của anh thanh niên kia. Cuộc sống chung đụng này có ảnh hưởng đến người thanh niên nọ, vì anh ta không thích cô bạn gái này nữa, mà chỉ thích tu hành. Cuối cùng, anh ta đã đuổi cô ấy đi.”

Cô bạn gái bị làm nhục đến thế nên tức tối, quyết tâm phải giết cả người thanh niên và Quả Tốc cho bằng được. Lần thứ hai trở lại, cô ta vừa lăm le khẩu súng trong tay vừa hỏi Quả Tốc: “Tại sao anh lại cướp bạn trai của tôi?”

Cô ấy cho rằng Quả Tốc chiếm đoạt bạn trai của mình, nên muốn bắn chết cả người bạn trai lẫn ông đệ tử này của tôi. Lúc bấy giờ cả hai người sợ hãi quá, chẳng biết làm gì hơn, bèn gọi điện thoại cho cảnh sát cầu cứu. Và cảnh sát đã đến thật, đến để bảo vệ họ. Có đến bốn, năm viên cảnh sát cùng đến và bắt giải cô gái này đi. Vì thế mà Quả Tốc không dám ở đó nữa, trở về hỏi ý kiến tôi là anh ta nên về đây hay cứ ở lại đó.

Đó là nguyên nhân khiến hôm nay Quả Tốc có mặt ở đây. Thế nhưng, khi nói xong câu chuyện thì sợi tóc cũng không còn, không biết nó lạc đi đâu? Chẳng có gió thổi, chẳng có gì cả, mà sao tìm không thấy sợi tóc nữa! Đó gọi là “Bài ký về một sợi tóc.”

________________

VẤN ĐÁP

- Hỏi: Có thể cúng dường thuốc men cho Phật được không?

Đáp: Cúng dường món gì cho Phật cũng đều được cả. Những gì mà quý vị yêu thích, thì quý vị đều có thể đem cúng dường cho chư Phật và Bồ Tát.

- Hỏi: Như có khi con nghe được một bài hát hoặc một khúc nhạc rất hay thì con có thể cúng dường ca khúc đó cho chư Phật và Bồ Tát được không? Nếu được, thì phép cúng dường phải như thế nào?

Đáp: Thì cũng là hát ca khúc đó lên thôi! Nhưng quý vị cần phải biết chắc là ca khúc đó không có tính cách dâm đãng, không gợi ý tà dâm thì mới được, mới là chánh đáng. Hiện nay Vạn Phật Thánh Thành của chúng ta cũng có những ca khúc về Phật Giáo, quý vị đều có thể đem cúng dường chư Phật. Chúng ta xướng những bài tán trước tượng Phật, thì đó cũng là dùng ca khúc để cúng Phật vậy. Trong Kinh Pháp Hoa đã có nói rất rõ ràng rằng các ca khúc, âm nhạc, bài tán có tính cách thanh tịnh, trang nghiêm, đều có thể được dùng để cúng Phật.

- Hỏi: Tuần lễ thứ ba của tháng sau là sinh nhật của Sư phụ, chúng con có thể tổ chức lễ mừng sinh nhật cho Sư Phụ chăng?

Đáp: Tôi không ăn mừng sinh nhật! Về sau, tôi đều không có sinh nhật. Ngày nào mà quý vị làm sinh nhật cho tôi, thì tôi sẽ chết. Nếu quý vị muốn cho tôi chết, thì cứ làm; còn nếu không muốn cho tôi chết, thì đừng làm! Nói tóm lại, tổ chức lễ mừng sinh nhật là điều không nên. Vì sao lại không nên?

Bởi vì “sinh nhật” là ngày chúng ta được sinh ra đời, song, đồng thời cũng là ngày “thập tử nhất sanh” của mẹ chúng ta! Đó là “nạn nhật,” một ngày mà người mẹ lâm nạn, nguy hiểm đến tánh mạng. “Nạn nhật” của mẹ thì chúng ta phải niệm Phật nhiều hơn, làm công đức nhiều hơn, làm điều tốt nhiều hơn. Nếu chúng ta tụ tập ăn uống linh đình, ồn ào náo nhiệt, lại còn thâu nhận đồ cúng dường, quà cáp của người khác, thì đây là một việc rất không đúng! Có điều, tôi không muốn nói ra, vì nếu tôi nói ra thì sẽ làm cho rất nhiều người trong quý vị không được vui, lại còn phàn nàn: “Chúng con ai nấy đều có làm sinh nhật cả; Sư phụ nói như vậy khiến cho chúng con không biết nên làm thế nào cho phải?”

Tôi lại hỏi quý vị: Quý vị có biết tổ chức ăn mừng sinh nhật, bất luận là người xuất gia hay tại gia, ai nấy cũng đều có tham cái gì không? Tham náo nhiệt—đó là điều thứ nhất. Còn điều thứ hai là gì? Ấy là tham quà tặng, tham lễ vật. Mừng sinh nhật mà—người thì đem tặng món quà này, kẻ thì biếu cho món quà nọ. Cha mẹ cũng tặng quà sinh nhật cho con cái. Sinh nhật của đứa trẻ con, ít nhất cũng phải tặng cho nó vài món đồ chơi, khiến cho nó mừng rỡ, thích thú.

Thật ra, đây là việc không cần thiết. “Sinh nhật” là ngày mình sinh ra đời—vì sao cần phải ăn mừng? Chúng ta vừa đến cõi đời này là bật khóc ngay, thế thì có gì đáng để ăn mừng nữa chứ? Quý vị cũng thấy đó—trẻ con vừa mở mắt chào đời là khóc thét lên: “Khổ a! Khổ a!”! Lúc đó đứa bé vì chưa biết nói, cho nên chỉ biết dùng tiếng khóc để bày tỏ nỗi niềm: “Khổ a! Khổ a! Đây là khổ a!”

Vì vậy, tôi muốn sửa đổi tập tục này. Quý vị đừng nên cố chấp; chúng ta cần phải phá bỏ mọi chấp trước mới được. Quý vị nghĩ xem, tôi dạy quý vị đừng tham lam, đừng tranh giành, đừng truy cầu, đừng ích kỷ, đừng tự lợi, đừng nó dối; thế mà nếu chính tôi lại mượn cớ làm sinh nhật để nhận “phong bì đỏ” (đựng tiền cúng dường) của mọi người, thì quả thật là chẳng có giá trị gì cả!

Có một đệ tử quy y của tôi nói rằng: “Sư phụ không ăn mừng sinh nhật, khiến con không có cơ hội để bày tỏ lòng thành của mình được. Vậy thì con phải làm sao đây?”

Tôi mách cho quý vị một biện pháp: Quý vị hãy niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát cho thật nhiều! Mỗi ngày, quý vị hãy thay tôi mà niệm danh hiệu các Ngài mười vạn tiếng, như thế chính là chúc mừng sinh nhật cho tôi vậy. Quý vị có làm được không? Đó mới là thật sự làm sinh nhật cho tôi; người tính không bằng trời tính vậy!!!

_________________________________________



Kệ Hồi Hướng

Nguyện đem công đức này,
Trang nghiêm Phật tịnh độ;
Trên báo bốn ân nặng,
Dưới cứu ba đường khổ.

Nếu có kẻ thấy nghe,
Tất phát Bồ Đề tâm
Khi mãn báo thân này
Đồng sanh nước Cực Lạc

HẾT

***

BÌA SAU SÁCH


Địa Tạng Vương Bồ Tát đời đời kiếp kiếp đều rất hiếu thảo với cha mẹ, do đó bộ Kinh Địa Tạng này chính là một bộ kinh về đạo hiếu (hiếu kinh) của Phật Giáo. Hiếu là nền tảng của con người. Làm con mà chẳng hiếu thuận với cha mẹ tức là trọn một đời chưa chu toàn trách nhiệm làm người; vì sao ư? Cha mẹ sinh ra ta, nuôi nấng ta, nếu ta được lớn khôn mà chẳng biết báo đáp công ơn, thì chính là chưa tròn nghĩa vụ làm người vậy.

“Hiếu” được chia làm bốn loại: Tiểu hiếu, Đại hiếu, Viễn hiếu và Cận hiếu. Thế nào gọi là “tiểu hiếu”? Tiểu hiếu là hiếu đạo trong phạm vi gia đình, tức là chỉ hiếu thảo với cha mẹ ruột của mình, chứ không hiếu thảo với tất cả mọi người, chưa có được lòng hiếu thảo bao la, quảng đại.

“Hiếu quảng đại” là gì? Đó chính là “đại hiếu”—hiếu thuận với khắp thiên hạ, xem tất cả các bậc cha mẹ trên đời như là cha mẹ của mình. Đây gọi là hiếu thuận với tất cả mọi người. Thế nhưng, đại hiếu vẫn chưa phải là hiếu thuận chân chánh.

Thế nào là “hiếu thuận chân chánh”? Chỉ khi nào quý vị thành Phật mới gọi là có lòng hiếu thảo chân chánh, mới là “chân hiếu.” Đây là một loại hiếu thảo đích thực, rốt ráo, vượt hẳn bốn loại hiếu kia.

Thế nào gọi là “cận hiếu”? Noi gương những người con chí hiếu thời cận đại, học cách hiếu thuận cha mẹ của họ—đó gọi là “cận hiếu.”

“Viễn hiếu” là gương hiếu thảo được muôn thế hệ truyền tụng và noi theo; còn cận hiếu là sự hiếu thuận đương thời. Cận hiếu cũng có thể gọi là tiểu hiếu, mặc dù vẫn có vài điểm bất đồng.

____________________


Đại Bi Chú

Message edited by LongTracAn - Thứ Bảy, 13 Aug 2016, 6:46 PM
 
atoanmt Date: Thứ Hai, 15 Aug 2016, 7:39 AM | Message # 63
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
FORUM » TRANG PHẬT GIÁO » PHẬT-SỰ MUÔN NƠI » Kinh Địa Tạng (dịch nghĩa)
Page 2 of 2«12
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL