- ATOANMT
Thứ Năm
08 Dec 2016
12:07 PM
ĐĂNG NHẬP


Dưới đây là "Danh Mục" thu gọn,
xin mời bấm vào "tam-giác" nhỏ để chọn Bài xong bấm vào "CHỌN XEM":







PHÒNG TÁN DÓC TRỰC-TUYẾN
KHÁCH 4 PHƯƠNG:

LỊCH
Statistics
Search
CÁC BÀI VIẾT MỚI NHẤT
<>

[ BÀI VIẾT MỚI · Forum rules · TÌM KIẾM · RSS ]
Page 1 of 11
FORUM » TRANG KIẾN THỨC » VĂN HỌC » Từ Ngữ của miền Nam và Saigon xưa (Nguyen Truong)
Từ Ngữ của miền Nam và Saigon xưa
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 10 Dec 2015, 10:07 AM | Message # 1
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2567
Status: Tạm vắng
Gom góp Từ Ngữ của miền Nam và Saigon xưa


Nguyen Truong


Nhằm ghi nhớ lại những từ mà ngày xưa người Saigon hay dùng như: Mèn ơi, Nghen, Hén, Hen, Tà Tà, Thềm ba, Cà rịch cà tang, tàn tàn,…., và những câu thường dùng như : Kêu gì như kêu đò Thủ Thiêm, làm nư, cứng đầu cứng cổ, tháng mười mưa thúi đất, cái thằng trời đánh thánh đâm…v…v…

Xin mấy anh chị giúp comment những từ nào còn nhớ để Trường góp nhặt ngỏ hầu lưu lại những tiếng gọi, câu nói thân thương của người Saigon và miền Nam trước đây, e rằng một ngày nào đó nó sẽ mai một…


Tóc Demi Garcon


Giọng nói, sự pha trộn của ngôn ngữ miền Bắc di cư vào những năm 1950 hòa cùng ngôn ngữ Saigon, miền Tây đã tạo nên thêm một phong cách, giai điệu mới … và bài “Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ“, hình ảnh cô gái chạy xe chậm rãi tỏ ra bất cần mấy anh chàng theo sau năn nỉ làm quen không biết đã bao nhiêu lần làm bâng khuâng xao xuyến lòng người nghe. Nhất là cái giọng người Bắc khi vào Nam đã thay đổi nó nhẹ nhàng, ngang ngang như giọng miền Nam thì tiếng lóng miền Nam càng phát triển. Dễ nghe thấy, người Bắc nhập cư nói từ “Xạo ke” dễ hơn là nói “Ba xạo”, chính điều dó đã làm tăng thêm một số từ mới phù hợp với chất giọng hơn. Chất giọng đó rất dễ nhận diện qua những MC như Nam Lộc, Nguyễn Ngọc Ngạn mà các Anh Chị đã từng nghe trên các Video chương trình Ca nhạc, kể chuyện, ….

Đặc biệt trong dịch thuật, nếu không am hiểu văn nói của Saigon miền Nam nếu dùng google dịch thì “qua biểu hổng qua qua qua đây cũng dzậy” (câu gốc: Hôm qua qua nói qua qua mà qua hỏng qua, hôm nay qua nói qua hỏng qua mà qua qua)nó dịch ra như vầy “through through through through this gaping expression too” Ông Tây đọc hiểu được ý thì chịu chết… Hay như câu “giỏi dữ hôn” thì google dịch cũng ngất ngư con lạc đà… Trong văn nói, người Miền Nam hay dùng điệp từ cùng nguyên âm, hay phụ âm, hoặc dùng hình tượng một con vật đễ tăng cấp độ nhấn mạnh: như bá láp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng (từ bèng beng không có nghĩa),… sai đứt đuôi con nòng nọc,… Phong cách sử dụng ghép từ như vậy Trường mong sẽ có một dịp nào đó viết một bài về nó.

Hay và lạ hơn, cách dùng những tựa hay lời bài hát để thành một câu nói thông dụng có lẽ phong cách này trên thế giới cũng là một dạng hiếm, riêng Miền Nam thì nhiều vô kể ví dụ : Khi nghe ai nói chuyện lập đi lập lại mà không chán thì người nghe ca một đoạn: ” Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi!”, hoặc khi sắp chia tay thì lại hỏi : “Đêm nay ai đưa em về !” người ngoại quốc ai không biết cứ tưởng là người đó đang ca chứ hổng phải đang hỏi mình, như khi nghe ai nói chuyên mà chuyện này ai cũng biết rồi thì lại nói: “Xưa rồi diễm….” với cái giọng Iễm kéo dài tha thướt .

Tuy nhiên, do những từ này được trình bày bằng chữ nghĩa nên cách xài nhấn âm, lên giọng của người Miền Nam không thể biểu lộ hết cái hay của nó, ví dụ như riêng câu: “thằng cha mầy, làm gì mà mồ hôi đổ ướt hết áo dậy?” cụm từ “thằng cha mầy” kéo dài hơi lại có nghĩa là gọi yêu thương chứ không phải la mắng, tương tự khi mấy cô gái nguýt (nói): ” Xí! Hổng chịu đâu”,”Xí! Cha già dịch nè !”, ” Sức mấy!, “Ông nói gì tui ưa hổng nổi nha!”, “Cha già khó ưa! ” với cách nhấn giọng thì nghe rất dễ thương và dịu dàng nhưng khó gần lắm à nghen, nhưng đến khi nghe câu ” tui nói lần cuối, tui hổng giỡn chơi với Ông nữa đâu đó nghen! ” thì coi chừng … liệu hồn đó.

Thật ra không phải người Saigon ai cũng xài hết mấy từ này, chỉ có người bình-dân mới dám xài từ như Mả cha, Tổ mẹ để kèm theo câu nói mà thôi. Dân nhà trí thức ít ai được Ba Má cho nói, nói ra là vả miệng không kịp ngáp luôn, giáo dục ngày xưa trong gia đình rất là khó, nhất là mấy người làm bên nghề giáo dạy con càng khó dữ nữa. Ra đường nghe mấy đứa con nít nói “DM” thậm chí còn không hiểu nó nói gì, về nhà hỏi lại chữ đó là gì, chưa gì đã bị cấm tiệt không được bắt chước, lúc đó chỉ nghe Ba Má trả lời: “Đó là nói bậy không được bắt chước đó nghen!”. Chưa kể tới chuyện người lớn đang ngồi nói chuyện mà chạy vô xầm xập hỏi thì cũng bị la rầy liền : “Chổ người lớn nói chuyện không được chen vô nhớ chưa?”. Đến năm 1980 thì giáo dục cũng khác hẳn ngôn ngữ bắt đầu đảo lộn ở cấp tiểu học… tiếng Saigon dần dần bị thay đổi, đến nay trên các chương trình Game Show chỉ còn nghe giọng miền Nam với câu nói: “Mời anh trả lời ạ” “các bạn có thấy đúng không ạ”, ạ… ạ …ạ… cái gì cũng ạ….làm tui thấy lạ. Thêm nữa, bây giờ mà xem phim Việt Nam thì hình như không còn dùng những từ ngữ này khi kịch bản phim, hay tiểu thuyết đặt bối cảnh vào thời điểm xưa mà dùng ngôn ngữ hiện đại lồng vào, nên khi coi phim thấy nó lạ lạ làm sao đâu …

Mong rằng các Anh Chị khi đọc những từ này sẽ hồi tưởng lại âm hưởng của Saigon một trời thương nhớ!

Chân thành cám ơn những đóng góp của các Anh Chị,

Trân trọng,

Nguyễn Cao Trường

*nội dung diễn giải từ ngữ đã được chỉnh sửa lần 3

À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha)
Áo thun ba lá = Áo May Ô
Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
Âm binh = phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách)
Ba đía : xạo
Bà chằn lữa = người dữ dằn (dữ như bà chằn)
Ba ke, Ba xạo
Bá Láp Bá Xàm
Bá chấy bù chét
Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa)
Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường
Banh ta lông = như hết chuyện (gốc từ cái talon của vỏ xe)
Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng)
Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi
Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn
Bất thình lình = đột ngột
Bầy hầy : bê bối, ở dơ
Bẹo = chưng ra (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa)
Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên
Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể
Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!)
Biết đâu nà, biết đâu nè = biết đâu đấy
Biệt tung biệt tích = không thấy hiện diện
Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo
Bình thủy = phích nước
Bình-dân = bình thường
Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít)
Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình)
Bỏ thí = bỏ
Bồn binh = vòng xoay
Bội phần = gấp nhiều lần
Buồn xo = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? )
Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)
Cà chớn cà cháo = không ra gì
Cà chớn chống xâm lăng. Cù lần ra khói lửa.
Cà kê dê ngỗng = dài dòng.
Cà Na Xí Muội
Cà nhỗng = rãnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhỗng tối ngày)
Cà giựt : lăng xăng, lộn xộn
Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang
Cà rem = kem
Cà rịt cà tang = chậm chạp.
Cà tàng = bình thường, quê mùa,….
Cái thằng trời đánh thánh đâm
Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây
Coi được hông?
Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!)
Cụng = chạm
Cứng đầu cứng cổ
Chà bá , tổ chảng, chà bá lữa = to lớn, bự
Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! )
Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi! ” (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?)
Chả = không ( Nói chả hiểu gì hết trơn hết trọi á ! )
Chạy u đi
Chậm lụt = chậm chạp, khờ
Chém vè (dè)= trốn
Chén = bát
Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên
Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không
Chì = giỏi (anh ấy học “chì” lắm đó).
Chiên = rán
Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn)
Chỏ = xía, xen vào chuyện người khác
Chổ làm, Sở làm = hãng xưỡng, cơ quan công tác
Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt
Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chổ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chổ dậy? )
Chưn = chân
Chưng ra = trưng bày
Có chi hông? = có chuyện gì không?
Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ
Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường)
Dấm da dấm dẵng
Dây, không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó
Dễ tào = dễ sợ
Dì ghẻ = mẹ kế
Dĩa = Đĩa
Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng)
Diễu dỡ =????
Dỏm (dởm), dỏm đời, dỏm thúi, đồ lô (sau 1975, khi hàng hóa bị làm giả nhiều, người mua hàng nhầm hàng giả thì gọi là hàng dởm, đồ “lô” từ chữ local=nội địa)
Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi)
Du ngoạn = tham quan
Dù = Ô
Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”)
Dùng dằng = ương bướng
Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn )
Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói)
Dzừa dzừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá
Đá cá lăn dưa = lưu manh
Đa đi hia = đi chổ khác.
Đài phát thanh = đài tiếng nói
Đàng = đường
Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?)
Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen
Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9
Đi bang bang = đi nghênh ngang
Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí
Đi mần = đi làm
Đó = đấy , nó nói đó = nó nói đấy
Đồ già dịch = chê người mất nết
Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo
Đờn = đàn
Đùm xe = Mai-ơ
Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm
Gần xịt = thiệt là gần
Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê
Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê
Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích
Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc! )
Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp
Hay như = hoặc là
Hầm bà lằng (gốc tiếng Quảng Đông);
Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn
Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết)
Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! )
Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa
Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay
Hổng có chi! = không sao đâu
Hổng chịu đâu
Hổng thích à nhen!
Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài
Hợp gu = cùng sở thích
Ì xèo = tùm lum, …
năn nỉ ỉ ôi
Kẻo = coi chừng
Kể cho nghe nè! = nói cho nghe
Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,….
Lanh chanh
Lạnh xương sống
Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm
Làm (mần) dzậy coi được hông?
Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh
Làm gì mà toành hoanh hết zậy
Làm nư = lì lợm, Làm cho lợi gan
Làm um lên: làm lớn chuyện
Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu
Lặc lìa lặc lọi = ?
Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chổ nào)
Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?)
Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen)
Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy)
Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!
Liệu = tính toán
Liệu hồn = coi chừng
Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt)
Lộn = nhầm (nói lộn nói lại)
Lộn xộn = làm rối
Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!)
Lùm xùm = rối rắm,
Lụt đục = không hòa thuận (gia đình nó lụt đục quài)
Má = Mẹ
Ma lanh, Ma le
Mã tà = cảnh sát
Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa
Mari sến = sến cải lương
Mát trời ông địa = thoải mái
Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ
Mắc cười = buồn cười
Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bởn cợt.
Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm
Mần ăn = làm ăn
Mần chi = làm gì
Mậy = mày ( thôi nghen mậy = đừng làm nữa)
Mét = mách
Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10.
Mình ên = một mình (đi có mình ên, làm mình ên)
Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò
Mồ tổ! = câu cảm thán
Mả = Mồ
Muỗng = Thìa, Môi
Mút mùa lệ thủy = mất tiêu
Nam Tàu Bắc Đẩu
Nào giờ = từ trước tới nay
Niềng xe = vành xe
Ngang Tàng = bất cần đời
Nghen, hén, hen, nhen
Ngoại quốc = nước ngoài
Ngon bà cố = thiệt là ngon
Ngộ = đẹp, lạ (cái này coi ngộ hén)
Ngồi chồm hỗm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … (Chợ chồm hổm – chợ không có sạp)
Ngủ nghê
Nhan nhãn = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt
Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi
Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia
Nhiều chiện = nhiều chuyện
Nhìn khó ưa quá (nha)= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau
Nhóc, đầy nhóc : nhiều
Nhột = buồn
Nhựt = Nhật
Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm
Nước lớn, nước xuống, nước rồng (thủy triều)
Ớn ăn
Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói)
Ông bà ông giải
Phi cơ, máy bay = tàu bay
Quá cỡ thợ mộc…= làm quá,
Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình
Qua bên bển, vô trong trỏng, đi ra ngoải,
Quá xá = nhiều (dạo này kẹt chiện quá xá! )
Quá xá quà xa = quá nhiều
Quê một cục
Quê xệ
Rành = thành thạo, thông thạo, biết (tui hồng rành đường này nhen, tui hổng rành (biết) nhen)
Rạp = nhà hát(rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát (dựng rạp làm đám cưới)
Rân trời = um sùm
Rốp rẽng (miền Tây) = làm nhanh chóng
Rốt ráo (miền Tây) = làm nhanh chóng và có hiệu quả
Ruột xe = xăm
Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai!
Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng
Sạp = quầy hàng
Sến = cải lương
Sến hồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà.
Sên xe = xích
Sếp phơ = Tài xế
Sườn xe = khung xe
Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ
Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi
Tàng tàng = bình dân
Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẫn
Tàu hủ = đậu phụ
Tầm xàm bá láp
Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi
Té (gốc từ miền Trung)= Ngã
Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư
Tía, Ba = Cha
Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …!
Tòn teng = đong đưa, đu đưa
Tổ cha, thằng chết bầm
Tới = đến (người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văn bản)
Tới chỉ = cuối
Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính
Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi ( trong đó tui = tôi )
Tui, qua = tôi
Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó
Tức cành hông = tức dữ lắm
Tháng mười mưa thúi đất
Thắng = phanh
Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ
Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói
Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm)
Thèo lẽo = mách lẽo ( Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! )
Thềm ba, hàng ba
Thí = cho không, miễn phí, bỏ ( thôi thí cho nó đi!)
Thí dụ = ví dụ
Thiệt hôn? = thật không?
Thọc cù lét, chọc cù lét = ??? làm cho ai đó bị nhột
Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó
Thôi hén!
Thơm = dứa, khóm
Thúi = hôi thối,
Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác
Trà = Chè
Trăm phần trăm = cạn chén- (có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100%)
Trển = trên ấy (lên trên Saigon mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm)
Trực thăng = máy bay lên thẳng
Um xùm
Ứa gan
Ứa gan = chướng mắt
Vè xe = chắn bùn xe
Vỏ xe = lốp
Xả láng, sáng về sớm,
Xà lỏn, quần cụt = quần đùi
Xà quần
Xài = dùng, sử dụng
Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu
Xe cam nhông = xe tải
Xe hơi = Ô tô con
Xe nhà binh = xe quân đội
Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô (Xe đò lục tỉnh)
Xe Honda = xe gắn máy ( có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy?)
Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng ( Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăn gì hết)
Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút (tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh)
Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh
Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo)
Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ
Xía = chen vô (Xí! cứ xía dô chiện tui hoài nghen! )
Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình ???? (gốc từ bài hát Tình anh lính chiến- Xuyên lá cành trăng lên lều vải)
Xiết = nổi ( chịu hết xiết = chịu hổng nổi = không chịu được)
Xỏ lá ba que = giống như chém dè (vè), tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu: “đừng có xỏ lá ba que nhe mậy”
Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… (ăn nói xỏ xiên)
Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi (gốc từ tựa bài hát Diễm xưa TCS)
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 10 Dec 2015, 10:09 AM | Message # 2
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2567
Status: Tạm vắng
Tiếng Pháp trong ăn mặc


Nguyen Truong



Khi dân Việt dùng kiểu áo tây phương trong việc ăn mặc, một số các cô, bà mặc áo đầm tức loại áo và váy chung nhau. Đàn ông thì mặc sơ mi (chemise) và quần dài (quần Tây) như chúng ta mặc bây giờ.

Nếu các ông mặc áo vết (veste) hay áo vết tông (veston) bên ngoài áo sơ mi, cùng loại vải, và cùng màu với quần thì chúng ta gọi y phục đó là bộ côm bờ lê hay côm lê (complet: đủ bộ, hay nguyên bộ). Ngày xưa, khoảng trước 1954, người ta còn gọi cái áo veston là áo bành tô (paletot).

Các ông bà trong ngành y khoa như bác sĩ, y tá thường mặc áo bờ luôi (blouse) khi làm việc. Đó là chiếc áo mang tính chất nghề nghiệp rất oai. Nhưng khi dạo chơi, người đàn ông có thể mặc áo u ve (veston ouvert); trong lúc đó, đàn bà tân thời, cải cách (của thời xa xưa đó) thích mặc áo lơ muya (hiệu Lemur: nghe nói đây là tên của loại áo do nhà may Cát Tường sản xuất), áo thun Montaigut của đàn ông cũng thuộc loại áo được các ông ưa thích. Cả ông, bà khi đi đâu khỏi nhà, đều có mang bóp (porte, porter: mang, đựng). Bóp cho các bà thì gọi là bóp đầm. Bóp cho các ông có tên bóp phơi (porte feuille).

Đàn ông mặc côm lê phải mang cà ra oách, hay cà vạt (cravate: dây đeo trước ngực) mới đúng cách.
Trong lúc đó các bà các cô phải đeo cà rá (carat) vàng, nạm hột xoàn. Thực ra carat là đơn vị đo lường thành phần vàng trong hợp kim vàng. Một carat là 1/24 vàng nguyên chất trong hợp kim.

Cái cà vạt và cái cà rá sống vượt thời gian.

ắc-qui = accus, accumulateur
ắc-quy hay pin sạc là loại pin có thể tái sử dụng nhiều lần bằng cách cắm điện và đặt vào bộ sạc để sạc lại.

a-ti-sô/ác-ti-sô (trà, lá) = artichaut
loại cây lá gai lâu năm có nguồn gốc từ miền Nam châu Âu (quanh Địa Trung Hải) đã được người Cổ Hy Lạp và Cổ La Mã trồng để lấy hoa làm rau ăn. Thân cây a-ti-sô có thể cao tới 2 mét, lá cây dài từ 50-80 cm. Người ta trồng a-ti-sô dùng lá bắc và đế hoa để ăn và làm thuốc.

a-lô = allô
tiếng gọi dùng trong điện thoại hoặc khi gọi loa để gợi sự chú ý

a-ma-tơ = amateur
(Khẩu ngữ) (phong cách, lối làm việc) phóng túng, tuỳ thích, không có sự chuyên tâm

a-mi-đan = amygdale
tổ chức bạch huyết tròn, to bằng đầu ngón tay, ở họng người
vd: sưng a-mi-đan, cắt a-mi-đan

am-pe = ampère
kí hiệu A, là đơn vị đo cường độ dòng điện I trong hệ SI, lấy tên theo nhà Vật lí và Toán học người Pháp André Marie Ampère.

an-bom = album
tập (ảnh, nhạc), bộ- sưu- tập

ăng-lê = anglais
(thuộc về) người/nước Anh

ăng-ten = antenne
thiết bị đầu ra của máy phát thanh hoặc ở đầu vào của máy thu sóng điện từ; làm nhiệm vụ chuyển đổi tín hiệu.

a-pác-thai = apartheid
phân-biệt chủng-tộc

áp-phe = affaire
việc buôn-bán kiếm lợi lớn

áp-phích = affiche
tờ-giấy lớn có chữ hoặc tranh-vẽ, dán ở nơi công-cộng để tuyên-truyền cổ-động hay để quảng-cáo

áp-xe = abcès
hiện-tượng nhiễm-trùng, mưng-mủ (có làm thành mủ) hay còn gọi là ổ-viêm.

át/ách/ách-xì = as (cartes)
quân Át trong bài Tây

a-xít = acide
bất kỳ chất nào mà khi hòa tan vào nước thì tạo được dung dịch có độ pH < 7.

Bắc = bac
tàu chở xe và hành khách qua sông (phà).

ba-gác (xe ba-gác)/ba-ga = bagage
hành-lí

ba-láp/bá-láp = palabre
nghĩa-gốc: Cuộc bàn cãi dài dòngthường được người Việt dùng với nghĩa “không đứng đắn, không có nghĩa lí gì”
vd: nói toàn chuyện ba-láp.

ba-lê = ballet
nghệ-thuật múa cổ-điển trên sân-khấu thể-hiện một chủ-đề nhất-định, có nhạc-đệm

ban-công = balcon
phần sân gác nhô ra ngoài nhà (ở tầng 2 trở lên), xung quanh có lan can, có cửa thông vào phòng
vd: ra ban công hóng mát

băng (băng-đảng, băng-chuyền, băng cát-xét) = bande

băng (ghế-băng) = banc
ghế dài

băng (y tế) = pansement
băng bó (vết thương)

băng/ruy-băng = ruban
băng, dải, huy-hiêu-băng đeo ở lỗ khuy ve áo trái

băng-đô = bandeau
dải băng bịt mắt hoặc bịt trán

băng-rôn = banderole
băng khẩu-hiệu

bánh = pain
món ăn chín có hình khối nhất định, chế biến bằng bột (mì) hoặc gạo, thường có thêm chất ngọt, mặn, béo

bành-tô (áo bành-tô) = paletot
áo khoác ngoài kiểu Âu, dài, may bằng các loại vải dày hoặc len, dạ, mặt trong có lớp lót, thường để mặc cho ấm
từ-đồng-nghĩa: măng-tô

ba-rê = barrer
cái chắn
vd: Barrer la route = chắn đường

ba-rem = barème
đáp án có kèm theo điểm cụ thể của từng phần, dùng làm căn cứ để chấm thi

ba-tê/pa-tê = pâté
món ăn làm bằng thịt hoặc gan ướp với đường, rượu rồi nghiền nhỏ, bao mỡ lá và hấp chín

ba-toong= bâton
cây gậy

ba-zan = basalte

ba-zơ = basse

bẹc-giê (chó) = berger (chien de berger)

bê-tông = béton
xi măng trộn với cát và sỏi đá và nước dùng đúc nền nhà, cột nhà, tường nhà, hay nền nhà, đường xe vào ga-ra. Bê tông cốt sắt : bê tông bên trong có thêm dây sắt cho chắc chắn hơn.

bi (bút bi, viên bi) = bille
iên đạn tròn, chơi bắn bi là dùng ngón tay bún viên đạn tròn cho trúng một viên khác

bia = bière

bích-quy = biscuit

bi-da = billard
banh tròn, cứng, lớn cỡ hột vịt, chơi trên bàn bi da; bàn nầy bọc nỉ, có chận bốn bên để trái bi da khỏi rớt ra ngoài; khi chơi, dùng một cây gậy gọi là cây cơ để đẩy trái bi da đi tới.

bi-dăng-tin = brillantine (sáp xức tóc)

bi-đông = bidon
bình đựng nước

bíp-tết/bít-tết = bifsteck

bơ = beurre

bo/boa (tiền boa) = pourboire

bờ-lu/blu (áo bờ-lu) = blouse

bờ-lu-dông/bu-dông = blouson
áo bờ-lu-dông

bom = bombe
trái bom (vũ khí)

bom = bombarder
ném bom, thả bom

bơm (cái-bơm) = pompe

bơm (động-từ) = pomper

bôm/bom = pomme
quả táo Tây

bom-bi = bombe à billes

boong-ke = bunker
từ này của Pháp mượn Đức (có nguồn nói Đức mượn lại của Anh) để chỉ hầm ngầm dưới mặt đất do Đức xây kiên cố thời Thế chiến II)

bóp (ví) = porte-monnaie

bót/bốt = poste
(đồn cảnh-sát, trạm gác)

bốt (giầy dép) = bottes

bu-gi/bu-ri/bu-di = bougie
vật dụng nẹt lửa để làm xăng cháy và làm xe chạy; còn có nghĩa là cây nến

bu-lông/bù-lon/bù-loong = boulon

bụp (ăn) = bouffe

búp-bê = poupée

búp-phê = buffet

bu-ri = bougie

buýt = bus
 
thanhlongphapsu Date: Thứ Năm, 10 Dec 2015, 10:11 AM | Message # 3
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 2567
Status: Tạm vắng
TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT GỐC PHÁP TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC


Nguyen Truong



Trải qua hơn 400 năm giao lưu tiếp biến văn hóa, người Việt và người Pháp đã có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, đặc biệt là ngôn từ trong văn hóa ẩm thực.

Trong văn hóa Việt Nam hiện nay, có sự tồn tại của những từ ngữ vốn dĩ là của tiếng Pháp được Việt hóa và dần đi vào đời sống của người Việt như một phần tất yếu của cuộc sống.

Ăn phở uống cà phê

Cà phê ngày nay đã trở nên quen thuộc với mọi người. Những cuộc gặp gỡ, những buổi tán gẫu bạn bè…đều có thể diễn ra tại những quán cà phê. Cà phê là chữ đọc thuần Việt xuất phát từ từ Café của tiếng Pháp.

Người Sài Gòn xưa chuộng cà phê pha phin, kì thực phin là từ “filter” nghĩa là lọc. Chiều đông lạnh, vào quán kêu một ly cà phê pha phin thêm sữa nóng, ngồi nhìn cái nồi ngồi thảnh thơi trên cái cốc, từng giọt từng giọt nhỏ xuống ly là một sự chờ đợi lý thú. Khi phin đã lọc hết, khuấy tan sữa và đưa lên miệng thưởng thức, hương vị cà phê vừa đắng vừa ngọt như những ngày trời đông giá rét vậy.

Người Việt thường dùng cà phê sau khi ăn phở xong, vậy nên cạnh những hàng phở nổi tiếng cũng mọc lên dăm ba quán cà phê, để cho thực khách sau khi ăn xong có thể sang quán cà phê ngồi lai rai hút điếu thuốc cho thơm và nhâm nhi tách cà phê khi ngày mới vừa bắt đầu.

Điểm tâm với dăm bông, ba tê, ốp la

Người Việt khi dùng bữa sáng thường có những món như ba tê (pâté= thịt gan xay), bánh mì ốp lết (omelette), dăm bông (jambon = thịt heo ung khói)

Ở Pháp, pate thường có được nấu bằng gan và thịt xay nhuyễn, được nấu và đặt trong nồi sành, nên người ta gọi là terrine, khi nào nhấc ra khỏi liễn sành thì gọi là pâté. Loại pâté lừng danh nhất có thể là là món gan béo (“pâté de foie gras”), hay pâté gan ngỗng làm từ gan ngỗng trộn mỡ, một số người khác thì ưa thích món gan ngỗng nguyên chất (“foie gras entier”) chỉ cần cắt lát mỏng và nấu, và món này trên thực tế đã đủ ngon mà không cần chế thành patê.

Còn ở Việt Nam thì sao? Người Việt đã dùng pate vào bữa điểm tâm bằng cách kẹp vào bánh mì, ăn nóng, và có thể thêm vài lát giò, chả, rau thơm để thêm hương sắc cho bữa sáng.

Kết lại, dù được viết dưới dạng nào thì những món ăn mà người Pháp mang đến Việt Nam từ 400 năm trước ngày càng thông dụng và phổ biến hơn. Những thứ ấy đã dần ăn sâu vào tiềm thức của người Việt hiện đại như một thức đồ không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại đầy tiện nghi này.

ca (ca cấp cứu, ca tử vong, ca bệnh) = cas
trường-hợp/vụ hay khi nói về phiên giờ làm-việc;

ca (xe-ca) = car

ca-bin = cabine

cạc = carte

cạc vi-zít = carte de visite
danh-thiếp

ca-cao = cacao
loại cây có hạt cho bột làm sô cô la.

các-tông (thùng) = carton

cà-mèn/ gàu-mên/ga-men = gamelle
hộp đựng khẩu phần ăn cá nhân

cam-nhông = camion

can (giấy-can) = papier calque
giấy để sao chép, đồ lại

căng-tin = cantine

ca-nô = canot
thuyền nhẹ ko có boong

cao-su = caoutchouc

cáp = câble

cà-phê = café

ca-pô = capot (d’une voiture)

cà-rá = carat

cà-rem = crème

cà-ri = cari

ca-rô = carreau
in hình ô-vuông, thường nói về vải- vóc

cà-rốt = carotte

ca-ta-lô = catalogue

cát-két (mũ cát-két) = casquette

cát-xê = cassé

cát-xét = cassette

cà-vạt = cravate

ca-ve = cavalière
Ca ve (cavalier: nam kỵ sĩ; cavalière: nữ kỵ sĩ, hay vũ nữ): nhưng riêng từ “ca ve” dân Việt chỉ dùng để chỉ các cô gái nhảy (đầm) chuyên nghiệp (vũ nữ) mà thôi.

cà-vẹt =carte verte (permis de conduire)
thẻ xanh hay giấy chủ quyền xe hơi thời xưa (trước 1960).

cơ (chất cơ trong bài Tây) = coeur (cartes)
trái tim, hình trái tim.
cờ-lê = clé
*chìa-khóa*trong âm-nhạc: clef de sol = khóa sol*

Trong cơ-khí:

clef à molette = cờ lê mỏ lết (# clef à bougie, clef plate, clef polygonale,…)

cờ-lê mỏ-lết = cle’ molette, clef à molette
dụng cụ dùng để tháo, mở, vặn xoắn các ốc vít

com-lê = complet (veston)

cồm-mít-xông = commission
tiền-cò, tiền-hoa-hồng

com-pa = compas
dụng-cụ dùng để vẽ đường-tròn

côn = colt
súng côn

công-ten-nơ = conteneur

công-tơ = compteur
máy đo như công tơ nước, điện.

coóc-sê =corset

cóp= copier
bắt chước chép theo hay làm theo

cốp (cốp-xe) = coffre

cà-rem (cây cà-rem) = crème

cô-tông = coton

cô-ve = haricot vert
đậu cô-ve

cú = coup
tiền-danh-từ/mạo-từ của “đấm” hay “điện-thoại”
vd: coup de choc: cú sốc

cua (cua gái) = faure la cour/ courtiser

cua (cúp cua) = cours (khoá học, lớp học)

cua (hớt đầu cua) = court (ngắn)

cua-rơ = coureur

cu-li = coolie
phu làm việc nặng như khuân vác

cuốc = course
làm một cuốc xe ôm, cuốc leo núi

cúp = coupe
1. cắt, chặt; cúp điện, cúp nước, cúp khẩu phần.2. vật giống cái ly, có chân, thường bằng kim loại để làm giải thưởng, như cúp bóng tròn, cúp quần vợt thế giới; cúp còn là giải thưởng như đoạt cúp quần vợt.
 
LongTracAn Date: Thứ Năm, 10 Dec 2015, 2:25 PM | Message # 4
Generalissimo
Group: Moderators
Messages: 3241
Status: Tạm vắng


Đại Bi Chú
 
atoanmt Date: Thứ Năm, 10 Dec 2015, 3:59 PM | Message # 5
Generalissimo
Group: Administrators
Messages: 5342
Status: Tạm vắng



Nửa Lính, nửa Quan, nửa Thầy, nửa Thợ: Đầu đầy...Chí !, lang-thang trên 4 vùng đất Việt.
Ít Tiền, ít Bạc, ít Bạn, ít Bè: Bụng thiếu...Cơm !, trằn-trọc dưới 8 hướng trời Tây.
 
ThiệnTâm Date: Thứ Sáu, 11 Dec 2015, 9:08 AM | Message # 6
Major general
Group: Moderators
Messages: 401
Status: Tạm vắng
 
kathy Date: Thứ Hai, 21 Dec 2015, 6:27 AM | Message # 7
Colonel general
Group: Users
Messages: 1012
Status: Tạm vắng
 
FORUM » TRANG KIẾN THỨC » VĂN HỌC » Từ Ngữ của miền Nam và Saigon xưa (Nguyen Truong)
Page 1 of 11
Search:


TỰ-ĐIỂN TRỰC-TUYẾN :

Từ Điển Online
Bấm vào dấu V để chọn loại Tự-Điển
Gõ Chữ muốn tìm vào khung trắng dưới đây:
Xong bấm GO


Click Here for Registration THWGLOBAL