Thứ Sáu
22 Sep 2017
6:02 PM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » TRANG Y HỌC - SỨC KHỎE » Y-HỌC - SỨC KHỎE » CÁC BÀI VIẾT của BS. Nguyễn Ý Đức (Bác sĩ Nguyễn Ý Đức)
CÁC BÀI VIẾT của BS. Nguyễn Ý Đức
thanhlongphapsu Date: Thứ Ba, 29 Aug 2017, 10:38 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Y Học Thường Thức của Bác sĩ Nguyễn Ý Đức


Hiến Thân Xác Cho Y Khoa Học
Miễn Dịch Là Gì?
Thay Tim
Nguyên tắc của sự lọc máu
World Blood Day
Sự mất nước
Dịch Sốt Xuất Huyết
Bệnh VẨY NẾN
Ghép tế bào gốc và ghép tủy xương
Nguyên nhân khiếm thị mù lòa
BỆNH NHIỆT ĐỚI
CƠ THỂ KHI VỀ GIÀ.
Bệnh Loét Dạ dày
Giấc Ngủ Ngon
Cơn Ðau Thể Chất
Thực Phẩm Bổ Dưỡng Trí Não
Nguyên nhân khiếm thị mù lòa
TẮM HƠI
Thời Tiết và Sức Khỏe
Phân biệt Cảm Lạnh và Cúm
NƯỚC (H2O)
Da khô
Tiếc Thương
Hãy Nói Có với Tuổi Già
Chất đạm
Hiểu Biết Căn Bản về Ung Thư
Đau Khớp
Nỗi Buồn Mùa Đông
Sinh tố hòa tan trong nước
Suy Nhược Cơ Bắp
Hiếu Ðộng-Kém Tập Trung
Tìm Kiếm Ung Thư Ruột Già
Ðiều Trị Tâm Bệnh
BỆNH LO ÂU
BỆNH TRẦM CẢM Ở NGƯỜI CAO TUỔI
CARBOHYDRAT
Bệnh Parkinson.
Ăn Mất Ngon
Đau Lưng
TÌNH MUỘN VẪN LÀ TÌNH
Nắng Sài Gòn-Nắng Viễn Phương
Ù Tai
Nuôi Con bằng Sữa Mẹ Hiền
Nghịch Lý Ðại Pháp
Duy trì bút mực viết tay
Tâm Sự Với Người Y Sĩ
CON NGƯỜI ĐI TÌM THUỐC TRƯỜNG SINH
Phòng Ngừa Sâu Răng
Ngứa Mùa Đông (Winter itch)
Bệnh Của Động Mạch Vành
Bệnh Van Tim
Kỹ Thuật Thông Tim
Massage-Tẩm Quất
Bệnh Sởi
Món Cá Quê Hương
Giải Trí Tuổi Già
Người cao tuổi với ăn chay
Tình Bằng Hữu-Bạn Già
Móng Tay, Móng Chân.
Test Tube Baby
Tương Quan Thầy Thuốc, Bệnh Nhân
Quà Tặng Thêm của Hoạt Động Tình Dục
Tử Biệt
Cao Niên mà Phong Độ
Những tiến bộ của Y Khoa Học
Bệnh Sạn Thận
Những Giọt Mồ Hôi
Tản mạn về Con Muỗi
Bệnh Thường Thấy Ở Mắt
Đầu Thu Xin Chích Ngừa Flu ( Cúm )
Bệnh Sốt Xuất Huyết Ebola
Sự Thăng Trầm của Tuổi Già
Con Cá Cứu Con Tim
Dị ứng thực phẩm
Hôi Miệng
Về Hưu
Bảng Chỉ Số Đường Huyết các Loaị Gạo.
Thuốc Vờ
Để cảm thấy vui hơn
Chuyện dùng thêm vitamin
Rượu Xuân nên Uống Vừa Thôi
Ghép tim nhân tạo
Điều trị sau tai biến não
Khác biệt giữa Stroke và Heart Attack
Bệnh Đau mắt Đỏ
Thực Phẩm “Hữu Cơ”
Tự Kỷ Trẻ Thơ
Mỹ phẩm Stem Cells
Phòng ngừa rủi ro Nắng Hạ
Khiêu vũ với Trái Tim
Mệt Mỏi Kinh Niên
Tối qua Quá Chén, Sáng nay vật vờ
Sự Đời… Bỏ cái Ta vào túi áo
Lò Nấu Vi Ba
UỐNG THUỐC NHƯ THẾ NÀO?
Cholesterol có Xấu không nhỉ?
Bệnh Viêm Phổi
Ảnh hưởng của Dược phẩm với Thực phẩm
Són Tiểu
Tác dụng của Caffein.
Công Dụng của Chất Xơ
Rủi Ro Quần Áo Giặt Khô
Đo Huyết Áp Đúng Cách
Thuốc Lá
THUỐC Ở TRONG RAU
ĐÔI ĐIỀU VỀ CÀ PHÊ, NƯỚC UỐNG
Nhìn Da chẩn Đoán bệnh
High Blood Pressure-Cao Huyết Áp
Ám Ảnh Sợ Xã Hội
Viên Aspirin với Bệnh Tim
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Tư, 30 Aug 2017, 2:06 AM | Message # 2
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Bệnh Phong Không Còn Ðáng Sợ Nữa




Thực vậy, bệnh Phong bây giờ đã được điều trị khỏi bằng sự phối hợp của nhiều dược phẩm với các phương thức phòng chống tàn tật và phẫu thuật phục hồi chức năng.

Cách đây mươi thế kỷ, bệnh hoành hành khắp mọi nơi trên thế giới. Ngày nay, số bệnh nhân đã giảm khá nhiều và chỉ còn thấy ở một số quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới Ðông Nam Á Châu, Nam Mỹ châu, đặc biệt là châu Phi.

Bệnh Phong được ghi nhận là đã xuất hiện đầu tiên ở Ấn Ðộ nhiều ngàn năm về trước.Theo Guinness World Records, đây là bệnh nhiễm được biết tới sớm nhất.

Từ Ấn Ðộ, bệnh lan truyền tới Viễn Ðông rồi Âu châu qua những người du lịch, những binh sĩ chinh phục thuộc địa lây bệnh.

Khí hậu nóng ẩm, nhà ở kém vệ sinh, dân chúng nghèo túng là môi trường mầu mỡ cho bệnh hoành hành. Cao điểm nhất của bệnh là vào những năm 1100- 1300 AD.

Ngày nay, bệnh giảm dần nhờ có những cải thiện về y tế công cộng cũng như trị liệu hữu hiệu.

Theo cơ quan Y Tế Thế Giới, năm 1985 có khoảng hơn 6 triệu ca được ghi nhận và khoảng từ 10 tới 12 triệu người bị phong trên thế giới. Tới năm 2000, con số giảm xuống là 600,000 ca ghi danh và 1.6 triệu người bệnh phong trên thế giới.

Ở Việt Nam còn khoảng 60,000 người bệnh sống trong 20 Trung tâm Ðiều trị Phong trên toàn quốc như Phú Quỳnh, Văn Môn, Sóc Sơn, Phú Bình, Sơn La, Quả Cảm, Quy Hòa... Trong số này có đến gần 30,000 người bị tàn tật, có nghĩa là ngoài sự bất hạnh bị bệnh Phong, họ lại còn bị nhiều khuyết tật khác nữa.

Nước Mỹ có trên dưới 7000 người bị Phong được ghi nhận và mỗi năm có thêm khoảng 300 ca, đa số là những di dân đã bị bệnh trước khi tới định cư tại Mỹ.

Tại một vài quốc gia Bắc Âu, số bệnh nhân Phong không đếm đủ trên các đốt của hai bàn tay. Do đó các nhân viên y tế chỉ biết bệnh qua phim ảnh, sách báo.

Ấy vậy mà có một thời kỳ, bệnh Phong đã là mối hoang mang kinh sợ và gây nhiều hiểu nhầm tai hại cho nhân loại trong cả mấy ngàn năm.

Người ta coi bệnh Phong như một trừng phạt của Thượng Ðế. Người mắc bệnh Phong bị cô lập, xa lánh, bêu xấu. Họ không được đến gần người khác, không được lập gia đình, phải mặc quần áo riêng để dễ nhận diện. Khi đi ra ngoài, họ phải đeo một cái chuông. Chuông kêu leng keng, để mọi người biết mà tránh. Tránh như tránh “Cùi” tránh “Hủi”.

Họ được tập trung vào các ngôi nhà hẻo lánh, xa thị trấn, bị coi như những kẻ đã chết trong khối người còn sống; được dự đám tang, chôn cất chính mình. Khi thực sự chết thì thân xác bị vùi lấp ở mảnh đất xa xôi, riêng biệt. Tại một vài quốc gia thời Trung Cổ, người ta tiêu diệt bệnh phong bằng cách chôn sống bệnh nhân hoặc đốt cháy khu người phong trú ngụ để loại trừ bệnh.

Một vài tôn giáo còn cho rằng phong lây lan qua hành động tình dục và đồng nghĩa Phong với tội lỗi. Và vì thế một công chúa phạm tà dâm đã bị vua cha mang gả cho một người mắc bệnh Phong.

Bản thân người bệnh cũng mang nhiều mặc cảm. Họ sống cầu bơ cầu bất lén lút trong thiếu thốn mọi mặt với vết thương lòng tàn phá chẳng kém chi vết thương trên xương thịt, cơ thể.

Tài liệu về nghi thức của một tôn giáo vào thế kỷ thứ 13 bên nước Anh có ghi rõ sự cấm đoán khắc nghiệt với bệnh nhân Phong:
... “Ta cấm không cho ngươi được bước vào nhà thờ, đến chợ, nhà máy xay, nơi làm bánh hoặc bất cứ nơi vào có dông dân chúng tụ họp.

Ta cấm ngươi không được rửa tay hoặc bất cứ vật tùy thân nào trong giếng nước, giòng suối các loại.

Ta cấm ngươi từ nay không được đi ra ngoài mà không mặc quần áo dành riêng cho bệnh nhân cùi để mọi người nhận ra ngươi.

Ta cấm ngươi giao hợp với bất cứ người nữ nào, ngoại trừ vợ ngươi.
Ta cấm ngươi sờ đụng tới con trẻ, dù chúng là ai, hoặc trao cho chúng hoặc người khác bất cứ vật sở hữu nào của ngươi.
Ta cấm ngươi ăn uống với bất cứ ai ngoại trừ kẻ cùi hủi như ngươi...”

Thật tội nghiệp cho một kiếp người. Bị hắt hủi, bị đầy đọa, bị cô lập chỉ vì số mệnh bắt phải mang một trong “tứ chứng nan y” vào thời điểm xa xưa: “Phong, Lao, Cổ, Lại”.

Vậy thì Phong là bệnh gì nhỉ?

Ngày nay ta đã biết rằng Phong là một bệnh nhiễm mãn tính gây ra do vi khuẩn Mycobacterium lepra. Vi khuẩn này đặc biệt gây tổn thương cho dây thần kinh ngoại vi, lớp da và niêm mạc như ở mắt, mũi, miệng; ở dái tai, cằm, đầu gối, cơ quan hô hấp và ngọc hành người nam. Ðây là những nơi có nhiệt độ tương đối lạnh hơn các vùng khác của cơ thể.

Phong cũng thường được gọi là bệnh Hansen, vì vi khuẩn gây bệnh được bác sĩ người Na Uy .Gerhart Henrick Armauer Hansen tìm ra vào năm 1873 qua kính hiển vi. Ðây cũng là khám phá đầu tiên về vi sinh vật gây bệnh ở loài người. Nhờ khám phá này mà Phong được cởi bỏ gán ghép là một thứ tội lỗi, một trừng phạt hoặc lây lan do di truyền.
Vi khuẩn Hansen hầu như chỉ có ở loài người. Chúng chỉ sống được trong lòng tế bào cơ thể. Vì thế vi khuẩn không nuôi cấy được ở trong phòng thí nghiệm nhưng có thể sinh sản ở bàn chân ẩm ướt của loài chuột.

Mới đây, các khoa học gia khám phá ra rằng, một số thú vật tên là armadillos, có nhiều ở Texas và Louisiana, cũng chứa vi khuẩn này trong gan, bao tử, ruột. Họ chưa biết nếu chúng có truyền bệnh sang người hay không. Thú vật này không có ở châu Phi, Ðông Nam Á châu, Ấn Ðộ, nơi mà bệnh Phong có nhiều. Một vài loại khỉ cũng chứa vi khuẩn Hansen. Ðôi khi vi khuẩn này cũng nằm lẫn trong đất cát.
Khoa học cũng chưa biết rõ bằng cách nào mà bệnh có thể lây lan giữa người với người. Trước đây người ta tin tưởng rằng bệnh rất hay lây và chỉ đụng vào người bệnh đã có thể bị nhiễm bệnh rồi. Nhưng thực ra không phải vậy. Kinh nghiệm cũng như khoa học cho hay bệnh có thể lây nhưng không dễ lan truyền. Và muốn lây lan, cần phải một thời gian tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa người lành với người bệnh. Ngay cả những người chăm sóc bệnh nhân Phong cũng ít khi bị nhiễm bệnh.

Hơn nữa, khoa học còn cho hay, chỉ 5% loài người có thể bị nhiễm vi khuẩn bệnh phong và 95% dân chúng có tính miễn dịch với bệnh này mặc dù có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân. Ðó là nhờ hệ miễn dịch của cơ thể có khả năng tiêu diệt vi khuẩn này.

Bệnh lây lan qua da hoặc hô hấp khi tiếp xúc trực tiếp, lâu ngày với những giọt nước mũi, nước miếng chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh. Có nhiều vị nữ tu, thầy thuốc, nhân viêm y tế chăm sóc người phong suốt đời mà chẳng bao giờ lây bệnh.

Vi khuẩn Phong tăng sinh rất chậm trong cơ thể. Một vài loại vi khuần sinh đôi trong thời gian vài phút thì vi khuẩn Hansen chỉ sinh sản một lần trong hai tuần lễ. Do đó bệnh xuất hiện rất trễ. Thời gian ủ bệnh kéo dài vài năm, có khi cả mươi năm. Tới lúc bệnh lộ diện thì cơ thể đã đầy rẫy những vi khuẩn.

Dấu hiệu bệnh.


Dấu hiệu sớm nhất của bệnh là những vết biến mầu trên da, không còn cảm giác nóng, lạnh và đau. Vết trên da có thể chỉ lốm đốm dăm ba chỗ và chứa rất ít vi khuẩn. Nhưng cũng có thể xuất hiện trên khắp cơ thể và đầy những vi khuẩn.

-Mặt người bệnh thường sần sùi từng cục nhỏ, mũi xẹp xuống khiến bệnh nhân có gương mặt của con sư tử.
-Có nhiều u cục ở dây thần kinh ngoại vi, gần khớp xương như cổ tay, khuỷu tay, đầu gối, Các cục này có thể sờ thấy qua da và hơi đau. Do đó khi khám bệnh, thầy thuốc thường dờ nắn ở khuỷu tay người bệnh coi có sưng đau hay không.

Không được điều trị, bệnh đưa tới một số biến chứng như:


-Vì da không còn cảm giác nên người bệnh thường hay bị phỏng hoặc thương tích nơi đầu ngón tay ngón chân mà họ không biết. Rồi vết thương bội nhiễm với vi khuẩn khác, tế bào tiêu hao, xương hủy hoại, ngón tay ngón chân ngắn lại. Do đó, xưa kia, có người cho rằng bị phong thì ngón tay ngón chân rụng dần.
-Thần kinh ngoại vi tổn thương khiến bàn tay bàn chân không cử động, cứng lại, co quắp. Họ đi lại khó khăn và không cầm đồ vật được.
-Bàn chân thủng loét và nhiễm độc.
-Giác mạc tổn thương, mờ đục, áp nhãn lên cao, mắt khô, không chớp mắt và có thể đưa tới khiếm thị, mù lòa.
-Ngọc hành teo, không sản xuất được tinh trùng, đưa đến vô sinh nam.
-Lông mày lông mi rụng nhưng tóc toàn vẹn.
Chính những biến chứng này là nguyên nhân đưa tới tàn tật cho bệnh nhân.

Ðiều trị.

Ðiều trị Phong cũng trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khó khăn. Ta có câu: “ Phong, Lao Cổ, Lại. Tứ chứng nan y”. Bệnh Phong đứng đầu bốn bệnh nan y này.

Xưa kia, phong được chữa chạy bằng cây con, thuốc gia truyền như hạt bí ngô, ké đầu ngựa..

Vào đầu thế kỷ 20, dầu của quả hạch chaulmoogra được dùng. Mỗi mũi chích dầu này gây đau như cắt thịt, mà chỉ công hiệu với một số bệnh nhân.

Năm 1941, Trung Tâm Y tế Công Cộng Carville ở tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ, dùng thuốc promin để chích mỗi ngày cho bệnh nhân phong điều trị tại Trung Tâm. Bệnh nhân nhận nhiều mũi chích thuốc này và chịu đựng nhiều đau đớn.

Ðến năm 1950, thuốc viên dapsone được sử dụng và được coi như thần dược. Sau một thời gian, vi khuẩn trở nên nhờn kháng với thuốc. Bệnh nhân lại chịu đựng sự tàn phá của vi khuẩn.

Cuối cùng thì các khoa học gia cũng tìm ra phương thức để chế ngự vi khuẩn phong. Ðó là vào thập niên 1970- 1980, khi hỗn hợp ba dược phẩm dapsone, rifampin và clofazimine được mang ra dùng. Cũng từ đó cả triệu bệnh nhân được chữa lành với đa hóa trị liệu này, mà không bị nhờn kháng thuốc hoặc bệnh tái phát. Tùy theo tình trạng, bệnh nhân cần uống thuốc từ sáu tháng tới 12 tháng. Chỉ sau hai tuần lễ uống thuốc, hầu hết vi khuẩn bị tiêu diệt và bệnh đã hết khả năng lây lan. Từ năm 1995, đa dược trị liệu này được cơ quan Y tế Thế giới phát miễn phí cho bệnh nhân tại mọi quốc gia.

Thuốc tiêu diệt được vi khuẩn, giảm thiểu lây lan, nhưng không phục hồi được tổn thương của dây thần kinh, biến dạng của mặt, của bàn chân bàn tay. Ðó là những dấu tích mà người bệnh phải đau lòng, tủi nhục mang suốt đời và là những đặc điểm của bệnh.

Trị liệu cũng gây ra một số tác dụng phụ, đặc biệt là những mụn sưng đỏ và rất đau nổi trên da. Các mụn này không phải vì thuốc mà là hậu quả của hiện tượng viêm khi vô số vi khuẩn bệnh bị tiêu diệt và thối rữa trong da.

Phòng ngừa

Về phòng ngừa bệnh thì vaccine BCG và thuốc viên dapsone đã có một thời kỳ được dùng, nhưng công hiệu rất giới hạn nên hiện nay ít được áp dụng

Hiện nay, bệnh chỉ xảy ra rất ít tại một số quốc gia chứ không là dịch như cúm người, cúm gà. Bệnh lại rất khó lây lan, cho nên giới chức y tế nhắc nhở mọi người:
- Tránh tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, miệng của bệnh nhân
- Rửa tay sạch sẽ sau khi chăm sóc, tiếp xúc với bệnh nhân
- Hiểu biết rõ ràng về nguyên nhân, diễn tiến của bệnh
- Nhớ rằng bệnh phong có thể chữa khỏi với dược phẩm nếu được phát hiện sớm và bệnh nhân uống thuốc đúng theo hướng dẫn.

Kết luận
Bệnh Phong không còn nguy hiểm nữa. Phong không phải là sự trừng phạt của Thần linh, Thượng Ðế. Phong không đương nhiên là bệnh hiểm nghèo với thịt tróc, xương rơi.

Mà chỉ là bệnh gây ra do vi khuẩn như những bệnh nhiễm khác. Bệnh có thể chữa khỏi nếu biết sớm và uống thuốc đều đặn.

Chỉ có điều là, sau khi điều trị, Phong hết lây lan, nhưng thường để lại một vài tàn tật cả về thể chất lẫn tâm thần cho nạn nhân. Họ còn cần được sự chăm sóc, giúp đỡ của xã hội, của mọi người trong việc phục hồi chức năng, phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi kinh tế xã hội và thay đổi hình ảnh người mắc bệnh phong trong cộng đồng. Họ xứng đáng được đối xử bình đẳng như những con người bình thường khác.

Cho nên đã có nhiều tổ chức cũng như cá nhân giầu tình người vẫn liên tục làm việc tại chỗ để chăm sóc họ, thăm viếng, giúp đỡ họ ở các trung tâm điều tri bệnh mới cũng như tại các làng phục hồi, huấn nghiệp cho bệnh nhân Phong.

Làng Phong Ðồng Lệnh là một trong nhiều làng Phong ở Việt Nam mà chúng tôi có cơ hội thăm viếng năm 2007.

Làng nằm trong một vùng hẻo lánh, khỉ ho cò gáy của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Từ Hà Nội tới làng phải mất hơn 5 giờ lái xe, với đường đi gập ghềnh, lầy lội. Có đoạn đường ngập nước khiến mọi người phải xuống đẩy xe khỏi chỗ đất lún.

Trước đây, làng là một trong những trại Phong của cả nước. Sau đó trại giải thể, bệnh nhân được đưa về trại Phong ở Nghệ An. Một số bệnh nhân Phong không muốn đi. Họ ở lại và tạo thành làng. Do đó trong làng có cả những người bình thường sinh sống.

Làng có hơn 110 dân cư trong đó có 29 bệnh nhân Phong. 24 người có di chứng, một em gái bị bại não, bốn người không bị tàn tật nhưng già và nghèo. Người già nhất làng là một lão bà 96 tuổi. Bà cụ bị liệt hai chân, nhưng trí nhớ còn rất tốt. Bà kể lại được ngày tháng nơi sinh của bà và đọc thuộc lòng được một bài thơ tiền chiến dài.

Do trước đây được xây dựng ở vùng heo hút trong khu vực đồi núi nên đất đai khô cằn, chỉ trồng được mía, sắn, ngô. Làng mới có điện, chưa có điện thoại và thiếu nước thường xuyên. Ðời sống kinh tế của họ rất thấp. Có gia đình quanh năm ăn sắn. 100% số gia đình trong làng là gia đình nghèo. Họ tự lao động, trồng trọt đề sinh sống.

Bệnh nhân Phong được chính phủ trợ cấp thuốc men và 140,000 đồng một tháng. Làng có một y sĩ là con một bệnh nhân ở lại phục vụ dân chúng. Làng có một nhà văn hóa, có lớp mẫu giáo. Trẻ con cũng được đi học, nhưng chỉ tới lớp hai là cao nhất.

Cảm thông nỗi khó khăn của bệnh nhân cũng như dân chúng, nhiều cơ quan từ thiện đã tới làng để giúp đỡ. Trong đó có Hội Bạn Người Cùi Việt Nam trụ sở ở Mỹ, Nhóm Vòng Tay Bè Bạn với những thanh niên thiếu nữ rất trẻ nhưng nhiều nhiệt huyết từ tâm ở Hà Nội. Ðể gọi là an ủi phần nào cho bệnh nhân Phong trong niềm đau bệnh tật của họ. Và cũng để mong rằng họ tiếp tục nhận được sự giúp đỡ chăm sóc của những người may mắn không mắc bệnh này.

Với nhóm Vòng Tay Bè Bạn: “ngoài thể hiện khát vọng được đóng góp trực tiếp một phần sức trẻ vào công tác từ thiện cộng đồng, sự tới tận nơi để khám bệnh, tặng quần áo hiện kim cho bệnh nhân làng Phong còn là cơ hội giúp cho chúng cháu tìm hiểu và nhận thức sâu sắc hơn về cuộc sống. Chúng cháu hy vọng sẽ góp phần nâng cao ý thức và quyết tâm của toàn xã hội trong việc quan tâm đến những người yếu thế khó khăn nói chung và những người bị ảnh hưởng bởi bệnh Phong nói riêng”. Các bạn ấy tâm sự như vậy.

Ðó là điều đáng mừng. Vì Tuổi trẻ Việt Nam đang mạnh dạn vươn lên để tiếp tay xây dựng một xã hội dân sự tại đất nước thân yêu này.
 
atoanmt Date: Thứ Tư, 30 Aug 2017, 1:20 PM | Message # 3
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5642
Status: Tạm vắng



AToanMT
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Tư, 30 Aug 2017, 9:25 PM | Message # 4
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện

Bệnh Parkinson.

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức


Không biết bắt đầu tự bao giờ, mà trong việc nghiên cứu y khoa học, có một tập tục lấy tên người khám phá ra sự việc để đặt cho kết quả công trình nghiên cứu của người đó.

Vi khuẩn gây ra bệnh lao mang tên vi trùng Koch, là tên của bác sĩ người Ðức Robert Koch (1843-1910) người đã khám phá ra vi khuẩn này vào năm 1882, bệnh phong mang tên bác sĩ người Na Uy Gerard Hansen (1841-1912), phương pháp khử trùng bằng sức nóng mang tên nhà bác học Louis Pasteur (1822-1895) của Pháp...và cả trăm tên riêng khác. Thật là một vinh dự cho các nhà nghiên cứu và cũng là để tỏ lòng tri ân của quần chúng đối với các vị này.

Bệnh Liệt Rung thường được gọi nhiều hơn với tên Bệnh Parkinson. Parkinson là tên của vị bác sĩ giải phẫu người Anh, James Parkinson, sinh năm 1755 và mất năm 1824.

Năm 1817, ở tuổi 62, ông xuất bản tác phẩm “Eassay on the Shaking Palsy”, diễn tả rõ ràng hơn về những cơn rung của một số bệnh nhân mà các thầy thuốc đương thời nói tới.

Ông thấy rằng, người bệnh bắt đầu có cơn rung giật cách hồi ở một trong các tay chân, rồi cơn rung trở nên không kiểm soát được. Khi người bệnh thay đổi vị trí bất thình lình thì cơn rung ở chi đó ngừng để rồi lại rung ở chân hoặc cánh tay phía bên kia. Ông cũng nhấn mạnh tới sự liên hệ giữa rung với liệt, với bước đi lảo đảo ngắn-đi đâm vầm- (festination), với dáng điệu khom khom lưng, cứng nhắc của người bệnh. Theo ông, liệt tay hoặc chân chỉ tạm thời dù bệnh có trầm trọng.

Tình trạng rung của các cơ đã được diễn tả trong các tài liệu y học từ nhiều ngàn năm về trước bởi nhiều nhà nghiên cứu như Galen, Leonardo da Vinci, Franciscus de la Boe...

Tiếp nối công trình của Parkinson, nhiều nhà khoa học khác đã công bố các khám phá mới về bệnh rung liệt, cả về nguyên nhân bệnh cũng như về điều trị. Trước đây, người ta cho rằng liệt rung gây ra do tai biến não, bệnh của tủy sống, của cơ...Một trăm năm sau khi bác sĩ Parkinon diễn tả bệnh, khoa học đã khám phá ra nguyên nhân chính của Liệt rung. Ðó là sự chết của vùng chất xám (substantia nigra) trong não bộ.

Vào thập niêm 1800, bác sĩ Thần kinh nổi danh Jean M. Charcot của Pháp đã đề nghị đặt tên của bác sĩ Parkinson cho bệnh Liệt Rung.

Parkinson là bệnh thoái hóa dần dần của hệ thần kinh trung ương, thường thấy ở lớp người ngoài 50 tuổi, rất ít khi thấy ở tuổi trẻ. Nam giới bị bệnh nhiều hơn nữ giới một ít. Bệnh vừa mãn tính vừa tăng lên đều đều. Mãn tính vì bệnh kéo dài một thời gian lâu. Tăng đều đều có nghĩa là bệnh trở nên trầm trọng với thời gian. Diễn tiến và các triệu chứng của bệnh thay đổi tùy cá nhân.

Nguyên nhân

Parkinson vẫn còn được coi như vô căn (idiopathic), có nghĩa là một bệnh mà nguyên nhân chưa được biết rõ.

Một số yếu tố được coi như có liên hệ với bệnh liệt rung là tác dụng phụ của vài loại thuốc trị bệnh tâm thần (phenothiazine, thioxanthene, reserpine...), viêm nhiễm virus não, ngộ độc khí carbon monoxide, khoáng manganese, một loại thuốc gây nghiện tổng hợp từ chất gây mê (narcotic), thiểu tuần hoàn não, tuổi cao, di truyền...

Ðiều mà y khoa học biết rõ về bệnh Parkinson là: não bộ người bệnh không sản xuất được chất dopamine.

Dopamine là một trong nhiều chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitter), chuyển tín hiệu điện năng giữa các tế bào thần kinh, tới các cơ quan để tạo ra hành động. Các công việc như học hỏi, suy nghĩ, cất bước đi, dơ tay cầm đồ vật... đều do não bộ điều khiển và chất dẫn truyền thần kinh chuyển mệnh lệnh tới các bộ phận liên hệ để hành động.

Dopamine do một nhóm tế bào não gọi là substantia nigra xản xuất.
Trong bệnh Parkinson, tế bào của vùng xám đen này bị hủy hoại và không sản xuất ra dopamine. Các tín hiệu xuất phát từ não ra lệnh cho cơ thể khi nào cử động, cử động ra sao... bị gián đoạn, khiến cho người bệnh không khởi sự và kiểm soát được các cử động, dáng điệu... của mình một cách bình thường.
Nhưng nguyên do gây ra sự hủy hoại các tế bào của substantia nigra vẫn chưa được biết rõ.

Triệu chứng


Các dấu hiệu của bệnh xuất hiện từ từ, không rõ rệt nên rất khó mà nhận ra và nhiều khi có thể nhầm lẫn với các bệnh khác. Thường thường, người nhà hoặc bạn bè lại để ý thấy một vài dấu hiệu sớm ở người bệnh, như nét mặt vô cảm, dáng đi cứng nhắc, rung bàn tay... Có người thấy cơ bắp cứng, đi lại không vững, mất thăng bằng; có người bắt đầu bằng rung tay, dễ mệt mỏi, bước chân kéo lê, nét mặt thẫn thờ, phát ngôn khó khăn...Người tuổi cao, người yếu sức khỏe cũng có thể có các dấu hiệu này. Cho nên, khó mà xác định thời gian khởi đầu của bệnh.

Nhưng khi đã tới giai đoạn xa, bệnh Parkinson có một số dấu hiệu chính sau đây:

a.Rung khi nghỉ.

Dấu hiệu này thường thấy ở hầu hết các bệnh nhân Parkinson.
Ðặc điểm của rung là sự chuyển động nhịp nhàng, đều đều, từ 4 tới 6 lần trong một giây, thường là ở bàn tay, khi người bệnh không làm việc, và họ không kiểm soát được. Ðôi khi rung cũng xảy ra ở cánh tay, chân, cằm, mặt, cổ, môi, lưỡi...Cường độ rung thay đổi tùy theo thời gian trong ngày, nhiều hơn khi căng thẳng tinh thần hay thể chất hoặc ở giữa đám đông người.

b.Cứng cơ

Hầu hết các bắp thịt đều ở trong tình trạng căng cứng liên tục, gây khó khăn cho các hoạt động của cơ thể.
Chân cứng nhắc, bước đi khó khăn, tay không vung vẩy; gương mặt lạnh như tiền (như mang mặt nạ), không cảm xúc, không nụ cười, không chớp mắt, khó khăn nhai nuốt nước miếng, thực phẩm, phát âm không rõ, tiếng nói nhỏ, đều đều, lắp bắp nói lắp.

Mặc dù căng cứng nhưng các bắp thịt không bị tổn thương và vẫn sử dụng được khi tập luyện.

c.Dáng đi cứng nhắc, đầu cúi về phía trước, lưng khom khom, cất bước khó khăn, không quay mình được, đôi khi lật đật bước nhanh để giữ thăng bằng, tránh té ngã..

d.Khó khăn khi bắt đầu cử động, chậm chạp khi thực hiện các cử động và mất khả năng điều chỉnh tư thế cơ thể. Nhiều người không làm được các động tác thường lệ như mặc quần áo, cài khuy cúc áo quần, cầm thìa, cầm bát ăn cơm, viết lách, cầm báo để đọc, gãi đầu...Ðang làm một động tác nào dó, người bệnh bất chợt trơ trơ bất động. Chẳng hạn như đang đi tự nhiên đứng khựng lại, đang nói chợt ngưng, há miệng ú ớ..

Hầu hết bệnh nhân ở trong tâm trạng trầm cảm, lo sợ, tự cô lập, hay quên, thay đổi tính tình, dễ dàng có cảm giác sợ sệt, không có sáng kiến...

Họ hay than phiền đau nhức các bắp thịt, táo bón, khó khăn tiểu tiện. Da thường bị viêm, nhờn, tróc, đặc biệt ở mũi, trán, mí mắt, lông mày...
Ðang ngồi mà đứng lên, họ thấy chóng mặt, muốn té vì huyết áp giảm. Họ rất hay bị té ngã vì mất thăng bằng cơ thể...
Các dấu hiệu của bệnh thay đổi tùy theo từng bệnh nhân. Có người rung, có người chỉ có co cứng cơ ...

Chẩn đoán bệnh

Bệnh được chẩn đoán qua tiền sử, các dấu hiệu bệnh lý, khám nghiệm tổng quát, khám nghiệm thần kinh, thực hiện não điện đồ, chụp X quang não bộ bằng MRI (magnetic resonance imaging), PET (positron emission tomography). PET là phương pháp khá tinh vi, có thể tìm ra các sinh hoạt sinh hóa chất, như là dopamine, noradrenaline... của não mà bình thường chỉ biết được khi giải phẫu quan sát tế bào não.

Tiền sử nhắm vào việc tìm hiểu xem bệnh nhân đã bị chấn thương, tai biến não, tiếp xúc với các chất độc hại hoặc đã có các bệnh thoái hóa khác.
Thực ra, không có một thử nghiệm hoặc x -quang nào có thể xác định bệnh.

Ðiều trị
Bệnh Parkinson đang được các nhà nghiên cứu dành rất nhiều công sức, tiền tài để tìm ra các phương thức điều trị, vì liệt rung gây nhiều khó khăn, trở ngại cho đời sống người bệnh
Bệnh được điều trị bằng dược phẩm, giải phẫu..Ngoài ra, các phương thức hỗ trợ như chăm sóc, dinh dưỡng, vật lý trị liệu, vận động cơ thể....cũng có vai trò quan trọng,

1.Dược phẩm
Mặc dù chưa có cách trị dứt, một số dược phẩm có thể làm dịu bớt các dấu hiệu của bệnh Parkinson, giúp người bệnh duy trì được sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên thuốc cũng có thể gây ra một vài trở ngại:
-Thuốc có nhiều tác dụng phụ rất khó chịu cho bệnh nhân
-Bệnh nhân có thể trở nên quen với thuốc, cần gia tăng liều lượng hoặc dùng phối hợp nhiều dược phẩm với nhau.
-Thời gian tác dụng của thuốc rất ngắn, nên bệnh nhân phải uống nhiều lần trong ngày
Ngoài ra, thuốc không giải quyết vấn nạn chính của bệnh là sự hủy hoại các tế bào tạo ra chất dopamine của bệnh, cho nên tương lai bệnh khó mà ước đoán.

Các thuốc thường dùng là:

a.Thuốc để bổ sung dopamine không được sản xuất ở não, loại levodopa. Vào tới não, Levodopa sẽ chuyển hóa thành dopamine.
Levodopa thường được dùng phối hợp với môt loại thuốc khác (carbidopa) để giảm thiểu tác dụng phụ của levodopa và tăng cường hiệu năng của thuốc này.

Tác dụng phụ của levodopa gồm có ngây ngất, giảm huyết áp khi đứng lên, ác mộng, rối loạn vận động, buồn nôn, đau bụng, hồi hộp, đôi khi hoang tưởng ..

b.Thuốc chống sản xuất chất acetylcholine ( anticholinergic drugs như benzotropine, diphenhydramine...) Acetylcholine là chất kích thích cơ cứng và rung nhiều hơn khi dopamine vắng mặt.
Tác dụng phụ thường thấy là khô miệng, táo bón, mờ mắt, mất định hướng, mê sảng...

c.Thuốc nhái tác dụng của dopamine (bromocriptine, perglolide...), giúp dẫn truyền tín hiệu thần kinh mà không cần tới dopamine.
d-Thuốc ngăn men monoamine oxidase (MAO) chuyển hóa dopamine thành chất vô hiệu. Ðó là loại monoamine oxidase inhibitor-B (MAO- cool như thuốc selegiline, Azilect (rasagiline...).

2.Giải phẫu

Giải phẫu được áp dụng cho một số bệnh nhân không thuyên giảm với dược phẩm. Giải phẫu có thể là:
a-Cắt bỏ mô bào não gây ra các cử động hoặc tiết ra các hóa chất bất thường.
b-Giải phẫu cầu nhạt (pallidum): cầu nhạt là một trong nhiều tập hợp đặc của chất sám, nằm sâu trong mỗi bán cầu não, và có thể gây ra một số cử động bất thường cho bệnh nhân sau nhiều năm dùng thuốc. Nhà giải phẫu sẽ tìm đúng vị trí mô bào này và đốt một cái lỗ nhỏ li ti lên tế bào đó, chặn không cho tế bào gây ra cử động bất thường.
c-Kích thích não (deep brain stimulation -DBS). Một sợi dẫn điện nhỏ như sợi tóc được đặt vào vùng tế bào não kiểm soát sự cử động. Dây nối với một dụng cụ phát điện nhỏ xíu đặt dưới xương đòn gánh, nằm ở dưới da. Luồng điện có thể giảm các kích thích thần kinh gây ra rung rật và cử động bất thường, chứ không ngăn chặn được diễn tiến của bệnh. Phương pháp này rất hữu hiệu trong một số trường hợp và được dùng khi dược liệu thất bại hoặc gây ra nhiều tác dụng ngoại ý. Rủi ro của DBS rất ít và công dụng kéo dài khoảng 10 năm.
d-Gene trị liệu đang được thử nghiệm và có nhiều triển vọng tốt. Mục tiêu của trị liệu này là thay gene bệnh bằng gene khỏe mạnh, qua trung gian của một vật thể nào đó. Hiện nay các nhà khoa học đang thử dùng một loại virus để làm công việc mang gene lành mạnh này vào não.

Hỗ trợ, chăm sóc
Bệnh Parkinson đưa đến nhiều trở ngại, khó khăn cho nếp sống của người bệnh.
Họ có khó khăn trong việc ăn uống, tắm rửa, vệ sinh.
Họ đi lại khó khăn, không diễn tả được ý nghĩ lời nói.
Tính tình thay đổi bất thường, đôi khi bướng bỉnh đập phá.
Họ không tự sử dụng thuốc men vì uống nhiều loại khác nhau và nhiều lần trong ngày..

Và họ cần sự chăm sóc giúp đỡ.
Người chăm sóc hầu như có vai trò của nhiều nhà chuyên môn: hướng dẫn ăn uống, hướng dẫn dùng thuốc, hướng dẫn cách nói, vận động cơ thể, vệ sinh cá nhân....Ðây là việc làm cần sự hy sinh của người chăm sóc.
Ngoài ra, bệnh nhân cần giữ hẹn với bác sĩ để theo dõi bệnh tình, thay đổi thuốc; tham dự các chương trình vật lý trị liệu, duy trì các sinh hoạt xã hội...
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Tư, 30 Aug 2017, 9:36 PM | Message # 5
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Ăn Mất Ngon

Nguyễn Ý Đức



Ngon miệng (appetite) là khoái cảm, thèm muốn ăn uống. Ăn mất ngon xảy ra khi không còn thèm muốn này, mặc dù cơ thể vẫn có nhu cầu về năng lượng, thực phẩm.

Dù do nguyên nhân nào, ăn không ngon miệng là một chuyện quan trọng đối với mọi người, đặc biệt là người cao niên và trẻ đang tăng trưởng.

Ăn mất ngon không phải là một bệnh mà là dấu hiệu, triệu chứng của một bệnh nào đó.

Khi ăn không ngon thì sự tiêu thụ thực phẩm giảm. Mà thực phẩm lại mang năng lượng cho mọi sinh hoạt của cơ thể, cung cấp vật liệu để tu bổ tế bào hư hao, tạo ra tế bào mới. Không có đủ chất dinh dưỡng sẽ dẫn tới giảm cân, cơ thể mệt mỏi, bắp thịt teo, tâm thần buồn rầu, giảm khả năng miễn dịch, kém sức chịu đựng. Tử vong có thể xảy ra nếu mỗi năm liên tục sụt đi 10% sức nặng cơ thể.

Các cụ ta có kinh nghiệm là “không ăn thì mẻ cũng chết, nói chi con người”.

Nguyên nhân ăn mất ngon

Có nhiều nguyên nhân gây ra ăn mất ngon

1- Ăn mất ngon vì bệnh như:

a-Trong bệnh tim-phổi, người bệnh mệt mỏi không muốn ăn, lại còn bị sụt cân vì các chức năng tuần hoàn, hô hấp cần nhiều năng lượng hơn để làm việc.

Ngoài ra, các thuốc trị bệnh tim phổi như steroid, theophyllin làm tăng hơi trong bao tử, bệnh nhân cảm thấy no bụng, không muốn ăn.

b- Bệnh ung thư đặc biệt là ung thư phổi và bao tử

c- Nhiễm trùng như trong trường hợp bênh lao, bệnh AIDS.

d- Bệnh nội tiết như tuyến giáp trạng ác tính, bệnh tiểu đường

đ- Trầm cảm, buồn phiền vì sống cô lập hoặc mất bạn đồng hành.

e-Rối loạn vị giác và khứu giác khiến cho không biết được hương vị thực phẩm và không ăn

2- Nghiện rượu

Rất thường xẩy ra ở người cao tuổi. Khi uống rượu say, họ coi thường việc tiêu thụ thực phẩm. Khi hồi phục cơn say, họ ói mửa, tiêu chẩy, không muốn ăn.

Rượu cũng gây hư hao các chức năng và cấu trúc của gan, ảnh hưởng tới sự tiêu hóa, hấp thụ và tồn trữ thực phẩm, sinh tố và kim loại cần thiết.

3- Ăn mất ngon do tác dụng phụ của dược phẩm

-Thuốc amphetamine làm giảm sự ăn, cho nên nhiều người mập phì muốn giảm cân đã dùng.

-Lạm dụng các loại thuốc kích thích thần kinh (thuốc lắc ectasy)

-Thuốc trụ sinh gây tiêu chẩy và làm thay đổi mùi vị thực phẩm; thuốc trị ung thư gây ăn mất ngon đồng thời cũng đưa tới táo bón, ói mửa, tiêu chẩy.

-Các thuốc trị bệnh tim, thuốc an thần, thuốc ngủ giảm khoái cảm ăn uống.

-Vài loại thuốc gây khô miệng (cogentin, artane), khiến cho sự nhai nuốt thức ăn khó khăn.

-Thuốc chống đau nhức, thuốc trị cảm, chống nghẹt mũi

Ngoài ra, người cao tuổi còn kém ăn vì dùng nhiều loại thuốc trong ngày, khiến cho ngang bụng, không muốn ăn.

4- Bệnh răng miệng, răng giả lung lay, nhai nuốt khó khăn; yếu sức hoặc đau nhức không sử dụng tay hữu hiệu để đưa thức ăn vào miệng; ăn chậm làm thức ăn nguội không hấp dẫn, bỏ dở bữa ăn.

5- Không có thực phẩm, nghèo túng, suy yếu không đi mua đồ ăn được, không nấu nướng được.

Ðiều trị

Vì kém khẩu vị chỉ là dấu hiệu của một bệnh nào đó trong cơ thể, cho nên cần đi bác sĩ để tìm ra nguyên nhân rồi điều trị nguyên nhân đó.

Với bệnh nhân, nên lưu ý tới các điểm sau đây:


-Ăn chung với bạn bè hợp tính sẽ vui hơn và ăn được nhiều hơn.

-Bày biện bàn ăn với chén bát mầu sắc, sạch sẽ, kèm thêm vài bông hoa, điệu nhạc hấp dẫn

-Ăn làm nhiều bữa nhỏ mỗi hai giờ trong ngày thay vì hai hoặc ba bữa ăn chính. Một mâm cơm với nhiều món ăn có thể làm nhiều người thấy ngán, không muốn ăn. Ăn ít một giúp tiêu hóa dễ dàng hơn rồi sau đó tăng dần dần phần ăn.

-Món ăn phải hợp với khẩu vị, ý thích của mỗi cá nhân

-Khi ăn, nên chậm rãi nhai để thưởng thức hương vị món ăn và tạo ra sự muốn ăn món đó trong tương lai

-Bữa ăn nào thấy ngon miệng thì tăng món ăn trong bữa đó.

-Thêm gia vị, mầu sắc khi nấu nướng để món ăn hấp dẫn hơn

-Tránh uống nhiều nước hoặc uống thuốc trước bữa ăn để tránh no bụng.

- Kiêng món ăn có thể làm no hơi như nước có gas, cà phê, rau cải bắp, broccoli.

-Ðể có đủ năng lượng và chất đạm, uống hai ly sữa ít chất béo hoặc sữa đậu nành mỗi ngày.

-Tránh tiêu thụ quá nhiều rượu và thuốc lá là những chất kích thích niêm mạc dạ dày, ruột khiến cho ăn không thấy ngon. Nhiều người dùng một chút rượu gọi là “khai vị” để giúp ăn ngon, nhưng nên uống trước bữa ăn khoảng nửa giờ.

-Uống nước đầy đủ để miệng khỏi khô, khó nhai nuốt thực phẩm.

-Tránh táo bón và tiêu chẩy.

- Ði bộ hoặc tập luyện nhẹ giúp ăn ngon hơn đồng thời cũng giúp cơ thể tiêu thụ chất dinh dưỡng. Tránh các tập luyện quá sức của mình.

-Giữ gìn vệ sinh răng miệng, điều chỉnh răng giả, khám bác sĩ nha khoa theo định kỳ.

-Giảm thiểu nguyên nhân tinh thần như căng thẳng bằng tâm lý trị liệu, áp dụng phương pháp thư giãn cơ thể, thiền định, tập trung hít thở để giảm bồn chốn, lo âu, nhờ đó có thể cải thiện sự ăn uống.

Kết luận

Ăn uống là cả một nghệ thuật. Ðể ăn ngon cũng phức tạp hơn. Chẳng thế mà lão thi sĩ Tản Ðà đã thốt ra:

« Nghề ăn cũng lắm công phu

Làng ăn ta phải biết cho đủ mùi »

Cụ cũng nêu ra bốn tiêu chuẩn để có bữa ăn ngon miệng:

« Thức ăn ngon

Lúc ăn ngon

Chỗ ăn ngon

Người ăn cùng ăn ngon »

Thì mới có hứng thú mà ăn.

Nếu liên tục ăn không ngon, cơ thể sẽ thiếu chất dinh dưỡng, suy nhược, gầy mòn, mất tinh anh, có thể đưa tới tử vong.

Và dân gian ta cũng ghi nhận:

« Ăn được ngủ được là tiên

Không ăn không ngủ, mất tiền thêm lo ».

Xét ra cũng có lý vậy.

 
thanhlongphapsu Date: Thứ Tư, 30 Aug 2017, 9:44 PM | Message # 6
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Đau Lưng

Bác sĩ Nguyển Ý Đức




Sau Nhức đầu thì Đau lưng là nguyên nhân thứ nhì gây đau cho mọi người, đặc biệt là với người cao tuổi.. Chăm sóc đau lưng cũng là nguồn phí tổn khá cao, có lẽ chỉ sau các bệnh về tim.

Với nhiều nhà chuyên môn y tế thì Đau Lưng hầu như là một căn bệnh của đời sống gây ra do thói quen bất thường của người bệnh. Vì họ đứng, họ đi, họ nâng nhấc hoặc lôi kéo sự vật nặng không đúng cách, đưa tới nguy cơ tổn thương cho các thành phần của lưng. Khi đã bị một lần thì đau lưng cũng có nguy cơ tái phát.

Các nhà chuyên môn cũng ước lượng là 80% các trường hợp Đau Lưng có thể phòng ngừa được nếu ta để ý một chút hoặc nếu ta có vài kiến thức căn bản về cột sống.

Lưng là phần dưới của thân mình gồm có 5 đốt xương sống, các gân, dây chằng, cơ bắp để giữ lưng ngay thẳng. Các đốt xương này chịu đựng sức nặng của phần trên của thân mình, cho nên chúng rất dễ tổn thương.

Từ các đốt sống này xuất phát dây thần kinh não tủy. Giữa các đốt sống là đĩa sụn liên hợp giúp cột sống cử động trơn tru.

Ðau lưng thường thường gây ra do ba nguyên nhân chính:

-Căng cơ bắp-dây chằng trong các hoàn cảnh như mập phì, có thai, người cao tuổi ít vận động, nâng mang vật nặng mà lại dùng sức mạnh của lưng, tư thế không ngay thẳng, nhiều xúc động mạnh…

-Thoái hóa đĩa đệm

-Viêm mặt khớp xương.

Ngoài ra, bị chấn thương, u bướu, viêm nhiễm cột sống, nằm ngủ trong vị thế bất thường hoặc nệm quá mềm cũng là nguy cơ gây đau lưng. Nhiều trường hợp phụ nữ với nhũ hoa quá khổ cũng gây ra đau lưng vì lưng chịu một sức nặng ngoài khả năng.

Người cao tuổi thường hay bị đau lưng vì sự thoái hóa cột sống, cơ bắp dây chằng lỏng lẻo, đốt cột sống dễ bị nghiêng vẹo, đè vào dây thần kinh não tủy, gây ra đau. Với các bác, chỉ khom khom di chuyển một chậu cây cảnh hoặc cúi xuống bế đứa cháu nội ngoại cũng dễ dàng ôm lưng nhăn nhó.

Theo các nhà chuyên môn, 80% dân chúng đều bị đau lưng một vài lần nào đó trong cuộc đời. Đau lưng là lý do hàng đầu khiến cho người dưới 45 tuổi phải nghỉ việc.

Đau lưng có thể là cấp tính hoặc kinh niên.


Cấp tính thường kéo dài khoảng 4 tuần lễ còn kinh niên thì liên tục đau, có khi cả dăm ba tháng.

Những cơn đau và cứng khớp thường xảy ra vào buổi sáng sớm và xế chiều. Ban đêm cơn đau khiến người bệnh khó ngủ.

Đau cũng thường thấy ở dưới chân khi đi lại hoặc đứng lâu.

Phòng tránh

Phòng ngừa có mục đích tránh các căng dãn không cần thiết cho cơ bắp và cũng để tăng cường sức mạnh cho các bắp thịt hỗ trợ cột sống.

1- Khi mang vật nặng, không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối, như vậy tránh được sự tổn thương cho lưng.

2- Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.

3- Đừng đi giầy gót quá cao, làm xương sống xiêu vẹo, yếu.

4-Giữ dáng điệu ngay ngắn.

5-Khi đứng, bụng thót phẳng , hướng xương chậu về phía sau sẽ giúp phần dưới của cột sống vững hơn. Nếu cần đứng lâu thì đặt một chân lên vật cao khoảng hai tấc để ngả xương chậu về phía sau.

6-Ngồi lâu đều gây nhiều khó chịu cho lưng. Vì thế lâu lâu nên đứng dậy, đi qua đi lại, thư dãn xương lưng. Tránh ngồi trên nệm ghế quá mềm.

7-Nệm xe đều gây đau lưng khi ngồi quá lâu. Nên lót lưng với một cái gối nhỏ và để tay trên vật tựa; kéo ghế gần về phía trước để đầu gối cao bằng hông.

8-Nên ngủ trên nệm cứng; nằm nghiêng, đầu gối co thước thợ hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng;

9- Khi cần coi tivi hoặc đọc sách lâu, nên nằm để tránh căng cho xương sống.

10-Quần áo không nên quá bó sát vào người để cơ bắp, xương khớp không bị gò bó..

11-Tập thể dục với các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng.

12-Buổi sáng ngủ dậy, trước khi bước ra khỏi giường nên tập các cử động vẹo người qua lại để thư giãn lưng. Lý do là sau bẩy giờ nằm ngủ, xương khớp, bắp thịt cứng lại, nếu đứng dậy ngay có thể té ngã, gây tổn thương cho lưng và các phần khác của cơ thể.

13-Không hút thuốc lá vì nicotine làm giảm máu lưu thông tới lưng khiến cơ khớp yếu.

14-Giảm cân nếu quá mập, vì mập phì làm mô mềm ở lưng căng cương. Hai phần ba người bị đau lưng kinh niên đều bị béo phì.

Vài cử động để thư dãn cột sống

1-Ðứng thẳng, hai bàn chân xa ngang thân người, úp hai bàn tay lên ngang lưng. Ðầu gối ngay thẳng, ưỡn lưng về phía sau càng xa càng tốt. Giữ nguyên vị trí trong vài ba giây rồi trở lại dáng điệu bình thường. Làm cùng động tác năm lần.

2- Ðứng ngay thẳng, tựa hai tay lên phía sau của thành ghế. Ðầu gối thẳng, dơ một chân về phía sau càng cao càng tốt. Hạ chân xuống từ từ và làm cùng động tác với chân kia. Làm năm động tác liên tiếp cho mỗi chân.

3-Nằm sấp, hai chân duỗi thẳng, khuỷu tay gấp, hai bàn tay úp xuống sàn. Dùng hai tay đẩy thân mình lên càng cao càng tốt, mông và chân vẫn phẳng dưới sàn. Nhắc lại cùng động tác 10 lần.

4-Nằm ngửa, đầu gối gập lại, hai bàn chân để dưới đất. Từ từ nhấc đầu và vai khỏi sàn, hướng hai bàn tay về phía đầu gối, giữ vị trí trong mười nhip đếm rồi nằm thẳng mình trở lại. Nhắc lại cùng cử đông năm lần.

5-Nằm sấp, chân tay đụng mặt bằng. Nâng cao một chân, đếm từ 1 đến 10 rồi hạ chân xuống. Nhắc lại cùng cử động với chân kia. Làm 5 lần mỗi chân.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 0:52 AM | Message # 7
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Ù Tai

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức





Ù tai là bất cứ âm thanh nào ở trong tai hoặc đầu như tiếng chuông reo, tiếng xe ầm ầm chạy trong đường hầm, tiếng vo ve như ong bay, tiếng huýt sáo…mà chỉ bệnh nhân nghe thấy.

Có nhiều hình thức ù tai:

-Những tiếng ồn như chuông điện reo trong tai, liên tục với một âm điệu nhắc đi nhắc lại.

-Tiếng ồn ngắt quãng hoặc trùng hợp với nhịp đập của trái tim (Pulsating tintinus)

-Ù tai với tiếng hú, tiếng huýt sáo.

-Ù tai với các tín hiệu bíp bíp như tiếng “bíp bíp” trong tín hiệu truyền tin (morse).

-Ù tai với nhiều tiếng ồn pha trộn, hòa nhịp.

Bệnh nhân ù tai có thể có các triệu chứng như chóng mặt, đau trong tai, nhức đầu, tai như bưng bít đầy đầy.

Trong một số trường hợp, ù tai có thể khiến cho bệnh nhân trở nên khó ngủ, kém tập trung tư tưởng, khó khăn đọc sách báo, giao tiếp với mọi người hoặc khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày.


1.Nguyên nhân gây bệnh


Nguyên nhân gây ra ù tai chưa được hoàn toàn biết rõ. Sau đây là một số hoàn cảnh đưa tới chứng bệnh này:

-Sau một thời gian dài thường xuyên nghe những tiếng ồn với tần số quá cao là nguyên nhân chính đưa tới ù tai kinh niên.

Chẳng hạn trường hợp các xạ thủ súng cối, người đào hầm mỏ, đục phá đường xá hoặc đôi khi cũng thấy ở người nghe/chơi nhạc khí với âm thanh cao.

Cường độ âm thanh được đo bằng decibels (dB). Các nhà chuyên môn khuyên nên mang vật nhỏ nhét lỗ tai kho âm thanh từ 85 B trở lên. Âm thanh của xe cộ lưu thông vào khoảng 85 dB; máy sấy tóc là 95 dB, máy cắt cỏ 105 dB; máy bay phản lực 100 feet xa là 130 dB; trẻ em la hét là 110 dB. Còn tiếng đồng hồ tích tắc là 20 dB, máy giặt quần áo 70 dB…

-Người tuổi cao thường bị giảm thính giác kèm theo ù tai gây ra do thoái hóa các thành phần cấu tạo tai.

-Bệnh tai trong (Menie`re disease) với chóng mặt, điếc và ù tai và thường là ở một bên tai.

-Các xương nhỏ ở tai trong trở nên cứng.

-Viêm nhiễm tai giữa khiến cho các cục xương nhỏ có sẹo, cọ vào màng ngăn tai giữa-tai trong và tạo ra âm thanh.

-Một vài hóa chất dược phẩm như cafeine, nicotine, aspirin, ibuprofen, thuốc kháng sinh streptomycine, thuốc có chất quinine, thuốc chống trầm cảm, thuốc an thần. Trong trường hợp này, ù tai hết khi ngưng dùng thuốc.

-Nhiều người cho biết khi uống rượu vang đỏ, ăn chocolate cũng gây chứng ù tai ngắn hạn.

-Các bệnh như cao huyết áp, xơ cứng động mạch, u bướu tai và xương đầu, bệnh tiểu đường, thiếu hồng huyết cầu, suy tuyến giáp đều gây ra ù tai trầm trọng và ta cần khám bác sĩ chuyên khoa ngay.

-Hẹp động mạch cổ làm cản trở máu lưu thông cũng gây ra tiếng ồn trong tai.

-Ù tai cũng xẩy ra khi ống tai ngoài bị ráy tai bít kín, âm thanh từ ngoài không vào được tai và tiếng ồn trong tai lại mạnh hơn.

-U nhọt, nhiễm vi trùng tai ngoài.

-Viêm nhiễm xoang mặt hoặc mũi thường gây ra ù tai. Khi hết bệnh thì ù tai cũng hết.

-Dị ứng với phấn hoa, hóa chất.

-Nhiều người có xương hàm không ăn khớp, ngay thẳng cũng hay bị ù tai.

2.Chẩn đoán bệnh

Trong đa số các trường hợp, nguyên nhân gây ra ù tai không biết, vì thế để chẩn đoán, nên tới bác sĩ chuyên môn tai-mũi-họng để được khám xét, thử nghiệm.

Bác sĩ sẽ khám tổng quát, hỏi lịch sử bệnh, hoàn cảnh nào ù tai xuất hiện cũng như xem xét lại các thuốc đang dùng coi có thứ nào gây ra ù tai.

Sau đó bác sĩ sẽ làm mấy thử nghiệm như:

-Chụp x-quang đầu để coi xem các thành phần của tai có bị tổn thương hoặc có bất thường ở xương sọ. Đôi khi cũng cần làm thêm các thử nghiệm cao cấp hơn như MRI, CT scan.

-Thực hiện thính lực đồ (audiogram) để đo khả năng nghe và phân biệt các âm thanh, tiếng nói.

Ngoài ra, còn các phương thức để đo lường mức độ hoặc che đậy tiếng ù ù trong tai.

3.Điều trị

Điều hơi không vui cho bệnh nhân là chứng ù tai không chữa dứt được. Tuy nhiên một số phương thức có thể giúp bệnh nhân bớt khó chịu vì tiếng vo ve trong đầu.

-Xin bác sĩ khám xem có thay đổi bất thường các cấu trúc trong ống tai cũng như lấy hết ráy tai vì nhiều ráy cũng có thể gây ra tiếng ù tai.

-Hỏi bác sĩ coi lại thuốc mình đang uống có thuốc nào gây ra tác dụng ù tai thì thay thế hoặc ngưng ngay thuốc đó.

-Bớt dùng muối vì muối tăng huyết áp và làm tai ù nhiều hơn.

-Nhiều người cảm thấy giảm ù tai khi nghe âm nhạc nhẹ hoặc tiếng nước chẩy để che lấp tiếng ồn trong tai.

-Nhiều người điếc cũng hay bị ù tai. Mang trợ thính cụ để nghe rõ thì ù tai cũng hết.

- Masker là những dụng cụ điện tử nhỏ phát ra tiếng ồn để lấn át ù tai.

Nguyên tắc của dụng cụ này là tạo ra âm thanh cùng tần số với tiếng ù trong tai bệnh nhân, nhờ đó bệnh nhân sẽ nghe âm thanh này thay vì tiếng rầm rì thác đổ, tiếng phi cơ phản lực bay.

Theo các nhà chuyên môn, 60% bệnh nhân thỏa mãn với các masker này. Cũng có masker đặt trên gối giúp bệnh nhân không bị ù tai và ngủ ngon.

-Hoặc áp dụng mẹo sau đây:


-Che tai với hai bàn tay úp , ngón tay hướng về phía sau.

-Các ngón tay chạm nhau-Đầu ngón tay chỏ đè lên đầu ngón tay giữa đối diện.

-Dùng đầu ngón tay chỏ bật lên bật xuống đầu ngón tay giữa bàn tay kia để tạo ra âm thanh giống như tiếng trống kêu. Lập đi lập lại bốn năm chục lần, hy vọng âm thanh này làm át tiếng ù trong tai.

Nhiều người cảm thấy bớt ù tai khi dùng nước triết cây ginkgo để tăng máu lưu thông tới não trong vài tháng và thấy bớt ù tai. Có bệnh thì vái tứ phương mà!!!

Khi biết rõ nguyên nhân gây ra ù tai, điều trị các nguyên nhân cũng giảm được ù tai.

Mới đây, vài dược phẩm chữa bệnh nhức nửa đầu migraine như gabapentin (Neurontin) và acamprosate (Campral), thuốc an thần alprazolam (Xanax) được mang ra thử nghiệm và có kết quả tốt đối với một số bệnh nhân.

Hiện nay, các nhà y khoa học đang tìm hiểu hơn về chứng ù tai cũng như thử các phương thức chữa trị mới. Người ta đã nói tới đưa các luồng điện cường độ yếu vào tai trong để “chấn áp” ù tai hoặc áp dụng các phẫu thuật để chữa dứt chứng ồn ào trong đầu, trong tai.

4.Sống với Ù tai

Ở đời, có những hoàn cảnh ngang trái, những bệnh tật vô phương cứu chữa thì bệnh nhân cần “sống chung hòa bình” với khó khăn đó. Ù tai là một trong những khó khăn đó.

-Nên thư giãn tinh thần tránh các cơn lo âu sầu muộn hoặc bực tức căng thẳng để giảm thiểu ù tai.

-Tránh dùng các chất kích thích có thể gây ra ù tai như cà phê, rượu, thuốc lá.

-Ngủ nghỉ đầy đủ và tránh để cơ thể khỏi bị mệt mỏi

-Ngủ với gối đầu hơi cao hơn thường lệ có thể làm giảm nghẹt mũi nhờ đó ù tai sẽ giảm theo.

-Thường thường ù tai xuất hiện buổi tối khi đi ngủ, trong phòng yên tịnh. Nên lợi dụng tiếng động tích tắc của đồng hồ, tiếng nhạc nhè nhẹ để che lấp tiếng ồn trong tai.

-Tránh tiếp xúc với tiến động quá cao để tai khỏi bị tổn thương thêm. Mang dụng cụ bảo vệ tai khi thấy cần.

-Học cách đối phó với tiếng ồn trong tai. Bệnh nhân sẽ học cách nhận ra rủi ro đưa tới ù tai rồi tìm cách loại trừ hoặc “tảng lờ” tiếng ồn đó.

Và đừng lo lắng nhiều về tiếng ù trong tai vì nó không quá nguy hiểm như nhiều người nghĩ.

 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 1:06 AM | Message # 8
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Nuôi Con bằng Sữa Mẹ Hiền


Bác sĩ Nguyễn Ý Đức


"Nâng niu bú mớm đêm ngày

Công cha nghĩa mẹ coi tầy biển non.” – Ca dao

Đã trên nửa thế kỷ mà cái hình ảnh đẹp đó vẫn còn in sâu trong trí nhớ của Vinh.

Hình ảnh người thím nằm vạch vú cho con bú trên một chiếc võng gai, vào một buổi trưa Hè tại miền quê Bắc Việt.

Đứa bé khoảng sáu tháng, tròn trĩnh như củ khoai, hồng hào như một trái bồ quân. Nó lim dim mắt, miệng ngậm một vú sữa, tay mân mê núm vú bên kia. Nó nuốt từng giọt sữa tươi mát từ bầu vú người mẹ.

Thím có sáu đứa con. Đứa nào thím cũng cho con bú sữa mình cho tới hơn một tuổi mới cai. Thím còn nhai cơm với thịt nạc mớm cho các con. Gọi là ăn trộn.

Bà nội Vinh vẫn thường nói “chẳng có gì tốt bằng sữa mẹ”.

Nói tới việc nuôi con bằng sữa mẹ vào thời đại tiến bộ này thì có vẻ như chậm tiến chăng. Ngoài chợ, thiếu gì baby foods vừa tiện lợi, vệ sinh lại có đầy đủ chất dinh dưỡng. “Thì hà cớ gì phải ngồi vạch áo cho con bú, hở bác. Vừa mắc cỡ lại xấu người đi”. Cô cháu tân thời của tôi nói vậy. Chả hiểu cô ta nói đùa hay nói thật.

Có lẽ chẳng phải một mình cháu nói vậy, mà có lẽ nhiều phụ nữ bây giờ cũng nghĩ như thế. Ngày nay, chỉ vài tuần sau khi sanh là các bà mẹ đều phải trở lại với công việc làm ăn, không có nhiều thì giờ ngồi cho con bú. Nên cái tập tục cao đẹp ôm con vào lòng, cho con bú cũng dần dần đi vào dĩ vãng. Nhất là với dân chúng thành thị tại các quốc gia văn minh, kỹ nghệ. Vì thế chính quyển mọi cấp đều khuyến khích các bà mẹ cho con bú sữa mình.

Tại Mỹ, cách đây trên nửa thế kỷ, có khoảng 65% trẻ sơ sinh được ôm bầu sữa mẹ. Đến cuối thế kỷ vừa qua thì con số trẻ em may mắn đó tụt xuống còn có 25%. Cũng có nhiều bà mẹ cho là mình ít sữa, không đủ cho con bú. Hoặc đau bệnh, kém sức khỏe. Nhưng cũng có nhiều người không được hướng dẫn về lợi ích của sữa do cơ thể của mẹ làm ra.

Vì thế nên Viện Nhi Khoa cũng như Hội Dinh Dưỡng Hoa Kỳ, Cơ Quan Y tế Thế Giới đều khuyên các bà mẹ nên cho con bú hoàn toàn với sữa mình từ khi sanh tới sáu tháng, rồi sau đó cho bú pha tới một tuổi. Chỉ có thực phẩm chế riêng cho bé thơ mới thay thế cho sữa mẹ được. Không được cho bé ăn sữa bò cho tới khi bé được tròn một tuổi.

Cơ Quan Y tế và Quỹ Nhi Đồng Thế Giới quả quyết thêm: “Nuôi con sữa mẹ là phương thức không gì sánh bằng để cung cấp nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho sự tăng trưởng lành mạnh và sự phát triển của trẻ sơ sinh. Đây cũng là một thành phần của sự sinh sản với nhiều ảnh hưởng tốt cho sức khỏe người mẹ”.

Về cấu tạo, nhũ hoa phụ nữ gồm các tuyến thùy tiết sữa, tế bào kết nối, mạch máu, dây thần kinh và tế bào mỡ. Khi bắt đầu có thai, các tuyến thùy căng phồng sữa do tác dụng của kích thích tố estrogen, progesterone, prolactin, oxytocin…

Lợi điểm của sữa mẹ

Các nhà dinh dưỡng đã nêu ra nhiều lợi điểm khi mẹ cho con bú sữa mình.

1-Về phương diện tâm lý, không có một sự kiện đẹp và cao quý nào bằng việc người mẹ trực tiếp truyền sự sống của mình qua những giọt sữa cho đứa con. Con nằm trong lòng mẹ hiền, hút từng giọt dinh dưỡng tinh khiết. Trong tiềm thức của bé, một biết ơn đã manh nha. Sự quyến luyến, tình thương yêu từ đó mà tăng. Đứa bé trưởng thành trong niềm tin:

“Công cha như núi Thái Sơn

Sữa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra”.


Mà mẹ cũng có những tiếp xúc thường xuyên với con nhiều lần trong ngày. Sự ôm ấp vỗ về cung cấp những kích thích để con phát triển tình cảm. Mẹ con có nhiều cảm thông, thương yêu. Cho nên từ thuở tấm bé con thường quyện lấy chân mẹ. Và cả mẹ lẫn con đường như thư giãn khi cho con bú, cả mẹ lẫn con ngủ dễ hơn;

2- Sữa mẹ là nguồn thực phẩm thiên nhiên, hoàn toàn tinh khiết không hóa chất diệt sâu bọ, rất tươi, không phải mất công lựa loại này loại kia và lúc nào cũng được dự trữ ở nhiệt độ thích hợp, sẵn sàng khi con cần đến. Kể cả khi mẹ mang con cùng đi du lịch hoặc làm việc xa nhà;

3- Về cấu tạo hóa học, sữa mẹ được chế tạo đặc biệt cho cơ thể con nít mà khoa học không sao làm giống hệt được. Sữa mẹ có nhiều sinh tố E cần thiết để tránh thiếu máu; có tỷ lệ calcium/phosphore cao để tránh thiếu khoáng calci; có vừa đủ chất dinh dưỡng cho nhu cầu của bé thơ, từ đạm, béo, sinh tố, khoáng chất. Trẻ thơ sẽ lớn lên đúng cách, không quá mập với bắp thịt rắn chắc.

4-Chất đạm trong sữa bò nhiều gấp đôi trong sữa mẹ cho nên bé thơ khó tiêu hóa và loại ra ngoài theo phẩn. Sữa mẹ dễ tiêu hóa và hấp thụ hơn sữa bò;

5-Chất béo trong sữa mẹ thuộc nhóm bất bão hòa nên ít rủi ro bệnh tim mạch.

6-Sữa mẹ có nhiều chất endorphins làm giảm đau; ít chàm da eczema; ít ọc sữa, rất tốt cho trẻ em sanh thiếu tháng;

7- Sữa mẹ thường ít đóng cục hơn sữa bò do đó ít khi gây ra táo bón, tiêu chẩy;

8-Trẻ em không bao giờ bị dị ứng với sữa mẹ nhưng bé có thể phản ứng với một chất dinh dưỡng nào đó mà mẹ tiêu thụ. Thực phẩm thường gây ra dị ứng là sữa, pho mát, bột ngô, tôm cua mà mẹ nên kiêng. Mẹ cũng nên giảm tiêu thụ thực phẩm có thể gây cơn đau bụng cho bé, như là hành, tỏi, chocolate…

9- Đặc biệt sữa mẹ có nhiều kháng thể chống lại một số bệnh tật. Các em được hưởng sự miễn dịch tự nhiên đối với các bệnh như tê liệt trẻ em, bệnh do vi khuẩn E.Coli, Salmonella, Shigella gây ra trong bộ máy tiêu hóa;

10-Trẻ thơ bú sữa mẹ thường thông minh hơn, nhất là với các em sanh thiếu tháng;

11-Nhiều nghiên cứu khoa học cho hay sữa mẹ giảm cho con các nguy cơ bị bệnh tiểu đường, bệnh viêm loét ruột Crohn, ít bị dị ứng, suyễn, viêm tai trong, sưng phổi do siêu vi rotavirus, viêm màng óc, thấp khớp, kém thị giác, mập phì, cao huyết áp..

12- Bú sữa mẹ, em bé thường tự nhả núm vú khi no bụng. Như vậy tránh được trường hợp ăn quá nhiều vì mẹ pha bình sữa quá tay, con phải tiếp tục bú hoặc khi mẹ ép con uống cho hết.

Ích lợi cho mẹ



Cho con bú, mẹ cũng hưởng nhiều ích lợi.

a-Lợi trông thấy là mẹ không phải nấu rửa bình sữa, không tốn tiền mua thực phẩm cho con, không phải cân lường pha chế lách cách.

b-Mẹ bớt mập vì mỡ béo tích tụ trong khi mang thai được sử dụng, chuyển sang sữa; cho con bú cũng tốn một số năng lượng giúp phần giảm ký;

c-Đây cũng là cách ngừa thai vì sự rụng trứng, trở lại đường kinh chậm lại mươi tuần lễ, có khi cả vài năm; và tử cung mau trở lại kích thước nhỏ như trước khi có bầu;

d-Giảm nguy cơ loãng xương, ung thư vú, ung thư noãn sào khi tới tuổi mãn kinh;

e-Giảm nguy cơ ung thư niêm mạc tử cung và bệnh lạc nội mạc tử cung endometriosis.

Ngoài ra khi cho con bú sữa mình thì người mẹ cũng đóng góp cho xã hội nhiều tích cực như là giảm chi phí y tế vì các em thường ít bệnh tật hơn; mẹ ít phải nghỉ để nuôi con đau ốm nên hiệu năng làm việc gia tăng; bớt ô nhiễm môi trường vì giảm thiểu đồ phế thải plastic, giấy chứa đựng sữa.

Trong khi chuyển thức ăn ngon lành cho con bằng sữa của mình thì người mẹ cũng cần lưu tâm tới việc dinh dưỡng đầy đủ cho bản thân. Mẹ phải tăng thêm khẩu phần thịt, cá, trứng, sữa, rau trái và các loại sinh tố, khoáng chất. Nước uống khoảng 2 lít mỗi ngày. để bù đắp lại số chất lỏng chuyển sang sữa. Mẹ cũng cần ngủ nghỉ đầy đủ. Nếu mẹ ăn chay với rau và trái cây thì nên dùng thêm B12 vì sinh tố này không có trong thực vật.

Cách cho con bú

Ngay sau khi sanh, nếu mẹ khỏe mạnh, không uống thuốc, bé chào đời bình thường thì có thể cho con bú mỗi bên vú vài phút. Những giọt sữa non (colustrum) rất là quý giá vì có nhiều chất bổ dưỡng cũng như kháng thể.

Tới ngày thứ hai, cho con bú mỗi vú dăm phút, cách nhau 2 giờ. Khi sữa lên nhiều thì có thể tăng lên 20 phút.

Bé càng hút núm vú, càng tăng kích thích tố prolactin và sữa càng lên nhiều. Các cụ ta ngày xưa cho bà đẻ ăn cháo nấu chân giò lợn, lau vú bằng lá mít để có nhiều sữa. Thường thường khi bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu thì không cần cho bú thêm nước hoặc nước đường

Cho bú theo nhu cầu của con chứ không theo giờ giấc định trước, đặc biệt khi con khóc vì đói. Khi đau ốm, con lại càng cần chất dinh dưỡng từ sữa mẹ. Mẹ có thể cho con bú cả năm hoặc lâu hơn nếu mẹ thích và nếu sức khỏe cho phép.

Sữa mẹ con không bú hết, có thể hút, cất vào tủ đá đông lạnh và dùng dần. Trên thị trường, có nhiều loại bơm khác nhau, có thứ bơm tay có thứ dùng cục pin hoặc điện năng. Máy bơm điện có lợi điểm là tự đông hút-nghỉ dễ dàng sử dụng.

Nếu bà mẹ dự định đi làm toàn thời gian thì nên tập cho con bú bình khi bé được bốn tuần lễ. Ðừng cho dùng bình quá sớm, bé chưa quen nút núm cao su. Vài tuần trước khi đi làm, hút sữa để dành. Sáng sáng trước khi đi làm và chiều ngay khi về, cho con bú sữa mẹ. Nghỉ ở nhà hoặc cuối tuần, nên cho con bú sữa mình mà thôi.

Con nặng thêm khoảng 4 tới 8 ounces mỗi tuần, mặt mũi hồng hào, khỏe mạnh, ngủ nghỉ tốt là những dấu hiệu chứng tỏ mẹ đã có đủ sữa cho con.

Không nên cho con bú sữa mẹ, nếu…

Tuy là hoàn hảo, nhưng trong vài trường hợp mẹ cũng cần dè dặt khi cho con bú sữa mình.

1-Nhiều bà mẹ ngần ngại không cho con bú khi nhũ hoa mẹ sưng hoặc bị nhiễm trùng vì sợ rằng tác nhân gây bệnh có thể truyền sang con. Các chuyên viên y tế lại có ý kiến khác. Theo bác sĩ Jack Newman, Hoa Kỳ, thì dù có bị viêm nhiễm hoặc giải phẫu nhũ hoa, cho con bú vẫn an toàn và lại làm bệnh của mẹ mau thuyên giảm. Trong nhiễm trùng như vậy, mẹ đã tạo ra kháng thể chống với vi sinh vật đó. Kháng thể theo sữa vào con và con được bảo vệ.

2-Mẹ đang điều trị các bệnh trầm trọng kinh niên như lao phổi, tiểu đường, bệnh tim, thận, thiếu hồng cầu hoặc thiếu dinh dưỡng nên tham khảo ý kiến bác sĩ. Cảm cúm, tiêu chẩy thường không gây rủi ro cho bé, đôi khi sữa mẹ lại có thêm kháng thể chống với cảm cúm này.

3-Một số virus như HIV có thể lan vào sữa mẹ do đó nếu bị bệnh AIDS không được cho con bú. Một nghiên cứu sơ khởi mới đây cho hay một loại đường trong sữa mẹ có thể giảm sự lan truyền HIV khi con bú sữa mẹ.

4- Mẹ có bệnh tâm trí đang uống thuốc điều trị với thuốc lithium không nên cho con bú.

5- Khi em bé sanh ra có khuyết tật chẻ môi (cleft palate) hoặc biết là không hợp với sữa mẹ thì cũng không nên cho bú.

6-Dược phẩm- Hầu hết được phẩm mẹ dùng đều chuyển sang sữa. Ảnh hưởng tùy theo loại thuốc, số lượng thuốc trong sữa và khả năng hấp thụ của em bé.

Khi dùng các thuốc sau đây thì không cho con bú: thuốc atropine, thuốc warfarin ngăn đông máu; bromocriptine chữa bệnh Parkinson; thuốc chữa bệnh tuyến giáp; thuốc chữa ung thư cyclophosphamide, Doxorubicin; thuốc có chất á phiện; kháng sinh tetracycline, metronidazole; methotrexate; trị trầm cảm Lithium, trị nhức nửa đầu ergotamine; thuốc an thần …

Thuốc chống đau acetaminophen (Tylenol), ibuprofen (advil), insulin, đa số thuốc chống dị ứng, nghẹt mũi đều tương đối an toàn.

Nói chung, khi dùng thuốc nên hỏi ý kiến bác sĩ để tránh tác dụng với trẻ thơ.

Ngoài ra nhiều bà mẹ cũng dùng thảo dược thiên nhiên trong khi cho con bú sữa mình.

Thiên nhiên không đồng nghĩa với an toàn. Sản phẩm chế biến sẵn bán trên thị trường thường là chưa được thử nghiệm tác dụng tốt xấu, bà mẹ nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

7- Cafeine. Nếu uống dưới hai ly một ngày thì an toàn; nhiều quá có thể khiến bé khó ngủ, gắt gỏng.

8-Thuốc lá: Mẹ cho con bú không nên hút thuốc lá vì Nicotine có thể khiến bé tiêu chẩy, ói mửa, gắt gỏng và mẹ lại có ít sữa. Có thai mà hút thuốc thì con sinh ra có thể bị tử vong bất thình lình.

9-Mẹ bị ung thư vú không có ảnh hưởng gì khi cho con bú bên vú lành. Có nghiên cứu cho hay, nuôi con sữa mẹ lại giảm nguy cơ bị ung thư cơ quan này.

10-Giải phẫu thẩm mỹ không gây trở ngại cho việc con bú sữa mẹ. Tuy nhiên nếu túi silicon bị rỉ thì hóa chất này có thể gây rủi ro cho bé thơ.

Vài khó khăn khi mẹ cho con bú sữa mình.


Trong mấy tuần lễ đầu sau khi sanh, nhũ hoa nhiều khi cương tấy những sữa, núm vú nứt đau, chẩy máu.

Xuống sữa mà đau vú là chuyện thường xẩy ra, vì đó là khi mẹ làm quen với việc cho con bú trong cặp nhũ hoa đầy sữa. Khi mẹ thư giãn, ngồi đúng vị thế, con ngậm núm vú đúng cách đều giảm khó chịu này. Ngồi thoải mái với dựa lưng, gối đỡ tay, chân để trên ghế đẩu thấp hoặc cuốn điện thoại niên giám; ôm con sát vào lòng, miệng và mũi đối diện với núm vú để dễ ngậm.

Ngoài ra vú đau cũng có thể do nhiễm trùng, nghẹt ống dẫn sữa và cần được bác sĩ khám điều trị. Ðắp hơi nóng hoặc hơi lạnh để giảm sưng đau.Có nhiều ý kiến y khoa học cho rằng dù nhũ hoa bị nhiễm trùng, sữa vẫn không ảnh hưởng tới bé vì trong sữa có kháng thể bảo vệ với bệnh của mẹ; rằng tiếp tục cho con hút sữa giúp vú bớt căng cương mau lành.

Kết luận

Con có khóc mẹ mới cho con bú.

Mà “bú tí ” từ những giọt sữa tươi ấm của mẹ thì mẹ có cái vui làm mẹ. Còn con thì:

“Ba năm bú mớm con thơ

Kể công cha mẹ biết cơ ngần nào”
(Nguyễn Trãi)

Tình cảm mẹ con nhờ đó sẽ tăng lên gấp bội.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 1:14 AM | Message # 9
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Nghịch Lý Ðại Pháp


Nguyễn Ý Đức



Nhớ lại vào tối Chủ Nhật ngày 17 tháng 11 năm 1991, chương trình “60 Minutes” của đài truyền hình CBS đã nêu ra một sự kiện làm xôn xao y giới cũng như công chúng khắp nơi. Ðó là sự liên hệ giữa ẩm thực của con dân nước Pháp với bệnh tim mạch.

Họ ăn nhiều chất béo động vật như pate, bơ, kem, fromage, uống rượu vang như uống nước lã, hút thuốc Gaulois liên miên và ngọa triều tĩnh tại cũng lắm. Toàn những thứ mà mọi người kết tội là thủ phạm có thể gây rủi ro cho tắc nghẽn mạch máu, đột quỵ, suy tim.Vậy mà họ ít bị những cơn heart attack nhất trên thế giới.

Ðây là điều có vẻ như không hợp logic nhưng lại đúng và khó bác bỏ. Và dân chúng đặt tên cho hiện tượng đó là The French Paradox- Nghịch Lý Ðại Pháp.

Chỉ mấy tuần lễ sau thảo luận thì số rượu vang bên Mỹ bán ra tăng tới 40%. Và các nhà y khoa học trên hoàn vũ đều ngạc nhiên về sự kiện tưởng như tréo cẳng ngỗng nhưng chứng cớ rành rành cũng như họ đang hăng say nghiên cứu, tìm hiểu nguyên do và có thể bắt chước.

Thực ra tác dụng của rượu trên sức khỏe đã được công chúng biết tới từ thuở xa xưa, khi rượu được gọi là “spirits”, một thứ làm linh hồn lâng lâng, yêu đời.

Vào thế kỷ thứ 8, hóa học gia Ả Rập Geberius gọi rượu là Nước Sinh Lực- Aqua Vitae. Và qua dòng lịch sử của nhân loại, rượu có vai trò đáng kể trong các nghi thức tôn giáo, giao tế, vui mừng, hoặc trong y học, thay nhiên liệu, dùng làm thuốc nổ.

Rượu là dược phẩm được tìm ra sớm nhất trên trái đất và đã được dùng trị bệnh ở Tây phương cho tới thế kỷ thứ 18, khi con người đặt ra các luật lệ để giới hạn sự lạm dụng rượu cho mục đích lạc thú cá nhân.

Sử gia kiêm triết gia Plutarch Hy Lạp (46-120 AD) đã viết rằng Rượu Vang là môn thuốc trị bệnh dễ chịu nhất.

Lang y Nicander (200 BC) khuyên dùng Rượu Vang pha loãng với nước để chữa phản ứng với cây Ðộc Cần (Hemlock). Y Sĩ Hy Lạp Dioscorides (40-90 AD) dùng Rượu Vang làm thuốc tê để mổ xẻ bệnh nhân. Phẫu thuật gia Hy Lạp Paul of Aegina (629-690) dùng Rượu Vang trị nhiều bệnh nặng nhẹ khác nhau.Thầy Cả Paul khuyên Timothy uống Rượu Vang để giảm cơn đau bụng và vài khó khăn khác của cơ thể.

Ngay từ thế kỷ 13, Y Sĩ Ý Ðại Lợi Arnold of Villanova đã trình bầy vai trò của Rượu Vang trong dinh dưỡng và y thuật. Và thủy tổ y học Tây phương Hippocrates đã dùng rượu để chữa nóng sốt, khử trùng, băng rửa vết thương hoặc làm thuốc lợi tiểu.

Bên Á Ðông, rượu được coi như một dược phẩm đứng đầu các thuốc (Tửu vi bách dược chi trưởng).

Cụ Hải Thượng Lãn Ông từng khuyên “Bán dạ tam bôi tửu, Lương y bất đáo gia”.

Danh y Lý Thời Trân của Trung Hoa khi xưa nhận định rằng uống một ít rượu làm khí huyết lưu thông, uống nhiều làm hại tinh thần, tổn thương tinh dịch bao tử, kích thích hỏa tà.

Các tôn giáo lại có quan điểm khác nhau đối với rượu.

Trong Tân Ước, Chúa Jesus nói với các môn đồ hãy uống rượu vang để nhớ tới máu của Người đã đổ ra để cứu rỗi nhân loại. Do đó rượu vang là một nghi thức không thể thiếu trong thánh lễ.

Phật giáo thì nghiêm khắc hơn, coi “Rượu là thứ làm cho người uống phạm vô lượng tội ác, tâm tánh mê loạn”.

Kinh Coran ghi rượu là sản phẩm của Satan nên nhà Tiên Tri Muhammad nói với các tín đồ rằng nếu đang say thì đừng cầu nguyện.

Thế nhân nhìn rượu dưới nhãn quan hơi trần tục nhưng dễ thương.

Theo Plato “ Không có gì tuyệt vời hoặc giá trị hơn là rượu vang mà Thượng Ðế đã ban cho loài người”.

Bác học Louis Pasteur của Pháp cho rằng “Rượu vang là món giải khát lành mạnh và vệ sinh nhất”.

Khi bị vợ trách nhẹ là ông có vẻ thích rượu rồi đó, thì Thủ Tướng Anh Churchill bèn trả lời:“ Bà nó ơi, tôi đã lấy từ rượu ra nhiều cái hay hơn là rượu rút ra từ tôi

Còn thi sĩ Tú Xương ta than phiền:

“Một chè một rượu một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta”


Bợm nhậu thì tự an ủi:

“Chúa Chổm uống rượu tì tì

Thác xuống âm phủ khác gì vua Ngô”.



Và Trần Huyền Trân tâm tình với tóc bạc Tản Ðà:

“Nguồn đau cứ rót cho nhau,

Lời say sưa, mới là câu chân tình”.

Coi vậy thì rượu cũng có nhiều điểm dường như tốt đối với cơ thể đấy, phải không thưa quý thân hữu. Và cũng vì tốt nên mới nẩy ra “Nghịch Lý Ðại Pháp” để y khoa học nghiên cứu, tìm hiểu. Cũng như mới có Hội Nghị Quốc Tế về Wine & Health lần 3 ở Silverado Resort, California vào tháng 5, 2005.

Trong New England Journal of Medicine ngày 9 tháng Giêng năm 2003, bác sĩ Kenneth J. Mukamal và Ira Goldber của Ðại Học Harvard công bố kết quả nghiên cứu của họ về liên hệ giữa rượu và bệnh tim. Họ theo dõi 38.000 người đàn ông trong 12 năm và thấy những ai uống la de, wine hoặc rượu mạnh đều đặn và vừa phải mỗi ngày có thể giảm nguy cơ heart attack tới 37%. Nghiên cứu được National Institute of Health tài trợ.”

Vào năm 2001, trên Tạp San của Hội Y Khoa Hoa Kỳ, các bác sĩ Jerome L Abramson và Harlan M Krumholz của Ðại Học Atlanta cho hay “ Uống nhiều rượu sẽ đưa tới Suy Tim nhưng nếu uống vừa phải thì người cao tuổi sẽ giảm được nguy cơ của bệnh này”.

Bác sĩ Arthur Klasky, chuyên về bệnhTim ở Oakland, California, là một trong những người đầu tiên để ý tới tác dụng tốt của rượu với tim. Cách đây gần 30 năm, khi so sánh hồ sơ bệnh lý của trên 100.000 bệnh nhân, ông ta thấy những người không uống rượu đều bị nhồi máu cơ tim nhiều hơn những người uống vừa phải.

Khi theo dõi 85.000 nữ điều dưỡng tuổi từ 34 đến 59 trong thời gian 12 năm, các nhà khoa học của Ðại Học Harvard cũng đi đến kết luận tương tự. Tiến sĩ Eric Rimm của đại học này đã quan sát 44.000 nam nhân viên y tế trong vòng 2 năm và thấy là những ai uống hai drinks mỗi ngày thì có tới 30% ít bị nguy cơ đau tim hơn người uống nửa drink.

Các dữ kiện do viện Ung Thư Hoa Kỳ quan sát trên một triệu người Mỹ tại 25 tiểu bang cho thấy uống một drink mỗi ngày thì nguy cơ bị cơn suy tim ít hơn người không uống tới 25%.

British Medical Journal số ngày 22-2-22005 có đăng kết quả nghiên cứu bên Thụy Ðiển theo đó phụ nữ uống rượu vang vừa phải thì nhịp tim đập sẽ tốt hơn.

Giáo sư Emanuel Rubin và các nhà nghiên cứu của đại Học Y khoa Thomas Jefferson, Philadelphia, cho hay uống vang đỏ giúp giảm thiểu các chất gây viêm ở động mạch, nhờ đó tránh được bệnh tim và tai biến não.

Ðể giải thích tại sao có ích lợi này thì các khoa học gia tại bệnh viện Queen Mary, Luân Ðôn cho hay vang đỏ chứa mấy chất có thể ngăn ngừa chứng thoái hóa động mạch vì mỡ béo đọng lại.

Trong tạp san của Hôi Y Học Hoa Kỳ số tháng 10 năm 1995, Tiến sĩ Robert M. Hackman, Ðại học Davis ở California cho rằng rượu vang đỏ có chất flavonoids. Ðây là một loại chống oxy hóa rất mạnh có thể ngăn ngừa tác dụng xấu của các gốc tự do vào các bệnh thoái hóa, vài loại ung thư, sự lão hóa.

Chất Chống Oxy hóa là những chất có thể bảo vệ tế bào trước phản ứng oxy hóa của các phần tử gốc tự do free radicals. Flavonoids giảm sự dính với nhau của tiểu cầu, máu lưu thông dễ dàng do đó giảm thiểu nguy cơ cơn Suy Tim và Tai Biến Mạch Máu Não.

Bác sĩ Bagrachi của Ðại học Creighton Omaha Nevada cho hay flavonoids mạnh hơn các chất chống oxy hóa khác như sinh tố C, E và beta caroten tới bẩy lần.

Kết quả nghiên cứu tại hai Ðại Học Y Khoa London và Queen Mary bên Anh cho hay là trong vỏ nho, trà có các chất Flavonoid, Polyphenol, Reservatrol, Quercetin. Tạp San Sinh Hoạc Hoa Kỳ số cuối năm 2004 cho hay reservatrol giúp các cơ thịt của tim hoạt động hữu hiệu hơn, nhất là khi cơ thể có căng thẳng.

Theo một số nghiên cứu, rượu vang đỏ mới có các chất này vì vỏ nho được giữ lại khi làm rượu, còn khi làm vang trắng thì người ta bỏ vỏ nho đi.Vì thế các nghiên cứu gia của viện thí nghiệm Aviram bên Do Thái đã công bố phương thức để tăng cường tính chống oxy hóa của vang trắng tương đương với vang đỏ.

Nhưng cũng có ý kiến lại cho là, người uống rượu vang thường ở giai cấp khá giả, ít hút thuốc và ăn uống chừng mực, đầy đủ dinh dưỡng hơn, nên ít bệnh tim mạch..

Trước những kết quả nghiên cứu được công bố khắp nơi, Bộ Y tế Hoa Kỳ và Tim Mạch Hoa Kỳ cũng phải thừa nhận là uống một chút rượu vang có thể có tác dụng tốt cho trái tim.

Còn quan điểm của Hội Y Sĩ Hoa Kỳ là các chất mà nghiên cứu nói có trong rượu thì cũng có trong thực phẩm như nho và nước nho. Vì thế hội này không khuyến khích người chưa uống vang bao giờ lại bắt đầu uống để hy vọng có ích lợi cho sức khỏe. Theo hội, nếu đã uống rồi thì nên điều độ với 350cc la de, 50 cc rượu vang, 5 cc rượu 80° mỗi ngày hai lần cho người nam, một lần cho người nữ.

Dè dặt về số lượng này thì trong Tân Ước đã nhắc nhở: “Nếu con uống rượu điều độ thì rượu sẽ làm con sống vui tươi hơn; trái lại nếu uống quá độ thì tâm hồn trở nên cay đắng, thân xác hung hãn”.

Cũng như trên mỗi chai rượu đều có ghi “Consumption of alcoholic beverages impairs your ability to drive a car or operate machinery, and may cause health problems”. Uống Rượu làm suy yếu khả năng lái xe và đưa tới nhiều vấn đề xấu cho sức khỏe”.

Và Cụ Lãn Ông thường ân cần khuyên nhủ “nhất dạ tam bôi tửu” thôi, bà con nhé. Bôi của các cụ nhỏ xíu à.


Kết luận


Ðề tài “The French Paradox” vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng và cần nhiều nghiên cứu nữa để xác định vai trò của “một bôi rượu” với trái tim. Có phải tác dụng tốt là do thành phần hóa chất của rượu, số lượng tiêu thụ hoặc cách tiêu thụ.

Trong khi chờ đợi thì ta cứ từ từ cẩn tắc vô ưu, cân nhắc phúc họa của rượu. Vì rượu được biết tới từ nhiều chục ngàn năm. Người uống cũng nhiều mà người không cũng chẳng ít. Hậu quả tốt cũng có, mà xấu đếm cũng chẳng xuể.

Hơn nữa, rượu không phải là thần dược cho mọi bệnh và không phải thích hợp với mọi người.

Vậy thì cũng chẳng nên uống khi đang có rối loạn tâm can tỳ phế, hoang tưởng tâm thần; chẳng uống khi có thai, nuôi con sữa mẹ; chẳng tập tành tiêu thụ khi chưa hề uống bao giờ.

Ðành rằng một suất vang mỗi ngày giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh tim và tai biến não nhưng quá nhiều thì tim lại dễ suy, huyết áp lên cao, ung thư xuất hiện, nội tiết bất thường.

Cho nên nếu biết lấy lẽ vừa phải, lấy điều độ làm kim chỉ nam, thì chắc rượu sẽ mang lại phúc nhiều hơn họa và cuộc sống chắc sẽ nhiều vui ít buồn.

Ðể rồi cùng nhau theo chân Tam Nguyên Nguyễn Khuyến mà:

“Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu,

Khi buồn ngâm láo một câu thơ” .


Cho đời thêm thi vị.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 1:21 AM | Message # 10
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Duy trì bút mực viết tay

Nguyễn Ý Đức


Nhiều người bắt đầu e ngại rằng, trong một tương lai không xa, dùng bút mực để viết những dòng chữ trên tờ giấy trắng sẽ mai một. Vì bây giờ, người ta diễn tả ý tưởng, trao đổi tin tức nhiều hơn trên bàn phím computer.

Nhớ lại ngày xưa, khi mẹ cha dẫn tới lớp học lần đầu trong đời, bài tập viết mở lòng là tô mấy chữ a, á. ớ, e, ê, i, u, ư…Thầy cô viết bằng bút chì lên tờ giấy học trò kẻ dòng ngay ngắn. Bé ngồi cầm bút nắn nót tô mực lên từng chữ. Năm ngón tay nhỏ xíu nắm cán bút với ngòi viết bằng sắt chấm trong lọ mực tím. mực xanh. Lưng ôm lấy mặt bàn mà tô. Bé chăm chú tô hết mấy chữ cái, mỏi cả mấy ngón tay, bỏ bút, thoa thoa nắn nắn mấy ngón tay rồi lại tiếp tục. Bé kiêu hãnh nhìn công trình của mình, mãn nguyện…

Lớn lên, đi học vẫn chép bài, ghi lời giảng với bút mực, bút chì rồi bút bi, bút nguyên tử. Có thời kỳ cha mẹ không cho dùng bút nguyên tử, vì sợ rằng chữ viết sẽ xấu. Mà xấu thật, vì mực có sẵn trong bút ra liên tục cho nên ta viết ngoáy, viết tháu, bị thầy cô chê là viết như gà bới, chữ chẳng ra chữ. Do đó đã có những bài viết tập sao cho thẳng hàng, đều chữ. Có anh có chị viết đẹp như in. Khoe rằng viết với bút máy Parker, Scheaffer…

Viết chữ bằng bút cũng là cách “động viên” trí não.

Theo giáo sư tâm lý Virginia Berninger, Đại học Washington, thì những nét chấm phá khi viết bằng bút kích thích các vùng não bộ trách nhiệm về sự suy nghĩ, ngôn ngữ, trí nhớ và người viết tay sẽ nẩy ra nhiều ý tưởng hơn là dùng keyboard. Và cũng khéo tay làm công việc tinh vi. Chụp MRI não bộ người viết tay, các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy các hoạt động của nhiều vùng tế bào não. Vì khi viết tay, người viết vừa tập trung vào ngòi bút vừa suy nghĩ để moi óc ra những ý tưởng tâm tư.

Chữ viết tay của các văn bản nổi danh như bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ do Timothy Matlock viết bằng bút mực trên da là tài liệu lịch sử quý giá mà kỹ thuật sắp chữ in ấn không thể sánh được.

Cho nên, mặc dù ít dùng, nhưng các lớp mẫu giáo vẫn dạy con em nắn nót viết tay. Và kỹ thuật “hiện đại” cũng có những mô hình dạy viết tay trên computer, trên IPad.

Để con em biết rằng ngoài đánh chữ trên phím vi tính, còn cách ghi chép ý tưởng khác giản dị, có sẵn: đó là viết chữ bắng tay với bút, với mực.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 1:35 AM | Message # 11
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Tâm Sự Với Người Y Sĩ

BS Nguyễn Ý Đức


Trong lịch sử nền y học Việt Nam từ xưa cho tới nay, có rất nhiều vị lương y đã làm rạng rỡ danh dự nghề nghiệp với các khả năng, kiến thức và lòng yêu nghề của mình.

Đã có biết bao nhiêu y sĩ tận tụy cứu chữa làm nhẹ cơn đau đớn bệnh hoạn của bà con dù với phương tiện thiếu thốn, hoàn cảnh hiểm nghèo. Họ phục vụ với cả một tấm lòng nhân ái, trân trọng tình cảm giữa con người với con người. Cho nên đã có câu ví trong dân gian là người lương y tốt bụng như người mẹ hiền.

Con cái còn tấm bé, không tự lực tự tồn được, cho nên đều trông cậy ở mẹ cha, nhất là phụ thuộc vào thiên chức nuôi con của người mẹ.

Người bệnh cũng vậy. Trong cơn đau bệnh, họ hoàn toàn bất lực, vì không hiểu gì về bệnh, vì bối rối lo sợ, sợ chết. Với họ, người y sĩ như cái phao cứu mạng. Họ giao phó tính mạng của mình cho người y sĩ. Y sĩ tận tâm, hiểu nỗi đau của người bệnh thì mang toàn sức toàn tài cứu chữa, cơn đau của họ mau thuyên giảm. Gặp phải người y sĩ xấu, thì họ chịu đựng đau đớn lâu hơn, trầm trọng hơn, đôi khi còn bị khai thác, lạm dụng.

Cho nên, mỗi khi “có bệnh thì vái tứ phương”, tìm thầy chữa trị, nhiều khi chúng tôi nhận được rất nhiều từ tâm của y giới thì cũng không ít trường hợp, chúng tôi cảm thấy buồn buồn đối với các vị tự coi là “lương y” mà rất ít lương tâm.

Và cũng vì lẽ đó, nên có những tâm sự, những ước vọng như sau, gửi người y sĩ.

1-Trước hết là khi khám chữa, xin hãy nhìn con người chúng tôi một cách toàn diện chứ không chỉ để ý tới triệu chứng, dấu hiệu rồi đau đâu chữa đó. Vì một dấu hiệu, triệu chứng sẽ hành hạ cả con người chúng tôi mà không khoanh vòng, tập trung vào một góc. Cổ nhân có câu nói “nhìn cả rừng chứ không chỉ nhìn một cây”, để ước lượng chuyện gì đã và đang xảy ra, hậu quả sẽ như thế nào nếu không có phương pháp đối phó hữu hiệu.

2-Xin quý vị hãy dành cho sự kể lể bệnh tình của chúng tôi một sự chú tâm. Khi đau ốm, bệnh hoạn thì lời nói của chúng tôi nó cũng không mạch lạc, rõ ràng, đôi khi lại cà kê dê ngỗng, nói năng lung tung, lạc đề. Chúng tôi biết là đối với quý vị, “thì giờ là vàng bạc”, bệnh nhân chờ phòng ngoài quá đông, bảo hiểm giới hạn, cho nên mỗi bệnh nhân chúng tôi mà được quý vị dành cho từ 5 tới 10 phút là cùng.

Với khoảng thời gian này, vừa để nghe y sử vừa để khám rồi ghi ghi chép chép, biên toa thì cũng quá ngắn ngủi đấy. Cho nên xin hãy kiên nhẫn lắng nghe. Chúng tôi nhớ rằng “VĂN” là một trong bốn chiêu thức căn bản mà các nhà y học vẫn áp dụng khi khám bệnh.

Đó là “Vọng, Văn, Vấn, Thiết”. Nhìn sắc diện người bệnh, nghe và ước lượng âm thanh khi bệnh nhân nói bệnh tình, hỏi chi tiết về bệnh và bắt mạch”. Những lời kể này nhiều khi cũng giúp quý vị dễ dàng chẩn đoán bệnh.

3-Chúng tôi rất “I tờ” ít hiểu biết về bệnh tật, y lý, nên xin hãy vui lòng giải thích cho chúng tôi một cách nhẹ nhàng cởi mở, với các ngôn từ bình dân, dễ hiểu.

4-Nhấn mạnh cho chúng tôi những điểm quan hệ của bệnh trạng để chúng tôi nhớ và dễ bề chăm lo, thuốc thang. Thiết nghĩ sự chữa trị của quý vị sẽ công hiệu hơn, nếu chúng tôi cũng biết đau ra sao, diễn tiến bệnh thế nào. Để biết so sánh kết quả điều trị rồi “báo cáo” với quý vị chứ.

5-Chúng tôi cần sự hướng dẫn chi tiết một chút về cách dùng thuốc cũng như về ẩm thực ăn uống trong thời gian đau ốm. Vì chúng tôi được biết thuốc và thức ăn cũng có tương khắc, chẳng chịu cùng nhau chung đường chung lối, tiếp tay nhau giúp đỡ người bệnh.

6.Xin hãy mang tất cả tài năng, kiến thức, kỹ thuật cao để chữa trị cho chúng tôi. Chúng tôi cũng biết là y khoa học ngày nay rất tiến bộ, “rừng y” thì mênh mông, quý vị “thông kim bác cổ”, nhưng chúng tôi chỉ xin được hưởng kiến thức thực tế áp dụng thích hợp trong trường hợp riêng của chúng tôi để rút ngắn thời gian hành xác do bệnh. Và hãy chỉ thực hiện những thử nghiệm cần thiết cho việc chẩn đoán, theo dõi điều trị chứ không làm quá nhiều để thỏa mãn tò mò, thêm lợi nhuận hoặc để tránh vi phạm luật lệ hành nghề, đôi co kiện tụng

7-Nhân vô thập toàn, kinh nghiệm chuyên môn mỗi y sĩ nhiều ít khác nhau, nếu thấy cần tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp về bệnh tình của chúng tôi, xin hãy làm ngay chứ không chần chừ, trì hoãn, nuôi giữ bệnh. Vì các bậc thầy ngành y đều nói, chẩn đoán sớm, điều trị ngay, bệnh mau lành. Vả lại, “Cứu bệnh như cứu hỏa” ấy mà.

8-Có bệnh là có âu lo, sợ sệt và ai mà chẳng sợ đau ốm, chết chóc. Xin hãy làm giảm thiểu tâm trạng bất an của chúng tôi với thái độ tự tin mà không kiêu căng, nhẹ nhàng mà không hời hợt. Xin hãy “Thấy người đau, giống mình đau, phương nào cứu đặng, mau mau trị lành”(1), mà thông cảm với hoàn cảnh chúng tôi. Vì người y sĩ là nơi để bệnh nhân gửi gắm tính mệnh.

9-Nghề y là nghề cao quý, có những quy luật y đức. Xin hãy hiểu rõ và áp dụng các quy luật nghề nghiệp, cần phải làm gì, không được làm gì để “cứu nhân độ thế” và cũng để tích tụ “âm đức” cho con cháu. Cổ nhân có nói “Ba đời làm nghề y, về sau có người làm khanh tướng”, chẳng là điều nên theo hay sao!

10-Dân gian cũng như y giới đều nói “nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”. Xin hãy dành cho chúng tôi mấy thang thuốc bổ tinh thần này mỗi khi khám chữa tư vấn, để làm dịu niềm đau đang tàn phá cơ thể chúng tôi.

11-Xin hãy bớt lạnh lùng gắt gỏng, vô cảm trước sự ngớ ngẩn đòi hỏi cầu thiện của chúng tôi, vì chúng tôi chỉ quá ám ảnh về bệnh tình, mong sao chóng khỏi, cho nên đôi khi có những cử chỉ hành động vụng dại, thất thố.

12-Có người nói sự khác biệt giữa y sĩ với bệnh nhân là họ có công học tập để có bằng cấp y khoa, có kiến thức y học, trong khi chúng tôi cũng có những kiến thức chuyên môn khác mà họ không có. Cho nên xin hãy nhẹ nhàng, khiêm nhượng với nhau. Có ý kiến cho rằng, lòng sốt sắng, nhiệt tình, tài năng, kiến thức cao, kỹ thuật tốt là những đức tính không thể để phí phạm qua sự bất cẩn của người y sĩ cũng như qua sự coi thường của người khác, để tránh thiệt hại cho cả đôi bên. Vả lại, “Lời nói chẳng mất tiền mua”, mà chúng tôi lại còn thanh toán y phí đầy đủ sau khi khám trị bệnh.

13-Bệnh nhân có người giầu, kẻ nghèo, có người cao sang “lãnh đạo” thì cũng có người làm việc tùy tiện chân tay. Xin hãy đối xử bình đẳng, đừng “Chỗ giàu trân trọng, chỗ nghèo đảo điên” để rồi “ nhất bên trọng, nhất bên khinh” và “Đủ tiền đủ vị, thiếu tiền hốt vơ” .

Và còn nhiều tâm sự khác nữa, nhưng “giấy ngắn, tình dài”, xin tạm biệt ở con số 13.

Nhiều người cho số 13 là xui xẻo, là không tốt. Tâm sự chẳng ai thèm đọc thèm nghe mà có khi còn mang họa vào thân. Thôi thì có họa cũng đành gánh chịu, nhưng tự trấn an là ít ra cũng thổ lộ được đôi điều mà nhiều “đồng bệnh tương lân” muốn nói ra. Và cũng có ý mong rẳng người y sĩ chẳng nên “đổi nhân thuật thành chước lừa dối, thay lòng nhân đức ra lòng bán buôn, khiến người sống trách móc, người chết oán hờn” .

Vả lại, đây là chúng tôi thầm kín tâm sự như vậy mà thôi, chứ thành văn bộc lộ ra ngoài là do người ký tên dưới đây “chủ xướng”, xin cứ y ta mà “trăm dâu đổ đầu tằm”, trách móc.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 2:02 AM | Message # 12
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
CON NGƯỜI ĐI TÌM THUỐC TRƯỜNG SINH



Nguyễn Ý Đức

Nhà Xuân vừa mở thọ diên,

Chén pha Giếng Cúc, bàn chen Non Đào.

Nguyễn Huy Tự .


Giấc mộng trường sinh, bất tử đã được ghi nhận từ thuở hoang sơ, khi con người còn ăn lông ở lỗ. Trong huyền thoại thần tiên, trong niềm mê tín dân gian, trong nguồn cảm hứng xuất thần của văn nhân thi sĩ hay luận lý của triết gia.Tân, Cựu Ước, kinh Koran cũng có nhắc tới nguồn nước trường sinh.

Nó là động lực thúc đẩy những nhà thám hiểm lặn lội đi tìm suối nước vĩnh cửu ở vùng đất lạ, cũng như là mục tiêu nghiên cứu của các khoa học gia xưa nay.

Nó đã tạo cơ hội làm giầu cho những lang băm, những tên lường gạt rao bán vịt trời giữa chợ với môn thuốc trường sinh bất tử.

Nó ám ảnh mọi người, mọi giống. Ai cũng mong mỏi sống mãi không già, thoát khỏi những tàn phá của cơ thể do thời gian, giữ mãi được những nét thanh xuân đầy nhựa sống. Ai cũng nghĩ là ở đâu đó, có môn thuốc mà khi uống vào ta sẽ thi gan cùng tuế nguyệt.

Trường sinh trong Triết học.

Đi trước các dân tộc khác, người Trung Hoa xa xưa đã có một khái niệm, một triết lý về sự sống lâu.

Lão Tử từng quan niệm là nếu một sự vật có thể biến thành sự vật khác thì với con người, sự chết cũng có thể thành bất tử. Như con nòng nọc có đuôi kia biến thành con cóc, con nhái, con sâu róm lột xác thành con bướm. Đạo Lão cho con người sống là nhờ sự hoà hợp của âm / dương, nếu giữ được sự hòa hợp này thì cuộc sống kéo dài. Lão cũng khuyên người ta phải tiết kiệm sinh lực bằng tập phép hô hấp để tăng dưỡng khí cho não bộ, ăn nhiều trái cây, kiêng rưọu, thịt và sống cho phải đạo.

Thuỷ tổ nền y học tây phương Hippocrates, sống tới 80 tuổi, nhắc nhở con người nên từ từ, dung hòa ở mọi lãnh vực để giữ gìn nhựa sống.

Trường sinh trong huyền thoại

Huyền thoại Hy lạp, Ấn độ, La mã ghi lại nhiều giai thoại trường sinh thần tiên.

Nàng Eos yêu Tithonus hết mình, muốn cùng chàng bên nhau mãi mãi. Nàng xin Thần lãnh đạo Thiên Đường Zeus cho chàng được bất tử. Tithonus sống mãi, nhưng càng sống lâu càng trở nên đau yếu, bệnh hoạn và phải nuôi trong phòng riêng. Eos trở nên buồn, vì nàng đã quên không xin cho chàng vừa sống lâu vừa giữ được vẻ thanh xuân. Nàng đi kiếm người tình khác.

Người Ả Rập hay kể cho nhau nghe câu chuyện nhân vật quen thuộc El Khidr với Giếng Nước Vĩnh Cửu: Một hôm tình cờ El Khidr rửa con cá khô trong giếng nước, con cá tự nhiên quẫy động, sống lại. Không bỏ lỡ cơ hội, El Khidr nhẩy xuống giếng tắm và trở thành bất tử .

Trường sinh với các nhà thám hiểm.

Nhiều nhà thám hiểm cũng đã giương cờ đi khắp năm châu bốn bể để tìm thuốc trường sinh.

Juan Ponce de Leon, người Tây Ban Nha, đã lên đường thám hiểm Tân Thế Giới với hy vọng kiếm được thuốc hồi xuân. Ong ta đã già yếu, không thỏa mãn được cô vợ trẻ sung sức. Đồng thời ông ta cũng muốn kiếm thần dược dâng Quốc Vương Ferdinand II. Không kiếm ra thuốc, nhưng ông ta đã tìm ra tiểu bang phì nhiêu, hiền hòa Florida năm 1513. Ông qua đời vì vết thương bị nhiễm độc trong khi giao tranh với thổ dân gốc Indian vào tuổi 63.

Tần Thủy Hoàng Đế, sau khi gồm thâu lục quốc, dựng nên nghiệp Đế, muốn bất tử để trị vì trăm họ. Ong đã phái các phương sĩ Từ Phước và Lư Sinh căng buồm ra Biển Đông tìm thần dược. Lư Sinh, Từ Phước không tìm ra linh dược, nhưng đã lánh nạn và tìm được những mùa xuân bất tận cho nhiều thế hệ con cháu trên đất Phù Tang mầu mỡ.

Năm 1498, Columbus tuyên bố là đã tìm ra miền vĩnh cửu ở dọc theo bờ biển Venezuela, gần đảo Trinidad.

Trường sinh với căn bản khoa học.

Bên cạnh những ý kiến, dữ kiện khó tin, nhiều người đương thời đã có cái nhìn nghiêm túc hơn về sự hóa già và phương cách trì hoãn diễn biến này.

Tu sĩ dòng Franciscan kiêm khoa học gia Roger Bacon đã lý luận rằng con người già vì sự mất bớt nhiệt năng bẩm sinh. Nếu sống hợp lý cộng với thuốc men hiệu nghiệm, ta có thể trì hoãn sự mất mát này và sống lâu hơn. Ông ta hỗ trợ thuốc chế từ thịt rắn, tim hươu nai và một vài thảo mộc trong rừng ở Nam Phi hay nước san hô, ngọc trai. Nhưng phương thức mà ông ta ưa thích nhất là hít sinh khí hơi thở của trinh nữ.

Người Do Thái khi xưa cũng tin rằng con gái là phương thuốc chữa bệnh tốt. Vua David, khi về già không được khỏe, cơ thể lạnh toát, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ ấm. Thần dân bèn đặt Người nằm cạnh những thiếu nữ với ý định là để chân khí từ thiếu nữ tiếp sức cho vua cha. Và Ngài khỏe ra.

Nhà luyện kim kiêm y sĩ Paracelsus của Đức, vào thế kỷ 16 đã tin tưởng rằng lão hóa là do sự thay đổi hóa chất trong cơ thể như sự rỉ sét của kim loại. Ông ta khuyên nên ăn uống cân bằng, sống tại vùng khí hậu ôn hoà và nhất là dùng những thuốc do ông ta chế.

Những thế kỷ kế tiếp, việc tìm kiếm phương thức trì hoãn sự lão hóa mang ít nhiều tính cách khoa học hơn và được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề này.

Mùa thu năm 1885, Charles Ed. Brown Sequard, 72 tuổi, nguyên giáo sư Đại học Harvard, hùng hồn trình bầy trước các học giả uy tín của College of France. Ông ta cho hay là đã lấy lại được sinh lực, thỏa mãn đòi hỏi tình dục cuả người vợ trẻ bằng cách dùng nước tinh chế từ ngọc hành loài chó. Y giới mọi nơi vội vàng áp dụng môn thuốc này, nhưng hiệu quả không được như lời nói.

Sau Thế chiến thứ nhất, viên Y sĩ người Nga, Serge Vernof, sang Pháp và cấy tế bào ngọc hành cho nhiều người để tăng cường sinh lý.

Ở Mỹ, mấy năm sau, John Romulus Brinkly cũng áp dụng phương pháp này cho thân chủ, kiếm được nhiều tiền, mua đài phát thanh và ra tranh cử chức Thống đốc tiểu bang Arkansas.

Descartes, Benjamin Franklin, Francis Bacon, Christopher Hufeland …với nhiều công sức nghiên cứu đều tin tưởng là sự lão hóa và sự tử vong sẽ bị khoa học khuất phục. Hufeland còn khuyên ta nên tránh sự tức giận, sự tự hủy hoại và coi chúng là kẻ thù của trường thọ.

Các nghiên cứu hiện nay.

Jean Martin Charcot, Y sĩ Pháp, được nhiều người coi là cha đẻ của Lão-khoa-học, xuất bản cuốn sách đầu tiên về khoa này năm 1867 nhan đề Clinical Lectures on Senile and Chronic Diseases. Tác giả đề nghị nghiên cứu diễn tiến sự hoá già, nguyên nhân già, thay đổi cơ thể khi về già.

Bác sĩ Ignatz Leo Nascher vận động để các trường Y Khoa đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu vấn đề liên quan tới hóa già

Sir Peter Medawar và Sir Mac Farlane Burnet là những người đầu tiên lưu ý tới ảnh hưởng của gene trong sự lão hoá.

Sau thế chiến thứ hai, tốc độ nghiên cứu về vấn đề già phát triển mạnh. Tờ báo uy tín Journal of Gerotology ấn hành số đầu tiên vào năm 1946 ở Hoa Kỳ.

Từ năm 1970, tại Mỹ, do sự đòi hỏi của dân chúng, các khoa học gia và chính trị gia liên kết thúc đẩy chính phủ trợ cấp nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu các vấn đề về lão hóa. Do sự ủng hộ tích cực củaThượng Nghị Sĩ Alan Cranton, cơ quan Quốc Gia Tuổi Già ( National Institute of Aging) được chính thức thành lập năm 1976. Cơ quan này có ngân sách cao tới cả nửa tỷ mỹ kim và chuyên chú về các vấn đề liên quan tới người cao tuổi .

Ngày nay, trên thị trường thương mại, ta có thể kiếm được nhiều sản phẩm được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền về y khoa học, hoặc được con người bào chế và quảng cáo là có công hiệu trì hoãn sự lão hoá.

Các khoa học gia đang đi xa hơn trong công việc này. Họ nhắm vào việc thay đổi gene trong nhiễm thể tế bào, việc giới hạn tác hại của các phó sản trong biến hóa căn bản của tế bào.

Đi xa hơn nữa, họ nghĩ tới chuyện thay thế những bộ phận hư hao bằng bộ phận tạo ra do chính tế bào của mình, được nuôi dưỡng, cấu tạo trong phòng thí nghiệm hoặc trên bào thai, để tránh hiện tượng khước từ thông thường.

Kết luận

Trở lại với thực tại, ta thấy tuổi thọ con người đã tăng đáng kể trong hơn trăm năm qua.

Chừng nửa thế kỷ nữa, Hoa Kỳ sẽ có khoảng 75 triệu người trên 65 tuổi trong tổng số trên dưới ba trăm triệu dân. Tại các quốc gia khác, số người cao tuổi cũng tăng theo cùng nhịp độ. Đó là thành qủa những tiến bộ tuyệt vời của khoa học cũng như sự thay đổi nhân sinh quan của loài người.

Tỷ lệ lão niên nữ sẽ cao hơn nam vì sống lâu hơn. Sẽ có nhiều cặp nhân tình đầu bạc sống chung để nương tựa, đầm ấm với nhau. Sẽ có nhiều trường hợp con cái dọn về ở với cha mẹ già để các cụ bớt đơn côi.

Và trong tương lai, khoa học nghiên cứu sẽ hướng nhiều vào việc “tăng đời sống cho năm tháng chứ không chỉ tăng năm tháng cho cuộc đời”.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 2:10 AM | Message # 13
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Phòng Ngừa Sâu Răng

Nguyễn Ý Đức



Từ thời cổ La Mã, Hy Lạp, các thầy thuốc đã thấy có sư liên hệ giữa thức ăn và bệnh của răng. Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, Aristotle đã quả quyết ăn trái vả (figs) là một trong những nguyên nhân làm hư răng.

Ngày nay, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sự ăn uống và thức ăn có vai trò lớn đối với sự mọc răng, sự vững chắc của răng cũng như các bệnh răng-miệng. Thành phần dinh dưỡng của một món ăn, cách tiêu thụ món ăn đó cũng có thể ngăn ngừa hoặc gây ra bệnh cho răng. Ngược lại, tình trạng tốt xấu của răng – miệng cũng có ảnh hưởng vào dinh dưỡng của cơ thể.

Sự mọc răng

Con người có hai thời kỳ tạo răng.

Ngay từ khi bào thai mới được 2 hoặc 3 tháng, răng đã bắt đầu thành hình. Sau khi sanh, từ tuổi 6 tháng tới 30 tháng, răng nhú ra và tăng trưởng. Đây là lớp răng sữa gồm có mười chiếc cho hàm trên và hàm dưới.

Rồi tới khoảng 6 tuổi thì răng vĩnh viễn thành hình với toàn bộ từ 28 tới 32 chiếc, tùy theo 4 răng khôn có mọc ra hay không.

Các chất dinh dưỡng mà người mẹ tiêu thụ cần đầy đủ cho sự cấu tạo và tăng trưởng của thai nhi.

Đạm, chất căn bản của mọi loại tế bào, trong đó có răng, là chất phải có đầy đủ trong thời kỳ mẹ mang thai. Bình thường, bà mẹ ăn khoảng 50gr đạm một ngày. Giai đoạn mang thai cần ăn thêm 10gr đạm dành cho thai nhi. Thiếu đạm, có nguy cơ răng sữa không nhú được mà sau này còn dễ bị hư răng.

Người mẹ cũng cần tăng số lượng calcium trong thực phẩm lên khoảng 1200mg/ ngày để giúp thai nhi tạo mầm răng. Thiếu calcium trong thời kỳ tạo răng và xương hàm đều đưa tới răng không hoàn chỉnh, quá liền với nhau hoặc kém phẩm chất.

Đồng thời cũng cần gia tăng sinh tố D để calcium dễ được ruột hấp thụ. Thiếu sinh tố D, men răng xấu, có vết rạn dễ đưa tới hư răng.

Sinh tố C kích thích sản xuất chất tạo keo collagen mà chất này rất cần thiết cho việc tạo chất ngà răng (dentin)

Sinh tố A để tạo chất keratin cho men răng (enamel). Thiếu sinh tố A làm men nứt, xương hàm kém phát triển khiến răng mọc không ngay hàng

Fluor làm cứng răng trong thời kỳ tạo răng và để ngừa hư răng sau này;

Iod giúp răng mau nhú.

Nói chung về dinh dưỡng, người mẹ phải tiêu thụ thêm khoảng 300 calori mỗi ngày, với các thực phẩm đa dạng, đầy đủ chất dinh dưỡng.
Người mẹ cũng nên tránh không dùng một vài thứ trong khi có thai để tránh ảnh hưởng tới thai nhi.

Thí dụ như không uống thuốc Tetracycline để răng con không mang mầu vàng xỉn vĩnh viễn.

Và sau khi đứa trẻ chào đời cho tới suốt thời kỳ lớn lên và phát triển, sự vững chắc và toàn vẹn của răng tùy thuộc rất nhiều vào chế độ dinh dưỡng và sự chăm sóc răng miệng.Răng có thể bị sâu răng, rụng; nha chu có thể bị viêm làm tổn thương tới răng.

Sâu Răng

Năm 1986, khi khai quật một ngôi mộ cổ bên Ai Cập, người ta đã thấy một hàm răng có chiếc răng được nhét một mẩu kim loại vào thân răng. Các nhà nghiên cứu suy luận rằng, vị cổ nhân này nhét mẩu kim loại vào răng để ngăn cho con sâu khỏi vào nằm trong đó mà phá răng. Như vậy thì bệnh sâu răng không phải là mới lạ, mà vốn đã xảy ra tự ngàn xưa.

Ngày nay, y khoa học đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến bệnh sâu răng, nêu ra rất rõ ràng về những nguyên nhân gây sâu răng cũng như có nhiều phương thức phòng ngừa hữu hiệu.

1. Diễn tiến sâu răng


Sâu răng là một loại bệnh nhiễm khuẩn. Quan sát các động vật không có vi khuẩn trong miệng đều cho thấy chúng không bị sâu răng.

Trong bệnh này, các sản phẩm chuyển hóa acid hữu cơ sinh ra do tác dụng của vi khuẩn trên thực phẩm dính kẹt trong răng miệng, làm mất dần calcium ở men răng. Từ đó răng bị sói mòn phá hủy dần dần.

Sâu răng có thể xẩy ra cho bất cứ răng nào trong miệng cũng như bất cứ phần nào của răng. Răng mới mọc dễ hư hơn răng đã có từ lâu, vì thế khi mới mọc răng sữa hoặc răng thường là phải săn sóc kỹ hơn.

Vi sinh vật trong miệng làm hư răng nhiều nhất là loại Streptococcus Mutans, rồi đến loại Lactobacillus casein và Streptocoocus sanguis.

Sâu răng diễn ra như sau:


Sau khi ăn một món thực phẩm nào đó, thì một phần nhỏ thực phẩm dính lại trên răng hoặc giữa các kẽ răng, tạo ra một mảng bựa (plaque). Bựa này là môi trường dinh dưỡng tốt cho vi khuẩn sinh sản. Bựa là hỗn hợp của 70% vi khuẩn và 30% chất đường, acid.

Lâu ngày, calcium đóng vào bựa, cứng hơn, bám chặt vào răng và nướu răng. Tại đó, vi khuẩn làm thực phẩm lên men, sinh ra acid lactic. Acid ăn mòn chất bảo vệ men răng, vi khuẩn xâm nhập được vào cấu tạo răng để hủy hoại.

Cao điểm của tác hại là nửa giờ đầu sau khi ăn với mức độ acid lên cao nhất. Diễn tiến này xẩy ra rất âm thầm, đôi khi kéo dài cả vài năm và không gây đau đớn gì cho nạn nhân cho tới khi răng hỏng.

2. Dinh dưỡng với sâu răng

Thực phẩm các loại khi kẹt lại trong răng đều bị vi khuẩn chuyển hóa. Thời gian kẹt lại càng lâu thì lại càng có hại.Carbohydrat dễ lên men như các loại đường sucrose, fructose, maltose, lactose; mật ong, đường vàng, mật mía; trái cây tươi, khô hoặc đóng hộp; nước ngọt …đều là những món ăn ưa thích của vi khuẩn.

Chỉ một chút đường trong bánh kẹo cũng đủ làm cho các món này dính lâu trong miệng, tạo điều kiện thuận lợi cho tác dụng của vi khuẩn.

Quan sát cho thấy người hay dùng chất ngọt bị hư răng nhiều gấp 12 lần người ít dùng. Đường hóa học saccharin, aspartame, cyclamate không làm hư răng; đường xylitol, sorbitol trong rượu không lên men lại được coi như bảo vệ răng.

Chất đạm trong thịt, trứng, cá; chất béo, vài loại pho mát có tác dụng bảo vệ răng khỏi sâu.

Chất béo tạo ra một lớp dầu mỏng che răng nên có tác dụng làm giảm tác dụng của đường, làm giảm độ dính của thực phẩm vào răng miệng.

Thực phẩm có nhiều xơ như dưa gang, rau riếp …giúp làm sạch răng và loại bỏ mảng bựa vôi.

Thực phẩm không gây sâu răng là loại khi ăn không làm tăng nồng độ acid của nước miếng.

Ăn uống nhiều lần ( ăn vặt) trong ngày cũng làm thay đổi độ acid/kiềm của nước miếng và ảnh hưởng tới sự sâu răng. Thí dụ ăn năm cái kẹo một lúc rồi súc miệng thì ít có hại hơn là lai rai ăn số kẹo đó trong ngày. Ăn quà vặt cũng là một nguy cơ sâu răng vì độ acid trong miệng lên cao độ nhiều lần trong ngày.

Cần nhớ là mỗi lần một lượng nhỏ carbohydrat dễ lên men được đưa vào miệng là độ acid trong nước miếng tăng lên cao và ăn mòn men răng.

Thực phẩm ăn xen kẽ cũng có ảnh hưởng tới khả năng gây sâu răng. Thực phẩm gây sâu răng mà ăn xen kẽ với thực phẩm không gây sâu răng thì sẽ tốt hơn. Chuối thường hay dính răng, dễ đưa đến sâu răng, nhưng kèm theo ly sữa thì tác dụng xấu giảm đi. Tráng miệng với miếng bánh ga- tô dính răng mà sau đó lại nhai miếng pho mát Thụy sĩ thì miệng sạch mau hơn. Sữa có nhiều calcium, phosphore nên có tác dụng trung hòa với thực phẩm dễ gây sâu răng, như đường.

Dạng lỏng hay đặc của thực phẩm cũng là một yếu tố quan trọng.
Thực phẩm lỏng rời miệng mau hơn món ăn đặc nên độ acid cũng thấp hơn. Một cục kẹo cứng ngậm trong miệng cho tan dần tạo ra môi trường thuận lợi cho vi sinh vật. Kẹo cao su không đường nhai lâu làm tăng nước miếng và rửa sạch răng. Ngô rang có nhiều chất xơ, ít carbohydrat lên men nên cũng tốt cho răng.

Nước bọt có vai trò quan trọng trong sự tiêu hóa cũng như bảo vệ răng. Có ba tuyến nước miếng là tuyến mang tai, tuyến dưới lưỡi và tuyến dưới hàm.

Nước bọt có tính kiềm mà nhiệm vụ chính là giữ độ ẩm cho miệng, giúp tiêu hóa thực phẩm, giảm thay đổi acid trong miệng và tiêu hóa tinh bột. Nước bọt có nhiều calcium và phosphore cho nên sẽ trung hòa acid do vi khuẩn tạo ra. Sự nhai làm tăng nước bọt. Ngửi hoặc nhìn thấy món ăn ngon thơm cũng làm chẩy nước miếng.

Sự tiết nước miếng giảm trong khi ngủ cho nên miệng thường khô, và cũng giảm trong một vài chứng bệnh hoặc do tác dụng của vài dược phẩm như thuốc trị kinh phong, trầm cảm, dị ứng, cao huyết áp, thuốc có chất á phiện, các tia phóng xạ trị liệu.

3. Phòng ngừa sâu răng.

Sâu răng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhứt là khi còn thơ ấu. Sự chăm sóc những răng sữa liên quan đặc biệt tới sự tăng trưởng của hàm răng khôn sau này. Răng sữa giúp trẻ nhai thực phẩm, giữ cho hàm ở vị trí tốt cho răng vĩnh viễn. Răng tạm thời mà rụng sớm thì khoảng trống sẽ bị các răng khác lấp vào và choán chỗ của răng khôn. Răng sữa có thể bị hư khi mới hai tuổi, vì thế cha mẹ cần lưu ý chăm sóc răng cho con.

Về dinh dưỡng, thì nên cẩn thận với thực phẩm có nhiều đường ngọt.
Mặc dù đường ngọt đã được chứng minh là nguy cơ số một gây sâu răng, nhưng khuynh hướng chung của chúng ta vẫn là thích các món ăn ngọt. Khuynh hướng này đặc biệt nguy hiểm ở trẻ em đang độ tuổi phát triển, khi chưa có được ý thức tự bảo vệ trong việc chọn lựa món ăn tốt cho sức khỏe.

Nhiều bà mẹ dùng viên kẹo ngọt để khen thưởng con. Nhiều người cho con bú bình nước pha với đường, thay cho sữa. Có bà mẹ lại nhúng cái núm vú cao su vào mật ong rồi cho con ngậm.Tất cả đều là nguyên nhân dễ dàng làm hỏng những chiếc răng non.

Khi ngủ, không nên cho ngậm bình sữa, vì có thể trẻ không nuốt hết, sữa đọng trong miệng và là môi trường tốt cho vi khuẩn. Có thể cho bé ngậm núm giả hoặc ngậm bình nước lã.

Ngoài việc sữa mẹ có nhiều bổ dưỡng, con hút núm vú mẹ còn giúp hàm răng ngay ngắn hơn.

Trẻ em cần chế độ ăn uống đầy đủ, đa dạng với đầy đủ calcium, phosphore để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của răng. Fluoride, một hóa chất ngăn ngừa sâu răng rất công hiệu, cũng cần được hiện diện trong thực phẩm, nước uống.

Cha mẹ cần hướng dẫn trẻ em trong việc giữ gìn vệ sinh răng, cách dùng bàn chải, giây cọ răng (flossing). Bàn chải nên thay mới khi không còn bảo đảm làm sạch răng, và cần được thường xuyên rửa kỹ để loại bỏ thực phẩm cũng như vi khuẩn dính vào.

Vệ sinh răng miệng , nói chung, gồm có:

– Đánh răng mỗi ngày hai lần, nhất là sau bữa ăn.
– Súc miệng sau khi ăn hoặc uống ;
– Nhai kẹo cao su không đường trong 15 phút sau bữa ăn để nước miếng ra nhiều;
– Cọ khe răng mỗi ngày hai lần;
– Dùng kem đánh răng có fluoride;
– Súc miệng bằng dung dịch chlorexidine;
-Bớt ăn thực phẩm ngọt hoặc có nhiều carbohydrate dễ lên men.

Bác sĩ Nha Khoa Jeffry Hillman của Đại Học Florida đang nghiên cứu thay đổi biến dị của vi khuẩn Streptococcus mutans khiến chúng không còn khả năng gây sâu răng nữa.

Ngoài ra, các khoa học gia hiện đang tìm kiếm loại vaccin để ngăn ngừa sâu răng.

Hy vọng trong tương lai gần, vaccin này sẽ được bào chế để người người có hàm răng đều đặn trắng bóng hoặc “ Răng đen nhi nhí, ông Lý cũng khen”..
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 2:24 AM | Message # 14
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Bệnh Của Động Mạch Vành


Nguyễn Ý Đức



Động mạch vành ( Coronary Artery) là những mạch máu chạy quanh trái tim để nuôi cơ quan này.

Sau mỗi nhịp tim đập thì máu được đưa đi nuôi khắp cơ thể qua động mạch chủ. Riêng máu nuôi tim thì được chuyển trực tiếp vào động mạch vành. Các động mạch này gồm hai nhánh bao chung quanh trái tim như một cái vương miện. Nếu một trong những phân nhánh bị nghẹt thì tế bào tim ở vùng đó thiếu dinh dưỡng, thiếu dưỡng khí (oxy). Đó là sự thiếu máu cục bộ cơ tim (myocardial ischemia) và người bệnh sẽ có những cơn đau thắt tim (angina pectoris).

Nếu động mạch bị nghẽn vĩnh viễn thì cơn suy tim sẽ xẩy ra vì Nhồi máu cơ tim ( myocardial infarction) và tế bào tim bị tiêu hủy.

Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân đưa tới sự tắc nghẽn động mạch vành.
Trong đa số các trường hợp, có những mảng chất béo dần dần đóng lên thành động mạch. Lòng mạch máu ngày một thu hẹp khiến cho máu lưu thông giảm đi, rồi sau một thời gian sẽ gián đoạn hẳn. Đó là hiện tượng vữa xơ động mạch ( atherosclerosis).

Vữa xơ không phải xẩy ra bất thình lình mà từ từ diễn tiến cả chục năm. Đôi khi, sự tác nghẽn bắt đầu ngay từ khi còn trẻ, nhưng chưa đủ trầm trọng để đưa tới bệnh tim ở tuổi trung niên.

Vữa xơ là nguyên nhân chính của cơn suy tim, tai biến động mạch não, hoại thư (gangrene) đầu ngón chân, ngón tay. Các mạch máu dễ bị vữa xơ nhất là động mạch chủ nơi bụng ( abdominal aorta), động mạch vành và động mạch não.

Nguyên nhân của Vữa Xơ Động Mạch chưa được xác định rõ, nhưng theo kết quả nhiều nghiên cứu thì chất béo trong máu và các yếu tố sau đây là những nguy cơ có khả năng gây bệnh:

a-Tuổi tác

Hơn 50% trường hợp bệnh động mạch vành xẩy ra ở người trên 65 tuổi, cho nên nguy cơ bệnh tim tăng theo tuổi tác.

b-Giới tính
Theo thống kê thì nam giới trên 45 tuổi thường bị bệnh tim mạch nhiều hơn nữ giới, nhưng sau tuổi mãn kinh của nữ giới thì tỷ lệ mắc bệnh gần như nhau.

Nam giới thường có lượng cholesterol LDL cao hơn và HDL thấp hơn, một phần do tác dụng của kích thích tố nam Testosterone. Còn nữ giới thì một phần được sự bảo vệ của kích thích tố nữ estrogen, làm giảm cholesterol LDL. Khi mãn kinh, người phụ nữ không còn kích thích tố nữ thì cholesterol LDL nhích lên cao.

c- Di truyền

Vữa xơ động mạch đôi khi thấy ở nhiều người trong gia đình, nhất là khi bố mẹ hoặc anh chị em bị bệnh.

d- Chủng tộc

Người châu Á ít bị vữa xơ động mạch và cơn suy tim hơn người Âu Mỹ; người Mỹ gốc châu Phi lại hay bị bệnh tim vì họ bị cao huyết áp nhiều hơn.

e- Thuốc lá

Nicotine trong thuốc lá làm tăng huyết áp và nhịp tim, làm máu dễ đóng cục, làm giảm HDL, tăng LDL, tất cả đều có thể đưa tới bệnh tim mạch. Nicotine là một trong nhiều yếu tố khởi sự làm hư hao tế bào động mạch, đưa đến vữa xơ mạch máu này.

Hít thở khói thuốc lá do người khác thải cũng có hại. Bỏ hút thuốc lá sẽ làm giảm nguy cơ benh tim mạch một cách đáng kể.

g- Béo phì.


Thống kê cho hay người béo phì hay bị cao huyết áp, bệnh tim, cao cholesterol và do đó thường bị suy tim.

h- Cao huyết áp


Huyết áp càng cao thì nguy cơ suy tim và vữa xơ động mạch càng tăng, nhất là khi kèm theo nghiện thuốc lá và béo phì. Áp suất lên cao làm yếu thành mạch máu, đưa tới hư hao, đóng bựa chất béo và các chất khác lên thành động mạch.

i-Bệnh tiểu đường

Người bị bệnh tiểu đường thường có nhiều nguy cơ bị các bệnh tim mạch như cơn suy tim, cao huyết áp, chất béo HDL thấp và triglyceride cao.

k- Ít vận động cơ thể


Người ít vận động cơ thể có nguy cơ bị bệnh Động Mạch Vành nhiều gấp đôi người năng vận động. Sự vận động làm giảm sự hóa vữa xơ, tăng máu lưu thông tới tim, tăng HDL, giảm béo phì, giảm cao huyết áp.

l-Cao cholesterol.

Vai trò của cholesterol trong bệnh tim mạch đã được nghiên cứu sâu rộng trong những thập niên qua với nhiều dẫn chứng khoa học về vấn đề này.

Mức cholesterol trong máu lên tới 240mg/dl là nguy cơ lớn đưa tới vữa xơ động mạch rồi cơn suy tim và tai biến động mạch não. Nguy cơ càng cao khi cholesterol càng nhiều trong máu.

Ngoài tổng lượng cholesterol, các thành phần của chất béo này cũng quan trọng. Đó là các dạng cholesterol LDL (low density lipoprotein), HDL (hight density lipoprotein), Triglyceride.

Protein là chất vận chuyển lipid và hỗn hợp đó có tên là lipoprotein. Tỷ trọng (density) là tỷ lệ protein/lipid. Khi nhiều protein (high density) thì là HDL , ít protein (low density) thì là LDL.

Trong tổng lượng cholesterol thì từ 60-70% là LDL, 20-30% là HDL, 10-15% là VLDL.

Cholesterol ở mức độ dưới 200mg/dl là lý tưởng; 200-239 còn tạm chấp nhận được, chứ lên trên 240 thì là rất cao và có nguy cơ gây bệnh.

LDH thường được coi như không tốt vì nó là thành phần gây nhiều rắc rối cho hệ tim mạch. Cholesterol này đưa chất béo trong thực phẩm vào các tế bào. Khi tế bào hết chỗ chứa thì chất béo đóng vào lòng động mạch, lâu dần đưa tới vữa xơ, tắc nghẽn.

Mức độ lý tưởng của LDL trong máu là dưới 130mg/dl; 130-159 mg/dl là bắt đầu có vấn đề; và lên cao hơn 160mg/dl là nguy hiểm.
HDL vận chuyển chất béo vào dự trữ trong gan để cho lượng chất béo trong máu chỉ đủ dùng, không có dư để đóng vào thành động mạch.Lượng HDL trong máu mà bằng hoặc cao hơn 35mg/dl là tốt, nếu HDL có thể cao hơn 60mg/dl thì thật lý tưởng và an toàn.

Bình thường, cơ thể sản xuất đủ số cholesterol mà ta cần. Cholesterol đo trong máu có tới 85% là do cơ thể tự tạo; còn lại 15% là do thực phẩm cung cấp.

Vì thế, cholesterol trong máu có thể lên cao nếu ta tiêu thụ nhiều cholesterol và các chất béo bão hòa. Hậu quả là sự đóng mảng trong lòng động mạch. Khi nghẹt động mạch vành, ta bị cơn suy tim (Heart attack). Khi một mảng chất béo ở động mạch nào đó chạy lên não thì gây ra tai biến động mạch não (Stroke ).

Kết luận.

Cao cholesterol là rủi ro chính yếu đưa tới bệnh tim mạch.
Kiểm soát cholesterol là việc làm lâu dài, cần kiên nhẫn với các phương pháp được nhiều nhà chuyên môn dinh dưỡng công nhận.
Nên dè dặt với những giới thiệu, quảng cáo chữa khỏi hoàn toàn mà không cần thuốc hoặc một chế độ ăn uống nhiều chất này, bỏ chất kia.
Dinh dưỡng trong bệnh tật cũng như trong sức khỏe cần sự đa dạng, vừa phải, phối hợp của nhiều thực phẩm khác nhau.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 2:36 AM | Message # 15
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Câu Chuyện Thầy Lang: Bệnh Van Tim


Nguyễn Ý Đức





Nhiều người mang bệnh van tim mà không có triệu chứng và không có khó khăn sức khỏe. Một số khác thì tình trạng trầm trọng hơn, có thể đưa tới suy tim, tai biến não, máu cục thậm chí thiệt mạng bất thình lình vì ngưng tim. Triệu chứng chính của bệnh là tiếng thổi của tim (heart murmur) nghe qua ống nghe, gây ra do máu lưu hành hỗn loạn khi van tim bị hư hại, khuyết tật, thu hẹp…Đây là tiếng động thêm hoặc bất thường khi tim co bóp

“Kính chào Bác sĩ,

Thưa bác sĩ, cháu rất thích các bài viết của bác sĩ, vì bài viết rất rõ ràng, dễ hiểu mà lại rất vui, dí dỏm. Cháu lại không may mắn, nên có 1 bác sĩ trị bệnh hơi nghiêm, nên cháu không dám hỏi những thắc mắc của cháu, xin bác sĩ giải đáp giùm cháu.
Hôm vừa rồi, cháu mới được bác sĩ cho biết cháu bi hở cà 4 van tim từ ít tới trung bình. Xin Bác sĩ cho cháu biết hở van tim có ảnh hưởng tới sức khỏe không? Các triệu chứng nào cần phải quan tâm? Hở van nào thì nguy hiểm (cháu bị hở lớn ở van 2 lá và van động mạch chủ). Tải sao lại bị hở? Chỗ hở có lớn dần với thời gian? Có cách nào làm nhỏ bớt hoặc ngưng lại chỗ hở (vì bác sĩ của cháu nói khi nào hở lớn hơn thì phải giải phẩu thay van khác). Cháu rất hay bị nhói đau ngay trái tim dù cả lúc đang nằm ngủ. Còn làm việc gì thì rất mau mệt, đi bộ thôi cũng thở hổn hển như người chạy việt dã vậy. Bs gia đình thì nói nếu thấy mệt quá, hoặc khó thở thì vào nhà thương, nhưng cháu chẳng biết thế nào là quá. Cháu thường chỉ ở nhà một mình, nếu thấy mệt thì chỉ nằm nghỉ thôi.
Cám ơn bác sĩ rất nhiều,
Kính thư
Châu Vũ”


Trên đây là email của cháu Châu Vũ ở Việt Nam hỏi về bệnh tim. Đã trả lời cho cháu qua đài phát thanh VOA, nhưng vì thời gian giới hạn, cho nên có bài bổ túc này để Vũ hiểu tường tận hơn. Và cũng để gửi tới đồng hương gần xa về Bệnh của Van Tim.

Cấu tạo tim

Tim đựoc ví như một cái bơm, bơm máu đi nuôi cơ thể. Tim co bóp liên tục ngày đêm từ 80.000-100.000 nhịp mỗi ngày đồng thời bơm ra khoảng 9000 lít máu.

Các cơ của tim rất mạnh và bền bỉ. Khi co bóp, tim đẩy máu vào các động mạch. Khi cơ thư giãn, máu tử tĩnh mạch chẩy vào tim..

Tim có 4 ngăn: Tâm nhĩ trái và phải ở trên và tâm thất trái và phải ở dưới. Để tim hoạt động hữu hiệu, các ngăn này phải phối hợp co bóp một cách nhịp nhàng đồng điệu.

Máu ra vào tim theo một vòng kín:

Máu đỏ chứa nhiều oxy từ phổi theo tĩnh mạch phổi về nhĩ trái, xuống thất trái rồi vào động mạch chù ra nuôi cơ thể.
Máu đen chứa nhiều CO2 từ cơ thể theo tĩnh mạch chủ về nhĩ phải, xuống thất phải rồi theo động mạch phổi lên phổi để thải CO 2 và nhận oxy.
Có 4 cái van hướng máu đi theo một chiều nhất định mà không dội ngược dòng, chẳng khác chiếc hom của giỏ đựng cua. Cua đựoc bỏ vào giỏ từ trên xuống dưới mà không bò ngược lên trên, chốn ra khỏi giỏ.

Van 3 lá tricuspid giữa nhĩ phải/ thất phải;
van phổi giữa thất phải/ động mạch phổi;
van 2 lá mitral giữa nhĩ trái/ thất trái và
van chủ giữa thất trái và động mạch chủ.

Van mở hoặc đóng tùy theo áp xuất ở trước và sau van.

Máu dội ngược dòng khi van không đóng kín khiến cho máu phía bên kia ứ đọng. Van không mở rộng cũng khiến cho máu dư một bên mà thiếu một bên. Tim sẽ phải co bóp nhiều hơn, lâu ngày tim phình, tim mệt, tim suy.

Bệnh của van

Bệnh của van có thể là hở (regurgitation), chít hẹp ( stenosis) hoặc teo (atresia).

-Hở là khi các lá của van không khép kín sau khi máu đi qua, khiến cho máu dội ngựơc gây ra ứ đọng phía bên này và thiếu hụt phía bên kia. Sa van (valve prolapsed) là tiêu biểu của hở van và thường xảy ra ở van 2 lá mitral. Các lá của van lật ngược lên tâm nhĩ trái, máu trào ngược khi tim co bóp.
-Chít hẹp khi van không mở rộng khiến cho máu không xuống hết, máu tụ phía bên kia mà bên này lại thiếu.
-Teo khi van không có cửa mở để máu lưu thông.

Bệnh có thể thấy ở một hoặc nhiều van. Van bên phải ít bị bệnh hơn van bên trái. Có tới 90% là mãn tính lâu đời, 10% cấp tính, mới xảy ra.
Có nhiều nguyên nhân đưa tới bệnh van tim như nhiễm trùng, chấn thương, bệnh cơ tim hoặc do bẩm sinh.

1-Nhiễm trùng như trong bệnh Sốt Thấp (Rheumatic Fever) hoặc Viêm Nội Mạc Tim (Endocarditis).

Sốt Thấp thường thấy ở trẻ em do nhiễm họng với chuỗi cầu trùng tan huyết Streptococcus (Strep Throat) mà không được điều trị. Thế rồi vài ba chục năm sau xuất hiện dấu hiệu bệnh tim như là viêm, dày, cứng và thu ngắn các lá của van tim, nhất là van 2 lá giữa nhĩ trái/thất trái (mitral regurgitation) và van động mạch chủ. May mắn là ngày nay nhờ kháng sinh chữa viêm họng cho nên bệnh hở van tim giảm đi rất nhiều.

Viêm Tâm Mạc do vi khuẩn xâm nhập máu, tấn công van tim gây ra tổn hại tạm thời hay vĩnh viễn cho van. Vi khuẩn đến từ các phẫu thuật răng miệng, lạm dụng thuốc cấm chích tĩnh mạch hoặc nhiễm trùng tổng quát khác.

2-Bệnh tim do cao cholesterol, cao huyết áp, không vận động, thừa kế gia đình. Các bệnh này gây tổn thưong cho van đặc biệt là van động mạch chủ với calci bám vào. Người từ 65 tuổi trở lên thường nằm trong trường hợp này.

3-Bẩm sinh như trường hợp hài nhi chỉ có 2 lá ở van động mạch chủ (thay vì 3 lá) hoặc có 3 lá nhưng 2 lá dính vào nhau.

Triệu chứng

Nhiều người mang bệnh van tim mà không có triệu chứng và không có khó khăn sức khỏe. Một số khác thì tình trạng trầm trọng hơn, có thể đưa tới suy tim, tai biến não, máu cục thậm chí thiệt mạng bất thình lình vì ngưng tim.

Triệu chứng chính của bệnh là tiếng thổi của tim (heart murmur) nghe qua ống nghe, gây ra do máu lưu hành hỗn loạn khi van tim bị hư hại, khuyết tật, thu hẹp…Đây là tiếng động thêm hoặc bất thường khi tim co bóp, có thể rất nhỏ hoặc ồn to.

Các triệu chứng khác gồm có:

-Mệt mỏi bất thường
-Thở hụt hơi nhất là khi cố sức hoặc nằm.
-Phù sưng chân, cổ chân, bàn chân, bụng
-Chóng mặt quay cuồng, rối loạn nhịp tim.

Không được theo dõi, điều trị, bệnh van tim có thể đưa tới suy tim, cao áp xuất và phù nề phổi, rối loạn nhịp tim, huyết cục, tai biến não.

Điều trị

Điều trị bệnh van tim tùy thuộc loại van bị hư, tình trạng nặng hay nhẹ của bệnh. Có 3 phương thức trị liệu:

1-Theo dõi tình trạng bệnh.

Trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình, chưa có các triệu chứng trầm trọng ảnh hưởng tới hoạt động của bệnh nhân, bệnh có thể được đặt trong tình trạng theo dõi. Bác sĩ sẽ làm các thử nghiệm để quan sát diễn tiến bệnh, đưa ra các hướng dẫn để giảm thiểu biến chứng. Bệnh nhân cũng cần thay đổi nếp sống sao cho thích hợp với bệnh tình.

2-Điều trị bằng dược phẩm
Thực ra không có dược phẩm nào để trị dứt được bệnh của van tim mà chỉ hỗ trợ tim, giúp tim làm việc hữu hiệu hơn, trì hoãn sự trầm trọng của bệnh, tránh biến chứng. Dược phẩm có thể là thuốc lợi tiểu, hạ cao huyết áp, điều chỉnh rối loạn nhịp tim, chống đông máu…Cần một bác sĩ chuyên môn tim mạch chăm sóc thường xuyên.

3-Giải phẫu

Tùy theo tình trạng bệnh, giải phẫu có thể là nong van, sửa van hoặc thay van.
-Nong van bị hep với quả bóng xẹp bé tí teo đưa vào van rồi bơm phồng lên, khiến cho van mở rộng rồi rút bóng ra. Được áp dụng trong vài loại bệnh của van, thay cho việc đặt van mới.
-Sửa van, đặc biệt là van 2 lá mitral, để van hư hao hoạt động bình thường trở lại đựơc.

-Thay van với 2 loại van:
* Van làm bằng các vật liệu như vải, kim loại thép không rỉ, titanium hoặc gốm sứ.Lợi điểm của loại này là kéo dài lâu hơn, từ 10-20 năm. Tuy nhiên bệnh nhân phải uống thuốc chống đông máu suốt đời để tránh huyết cục ở tim hoặc trên van.

** Van làm bằng tế bào người hoặc súc vật như heo, bò, dùng được từ 10 -15 năm nhưng bệnh nhân có thể không phải uống thuốc chống đông máu.

Sau khi ổn định với điều trị, bệnh nhân tiếp tục cần được bác sĩ theo dõi. Báo cho bác sĩ nếu có thay đổi, biến chứng bất thường. Uống thuốc theo đúng chỉ định. Giữ hẹn với bác. Thay đổi nếp sống sao cho thich hợp với tình trạng sức khỏe của mình.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 2:49 AM | Message # 16
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Câu chuyện Thầy Lang: Massage-Tẩm Quất


Kính gửi Bác sĩ Nguyễn Ý Đức,

Tôi là Trần Thị Nhơn, hiện đang ở Garland, TX. Tôi năm nay đã gần 70 tuổi. Tôi không biết vi tính nên nhờ đứa con viết giúp. Tôi được đọc rất nhiều bài viết của Bác sĩ về sức khoẻ trên báo, rất bổ ích, và tôi rất ngưỡng mộ tấm lòng của Bác.

Hiện nay tôi thấy một số công ty quảng cáo về ghế massage. Con tôi muốn mua tặng cho tôi một cái mà tôi chưa cho. Tôi muốn hỏi Bác sĩ ghế massage sẽ giúp gì cho sức khỏe những người già như tôi?

Chân thành cảm ơn Bác sĩ.

Trần Thị Nhơn

Thưa bà,

Thắc mắc của bà về ghế massage cũng là thắc mắc của nhiều bà con đồng hương mình. Để hiểu rõ “ghế massage sẽ giúp gì cho sức khỏe những nguời già”, trước hết xin tìm hiểu về thủ thuật Masssage.

Xoa Bóp

Massage tiếng Việt là Xoa Bóp đã được y học Đông Tây áp dụng từ nhiều ngàn năm trong việc chữa trị nhiều chứng bệnh, từ đau khi sanh tới suy yếu, tê liệt chân tay.

Tiếng Anh Massage có nguồn gốc từ chữ Ả Rập Mass’h, có nghĩa là ấn nhẹ.

Xoa bóp là phương thức trong đó bàn tay, ngón tay đôi khi cánh tay, khuỷu tay thậm chí bàn chân hoặc thân mình được sử dụng để đè bóp, soay chà, vuốt ngang dọc lên xuống hoặc vỗ nhẹ vào da, cơ bắp, gân cốt cũng như khớp xương với mục đích điều chỉnh, kích thích, xoa dịu các bộ phận này.

Ta biết rằng, bản năng tự nhiên của con người là khi đau ở một vùng nào trên cơ thể thì sít soa kêu đau rồi lấy bàn tay day-xoa ở vùng đó cho bớt đau. Như khi đau bụng thì hai tay ôm bụng day qua day lại, sưng răng thì chà chà vuốt vuốt má cho dịu cơn đau. Massage có tác dụng tương tự như vậy.

Theo quan niệm Đông Y một phần bệnh tật là do sự mất cân bằng khí huyết lưu thông trong cơ thể. Các khí huyết này vận hành theo những đường nhất định gọi là kinh mạch. Tác động lên các kinh mạch bằng thủ thuật xoa bóp có thể tái lập sự cân bằng khí huyết, điều chỉnh các chức năng của lục phủ ngũ tạng, kích thích thần kinh, cơ bắp, xương khớp nhờ đó mà bệnh thuyên giảm hoặc lành hẳn.

Tài liệu của University of Maryland Medical School cho hay, massage mô bào nằm sâu trong cơ thể có thể giảm huyết áp; giảm đau và nâng cao tinh thần ở bệnh nhân ung thư trầm trọng. Tài liệu cũng ghi nhận rằng, massage được coi như hỗ trợ sự lành bệnh, tăng cường sinh lực, giảm thời gian phục hồi của thương tích và tạo ra thư giãn thoải mái cho cơ thể. Massage mang lại nhiều ích lợi giải tỏa đối với nhiều vấn đề của cơ bắp xương cốt như đau thắt lưng, viêm xương khớp, đau nhức bắp thịt và bong gân, trật xương. Khi massage, có những luồng điện được phát ra và lan truyền tại chỗ cũng như lan ra khắp cơ thể. Các tín hiệu điện này phối hợp với các thao tác của những ngón tay trên da có tác dụng giúp mau lành thương tích, kích thích tuần hoàn, loại bỏ chất thải qua hệ bạch huyết, tăng sức đề kháng miễn dịch, giảm đau nhức, căng thẳng và tạo ra tâm trạng bình an, tự toại, giúp giấc ngủ an lành, tránh táo bón, giảm căng thẳng trong công việc cũng như làm đẹp diện mạo, tinh thần lanh lợi, tỉnh táo.

Hội American Massage Therapy Association liệt kê các bệnh như đau thắt lưng, sau by-pass surgery, bệnh lo âu, thiên đầu thống, cao huyết áp đều thuyên giảm sau nhiều lần massage.

Xoa bóp đã được người Trung Hoa áp dụng từ hơn 3000 năm về trước như là một phương pháp để trị bệnh. Dân Ai cập xưa dùng thêm dầu thơm khi xoa bóp thân thể bệnh nhân. Lương y Hy Lạp dùng xoa bóp để kích thích phục hồi chức năng các vùng cơ thể bị mất cử động gây ra do tổn thương dây thần kinh

Tới đầu thế kỷ thứ 19, Per Henrik người Thụy Điển lập ra một chương trình xoa bóp cho các bệnh ở khớp xương và cơ bắp. Sau đó phương pháp này được mang ra áp dụng để giải tỏa các biến dạng khớp sau khi bị viêm sưng cũng như tái phục hồi các chức năng của bắp thịt sau khi bị tê liệt nhất là trong lãnh vực thể dục thể thao, thường hay gây ra nhiều thương tích cho xương khớp và cơ bắp. Phương pháp này được mệnh danh Swedish Massage.

Người Nhật có phương pháp xoa bóp gọi là Shiatsu: dùng ngón tay để tác động lên các huyệt đạo, kinh mạch thay vì dùng kim châm cứu.

Việt Nam mình thì có âm thanh quen thuộc thân thương “Tẩm Quất đi” tối tối vang lên từ hang cùng ngõ hẻm tới các khu thị tứ đông người. Đó là những người chuyên nghề tẩm quất, giác hơi. Họ có thể là những người trẻ khiếm thị hoặc các bác trên tuổi trung niên hành nghề qua học hỏi lẫn nhau, nhưng tài nghệ thoa bóp rất thành thạo, khiến cho nhiều người đêm đêm ghiền tẩm quất.

Tại Hoa Kỳ, Xoa Bóp được coi như là tiền thân của Vật lý trị liệu Physical Therapy và đã trở thành cách trị liệu hỗ trợ rất phổ biến với nhiều trường phai khác nhau như:

-Xoa Bóp Xâu tập trung vào các vùng bị đau nhức, cơ bị co cứng với động tác của ngón tay đè sâu, chậm vào các vùng đó để giải quyết đau kinh niên.

- Swedish Massage với thao tác vừa vỗ vừa ấn vừa vuốt làn da để giúp máu huyết lưu thông, thư giãn gân cốt và giải tỏa căng thẳng thể chất cũng như tinh thần.

-Xoa bóp lưng căn bản là loại mà thường làm khi tới spa hoặc salon, rất là hấp dẫn.

-Shiatsu massage là loại massage Nhật tương tự như châm cứu nhưng thay vì dùng kim châm thì dùng ngón tay điểm vào một chỗ nào đó trong vòng mấy giây đồng hồ để giảm đau và giúp khí huyết lưu thông dễ dàng. Phương pháp này không gây đau như nhiều người e ngại và lại rất thư giãn, thích thú.

-Massage với cục đá nóng rất phổ biến hiện nay. Trong khi massage thì một cục đá đốt nóng được đặt lên các nơi khác nhau trên da. Hơi nóng làm bớt đau thành ra không cần phải dùng tay để đè ấn. Rất thích hợp cho người đi massage lần đầu, sợ là bị thoa đấm mạnh.

-Thái Xoa bóp ngoài bàn tay, đôi khi dùng thêm cơ thể của chuyên gia để đè áp lên cơ bắp, chuyển động khớp ngõ hầu giảm căng và đau.

-Phản xạ liệu pháp dùng bàn tay, ngón tay kích thích các vùng khác nhau ở bàn chân tương ứng với các bộ phận của cơ thể tăng cường sức khỏe.

-Massage khi mang thai để giảm thiểu những thay đổi trong cơ thể khi có thai như bớt phù nề tứ chi, giảm đau xương khớp…

Hội American College of Physicians và American Pain Society đã bao gồm massage vào trong các cách điều trị đau thắt lưng vào năm 2007 và coi Xoa Bóp như là có công hiệu trong việc giảm đau

Theo Phó Giám Đốc Jack Killen, tổ chức National Center for Complementary and Alternative Medicine, hiện nay có nhiều bằng chứng cho thấy Xoa Bóp có thể góp phần vào việc điều trị một số chứng bệnh như đau nhức mà y khoa chính thống không giải quyết toàn diện được

Nhiều tổ chức y học như National Institutes of Health và nhiều trường Đại học y khoa đã tài trợ ngân khoản để nghiên cứu thêm về công dụng trị bệnh của massage

Nói chung, Massage cải thiện lưu thông của máu để mang nhiều oxy và các chất dinh dưỡng nuôi cơ thể, giảm căng thẳng và đau nhức cơ bắp, tăng cường sự chuyển động và uyển chuyển của các khớp xương.

a-Chỉ định.

Xoa góp thích hợp những chứng bệnh như các trường hợp viêm đau khớp, viêm gân; trong khi bị stress về tinh thần; giải tỏa nhức đầu; co cứng hoặc căng cơ bắp; khó khăn hô hấp hoặc tuần hoàn; hậu chấn thương hoặc hậu giải phẫu.

b-Không massage:

Chấn thương với vết thương kín và hở; khi bị tổn thương cơ bắp, xương, khớp; vùng cơ thể bị viêm nhiễm tấy đỏ hoặc lở loét; trong các chứng bệnh ngoại khoa: viêm ruột thừa, thủng dạ dày, viêm vòi trứng.

c-Không nên massage:

-Ngay sau khi giải phẫu;

-Người hay bị máu cục tĩnh mạch vì e rằng cục máu sẽ di chuyển tới các bộ phận sinh tử như tim, óc.

-Bệnh tăng tiểu cầu trầm trọng, vì rủi ro đóng máu cục.

-Loãng xương trầm trọng

-Nếu đang có bệnh tim hoặc có thai cần hỏi ý kiến bác sĩ;

Massage có thể gây ra một vài rủi ro như xuất huyết, tổn thương dây thần kinh với tê liệt tạm thời vì xoa bóp quá mạnh.

Đa số các tiểu bang tại Hoa Kỳ đều đòi hỏi người hành nghề massage phải qua một lớp huấn luyện với một số giờ tối tiểu và nếu muốn là hội viên của American Massage Therapy Association phải có 500 giờ huấn luyện. Theo thống kê, Hoa Kỳ hiện nay có khoảng 125,000 chuyên viên massage phục vụ cho khoảng 80 triệu khách hàng.

Ghế Massage

Bây giờ xin đề cập tới Ghế Xoa Bóp (Chair Massage) mà bà Nhơn hỏi.

Có hai loại ghế massage.

-Ghế Xoa bóp cổ điển chỉ là một chiếc ghế có kiến trúc đặc biệt đỡ đầu, cổ, thân mình và chân tay. Khách dựa thân mình vào ghế, không phải cửi bỏ quần áo và xoa bóp viên làm công việc thoa bóp tẩm quất trên khắp cơ thể.

-Ghế Massage dùng động cơ điện tử để xoa bóp có tác dụng tương tự như chuyên gia xoa bóp, rung chuyển, véo cấu, ấn sâu… rất tiện lợi vì có sẵn tại nhà.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại ghế Massage trong đó có ghế iRobotics đầu tiên Made in USA do một nhóm chuyên gia điện tử người Mỹ gốc Việt hoàn thành.

Một trục mang 6 bộ phận bằng chất plastic vừa mềm vừa chắc, điều khiển bởi một hệ thống điện tử tinh vi có thể tự động phối hợp tất cả các động tác massage của Shiatsu, Swedish, massage sâu cũng như massage thể dục thể thao, với cường độ mạnh nhẹ khác nhau lên cột sống. Để massage chân và tay, ghế có những bọc không khí xoa bóp các bắp thịt tứ chi rất êm ái nhưng tác dụng thư giãn cơ bắp rất cao. Một điểm đặc biệt là động tác “nhồi-day” vùng hậu môn của iRobotics, tăng sức mạnh cơ bắp nơi xương chậu, giúp ích rất nhiều cho người bị chứng tiểu són vì phì đại tuyến tiền liệt hoặc phụ nữ sanh nhiều lần.

Ghế được điều khiển qua một màn hình nhỏ gắn trên ghế có ghi rõ ràng cách sử dụng.

Có 5 lợi điểm tức thì khi dùng ghế massage:

1-Nắn cột sống ngay ngắn và giảm sức ép đè lên các dây thần kinh. Nằm bằng phẳng trong trạng thái không trọng lực trên ghế trong khi máy massage giảm áp lực lên cột sống nhờ đó cơ bắp, dây chằng ở xung quanh thư giãn, không đè lên các rễ dây thần kinh và giảm các cơn đau.

2-Ghế massage giúp thư giãn cơ bắp, nhờ đó dáng điệu cơ thể được ngay ngắn. Khi cơ căng cứng và đau, cơ thể sẽ nghiêng về một phía, dáng người siêu vẹo.

3-Giảm căng thẳng tinh thần.

Khi tinh thần bị căng thẳng, stress hormone tiết ra nhiều hơn và gây ra rối loạn giấc ngủ, cao huyết áp, kém ăn. Sau vài chục phút nẳm trên ghế massage, tinh thần trở nên thoải mái, thiu thiu ngủ nhờ hết stress.

4-Xoa bóp giúp máu lưu thông tốt hơn.

Với xoa-vuốt sâu nông trên da, các mạch máu đựoc mở rộng, cơ bắp thư giãn khiến cho máu lưu thông dễ dàng nhờ đó sự nuôi dưỡng cơ thể với dưỡng khí và chất dinh dưỡng được đầy đủ hơn.

5-Xoa bóp cũng kích thích cơ thể tiết ra nhiều kích tố hưng phấn endorphins, giảm cảm giác đau và giảm căng thẳng tinh thần. Endorphins cũng tăng cường sức đề kháng với bệnh tật.

Nhiều người cho rằng, massage với đôi bàn tay nhẹ nhàng thì ấm áp tình người còn massage điện tử cho ta một cảm giác nhuần nhuyễn với sức bóp-nhồi nông sâu lan rộng khác nhau thì dường như “phê” hơn và “đã” hơn.

Giới tiêu thụ có nhiều lựa chọn ghế nào thích hợp với nhu cầu, sở thích cũng như vừa với túi tiền của mình.

Một người đã từng dùng và “hơi” rành về ghế massage điện tử có mấy gợi ý như sau:

1.Lựa kiểu nào với hình dáng, mầu sắc “bắt mắt” tương xứng với trang trí trong nhà mình, vì nhiều khi ghế được đặt tại phòng khách, để chủ khách dùng cho tăng phần giao hảo.

2. Ghế làm bằng vật liệu bền bỉ, vững mạnh chịu đựng được sức nặng cơ thể cũng như sự rung động khi máy hoạt động.

3.Máy có nhiều options, nhiều chương trình để phục vụ các nhu cầu massage khác nhau của người dùng.

4.Tương đối dễ điều khiển, nếu có sắp đặt sẵn các chương trình xoa bóp tự động càng tốt, ít bối rối cho người sử dụng, nhất là quý vị tuổi cao.

5.Máy phục vụ cho toàn cơ thể với các thao tác khác nhau, đặc biệt là với chiều dài của cột xương sống, nơi chứa hệ thần kinh điều khiển hầu hết các chức năng của cơ thể.

Thưa bà Nhơn

Đó là về massage chair. Hy vọng các chi tiết này có thể giúp phần nào cho việc lựa chọn ghế của bà.

Ở tuổi cao, sau một ngày sinh hoạt tại các trung tâm người già, về nhà dọn dẹp nhà cửa, lo cơm nước cho người thân, thì cơ thể cũng mệt mỏi đau nhức đôi chút. Lúc đó mà nằm lên cái ghế massage điện tử, nhấn nút điện, máy chạy ầm ì xoa xoa-bóp bóp, rồi ngủ thiếp đi vài chục phút. Tỉnh dậy thấy tình thần sảng khoái, cơ xương thư giãn nhẹ nhàng thì cũng thoải mái đấy, phải không thưa bà.

Xin chúc bà được mọi sự bình an.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 2:56 AM | Message # 17
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Câu Chuyện Thầy Lang: Bệnh Sởi



Chào bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Mấy tuần lễ vừa qua, dư luận bên Việt nam có nói nhiều tới dịch bệnh sởi ở một số tỉnh miền Bắc.

Vào dịp mùa Hè này, chúng tôi có ý định đưa mấy cháu nhỏ về thăm ông bà ngoại.

Xin bác sĩ cho biết chúng tôi phải làm gì trước khi đi và về bên đó thì cần để ý những việc gì để không bị bệnh sởi. Và chúng tôi bây giờ cũng không nhớ bệnh sởi là gì và do đâu mà có, vì từ ngày sang Mỹ tới giờ chưa gặp trường hợp sởi nào cả.

Cảm ơn bác sĩ.

Tuân Phạm.

Chào ông Tuân.

Đúng như ông nói, từ mấy tuần lễ vừa qua, bệnh Sởi tại Việt Nam đã là đề tài được dân chúng cũng như truyền thông báo chí nhắc nhở khá nhiều. Và bà con đồng hương sống ở ngoại quốc đều cũng e ngại, theo dõi.

Theo báo trong nước, tính từ đầu năm đến nay đã có 3.930 trường hợp mắc sởi được xác định trong số 13.580 trường hợp sốt phát ban nghi sởi tại 61/63 tỉnh và thành phố. Số tử vong là 25 bệnh nhân.

Các bệnh viện dành cho trẻ em ở Hà nội đều “quá tải”, vì bệnh nhân “vượt tuyến”, đổ xô về bệnh viện lớn, không tin tưởng điều trị ở các bệnh viện gọi là “tuyến đầu”, gây ra tình trạng “nhiễm chòng chéo” phổi, não, cho nên tử vong cao, rất thương tâm. Nói chung thì đã có những nhận xét khá gay gắt đối với giới chức đầu não về ngành y tế ở Việt Nam vì “quản lý” thiếu sót, yêu cầu từ chức.

Mới ngày 3 tháng 5 vừa qua, giới chức này cho hay là hai yếu tố chính khiến dịch sởi bùng phát mạnh là do “biến đổi khí hậu và lơ là trong chích ngừa, tỷ lệ chích ngừa không đạt!!!”. Thực ra, thì Sởi hoành hành nhiều ở miền Bắc, nơi có khí hậu lạnh thích hợp cho sự sống của virus gây bệnh hơn là ở miền Nam nắng ấm. Nhưng đây không phải là yếu tố chính. Đa số ý kiến cho rằng thiếu “tuyên truyền” về ích lợi của chích ngừa bệnh Sởi cũng như nhiều “sự cố” xảy ra trong quá khứ về vaccine ngừa sởi có lẽ là nguyên nhân chính khiến các bà mẹ không “tham gia” cho nên số bệnh sởi gia tăng. Và cũng có ý kiến cho là “ chích ngừa không đạt”, vì ngân quỹ dành để mua vaccin đã bị “ chia chác” đó đây, vaccine thiếu hụt.

Chúng tôi xin cùng với quý vị tìm hiểu về bệnh nhiễm này và cách phòng ngừa bệnh. Xin ông cũng như bạn đọc chỉa xẻ các hiểu biết căn bản về bệnh sởi cũng như ích lợi của việc chích ngừa một số bệnh truyền nhiễm cho bà con trong nước.

Bà con mình ở nhà cũng cần biết các “thông tin” này lắm, vì công việc “tuyên truyền” kiến thức y học ở Việt Nam mình cũng rất giới hạn, tắc trách. Chứ không như ở bên đây, cũng như ở miền Nam trước 1975.

Sởi tiếng Anh gọi là Measles là bệnh truyền nhiễm thường thấy ở trẻ em do một loại virus gây ra. Bệnh cũng có thể thấy ở người trưởng thành, nhưng với tỷ lệ thấp hơn.

Trước đây, Sởi rất phổ biến nhưng ngày nay bệnh đã được kiểm soát bằng chích ngừa. Tại Hoa Kỳ, trước khi có vaccin ngừa sởi, khoảng từ 3 tới 4 triệu người bị bệnh sởi với từ 400 tới 500 tử vong mỗi năm. Nhưng kể từ khi vaccin sởi được sản xuất và chích ngừa, số bệnh nhân sởi ở Hoa Kỳ vào năm 2012 chỉ còn có 55 trường hợp.

Trong khi đó, tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, bệnh sởi vẫn còn rất phổ biến và lây lan nhanh rộng thành dịch, nhất là nếu không được chích ngừa. Chẳng hạn như ở Việt Nam, Trung Hoa, Phi Luật Tân trong thời gian vừa qua.

Dấu hiệu của bệnh gồm có ho, chẩy nước mũi, đỏ mắt, đau họng, sốt và nổi nhiều nốt ban đỏ trên da.

Ban da xuất hiện tại chân tóc trước, rồi lan dần xuống mặt, cổ, thân mình rồi xuống chân. Khi ban tới chân thì bệnh nhân cũng hết sốt.

Các vết ban đỏ không đau, ngứa hoặc không sinh mủ và sờ mịn như nhung. Sau đó ban lặn cũng theo thứ tự từ trên đầu xuống chân để lại những vết lốm đốm như vằn như da báo. Đặc điểm khác nữa của sởi là những đốm Koplik màu trắng viền đỏ xuất hiện ở khẩu cái trong miệng. Các điểm này xuất hiện và biến mất rất nhanh trong vòng từ 12 tới 24 giờ.

Sởi rất dễ lây lan từ người bệnh sang người lành vào 4 ngày trước khi nổi ban da và 4 ngày sau khi nổi ban da.

Virus sởi có nhiều ở họng và mũi bệnh nhân. Khi bệnh nhân ho, hắt hơi hoặc nói, virus bay ra không khí và người khác có thể hít các virus này và bị bệnh. Ngoài ra, virus sởi cũng bám vào các vật dụng mà mà bệnh nhân dùng và có thể sống được vài giờ trong không khí. Người khác sờ vào các dụng cụ này rồi vô tình đưa tay có virus vào miệng mũi hoặc mắt là mắc bệnh. Virus sởi rất thích thời tiết lạnh và có thể sống trong không khí lạnh lâu hơn là thời tiết nóng. Đó cũng là lý do mà trong thời gian vừa qua, sởi phát triển mạnh ở miền Bác VN hơn là miền nam.

Bình thường, sởi lành tính và bệnh nhân qua khỏi dể dàng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, Sởi có thể gây ra các biến chứng như nhiễm trùng tai, viêm phổi và phế quản, viêm não và có thể đưa tới tử vong. Phụ nữ đang mang thai cần phải hết sức cẩn thận tránh bệnh sởi vì khi bị bệnh này, có thể bị hư thai, sanh non hoặc con thiếu cân.

Về điều trị, cũng như các bệnh khác do virus gây ra, không có thuốc đặc trị bệnh sởi và kháng sinh đều không có tác dụng. Kháng sinh chỉ dùng khi có nhiễm trùng chéo như bị bội nhiễm phổi với các loại vi khuẩn (bacteria).

Do đó, điều trị bệnh đều nhắm vào việc hỗ trợ, với thuốc giảm sốt paracetamol, Ibuprofen, bù nước mất qua sốt và đổ mồ hôi, nghỉ ngơi, theo dõi bệnh tình, nhất là khi bệnh nhân sốt cao, ho nhiều, rối loạn nhịp thở vì bội nhiễm gây ra sưng viêm phổi. Đây là tình trạng xảy ra tại Việt Nam trong thời gian vừa qua vì trẻ bị bệnh dồn về mấy bệnh viện ở thành phố lớn như Hà Nội, bị nhiễm phổi, suy hô hấp và đưa tới tử vong cao. Ngoài ra, một số bệnh nhân cũng có thể thiếu sinh tố A, cho nên dễ bị Sởi. Cho nên nhiểu bác sĩ cũng cho bệnh nhân dùng thêm sinh tố A, với liều lượng cao trong vài ngày.

Nếu đã bị bệnh sởi thì không bao giờ bị bệnh trở lại, vì cơ thể đã tạo ra sự miễn dịch với bệnh. Tại Hoa Kỳ, đa số cư dân sinh trước năm 1957 đều được miễn dịch với sởi, vì trước đó họ có thể đã bị bệnh rồi.

Phòng ngừa sởi với vaccin là phương thức tránh bệnh hữu hiệu nhất. Trẻ em và một số người lớn đều cần được chích ngừa hai lần với vaccin tam- liên, kết hợp ba bệnh Sởi, Quai bị và “Ban Đỏ ( Measles, Mumps và Rubella) vào tháng thứ 12 tới tháng thứ 15 sau khi sanh và chích thêm mũi thứ hai vào 4 tuần lễ sau đó để tăng cường sự miễn dịch.

Cũng nên nhắc lại là các bà mẹ đã được chích ngừa sởi hoặc đã bị bệnh sởi đều có tính miễn dịch vĩnh viễn với sởi. Khi có thai, tình miễn dịch này được chuyển sang thai qua nhau thai, cho nên khi sanh ra, các cháu sơ sanh được bảo vệ với sởi được nhiều tháng.

Vaccin ngừa sởi là loại còn sống nhưng đã được làm giảm độc tính, cho nên có một số giới hạn.

Không chích ngừa sởi nếu:

-đã bị dị ứng với vaccin ngừa sởi hoặc với neomycin, gelatin vì vaccine được chế biến có các chất này;

-đang có thai hoặc dự trù sẽ có thai trong vòng 4 tuần lễ;

-suy giảm miễn dịch như bị ung thư, bệnh AIDS hoặc

-điều trị kéo dài với steroids.

Xin nói thêm là, vaccin sởi tại Hoa Kỳ được cấp bằng sáng chế vào năm 1963, năm 1971 vaccin kết hợp ba bệnh sởi, quai bị mumps và ban đào rubella vào năm 1971. Tới năm 2000, bệnh sởi coi như bị sóa sổ tại Hoa Kỳ nhờ chích ngừa. Tuy nhiên, lâu lâu cũng còn một số ca được khai báo và đa số là do người du lịch từ nước ngoài bị bệnh rồi về Hoa Kỳ.

Trở lại câu hỏi của ông là phải làm gì khi mang cháu nhỏ về thăm gia đình thì chúng tôi nghĩ rằng:

-Với ông, tuổi chắc cũng đã cao, trước đây đã từng ở VN, thì thường cũng đã được chích ngừa hoặc bị bệnh sởi rồi, cho nên cũng đã có tính miễn dịch với bệnh sởi. Về bên nhà, ông chỉ cần đừng tiếp xúc gần với bệnh nhân và áp dụng các phương pháp vệ sinh cá nhân, như rửa tay sạch sau khi thăm viếng các cháu bị bệnh. Trước khi đi, ông cũng nên hỏi bác sĩ gia đình coi có cần chích ngừa bệnh viêm gan do virus A và B không, vì bên đó các bệnh này cũng khá phổ biến đấy.

-Với các cháu bé, sanh tại Hoa Kỳ thì bên đây các trường học cũng đã đòi hỏi các cháu chích ngừa một số bệnh nhiễm, trong đó có bệnh measles, trước khi vào mẫu giáo, cho nên các cháu được bảo vệ an toàn. Ông nên coi lại sổ chích ngừa của các cháu coi xem đã chích đầy đủ một số bệnh truyền nhiễm chưa.và khi về Việt nam, xin ông nói với các cháu không nên tới gần người bệnh để phòng ngừa nhiễm bệnh khác của bệnh nhân như viêm sưng phổi…

Cầu chúc ông và gia đình có chuyến đi được mọi sự hạnh thông, bình an trở về miền đất nhiều tự do dân chủ này.
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 31 Aug 2017, 3:06 AM | Message # 18
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Món Cá Quê Hương


BS Nguyễn Ý Đức




Trong lãnh vực ẩm thực dinh dưỡng, nhiều món ăn quê hương cũng gây thương nhớ trong lòng người xa quê, trong đó có món ăn nấu với những con Cá sinh ra và lớn lên từ dòng sông, con suối, đầm ao Việt Nam.

Ngày xưa, những món cá quê hương lưới bắt bắt được từ đầm, ao, sông lạch của quê hương ta rất nhiều mà cũng rất hấp dẫn.
Cá kho nhừ trong nồi đất, chả cá Lã Vọng, Sơn Hải, cá nấu giấm, nấu canh chua, lẩu cá, gỏi cá lá mơ, cá lẩu, cá rút xương, canh chua, cá kho tộ …là những món ăn đặc biệt ngon lành, bổ dưỡng, dễ tiêu mà giá cả phải chăng. Hiếm hoi hơn còn có các món cá Chình, cá Anh Vũ , cá Song, cá Măng, Bông Lau, cá Vượt…

* * *


Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã diễn tả tình tự con người với quê hương qua những vần thơ thật rung động, thắm thiết như:

Quê hương là gì hả Mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều…


Hoặc:

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím dậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi


Nhạc phẩm Tình Hoài Hương của Phạm Duy thời tiền chiến nói về tình tự quê hương như sau:
“Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu
Cánh tay êm tựa mái đầu
Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu”!


Sao mà nhiều tình cảm đậm nét Việt Nam.

Trong lãnh vực ẩm thực dinh dưỡng, nhiều món ăn quê hương cũng gây thương nhớ trong lòng người xa quê, trong đó có món ăn nấu với những con Cá sinh ra và lớn lên từ dòng sông, con suối, đầm ao Việt Nam.

Ngày xưa, những món cá quê hương lưới bắt bắt được từ đầm, ao, sông lạch của quê hương ta rất nhiều mà cũng rất hấp dẫn.
Cá kho nhừ trong nồi đất, chả cá Lã Vọng, Sơn Hải, cá nấu giấm, nấu canh chua, lẩu cá, gỏi cá lá mơ, cá lẩu, cá rút xương, canh chua, cá kho tộ …là những món ăn đặc biệt ngon lành, bổ dưỡng, dễ tiêu mà giá cả phải chăng. Hiếm hoi hơn còn có các món cá chình, cá anh vũ , cá song, cá măng, bông lau, cá vượt…

Ngày nay, người ta còn chế ra nhiều món ăn từ cá rất hấp dẫn, nhưng đôi khi chỉ hợp khẩu vị một số người…

“ Có cá đổ vạ cho cơm”, các cụ ta vẫn thường nói vậy vì với món cá ngon, cơm ăn bao nhiêu cũng hết, nhất là với gạo tám xoan Hải Hậu thơm phức hoặc gạo ba giăng tháng 10 mềm dẻo.

Miền Nam có cá Lóc chà bông, cá Chạch kho nghệ, cá Chẽm chưng tương hột hoặc chiên giòn, cá Chốt kho, cá Bống sao kho sả ớt, cá Bống dừa Gò Công kho tiêu…

Miệt sông rạch Gò Công, Tiền Giang có loại cá Bống dừa, sống trong rừng dừa nước, to bằng cổ tay, thịt dẻo và ngọt. Cá này mà kho sả ớt, kho tiêu, nấu canh với lá bồ ngót, mướp hương thì ăn một lần cầm chắc khó quên.

Cũng họ cá Bống, còn cá Bống Mú, Bống Vượng, Bống Cát, Bống Trứng, Bống Xèo, Bống Nhẩy cũng đều rất ngon. Món bún cá lóc đồng Kiên Giang rất nổi tiếng.

Món ăn đặc biệt của miền Trung như cá Sứt Mũi sông Chu Bái Thượng nấu với dưa cải sen núi Mục hoặc canh chua thập cẩm với cúc tần, cần trắng, cà chua, khế, tiêu; cá Chép gói lá chuối lùi trấu nóng; cá Chép nấu hoa cúc đại; cá Ngứa chiên giòn; cá Vượt nấu canh chua…

Cố đô Huế còn nổi tiếng với năm món canh cá: Thác Lác nấu hành lá, rau mùi; cá Thệ nấu dứa; cá Ngạnh nấu măng chua; cá Tràu nấu với mít và cá Lúi nấu khế; cá Sứt Mũi sông Chu nấu canh chua với dưa cải sen núi Mục của miền Trung.

Miền Bắc cũng có nhiều món cá như hai miền đất nước kia nhưng nổi tiếng là cá Rô Đầm Sét ở ngoại thành Hà Nội rán chìm trong mỡ; cá Chắm đen kho ngũ vị, gừng ở Nam Định; cháo cá Quả Hà Nội.

Cá rô Đầm Sét đã đi vào văn hóa dân gian với câu:
“ Vải Quang, Húng Láng, Ngổ Đầm
cá Rô Đầm Sét, Sâm Cầm Hồ Tây” .


Ngoài ra còn có “cá Rô làng Cháy, cá Gáy làng Chờ” cũng được văn học dân gian ghi nhận.

Cá Rô mùa gặt lúa mà mang vùi chín trong đống lửa trấu hay rán mỡ sôi trăm độ rồi ăn với cơm gạo mới thì bao nhiêu cơm cũng thiếu!

Nhà văn Văn Quang đã tả món cháo ám gia truyền với cá Lóc, cá Quả mà chỉ nghe thôi đã thấy thèm thèm. Tiết trời lành lạnh Hà Nội mà ăn bát bún cá Quả nấu với rau Cần tháng Giêng thì chẳng ai chịu ngưng ở một bát.

Cũng không quên những con cá được ướp khô để dành từ mùa này sang mùa khác. Vào một tối mùa Đông, ngoài trời gió lạnh, quây quần bên bếp lửa than hồng mà nướng những con khô Mực, khô ổi, khô kèo… nhâm nhi với nước Mắm Me thêm vài nhánh tỏi, lát ớt thì tưởng như chuyện xưa kể mãi không chán.

Cá đi vào văn học dân gian.

Là một thực phẩm phổ thông, ưa thích nên cá đã đi vào thi ca dân gian mình với những câu trữ tình, lãng mạn, mang đậm bản sắc, tình tự quê hương.

Phận làm dâu làm vợ thì:

Chai rượu miếng trầu em hầu Tía, Má
Nấu tô bún cá đặng lấy lòng anh.


Hoặc:

“Đốt than nướng cá cho vàng;
Lấy tiền mua rượu cho chàng nhậu chơi”

“Cá chọn nơi sâu, người tìm chỗ tốt ”,


Ý nói trong đời sống ai cũng chọn nơi có điều kiện thuận tiện để sống.

“Cá chuối đắm đuối vì con”

Ý nói cha mẹ chịu nhiều khổ đau, vất vả để gây dựng cho con cái.

“Cá đối bằng đầu”

Nhắc nhở con người phải biết cư xử phân biệt, thích hợp với vai vế trong gia đình, xã hội, phải biết kính trên nhường dưới, đừng “cá mè một lứa”, xem ai cũng như ai.

“ Cá nhẩy, ốc cũng nhẩy”,

hay:
“Voi đú, chó đú chuột chù cũng nhẩy”.

Ý nói không nên đua đòi theo kẻ khác mà đi ngược với bản chất hoặc vượt quá khả năng hiện có của mình.

“Cá ngoi mặt nước là trời sắp mưa”

Đây là kinh nghiệm quan sát thời tiết của dân gian, khi sắp mưa khí trời thường oi bức, dưỡng khí trong nước giảm, cá phải ngoi lên để đớp không khí.

“ Cá vàng, bụng bọ”

Ý nói bề ngoài hào nhoáng bên trong xấu xa, và không nên đánh giá con người hay sự vật qua vẻ bên ngoài. Khác chi câu nói của một anh sĩ diện hão:

“Ra ngoài bộ mặt vênh vang
Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mình”

“Cá vào tay ai nấy bắt”,


Ý nói mối lợi ngẫu nhiên đến với ai thì người đó chiếm giữ.

Cá cháy vàm Trà Ôn đã được ghép chung với hai món ăn ngon quý của người phong lưu:

“ Sáng ngày bồ dục chấm chanh,
Trưa gỏi cá Cháy, tối canh cá Chầy”


Và dưới đây là một số câu ca dao về các món cá trong dân gian, hoặc đôi khi mượn hình tượng con cá để truyền lại kinh nghiệm, ví von hay câu răn đời:

“Cá nục nấu với dưa hồng;
Lờ đờ có kẻ mất chồng như chơi”

“Canh bún mà nấu cá Rô;
Bà xơi hết thẩy mấy tô hỡi bà”!

“ Con cá cơm thơm hơn con cá bẹ;
Bởi mê nước mắm Hòn, em bỏ mẹ theo anh”

“Chim mía Xuân Phổ; Cá bống Sông Trà”.

“Đập con cá lóc nướng trui;
Làm mâm rượu trắng, đãi người phương xa”

“Đắt cá còn hơn rẻ thịt”

“Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm”

“Điên điển mà đem muối dưa;
Ăn cặp cá nướng, đến vua cũng thèm”

“Kèo nèo mà lại làm chua;
Ăn với cá rán chẳng thua món nào”

“Một con cá trích cắn ngang;
Mắm tôm quệt ngược, tan hoang cửa nhà”

“ Mùa Hè cá sông, mùa Đông cá ao”

“Rau đắng nấu với cá trê;
Ai đi Lục Tỉnh thì mê không về”

Ai về Rạch Giá, Kiên Giang
Ăn tô bún cá chứa chan tình người.

Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gửi xuống, cá chuồn gửi lên


Ôi Quê Hương!!! Sao mà nhiều nhung nhớ, thương yêu!!!
Nhưng Quê Hương đó cũng đang còng mình chịu đựng nhiều vết hằn hậu quả tai hại của chiến tranh tàn khốc cũng như của một số người vắng lương tri hiện nay…
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Sáu, 01 Sep 2017, 10:38 PM | Message # 19
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Móng Tay, Móng Chân.

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức



Ngoài việc làm tăng thêm vẻ đẹp cho những ngón tay, ngón chân, móng còn là một thứ vũ khí để tự vệ, tấn công cào cấu, để gãi cho đã những cơn ngứa trên da, để bảo vệ đầu ngón tay ngón chân khỏi thương tích, đồng thời cũng có thể là dấu báo hiệu một vài khó khăn bệnh tật của cơ thể, khi cấu trúc của móng thay đổi..

Móng mọc trực tiếp từ biểu bì (epidermis) và được cấu tạo bởi nhiều lớp chất đạm cứng như sừng gọi là keratin. Keratin cũng là thành phần căn bản của tóc và lớp ngoài cùng của da.

Móng không có tế bào sống và mọc ra từ một nhóm tế bào đặc biệt gọi là gian bào (matrix) có nhiều mạch máu, nằm dưới quầng móng (lunular). Quầng móng hình bán nguyệt, mầu trắng, nhìn rất rõ ở ngón tay cái. Khi lớp gian bào bị hư hao thì móng không mọc ra được. Khác với xương, calcium không có ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của móng.

Vào tháng thứ tư của thai kỳ, thai nhi đã bắt đầu có móng trên đầu ngón chân ngón tay.

Móng dài ra liên tục suốt đời người chứ không giống như tóc, mọc ít năm, tạm ngưng một thời gian rồi mọc tiếp.

Sau đây là các đặc tính của sự mọc móng:

-Móng mọc hướng ra đầu ngón tay, ngón chân, chứ không mọc thẳng đứng như tóc. Nguyên do là có một lớp da bao quanh chân móng, khiến cho sự tăng trưởng giới hạn hướng về phía trước.
- Mỗi ngày móng tay dài ra khoảng 0,1mm tức là từ 3 đến 5 mm mỗi tháng. Móng tay mọc nhanh hơn móng chân tới 2 hoặc 3 lần.
-Móng mọc chậm ở người cao tuổi, mọc nhanh hơn ở phụ nữ có thai, nam giới và người tuổi trẻ.
-Móng ở ngón tay dài mọc nhanh hơn hơn là ngón ngắn, có thể vì dễ bị chấn thương. Do đó móng ngón tay giữa mọc nhanh, trong khi đó móng ngón tay cái mọc chậm.
- Móng mọc nhanh ở bàn tay thuận, hay dùng, vì máu huyết dồn tới nhiều.
-Vào mùa hạ, móng mọc nhanh hơn so với mùa đông, vì mùa hạ tay chân cử động nhiều, máu tới nhiều
-Các chấn thương nhỏ vào móng, như cắn móng, kích thích móng mau lành, nên móng mọc dài ra nhanh hơn. Hiện tượng này cũng tương tự như khi liên tục bị cọ xát, da sẽ tạo ra lớp tế bào chai cứng.
-Suy dinh dưỡng, nóng sốt, bệnh trầm trọng trì hoãn sự tăng trưởng của móng.
-Móng mọc nhanh ờ người bị bệnh cường tuyến giáp.
-Ban ngày, móng mọc mau hơn ban đêm vì tay chân luôn cử động, máu tới nhiều
-Ngón tay gõ trên bàn phím máy vi tính, máy chữ, phím đàn dương cầm đều kích thích móng mọc nhanh.
Trái với điều mà một số người tin tưởng, khi chết móng không còn mọc. Thực ra, lớp da ở chân móng co lại nên móng nom có vẻ hơi dài ra.

Các thay đổi bất thường của móng

Cả móng tay lẫn móng chân đều chịu ảnh hưởng của sức khỏe tổng quát cơ thể. Mọi thay đổi bất thường đáng kể nào về hình dạng, mầu sắc, cấu trúc của móng đều có thể là dấu hiệu một bệnh nào đó.Trước khi giải phẫu, bác sĩ thường yêu cầu chùi hết thuốc đánh bóng trên móng tay để nhân viên tê mê có thể nhìn mầu da dưới móng tay, coi xem bệnh nhân có hít thở đầy đủ dưỡng khí không.

1.Móng giòn, dễ gẫy là một trong những vấn đề thường gặp của móng.

Có nhiều nguyên nhân đưa tới sự giòn của móng:
a-Cơ thể thiếu khoáng chất sắt. Kết quả một nghiên cứu tại Anh cho thấy móng tay rất nhậy cảm với sự suy giảm chất sắt. Họ quan sát móng của một số phụ nữ thiếu sắt, móng của các phụ nữ này rất dễ gẫy, hồng cầu giảm. Sau khi bổ sung sắt, thì các móng đều trở lại bình thường với đủ thành phần sắt trong móng và số huyết cầu cũng tăng lên.
Thiếu sắt cũng gây ra thay đổi hình dạng của móng: móng trở nên phẳng hoặc có hình cong ngược lên, như một cái thìa (spoon nails).

b- Móng tay phẳng, dẹp là một trong nhiều dấu hiệu của bệnh Raynaud. Trong bệnh này, các động mạch ngón tay không biết tại sao lại có phản ứng co thắt quá mức với lạnh, cảm xúc mạnh, rung động liên tiếp của bàn hai tay, dưới tác dụng của hóa chất nicotine... Hậu quả là các ngón tay bị những cơn xanh tái, tê tê rất khó chịu vì giảm máu lưu thông.

c-Móng tay tiếp xúc thường xuyên với chất tẩy rửa, chất hòa tan, sơn móng tay ...cũng dễ trở nên giòn, gẫy.

d- Trong các bệnh của thận, bệnh nấm móng, móng cũng hay bị giòn.

2.Vết trắng trên móng có thể là dấu hiệu thiếu kẽm vì thực phẩm không cung cấp đầy đủ. Nhu cầu kẽm mỗi ngày khoảng 15mg.
Trong bệnh gan hoặc bệnh thân, móng cũng có mầu trắng.

3.Móng tay mầu vàng có thể là dấu hiệu của viêm phế quản kinh niên, và thường thấy ở người nghiền thuốc lá.

4. Nhiều rãnh nằm ngang trên mặt móng có thể là dấu hiệu của một bệnh trầm trọng với nóng sốt hoặc người đó đã trải qua một cuộc giải phẫu.

5. Trong bệnh xơ cứng gan, móng có mầu trắng đục, thay vì mầu hồng của các mạch máu nẳm ở dưới móng.

6. Móng có mầu xanh trong trường hợp cơ thể trúng độc kim loại đồng hoặc bạc.

7.Cường tuyến giáp có thể làm móng tách khỏi lớp da ở dưới.

8.Cơ thể thiếu dưỡng khí lâu ngày vì các bệnh tim, phổi có thể làm cho móng tỏe phình ra.

9.Hội chứng móng tay vàng”- Yellow nail syndrome- là một bệnh gồm có ba dấu hiệu xuất hiện với nhau. Ðó là tụ nước ở màng phổi, móng tay có mầu vàng và sưng phù các hạch bạch huyết ở chân, tay.

10.Hội chứng móng tay- xương bánh chè (nail-patella syndrome) là một bệnh bẩm sinh. Trẻ có rối loạn chức năng thận, móng tay móng chân kém phát triển hoặc không có, xương bánh chè đổi hình dạng...

11.Một số dược phẩm làm thay đổi mầu của móng. Thuốc quinacrine trị sốt rét làm móng có mầu xanh vàng, thuốc tetracycline, phenothiazine làm móng có mầu nâu, thuốc chặn sự tăng sinh các tế bào ung thư tạo ra các vệt trắng nằm ngang trên mặt móng...

12.Móng tách rời khỏi da do ảnh hưởng của tia nắng, ở những người đang điều trị với một vài loại dược phẩm như tetracycline, isoniazid, indomethacin..
Các thay đổi này cần phải được bác sĩ chuyên khoa xem xét và đưa ra kết luận có bệnh hay không.

Các bệnh của móng
Móng có thể bị một số bệnh gây ra do các tác nhân từ trong hoặc ngoài cơ thể.

1.Mặc dù móng do chất keratin cứng tạo ra, nhưng khi ngâm móng vào nước quá lâu, móng trở nên giòn. Lý do là móng có những lỗ nhỏ li ti, nên nước ngấm qua móng nhanh hơn là qua biểu bì. Nước làm cho móng căng tấy ra. Khi được mang ra khỏi nước, móng khô và teo lại. Trường hợp này thường thấy ở người làm bếp nấu ăn, bơi lội, đánh bắt cá, rửa chén bát...
Mỹ phẩm làm bóng móng và chất hòa tan lau sơn móng cũng làm móng giòn, nứt, dễ gẫy.

2.Bệnh nấm móng rất phổ biến và cũng khó chữa lành. Bào tử nấm bám trên móng, hủy hoại lớp keratin và sinh sôi nẩy nở rất nhanh. Móng trở nên gồ ghề, dầy, nứt, đôi khi tách rời khỏi đầu ngón tay.
Các loại thuốc bôi thoa đều ít công hiệu để tiêu diệt nấm. Loại thuốc uống (như itraconazole, terbinafine) có tác dụng tốt.. Bệnh nấm có thể tái phát.

Bệnh nấm móng chân thường xảy ra khi đi chân đất ở nơi công cộng hoặc do chân ẩm ướt, hấp hơi. Nấm gây bệnh thông thường nhất là nhóm Trichophyton rubrun.

3-Móng mọc vào da (ingrrown toenail) thường xẩy ra ở ngón chân cái. Mép của móng cong lại và mọc lẹm vào phần mềm quanh móng, gây ra đau đầu ngón chân.

Bệnh thường xẩy ra khi giầy quá chật, ép cạnh móng lẹm vào tế ở xung quanh, khi mang giày cao gót, đi trên đầu ngón chân, hoặc khi cắt móng quá sát da...Nhiễm vi khuẩn có thể xẩy ra nếu không điều trị ngay.

Trong trường hợp nhẹ, có thể tự chữa bằng cách ngâm chân trong nước ấm khoảng 30 phút rồi nâng nhẹ cạnh móng lên, lau chùi mủ và nếu có thể được, cắt móng.

Khi móng đâm ngang nhiều hơn và đã làm mủ, nên đi bác sĩ để được cắt bớt một phần móng hư và cạo bỏ phần da nhiễm độc.

4.Nhiễm độc chung quanh móng do các vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Proteus..
Bệnh có thể điều trị được bằng thuốc kháng sinh (như cephalexin, clindamycin...) và phẫu thuật loại bỏ mủ tích tụ quanh móng.

5.Trong bệnh vẩy nến, bệnh rụng tóc từng vùng (alopecia areata), móng có mầu đục, biến dạng, gồ ghề, rất khó điều trị...

Gìn giữ móng

Bệnh của móng có thể phục hồi sau khi điều trị, nhưng móng mọc lại rất chậm.

Cho nên chăm sóc, bảo vệ móng, tránh hư hỏng là điều cần lưu ý.
Chăm sóc móng cũng là cả một nghệ thuật vì thực hiện không đúng cách hoặc quá đáng đều có thể gây tổn thương cho móng

-Ðiều rất quan trọng trước hết là không nên cắn móng tay hoặc làm điều gì có thể gây tổn thương cho móng. Chỉ với một vết thương nhỏ cũng khiến vi khuẩn có thể xâm nhập và đưa tới nhiễm trùng móng.
Vì vậy, cần mang bao tay khi làm công việc có thể va chạm mạnh tới móng.

-Tránh để móng tiếp xúc trực tiếp và quá lâu với các chất tẩy rửa, dung dịch hòa tan, dầu nhớt... Các chất này rất dễ làm thay đổi cấu trúc, hình dạng và mầu sắc của móng. Mang bao tay cao su để bảo vệ móng khi phải làm việc với các chất này.

-Mỗi tuần cắt móng tay một lần. Móng chân nên cắt ngang bằng mặt, mỗi tháng một lần vì móng nơi đây mọc chậm hơn móng tay.
Khi móng quá cứng và giòn, nên cắt sau khi tắm hoặc ngâm móng trong nước, vì lúc này móng tương đối mềm hơn.
Dùng kéo hoặc kìm cắt móng thật sắc và nhỏ để cắt, rồi giũa cạnh cho nhẵn, để giảm thiểu tổn thương cho móng.

-Nếu thích để móng tay dài, nên tránh bụi bậm tích tụ dưới móng và cẩn thận khi làm việc để móng khỏi gẫy.

-Lớp da bao quanh móng có nhiệm vụ bảo vệ móng khỏi bị nhiễm độc. Nhiều người khích lệ cắt gọt da này để mặt móng bằng phẳng, nom đẹp hơn. Nhưng các nhà chuyên môn bệnh bì phu lại khuyên là không nên cắt, trừ trường hợp da bị xước hay lật ngược.

Trước khi cắt, nên ngâm tay trong nước ấm cho da mềm rồi cắt sát tận gốc với kéo sắc. Đừng lấy tay giựt đứt da này vì làm như vậy là ta đã mở đường cho vi khuẩn xâm nhập móng, dễ gây ra nhiễm độc.

-Sử dụng mỹ phẩm đúng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất. Loại mỹ phẩm sơn màu và làm bóng móng đều giống nhau và chỉ có mục đích thẩm mỹ, trông cho đẹp chứ không nuôi dưỡng cho móng tốt được.
-Cũng nên lưu ý rằng, không có hóa chất hoặc dược phẩm nào có thể thoa bôi để “nuôi dưỡng” móng, ngoại trừ việc duy trì một chế độ dinh dưỡng hợp lý và chăm sóc móng chu đáo.
-Không nên dùng thuốc rửa móng có chất acétone quá thường xuyên vì hóa chất này làm móng khô, giòn, yếu, dễ gẫy.
-Phong trào gắn móng tay giả rất phổ biến. Tuy vậy móng giả cũng có thể gây ra một số điều bất lợi. Khi gắn móng giả vào mà không lau chùi sạch thì vi trùng hay nấm độc có thể sinh sản ở giữa hai lớp móng và làm hư móng thiên nhiên. Ngoài ra, khi móng tự nhiên mọc ra, sẽ có một khoảng trống giữa hai lớp móng và vi khuẩn có thể xâm nhập vào đây.
-Khi đi tiệm để được chăm sóc móng, nên lưu ý nhân viên dùng dụng cụ sạch sẽ, áp dụng kỹ thuật cắt giũa cẩn thận để tránh tổn thương và nhiễm trùng cho móng.
-Ngoài ra, cũng nên lưu ý rằng tại một số tiệm làm móng không trang bị hệ thống thanh lọc không khí, nhất là nơi gắn móng tay giả, không khí có thể bị ô nhiễm hóa chất và có thể gây ra hậu quả không tốt cho sức khỏe.

Các hóa chất thường dùng là formaldehyde để làm móng chắc; chất éthyl méthacrylate làm keo gắn móng giả; acétone để chùi rửa thuốc sơn bóng móng.

Hóa chất xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp khi ta hít thở không khí, ngấm qua da, hoặc vô ý, ta nuốt vào miệng. Tùy theo thời gian tiếp xúc với hóa chất, đường xâm nhập, số lượng và loại hóa chất mà ảnh hưởng nặng nhẹ khác nhau.

Bụi và hơi hóa chất vào mắt làm mắt ngứa, chảy nước, sưng, thị lực bị tạm thời suy yếu. Khi vào mũi, cuống họng, phổi, hóa chất gây nghẹt mũi, đau cuống họng, nghẹt thở, ho, nặng ngực, khó thở, đôi khi lên cơn hen suyễn. Tiếp xúc quá lâu với hóa chất liên hệ tới móng có thể gây nhức đầu, chóng mặt, ói mửa...

Kết luận

Coi như vậy, ta thấy muốn có bàn tay đẹp với những chiếc móng nhọn thon, trơn nhẵn, mang mầu tươi mát không phải dễ gì.
Trang điểm, làm đep bao giờ cũng tỉ mỉ, công phu, nhưng cũng là điều đáng khích lệ, nên làm...
 
thanhlongphapsu Date: Chủ Nhật, 03 Sep 2017, 2:06 AM | Message # 20
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 2898
Status: Hiện-diện
Công Dụng của Chất Xơ


Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức



Chất xơ là một hỗn hợp carbohydrates nằm trong màng tế bào của thực vật.

Có 2 loại chất xơ:

-Loại không hòa tan trong nước có trong các loại hạt nguyên trạng, vỏ các loại hạt, rau, trái cây. Các chất này hút rất nhiều nước.
-Loại hòa tan trong nước có trong rau trái, gạo đỏ, yến mạch oats, lúa mạch (barley).

Nói chung, chất xơ có nhiều trong:

-Lá xanh của các loại rau. Cuống lá có nhiều xơ hơn rễ và củ;
-Thực vật tươi, không chế biến
-Vỏ các loại hột và vỏ rau trái cây;
-Hạt nẩy mầm ( giá đậu).

Các chất này đều không được tiêu hóa và có rất ít giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên khi ăn vào thì chất xơ có một số tác dụng tốt được nhiều người tin theo và khoa học thực nghiệm cũng phần nào đồng ý.

1-Chất xơ với táo bón.

Vì không hòa tan trong nước và khi được ăn với nhiều nước, chất xơ có thể là môn thuốc an toàn và hữu hiệu để phòng tránh bệnh táo bón. Nó làm mềm và tăng lượng phân để bộ tiêu hóa dễ dàng thải ra khỏi cơ thể. Ngoài ra, khi vào đến ruột già, nó được vi sinh vật tranh nhau ăn, tạo ra nhiều hóa chất có hơi (gas) . Các hơi này kích thích ruột già làm người ta mót "đi cầu". Một nhận xét cụ thể là trâu bò ăn cỏ, rơm rất nhiều chất xơ nên phẩn rất to và mềm.

2- Chất xơ với bệnh viêm túi ruột già:

Trên vách ruột già thường nổi lên những túi nhỏ tý tẹo, mà theo bác sĩ Lauren V. Ackerman của đại học Nữu Ước thì hầu như người lớn nào cũng có. Mỗi khi thức ăn bị ngưng đọng trong những túi đó thì gây ra tình trạng viêm túi ruột già (diverticulosis).

Vì không hòa tan trong nước, chất xơ có thể ngăn ngừa sự thành hình các túi nhỏ đó bằng cách giảm thiểu sự táo bón và giảm sự căng phồng của ruột già trong việc tống khứ chất phế thải.

Tại Western General Hospital bên Ái Nhĩ Lan, người ta có thể ngăn ngừa sự tái phát ở bệnh nhân mới giải phẫu bệnh viêm túi ruột bằng cách cho ăn nhiều chất xơ.

3- Chất xơ với ung thư ruột già:

Ung thư ruột già hiện giờ đứng hạng thứ nhì trong các loại ung thư ở Mỹ và gây tử vong cho nhiều chục ngàn người mỗi năm. Dinh dưỡng đã được nhắc nhở đến như một cách để phòng ngừa bệnh này.
Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ và nhiều tổ chức y tế công tư khác chủ trương và khuyến khích bằng cách giảm tiêu thụ chất béo và tăng thực phẩm có chất xơ. Các khuyến cáo này được kết quả của nhiều nghiên cứu khoa học hỗ trợ.

Có hàng chục cuộc khảo sát đã chứng minh chất xơ có khả năng phòng ngừa bệnh ung thư ruột già. Một cuộc nghiên cứu ở bệnh viện Nữu Ước năm 1989 cho thấy là chất xơ ngăn chận sự xuất hiện của các mụn thịt thừa (polyp) ở ruột già và hậu môn. Những mụn này có khuynh hướng phát triển thành bướu ung thư.

Năm 1992, tờ công báo của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cũng thông báo kết quả một cuộc khảo sát rộng lớn cho thấy chất xơ giúp ngăn chận sự sinh trưởng của các mụn tiền ung thư (precancerous polyp).
Viện Ung thư Quốc Gia Hoa Kỳ, Hội Ung Thư Hoa kỳ khuyên nên dùng từ 25- 30 gr chất xơ mỗi ngày.

4-Chất xơ với bệnh tim mạch:

Bác sĩ James Anderson của Đại Học Y khoa Kentucky, Hoa Kỳ đã dành nhiều chục năm nghiên cứu công dụng chất xơ với bệnh tim mạch và tiểu đường.Theo ông ta, chất xơ nhất là từ lúa mạch, giảm cholesterol bằng cách làm gan bớt chế tạo mỡ béo LDL và tăng HDL.

Nghiên cứu của bác sĩ Hugh Trowell, Anh quốc, thấy là bệnh tim mạch ở quốc gia này tăng đều cho tới năm 1939 rồi giảm trong thời kỳ chiến tranh, khi mà vì hạn chế thực phẩm dân ăn nhiều lúa mỳ có nhiều chất xơ. Sau thế chiến bệnh tim mạch lại gia tăng.

Một nghiên cứu khác cho người tình nguyện ăn nhiều bơ thì cholesterol lên rất cao, nhưng khi thêm chất xơ vào khẩu phần thì cholesterol giảm xuống tới 20%. Cholesterol cao trong máu đã được coi như nguyên nhân gây một số bệnh tim mạch và là đề tài của nhiều nghiên cứu khoa học cũng như câu chuyện để nói khi mọi người gặp gỡ.

5-Chất xơ với bệnh tiểu đường

Tiểu đường là một nhóm bệnh trong đó đường glucose ở máu lên cao. Bệnh này do hoặc thiếu Insulin hoặc giảm tác dụng của Insulin trong cơ thể. Bệnh rất phổ biến và đưa đến nhiều điệu không tốt cho sức khỏe, khả năng làm việc, phẩm chất đời sống con người. Nó cũng ảnh hưởng tới nền kinh tế quốc gia vì số bệnh ngày càng gia tăng, người bệnh hoạn nhiều, rất tốn kém cho sự chăm sóc lâu dài.
Ngoài dược phẩm, hướng dẫn dinh dưỡng và thay đổi nếp sống có thể giúp giữ bình thường đường glucose trong máu. Dinh dưỡng rất công hiệu lại rẻ tiền, an toàn.

Theo kết quả các nghiên cứu của các bác sĩ James W. Anderson, thực phẩm có chất xơ có nhiều khả năng bình thường hóa đường trong máu, giảm đường sau bữa ăn, tăng công hiệu của Insulin. Theo ông ta, loại chất xơ hòa tan trong nước rất công hiệu vì nó tạo ra một lớp keo (gel) lỏng ngăn không cho đường hấp thụ vào ruột và có thể làm giảm đường trong máu tới 30%.

Người mắc bệnh tiểu đường cũng hay bị chứng vữa xơ động mạch vì triglyceride lên cao. Bác sĩ Anderson cho hay chất xơ có thể làm giảm loại mỡ này và mỡ xấu LDL và làm tăng mỡ lành HDL.

6-Chất xơ với bệnh mập phì

Người bị phì mập thường vì ăn nhiều, nhất là chất mỡ, mà lại không sử dụng, nên năng lượng dư thừa tích tụ trong cơ thể. Tiết chế ăn uống là điều cần thiết để giảm ký.

Phần nhiều thực phẩm giàu chất xơ đều nghèo chất béo, không có chất dinh dưỡng cho nên là món ăn lý tưởng cho những người muốn xuống cân.

Ngoài ra, thực phẩm giàu chất xơ cần thời gian lâu hơn để ăn nhai, không được tiêu hóa và hấp thụ ở bao tử, thường làm người ta no mau và no lâu, do đó giảm nhu cầu ăn nhiều, một điều kiện để khỏi mập phì.
Chất xơ thiên nhiên có công hiệu hơn viên chất xơ.

7-Chất xơ với bệnh ung thư vú

Một nghiên cứu mới đây của Hội Sức Khỏe Mỹ Quốc (American Health Foundation) ở thành phố Nữu Ước cho thấy là cám lúa mì (wheat bran) rất giàu chất xơ không hòa tan trong nước, có khả năng giảm thiểu lượng estrogen trong máu. Từ đó người ta suy đoán rằng chất xơ trong cám lúa mì có thể giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Các khảo sát về vấn đề này đang còn tiếp diễn

Kết luận

Mặc dù chất xơ được coi như món quà thiên nhiên mà Thượng Đế tặng cho loài người để tăng cường sức khỏe, như lời bác sĩ Denis Burkitt nói cách đây từ hơn 30 năm, nhưng hầu như chúng ta không tận dụng món quà đó.

Theo các nhà chuyên môn, mỗi ngày nam giới nên tiêu thụ 30gr, nữ ít hơn: 21gr chất xơ. Tuy nhiên nhiều người chỉ ăn rất ít. Có lẽ nhiều người thấy rằng sự ích lợi của chất xơ mới chỉ được biết tới qua kết quả quan sát cách ăn uống của dân chúng, trên các thử nghiệm chứ chưa được khoa học chứng minh.

Trong khi đó, theo thống kê, quý vị lão trượng dường như biết tới công dụng của chất xơ cho sức khỏe nên rất năng dùng. Đó là nhờ ở kinh nghiệm của tuổi già. Cho nên các vị này dùng nhiều rau, trái cây để có nhiều chất xơ ngõ hầu sức khỏe được tốt lành hơn.

Mấy điều nên nhớ khi định dùng thêm chất xơ:

-Coi xem mình cần ăn bao nhiêu mỗi ngày rồi tăng dần dần chứ không nên ăn quá nhiều ngay từ lúc ban đầu.
-Nhớ uống thêm nước vì chất xơ hút nước rất mạnh.
-Dùng vừa đủ với nhu cầu.
-Nên ăn nhiều loại chất xơ khác nhau.
 
atoanmt Date: Chủ Nhật, 10 Sep 2017, 11:09 AM | Message # 21
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5642
Status: Tạm vắng



AToanMT
 
FORUM » TRANG Y HỌC - SỨC KHỎE » Y-HỌC - SỨC KHỎE » CÁC BÀI VIẾT của BS. Nguyễn Ý Đức (Bác sĩ Nguyễn Ý Đức)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL