Thứ Sáu
23 Feb 2018
6:40 AM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn bài xem:







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » TRANG Y HỌC - SỨC KHỎE » BỆNH PHỤ NỮ » Dinh Dưỡng và Phụ Nữ Mang Thai (Bác sĩ Nguyễn Ý Đức)
Dinh Dưỡng và Phụ Nữ Mang Thai
thanhlongphapsu Date: Thứ Bảy, 10 Feb 2018, 9:18 PM | Message # 1
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 3038
Status: Tạm vắng
Dinh Dưỡng và Phụ Nữ Mang Thai


Khi một người phụ nữ mang thai, những người thân đều cầu chúc cho được “Mẹ tròn con vuông”, ngụ ý sự sinh nở sẽ được thuận lợi, dễ dàng và cả mẹ lẫn con đều bình an, khỏe mạnh.

Nhưng để đạt được như vậy, không chỉ dựa vào những lời cầu chúc, mà còn cần đến rất nhiều yếu tố khách quan, trong đó sự dinh dưỡng dành cho người phụ nữ có thai đóng một vai trò rất quan trọng.

Trước khi thụ thai, trong thời kỳ mang thai cũng như khi cho con bú mà người mẹ có một chế độ dinh dưỡng đầy đủ thì cả mẹ lẫn con đều tránh được một số bệnh tật, rủi ro. Đứa con sẽ tròn trĩnh đủ cân đủ lạng, cơ thể vẹn toàn, trí óc phát triển tốt. Cũng có trường hợp mẹ thiếu dinh dưỡng mà con vẫn khỏe. Nhưng thực ra là người mẹ phải trả giá hơi đắt, vì khi thai nhi phát triển đã rút tỉa khá nhiều chất dinh dưỡng của người mẹ.

Hơn nữa, sự khỏe mạnh của đứa bé trong trường hợp này chắc chắn chưa phải là tối ưu, vì bé còn có khả năng phát triển tốt hơn nữa nếu như người mẹ có một chế độ dinh dưỡng đầy đủ.Và chỉ khi đó mới có thể thực sự được xem là “mẹ tròn, con vuông”, tốt đẹp cho cả mẹ lẫn con.

Từ mấy thế kỷ trước, các danh y như Hippocrates (460-377 trước Công nguyên), Galen (129-199) đã nhận thấy rằng một chế độ dinh dưỡng tốt ở người mẹ sẽ có thể tránh được nguy cơ xẩy thai, sanh con nhẹ cân.

Ngày nay mọi người đều đồng ý rằng ăn uống đầy đủ rất cần cho người mẹ, không những trong thời kỳ có thai mà cả sau khi sinh, nuôi con bằng sữa mẹ.

Trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ, người mẹ cần nhiều đạm để thai nhi hình thành các bộ phận, đặc biệt là não bộ. Trong ba tháng kế tiếp, cần nhiều calcium hơn cho xương tăng tưởng và tạo ra các tế bào máu. Ba tháng cuối cùng là giai đoạn mà nhu cầu chất dinh dưỡng quan trọng hơn nữa, vì đây là lúc thai lớn gấp đôi. Do đó, mẹ không những không nên cắt giảm ăn uống vào giai đoạn này mà còn phải gia tăng hơn mức ttruoc đó.

Khi hai vợ chồng manh nha ý định có con thì người vợ đã phải nghĩ tới chuyện ăn uống đủ chất dinh dưỡng. Vì ngay từ vài tuần lễ đầu của thai kỳ, đa số các bộ phận của thai nhi đã thành hình và cần chất dinh dưỡng để tạo lập. Nếu kém dinh dưỡng, thai nhi sẽ nhỏhơn, có nhiều rủi ro bệnh tật, khuyết tật thính thị giác, chỉ số thông minh (I. Q) thấp, chậm phát triển trí não, thậm chí có nguy cơ sẩy thai.

Cổ nhân nói “ người mẹ ăn cho hai người”, nhưng thực ra cũng chẳng cần phải ăn đến gấp đôi số lượng, vì đây là cho một người trưởng thành với một thai nhi bé bỏng. Khi sinh mà con nặng được khoảng 3.5 ký là tốt rồi.

Thay đổi cơ thể khi có thai.

Có rất nhiều thay đổi về cấu trúc và chức năng trong cơ thể người nữ mang thai. Sau đây là một số thay đổi quan trọng:

1. Hệ tuần hoàn.

- Lượng máu từ tim ra tăng lên 1/3;
- Nhịp tim tăng nhanh, từ 70 lên 85 nhịp một phút;
- Khối lượng máu trtong cơ thể từ 4lít tăng lên 5.2 lít;
- Khối huyết tương tăng 40%;
- Hồng huyết cầu tăng 18%.
Các gia tăng này đều là để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho người mẹ và thai nhi.

2. Tuyến nội tiết.

Có nhiều thay đổi quan trọng:
a- Nang thượng thận tăng sản xuất kích thích tố aldosterone để giữ nước và muối trong cơ thể cho nhu cầu của thai nghén;
b- Estrogen và progesteron từ noãn sào gia tăng để bảo vệ thai kỳ, tránh sẩy thai trong hai tháng đầu;
c- Lượng đường cao hơn trong máu mẹ để nuôi thai, thì insulin từ tụy tạng gia tăng để kiểm soát ổn định mức đường;
d- Tuyến giáp hơi lớn để tăng hấp thụ khoáng iod;
đ- Progesteron, estrogen, Human chorionic gonadotropins từ nhau được sản xuất để duy trì thai trong 8 tuần lễ đầu;
e- Sau khi sanh con, tuyến yên tăng sản xuất prolactin để kích thích việc tiết sữa cho con bú.

3. Hệ tiêu hóa.

Thực phẩm ở lại bao tử và ruột lâu hơn để được tiêu hóa kỹ và sự hấp thụ chất dinh dưỡng cao hơn cho nhu cầu thai nghén. Do thai nhi ép vào trực tràng, nhu động ruột chậm nên mẹ hay bị táo bón.

4. Cơ quan sinh dục

Nhũ hoa lớn lên, tuyến sữa tiết sữa để sẵn sàng nuôi con;
Dạ con tăng trưởng nặng khoảng một kilogram.

Nhu cầu chất dinh dưỡng

Một chế độ dinh dưỡng đa dạng, cân bằng và hơi nhiều hơn bimnh thường là điều cần thiết để có sức khỏe lành mạnh cho cả người mẹ lẫn thai nhi.

Bình thường, người phụ nữ cần khoảng 2200 calori mỗi ngày.Theo các các nhà chuyên môn, khi có thai, người mẹ cần t thêm khoảng 300 calori mỗi ngày, theo tỷ lệ cung cấp khoảng 40-50% từ carbohydrat, 20%-30% từ chất đạm và 30% từ chất béo. Phần dinh dưỡng tăng thêm này là để đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng của thai nhi cũng như các thay đổi ở cơ thể người mẹ.

a-Chất đạm
Đạm là vật liệu căn bản tạo ra các mô bào của thai nhi cũng như là nguồn dự trữ mà người mẹ cần khi sanh con.

Bình thường, nhu cầu đạm mỗi ngày là 47 gram. Khi có thai, cần tăng thêm khoảng 30 gr mỗi ngày, nhất là ba tháng cuối của thai kỳ vì đây là lúc mà thai nhi tăng trưởng mạnh. Ngoài ra mẹ cũng cần nhiều đạm vì tử cung, tuyến vú và các tế bào khác đều lớn hơn để hỗ trợ thai nhi và cho con bú sau này.

Nên cân đối khoảng một nủa nhu cầu đạm từ động vật như thịt nạc, trứng, pho mát, gà, cá, sữa... vì nếu chỉ dùng toàn đạm thực vật sẽ có nguy cơ thiếu một vài loại amino acid cần thiết.

Một cách cụ thể, nếu người mẹ uống hai ly sữa, ăn một miếng thịt nạc, miếng cá bằng lòng bàn tay, kèm thêm các loại hạt, rau là có thể đủ cho nhu cầu trong ngày.

b- Carbohydrat

Vì chất đạm được dùng cho sự tăng trưởng tế bào, nên carbohydrat sẽ là nguồn năng lượng chính cho mẹ và con. Carbohydrat nên được ssử dụng đa dạng từ gạo còn cám, bánh mì, ngũ cốc khô tăng cường sinh tố, rau, trái cây, khoai...

c- Chất béo

Chất béo rất cần thiết cho sự phát triển của não bộ thai nhi cũng như là nguồn năng lượng quan trọng.

d- Nước

Nước cần để gia tăng khối lượng máu; tránh khô da, táo bón cũng như tạo ra nước đầu ối, che trở phôi thai.

đ- Sinh tố A

Sinh tố A giúp da lành mạnh, thị giác tốt và xương mau lớn.
Nhu cầu sinh tố A khi mang thai không cần gia tăng, chỉ cần giữ đủ như mức bình thường là khoảng 750mcg mỗi ngày. Lượng sinh tố A này có thể dễ dàng có được trongphó mát, sữa, bơ, các loại rau trái ...

Tránh uống thêm sinh tố A quá nhiều vì có nguy cơ ngộ độc. Người mẹ có thể bị nhức đầu, đau cổ, buồn nôn... Thai nhi có thể bị khuyết tật ở tai, tứ chi, rối loạn chức năng thận và hệ thần kinh.
Cần lưu ý là thuốc trị mụn trứng cá da Accutane có hoạt chất là sinh tố A nên không được dùng khi mang thai.

e- Các sinh tố nhóm B


Mỗi ngày, người mẹ cần khjoảng 1.5 mg sinh tố B1 (thiamine), 1.6 mg sinh tố B2 ( riboflavin), 17 mg sinh tố B3 (Niacin) . Các sinh tố này đều có nhiều trong các loại thực phẩm thịt, hạt, sữa, pho mát, rau và các loại hạt..nên ít khi xẩy ra tình trang thiếu.

Khi thiếu nhiều Thiamin thì hài nhi bị bệnh beriberi; thiếu riboflavin mẹ hay ói mửa, con sanh thiếu tháng.

g- Sinh tố E

Nhu cầu bình thường là 8mg mỗi ngày. Khi mang thai, người mẹ cần tăng thêm khoảng 2 mg. Số lượng này đều có trong các loại thực phẩm như dầu thực vật olive, dầu bắp, các loại hạt...

h- Sinh tố B12 và folacin

Thiếu cả hai sinh tố này thì khối lượng máu của mẹ sẽ giảm với hậu quả kém dinh dưỡng, dưỡng khí và đưa tới sẩy thai, con nhẹ ký. Nếu chỉ thiếu folacin thì hài nhi bị tật nứt- đốt-sống (spina bifida), khuyết tật ống thần kinh (neural tube defect).

Nhu cầu folacin của người mẹ tăng gấp đôi bình thường huậc hơn nữa, vào khoảng 400 mcg mỗi ngày. Số lượng này được cung cấp đầy đủ trong rau lá xanh, trái cây, ngũ cốc khô tăng cường, gan. Nếu nhiều folacin quá thì sự hấp thụ kẽm sẽ giảm.

Nhu cầu sinh tố B12 bình thường là 2 – 4mcg, khi có thai cần thêm khoảng 0,2mcg mỗi ngày. Sinh tố B12 có nhiều trong thực phẩm động vật, nên những người ăn chat cần bổ sung.

i- Sinh tố C

Nhu cầu sinh tố C bình thường là 60 mg mỗi ngày. Khi mang thai, người mẹ cần thêm khoảng 10 mg. Chỉ cần uống một ly nước cam là có thể đáp ứng số lượng này.

Sinh tố C giúp thai nhi phát triển tốt xương vàrăng lợi tốt, tăng cường hấp thụ khoáng calci và sắt.

k- Sắt

Sắt là khoáng cần thiết cho việc tạo hồng huyết cầu.
Nhu cầu sắt lên cao nhất lvào 3 tháng cuối của thai kỳ, khi thai nhi cần sắt để dự trữ cho khoàng 6 tháng sau khi sinh, vì trong sữa mẹ có rất ít sắt.

Thai nhi ít khi bị thiếu sắt vì có thể lấy ở người mẹ, nhưng cũng vì thế mà dễ bị thiếu sắt nếu không ăn đầy đủ và sẽ dẫn đến thiếu máu.

Nhu cầu bình thường là 15 mg, khi có thai người mẹ cần thêm 15 mg mỗi ngày. Nếu uống thêm viên sắt thì nên uống với nước chanh, vì chất acid ascorbic giúp ruột hấp thụ sắt tốt hơn.

Sắt có nhiều trong thịt đỏ, rau spinach, đậu phụ, trái cây khô, các loại hạt, bánh và ngũ cốc khô...

l- Kẽm

Nhu cầu kẽm mỗi ngày bình thường là 15mg. Khi mang thai, người mẹ cần tăng thêm khoảng 3 mg. Kẽm rất cần cho tế bào tăng trưởng. Thiếu khoáng này, con sẽ nhẹ ký, thần kinh kém phát triển.

m- Calcium và Phosphor.

Nhu cầu calcium và phosphor đặc biệt quan trọng nhất vào ba tháng cuối của thai kỳ, vì thai nhi cần nhiều các khoáng này để tăng trưởng, tạo xương và răng. TRung bình chỉ trong một giờ thai nhi đã cần đến13 mg calcium.

Nhu cầu bình thường mỗi ngày là 1000 mg calcium và 800 mg phosphor. Người mẹ khi mang thai cần thêm mỗi loại 400 mg.
Sữa là nguồn cung cấp calcium tốt nhất. Ngoài ra calcium còn có trong rau súp lơ xanh, cá mòi đóng hộp ăn cả xương.

n- Iod.

Nhu cầu iod bình thường mỗi ngày là 150 mcg; có thai cần thêm 25 mcg.

Trong trường hợp chế độ dinh dưỡng không cung cấp đủ nhu cầu iod, thai nhi sẽ rút iod từ cơ thể người mẹ. Do đó, thiếu iod sẽ ảnh hưởng trước hết đến người mẹ, nếu thiếu trầm trọng thì mẹ có thể bị bướu cố (lớn tuyến giáp). Kích thích tố tuyến này giảm và đến luột thai nhi bị ảnh hưởng. Đứa con sinh ra có thể sẽ bị đần độn (cretinism) với thiểu năng tuyến giáp bẩm sinh, chậm phát triển trí tuệ, da và nét mặt thô, xương thiếu khoáng chất và cơ thể lùn thấp. Những đứa trẻ này cần phải uống kích thích tố tuyến giáp suốt đời.

Dùng muối có cho thêm iod và hải sản đều có thể giúp tránh được sự thiếu hụt khoáng chất này.

Một số Rủi Ro khi mang thai.


Một số thói quen không tốt có thể đưa tới rủi ro cho thai nhi và người mẹ.

1-Rượu.
Các chuyên gia đều đồng ý rằng, không có một lượng rượu nào có thể gọi là an toàn cho người mẹ có thai. Người mẹ nghiện rượu sẽ đưa tới nhiều rủi ro bất thường cho thai nhi mà hội chứng “Mẹ Rượu Con Khuyết Tật” –Alcohol Fetal Syndrome- là rõ ràng nhất. Trẻ sanh ra thiếu ký, ngắn chiều cao, đầu nhỏ, mũi rộng... Khi lớn lên, những đứa trẻ này sẽ chậm phát triển trí tuệ và mọi chức năng cơ thể.

Lý do là vì rượu từ máu người mẹ sẽ qua nhau thai đi vào thai nhi, hòa trong máu và tế bào. Vì thai nhi chưa có loại men tiêu hóa cần thiết để phân hủy rượu nên chất cồn trong rượu gây ra hậu quả xấu cho não bộ, nhất là vào thời kỳ đầu của thai kỳ, khi hệ thần kinh đang được kiến tạo.
Vì thế, tốt nhất là khi có thai, không nên uống bất kỳ loại rượu bia nào, dù là với một lượng rất ít.

2.Thuốc lá
Carbon monoxide (CO) trong khói thuốc lá bám vào huyết cầu tố, gây trở ngại cho sự chuyên trở dưỡng khí. Do đó, thai nhi sẽ bị giảm oxygen, sanh ra thiếu ký, chậm học hỏi. THuốc là cũng làm cho người mẹ thiếu dưỡng khí, tim phải làm việc nhiều hơn, dễ bị sẩy thai. Khi hút thuốc nhiều, mẹ cũng ăn uống ít hơn nên thường bị suy dinh dưỡng.

3.Dược phẩm

Một số lớn hoạt chất trong các loại dược phẩm khi được người mẹ sử dụng đều đi qua nhau thai để đến với thai nhi và có thể gây ra ảnh hưởng không tốt. Do đó, khi có thai mà cần uống thuốc, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước.

Các loại thuốc gây nghiện như cocaine, crack đều gây ra biến chứng cho cả mẹ lẫn con. Cocaine làm huyết quản co hẹp, giảm máu tới tử cung và đưa tới cao huyết áp, sinh non, chậm tăng trưởng, tổn thương thần kinh ở thai nhi.

Thai nhi cũng có thể bị nghiện ngay sau khi sanh với các dấu hiệu nhớ thuốc như biếng ăn, mất ngủ, dễ bị kích thích...

4. An chay khi có thai.
Nếu là ăn chay thuần túy, chỉ ăn rau trái, không có sữa, trứng, thịt thì người mẹ sẽ rất dễ thiếu sinh tố B-12, riboflavin, calcium, sắt, kẽm. Vì thế, trong rất nhiều trường hợp cần bổ uống bồ sung các sinh tố và khoáng chất này.

Ngoài ra, cần chú ý ăn thêm nhiều loại hạt, nhiều loại rau để có đủ số amino acid cần thiết. Nhưng dù vậy, vẫn còn có nhiều nguy cơ thiếu một số amino acid cần thiết. Cho nên các nhà dinh dưỡng đều khuyên những người ăn chay khi có thai nên tạm thời chấp nhận việc uống thêm sữa, ăn thêm trứng trong thời gian có thai và nuôi con bằng sữa mẹ.

5. An kiêng khem để bớt mập
Nếu người mẹ đang mang thai áp dụng một chế độ ăn uống kiêng khem để giảm cân, sẽ có nguy cơ thiếu dinh dưỡng cho cả mẹ lẫn con. Ngay cà những phụ nữ không có thai mà giảm ăn uống cũng không tốt, có thể đưa tới rối loạn kinh nguyệt, không có rụng trứng, vô sinh.

6. Cà phê
Một số nghiên cứu cho rằng người mẹ mang thai uống cà phê ở mức dưới 200 mg mỗi ngày thì không có ảnh hưởng xấu cho thai nhi. Nếu sử dụng trên 500 mg mỗi ngày thì thai nhi có thể bị ảnh hưởng như thiếu ký, vòng đầu nhỏ.

Tuy nhiên, các chuyên gia y tế đều khuyên những bà mẹ khi mang thai nên tránh dùng cà phê.

Kết luận
Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong thai nghén. Với thai nhi, đã có câu nói “ Mẹ ăn sao thì con là vậy”. Chế độ dinh dưỡng dành cho người mẹ có được đầy đủ thì đứa con mới bụ bẩm, kháu khỉnh, trí tuệ tinh anh, mau lớn. Còn người mẹ thì duy trì được sức khỏe, đủ sức chăm sóc tốt cho con và vui với gia đình.
 
atoanmt Date: Thứ Ba, 20 Feb 2018, 1:11 PM | Message # 2
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5762
Status: Tạm vắng



AToanMT
 
FORUM » TRANG Y HỌC - SỨC KHỎE » BỆNH PHỤ NỮ » Dinh Dưỡng và Phụ Nữ Mang Thai (Bác sĩ Nguyễn Ý Đức)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL